1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tổ chức quản lý nội bộ công ty cổ phần những vấn đề lý luận và thực tiễn

72 92 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 72
Dung lượng 7,48 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Quản lý nội bộ doanh nghiệp là hệ thống các cơ chế mà các chủ thể quản lý đặt ra tác động trực tiếp tới mọi hoạt động của doanh nghiệp.Từ những phí' 11 tích ở trên, ta thấy quản lý nội b

Trang 1

CAO THỊ KIM TRINH

TỔ CHỨC QUẢN LÝ NỘI BỘ CÔNG TY c ổ PHẦN

NHỮNG VẤN ĐỂ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIẺN

Chuyên ngành: Luật Kinh tế

Mã số: 60.38.50

LUẬN VĂN THẠC s ĩ LUẬT HỌC

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: TS PHAN CHÍ HIẾU

T H Ư V I Ẹ N

t r ư ờ n g đ a ỉ h ọ c lu ậ t ha

-HÀ NÔI - 2004

Trang 2

14 M ố i liên hệ giữa Đ iều lệ C ông ty và p h áp luật doanh n g h iệp trong việc 25

đ iều ch ỉn h quan hệ nội bộ CTCP

CHƯƠNG II: NHŨNG q u y đ ị n h c ủ a p h á p l u ậ t VỂ T ổ CHỨC

QUẢN LÝ NỘI BỘ CÔNG TY c ổ PHẨN VÀ THỤC TIÊN ÁP DỤNG

2.1 Sự phân bổ q u y ền lực trong công ty cổ p hần 332.3 N g u y ê n tắc h o ạ t đ ộ n g và thủ tục th ô n g q ua các q u y ết đ ịnh quản lý 442.4 Q u y ề n hạn và trách n h iệm của người quản lý 522.5 K iểm soát các giao dịch có giá trị lớn và giao dịch dễ p h át sinh tư lợi _ 55

CHƯƠNG III: MỘT s ố KIÊN NGHỊ NHAM h o à n t h i ệ n c á c 59 QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VỂ T ổ CHỨC QUẢN LÝ NỘI BỘ

Trang 3

-Công ty trách nhiệm hữu hạn Công ty TNHH

Trang 4

PHẨN MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài

Như chúng ta đã biết, tư tưởng quản lý nội bộ doanh nghiệp trên thế giới đã được hình thành và phát triển từ nhiều thế kỷ qua Lịch sử kinh tế thế giới đã chứng kiến nhiều cuộc khủng hoảng kinh tế - tài chính Và một trong những nguyên nhân hàng đầu của những cuộc khủng hoảng nói trên đó là sự yếu kém Irong quản lý doanh nghiệp Để khắc phục những yếu kém này, nhiều quốc gia, nhiều tổ chức quốc tế đã dành nhiều thời gian và công sức nghiên cứu hoạt động quản lý nội bộ doanh nghiệp và đã đúc rút được nhiều bài học kinh nghiệm

Ớ Việt Nam, lư tưởng quản lý nội bộ doanh nghiệp được ghi nhận lần đầu tiên lại Luật Công ly 1990 và Luật Doanh nghiệp tư nhàn 1990 Mặc dù đây là mộl vấn đề quan trọng trong hoạt động của các doanh nghiệp nói chung, CTCP nói nông Nhưng thực tế cho thấy, vấn đề quản trị công ty, tổ chức quán lý nội bộ công ty thường bị coi nhẹ Có rất nhiều công ty việc tổ chức còn mang tính tự phát, thiếu tính chuyên nghiệp Chính việc coi nhẹ này

đã làm cho hoạt động sản xuất kinh doanh của các công ty chưa thực sự hiệu quả Có nhũng trưc nu hợp còn gây sự mâu thuẫn nội bộ dẫn đến tình trạng đình trệ sản xuất, tan vỡ doanh n g h iệp ,

Hơn nữa, hiện tại ở Việt Nam, tuy số lượng CTCP chưa nhiều so với các loại hình doanh nghiệp khác, nhưng đã xuất hiện một số vấn đề liên quan đến

tổ chức quản lý nội bò cần phái giải quyết Tuy nhiên, trong khoa học pháp lý Việt Nam lại chưa có nhiều công trình nghiên cứu có giá trị về việc tổ chức quản lý nội bộ CTCP

Mặl khác, Luật Doanh nghiệp 1999 trên cơ sở kế thừa và khắc phục những điểm yếu kém của Luật Công ty 1990, đã có nhiều quy định mới về tổ

Trang 5

chức hộ máy quản lý CTCP Những quy định mới này cần phải được xem xét,

so sánh, đánh giá

Từ những lý do trên, tác giả đã chọn đề tài: “T ổ chức quản lý nội bộ CTCP, nhữ ng vấn đê lý luận và thực tiễn ” làm đề tài cho Luận văn Thạc sỹ

2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

Để tài này đi.'Ợj nghiên cứu nhằm mục đích làm rõ vấn đề lý luận của việc tổ chức bộ máy quản lý nội bộ CTCP, chỉ ra các nguyên tắc chi phối việc

tổ chức quản lý CTCP các nguyên tác phân bổ quyền lực giữa các cơ quan quản lý và các chức danh quản lý trong công ty Đồng thời, trên cơ sở so sánh với Luật Công ty 1090 mà phân tích và đánh giá được các quy định mới của Luật Doanh nghiệp 1999 về tổ chức quản lý nội bộ CTCP Từ đó, đánh giá được thực trạng áp dụng các quy định pháp luật về tổ chức quản lý nội bộ CTCP Mật khác, qua quá trình nghiên cứu, tác giả đề xuất các giải pháp nhằm tiếp tục hoàn thiện các quy định pháp luật về tổ chức quản lý nội bộ CTCP

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu:

Đối tượng nghiên cứu cùa đề tài là: Tổ chức quản lý nội bộ CTCP, những vấn đề lý luận và thực tiễn

Phạm vi nghiên cứu:

Đề tài được nghiên cứu trong phạm vi các quy định của Luật Doanh nghiệp 1999 về tổ chức quản lý nội hộ CTCP Trong đó có sự phân tích, đánh giá, đối chiếu với Luật Công ly 1990, và đánh giá quá trình áp dụng pháp luật trong thực tiễn

4 Phưong pháp nghiên cứu

Đồ tài được nghiên cứu Irên cơ sở chủ nghĩa Mác - Lê Nin, sử dụng phương pháp duy vật biện chứng và duy vật lịch sử, gắn lý luận về quản lý nội

bộ CTCP với các ván đề thực tiễn trong hoạt động quản lý nội bộ trong CTCP

Trang 6

ở Việt Nam Ngoài ra, còn sử dụng một số phương pháp khác như: phương pháp phân tích tổng hợp, phương pháp thống kê so s á n h ,

5 Nhũng đóng góp mói cua luận văn

Thú nhất: Luận văn đã làm rõ một số vấn đề lý luận, chỉ ra được các nguyên tắc chi phôi việc tổ chức quản lý CTCP, chỉ ra được các yêu cầu cơ bản đối với việc tổ chức quản lý CTCP

T h ứ hai: Luận văn đã đánh giá được các yếu kém, bất cập của Luật Công ty 1990 Trên cơ sở đó đã phân tích và đánh giá được các quy định mới của Luật Doanh ngl.it p 1999 về tố chức quản lý nội bộ CTCP

Thứ ba: Luận văn đã đưa ra được một số ví dụ điển hình trong thực tiễn

áp dụng Trên cơ sở đánh giá thực trạng đó, luận văn đã phân tích được những vướng mắc cần phải khắc phục trong quá trình áp dụng

T h ứ tư: Trên cơ sở nghiên cứu lý luận và thực tiễn về tổ chức quản lý nội bộ CTCP, luận văn đã đưa ra một số ý kiến nhằm hoàn thiện các quy định của pháp luật về vấn để này

6 Nội dung co bản của Luận Vãn

Ngoài phần m ở đầu và danh mục tài liệu tham khảo, luận vãn bao gồm ba chương:

Chương I: Những vấn đề lý luận về tổ chức quản lý nội bộ công ty cổ phần Chương, II: Những quy định của pháp luật về tố chức quản lý nội bộ công ty cổ phần và thực tiền áp dụng

Chương III: Một sô kiến nghị nhằm hoàn thiện các quy định của pháp luật về

tổ chức quản lý nội bộ cống ty cổ phần

Trang 7

CHƯƠNG I:

N H Ữ N G VẤN ĐỂ LÝ LUẬN VỂ T ổ CHỨC QU Ả N LÝ

NỘI B ộ C ÔNG TY CỔ PH Ầ N

CỦA NÓ ĐỐI VỚI HOẠT ĐỘNG CỦA CÔNG TY c ó PHẨN

/.7.7 K hái niệm vu các nội dung cơ bản của việc tổ chức quẩn lý công ty cổ

p h ầ n

Trước khi tiếp cận nghiên cứu khái niệm quản lý nội bộ công ty cổ phần nói riêng, khái niệm quản lý nội bộ doanh nghiệp nói chung, cần làm rõ quan niệm về quản lý Hiện nay, có nhiều cách giải thích khác nhau về thuật ngữ quản lý Có quan niệm cho rằng, quản lý là hành chính, là cai trị Quan niệm khác lại cho rằng, quán lý là điều hành, điều khiển, chi huy Như vậy, ta có thể hiểu, quản lý là sự tác động, chỉ huy, điều khiển các quá trình xã hội và hành vi hoạt động C'-le con người đê chúng phát triển phù hợp với quy luật, đạt tới m ục đích đã đề ra và đúng ý đổ của người quản lý Như ta đã biết, quản lý nội bộ doanh nghiệp nói chuns và quản lý nội bộ CTCP nói riêng là một dạng của hoại động quản lý Ta có thể hiểu quản lý nội bộ doanh nghiệp là sự tác động, chỉ huy, điều khiển của các nhà quản lý tới các hoạt động của doanh nghiệp Hay ta có thể hiểu, quản lý là sự tác động của chủ thể quản lý tới đối tượng quan lý Đây chí là cách hiểu chung dựa trên cơ sở quan niệm về thuật ngữ quản lý Còn trên thực tế, có khá nhiều cách tiếp cận khác nhau đến khái niệm quản lý nội bộ công ty

Theo Tổ chức hợp tác và Phát triển kinh tế (OECD), quản lý nội bộ công ty là một hệ thống các cơ chế, các hành vi quản lý mà theo đó các công

ty được điều hành theo một ý chí thống nhất Quán lý nội bộ công ty cho phép

Trang 8

tạo ra mội CO' chế mà các mục tiên cùa công ly được xác lập, tạo ra các phương tiện đê đạl được các mục đích đã đề ra và để giám sát việc thực hiện [29].

Theo Ngân hang thế giới (WB), quản lý nội bộ công ty được coi là một

hệ thống kết hợp các yếu tố luật pháp, thể chế và các thông lệ quản lý của các công ly Nó cho phép các công ly có thể thu hút được các nguồn tài chính và nhân lực hoạt động một cách có hiệu quả, tạo ra các giá trị kinh tế lâu dài cho các thành viên troi 2 khi vẫn tôn trọng các quyền lợi của những người có quyền, lợi ích liên quan và của xã hội [15]

Theo Ngân hàng phát triển Châu Á (ADB), quản lý nội bộ công ty bao gồm một hệ thống các quy chế xác định rõ mối quan hệ giữa các cổ đông, các chức danh quản lý, các chủ nợ, chính phủ và những người có quyền, lợi ích liên quan khác và một hệ thống các cơ chế để đảm bảo cho các quy chế nói trên được thực hiện một cách trực tiếp hay gián tiếp [27]

Như vậy, ta có thể hiểu quản lý nội bộ còniị ty là hệ thống cúc cơ c h ế

mà tlieo đó công ty ơưực quản /ý, thông qua việc lổ chức điều hành nội bộ công ty, mù trong đó các quyền và nghĩa vụ của các chủ thể quản lý như các

cô đông, HĐQT, Giám dốc, người lao động và những người C'ó lợi ích liên

quan dược phân định rõ l ủ 11 ạ.

Quản lý nội bộ doanh nghiệp khác với quản lý nhà nước đối với hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp Các hoạt động quản lý này có sự khác nhau ỏ' một số điểm cơ bản về chủ thể quản lý, đối tượng quản lý và mục đích quản lý Chủ thể quán lý của quản lý nhà nước đối với doanh nghiệp là nhà nước, còn đối tượng quản lý là bản thân doanh nghiệp Trong khi chủ thể quản

lý của hoạt động quản lý nội bộ doanh nghiệp là bộ máy quản lý của doanh nghiệp, còn đối tượng quán lý là các hoạt động kinh doanh cụ thể của doanh nghiệp Quản lý nhà nước đối với hoạt động kinh doanh cùa doanh nghiệp là quản lý bên ngoài, quản lý ở tầm vĩ mô đối với doanh nghiêp Quản lý nội bộ doanh nghiệp là hệ ihống các cơ chế mà chính các chù thể quản lý đặt ra để tự

Trang 9

quản lý doanh nghiệp mình, còn quản lý nhà nước đối với doanh nghiệp là hệ thống các cơ ch ế mà nhà nước đặt ra để quản lý doanh nghiệp với tư cách là một chù thể bên ngoài doanh nghiệp Ngoài ra, ta cũng có thể hiểu quản lý nội bộ doanh nghiệp là quản lý vi mó còn quản lý nhà nước đối với hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp là quản lý vĩ mô Nhà nước chỉ đưa ra những quy định m ang tính ciiất định hướng đối với doanh nghiệp mà không trực tiếp quản lý mọi hoạt động sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp Quản lý nội bộ doanh nghiệp là hệ thống các cơ chế mà các chủ thể quản lý đặt ra tác động trực tiếp tới mọi hoạt động của doanh nghiệp.

Từ những phí' 11 tích ở trên, ta thấy quản lý nội bộ C TC P lù hệ thống các

cơ c h ế m ù các chủ th ể quản lý đặt ra đ ể quản ỉỷ hoạt động của CTCP bao iịổm cúc C/KV định về chức Iiăiií>, nhiệm vụ, quyền hạn của từiìíỊ bộ phận trong

bộ m á y q u ả n lý; Iiiịityên lắc hoạt dộng vù thủ tục thông qua các quyết dinh,

Hoạt động quản lý nội bộ doanh nghiệp nói chung, CTCP nói riêng bao gồm rất nhiều nội dung Các nội dung này phải thể hiện được tất cả các vấn đề liên quan đến tổ chức quản lý nội bộ công ty Trong đó bao gồm cả các vấn đề mang tính khái quát chung và các vấn đề mang tính cụ thể, chi tiết Việc tổ choc quản lý nội bộ CTCP bao gồm rất nhiều nội dung, trong đó có thể kể đến các nội dung cơ bản như:

Cơ cấu bộ máy quản lý công ty cổ phần;

Chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của từng bộ phận trong bộ máy quảnlý;

1- N guyên tắc hoạt động và thủ tục thông qua các quyết định quản lý;

- Q uyền hạn và trách nhiệm cùa người quản lý công ty;

^ - Kiểm soát những giao dịch có giá trị lớn và những giao dịch dễ phát sinh tư lợi

Trang 10

1.1.2 Vai trò của quấn lý nội bộ cóng ty cổ phần đôi vói hoạt động kinh

doanh của công ty

Tổ chức quản lý nội bộ công !y có vai trò quan trọng, mặc dù trong thực

tế vấn đề này thường bị coi nhẹ Thực tế có rất nhiều công ty, đặc biệt là Công

ty TNHH do thành viên gia đinh góp vốn nên tổ chức quản lý thường mang tính chất tự phát Với việc quán lý như vậy nên hoạt động kinh doanh của các công ty chưa thực sự hiệu quả hoặc hiệu quả kinh tế chưa cao Chính vì vậy,

tổ chức quản lý nội bộ công ly có một vai trò quan trọng đối với hoạt động của công ty Như ta đã biết, không chỉ các hoạt động của công ty mới cần được quản lý, m à tất cả các hoạt động trên thực tế muốn thực hiện được cũng như muốn đạt hiệu qùa cao cần có sự quan lý Sự quản lý ở đây như mộl sự định hướng và đảm bảo cho các qíía trình đó được diễn ra theo đúng mục đích đã đặt ra Tổ chức quản lý nội bộ công ty đảm bảo cho hoạt động của công ty thống nhất, đổng bộ và hiệu quả Mặt khác, quản lý nội bộ công ty tạo sự phân chia rành mạch các chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn từng bộ phận trong bộ máy quản lý Như ta đã biết, quan lý nội bộ công ty là hệ thống các cơ chế mà thông qua đó công ty được quản lý Với những cơ chế này sẽ giúp công ty hoạt động theo đúng ý muốn và mục đích của các nhà quản lý Một công ty không được tổ chức quản lý chắc chắn rằng công ty đó sẽ không thể hoạt động được, và nếu hoạt động sẽ khổng đem lại hiệu quả mong muốn

ĐỘNG ĐẾN C ơ CHẾ QUẢN LÝ NỘI BỘ CÔNG TY

Công tv cổ phần là loại hình đặc trưng của công ty đối vốn Cơ cấu tổ chức bộ m áy quản lý những vấn đé quản lý nội bộ, quyền lợi và nghĩa vụ của các cổ đông được giai quyết chủ yếu dựa trên nguyên tắc đối vốn (nghĩa là dựa trên giá trị cổ phần và loại cổ phần mà các cổ đỏng nắm giữ) Mặt khác, với cấu trúc vốn linh hoạt và khả năng chuyển nhượng cổ phần dễ dàng trên

Trang 11

thị trường, làm cho CTCP có phạm vi, quy mô kinh doanh lớn, số lượng cổ đông đổng đảo, cơ cấu cổ đông linh hoạt - điều này cũng ảnh hưởng đến tổ chức quản lý nội bộ CTCP Như vậy, ta có thể nêu mộl số đặc trưng pháp lý cơ bản của CTCP tác động đến cơ chế quản [ý nội bộ cồng ty, đó là:

T h ứ n hất, cấu trúc vốn của CTCP.

CTCP là loại hình doanh nghiệp đa sở hữu Khi tham gia vào CTCP, các cổ đông không quan tâm đến nhân thân của nhau mà chỉ quan tâm đến phần vốn góp Vốn là toàn bộ những tài sản hữu hình và vô hình thuộc sở hữu của công ty hoặc công ty chiếm hữu được dựa vào bất cứ giai đoạn nào của chu trình sản xuất kinh doanh nhàm tìm kiếm lợi nhuận Vốn là điểu kiện tiên quyếl và là cơ sở vật chất cho chúng ta tiến hành hoạt động sán xuất kinh doanh Vốn là cơ sỏ' cho việc tổ chức và quản lý doanh nghiệp thông qua sự vận động của lợi ích Cơ chế quán lý thông qua vốn trước đây chưa tồn tại, sự kiểm soái thông qua vốn chí được nhắc tới khi có sự ra đời cùa Luật Doanh nghiệp 1999, cư chế quản lý thông qua lợi ích vật chất là cơ sở để doanh nghiệp được quản lý về mặt vĩ mô, “ sự kiểm soát về vốn là sợi dây buộc chặt công ty mẹ và công ty con” Vốn cùa công ty được hình thành từ nhiều nguồn: vốn vay, vốn góp vốn tích luỹ Với CTCP, vốn điều lệ được thể hiện dưới dạng các cổ phần, c ổ phần là phần chia nhỏ nhất vốn điều lệ của công ty, được thể hiện dưới hình thức cổ phiếu, c ổ phần bao gồm nhiều loại: cổ phần phổ thông và cổ phần trú đãi Sự đa dạng hóa các loại cổ phần với các quyền

và mức độ khác nhau cho phép CTCP tạo lập được cấu trúc vốn linh hoạt phù hợp với khả năng, yêu cầu phái triển cũng như yêu cầu quản lý công ty

Với lính chấl đa sở hữu cơ cấu tổ chức bộ máy quản lý, cơ chế quản lý trong CTCP dựa tre 11 sức mạnh kinh tế của các nhóm sở hữu trong công ty Trong cơ cấu tổ chức bộ máy quản lý trong công ty có sự phân chia quyền lực

rõ ràng giữa các bộ phận Sự phân chia quyền lực này trước hết phụ thuộc vào

ly lệ vốn góp của các cổ đông, nhằm đảm hảo một cư cấu tố chức quản lý chặt

Trang 12

doanh nghiệp khác do là cơ cấu tổ c hức quản lý cùa CTCP chịu sư chi phối của cấu trúc vốn, v ề cơ bản bộ máy quản lý của các doanh nghiệp đối vốn có

sự phân chia quyền lực và cơ cấu hoàn chỉnh, rõ ràng hơn so với doanh nghiệp

tư nhân, công ty hợp danh.ỊCTCP là một trong những loại hình doanh nghiệp

có cơ cấu tổ chức Ciiặi chẽ nhất, có sự phân chia quyền lực rõ ràng nhất và cơ cấu tổ chức này chịu sự chi phối quyết định của cấu trúc vốn.I Cấu trúc vốn không những quyết định hoạt động kinh doanh mà còn đóng vai trò quan trọng trong việc chi phối cấu trúc quản lý của CTCP Trong CTCP, việc hình thành bộ m áy tổ ch lít quản lý và việc phân chia quyền lực giữa các bộ phận cấu thành đó, cấu trúc vốn có ảnh hưửng quyết định và chi phối Vì vậy, xây dựng một cơ cấu vốn như thế nào là hợp lý, phù hợp với các quy định của pháp luật, phù hợp với kha năng của công ty và phù hợp với phạm vi, quy mô hiệu quả kinh doanh nhằm thu hút tối đa các nauổn vốn trong xã hội là vấn đề mà bất cứ CTCP nào cũng quan tâm Trong quá trình hoạt động kinh doanh, CTCP căn cứ vào cơ sở pháp lý quy định về cấu trúc vốn dể thực hiện việc tạo lập và huy động vốn phù hợp với các quy định của pháp luật

Theo quy định của Luật Doanh nghiệp 1999, cổ phần phổ thông là loại

cố phần bắt buộc phái có và là loại cổ phần chủ yếu của công ty, vì bản chất

cổ phần phổ thông là riềtì tảng của CTCP c ổ phần phổ thông chứa đựng đầy

đủ các yếu lố của một cổ phần, là loại cổ phần thể hiện đầy đủ nhất các quyền, nghĩa vụ của cổ đông, c ổ phần phổ thông là loại cổ phần dễ chuyển nhượng - đây có thể nói là mội trong nhũng đặc tính lớn nhất của cổ phần phổ thông Ngoài cổ phần phổ thông, CTCP còn có cổ phần ưu đãi Luật Doanh nghiệp quy định cổ phần ưu đãi bao gồm: cổ phần ưu đãi biểu quyết, cổ phần ưu đãi

cổ lức cổ phần ưu đãi hoàn lại và các loại cổ phần ưu đãi khác do Điều lệ công ty quy định Q iu đó ta thấy, cấu trúc vốn của CTCP gồm nhiều loại nên

Trang 13

cấu trúc vốn rất linh hoạt, có thê đáp ứng được nhu cầu của rất nhiều nhà đầu

tư Mặt khác, bản than các loại cổ phần có thể có sự chuyển hóa Vì vậy, cấu trúc vốn trong vốn điều lệ thường xuyên thay đổi, tạo sự linh hoạt trong cấu trúc vốn của CTCP Với một cấu trúc vốn linh hoạt như vậy, CTCP sẽ có một

cơ cáu tổ chức quán lý khác so với các ioại hình công ty khác

Thật vậy, trong cơ cấu tổ chức quản [ý của CTCP, ĐHĐCĐ là cơ quan

có quyền lực cao nhất, là nơi thể hiện tập trung nhất vai trò của các cổ đông

Đ HĐ C Đ bao gồm tất cả các cổ đỏng không phân biệt cổ đông đại chúng hay

cổ đông lớn, dù cổ đông đó nắm giữ bao nhiêu cổ phần đều có quyền tham dự họp Đại hội đổng c ) đông, c ổ 'đ ô n g là những người góp vốn tạo nên công ty,

họ có vai trò to lớn trong việc tồn tại và phát triển của CTCP Vai trò này của

cổ đông phụ ihuộc vào số cổ phần mà họ nắm giữ Sự chi phối của cấu trúc vốn tới tố chức bộ máy của CTCP thể hiện rõ nét tại ĐHĐCĐ Khi các cổ đông góp vốn vào CTCP thì lu' cách chủ sở hữu của cổ đông đối với công ty được xác lập cổ đông sẽ có quyền tham gia ĐHĐCĐ Tuy nhiên, việc tham gia vào cơ quan quyền lực cao nhất của CTCP hoàn toàn phụ thuộc vào đặc điếm, tính chai của cổ phần mà cổ đông đó đang nắm giữ Việc phân chia quyền lực ở ĐHĐCĐ phụ thuộc rất nhiều vào cấu trúc vốn Sự chi phối của cấu trúc vốn thể hiện ớ việc triệu tập ĐHĐCĐ Theo quy định của Luật Doanh nghiệp 1999, cuộc họp ĐHĐCĐ được tiến hành khi có số cổ đông dự họp đại diện ít nhất 51 % số cổ phần có quyền biêủ quyết Như vậy, đối với việc triệu tập Đ HĐCĐ thì số lượng cổ đông không quan trọng mà quan trọng là số lượn?

cổ đông đại diện cho cổ phần Mặt khác, việc triệu tập ĐHĐCĐ phụ thuộc vào

cơ cấu vốn còn thể hiện ở chỗ cổ đông nắm cổ phần ưu đãi biểu quyết sẽ có ảnh hưởng lớn hơn so với cổ đỏng phổ thông và cổ đông ưu đãi cổ tức không

có quyền biểu quyếl Sự chi phối của cấu trúc vốn còn thể hiện ở cách thức thông qua các quyct định của ĐHĐCĐ Quyết định của ĐHĐCĐ được thông qua tại cuộc họp khi được số cổ dông đại diện ít nhất 51% tổng số phiếu biểu

Trang 14

quyết cùa tất cả cổ đông dự họp chấp thuận Đối với quyết định về loại cổ phần và số lượn lì cổ phần được quyền chào bán của từng loại; sửa đổi hổ sung Điều lệ công ly; lổ chức lại giải thể công ty; bán hơn 50% tổng giá trị tài sản được ghi trong sổ kế toán của công ty thì phải được số cổ đông đại diện ít nhất 65% tổng số phiếu biểu quyết của tất cả cổ đông dự họp chấp thuận Như vậy,

rõ ràng cơ chế quyết định các vấn đề của ĐHĐCĐ bị chi phối bởi cấu trúc vốn

Hội đồng quản trị là cơ quan quản lý điều hành hoạt động của công ty

cổ phần Về nguyên lac, hoạt động của CTCP do các cổ đông quyết định, song không phải tất cá các cổ đông đều có khả năng tham gia quản lý, điều hành các hoạt dộng kinh doanh của CTCP Trong việc hình thành HĐQT, cấu trúc vốn của CTCP đóng một vai trò quyết định Điều này thể hiện ở chỗ, các cổ lớn được quyền đề cử người vào HĐQT HĐQT trong CTCP là do cổ đông bầu tại ĐHĐCĐ Số phiếu tham gia bầu không căn cứ vào số lượng cổ đông, mà căn cứ vào cổ phần có quyển bầu Vì vậy, quyển bỏ phiếu không phải là quyền

lự nhiên vốn có của các cổ đông mà quyền này gắn liền với cổ phần, hay nói cách khác là bị chi phối bởi cổ phần và được phân chia tỷ lệ với số iượng cổ phần nắm giữ của mỗi cổ đông Sự chi phối của cấu trúc vốn đối với HĐQT còn thể hiện ỏ' cơ chế thực thi quyền lực của HĐQT

Ớ Việt Nam, các doanh nghiệp mà trong cơ cấu tổ chức bộ máy có HĐQT, cách thức lùi h thành HĐQT là do bầu (trừ H ĐQT trong DNNN và nhà nước nắm giữ 100% vốn là do nhà nước bổ nhiệm) Cách thức bầu Chủ tịch và các thành viên của HĐQT bị chi phối bởi tỷ lệ vốn góp Điều này thể hiện rõ trong hai loại hình doanh nghiệp, điển hình là doanh nghiệp liên doanh

và CTCP Trong doanh nghiệp liên doanh, HĐQT do các bên liên doanh thỏa thuận cử ra, nhưng căn cứ vào mức độ góp vốn của các bên Số thành viên trong HĐQT nguyên tắc hoạt động, nhiệm kỳ của HĐQT do pháp luật quy định Số lượng thành viên trong HĐQT cùa doanh nghiệp liên doanh tỷ lệ

Trang 15

thuận với phần vốn góp của các bên Irong doanh nghiệp liên doanh Hoạt động của HĐỌT trong doanh nghiệp liên doanh tiến hành theo nguyên tắc nhất trí

và nguyên tắc quá bán Các doanh nghiệp khác cũng như vậy, ví dụ Công ty TNHH

Không những thế, việc hình thành, cơ chế hoạt động của BKS trong CTCP cũng bị chi phối bởi yếu tố vốn Sự chi phối này không căn cứ vào tỷ lệ

cổ phần mà căn cứ vào cổ phần có quyền bầu tại Đ H Đ C Đ để bầu BKS Theo quy định của Luật Doanh nghiệp 1999, cơ chế hình thành BKS là do cổ đông bầu tại ĐHĐCĐ

Tuy nhiên, cũng có một số loại hình doanh nghiệp, việc tố chức bộ máy quản lý không bị chi phối bởi cấu trúc vốn (Ví dụ HTX, DNNN, DNTN)

Trong tổ chức bộ m áy quán lý của HTX, các xã viên trong HTX không phụ thuộc vào số vốn góp nhiều hay ít mà họ đều có quyền và nghĩa vụ binh đáng như nhau Mồi xã viên có quyền biểu quyết ngang nhau và họ có một phiếu bầu tại Đại hội xã viên để bầu Ban quản trị và Chủ nhiệm HTX Ngược lại, tố chức bộ má) quản lý của CTCP dựa trên nguyên tắc đặc trưng là nền dân chủ cổ phần, phiếu hầu hoàn toàn phụ thuộc vào số lượng và tỷ lệ cổ phần

mà các cổ đông nắm giữ Như vậy, tổ chức bộ máy quản lý của HTX không bị chi phối bởi cấu trúc vốn như tổ chức bộ máy quản lý của CTCP

Trong D NNN, cơ chế quản lý, hoạt động của DNNN do nhà nước chi phối với tư cách là chủ sở hữu N hư vậy, cách thức tổ chức quản lý của DNNN vẫn mang tính m ệnh lệnh hành chính Và vì vậy, ta có thể khẳng định rằng cơ cấu tổ chức quản lý cúa DNNN không phụ thuộc vào cấu trúc vốn DNNN không phải là loại hình doanh nghiệp đa sở hữu, vốn do nhà nước đầu tư - chỉ

có một chủ sở hữu duy nhất là nhà nước và nhà nước quyết định toàn bộ những vấn đề về cơ cấu tổ chức quản lý doanh nghiệp

Đối với DNTN do tính chất đặc thù là chí có một cá nhân đầu tư vốn,

tổ chức quán lý Vì vậy, toàn bộ hoạt động của DNTN đều do một cá nhân

Trang 16

giải quyết và định đoạt Và ta có thể khẳng định rằng cấu trúc vốn khổng ảnh hưởng tới tổ chức bô máy quản lý DNTN.

Một số quốc gia khác trên thế giới cũng quy định cơ chế hình thành cơ cấu quyền lực trong CTCP là theo cơ chế bầu theo cổ phần Sự tham gia của cổ đông vào ĐHĐCĐ sự hình thành HĐQT BKS đều chịu ảnh hưởng của cổ phần, hay nói cách khác, đều bị chi phối bởi cấu trúc vốn

Luật Công ty Hoa Kỳ quy định thể thức bỏ phiếu tích luỹ được một số tiểu bang chấp nhận Bỏ phiếu tích lũy là hình thức bỏ phiếu nhằm tăng cơ hội cho các cổ đông thiếu số bầu đại diện của mình vào HĐQT [16, tr 521, 522].Theo Luật Công ty Thailand, Malaysia, Philippines, Singapore cơ chế hình thành cơ cấu quyền lực trong CTCP được thực hiện thông qua việc bỏ phiếu Cổ đống có thể bầu chọn trực tiếp hoặc qua đề cử c ổ đông nắm giữ 51% số cổ phần có thể bầu chọn tất cả thành viên HĐQT Ngoài ra, còn có quy định bầu chọn bằng hình thức dồn phiếu Hình thức này cho phép các cổ đông dồn phiếu cho n.ột ứng cử viên [5, tr 51, 52]

Như vậy, theo pháp luật Anh, Mỹ và các nước trong khối ASEAN, cơ chế hình thành cơ câu quyền lực trong công ty cố phán là cơ chế bỏ phiếu với nhiều hình Ihức khác nhau Song, điểm chung nhất trong việc hình thành cơ cấu quyền lực ở các l’ệ thống pháp luật này là không căn cứ vào cổ dông mà căn cứ vào cổ phần

T h ứ hai, cơ cấu thành viên của CTCP.

Công ly cổ phần thường có số lượng cổ đông lớn và dễ thay đổi cơ cấu thành viên Điều này xuất phát từ đặc trưng của CTCP là có cấu trúc vốn linh hoạt, vốn được chuyển nhượng dễ dàng Với việc chuyển nhượng vốn dễ dàng nên các cổ đông dễ dàng rút khỏi công ty, gia nhập công ty, chuyển dịch vốn

từ cổ đông này sang cố đông k h á c , Với một cơ cấu thành viên linh hoạt như vậy sẽ có ảnh hưởns nhiều đến việc tổ chức quản lý nội bộ CTCP

Trang 17

Trước hếl, sự U'C động cùa cơ cấu thành viên cùa CTCP thể hiện ở chỗ

cơ cấu tổ chức quản lý của CTCP khác so với các loại hình doanh nghiệp kháđ Thực tế cho thấy, việc thành lập và điều hành CTCP phức tạp hơn nhiều

so với các loại hình công ty khác như Công ty TNHH, công ty hợp danh, DNTN, Tính phức tạp này bắt nguồn từ đặc trưng của CTCP là: CTCP thường có số lượng cố đông lớn Tính đa sở hữu cùng với một số lượng lớn các

cổ đông là một trong những tiền đề của sự tách bạch giữa quản lý và điều hành công ty Việc quản lý điều hành công ty do bộ máy quản lý thực hiện dưới sự giám sát của các cổ đổng Các loại hình công ty khác có số lượng thành viên ít nên việc tổ chức quán lý dơn giản để giảm chi phí quản lý CTCP giới hạn số lượng cổ đồng tối thiểu (ba cổ đổng), không giới hạn số lượng cổ đông tối đa, còn Công ly TNHH cổ hai thành viên trở lên, giới hạn số lượng thành viên tối

đa không vượt quá năm mươi thành viên CTCP và Công ty TNHH đều là loại hình công ty đối vón, song CTCP được đặc trưng bởi phạm vi quy mô hoạt động, số lượng cổ đông CTCP thường có số lượng cổ đông lớn, có những công ly cổ phần có tới hàng vạn cổ đông Công ty TNHH về bản chất là loại hình công ly dối vốn nhưng vẫn mang nhiều nét của công ty đôi nhân Điều này thể hiện ở chỗ tl ành viên trong Công ty TNHH thường là những người quen biết, tin cậy lẫn nhau Số lượng thành viên của Công ty TNHH cũng rất hạn chế, Thành viên của Công ty TNHH không muốn trao quyền quản lý công

ty và kiểm soái công ty cho người khác, các thành viến thường trực tiếp quản

lý hoạt động sản xuất kinh doanh của công ty Vì vậy, cấu trúc quản lý của Công ty TNHH trong nhiều trường hợp không mang tính chất chuyên nghiệp, các thành viên đều tham gia Hội đồ no thành viên để quản lý, điều hành các hoạt độnu sản xuất kinh doanh của công ty

Tuy nhiên, không phải chí cơ cấu thành viên trong CTCP mới ảnh hưởng đến cơ cấu tô chức quản lý của CTCP, mà cơ cấu thành viên cũng ảnh

Trang 18

hưởng tới cơ cấu tổ chức quán lý của các loại hình doanh nghiệp khác như: Công ty TNHH H TX ,

Đối với Công ty TNHH cơ cấu thành viên chi phối đến cơ cấu tổ chức quản lý thể hiện ở chỗ số lượng thành viên ảnh hưởng đến việc thành lập BKS hay không thành lập Công ty TNHH có trên mười một thành viên, cơ cấu tổ chức quản lý bao gồm: Hội đồng thành viên, Chủ tịch Hội đổng thành viên, Giám đốc (Tổng giám đốc) và BKS Công ty TNHH dưới mười một thành viên không thành lập BKS

Đối với HTX , cơ cấu tổ chức quản lý của HTX bao gồm ba cơ quan quản lý sau: Đại hội xã viên Ban quản trị, Chủ nhiệm hợp tác xã, BKS Nếu HTX có nhiều xã viên thì có thể tổ chức Đại hội đại biểu xã viên thay bàng Đại hội xã viên Mặt khác, đối với HTX có ít xã viên thì chi bầu một kiểm soát viên thay vì báu BKS Như vậy, số lượng xã viên chi phối đến cơ cấu tổ chức quản lý của HTX

Sự chi phối của cơ cấu thành viên tới tổ chức bộ máy quản lý CTCP còn thể hiện ở chỗ số lượng cổ đông chi phối tới tổ chức quản lý nội bộ CTCP Điều này thể hiện à í,uy định cơ cấu tổ chức quản lý CTCP tuỳ thuộc vào số lượng cổ đông Đối với CTCP có trên mười một cổ đông thì trong cơ cấu tổ chức phải thành lập BKS độc lập Đối với CTCP có từ mười một thành viên trở xuống thì trong cơ cấu tổ chức không nhất thiết phải thành lập BKS độc lập

T h ứ ba, quy ị nô h o ạ t động của CTCP.

Có thể dễ dàng thấy rằng CTCP có khả năng thu hút vốn lớn thông qua việc phái hành các loại chứng khoán ra công chúng Trong CTCP việc chuyển nhượng vốn được thực hiện một cách tự do, linh hoạt giữa các cổ đông Chính

vì vậy, CTCP thường có quy mô hoạt động lớn hơn nhiều so với các loại hình doanh nghiệp khác Với quy mô hoạt động lớn như vậy, nên tổ chức quản lý CTCP được xây dựng thể hiện tính chuyên nghiệp hơn so với các loại hình doanh nghiệp khác Việc tổ chức quán lý CTCP có sự phân định rõ ràng giữa

THƯ V I Ệ N

Ị TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HA NỌI

Ị p h ò n g O Q C -

Trang 19

-quyền sớ hữu và -quyền quán lý Quyền quản lý được giao cho bộ máy quản lý thực hiện.

Và ta cũng có thể thấy rằng, quy mô hoạt động không chí ảnh hưởng tới

cơ cấu tổ chức quản lý của CTCP, mà còn ảnh hưởng tới cơ cấu tổ chức quản

lý của các loại hình doanh nghiệp khác như: DNNN HTX, CônR ty TN H H , Đối với DNNN, cư cấu tổ chức quản lý phụ thuộc vào hình thức và quy

mô hoại động DNNN tồn tại dưới nhiều hình thức và có quy mô khác nhau

Do vậy mà không thế áp dụng một cách thống nhất hình thức tổ chức quản lý đối với mọi DNNN Tổng công ty nhà nước và doanh nghiệp nhà nước độc lập

có quy mô lớn có cơ cấu tổ chức quản lý gồm: HĐQT, BKS, Giám đốc (Tổng giám đốc) và bộ máy giúp việc Các DNNN khác thì chỉ có Giám đốc và Bộ máy giúp việc HĐ(/1 được thành lập ở các tổng công ty và doanh nghiệp hoạt động độc lập có quy mô lớn để thực hiện chức năng quản lý hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp Đây là một tổ chức kinh tế có quy mô lớn nên một mình Giám đốc (Tổng giám đốc) khó có khả năng quản lý nhấl là trong điều kiện của nền kinh Ư thị trường Do đó, cần có sự tập trung trí tuệ của nhiều người đê quan lý hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp một cách có hiệu quả hơn Nhu' vậy tổ chức quàn lý DNNN phụ thuộc vào hình thức và quy mô của DNNN Tống công ty nhà nước và DNNN có quy mô lớn thì cơ cấu tổ chức cùa chúng phức tạp hơn DNNN có quy mô nhỏ thì cơ cấu tổ chức đơn giản hơn để giảm các chi phí quản lý Trong các DNNN có quy mô nhỏ thì không ihành lập HĐQT mà Giám đốc là người điều hành cao nhất, chịu trách nhiệm độc lập về toàn bộ hoạt động của doanh nghiệp Giám đốc do người quyết định thành lập (ỉoanh nghiệp bổ nhiệm, miễn nhiệm

Đối với HTX nếu có quy mô lớn, HTX có thể bầu HĐQT để thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của Ban quản trị hợp tác xã Như vậy, cơ cấu tổ chức quản lý cùa hợp tác xã cũng bị chi phối bởi quy mô hoạt động của hợp tác xã

Trang 20

Đối với Công ty TNHH một thành viên, tuỳ thuộc vào quy mô, ngành nghề kinh doanh, cơ cấu tổ chức quản lý nội bộ gồm: HĐQT, Giám đốc (Tống giám đốc) hoặc Chù tịch công ty, Giám đốc (Tổng giám đốc) Những Công ty TNHH một thành viên hoại động trên quy mô lớn, ngành nghề kinh doanh đa dạng thì lổ chức bộ máy quản lý theo mô hình HĐQT và Giám đốc.

việc quy định rõ ràng quyền lợi và nghĩa vụ của bộ m áy quản lý trong công ty,

bằng việc tâng cường kiểm tra hoạt động quản lý và bằng những yếu tố động viên để gắn lợi ích của người quản lý với lợi ích của cổ đông và của công ly Yêu cầu này đã được Luật Doanh nghiệp giải quyết khá thành công Luật Doanh nghiệp quy định tổ chức bộ máy quản lý tùy thuộc vào số lượng thành viên Đối với CTCP có số lượng cố đông ít thì bộ máy quản lý được quy định dơn giản, gọn nhẹ hưn Trong tổ chức bộ máy quản lý của những công ty này không nhất thiết pliái thành lập BKS Điều này thể hiện một bước tiến của Luật Doanh nghiệp so với Luật Công ty 1990 Mặt khác, Luật Doanh nghiệp còn qưy định nhiệm vụ, quyền hạn của các bộ phận trong tổ chức bộ máy quản lý một cách rất rõ ràng, cụ thể, chi tiết Đây cũng là một bước tiến rất rõ ràng so với Luật Cói;: ty 1990 Tuy nhiên, những công ty dưới 12 thành viên

mà muốn tổ chức bộ máy quản lý có BKS thì cũng không bị pháp luật cấm

Trang 21

T h ứ hai, việc tổ chức quản lý CTCP phải đảm bảo sự phản công rành mạch chức năng, nhiệm vụ, -quyên hạn giữa các bộ phận trong bộ máy quản lý đống thời phải có co c h ế phối hợp, kiểm soát, giám sát hữu hiệu giữa các bộ phận đó.

Bộ máy quản lý của các doanh nghiệp, trong đó có CTCP bao gồm nhiều bộ phận hợp thành Để đảm bảo sự vận hành trôi chảy, đồng bộ của bộ máy quản lý đòi hỏi phải có sự phân công rành mạch về chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn giữa các bộ phận đó Đồng thời, các bộ phận đó phải có sự phối hợp và kiểm soát lẫn nhau

Theo quy định của Luật Doanh nghiệp, yêu cầu này đã được giải quyết khá tốt Nhiệm vụ quyền hạn, thể thức hoạt động của ĐHĐCĐ, HĐQT Giám đốc (Tống giám dốc), BKS được quy định khá rõ ràng, cụ thể Các cơ quan này có sự độc lập tương đối trong hoạt động và có sự chi phối lẫn nhau ĐHĐCĐ là cơ quan có quyền lực cao nhất trong CTCP, giải quyếl những vấn

đề quan trọng nhất HĐỌT là cơ quan quản lý của công ty, có toàn quyền nhân danh công ty để quyết định mọi vấn đề liên quan đến mục đích, quyền lợi của công ly trừ những vấn đề thuộc thẩm quyền của ĐHĐCĐ Giám đốc (Tổng giám đốc) là người điều hành hoạt động hàng ngày của công ty BKS kiểm tra, giám sát các hoạt động của các cơ quan quản lý trong việc quản lý, điều hành hoạt động kinh doanh Với những chức năng của các bộ phận như vậy ta thấy các bộ phận này có mối liên hệ và chi phổi lẫn nhau ĐHĐCĐ là

cơ quan quyết định Ci' 0 nhất có quyền bầu, miễn nhiệm, bãi nhiệm thành viên HĐQT, thành viên BKS; xem xét và xử lý các vi phạm của HĐQT và BKS gây thiệt hại cho công ty và cổ đông của công ty HĐQT bổ nhiệm, miễn nhiệm, cách chức Giám đốc (Tổng giám đốc) và cán bộ quản lý quan trọng khác của công ty, Giám đốc (Tổng giám đốc) chịu trách nhiệm trước HĐQT về việc thực hiện các quyền và nhiệm vụ được giao Thành viên HĐQT có quyền yêu cầu Giám đốc (Tổng giám đốc) Phó giám đốc (Phó tổng giám đốc), các cán

Trang 22

bộ quản lý các đơn vị khác trong công ty cung cấp các thông tin, tài liệu về tình hình tài chính, hoại động kinh doanh của công ty và của các đơn vị trong công ty Qua đó ta thây, các cơ quan trong bộ máy quản lý của CTCP được phân công một cách rành mạch, và có sự phối hợp, kiểm soát lẫn nhau trong quá trình thực hiện chức năng, nhiệm vụ của mình.

Thú ba, tố chức quản lý CTCP đảm bảo kh ả năng tham gia quản lý của các cỏ đỏng nhằm bảo vệ một cách tốt nhất quyền lọi của các cổ đông.

Cổ đông là người góp vốn vào CTCP và là chủ sở hữu đối với CTCP Trong CTCP, cổ đông có vai trò quan trọng Sự ra đời và hoạt động của CTCP luôn gắn liền với các cổ đông, c ổ đông là chủ sở hữu của công ty, nhưng không phải bao giờ cũng là người quản lý hay là người đại diện của CTCP Khi góp vốn, các cổ đông không tiếp tục sở hữu các giá trị đã góp vào công ty với tư cách là vốn góp mà sẽ sở hữu bản thân công ty tương ứng với tỷ lệ vốn góp Các cổ đông không trực tiếp quản lý các hoạt động của CTCP Chính vì vậy, bảo vệ quyền lợi cùa các 0 0 đổng là một vấn đề vô cùng quan trọng Các

cơ chế quản lý nội bộ trong CTCP cần phải được thiết lập nhằm bảo vệ tối đa các quyền của các Jổ đông trong công ty Các cổ đông góp vốn được quyền tham gia vào các phiên họp ĐHĐCĐ, biểu quyết các vấn đề quan trọng của công ty liên quan đến cơ cấu, tổ chức, hoạt động kinh doanh của công ty và chịu trách nhiệm hữu hạn đối với phần vốn mà mình nắm giữ Thông qua cơ chế bỏ phiếu tại ĐHĐCĐ, họ gián tiếp quyết định những vấn đề của công ty như bầu HĐQT, thông qua định hướng phát triển công ty, sửa đổi, bổ sung Điều lệ công ty Hiện nay, Luật Doanh nghiệp 1999 quy định nhiều cơ chế khác nhau đê đảm bảo cho các cổ đông có thể chi phối hoạt động của CTCP Tuy nhiên, khả năng chi phối hoạt động của CTCP hoàn toàn phụ thuộc vào số lượng và tính chất cua các cổ phần mà các cổ đông đó đang sở hữu

Trước hết nguyên tắc này được thể hiện ở việc quy định, ghi nhận các quyền và nghĩa vụ của cổ đông trong Luật Doanh nghiệp rất rõ ràng, cụ thể

Trang 23

Bên cạnh việc quy định các quyền về kinh tế như: Quyền chuyến nhượng cổ phần, quyền nhận L ổ lức, quyền yêu cầu công ty m ua lại cổ phần, quyền ưu tiên đối với các cổ phần mới phát hành, quyền nhận tài sản được thanh lý theo

tý lệ cổ phần khi công ty chấm dứt sự tồn tại, Luật Doanh nghiệp còn quy định các quyền liên quan đến việc tham gia vào tổ chức bộ máy quản lý hoạt động của công ty, quyền k e m tra giám sát hoạt động của CTCP Các cổ đông có quyền tham gia vào tổ chức bộ máy quản lý của CTCP Đây là một trong những nhóm quyền quan trọng của cổ đông gắn liền với sự tồn tại và phát triển của CTCP như quyền tham dự ĐHĐCĐ, quyền biểu quyết, quyền bầu các thành viên của IIĐQT và thông qua các quyết định Mặt khác, để bảo vệ quyền và lợi ích của mình các cố đông thông qua cơ quan kiểm soát được bầu

ra tại ĐHĐCĐ để kiểm Ira, giám sál hoạt động của CTCP Các cổ đông có quyền xem xét sổ sách, báo cáo tài chính của công ty khi có những cơ sở để xác định rằng có vấn đề trong quản lý công ty, và có quyền yêu cầu công ty phải giải trình trước cổ đông

Ngoài ra bảo vệ quyền lợi của cổ đông còn thể hiện ở những quy định bảo vệ lựi ích của cổ đông thiếu số Trong CTCP, khả năng chi phối các hoạt động của công ly đối với các cổ đông gắn liền với số lượng và loại cổ phần mà

cổ đông đó nắm giữ Vì vậy, những cổ đông lớn sẽ có ưu thế hơn trong việc tham gia bộ máy quản lý so với cổ đông thiểu số Tuy nhiên, trong các CTCP,

cổ đông thiểu số thường chiếm sổ đông, pháp luật cần có những quy định nhằm bảo vệ quyền và lợi ích cho cổ đông thiểu số Trong CTCP, mỗi cổ phần cùng loại đều tạo c l o người sở hữu nó có các quyền, nghĩa vụ và lợi ích ngang nhau Luật Doanh nghiệp quy định đầy đủ, chi tiết các quyền của các cổ đông, đồng thời quy định các biện pháp báo vệ quyền lợi của các cổ đông Trong CTCP, các cổ đông đa số thường chi phối hoạt động của công ty, những cổ đông này có đại diỊii trong HĐQT c ổ đông thiểu số thường bị chèn ép và không có lợi thế như các cổ đông đa số khi tham gia bộ máy quản lý điều

Trang 24

hành của CTCP c ổ đông thiểu số nắm giữ tỷ lệ cổ phần nhỏ so với các cổ đông khác nên không có khả năng giám sál hoạt động của CTCP, nhất là hoạt động của HĐQT, từ đó mà HĐQT có thể có các quyết định gây thiệt hại cho các cổ đô n s thiểu số Chính vì vậy, điều quan trọng là cần phải bảo vệ quyền lợi cù a cá c cổ đông thiểu số, đảm bảo sự cân bằng trong hoạt động của CTCP Luật Doanh nghiệp đã giải quyết khá thành công vấn đề này Theo Luật Doanh nghiệp, cơ chế bảo vệ cổ đông thiểu số đã được xác lập một cách tương đối đầy đủ hơn Cố dong thiểu số có những quyền sau: Quyền được cung cấp thông tin, quyền ưu tiên mua cổ phần, quyền yêu cầu công ly mua lại cổ phần;

Đề cử người vào HĐQT, yêu cầu triệu tập ĐHĐCĐ, kiến nghị vấn đề đưa vào chương trình họp ĐHĐCĐ, quyền xem xét danh sách cổ đông, có quyền biểu quyết tại cuộc họp DliĐCĐ

Cùng với các quy định về quyền của các cổ đông nói trên, Luật Doanh nghiệp còn quy định các biện pháp nhằm khắc phục tình trạng các cổ đông đa

số hoặc cổ đông là thành viên trong HĐQT, Giám đốc (Tổng giám đốc) và các cán bộ quản lý k h á : lạm dụng vị thế, quyền hạn của mình để thu vén cho cá nhân, gia đình, làm phương hại đến lợi ích của công ty nói chung và của các

cổ đông thiểu số nói riêng Các biện pháp đó là: người góp vốn phải chuyển quyền sở hữu tài sản cho công ty; Nếu người điều hành có lỗi, không ghi chép

sổ sách kế toán thì phải bồi thường thiệt hại; Quy định nghĩa vụ của công ty

mà thực chất là của cầc cổ đông đa số phải mua lại cổ phần theo yêu của các

cổ đông thiểu số Mặt khác, Luật Doanh nghiệp đã quy định cụ thể và chi tiết

cơ chế và cách thức để những người góp vốn có thể tham gia vào việc ra quyết định ư doanh nghiệp, giám sát việc quản lý doanh nghiệp, c ổ đông hoặc nhóm

cổ đông sở hữu trên 10% số cổ phần phổ thông trong thời hạn liên tục ít nhất sáu tháng hoặc tỷ lệ khác nhỏ hơn quy định tại Điều lệ công ty có quyền yêu cầu triệu tập ĐHĐCĐ Măt khác, cổ đông hoặc nhóm cổ đông trên có quyền xem danh sách cổ đông có quyền dự họp Đại hội đồng cố đông, có quyền kiến

Trang 25

nghị vấn đề đưa vuo chương trình họp ĐH Đ C Đ , Mặt khác, Luật doanh nghiệp quy định giới hạn tỷ lệ cổ phần nhất định để xác định cổ đông thiểu số

là 10% số cố phẩn phổ thông Trong khi đó, Luật Công ty 1990 qui định giới hạn tý lệ vốn tối thiếu mà nhóm thành viên phải có mới được quyền triệu tập họp ĐHĐCĐ là 25 ( 0 /ốn điều lệ Việc quy định giới hạn tỷ lệ cổ phần của cổ đông thiểu số là cần thiết Chi có các cổ đông mới có thể định ra được một tỷ

lệ phù hợp với khả năng cùa các cổ đông thiểu số và phù hợp với thực tế hoạt động của CTCP, tạo sự linh hoạt, mềm dẻo trong việc quy định và bảo vệ quyển lợi cùa các cổ đông, nhất là các cổ đông thiểu số, nhưng không trái với các quy định của pháp luật

T h ứ tư, tỏ chức quản lý CTCP phải đảm bảo sự tách bạch giữa quyên

sở hữu của c ổ đông và quyên quản lý, điều hành công ty.

CTCP là một pháp nhân và với tư cách một pháp nhân, CTCP có cơ cấu

tổ chức độc lập, thống nhất, có bộ máy quản lý trung gian Mọi hoạt động của CTCP được tiến hành bởi bộ máy quán lý trung gian đó Như ta đã biết, cổ đông là người góp vốn nên là người sở hữu công ty Tuy nhiên, không phải tất

cả các cổ đông đều tham gia quàn lý cổng ty, mà quyền quản lý công ty được giao cho HĐQT Sự quy định này đã đảm bảo được sự tách bạch giữa quyền

sở hữu của cổ đông và quyền quản lý, điều hành công ty Cùng với việc quy định như vậy, Luật Doanh nshiệp quy định nghĩa vụ của người quản lý công

ty, nhàm báo vệ quyền lợi của các cổ đông - chủ sở hữu công ty

T h ứ năm, tó chức quản lý CTCP đảm bảo thực hiện c h ế độ một thủ trưởng với vai trờ trung tâm của Giám đốc điều hành.

CTCP là một chù thể kinh doanh Chính vì vậy, mục tiêu thành lập CTCP là tiến hành các hoạt động kinh doanh tìm kiếm lợi nhuận Thực tế cho thây, đê kinh doanl hiệu quả cần nhanh chóng quyết định để nắm bắt cơ hội kinh doanh Nên cần áp dung chế độ một thủ trưởng

Trang 26

Luật Doanh nehiệp đã giải quyết vấn đề này bằng việc quy định Giám đốc (Tổng giám đốc) là người điều hành hoạt động hàng ngày của công ty Và nếu Điều lệ công ty không quy định Chủ tịch HĐQT là người đại diện theo pháp luật cu ả công ty thì Giám đốc (Tổng Giám đốc) là người đại diện theo pháp luật Quyền và nhiệm vụ của Giám đốc (Tổng giám đốc) được quy định khá rõ ràng, cụ thể Giám đốc (Tổng giám đốc) đóng một vai trò quan trọng, trung tâm trong quá liính thực hiện việc quản lý, điều hành công ty Giám đốc (Tổng giám đốc) quyết định tất cả các vấn đề liên quan đến hoạt động hàng ngày của cống ty, tổ chức thực hiện các quyết định cùa Hội đồng quản trị, tổ chức thực hiện kế hoạch kinh doanh và phương án đầu tư cùa công ty, Điều này, thể hiện vai tru lrung tâm của Giám đốc (Tổng giám đốc) rất rõ HĐQT

ra các quyết định trong quá trình quản lý, các quyết định này muốn đi vào thực lố cần phải được Giám đốc (Tổng giám đốc) tổ chức thực hiện

NGHIỆP TRONG VIỆC ĐIỂU CHỈNH QUAN HỆ QUẢN LÝ NỘI BỘ CÔNG TY CỔ PHẨN

Điều lệ công ty cổ phần được coi như là bản hiến pháp của công ty Điều lệ quy định các quyền và nghĩa vụ của cổ đông, của những bộ phận hợp thành của công ty, điều chính mối liên hệ giữa những bộ phận cũng như những thủ tục hoạt động trong quá trình quản lý điều hành công ty Những quy định của pháp luật về nhiệm vụ, quyền hạn và thể thức hoạt động của các cơ quan trong bộ máy tổ chức quản lý công ty là những nội dung mang tính thường lệ, tạo cơ sở pháp lý cho các sáng lập viên của CTCP xây dựng Nếu Điều lệ công

ty khống quy định thì mặc nhiên công ty phải tuân thủ quy định của pháp luật Mặt khác, nếu Điều lệ công ty có quy định cụ thể hóa các quy định của pháp luật cho phù hợp với điều kiện, tình hình của với mỗi công ty thì các quy định

đó không được trái với các quy định của pháp luật Tính hiệu quả của quản lý

Trang 27

nội bộ công ty phụ Ihuộc nhiều vào những vấn đề này được nêu như thế nào irong điều lệ công ly Việc quy định cụ thể và rõ ràng sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho việc tổ chức quán lý CTCP thúc đẩy tính chuyên nghiệp và hiệu quả trong việc quản lý điều hành công ty Một điều lệ rõ ràng chi tiết sẽ loại bỏ những tranh chấp đổng thời nó'cũng giúp cho việc giải quyết tranh chấp được

dễ dàna, nhanh chóng trước các cơ quan giải quyết tranh chấp Với vai trò của Điều lệ công ly như vậy, Luật Doanh nghiệp quy định mỗi CTCP phải có một bản Điểu lệ công ty Điều lệ công ty quy định cụ thể tất cả các vấn đề liên quan đến tổ chức và quản lý nội bộ trong công ty

Theo quy định của Luật Doanh nghiệp và Nghị định số 03/2000/NĐ -

CP ngày 03/02/2000 của Chính phủ Hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Doanh nghiệp Điều lệ công ty cổ phần là bản cam kết của tất cả thành viên về thành lập, tổ chức quản lý và hoạt động của công ty, điều lệ đầu tiên của công

ty cổ phần phải được tất cả các cổ đông sáng lập chấp thuận bao gồm các nội dung sau:

- Tên, địa chỉ trụ sở chính của công ty; địa chỉ chi nhánh, văn phòng đại diện (nếu có);

- Mục tiêu và ngành nghề kinh doanh;

- Vốn điều lệ, loại cổ phần, tổng số cổ phần được quyền chào bán của từng loại, mệnh giá cổ phần;

- Quyền và nghĩa ,'ỊI của từng loại cổ đông;

- Các irường hợp cổ đông có quyền yêu cầu công ty mua lại cổ phần;

- Cơ cấu tổ chức quản lý và kiêm soát công ty (nếu có);

- Quyền, nghĩa vụ và chế độ làm việc của từng cơ quan trong cơ cấu tổ chứcquản lý công ty ’ à của Ban kiểm soát, Trưởng ban kiểm soát;

- Người đại diện theo pháp luật của công ty;

- Các loại quỹ, mức giới hạn từng loại quỹ dược lập tại công ty:

- Nguyên tắc trả cổ tức;

Trang 28

- Nguyên tắc giải quyết tranh chấp nội bộ;

- Thể thức sửa đổi hổ sung Điều lệ công ty;

- Các trường hợp giải thể, trình tự và thủ tục thanh lý tài sản công ty;

- Chữ ký của tất cả cổ đông sáng lập hoặc của người đại diện theo pháp củacông ty;

- Các cổ đỏng có tl.ể thỏa thuận và ghi vào Điều lệ công ty các nội dung khác

Ta thấy, Điều lệ công ty và pháp luật doanh nghiệp trong việc điều chỉnh quan hệ quản lý nội bộ công ty có mối quan hệ chặt chẽ với nhau Điều

lệ công ty như một \vn bản quy định chi tiết những vấn đề mà pháp luật quy định Những quy định cùa pháp luật về nhiệm vụ, quyền hạn, thể thức hoạt

đ ộ n g c ủ a các CƯ q u a n t rong bộ m á y lổ c h ứ c q u ả n lý nội bộ c ô n g ty c ũ n g là

một trong những nội dung mà Điều lệ công ty quy định Các quy định trong Điều lệ công ty phải phù hợp với các quy định của pháp luật

Trang 29

- Cơ câu bộ máy quản lý CTCP.

- Chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của từng bộ phận trong bộ máy quản lý

- Nguyên tắc hoạt dộng và thủ tục thông qua các quyết định quản lý

- Quyền hạn và trách nhiệm của người quản lý công ty

- Kiểm soát những giao dịch có giá trị lớn và những giao dịch dễ phát sinh tư lợi

Phần viết dưới đây sẽ lần lượt giới thiệu từng nội dung cụ thể:

Công ty cổ phần là một mô hình kinh doanh điển hình trong nền kinh tế thị trường Trên thế giới CTCP và pháp luật về CTCP đã có lịch sử phát triển hàna trăm năm ơ Việt Nam, do những điều kiện lịch sử - xã hội nhất định nên những quy định cửa pháp luật về công ty nói chung và CTCP nói riêng mới xuất hiện Việc lo chức quản lý nội bộ CTCP còn nhiềụ hạn chế, thiếu cụ thể Những năm gần đây, Nhà nước ta đã rất cố gắng xây dựng và hoàn thiện pháp luật về công ty nói chung và pháp luật về CTCP nói riêng Với sự ra đời của Luật Doanh nghiệp '1999, các quy định về CTCP đã được hoàn thiện một bước đáng kể, toàn JiỊn , đầy đủ và cụ thể hơn so với Luật Công ty 1990 Một trong những nội dung pháp lý quan trọng về CTCP là vấn đề tổ chức quản lý nội bộ công ty đã được Luật Doanh nghiệp tiếp cận và giải quyết khá thành cóng

Trang 30

Xuáì phát từ 1H uyên tắc-tự do kinh doanh, việc tổ chức quản lý nội bộ công ty nói chung cũng như CTCP nói riêng trước hết và chủ yếu thuộc quyền quyết định của các thành viên công ly với tư cách là chủ sở hữu công ty Pháp luật chí quy định ràng buộc những vấn đề mang tính nguyên tắc, xác lập

“khung pháp lý" cho việc tố chức quản lý công ty Vì vậy, chế định tổ chức quản lý nội bộ công ty nói chung và CTCP nói riêng thường chứa đựng phần lớn các quy phạm mang tính luỳ nghi, theo đó công ty có thể lựa chọn áp dụng Bên cạnh đó cũng có một số quy định mang tính bắt buộc Những quy phạm bắt buộc này có ý nghĩa quan trọng nhằm bảo vệ lợi ích của thành viên thiểu số, bảo vệ lợi ích của các chủ thể khác có quan hệ với công ty, đồng thời ngăn chặn tính tư lợi, cơ hội của thành viên đa số và người quản lý công ty v ề mặt lý luận, mức độ ràng buộc cùa pháp luật đối với việc tổ chức quản lý công

ly có sự khác nhau giữa các loại hình công ty Đối với CTCP, với những đặc điểm về cấu trúc vốn và cơ cấu cổ đông, quy mô hoạt động nên cơ chế tổ chức quản lý thường được quy định chặt chẽ hơn so với các loại hình công ty khác.Trong các hệ thống pháp luật của một số nước trên thế giới, cơ cấu tổchức quản lý cùa CTCP được quy định có những điểm khác nhau Ớ Hoa Kỹ,

có rất nhiều loại cóng ty khác nhau nhưng chiếm ưu thế là các công ty công (Public Corporation) Đặc điểm chính trong cấu trúc quản lý của công ty công

Hoa Kỳ là có sự phân định rõ ràng giữa quyền sở hữu và quyền quản lý Quyền quyết định những thay đổi căn bản về tổ chức quản lý của nó như sáp nhập, giải thể, sửa Jổ, điều lệ thuộc về các cổ đông với tư cách là chủ sở hữu công ty Ọuyền quản lý công ty thuộc HĐQT Hoa Kỳ được xem là quốc gia điển hình cho hệ thống quán lý mộl bậc trong CTCP Tất cả các hoại động trong CTCP đều do HĐQT quyết định và HĐQT do cổ đông bầu ra [16, tr.515J

Tại Đức, cơ cấu quản lý trong CTCP bao gồm hai bộ phận là: Hội đổng giám sát và Ban điều hành Theo hệ thống quản lý này thì việc quán lý, điều

Trang 31

hành hoại dộng hàng ngày của công ty là thẩm quyền của Ban điều hành Hội đồng giám sál có chức năng cơ bán là bầu và bãi miễn thành viên của Ban điều hành, thực hiện giám sát thường xuyên các hoạt động của công ty, đưa ra các giải pháp để cổ đông thẩm xét Hội đồng quản trị có thể bao gồm đại diện của các cổ đông, các chú nợ và cá người lao động [16, tr 523, 524].

Luật Công ty Malaysia, Philippines, Thailand, Singapore quy định bộ máy quản lý trong ( n CP bao gồm cổ đông và HĐQT c ổ đông với tư cách là chủ sở hữu có thẩm quyền quyết định những vấn đề quan trọng nhất của công

ty HĐQT là cơ quan quán lý, điều hành hoạt động của công ly Như vậy, bộmáy tố chức quản lý của CTCP của các nước này cũng áp dụng hệ thống quản

lý hai bậc như m ộ t ' ố nước khác trên thế giới [5, tr 48]

Theo Luật Công ty 1990 thì bộ máy quản lý CTCP không phụ thuộc vào

số lượng cổ đông và gồm:

- Đại hội đồng cổ đông

- Hội đồng quản trị

- Ban Giám đốc

- Ban kiểm soát

Như vậy, theo Luật Công ly 1990, bộ máy quản lý CTCP được quy định một cách cứng nhắc Các CTCP không phụ thuộc vào số lượng cổ đông nhiều hay

ít, đều phải thành lập BKS Quy định như vậy sẽ tạo nên một bộ máy quản lý cồng kềnh, thậm chí kém hiệu quả, đồng thời không giảm được chi phí quản lý-

Theo Luật Doanh nghiệp 1999, cơ cấu tổ chức quản lý của CTCP được thiết k ế theo hai mó hình khác nhau tuỳ thuộc vào số lượng cổ đông của công

ty CTCP có trên mười một cổ đông, cơ cấu tổ chức quản lý bắt buộc phải có: ĐHĐCĐ HĐQT, Giám đốc (Tổng giám đốc) và BKS

Mò hình này có thể được biểu diễn như sau:

Trang 32

Tập thể người lao động trong công ty

Trang 33

Đây là mỏ hình tố chức quản lý truyền thống và điển hình của CTCP Với mô hình này việc tổ chức quản lý công ty có sự phân công, phân nhiệm

và kiểm soát lẫn nhau giữa các cơ quan quản lý, điều hành và kiểm soát công

ty Về mặt lý thuyết, đây là bộ máy tổ chức quản lý có thể nói là phù hợp và hiệu quả trong trường hợp công ty cổ phần có sự tham gia đỏng đảo của các cổ đông Tuy nhiên, trong những trường hợp khác, bộ m áy này có thể sẽ cổng kềnh, kém hiệu qua Xuất phạt từ cách nhìn nhận như vậy mà Luật Doanh nghiệp quy định một cách phù hợp hơn, đối với những CTCP từ 1 1 cổ đông trở xuống được tổ chức quản lý theo mô hình gồm: ĐHĐCĐ HĐQT, Giám đốc (Tổng giám đốc) Như vậy, đối với những CTCP có ít cổ đông thì bộ máy tổ chức quán lý được xây dựng đơn giản, gọn nhẹ hơn các CTCP nhiều cổ đông Đối với các CTCP này khổng nhất thiết phải có BKS độc lập để thực hiện chức năng kiểm Ira, giám sát hoạt động của công ty

Quy định về cơ cấu tổ chức của CTCP như vậy thể hiện một bước tiến

so với Luật Công ty »990 Luật Doanh nghiệp quy định khá linh hoạt, mềm dẻo, sáng tạo Không phái bất cứ CTCP nào cũng phải thành lập BKS BKS chỉ phái thành lập ớ những CTCP có số lượng cổ đông lớn (trên mười một cổ đông) Tuy nhiên để thực hiện quy định này trong thực tế cũng còn một số vướng mắc Như ta Jã biết, trong quá trình tồn tại số lượng cổ đông của CTCP

có sự ihay đổi rất linh hoạt Việc chuyển từ CTCP có từ mười một cổ đông trở xuống Ihùnh CTCP có trên mươi một cổ đông và ngược lại là rất dễ dàng, nhanh chóng, v ề nguyên tắc, khi công ty kết nạp thêm cổ đông làm cho công

ty có trên mười một cổ đông thì công ty đó phải thành lập BKS (nếu trước đó công ty không thành lập BKS) Và việc thành lập BKS cần phải có một khoảng thời gian nhất định Luật Doanh nghiệp chưa có những quy định về vấn đề này Đây có thể nói là một trong những vướng mắc mà chúng ta cần khắc phục

Trang 34

Mặc dù, cơ cấu tổ chức của CTCP được quy định với từng bộ phận khá rành mạch, cụ thể Nhưng, thực tế cho thấy, đại bộ phận doanh nghiệp ở nước

la nói chung và CTCP nói riêng quy mô còn nhỏ, mang tính gia đình, người chủ sở hữu thường đ'ìng thời là người quản lý của doanh nghiệp Nói cách khác, người chủ sở hữu cùng một lúc thực hiện hàng loạt các chức năng khác nhau trong tổ chức kinh doanh cùa doanh nghiệp Ngoài quan hệ góp vốn cùng kinh doanh, họ còn có quan hệ huyết Ihống, họ hàng, bạn bè hết sức thân thiết, Vì vậy, trong quản lý nội bộ và tổ chức kinh doanh rất khó phân biệt quyền sở hữu và quyền quản lý điều hành doanh nghiệp

Việt Nam hiện nay đang tiến hành thử nghiệm mô hình “Công ty hóa và quản trị ưu việt” Đây là một trong những mô hình quan trị CTCP tiên tiến nhất trên thế giới hiện đang được Ngân hàng Phát triển Châu Ả (ADB) nghiên cứu áp dụng trong một số CTCP hóa ở Việt Nam, trong khuôn khổ dự án VIE/3353 Thực chất, đây là việc “sắp xếp lại” bộ máy quản lý công ty theo

mô hình ưu việt, theo đó công ty sẽ áp dụng các thông lệ quốc tế tốt nhất về quản trị công ty Đê hoàn thiện mô hình trên, thì một trong những yêu cầu đặt

ra, đó là HĐQT phai có một số thành viên độc lập từ bên ngoài hoặc HĐQT phải có những uỷ ban giúp việc [23 tr 15] Như vậy, trong cơ cấu tổ chức của CTCP cần phải có thêm những ụý ban giúp việc cho HĐQT Ó nhiều nước trên

th ế giới, HĐQT cũng có các bộ máy giúp việc, được tổ chức dưới hình thức là các ban chuyên trách với các chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn được phân định

rõ ràng và chịu trách nhiệm trước HĐQT Việt Nam hiện nay cũng đang thí điểm mô hình này vù Công ty cổ phần Cơ điện lạnh (REE) là một trong những công ty được lựa chọn Tuy vậy, những yêu cầu này cần phải được thể chế hóa trong Luật

Trang 35

Công ty cổ phân là loại hình công ty đối vốn, có tư cách pháp nhân, được tổ chức quản lý theo cơ chế có sự tách biệt khá rõ ràng giữa quyền sở hữu và quyền quản lý công ty Quyền quản lý công ty không phân tán, dàn trải

mà được lập trung, thống nhất ở bộ máy quản lý có tính chất “chuyên nghiệp” Các cổ đông nắm quyền sở hữu công ly, có quyền bầu ra bộ máy quản lý công

ty đại diện cho mình c uản lý công ty, nhưng bản thân mỗi cổ đông không phải

là người quản lý công ty Điều này có sự khác biệt so với các loại hình công ty khác, chá 11 g hạn như thành viên Công ly TNHH là người quản lý công ty,

Dưới phưưng diện khoa học, quyền quản lý công ty có thể được chia thành ba nhóm cơ hán, mỗi nhóm thuộc về cơ quan khác nhau trong CTCP:

- Quyền quyết định nhũng vấn đề quan trọng nhất liên quan đến sự tồn tại của CTCP Nhóm quyền này hoàn toàn thuộc về các cổ đông - với tư cách

là chú sở hữu trong CTCP c ổ đông có quyền xem xét và quyết định những vấn đề liên quan đến sự tồn tại của công ty cổ phần như: quyết định tổ chức lại và giải thể công ty; quyết định sửa đổi, bổ sung Điều lệ công ty; định hướng phát triển công ty, c ổ đông thực hiện các quyền này thông qua việc tham dự và biểu quyết lại các cuộc họp của ĐHĐCĐ Tuy nhiên, tại

Đ HĐCĐ không phải tất cả các cổ đông đều có quyền biểu quyết như nhau

để quyết định cac vấn đề của CTCP Quyền biểu quyết phụ thuộc vào tính chất và giá trị cổ phần mà các cổ đổng đó sở hữu

- Quyền quyết định sự phái triển cùa CTCP thông qua việc xây dựng chiến lược, kế hoạch hoạt động kinh doanh và điều hành hoạt động kinh doanh của công ty Trên danh nghĩa, quyền quyết định sự phát triển của công ty

cổ phần thuộc về tất cả các cổ đông Nhưng trên thực tế, các cổ đông không trực tiếp thực hiện các quyền này mà do cơ quan quản lý có tính chất chuyên nghiệp Cơ quan này do cổ đông bầu ra, thay mặt cổ đông quản lý, điều hành hoạt động kinh doanh của CTCP đó là HĐQT

Trang 36

- Quyền kiểm tra giám sát hoạt động của CTCP Quyền kiểm tra, giám sát hoạt động của CTCP dược giao cho BKS BKS do cổ đông bầu ra nhằm ihực hiện chức năng kiểm soát độc lập các hoạt động kinh doanh của CTCP, đặc biệt la các hoạt động tài chính.

Như vậy, trong CTCP có sự phân chia quyền lực rõ ràng giữa các bộ phận cấu thành trong bộ máy quán lý Việc quy định thẩm quyền của ĐHĐCĐ, HĐQT, BKS đàm bảo tính linh hoạt mềm dẻo, đảm bảo quyền tự chủ của CTCP, đồn J thời đảm bảo sự chế ngự giữa các cơ quan đó trong quản

lý, điều hành hoạt động của CTCP

Theo Luật Doanh nghiệp 1999, các nhóm quyền quản lý CTCP được phân bổ cho các cơ quan khác nhau là: ĐHĐCĐ, HĐỌT, Giám đốc (Tổng giám đốc), BKS Sự phân chia thẩm quyền cụ thể được quy định trong Điều lệ công ly trên cơ sở quy định của pháp luật

2.2.1 Chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của Đại hội đồng cổ đông

Về nguyên tắc, CTCP được tổ chức quản lý tập trung thông qua cơ chế hội đồng Theo đó, ĐHĐCĐ bao gồm tất cả các cổ đông có quyền biểu quyết

và là cư quan quyết định cao nhất của CTCP ĐHĐCĐ quyết định các vấn đề quan trọng nhất liên quan đến sự lổn lại và phát triển của CTCP

ĐHĐCĐ khôns làm việc thường xuyên mà chỉ tồn tại trong thời gian họp và ra quyết địiih trên cơ sở biểu quyết tại cuộc họp hoặc lấy ý kiến của các cổ đổng có quyền biểu quyết bằng văn bản

Luật Công ty 1990 quy định quá đơn giản, sơ sài, chưa thể hiện được đầy đủ các yêu cầu cần phải cớ đối với ĐHĐCĐ Chí có Đại hội đổng thường

là được quy định tươiig đối đầy đủ về nhiệm vụ và quyền hạn của nó, còn Đại hội đổng thành lập chí được quy định một cách hết sức dơn giản và chỉ được giới hạn trong phạm vi “ thành lập” và “thông qua điều lệ” Quy định như vậy

là chưa đẩy đủ chưa nêu bật được vai trò quan trọng của Đại hội đồng thành

Ngày đăng: 03/12/2019, 18:05

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w