ở Việt Nam và góp phần cung cấp dữ liệu cho việc nhận biết, s dụng các loài thuộc phân họ này, chúng tôi đã tiến hành nghiên cứu đề tài: “Nghiên cứu phân o i họ Chua me đất Oxa idaceae n
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA SINH - KTNN
Hà Nội, 2014
NGUYỄN THỊ SAO MAI
NGHIÊN CỨU PHÂN LOẠI HỌ CHUA ME ĐẤT (OXALIDACEAE) NGOẠI TRỪ CHI
CHUA ME ĐẤT (OXALIS) Ở VIỆT NAM
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Thực vật học
Trang 2Hà Nội, 2014
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA SINH - KTNN
NGUYỄN THỊ SAO MAI
NGHIÊN CỨU PHÂN LOẠI HỌ CHUA ME ĐẤT (OXALIDACEAE) NGOẠI TRỪ CHI
CHUA ME ĐẤT (OXALIS) Ở VIỆT NAM
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Thực vật học
Người hướng dẫn khoa học:
Th S Dương Thị Thanh Thảo
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Trong quá trình làm khóa luận, tôi đã nhận được sự hướng dẫn làm khóa luậncủa Ths Dương Thị Thanh Thảo - Trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2 Nhân dịpnày tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến các thầy cô
Tôi xin trân trọng cảm ơn tập thể phòng Thực vật - Viện Sinh thái và Tàinguyên sinh vật đã tạo mọi điều kiện thuận lợi và tận tình giúp đỡ tôi trong suốt quátrình nghiên cứu
Trong quá trình thực hiện đề tài, tôi còn nhận được sự giúp đỡ của nhiều tổchức và cá nhân trong và ngoài trường Nhân dịp này tôi xin trân trọng cảm ơnphòng tiêu bản Thực vật Viện dược liệu; phòng tiêu bản trường Đại học khoa học tựnhiên; trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2, đặc biệt là sự giúp đỡ động viên của giađình và bạn bè trong suốt thời gian học tập và nghiên cứu
Một lần nữa tôi xin trân trọng cảm ơn!
Xuân Hòa, ngày 19 tháng 5 năm 2014
Sinh viên làm khóa luận
Nguyễn Thị Sao Mai
Trang 4LỜI CAM ĐOAN
Để đảm bảo tính trung thực của khóa luận tốt nghiệp, tôi xin cam đoan:
Khóa luận tốt nghiệp “Nghiên cứu phân o i họ Chua me đất (Oxa idaceae)
ngo i trừ chi Chua me đất (Oxalis) ở Việt Nam”, là công trình nghiên cứu của cá
nhân tôi, thực hiện dưới sự hướng dẫn của Ths Dương Thị Thanh Thảo - Đại học
Sư phạm Hà Nội 2 Các kết quả tìm thấy trong khóa luận là trung thực và chưa từngđược công bố trong bất kì nghiên cứu khoa học nào trước đây
Xuân Hòa, ngày 19 tháng 5 năm 2014
Sinh viên làm khóa luận
Nguyễn Thị Sao Mai
Trang 5MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3
1.1 Các nghiên cứu phân họ Chua me đất (Oxalidaceae) trên thế giới 3
1.2 Các nghiên cứa của họ Chua me đất (Oxalidaceae) ở Việt Nam 5
CHƯƠNG 2 ĐỐI TƯỢNG, PHẠM VI, NỘI DUNG, THỜI GIAN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 8
2 1 Đối tượng nghiên cứu 8
2.2 Phạm vi nghiên cứu 8
2 3 Thời gian nghiên cứu 8
2 4 Nội dung nghiên cứu 8
2 5 Phương pháp nghiên cứu 9
CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 12
3.1 Hệ thống phân loại và vị trí của họ Oxalidaceae 12
3.2 Đặc điểm phân loại họ Chua me đất (Oxalidaceae) ở Việt Nam 12
3.2.1 Dạng sống 12
3.2.2 Lá 13
3.2.3 Cụm hoa và hoa 13
3.2.4 Quả 14
3.3 Khoá định loại các chi và loài thuộc họ Chua me đất (Oxalidaceae) trừ chi Chua me đất (Oxalis) ở Việt Nam 15
3.4 Đặc điểm phân loại các chi, loài thuộc họ Chua me đất (Oxalidaceae) trừ chi Chua me đất (Oxalis) ở Việt Nam 15
3.4.1 AVERRHOA L – KHẾ 15
3.4.1.1 Averrhoa bilimbi L –Khế ngọt, Khế đường, Khế tàu .15
3.4.1.2 Averrhoa carambola L – Khế, Khế gianh, Hoc 18
3.4.2 Biophytum DC – SINH DIỆP 22
3.4.2.1 Biophytum adiantoides Wight ex Edgew in Hook f 1874-Sinh diệp ráng22 3.4.2.2 Biophytum sensitivum (L.) DC - Chua me lá me 25
Trang 63.4.2.3 Biophytum fruticosum Blume - Sinh diệp thorel 293.4.2.4 Biophytum umbraculum Welwitsch - Sinh diệp lá cong 323.5 ước đầu tìm hiểu về giá trị s dụng các loài thuộc họ Chua me đất
(Oxalidaceae) trừ chi Chua me đất (Oxalis) ở Việt Nam 34KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 35TÀI LIỆU THAM KHẢO 37PHỤ LỤC
Trang 7Lý do chọn đề tài
MỞ ĐẦU
Thế giới thực vật vô cùng phong phú và đa dạng Trên thế giới cũng như ởViệt Nam đã có nhiều chuyên ngành khoa học nghiên cứu về thực vật Trong đó,chuyên ngành Phân loại thực vật đóng vai trò nền tảng Phân loại thực vật một cáchchính xác sẽ cung cấp tài liệu cho nhiều ngành khoa học khác có liên quan
Chi Khế (Averrhoa L.) và chi Sinh diệp (Biophytum DC.) thuộc họ Chua me
đất (Oxalidaceae R.) Ở Việt Nam, tuy là một chi nhỏ, nhưng chúng có mặt nhiều trong các hệ sinh thái rừng thứ sinh, trảng cây bụi, mặt khác nhiều loài được s dụng làm thuốc hay cho quả ăn, Cho nên, bên cạnh giá trị về khoa học, 2 chi nàycòn có giá trị về mặt s dụng
Để chuẩn bị cho việc nghiên cứu một cách toàn diện về phân họ Chua me đất(Oxalidaceae R.) ở Việt Nam và góp phần cung cấp dữ liệu cho việc nhận biết, s
dụng các loài thuộc phân họ này, chúng tôi đã tiến hành nghiên cứu đề tài: “Nghiên cứu phân o i họ Chua me đất (Oxa idaceae) ngo i trừ chi Chua me đất
(Oxalis) ở Việt Nam”.
Mục đích nghiên cứu
Hoàn thành công trình khoa học về phân loại những loài làm thuộc phân họChua me đất (Oxalidaceae ) ở Việt Nam một cách có hệ thống, làm cơ sở cho việcnghiên cứu họ Chua me đất (Oxalidaceae.), phục vụ cho việc biên soạn Thực vật chíViệt Nam và cho những nghiên cứu có liên quan
Ý nghĩa khoa học và thực tiễn:
– Ý nghĩa khoa học: Cung cấp tài liệu phục vụ cho việc viết Thực vật chí ViệtNam về phân loại họ Me đất ở Việt Nam; bổ sung kiến thức cho chuyên ngành phânloại thực vật và cơ sở dữ liệu cho những nghiên cứu sau này về họ Chua me đất(Oxalidaceae) ở Việt Nam
– Ý nghĩa thực tiễn: Kết quả của đề tài phục vụ trực tiếp cho các ngành ứngdụng và sản xuất lâm nghiệp, y dược, sinh thái và tài nguyên sinh vật,…
Bố cục của khóa uận: gồm 41 trang và 1 bảng được chia thành các phần chính
như sau: Mở đầu (2 trang), chương 1 (Tổng quan tài liệu: 5 trang), chương 2 (Đối
Trang 8tượng, phạm vi, thời gian và phương pháp nghiên cứu: 4 trang), chương 3 (Kết quảnghiên cứu: 23 trang), kết luận và kiến nghị: 2 trang), tài liệu tham khảo: 26 tài liệu;bảng tra tên khoa học và tên Việt Nam, phụ lục.
Trang 9CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1.1 Các nghiên cứu phân họ Chua me đất (Oxa idaceae) trên thế giới
Họ Chua me đất (Oxalidaceae) là một họ không giàu loài, gồm chủ yếu là cácloài cỏ sống một năm hay lâu năm mọc tự nhiên ở các vùng nhiệt đới và cận nhiệtđới châu Á, châu Phi và nhiệt đới châu Mỹ, rất ít loài gặp ở vùng ôn đới Họ này cógiá trị kinh tế như một số loài trồng làm cảnh, làm thuốc hay ăn được, số lượng chi
và loài của họ này theo các tác giả nghiên cứu khác nhau thì không giống nhau Ở
Việt Nam họ Oxalidaceae đã được ghi nhận có 3 chi trong đó chi Khế (Averrhoa)
có 2 loài: Averrhoa bilimbi (Khế ngọt), Averrhoa carambola (Khế) và chi Sinh diệp (Biophytum) có 4 loài (Biophytum adiantoides (Sinh diệp ráng), Biophytum
umbraculum (Sinh diệp lá cong), Biophytum sensitivum (Chua me lá me), Biophytum fruticosum (Sinh diệp thorel) [20].
- Người đầu tiên nghiên cứu đến các loài và chi thuộc họ Oxalidaceae phải kể
đến nhà thực vật học Linnaeus (1753 và tái bản vào năm 1957), trong công trình
―Species Plantarum”, tác giả đã công bố các chi mà về sau được xếp vào họ
Oxalidaceae gồm: Averrhoa, Cotyledon, Sedum, Penthorum, Oxalis thuộc vào nhóm
5 vòi nhụy (Pentapynia) Đáng lưu ý, chi Averrhoa được tác giả công bố với 3 loài:
là A bilimbi, A carambola, A acida [18]
- Mãi đến sau này vào năm 1818, nhà thực vật học R Brown trong công trình
“Narrative of an Expedition to Explore the River Zaire” đã đặt tên cho họ Chua me đất là Oxalidaceae Từ đó đến nay, có nhiều tác giả đã đề cập đến họ này như:
- Edgeworth & Hooker f (1874) khi nghiên cứa về hệ thực vật ở Ấn Độ đãxếp các chi về sau thuộc họ Oxalidaceae vào 1 tông (tribe) gọi là Oxalideae, trong
đó có 4 chi: Averrhoa, Oxalis, Biophytum, Connaropsis, nằm trong họ Mỏ hạc
(Geraniaceae) Trong công trình này, tác giả đã mô tả khóa định loại của các chi,đặc điểm các chi và một số loài, không có mẫu nghiên cứu, không có hình ảnh minhhọa.[14]
- Bentham & Hooker (1886) có cùng quan điểm với Edgeworth & Hooker khi
nghiên cứa về hệ thống học thực vật trong công trình “General plantanum” đã coi Oxalidaceae là 1 tông (tribus) Oxalideae, nằm trong họ Mỏ hạc (Geraniaceae) do có
Trang 10đặc điểm nhị 10 trong đó có 5 nhị ngắn, 5 nhị dài Trong đó tác giả công bố có 5 chi
thuộc tông này là: Hypseocharis, Oxalis, Averrhoa, Connaropsis, Dapania,
Biophytum ên cạnh đó, tác giả có mô tả đặc điểm các chi nhưng không mô tả đặc
điểm của loài thuộc chi Đáng lưu ý chi Averrhoa (Khế) được ghi nhận 2 loài nhưng
không đưa ra tên của 2 loài này [12] Quan điểm xếp các taxon của họ Khế vào tôngOxalideae về sau hầu như không được nhiều nhà nghiên cứu tán thành nữa
- C A Baker & R C Bakhuizen (1963) khi nghiên cứu thực vật vùng đảoJava (Indonesia) đã công bố họ Oxalidaceae ở Java có 3 chi với 12 loài Trong đó
chi Khế (Averrhoa) có 2 loài: A bilimbi, A carambola; chi Sinh diệp (Biophytum)
có 4 loài (B petersianum, B reinwardtii, B dendroides, B sensitinum) với 1 số
thông tin về đặc điểm các loài và chi, không có hình ảnh minh họa, không có mẫunghiên cứu [11]
- J F Veldkamp (1970) khi nghiên cứu về hệ thực vật ở Thái Lan trong công
trình “Flora of Thailand” đã công bố họ Oxalidaceae có 3 chi trong đó chi
Biophytum bao gồm khoảng 70 loài, phân bố khắp các vùng nhiệt đới, nhưng nhiều
nhất ở Mađagátxca, đã mô tả được 5 loài thuộc chi này; chi Averrhoa có 2 loài: Nguồn gốc của A carambola không biết rõ, có lẽ ở trung và đông đảo Java, thường trồng và hay gặp hoang dại hóa ở đất bỏ hoang sau trồng trọt; còn của A bilimbi
cũng không biết rõ, có lẽ ở miền đông vùng Malêzia và kèm theo bản mô tả 2 loàinày [25]
- Veldkamp (1971) trong công trình “Flora Malesiana‖ Ông đã mô tả họ Oxalidaceae gồm 5 chi trong đó chi iophytum với 6 loài, chi Averrhoa có 2 loài A.
bilimbi, A carambola và ông cho rằng nguồn gốc của chi Averrhoa cho đến nay vẫn
còn chưa rõ [18]
- Theo Mabberley, D.J (1993) trong cuốn “The Plant Book: A portable
dictionary of the higher plants” đã mô tả, nơi phân bố rất rõ 2 chi Averrhoa và Biophytum Xếp chi Averrhoa và Biophytum vào họ Oxalidaceae [22]
- Huang Tseng-Chieng & Liu Tang-shui (1993) khi nghiên cứu hệ thực vậtvùng lãnh thổ Đài Loan đã mô tả 2 chi thuộc họ này có ở vùng nghiên cứu là:
Trang 11Biophytum, Oxalis; đặc biệt chi Biophytum có 1 loài là B sensitivum Trong công
trình này tác giả mô tả khóa định loại, đặc điểm vắn tắt của chi, loài [17]
- V H Heywood (1996) khi nghiên cứu về hệ thống các họ thực vậ có hoa
trên thế giới trong công trình “ Flowering Plants of the world” đã công bố họ Oxalidaceae trên toàn thế giới có 5 chi: Oxalis, Biophytum, Eichleria, Averrhoa,
Connaropsis Tác giả đã mô tả đặc điểm của họ và các chi cùng một số hình ảnh
minh họa [16]
- Xu Langran et al (1998) khi nghiên cứu về hệ thực vật Trung Quốc trong
công trình “Flora Reipublicae Popularis Sinicae‖ công bố họ Oxalidaceae gồm 3 chi và 10 loài Trong đó chi Averrhoa có 2 loài (A bilimbi, A carambola) và chi
Biophytum có 3 loài là: B fruticosum, B sensitivum, B persianum; tác giả đã mô tả
vắn tắt đặc điểm khóa định loại của chi, loài trong họ này [26]
- A A Cocucci in K Kubitzki (ed.) (2004) trong cuốn “The families and
genera of Vascular plants” đã công bố họ Oxalidaceae gồm có 5 chi với 880 loài
được phân bố khắp vùng nhiệt đới và ôn đới, trong đó có chi Averrhoa có 2 loài là
A carambola L và A bilimbi L.; chi Biophytum gồm khoảng 50 loài, tuy nhiên
công trình này chưa giới thiệu được đến từng loài thuộc chi này [13]
-Theo Liu et al (2009) trong công trình “Flora of China” đã đưa ra đặc điểm
của họ Oxalidaceae gồm chủ yếu các loài cỏ sống một hay lâu năm, đôi khi là câybụi hay cây gỗ (chẳng hạn Khế) Họ bao gồm từ 6 đến 8 chi và khoảng 780 loài;phân bố chủ yếu ở các vùng nhiệt đới và cận nhiệt đới của cả hai bán cầu, có khi lên
cả một số vùng ôn đới Riêng chi Khế (Averrhoa) chỉ gồm có 2 loài, mọc hoang dại
ở nhiệt đới Đông Nam Á và được trồng ở khắp các vùng nhiệt đới trên thế giới đểlấy quả với nhiều giống trồng, phân biệt với nhau về kích thước và vị chua ngọt.[20]
1.2 Các nghiên cứa của họ Chua me đất (Oxa idaceae) ở Việt Nam
Hiện nay các công trình nghiên cứu họ Chua me đất (Oxalidaceae) ở Việt
Nam còn rất ít Người đầu tiên đề cập đến họ Chua me đất (Oxalidaceae) ở Việt
Nam là nhà thực vật người Tây an Nha – Loureiro (1793) trong công trình thực
vật chí Miền Nam “Flora Cochinchinensis” Tác giả đã công bố các chi Cerastium,
Trang 12Oxalis, Hedona, Cotyledon, Sedum, Averrhoa thuộc nhóm 5 vòi nhụy (Pentagynia).
Đáng lưu ý chi Averrhoa được tác giả công bố 2 loài: A carambola, A bilimbi.
Nhưng khi đó, các chi này chưa được đưa về họ Oxalidaceae [21]
- A Gulilaumin (1911) khi nghiên cứu hệ thực vật ở Đông Dương trong tác
phẩm “Flore Generale de L’indo-Chine‖ đã công bố họ Oxalidaceae gồm 3 chi và 6 loài Đặc biệt chi Averrhoa có 1 loài A carambola và chi Biophytum có 4 loài: B.
apodiscias, B sensitivum, B adiantoides, B thorelianum, về sau loài B apodiscias
được đổi tên thành B petersianum Trong công trình này, tác giả đã mô tả đặc điểm
chi, lập khóa định loại đến chi và loài cùng một số hình ảnh minh họa [15]
- Tardieu- lot (1945) trong công trình “Supplément A la Flore Générale de
L’Indo-Chine‖, đã công bố họ Oxalidaceae gồm 3 chi, 8 loài Trong đó chi Averrhoa có 2 loài: A carambola, A microphylla và chi Biophytum có 4 loài (B apodiscias, B sensitivum, B adiantoides, B thorelianum Loài B adiantoides sau
được đổi thành tên loài B petersianum Về thực chất đây là công trình tái bản của
A Gulilaumin (1911) nên về quan điểm hệ thống phân loại gần như giống nhau.Tác giả đã mô tả đặc điểm của các loài cùng một số hình ảnh minh họa [23]
- Lê Khả Kế và cộng sự (1973) trong cuốn “Cây cỏ thường thấy ở Việt Nam”
đã đề cập đến họ Chua me đất (Oxalidaceae) với 3 chi và 6 loài Chi Khế
(Averrhoa) có 1 loài là Cây khế (A carambola) và chi Sinh diệp (Biophytum) có 1 loài: Cây chua me lá me (B sensitivum) Tác giả đã mô tả khóa định loại của chi,
đặc điểm vắn tắt cách s dụng, kèm hình ảnh của 2 loài này [9]
- Trong công trình “Cây cỏ Việt Nam” của Phạm Hoàng Hộ (1992) nghiên cứu
về hệ thực vật của Việt Nam, tác giả công bố họ Oxalidaceae gồm 3 chi và 9 loài
Trong đó chi Averrhoa có 2 loài A carambola, A bilimbi và chi Biophytum có 3 loài: B petersianum, B sensitivum, B thorelianum, với bản mô tả rất ngắn gọn và
có hình vẽ đơn giản [7]
- Đến năm 2000, Phạm Hoàng Hộ đã tái bản trong công trình “Cây cỏ Việt
Nam” đã công bố họ Oxalidaceae có 3 chi với 10 loài, ghi nhận thêm loài B adiantoides vào chi Biophytum Đây là tài liệu quan trọng cho việc định loại sơ bộ
cho những loài thực vật có ở Việt Nam [8]
Trang 13- Nguyễn Tiến Bân & L V Averyanov (2003) trong công trình ―Danh lục các
loài thực vật Việt Nam‖ tác giả đã ghi nhận họ Oxalidaceae có 3 chi với 11 loài.
Trong đó chi Averrhoa có 2 loài (A bilimbi, A carambola) và chi Biophytum có 5 loài: B adiantoides, B fruticosum, B petersianum, B sensitivum, B thorelianum.
Đã mô tả đặc điểm phân bố, dạng sống và công dụng của các loài, đặc biệt tác giả
cũng nhấn mạnh rằng loài B fruticosum hiện chưa rõ có phân bố ở Việt Nam hay
không [3]
Ngoài ra còn một số công trình đề cập đến họ Chua me đất – Oxalidaceae dướidạng giá trị tài nguyên như:
- Võ Văn Chi (1997) với Từ điển cây thuốc Việt Nam [6]; Đặc biệt công trình
của nhóm tác giả Đỗ Huy ích, Đặng Quang Chung, ùi Xuân Chương, NguyễnThượng Dong, Đỗ Trung Đàm, Phạm Văn Hiên, Vũ Ngọc Lộ, Phạm Duy Mai,
Phạm Kim Mãn, Đoàn Thị Nhu, Nguyễn Tập, Trần Toàn (2004) với “Cây thuốc và
động vật làm thuốc ở Việt Nam” giới thiệu chi tiết 3 loài làm thuốc thuộc họ
Oxalidaceae ở Việt Nam [4]
Tuy họ Chua me đất là một họ thực vật có nhiều loài có giá trị nhưng cho đếnnay các công trình nghiên cứu về chi này còn có các dẫn liệu vẫn chưa đầy đủ vàthống nhất, đặc biệt là thông tin về phân bố, sinh thái, hình ảnh minh họa, mẫu
nghiên cứu,… Chính vì vậy công trình nghiên cứu: “Nghiên cứu phân o i họ
Chua me đất (Oxa idaceae) ngo i trừ chi Chua me đất (Oxalis) ở Việt Nam”
của chúng tôi hy vọng sẽ là công trình nghiên cứu phân loại một cách có hệ thống,cập nhật về họ Chua me đất - Oxalidaceae ở Việt Nam
Trang 14CHƯƠNG 2 ĐỐI TƯỢNG, PHẠM VI, NỘI DUNG, THỜI GIAN
VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2 1 Đối tượng nghiên cứu
Các loài thuộc họ Oxalidaceae (trừ chi Oxalis) ở Việt Nam, dựa trên cơ sở
mẫu vật và tài liệu
Tài liệu: Các tài liệu về phân loại họ Oxalidaceae trên thế giới và của Việt
Nam, nhất là các chuyên khảo về phân loại học
Mẫu vật: Các mẫu vật thực vật thuộc họ Oxalidaceae ở Việt Nam, hiện được
lưu giữ ở các phòng tiêu bản thực vật
Việc phân tích mẫu vật được tiến hành tại phòng tiêu bản thực vật (Viện Sinh thái và Tài nguyên Sinh vật) với tổng số mẫu nghiên cứu là 31 số hiệu với 105 tiêubản
Ngoài ra, chúng tôi còn tham khảo thêm mẫu ở các phòng tiêu bản thực vậttrường Đại học Khoa học Tự nhiên – Đại học Quốc gia Hà Nội (HNU), PT thựcvật Viện Sinh học nhiệt đới – Tp Hồ Chí Minh (HM), Viện Dược liệu (HNIM),Viện điều tra quy hoạch rừng (HNF), trường Đại học Dược khoa Hà Nội (HNIP)
2.2 Ph m vi nghiên cứu: Các loài thuộc họ Oxalidaceae (trừ chi Oxalis) trên toàn
lãnh thổ Việt Nam
2 3 Thời gian nghiên cứu: Từ tháng 2/2013 – 5/2014
2 4 Nội dung nghiên cứu
2.4.1 Phân tích các hệ thống phân loại chi họ Chua me đất (Oxalidaceae) trên thếgiới, từ đó tìm hiểu vị trí và hệ thống phù hợp để sắp xếp chi và các loài thuộc họChua me đất ở Việt Nam
2.4.2 Xây dựng bản mô tả các chi, loài thuộc họ Chua me đất (Oxalidaceae) trừ chi
Chua me đất (Oxalis) ở Việt Nam.
2.4.3 Xây dựng khoá định loại các loài thuộc họ Chua me đất (Oxalidaceae) trừ chi
Chua me đất (Oxalis) ở Việt Nam.
2.4.4 ước đầu tìm hiểu về giá trị tài nguyên của các loài thuộc họ Chua me đất
(Oxalidaceae) trừ chi Chua me đất (Oxalis) ở Việt Nam.
Trang 152 5 Phương pháp nghiên cứu
Để nghiên cứu phân loại các loài thuộc họ Oxalidaceae (trừ chi Oxalis) ở Việt
Nam, chúng tôi s dụng phương pháp Hình thái so sánh [10] Đây là phương pháp
cổ điển nhưng cho đến nay vẫn là phương pháp chính và phổ biến nhất trên thế giới
và phù hợp với điều kiện nghiên cứu của nước ta Phương pháp này dựa trên đặcđiểm cấu tạo bên ngoài của các cơ quan thực vật, quan trọng nhất là cơ quan sinhsản vì đặc điểm của nó liên quan chặt chẽ với bộ mã di truyền và ít biến đổi bởi tácđộng của môi trường Việc so sánh dựa trên nguyên tắc chỉ so sánh các cơ quantương ứng với nhau trong cùng một giai đoạn phát triển (cây trưởng thành so sánhvới cây trưởng thành, nụ so sánh với nụ, hoa so sánh với hoa, )
Để làm tốt phương pháp nghiên cứu hình thái so sánh, cần tiến hành đồng thời
cả 2 công tác là ngoại nghiệp và nội nghiệp
Công tác ngoại nghiệp: Được thực hiện trong các chuyến đi thực địa nhằm
thu thập mẫu vật, chụp ảnh, quan sát và ghi chép các đặc điểm của mẫu ở trạng tháitươi, quan sát về phân bố, môi trường sống và các đặc điểm khác
Công tác nội nghiệp: X lý và bảo quản mẫu vật Việc nghiên cứu các mẫu
vật khô được tiến hành tại các phòng thí nghiệm Tại đây, các mẫu vật được phântích, chụp ảnh, vẽ hình và mô tả, sau đó dựa vào các bản mô tả gốc và mẫu vậtchuẩn (nếu có), các chuyên khảo, các bộ thực vật chí (nhất là của Việt Nam và cácnước lân cận) để phân tích, so sánh và định loại
Việc nghiên cứu phân loại các loài thuộc họ Oxalidaceae (trừ chi Oxalis) được
tiến hành theo các bước như sau:
Bước 1: Tổng hợp, phân tích các tài liệu trong và ngoài nước về họ
Oxalidaceae (Chua me đất) Từ đó lựa chọn hệ thống phân loại phù hợp với việc
phân loại các chi thuộc họ này (trừ chi Oxalis) ở Việt Nam.
Bước 2: Phân tích, định loại các mẫu vật thuộc họ Oxalidaceae (trừ chi Oxalis)
hiện có
Bước 3: Tham gia các chuyến điều tra, nghiên cứu thực địa để thu thêm mẫu,
tìm hiểu thêm về sinh thái học, sự phân bố và các thông tin có liên quan khác.Trong khi triển khai đề tài khóa luận, chúng tôi đã tham gia vào các chuyến điều tra
Trang 16thực địa tại Trạm Đa dạng Sinh học Mê Linh (Vĩnh Phúc), các trảng cây bụi, bãi hoang tại Phú Xuyên (Hà Nội).
Bước 4: Tổng hợp kết quả nghiên cứu, mô tả các đặc điểm chung của chi, xây
dựng khoá định loại, mô tả các phân chi và các loài, chỉnh lý phần danh pháp theoluật danh pháp quốc tế và cuối cùng hoàn chỉnh các nội dung khoa học khác của đềtài
– Soạn thảo họ, chi và các loài dựa theo quy ước quốc tế về soạn thảo thực vật
và quy phạm soạn thảo thực vật chí Việt Nam, thứ tự như sau:
Thứ tự soạn thảo họ, chi: Tên khoa học chính thức kèm theo tên tác giả công
bố tên gọi, tên Việt Nam thường dùng, trích dẫn lại tên tác giả công bố tên khoahọc, năm công bố, tài liệu công bố, số trang, tài liệu chính và các tài liệu ở ViệtNam đề cập đến, các tên đồng nghĩa (nếu có), tên Việt Nam khác (nếu có), mô tả,loài type của chi, ghi chú (nếu có)
Thứ tự soạn thảo loài: Tên khoa học chính thức kèm theo tên tác giả công bốtên gọi, tên Việt Nam thường dùng, trích dẫn lại tên tác giả công bố tên khoa học,năm công bố, tài liệu công bố, số trang, tài liệu chính và các tài liệu ở Việt nam đềcập đến, tên đồng nghĩa gốc (nếu có), các tên đồng nghĩa (nếu có), tên Việt Namkhác (nếu có), mô tả, địa điểm thu mẫu chuẩn (Loc class.), mẫu vật chuẩn (Typus)kèm theo nơi bảo quản (theo quy ước quốc tế), sinh học và sinh thái, phân bố, mẫunghiên cứu, giá trị s dụng, ghi chú (nếu có)
– Cách mô tả: Mô tả liên tục những đặc điểm cơ bản theo nguyên tắc truyềntin ngắn gọn, theo trình tự từ cơ quan dinh dưỡng (dạng sống, cành, lá, ) đến cơquan sinh sản (cụm hoa, cấu trúc của hoa, quả, hạt)
Để xây dựng bản mô tả cho một loài, chúng tôi tập hợp các số liệu đã phântích về loài đó sau đó so sánh với tài liệu gốc, các chuyên khảo và mẫu type (nếucó), từ đó xác định các tiêu chuẩn và dấu hiệu định loại cho loài ản mô tả chiđược xây dựng trên cơ sở tập hợp các bản mô tả của các loài trong chi Nếu bản mô
tả này có sự khác biệt so với tài liệu gốc và các tài liệu khác (thường do số loàitrong chi ở mỗi tài liệu khác nhau), chúng tôi sẽ có những ghi chú bổ sung
Trang 17– Xây dựng khoá định loại: Trong phạm vi của đề tài này, chúng tôi lựa chọncách xây dựng khoá lưỡng phân kiểu zic-zắc, cách làm được tiến hành như sau: Từtập hợp các đặc điểm mô tả cho các taxon, chọn ra cặp các tập hợp đặc điểm đối lập
và xếp chúng vào hai nhóm (các đặc điểm được chọn phải ổn định, dễ nhận biết vàthể hiện tính chất phân biệt giữa các taxon) Trong mỗi nhóm, lại tiếp tục chọn racặp đặc điểm đối lập và xếp chúng vào hai nhóm khác, cứ tiếp tục như vậy đến khiphân biệt hết các taxon
Danh pháp của các taxon được chỉnh lý theo luật danh pháp quốc tế hiện hành và theo Quy phạm soạn thảo thực vật chí Việt Nam
Trang 18CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 3.1 Hệ thống phân o i và vị trí của họ Oxa idaceae
Sau khi phân tích các hệ thống phân loại của họ Chua me đất (Oxalidaceae),cùng việc tham khảo các công trình thực vật chí ở các nước trên thế giới và cácnước lân cận với Việt Nam, chúng tôi nhận thấy chúng tôi nhận thấy hệ thống phânloại và vị trí của họ Chua me đất (Oxalidaceae) có 2 quan điểm sau:
+ Quan điểm 1: Chua me đất là một taxon bậc tông (Oxalideae) nằm trong họ
Mỏ hạc (Geraniaceae), đi theo quan điểm này là hầu hết các tác giả như Edgeworth
& Hooker f (1874), Bentham & Hooker (1886)
+ Quan điểm 2: Chua me đất là một taxon bậc họ (Oxalidaceae), đi theo quanđiểm này là hầu hết các tác giả như aker & akh f (1963), J.F.Veldkamp (1970),Huang Tseng-Chieng & Liu Tang-shui (1993), V H Heywood (1996), A A.Cocucci in K Kubitzki (ed.) (2004), Các tác giả đều khẳng định giới hạn của họOxalidaceae là các taxon có đặc điểm lá không có lá kèm, không có triền tuyến mậtquả nang chẻ ô hay quả mọng Khác các taxon còn lại của họ Mỏ hạc bởi Mỏ hạc(Geraniaceae) thì lá có lá kèm, có tuyến mật xen kẽ cánh hoa, quả nang cắt vách.Trong khi nghiên cứu họ Oxalidaceae ở Việt Nam, chúng tôi dựa vào quanđiểm của hầu hết các tác giả như Baker & Bakh f (1963), J F Veldkamp (1970),Huang Tseng-Chieng & Liu Tang-shui (1993), V H Heywood (1996), A A.Cocucci in K Kubitzki (ed.) (2004),… thống nhất coi Chua me đất là một taxon bậc
họ - Oxalidaceae
Theo đó, họ Oxalidaceae ở Việt Nam hiện có 3 chi là Averrhoa, Biophytum và
Oxalis, xếp họ Oxalidaceae thuộc bộ Mỏ hạc (Geraniales); thuộc lớp Hai lá mầm
(Dicotyledone); thuộc ngành Hạt kín (Angiospermae).
Cho đến nay chi Averrhoa hiện biết 2 loài, chi Biophytum hiện biết 4 loài và
Oxalis hiện biết 5 loài.
3.2 Đặc điểm phân o i họ Chua me đất (Oxalidaceae) ở Việt Nam
3.2.1 D ng sống
Các loài thuộc họ Oxalidaceae ở Việt Nam, một số là thân gỗ nhỏ phân nhánh
cao từ 3-10 m, có khi đến 15m (Averrhoa carambola, Averrhoa bilimbi) Thân cây
Trang 19bụi hàng năm hoặc lâu năm, thân phân nhánh có lông, cao từ 10-30 cm (Biophytum
adiantoides, Biophytum fruticosum), thân không phân nhánh cao từ 5-25 cm
(Biophytum umbraculum, Biophytum sensitatum).
3.2.2 Lá
Lá kép, mọc cách, cuống lá dài, có lá chét mọc đối, lá chét dạng lông chim lẻ
(A bilimbi, A carmbola) và lá chét dạng lông chim chẵn (B adiantoides, B.
umbraculum, B sensititum, B fruticosum).
Phiến lá chét hình trứng đến bầu dục (A carambola), dạng thuôn đến mác (A.
bilimbi), hay hình thuôn đến trứng ngược (B adiantoides, B umbraculum, B sensititum, B fruticosum), chóp lá chét nhọn hay có mũi (A bilimbi, A carambola),
hay tròn (B adiantoides, B umbraculum, B sensititum, B fruticosum), mép lá chét
nguyên, gốc lệch; gân lá chét hình lông chim, gân chính nổi rõ ở mặt dưới, gân
thẳng (A bilimbi, A carambola, B adiantoides, B fruticosum), hay hơi cong (B.
umbraculum, B sensitivum).
3.2.3 Cụm hoa và hoa
Cụm hoa có tán dạng xim mọc ở nách lá (A carambola) hay mọc ở cành dạng thùy (A bilimbi), cụm hoa có cuống (B adiantoides, B sensitivum) hoặc gắn trực tiếp vào chùm lá (B umbraculum, B fruticosum) Hoa lưỡng tính đều, nhỏ.
Đài: Đài 5, có lông, hợp ở gốc, hình elip (A carambola) hay dạng trứng mác (A.
bilimbi) Thường 5 lá đài dính nhau một phần ở gốc (B adinatoides, B sensitivum),
đôi khi rời nhau (B umbraculum, B fruticosum).
Cánh hoa: Cánh hoa 5, rời nhau hơi màu đỏ tía (A bilimbi) hay dính liền trên đầu
có móc màu trắng với mảng màu tía (A carambola), màu trắng hoặc vàng nhạt (B.
adinatoides, B sensitivum, B fruticosum) vàng cam (B.umbraculum); hình trứng
ngược (B umbraculum) hay hình thìa (B fruticosum).
Trang 20Hình 3.1 Cấu t o hoa của họ Oxa idaceae ở Việt Nam.
Bộ nhị: Thường là 10 nhị, trong đó có 5 cái ngắn, 5 cái dài rõ rệt Chỉ nhị dài, bao
phấn chia làm 2 ô theo chiều dọc
Bộ nhụy: ầu thượng, gần hình cầu, hình bầu dục (B umbraculum) hay trứng
ngược (B fruticosum), có 5 gờ, mang 5 lá noãn, mỗi lá noãn mang 1-6 noãn xếp
thành 2 hàng hai bên gờ; vòi nhụy ngắn, phía trên xẻ thành 5 nhánh tách biệt nhau;núm nhụy hình đầu
3.2.4 Quả
Quả mọng hình thuôn, luôn có 5 thùy, tiết diện cắt ngang như hình ngôi sao
(Averrhoa), hay quả nang dạng trứng đến thuôn, khi chín khô và tự mở, mang đài và
vòi nhụy tồn tại bền cùng quả
Hình 3.2 Cấu t o bộ nhị và quả của họ Oxa idaceae ở Việt Nam.
1 ộ nhị với 5 nhị ngắn, 5 nhị dài; 2 Quả nang mở
Trang 213.2.5 H t
Thường 1-6 hạt trong mỗi lá noãn, kích thước lớn (Averrhoa) hay nhỏ (Biophytum), màu nâu-đen, thường có nốt sần nhỏ
3.3 Khoá định o i các chi và loài thuộc họ Chua me đất (Oxa idaceae) trừ chi
Chua me đất (Oxalis) ở Việt Nam.
1A Cây gỗ nhỏ, có lá chét lông chim lẻ, quả mọng ……… I AVERRHOA
2A Lá chét 10-20 cặp, cánh tràng tách biệt, mặt trong không có lông, kích thước
10-20 x 3-4 mm ……… ………….……… 1 A bilimbi
2B Lá chét 3-6 cặp, cánh tràng dính liền ở chóp có móc, mặt trong có tuyến có
lông, kích thước 6-9 x 3-4 mm ….…….……… 2 A carambola
1 Cây bụi, có lá chét lông chim chẵn, quả nang II BIOPHYTUM
3A Cụm hoa có cuống rõ rệt, cuống dài
4A Đài hợp một phần nhỏ (từ 1/4-1/3) ở gốc
5A Lá kép mang 18-27 cặp lá chét; đài hợp sâu đến 1/3 chiều dài, thùy đài
kích thước 4,5-6 x 1-1,5 mm 1 B adiantoides
5B Lá kép mang 6-14 cặp lá chét; đài hợp một phần nhỏ không đến 1/4 chiều
dài, thùy đài kích thước 2,2-4 x 0,5-1 mm 2 B sensitivum
4 Đài rời nhau hoàn toàn 3 B fruticosum
3 Cụm hoa không có cuống 4 B umbraculum 3.4 Đặc điểm phân o i các chi, oài thuộc họ Chua me đất (Oxalidaceae) trừ chi Chua me đất (Oxalis) ở Việt Nam
3.4.1.1 Averrhoa bilimbi L –Khế ngọt, Khế đường, Khế tàu.
L 1753 Sp Pl.: 428; Loureiro, 1793 Fl Cochinch.: 355; Edgeworth & Hook f.,
1874 Fl Br Ind vol I: 439; Backer & Bakhuizen, 1963 Fl Jav.: 248; J K
Trang 22Veldkamp, 1970 Fl Thail 2.: 22; Veldkamp, 1971 Fl Malesiana, 7(1): 175;Phamh., 1992 Illustr Fl Vietn., 2(1): 366; id 2000 l c 2: 295; L R Xu & C.Huang, 1998 Fl Reipub Pop Sin 43(1): 6; N T Ban, 2003 Checkl Sp Vietn 2:149; Liu Quanra & Mark F Watson, 2009 Fl China 11:1
Cây gỗ nhỏ, cao 5-7(10)m Thân phân nhánh dựng lên, phần non và cuống lá cólông tơ Lá kép lông chim, lá dạng lá chét lông chim lẻ, 10-20 cặp lá chét, có lákèm, lá dài 15 – 40 cm, cuống lá 2 – 4 mm, phiến lá chét dạng thuôn đến dạng mác,kích thước 3,5 * 2 cm, chóp nhọn mũi, mép nguyên, gốc không đối xứng, mặt trênnhẵn, mặt dưới có lông măng, có 1 gân chính nổi rõ Cụm hoa mọc ở thân haynhánh già, cọng có đốt, dạng chùy có nhiều hoa dài trên 20 cm Hoa nhỏ màu đỏđậm Lá đài 5, dạng trứng mác, dài 3-4 mm, có lông tơ Cánh tràng 5, tách biệt mặttrong không có lông, hơi màu đỏ tía, kích thước 10-20 * 3-4 mm Nhị 10 có 5 dài 5ngắn, tất cả nhị có bao phấn, 5 vòi nhụy Noãn 4-7 Quả mọng màu vàng lục, hìnhsao dài 5-10 cm có cạnh tù, nạc ngọt Hạt gần hình tròn, bẹt, xếp theo chiều dọc,màu nâu đen
Los Class.: Habitat in India; Lectotypus: Herb, Hermann 2:20, No 177 (BM)
LT designated by Nasir in Nasir & Ali (ed.), 1971 Fl W Pakistan 11:3
Sinh học và sinh thái: Cây ra hoa tháng 12-4 (năm sau), được trồng rộng rãi và
tự do ở ven sông, thảm thực vật rừng nguyên sinh và thứ sinh
Phân bố: Trồng phổ biến ở Việt Nam, nguồn gốc Đông Nam Á.
Mẫu nghiên cứu: Loài này được ghi nhận bởi Phạm Hoàng Hộ (1992, 2000);
Nguyễn Tiến ân (2003) Tuy nhiên trong quá trình nghiên cứu, chúng tôi chưa tìmthấy mẫu vật của loài này
Giá trị sử dụng: Quả ăn được, có thể làm đồ hộp dạng xirô hoặc dấm mắm, còn
được dùng dưới dạng món cary để trị trĩ và bệnh scorbut do thiết vitamin C Ở Ấn
Độ, người ta còn chữa các bệnh như quai bị, thấp khớp, mụn nhọt [3, 6]
Trang 231 Mẫu tiêu bản khô
2 Hoa và quả 3 Lá
Ảnh 3.1: Averrhoa bilimbi L (nguồn: ht t p://w w w.trop i cos.org/ )