Truyện cổ tích Sự tích động Từ Thức, Truyện Từ Thức lấy vợ tiên trích từ Truyền kỳ mạn lục của Nguyễn Dữ và truyện thơ Nôm Từ Thức tân truyện là những tác phẩm thể hiện sâu sắc những n
Trang 1ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC
ĐỖ THỊ NGỌC ĐIỆP
“TỪ THỨC LẤY VỢ TIÊN” TRONG TRUYỆN CỔ TÍCH, TRUYỆN
TRUYỀN KỲ VÀ TRUYỆN THƠ NÔM
LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÔN NGỮ, VĂN HÓA VÀ VĂN HỌC VIỆT NAM
Thái Nguyên - 2019
Trang 2ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC
ĐỖ THỊ NGỌC ĐIỆP
“TỪ THỨC LẤY VỢ TIÊN” TRONG TRUYỆN CỔ TÍCH, TRUYỆN
TRUYỀN KỲ VÀ TRUYỆN THƠ NÔM
Chuyên ngành: Văn học Việt Nam
Mã số: 8220121
LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÔN NGỮ, VĂN HÓA VÀ VĂN HỌC VIỆT NAM
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Vũ Thanh
Thái Nguyên - 2019
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu trích dẫn đều có nguồn gốc rõ ràng Các kết quả nghiên cứu trong luận văn đều trung thực và chưa từng được công bố ở bất kỳ công trình nào khác
Thái Nguyên, tháng năm 2019
Tác giả luận văn
Đỗ Thị Ngọc Điệp
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành luận văn thạc sĩ này, tôi xin trân trọng cảm ơn Ban Giám hiệu, Khoa Sau đại học, Khoa Báo chí – Truyền thông và văn học, Trường Đại học Khoa học, Đại học Thái Nguyên và các Thầy, Cô giáo đã trực tiếp giảng dạy, giúp đỡ trong suốt quá trình học tập
Đặc biệt, tôi xin được bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới PGS TS Vũ Thanh đã luôn tận tình hướng dẫn, chỉ bảo trong suốt thời gian tôi nghiên cứu và hoàn thành luận văn
Cuối cùng, xin gửi lời cảm ơn đến gia đình, người thân, bạn bè đã giúp
đỡ, động viên, tạo điều kiện để tôi hoàn thành luận văn
Thái Nguyên, tháng năm 2019 Tác giả luận văn
Đỗ Thị Ngọc Điệp
Trang 5MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
MỤC LỤC iii
MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Lịch sử vấn đề 2
3 Đối tượng và mục tiêu nghiên cứu 9
4 Nhiệm vụ và phương pháp nghiên cứu 9
5 Phạm vi nghiên cứu 10
6 Đóng góp mới của luận văn 11
7 Cấu trúc của luận văn 12
NỘI DUNG 13
Chương 1: NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG CỦA SỰ TÍCH ĐỘNG TỪ THỨC, TỪ THỨC LẤY VỢ TIÊN VÀ TỪ THỨC TÂN TRUYỆN 13
1.1 Sơ lược về vấn đề thể loại truyện cổ tích thần kỳ và truyện kể địa danh của Sự tích động Từ Thức 13
1.1.1 Tiểu loại truyện cổ tích thần kỳ 13
1.1.2 Truyện kể địa danh 14
1.1.3 Truyện Sự tích động Từ Thức 15
1.2 Sơ lược về thể loại truyện truyền kỳ và truyện Từ Thức lấy vợ tiên………18
1.2.1 Sơ lược về thể loại truyện truyền kỳ 18
1.2.2 Nguyễn Dữ và truyện truyền kỳ Từ Thức lấy vợ tiên 20
1.3 Vấn đề tác giả và thể loại truyện thơ Nôm Từ Thức tân truyện 28
1.3.1 Sơ lược về thể loại truyện thơ Nôm 28
1.3.2 Về đặc điểm truyện thơ Nôm bình dân 30
1.3.3 Về truyện thơ Nôm Từ Thức tân truyện 34
Tiểu kết Chương 1 37
Chương 2: SỰ KẾ THỪA, BIẾN ĐỔI NỘI DUNG TƯ TƯỞNG VÀ GIÁ TRỊ NHÂN VĂN QUA BA TÁC PHẨM 38
Trang 62.1 Tương quan tam giáo từ truyện cổ tích đến truyền kỳ và truyện thơ
Nôm 38
2.1.1 Điểm chung trong tư tưởng của ba tác phẩm 38
2.1.2 Những biến đổi tương quan tam giáo từ truyện cổ tích, đến truyện truyền kỳ và truyện thơ Nôm 44
2.2 Sự bế tắc trong tư tưởng và lối sống của nho sĩ trong xã hội phong kiến 50
2.3 Khát vọng tự do và cảm xúc tình yêu trong Sự tích động Từ Thức, Từ Thức lấy vợ tiên và Từ Thức tân truyện 55
2.3.1 Khát vọng tự do và tình yêu tự do 55
2.3.2 Cảm xúc tình yêu và yếu tố tính dục trong truyện truyền kỳ Từ Thức lấy vợ tiên và truyện thơ Nôm Từ Thức tân truyện 62
Tiểu kết Chương 2 70
Chương 3: SỰ KẾ THỪA VÀ BIẾN ĐỔI TRÊN MỘT SỐ PHƯƠNG DIỆN NGHỆ THUẬT QUA BA TÁC PHẨM 71
3.1 Sự kế thừa một số phương diện nghệ thuật từ Sự tích động Từ Thức đến Từ Thức lấy vợ tiên và Từ Thức tân truyện 71
3.1.1 Kế thừa mô hình kết cấu cốt truyện 71
3.1.2 Kế thừa môtip truyện 73
3.1.3 Kế thừa yếu tố thần kỳ và ngẫu nhiên 75
3.1.4 Kế thừa hệ thống nhân vật và nghệ thuật xây dựng tính cách nhân vật 76 3.2 Sự biến đổi một số phương diện nghệ thuật từ Sự tích động Từ Thức đến Từ Thức lấy vợ tiên và Từ Thức tân truyện 78
3.2.1 Biến đổi về kết cấu cốt truyện 78
3.2.2 Biến đổi về nghệ thuật xây dựng và miêu tả tâm lý nhân vật 92
3.2.3 Biến đổi về ngôn ngữ nghệ thuật 99
Tiểu kết Chương 3 104
KẾT LUẬN 105
TÀI LIỆU THAM KHẢO 109 PHỤ LỤC
Trang 7MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
1.1 Trong tiến trình phát triển lịch sử văn học dân tộc, văn học dân gian luôn có mối quan hệ bền chặt, hữu cơ với văn học viết, nhất là giai đoạn từ thế kỷ XVI đến nửa đầu thế kỷ XIX – thời kỳ văn học phát triển rực rỡ, kết tinh nhiều thành tựu và tạo ra nền móng cho những giai đoạn phát triển thịnh vượng trong đời sống văn hóa, văn học sau này Đáng chú ý hơn, đây cũng là thời điểm chứng kiến sự ra đời của những tác phẩm văn học mang ý nghĩa nhân văn lớn, khẳng định khát vọng của con người về tự do, tình yêu, hạnh phúc, sự công bằng, thoát
khỏi những ràng buộc hà khắc của lễ giáo phong kiến Truyện cổ tích Sự tích động Từ Thức, Truyện Từ Thức lấy vợ tiên trích từ Truyền kỳ mạn lục của Nguyễn
Dữ và truyện thơ Nôm Từ Thức tân truyện là những tác phẩm thể hiện sâu sắc
những nội dung đó Việc tìm hiểu ba tác phẩm thực sự là một việc làm có ý nghĩa
và hấp dẫn đối với người viết, giúp chúng ta hiểu rõ và đánh giá chính xác hơn sự phát triển và những thành tựu của các giai đoạn văn học này
1.2 Sức ảnh hưởng của truyện cổ tích nói riêng, văn hoá, văn học dân gian nói chung đến truyện truyền kỳ và truyện thơ Nôm ở thời kỳ này cũng hết sức sâu sắc Các tác giả truyện truyền kỳ thường mượn các tích dân gian để viết nên tác phẩm của mình Trong khi đó truyện thơ Nôm lại thường diễn lại tích truyện cổ tích, truyện truyền kỳ, truyện chích quái, hay những câu chuyện có thật ở đời sống Có những sáng tác sau khi được viết lại như thế đã đạt đến thành công xuất sắc, xóa mờ kí ức về văn bản vay mượn như trường hợp tác
phẩm Đoạn trường tân thanh của Nguyễn Du, hay các truyện thơ Nôm bình dân
như: Thạch Sanh - Lý Thông, Phạm Công - Cúc Hoa Nghiên cứu đề tài: “Từ
Thức lấy vợ tiên” trong truyện cổ tích, truyện truyền kỳ và truyện thơ Nôm, chúng tôi muốn đem đến cho người đọc một cái nhìn đầy đủ hơn về quy
luật hình thành, phát triển của ba thể loại trên, và sự tương tác giữa ba thể loại từ góc độ tiếp cận của mình
Trang 81.3 Trên thực tế truyện cổ tích, truyện truyền kỳ và truyện thơ Nôm đã có nhiều tác phẩm được đưa vào giảng dạy ở các trường phổ thông và đại học, cao
đẳng Ở phổ thông có các tác phẩm như: truyện cổ tích Tấm Cám, truyện truyền kỳ: Chuyện người con gái Nam Xương, Chuyện chức phán sự đền Tản Viên (trích: Truyền kỳ mạn lục của Nguyễn Dữ ), truyện thơ Nôm: Đoạn trường tân thanh của Nguyễn Du, Lục Vân Tiên của Nguyễn Đình Chiểu… Vì vậy, nghiên cứu các tác phẩm Sự tích động Từ Thức, Từ Thức lấy vợ tiên và Từ Thức tân truyện sẽ góp phần bổ trợ kiến thức cho giáo viên dạy ở phổ thông để đối chiếu,
so sánh với những tác phẩm cùng thể loại Đối với các trường đại học, cao đẳng,
đề tài cũng rất hữu ích cho quá trình nghiên cứu, học tập của sinh viên, học viên
Sự tích động Từ Thức, Từ Thức lấy vợ tiên và Từ Thức tân truyện là
những tác phẩm độc đáo bởi nó vừa có giá trị văn học vừa có ý nghĩa văn hóa sâu sắc (đặc biệt là về triết học, tôn giáo: tư tưởng tam giáo, tín ngưỡng dân gian…) Việc nghiên cứu văn học trong mối quan hệ so sánh ba tác phẩm có cùng cốt truyện ở ba thể loại và thời điểm ra đời khác nhau sẽ giúp chúng ta hiểu
rõ hơn về hiện tượng văn hóa lý thú này Đồng thời, giúp chúng ta có một cái nhìn đúng đắn hơn về truyền thống và tôn giáo, tín ngưỡng văn hóa dân gian, tư tưởng thời đại của cả ba tác phẩm
2 Lịch sử vấn đề
2.1 Lịch sử nghiên cứu truyện cổ tích Sự tích động Từ Thức
Truyện cổ tích Sự tích động Từ Thức thuộc tiểu loại truyện cổ tích thần kỳ
- truyện cổ tích giải thích tên địa danh động Từ Thức, là câu chuyện được lưu truyền rộng rãi trong dân gian
Truyện cổ tích Sự tích động Từ Thức là câu chuyện thứ 130 được ghi chép lại trong Kho tàng truyện Cổ tích Việt Nam của tác giả Nguyễn Đổng Chi, Nxb
Giáo dục, năm 2000 Từ khi ra đời truyện đã được chuyển thể thành các tích chèo và sau này là phim truyền hình Tuy nhiên, theo kết quả khảo sát của chúng
tôi thì chưa có công trình nghiên cứu liên văn bản về câu chuyện Từ Thức lấy vợ tiên trong cả ba thể loại truyện cổ tích, truyện truyền kỳ và truyện thơ Nôm
Trang 9mang tính chất quy mô, mà chỉ có những bài nghiên cứu ở cấp độ hai thể loại từ truyện cổ tích đến truyện truyền kỳ, hay từ truyện truyền kỳ đến truyện thơ Nôm trên một số tạp chí đăng và trang mạng
Trong bài viết : Sự tương đồng và khác biệt về không gian trong truyện cổ tích thần kỳ của người Việt và người Hàn của Lưu Thị Hồng Việt, đăng trên
“Tạp chí Khoa học” Đại học sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh, Số 60 năm
2014 đã chỉ ra sự tương đồng về không gian kỳ lạ trong các truyện cổ tích của
người Việt và người Hàn: “Không gian cõi tiên có mối liên hệ gần gũi với không gian hạ giới, âm giới Sự liên hệ giữa các không gian này không khó khăn, không phức tạp Các nhân vật có thể từ cõi trần lên cõi tiên, từ cõi tiên xuống hạ giới một cách dễ dàng như một sự đi lại bình thường nhờ các phương tiện dịch chuyển thần kỳ như cỗ xe mây, ” [82] Tác giả Lưu Thị Hồng Việt chỉ rõ ở truyện Sự tích động Từ Thức của người Việt có miêu tả hành động Từ Thức đi
lên một ngọn núi cao nhìn ra giữa cửa Thần Phù và trước mắt chàng hiện lên một hòn đảo trông như một đóa hoa sen giữa vùng biển cả Trước cảnh vật đẹp
lạ kỳ, Từ Thức đã di chuyển ra khơi đến hòn đảo bằng chiếc thuyền Không gian
Từ Thức đến là một không gian thần kỳ trong những ngọn núi: “Chẳng bao lâu thuyền đã ghé đảo Đang mê mải nhìn, chàng bỗng thấy ở sườn núi đá gần đó
có một cửa hang khá rộng Bèn vịn cây rẽ cỏ tìm đến tận nơi.”[8, tr 947, 948]
Từ Thức đi vào hang được một đoạn thì cửa hang đóng sập lại Ban đầu Từ Thức đi trong hang tối, nhưng càng đi thì càng nhiều cảnh bất ngờ hiện ra trước
mắt: “Khi leo lên đến đỉnh thì Từ Thức bỗng thấy cả một tòa nhà lộng lẫy hiện
ra trước mắt ( ) đó không phải là cảnh vật của trần gian mà là tiên cảnh Từ Thức đã đến được không gian tiên giới, được các tiên nữ đón tiếp chu đáo: “Lập tức đêm hôm ấy trong bữa tiệc tưng bừng có quần tiên tụ hội, hai người chính thức làm lễ giao bôi Khách tiên từ các động vui vẻ cạn chén chào mừng chàng
rể mới đến nhập tịch làng tiên ” [8, tr 948, 949] Tác giả bài viết cũng chứng minh rằng không gian núi trong truyện Từ Thức lấy vợ tiên cũng mang ý nghĩa
“biểu tượng của cái siêu tại, siêu phàm với tính cách là trung tâm của những
Trang 10hiện tượng hiển linh trong khí quyển và rất nhiều sự tích thần hiện ( ) Núi là nơi trời và đất gặp nhau, là nơi của thánh thần và là điểm cuối của con đường
đi lên của con người” [ 6, tr 699]
Chi tiết Từ Thức gặp tiên và có thời gian hạnh phúc nồng nàn bên nàng tiên Giáng Hương đã chứng tỏ sự tương đồng trong quan niệm về “núi” - một trong những biểu tượng không gian thiêng mang nhiều điểm tương đồng với quan niệm của nhiều nền văn hóa khác trên thế giới Sự dịch chuyển không gian của nhân vật Từ Thức đã giúp chàng khám phá những vẻ đẹp thần bí, đến với tình yêu tiên giới mặc dù không toại nguyện và cuối cùng chàng đành trở về cõi tục, thấm thía hơn bao giờ hết về số phận của mình trên thế gian trong sự lạc lõng, hoàn toàn xa lạ với thế gian
Tác giả Nam Minh trong bài viết: “Từ Thức gặp tiên, truyện cổ tích Việt Nam hay một hiện tượng khoa học?” cho rằng: Rất nhiều sự kiện lịch sử có thật,
theo năm tháng dài đằng đẵng của lịch sử mà dần dần trở thành truyền thuyết, thần thoại Từ đó, tác giả Nam Minh đưa ra giả thiết Từ Thức gặp tiên, truyện cổ tích hay một hiện tượng khoa học? Vì xem xét truyện Từ Thức gặp tiên, ta thấy
có yếu tố kỳ ảo góp phần khiến câu chuyện bị cho là hư cấu đó là việc Từ Thức đến thế giới của địa tiên núi Nam Nhạc một năm, nhưng trở về nhân gian thì đã hai trăm năm trôi qua Tác giả bài viết đã khảo sát các dẫn chứng trên thế giới như Rudolph Fentz là một trong những trường hợp “du hành vượt thời gian” nổi tiếng lịch sử, trường hợp Chuyến bay thương mại Santiago 513 khởi hành từ Đức vào ngày 4/9/1954 và biến mất ở một nơi nào đó trên Đại Tây Dương… Sau đó tái xuất hiện sau 35 năm, lượn quanh sân bay và hạ cánh tại Porto Alegre, Brazil Hôm đó là ngày 12/10/1989 Hay trường hợp một chiếc du thuyền của Anh mang tên “Sea Breeze” tháng 8/1981 cùng 6 người trên boong đột nhiên biến mất tại vùng tam giác quỷ Bermuda 8 năm sau, chiếc du thuyền xuất hiện trở lại một cách kỳ lạ tại đúng vị trí mất tích, 6 người trên thuyền vẫn bình an vô sự Một điều đặc biệt mà cả 6 người trên du thuyền đều nhận thức được là, dường như bản thân mất đi cảm giác và họ hoàn toàn không biết được
Trang 11rằng ở ngoài kia 8 năm đã trôi qua Ấy vậy mà họ chỉ cảm giác như một vài giây
đã trôi qua mà hầu như chưa làm được một việc gì….Từ đó tác giả Nam Minh
khẳng định: “Vì thế câu chuyện Từ Thức gặp tiên rất có thể không phải là truyện
cổ tích như ta vẫn thường nghĩ mà nó hé mở bí mật về Thời – Không” [45]
Cũng trong bài viết này theo tác giả Nam Minh: Lý thuyết mới về đa thế giới có thể giải thích rất nhiều phát hiện kỳ lạ trong cơ học lượng tử Trong đó
có thể giải thích sự hiện diện của Thiên đường Tại sao người thường trong điều kiện thông thường không thể tiếp xúc được thế giới này Điều này được lý giải trong lý thuyết về “Đa thế giới tương tác”… một số trường hợp đặc thù như người tu luyện đã cải biến hoàn toàn thân thể thành vật chất không gian khác, hoặc một người có cơ duyên đặc biệt mới có thể tiến nhập vào không gian khác,
mà câu chuyện Từ Thức lấy vợ tiên là một ví dụ
Như vậy, trên thực tế truyện cổ tích Sự tích Từ thức cũng đã được giới
nghiên cứu chú ý Sức hấp dẫn của câu chuyện không chỉ do câu chuyện tình yêu đẹp của chàng Từ Thức và nàng tiên Giáng Hương, hay những vẻ đẹp kỳ thú của thiên nhiên đất nước qua một địa danh cụ thể là hang động Từ Thức ở
xứ Thanh gắn với tín ngưỡng, văn hoá của người Việt, mà còn còn là những vẻ đẹp tiềm ẩn chưa khám phá hết của câu chuyện
2.2 Lịch sử nghiên cứu truyện Từ Thức lấy vợ tiên trong Truyền kỳ mạn lục
của Nguyễn Dữ
Về Truyền kỳ mạn lục của Nguyễn Dữ, từ trước thế kỷ XX đã nhận được
sự quan tâm, ưu ái của nhiều học giả như: Vũ Khâm Lân trong Bạch Vân Am cư
sĩ phả ký coi Truyền kỳ mạn lục của Nguyễn Dữ là một “thiên cổ kỳ bút”, Lê Quý Đôn trong Kiến văn tiểu lục ca ngợi Truyền kỳ mạn lục là “lời lẽ thanh tao, tốt đẹp, người bấy giờ lấy làm ngợi khen”, Phan Huy Chú khen rằng Truyền kỳ mạn lục là “áng văn hay của bậc đại gia”
Từ đầu thế kỷ XX đến nay, thể loại truyền kỳ càng nhận được nhiều sự
quan tâm của các nhà nghiên cứu phê bình văn học Đặc biệt, tác phẩm Truyền
kỳ mạn lục của Nguyễn Dữ đã được các nhà khoa học trong và ngoài nước chọn
Trang 12làm đối tượng nghiên cứu trong nhiều bài viết, công trình khoa học như: Bùi
Văn Nguyên (1968), Bàn về yếu tố dân gian trong Truyền kỳ mạn lục của Nguyễn Dữ, Tạp chí văn học số 11; Nguyễn Đăng Na (1978), Sự phát triển văn xuôi Hán – Việt từ thế kỷ X đến cuối thế kỷ XVIII đầu thế kỷ XIX qua một số tác phẩm tiêu biểu, Luận án tiến sĩ, Đại học sư phạm Hà Nội; Nguyễn Phạm Hùng (1987), Tìm hiểu khuynh hướng sáng tác trong Truyền kỳ mạn lục của Nguyễn
Dữ, Tạp chí văn học số 7; Bùi Duy Tân (2001), Truyền kỳ mạn lục - một thành tựu của truyện ký văn học viết bằng chữ Hán, Văn học Việt Nam từ thế kỷ X đến nửa đầu thế kỷ XVIII, Nxb Giáo dục; Lại Văn Hùng (2002), Bàn thêm về tác giả, tác phẩm Truyền kỳ mạn lục, Tạp chí văn học số 10; Nguyễn Đăng Na (2006), Truyền kỳ mạn lục dưới góc độ so sánh văn học, Con đường giải mã văn học trung đại, Nxb Giáo dục; Vũ Thanh (tháng 10, 2006), Đóng góp của Nguyễn
Dữ cho thể loại Truyền kỳ Đông Á, Trang điện tử của Viện văn học; Lê Văn Hùng (2007), Bước tiến của thể loại truyện ngắn Truyền kỳ Việt Nam qua Truyền kỳ mạn lục của Nguyễn Dữ, Báo cáo nghiên cứu khoa học trường Cao đẳng sư phạm Bà Rịa - Vũng Tàu; Nguyễn Hữu Sơn (tháng 6, 2009), Tương đồng mô hình cốt truyện dân gian và những sáng tạo trong Truyền kỳ mạn lục,
Trang điện tử trường Đại học khoa học xã hội nhân văn, Khoa Văn học và Ngôn
ngữ; Đoàn Lê Giang (tháng 01, 2010), Vũ nguyệt vật ngữ của Ued Akanari và Truyền kỳ mạn lục của Nguyễn Dữ, Trang điện tử trường Đại học khoa học xã hội nhân văn, Khoa Văn học và Ngôn ngữ; Phạm Tuấn Vũ (tháng 12, 2011), Bàn góp về tiếp thu và đổi mới trong truyền kỳ mạn lục, Trang điện tử Khoa
Ngữ Văn trường Đại học Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh; …
Đặc biệt, ở bài viết: Nguyễn Dữ và Tiên thoại Trung Quốc qua truyện Từ Thức lấy vợ tiên đăng trên Tạp chí Văn học, số 5, 2000, tác giả Trần Đình Sử đã nghiên cứu cụ thể truyện Từ Thức lấy vợ tiên của Nguyễn Dữ trong mối quan hệ
so sánh với Tiên thoại Trung Quốc Trong bài viết này, tác giả đã chứng minh và khẳng định: “Tất cả các môtip, chi tiết miêu tả, đồ vật và điển cố nêu trên, dù chưa chứng thực con đường tiếp thu cụ thể, song đều chứng tỏ khi viết truyện Từ
Trang 13Thức lấy vợ tiên, Nguyễn Dữ đã tỏ ra hết sức thông thuộc các sự tích tiên thoại của Trung Quốc” Đồng thời cho rằng: “Truyện Từ Thức lấy vợ tiên là một sáng tác mới mang nội dung lịch sử sâu sắc… Có thể nói Từ Thức kết tinh bao nhiêu hình bóng và tâm sự kẻ sĩ Việt Nam vào thời chính sự thối nát Từ Thức lấy vợ tiên có cảm hứng siêu thoát, nhưng chỉ là siêu thoát chính sự, không phải siêu thoát cuộc đời” [64] Bài viết này của Trần Đình Sử là một gợi ý tốt để chúng
tôi tiếp cận với đề tài luận văn của mình
Nhìn chung, qua tìm hiểu chúng tôi nhận thấy những công trình nghiên cứu, những bài báo, những luận án thạc sĩ, tiến sĩ kể trên mới chủ yếu xem xét,
đánh giá chung sự đóng góp của Truyền kỳ mạn lục đối với sự phát triển của thể loại, bước tiến của thể loại truyện ngắn truyền kỳ Việt Nam qua Truyền kỳ mạn lục, ảnh hưởng của văn hóa, văn học dân gian trong và ngoài nước đến tác phẩm truyền kỳ, hay mối quan hệ của Từ Thức lấy vợ tiên với Tiên thoại Trung Quốc chứ chưa có bài nghiên cứu cụ thể nào về truyện Từ Thức lấy vợ tiên trong mối quan hệ kế thừa truyện cổ tích Sự tích động Từ Thức và sự phát triển thành truyện thơ Nôm Từ Thức tân truyện
2.3 Lịch sử nghiên cứu truyện thơ Nôm và truyện thơ Nôm khuyết danh
Từ Thức tân truyện
Truyện thơ Nôm là thể loại tự sự - trữ tình nở rộ và có thành tựu vào thế
kỷ XVII, XVIII ở Việt Nam Truyện được viết bằng thể thơ lục bát dân tộc Đây
là một trong những thể loại văn học mang vẻ đẹp bản sắc dân tộc được nhiều nhà nghiên cứu văn học quan tâm
Trong Việt Nam văn học sử yếu (1941) – tác giả Dương Quảng Hàm đã đánh giá truyện thơ Nôm “là tiểu thuyết bằng văn vần” Sau đó trong vòng hơn
chục năm, từ 1942 đến 1953 đã xuất hiện rất nhiều công trình nghiên cứu khác
như: Việt Nam cổ văn học sử (1942) của Nguyễn Đổng Chi, tác giả đã khái quát
đặc điểm của nhiều thể loại văn học, trong đó đưa ra những nhận xét xác đáng
về thể loại truyện thơ Nôm Đào Duy Anh, trong cuốn Khảo luận về Kim – Vân – Kiều (1943) đã chỉ ra sự sáng tạo độc đáo của tác giả Nguyễn Du và sự độc
Trang 14đáo của thể loại truyện thơ Nôm của dân tộc qua việc so sánh tiểu thuyết Kim Vân Kiều truyện của tác giả Thanh Tâm tài nhân (Trung Quốc) và Truyện Kiều của Nguyễn Du Tác giả Văn Tân có chuyên luận : Thử tìm ý nghĩa giá trị “Nhị
Độ Mai”, tác giả Nguyễn Bách Khoa có chuyên luận “Nguyễn Du và Truyện Kiều” (1951), Hoa Bằng có Khảo luận về Truyện Thạch Sanh – tập san, số 16, năm 1956; tác giả Lê Hoài Nam có bài viết “Phạm Tải - Ngọc Hoa”, một truyện thơ Nôm khuyết danh có giá trị, Nghiên cứu văn học số 8, 1960; tác giả Ninh Viết Giao với bài Nguyễn Cảnh và “Truyện Phương Hoa”, Nghiên cứu văn học,
số 11, 1961…
Không chỉ đề cập đến các tác phẩm truyện thơ Nôm cụ thể, các công trình nghiên cứu của các tác giả ngày càng mở rộng phạm vi nghiên cứu như đề cập đến các vấn đề chung, vấn đề lịch sử thể loại, vấn đề thi pháp… Cụ thể như tác
giả Đặng Thanh Lê có Nhân vật phụ nữ qua một số truyện thơ Nôm, Tạp chí văn
học, số 1+2, 1968; tác giả Nguyễn Lộc in trên Tạp chí văn học, số 4, 1969 bài
Những vấn đề xã hội trong truyện thơ Nôm bình dân… Càng về sau, các công
trình nghiên cứu tác phẩm truyện thơ Nôm càng được các tác giả quan tâm hơn Truyện thơ Nôm còn là đối tượng nghiên cứu không thể thiếu trong các công trình nghiên cứu văn học sử của tác giả Lê Trí Viễn và Lê Hoài Nam trong cuốn
Lịch sử văn học Việt Nam, (Hà Nội, 1965); hay trong cuốn Văn học Việt Nam nửa cuối thế kỷ XVIII – nửa đầu thế kỷ XIX, tập II (Hà Nội, 1978) của tác giả Nguyễn Lộc Năm 1979 có chuyên luận Truyện Kiều và thể loại truyện thơ Nôm
của Đặng Thanh Lê; năm 1992 và 1996 tác giả Kiều Thu Hoạch cho ra đời hai
chuyên luận là Truyện thơ Nôm nguồn gốc và bản chất thể loại và Truyện thơ Nôm bình dân của người Việt – Lịch sử hình thành và bản chất thể loại; tác giả Trần Đình Sử với hai công trình nghiên cứu Mấy vấn đề thi pháp văn học Việt Nam trung đại (1999) và Thi pháp Truyện Kiều (2003); Nguyễn Thị Nhàn
(2009), Thi pháp cốt truyện truyện thơ Nôm và Truyện Kiều, Nxb Đại học sư phạm, Hà Nội… đã góp phần khẳng định bản chất thể loại của truyện thơ Nôm
Trang 15Gần đây nhất, trong nhiều luận văn thạc sĩ, nhiều bài viết trên các tạp chí Văn học nghệ thuật, các tác giả đã cụ thể đi vào nghiên cứu mối quan hệ ảnh hưởng của truyện thơ Nôm với văn học dân gian, hay ảnh hưởng của truyện thơ
Nôm với truyện truyền kỳ như: Đặc điểm truyện thơ Nôm bình dân qua một số tác phẩm có nguồn gốc từ văn học dân gian (Luận án thạc sĩ của Bùi Thị Tuyết Mai, Trường Đại học sư phạm Hà Nội, 2015); “Cuộc gặp gỡ kỳ lạ ở Bích Câu”
từ truyện truyền kỳ đến truyện thơ Nôm (Luận văn thạc sĩ của Nguyễn Thị Hoa, Trường Đại học sư phạm Hà Nội, 2016); Truyện Nôm Từ Thức dưới góc nhìn liên văn bản (Bài viết của Nguyễn Hồng Quân, in trong Tạp chí Văn học nghệ thuật số 408, tháng 6 – 2018), …
Như vậy, trên thực tế đã có rất nhiều công trình nghiên cứu về thể loại truyện cổ tích, truyện truyền kỳ và truyện thơ Nôm, hay là mối quan hệ mang tính chất kế thừa và phát triển từ thể loại cổ tích đến truyền kỳ, từ thể loại truyền kỳ đến truyện thơ Nôm, hay ảnh hưởng của thể loại văn học dân gian đến truyện thơ Nôm Nhưng chưa có một công trình nghiên cứu nào về mối quan hệ
kế thừa và phát triển từ truyện dân gian đến truyện truyền kỳ và truyện thơ Nôm
Đây là một trong những nguyên nhân thúc đẩy chúng tôi chọn đề tài: “Từ Thức
lấy vợ tiên” trong truyện cổ tích, truyện truyền kỳ và truyện thơ Nôm làm
đề tài cho luận văn cao học chuyên ngành Văn học Việt Nam của mình
3 Đối tượng và mục tiêu nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận văn là tìm hiểu sự kế thừa và biến đổi của
cốt truyện “Từ Thức lấy vợ tiên” trong truyện cổ tích, truyền kỳ và truyện
thơ Nôm được thể hiện trên các phương diện nội dung và nghệ thuật mang tính
đặc trưng của từng thể loại
3.2 Mục tiêu nghiên cứu
- Việc tìm hiểu ba tác phẩm nhằm khẳng định những đóng góp về mặt nội dung, nghệ thuật và tư tưởng của từng thể loại trên cơ sở của ba tác phẩm cùng chung cốt truyện
Trang 16- Qua đó góp phần làm rõ hơn những nét độc đáo trong phong cách nghệ thuật tư tưởng của ba tác phẩm trong thời kỳ văn học Việt Nam trung đại
4 Nhiệm vụ và phương pháp nghiên cứu
4.1 Nhiệm vụ nghiên cứu
Luận văn tập trung vào các nhiệm vụ cơ bản sau:
- Tìm hiểu những nét cơ bản về nội dung, nghệ thuật, tư tưởng trong ba
tác phẩm cổ tích Sự tích động Từ Thức, truyền kỳ Từ Thức lấy vợ tiên và truyện thơ Nôm Từ Thức tân truyện
- Xác định những giá trị về nội dung, nghệ thuật, tư tưởng của ba tác phẩm để qua đó thấy được ý nghĩa của chúng đối với văn học Việt Nam thế kỷ XVI- XVIII
4.2 Phương pháp nghiên cứu
Để thực hiện thành công luận văn, chúng tôi sử dụng kết hợp những phương pháp sau:
4.2.1 Phương pháp so sánh - loại hình
Đây là phương pháp quan trọng giúp người viết so sánh, đối chiếu ba tác phẩm trên cả hai bình diện nội dung và nghệ thuật, đồng thời áp dụng những kiến thức lý luận về đặc trưng thể loại, cốt truyện, nhân vật, ngôn ngữ… Từ đó chúng tôi rút ra được những điểm gặp gỡ, kế thừa và cả những nét riêng không lặp lại trong phong cách sáng tác và giá trị của ba tác phẩm, chỉ ra dấu ấn của
văn học dân gian qua truyện cổ tích Sự tích động Từ Thức và những đặc điểm
mới của văn học thành văn trong truyện truyền kỳ Từ Thức lấy vợ tiên và truyện thơ Nôm Từ Thức tân truyện
4.2.2 Phương pháp liên ngành
Đây là phương pháp giúp chúng tôi có cái nhìn tổng quan trong quá trình nghiên cứu Trong đó, chúng tôi sử dụng cơ bản là phương pháp văn hoá học Vì
vậy, đề tài “Từ Thức lấy vợ tiên” trong truyện cổ tích, truyện truyền kỳ và
truyện thơ Nôm được đặt trong cái nhìn biến đổi trong tương quan về đặc trưng
Trang 17thể loại, diễn biến nội dung, tư tưởng thời đại từ truyện cổ tích đến truyền kỳ và truyện thơ Nôm
4.2.3 Phương pháp nghiên cứu văn học dưới góc độ thi pháp học
Phương pháp này giúp người viết tìm hiểu các vấn đề thi pháp học như:
không - thời gian nghệ thuật, nhân vật, ngôn ngữ, thủ pháp nghệ thuật… Từ đó giúp người viết thấy được sự kế thừa và sáng tạo trong nghệ thuật thể hiện từ truyện cổ tích đến truyện truyền kỳ và truyện thơ Nôm
Ngoài ra trong luận văn chúng tôi còn sử dụng kết hợp với các phương pháp khác như: lịch sử, hệ thống và các thao tác nghiên cứu như: phân tích - tổng hợp, phân loại…
này, luận văn tập trung phát hiện những nét độc đáo về văn hóa, lịch sử, ý nghĩa
tư tưởng nhân văn mà các tác giả gửi gắm qua các tác phẩm, sự tương quan kế thừa và phát huy của mỗi thể loại gắn với mỗi giai đoạn phát triển của văn học
5.2 Phạm vi tư liệu
Chúng tôi chọn tài liệu tham khảo chính là :
- Văn bản truyện cổ tích Sự tích động Từ Thức trong Kho tàng truyện
cổ tích Việt Nam, tác giả Nguyễn Đổng Chi, Nhà xuất bản Giáo dục Việt Nam
năm 2000
- Văn bản truyện Từ Thức lấy vợ tiên in trong Cù Hựu - Tiễn đăng tân thoại, Nguyễn Dữ - Truyền kỳ mạn lục, bản dịch của Trúc Khê Ngô Văn Triện, Trần Thị
Băng Thanh giới thiệu và chỉnh lý, Nhà xuất bản Văn học, Hà Nội năm 1999
- Văn bản truyện thơ Nôm in trong Từ Thức tân truyện, Từ Thức tiên hôn,
Mai Thị Ngọc Chức sưu tầm giới thiệu, Nxb Thanh Hoá năm 1987
Trang 18Ngoài ra, chúng tôi còn tham khảo những văn bản, các cuốn sách và các bài báo có liên quan đến ba tác phẩm để phục vụ quá trình nghiên cứu
6 Đóng góp mới của luận văn
- Bước đầu nghiên cứu truyện cổ tích Sự tích động Từ Thức, truyện truyền kỳ Từ Thức lấy vợ tiên và truyện thơ Nôm Từ Thức tân truyện trong sự so
sánh một cách toàn diện từ thể loại, nội dung đến nghệ thuật để qua đó góp phần làm rõ quy luật hình thành, phát triển của truyện truyền kỳ, truyện thơ Nôm và
sự tương tác giữa ba thể loại này trong tiến trình phát triển của văn học dân tộc
- Bước đầu phát hiện và lý giải tương quan tam giáo và những sự ảnh
hưởng của chúng trong cổ tích Sự tích động Từ Thức, truyện truyền kỳ Từ Thức lấy vợ tiên và truyện thơ Nôm Từ Thức tân truyện để giúp người đọc hiểu rõ hơn
về những nét đẹp văn hóa, văn học, tín ngưỡng của dân tộc tại thời điểm ra đời của mỗi tác phẩm
- Đề tài có thể sử dụng làm tư liệu tham khảo tại nhà trường các cấp cho giáo viên và tư liệu nghiên cứu cho sinh viên, học viên
7 Cấu trúc của luận văn
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Tài liệu tham khảo, phần Nội dung chính
của luận văn gồm 3 chương:
Chương 1: Những vấn đề chung của sự tích Động Từ Thức, Từ Thức lấy
vợ tiên và Từ Thức tân truyện
Chương 2: Sự kế thừa, biến đổi nội dung tư tưởng và giá trị nhân văn qua
ba tác phẩm
Chương 3: Sự kế thừa và biến đổi một số phương diện nghệ thuật qua ba
tác phẩm
Trang 19NỘI DUNG Chương 1
NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG CỦA SỰ TÍCH ĐỘNG TỪ THỨC, TỪ THỨC
LẤY VỢ TIÊN VÀ TỪ THỨC TÂN TRUYỆN
1.1 Sơ lược về vấn đề thể loại truyện cổ tích thần kỳ và truyện kể địa danh
của Sự tích động Từ Thức
1.1.1 Tiểu loại truyện cổ tích thần kỳ
Theo cách phân loại của các nhà folklore Việt Nam hiện nay thì thể loại truyện cổ tích gồm ba tiểu loại: Truyện cổ tích loài vật, Truyện cổ tích thần kỳ
và Truyện cổ tích sinh hoạt
Truyện cổ tích thần kỳ là một trong ba tiểu loại của truyện cổ tích, mang
những đặc trưng nổi bật của thể loại truyện cổ tích, như: Phản ánh mơ ước, nguyện vọng, lý tưởng xã hội của nhân dân thông qua chiến thắng tất yếu của cái thiện, cái đẹp bằng hình thức kỳ ảo
Truyện cổ tích thần kỳ hấp dẫn người đọc nhờ có sự xuất hiện của lực lượng thần kỳ (yếu tố kỳ ảo) như: ông bụt, bà tiên, mụ phù thuỷ, con yêu tinh, những con vật, đồ vật thần kỳ, những phép màu biến hoá Yếu tố thần kỳ đã tham gia như một phần không thể thiếu trong cốt truyện, làm cho truyện thêm hấp dẫn, không có yếu tố này cốt truyện sẽ không phát triển được hoặc phát triển theo cách khác và tác phẩm sẽ không còn là một câu chuyện cổ tích thần kỳ Đồng thời sự xuất hiện của yếu tố thần kỳ đã giúp nhân dân lao động thực hiện những giấc mơ đẹp, biến những khát vọng, mơ ước của mình thành hiện thực trong tác phẩm Yếu tố thần kỳ chính là nét đặc trưng không thể thiếu của truyện
cổ tích thần kỳ, góp phần quan trọng tạo nên một thế giới cổ tích lấp lánh, mang
vẻ đẹp kỳ diệu và sức hấp dẫn kỳ lạ đối với con người
Truyện cổ tích thần kỳ có đối tượng miêu tả chính là con người Con người trong truyện cổ tích thần kỳ thường rơi vào tình trạng bế tắc, bất lực trước những khó khăn, khi đó lực lượng thần kỳ xuất hiện trợ giúp cho nhân vật vượt qua những khó khăn và xung đột của truyện sẽ được giải quyết, câu chuyện sẽ
Trang 20được phát triển tiếp tục Hầu hết các vấn đề được nêu lên trong truyện cổ tích thần kỳ đều được giải quyết trực tiếp hay gián tiếp bằng lực lượng thần kỳ
Nội dung phản ánh trong truyện cổ tích thần kỳ thường là phản ánh mâu thuẫn xã hội ở thời kỳ đã có sự phân hóa giai cấp, phân biệt giàu nghèo bằng cách thông qua những xung đột, mâu thuẫn của gia đình nhỏ … Đồng thời là sự phản ánh về số phận của những đứa trẻ mồ côi, người con riêng, người em út và
về những nhân vật bất hạnh - sản phẩm của sự chuyển giao từ chế độ mẫu quyền sang phụ quyền, từ xã hội chưa có giai cấp đến xã hội giai cấp, …
Kết cấu truyền thống của truyện cổ tích thần kỳ là kết thúc có hậu, cũng
có trường hợp kết thúc không có hậu.Những truyện cổ tích có kết thúc không có hậu thường xuất hiện ở giai đoạn sau, khi yếu tố thần kỳ đã nhạt dần và yếu tố
hiện thực trong đời sống tăng dần.Truyện cổ tích Sự tích động Từ Thức là một ví
dụ tiêu biểu
1.1.2 Truyện kể địa danh
Truyện kể địa danh là nhóm những câu chuyện“lấy nguồn gốc tên gọi
của những sự vật tự nhiên hoặc những điểm dân cư làm đối tượng phản ánh rất phong phú, nhiều vẻ.(…) tạm gọi những truyện kể như vậy là truyện kể địa danh” [18] Năm 2000, tác giả Trần Tùng Chinh, trong luận văn thạc sĩ viết về
đề tài: Bước đầu tìm hiểu truyện kể dân gian về các địa danh ở Nam Bộ cũng cho rằng:“Các truyện kể đi vào giải thích nguồn gốc tên đất, tên làng, tên sông, tên núi, tên những vị trí địa lý, địa hình của đất (…) là những truyện kể dân gian
về địa danh (…) gọi tắt là truyện kể địa danh” [10] Gần đây nhất trong luận văn thạc sĩ với đề tài: Truyện kể địa danh của người Thái ở Việt Nam, tác giả Nguyễn Thị Mai Quyên cũng đã khẳng định: “Bất cứ câu chuyện dân gian nào cho ta biết (một cách trực tiếp hay gián tiếp) vì sao ngọn núi, con sông, vùng đất, thôn làng… ấy có tên gọi như vậy đều có thể coi là truyện kể địa danh Kết quả giải thích địa danh phải là căn cư để xác định đối tượng, không thể vì truyện không lấy việc giải thích địa danh làm mục đích mà gạt bỏ ý nghĩa giải thích địa danh của chúng” [60] Như vậy, có thể nói những kết luận được nói
Trang 21đến trong các luận văn nghiên cứu của các tác giả nói trên đã cho ta một cách hiểu khá đầy đủ về thể loại truyện kể dân gian giải thích tên địa danh
Sự tích động Từ Thức là một truyện thuộc tiểu loại truyện cổ tích thần kỳ,
kể về chàng Từ Thức và nàng tiên Giáng Hương gặp nhau và nên duyên chồng
vợ Đồng thời Sự tích động Từ Thức cũng lại là một truyện mang dấu ấn của
truyện kể địa danh, khi nội dung của truyện kể về một hang động, nơi Từ Thức
đã sống cùng Giáng Hương quãng thời gian một năm ở Tiên giới bằng 300 năm
ở cõi trần Truyện hướng tới việc giải thích địa danh hang Từ Thức Về sau chính hang động này đã mang tên gọi là động Từ Thức - một địa danh kỳ thú đã lưu giữ chuyện tình huyền thoại Từ Thức và Giáng Hương
Do vậy, nghiên cứu về truyện Sự tích động Từ Thức trong dân gian chúng
tôi một mặt quan tâm tới đặc trưng của tiểu loại truyện cổ tích thần kỳ, mặt khác cũng chú ý và không bỏ qua nội dung hướng tới việc giải thích địa danh của
truyện
1.1.3 Truyện Sự tích động Từ Thức
Truyện cổ tích Sự tích động Từ Thức là câu chuyện cổ tích thần kỳ có
nhiều bản kể khác nhau như:
- Tích hang ông Từ Thức, in trong Chuyện người xưa, bản kể của Trương Vĩnh Ký Nxb Sài Gòn, xuất bản lần đầu 1886, tái bản 1974 [37]
- Từ Thức, in trong Truyện cổ Việt Nam, bản kể của Vũ Ngọc Phan, Nxb
Văn - sử - địa, Hà Nội, in lần thứ ba năm 1957 [55]
- Từ Thức gặp tiên, in trong Chuyện cổ tích, bản kể của Tô Nguyệt Đình,
Nxb Khai Trí, Sài Gòn, 1963 [15]
- Sự tích động Từ Thức, in trong Kho tàng truyện cổ tích Việt Nam, bản
kể của Nguyễn Đổng Chi, Nxb Giáo dục, Hà Nội, năm 2000.[8]
- Từ Thức in trong Nam Hải dị nhân liệt truyện, bản kể của Phan Kế
Bính, Nxb Trẻ tái bản năm 2001 [5]
Bản kể Sự tích động Từ Thức của Nguyễn Đổng Chi có thể tóm tắt như
sau: Đời nhà Trần ở châu Ái, có người làm tri huyện Tiên Du, tên là Từ Thức
Trang 22Cạnh huyện đường, có một ngôi chùa danh tiếng Trong chùa trồng toàn một loại cây mẫu đơn, đến kỳ hoa nở, người đến xem đông như hội Một năm vào kỳ hội xem hoa, có người con gái xinh đẹp, do không biết lệ chùa, rón tay ngắt một bông hoa, bị người coi hoa bắt giữ Động lòng thương, Từ Thức cởi áo ngoài chuộc lỗi cho người con gái ấy Tuy làm quan nhưng không thích cuộc sống bị ràng buộc bởi khuôn phép, nịnh trên, nạt dưới, chỉ thích uống rượu, ngâm thơ, thích đàn hát và vui thú non sông, Từ Thức bèn trả ấn tín, bá quan rồi về quê sau
đó chu du khắp nơi Từ Thức vào một hang động, lạc tới cõi tiên ở cửa Thần Phù Chàng được bà tiên gả vợ cho Đó chính là tiên nữ Giáng Hương, người con gái được chàng cứu trong hội xem hoa ngày ấy và đang cất công đi tìm Ở cõi tiên chừng ba năm, Từ Thức nhớ quê nên xin về thăm một chuyến Giáng Hương rất buồn nhưng cũng đành phải thuận lòng Thoắt chốc, Từ đã về đến nhà nhưng từ ngày chàng lên cõi tiên đã gần 300 năm nên không ai biết chàng cả Buồn rầu vô hạn, Từ Thức muốn lên xe mây đi nhưng xe đã biến mất, chàng lại khăn gói lần mò đến cửa Thần Phù, tìm lại hang cũ dẫn đến động tiên nhưng mịt
mù cây đá kín lối không thể tìm ra được nữa Chàng bỏ đi, về sau không biết là
đi đâu Từ đấy người ta gọi hang núi ở chỗ này là động Từ Thức
Sự tích động Từ Thức có kết cấu hai phần: Từ Thức gặp tiên và bi kịch Từ Thức Nhân vật chính là Từ Thức và Giáng Hương, một số nhân vật phụ lướt
qua là hai cô tiên áo xanh, bà tiên áo trắng… Các tình tiết, sự việc về cơ bản đều phát triển theo trật tự: giới thiệu về Từ Thức, Từ Thức cứu Giáng Hương ở hội xem hoa, Từ Thức lạc vào động tiên, được bà tiên gả vợ, Từ Thức nhớ nhà trở
lại trần gian, Từ Thức không bao giờ trở lại cõi tiên được nữa Sự tích động Từ Thức là loại truyện cổ tích thần kỳ đậm chất kỳ ảo, hoang đường vì người trần
đến được cõi tiên, lấy vợ tiên, sống cùng tiên
Là một truyện kể dân gian, được lưu truyền từ đời này sang đời khác,
mang đặc trưng cơ bản của tiểu loại truyện cổ tích thần kỳ, truyện Sự tích động
Từ Thức đồng thời còn mang tính chất là một truyện kể địa danh Truyện không
chỉ kể về mối lương duyên giữa một bên là người trần thế (Từ Thức) và một bên
là Tiên (Giáng Hương) - đây là một chủ đề về hôn nhân “Người - Tiên” rất phổ
Trang 23biến trong truyện cổ tích thần kỳ - mà truyện còn nhằm giải thích tên một hang
động của xứ Thanh: “Động Từ Thức nằm trong rặng Tam Điệp hùng vĩ trấn giữ mặt bắc của xứ Thanh Cấu trúc địa tầng đá vôi đã ban tặng cho khu vực miền Trung trở ra của Việt Nam rất nhiều hang động kỳ thú: Tam Thanh, Nhị Thanh của Lạng Sơn, Hương Tích của Hà Tây, Tam Cốc - Bích Động của Ninh Bình, Phong Nha - Kẻ Bàng của Quảng Bình v.v và động Từ Thức của xứ Thanh viết nên một huyền thoại giàu tính triết học nhân sinh, truyện Từ Thức gặp tiên” [ 78]
Động Từ Thức ngày nay vẫn còn dấu tích của nàng Giáng Hương, bàn cờ tiên, suối tiên, kho vàng, kho bạc, cổng trời, v.v Đến động Từ Thức, đứng trước cửa hang, phóng tầm mắt bao quát cả một vùng cảnh quan, du khách không khỏi chạnh lòng ngẫm về câu chuyện cổ Chính nơi này đây, chàng Từ Thức đã gặp tiên và câu chuyện tình chàng Từ Thức và nàng tiên Giáng Hương, câu chuyện người trần lấy tiên ấy đã trộn lẫn bao vui buồn khắc khoải này vẫn luôn là một bí ẩn trong tiềm thức muôn đời
Dãy Tam Điệp giống như con rồng đá hùng vĩ kéo từ tây sang đông, đầu cất cao hướng ra biển Đông Thời ấy, biển còn ăn sâu trong đất liền, cửa Thần Phù nổi tiếng linh thiêng, kỳ thoại:
Lênh đênh qua cửa Thần Phù
Khéo tu thì nổi, vụng tu thì chìm”
(ca dao) Nguyễn Trãi từng cảm thán bằng thơ khi đứng trước cửa Thần Phù trong một lần dẫn quân đi thị sát vùng cửa biển rằng:
Nguyên tác: 神符海口 (Thần Phù hải khẩu)
Trang 24Sóc ủng sơn liên ngọc hậu tiền
(Dịch thơ: Lê Cao Phan)
“Thần Phù một hải khẩu tại huyện Nga Sơn, tỉnh Thanh Hoá.Theo sách Đại Nam nhất thống chí, xưa đoàn chiến thuyền của vua Hùng Vương qua đây
bị gió chướng, nhờ một đạo sĩ tên là La Viên dùng phép làm biển lặng giúp vượt qua Khi trở về không thấy ân nhân nữa, vua bèn phong cho Người là Áp Lăng Chân Nhân (vị chân nhân dằn được sóng) và lập đền thờ bên bờ cửa khẩu Vua
Lê Thánh Tông về sau khi qua cửa Thần Phù cũng đã làm thơ lưu lại”[84]
Trong tưởng tượng của người xưa, động Từ Thức nằm giữa chốn mây trời hùng vĩ, nếu gặp lúc bình minh thì nơi ấy chính là chốn Bồng Lai, chàng Từ Thức đến đó như lạc vào cõi tiên Vì vậy thật dễ hiểu tại sao người xưa đã tưởng tượng ra nơi đó chính là chốn quần tiên hội ngộ, là hang động thứ sáu trong ba mươi sáu hang động của Phù Lai
1.2 Sơ lược về thể loại truyện truyền kỳ và truyện Từ Thức lấy vợ tiên
1.2.1 Sơ lược về thể loại truyện truyền kỳ
Theo tác giả Hoàng Phê, truyện truyền kỳ “có tính chất những truyện kỳ
lạ được lưu truyền lại” [56, tr 1087] Các tác giả cuốn Giáo trình Văn học trung đại Việt Nam đã khẳng định “Truyện truyền kỳ Việt Nam vốn có nguồn gốc từ truyện truyền kỳ Trung Quốc nhưng lại có một quá trình hình thành và phát triển nội sinh gắn liền với nền văn hoá và văn học dân tộc, đặc biệt là văn hoá, văn học dân gian và văn xuôi lịch sử Văn hoá dân tộc như cái nôi nuôi dưỡng truyện truyền kỳ Việt Nam trong suốt quá trình hình thành, phát triển” [75, tr
189] Truyện ban đầu được các nhà nho ghi chép lại sau đó nâng lên thành một
Trang 25thể loại văn học bác học Thể loại truyện này xuất hiện lần đầu ở Việt Nam vào
thế kỷ XIII, nhưng phải sang thế kỷ XVI, với sự có mặt của truyện Truyền kỳ mạn lục của Nguyễn Dữ, thể loại truyền kỳ Việt Nam mới thực sự được khẳng
vị thế và mang một vị trí quan trọng trong văn xuôi tự sự Việt Nam thời trung
đại, tiếp đến là Truyền kỳ tân phả của Đoàn Thị Điểm và Tân truyền kỳ lục của
Phạm Quý Thích Tuy có nguồn gốc, ảnh hưởng từ truyện truyền kỳ Trung Quốc đời Đường nhưng truyện truyền kỳ trung đại Việt Nam vẫn có một quá trình hình thành và phát triển riêng, mang vẻ đẹp bản sắc văn hoá, văn học dân tộc, đặc biệt là vẻ đẹp riêng của văn học dân gian và văn tự sự trung đại Việt Nam
Truyện truyền kỳ là một trong những thể loại quan trọng nhất của văn
xuôi trung đại Việt Nam “những thành tựu nghệ thuật của thể truyện này đã góp phần làm nên diện mạo cơ bản của bộ phận văn xuôi tự sự” [75, tr 186] Truyện cũng là “một thể loại văn xuôi nghệ thuật độc đáo, kể về những chuyện kỳ lạ được truyền tụng; nhân vật chủ yếu là người, ma quỷ; chủ đề chính là tình yêu nam nữ… Một trong những tiêu chí bắt buộc của các tác phẩm thuộc thể loại này là yếu tố kỳ ảo phải trở thành đối tượng phản ánh của truyện” [75, tr 186]
Thể loại truyện truyền kỳ luôn hấp dẫn độc giả bởi sự có mặt của hai yếu
tố kỳ và thực cùng một thế giới nhân vật rất phong phú, có khi là người, có khi là
ma, quỷ… Để làm nên tính chất kỳ lạ trong truyện truyền kỳ, tiêu chí đầu tiên không thể thiếu chính là yếu tố kỳ ảo, đây là đối tượng phản ánh chính của truyện Cho dù càng về sau này, do những thay đổi của hoàn cảnh lịch sử, xã hội
mà yếu tố kỳ ảo mờ nhạt hơn nhưng không thể mất đi vì nếu thiếu cái kỳ, truyện
dễ trở thành truyện ký và nếu thiếu cái thực truyện không thể vượt thoát khỏi giới hạn của chí quái
Chủ đề chính của truyện truyền kỳ là tình yêu nam nữ, ngoài ra cũng thể hiện tình yêu nước, hay sự quan tâm đến số phận con người,… Đồng thời, truyền kỳ cũng là một thể loại văn học nghệ thuật có sự kết hợp nhiều thể loại văn chương: văn xuôi, văn vần, thơ, từ, phú, lục… Với đặc trưng này, nhà nghiên cứu
Trần Đình Sử đã khái quát: “Truyện truyền kỳ dùng văn xuôi để kể, đến chỗ tả
Trang 26cảnh, tả tình thì dùng văn biền ngẫu, khi nhân vật bộc lộ cảm xúc thì thường làm thơ” [65, tr 294]
Loại truyện truyền kỳ có dung lượng tương đương một truyện ngắn, kết cấu mỗi truyện thường chia thành ba phần: phần mở đầu - giới thiệu danh tính, nguồn gốc nhân vật; phần nội dung - kể lại hành trạng, cuộc đời nhân vật; phần kết thúc - khẳng định tính chân thực của câu chuyện, đặc biệt phần lời bình nằm cuối mỗi truyện cũng được xem là một bộ phận hữu cơ trong kết cấu chỉnh thể của thể loại Trong mỗi truyện truyền kỳ, tác giả đều gửi gắm tiếng lòng của tầng lớp nho sĩ đương thời về việc khẳng định, bảo vệ đạo đức phong kiến, thể hiện niềm khao khát một xã hội thịnh trị
1.2.2 Nguyễn Dữ và truyện truyền kỳ Từ Thức lấy vợ tiên
1.2.2.1 Vài nét về tác giả Nguyễn Dữ và tập truyện Truyền kỳ mạn lục
Nguyễn Dữ người huyện Gia Phúc, Hồng Châu, nay là xã Đoàn Tùng, huyện Thanh Miện, tỉnh Hải Dương Cụ thân sinh ra ông là Tiến sĩ, Thượng thư Nguyễn Tường Phiêu, niên hiệu Hồng Đức thứ 27 (1546) đời vua Lê Thánh
Tông Trong bài “Tựa” cuốn Truyền kỳ mạn lục in năm 1547, tác giả Hà Thiện Hán viết rằng: “Nguyễn Dữ lúc nhỏ rất chăm học, đọc rộng, nhớ nhiều, từng ôm
ấp lý tưởng lấy văn chương nối nghiệp nhà Sau thi đậu Hương tiến, Nguyễn Dữ thi Hội nhiều lần, đạt trúng trường và từng giữ chức Tri huyện Thanh Tuyền (nay là Bình Xuyên, Phú Thọ), nhưng chỉ được một năm thì xin từ quan về phụng dưỡng mẹ già Trải qua mấy năm dư không hề đặt chân đến chốn thị thành, thế rồi ông viết ra tập Truyền kỳ mạn lục để “ngụ ý” cảm thán về thời cuộc” [75, tr 197] Trong cuốn sách Kiến văn tiểu lục, tác giả Lê Quý Đôn còn cho biết thêm: “Vì ngụy Mạc cướp ngôi, ông thề không ra làm quan, ở thôn quê dạy học trò, không bao giờ đặt chân đến chốn thị thành, viết Truyền kỳ mạn lục” [75, tr 197]
Sự nghiệp văn học của Nguyễn Dữ gắn liền với tác phẩm được cho là duy
nhất và độc đáo nhất là Truyền kỳ mạn lục Mặc dù Nguyễn Dữ chỉ xem đây là những ghi chép theo cảm hứng của ngòi bút “mạn lục” không coi đó là một sáng
Trang 27tác văn học thực thụ, nhưng thực tế tác phẩm chính là áng văn xuất sắc thời trung đại Việt Nam, bởi nó đã được độc giả mọi thời đón nhận như một tác phẩm văn học bác học thực sự Điều này đã minh chứng cho tài năng và nhân cách lớn Nguyễn Dữ
Truyền kỳ mạn lục của Nguyễn Dữ là tập truyện gồm 20 truyện được chia
thành 4 tập, mỗi tập 5 truyện Theo nhà nghiên cứu Nguyễn Phạm Hùng
“Nguyễn Dữ làm quan và cáo quan về ở ẩn rồi viết Truyền kỳ mạn lục trong khoảng thời gian trước năm 1527, dưới thời Lê” [28, tr 123, 134] Ngay từ khi
ra đời, tác phẩm đã được đón nhận, sau này trở thành đối tượng nghiên cứu đầy hứng thú đối với các nhà nghiên cứu Việt Nam, Trung Quốc, Đài Loan, Hàn Quốc, Nhật Bản
Truyền kỳ mạn lục của Nguyễn Dữ có mối quan hệ khá mật thiết với văn
học dân gian, văn xuôi lịch sử và những ảnh hưởng của văn học nước ngoài
Một số cốt truyện trong Truyền kỳ mạn lục chủ yếu được bắt nguồn từ những
câu chuyện lưu truyền trong dân gian song bản chất của nó vẫn có những ảnh hưởng rộng lớn tới đời sống xã hội Tác phẩm này được đánh giá là một viên
ngọc lung linh của thể loại văn xuôi trung đại Việt Nam Sự có mặt của nó đã
khẳng định sự trưởng thành của văn xuôi trung đại dân tộc từ văn xuôi mang
nặng tính chức năng “văn dĩ tải đạo” sang văn xuôi giàu tính nghệ thuật Ra đời
vào giai đoạn văn, sử, triết bất phân, bản chất của quá trình sáng tạo văn học không phải là hành trình đi tìm cái mới, sáng tạo ra hình thức mới để tái hiện
thực tế mà là sự thể nghiệm về đạo, hướng về đạo và đề cao đạo lý Truyền kỳ mạn lục đã cho thấy bước chuyển mình thoát khỏi những ảnh hưởng đậm nét
của văn học dân gian và văn xuôi lịch sử để chuyển sang văn xuôi tự sự Tác giả
Nguyễn Đăng Na trong: Văn xuôi tự sự trung đại Việt Nam, tập 1, truyện ngắn, Nxb Giáo dục năm 2000, đã khẳng định: “Lê Thánh Tông và Nguyễn Dữ đã phóng thành công con tàu văn xuôi tự sự vào quỹ đạo nghệ thuật: văn học lấy con người làm đối tượng và trung tâm phản ánh” [47, tr 19]
Trang 28Thế kỷ XVI, ngay sau khi ra đời, Truyền kỳ mạn lục của Nguyễn Dữ đã
được Nguyễn Thế Nghi dịch sang chữ Nôm để độc giả có thể thuận tiện trong việc tìm đọc Nguyễn Dữ đã mạnh dạn đặt bên cạnh những khuôn mẫu đạo đức
vốn được coi là “khuôn vàng thước ngọc” của xã hội phong kiến một luồng tư
tưởng mới mang theo khát khao bản năng của con người Nhiều vấn đề mang tính chất cá nhân, riêng tư, được đề cập như: số phận con người, tình yêu tự do, vấn đề tình dục trong tình yêu…, vì đây là thời kỳ đầy biến động của xã hội phong kiến Việt Nam, đặc biệt là cuộc nội chiến Lê – Mạc đã làm cho lòng
người hoang mang, thất vọng Với Truyền kỳ mạn lục của Nguyễn Dữ, người
đọc có thể nhận ra chủ trương tìm một giải pháp cho xã hội nên đặt ra vấn đề thân phận bi kịch của con người Nhưng vì nhiều lý do chủ quan và khách quan
mà cuộc tìm kiếm của ông đã rơi vào bế tắc
Truyền kỳ mạn lục của Nguyễn Dữ, hầu hết các truyện được viết bằng văn
xuôi Hán có xen những bài thơ, ca từ, biền văn Cuối mỗi truyện đều có lời bình của tác giả trước những sự việc và nhân vật để thể hiện thái độ, chính kiến và tình
cảm của nhà văn Duy chỉ có Cuộc nói chuyện thơ ở Kim Hoa (truyện 19) là
không có lời bình Không gian, thời gian nghệ thuật trong hầu hết các truyện truyền kỳ đều lấy ở các thời Lý- Trần, Hồ, Minh, Lê sơ trên địa bàn Nghệ An trở
ra Bắc Cốt truyện chủ yếu lấy từ những câu chuyện trong dân gian, cũng có
trường hợp là những truyền thuyết về các vị thần Thế giới nhân vật của Truyền
kỳ mạn lục rất phong phú: thần tiên, ma quái, tinh loài vật, cây cỏ… Tác giả
truyện truyền kỳ thường thông qua thế giới nhân vật này để gửi gắm thái độ phê phán sự nhiễu nhương, rối loạn của nền chính trị đương thời – một xã hội hắc
ám, đạo đức băng hoại, xuống cấp: vua chúa bù nhìn, dâm loạn; bề tôi thoán đoạt; bọn quan lại ỷ quyền cao chức trọng thoả sức vơ vét, nhiễu sách dân lành,…; tệ nạn nảy sinh đến mức sư sãi cũng đắm chìm trong sắc dục, thánh thần thay vì hiển linh giúp dân cũng trở thành yêu quái hại dân khiến cho muôn
dân rơi vào cảnh khốn cùng Truyền kỳ mạn lục của Nguyễn Dữ không chỉ tái
hiện lại một xã hội thối nát, nhiễu nhương, không chỉ chú trọng vào việc lên án,
Trang 29phê phán mà trong mỗi trang viết của ông luôn thấm đẫm tinh thần nhân đạo, nhân văn sâu sắc, nhất là khi viết về những người phụ nữ có số phận bé nhỏ, bất hạnh, chịu nhiều khổ đau hay còn là những người trí thức (nho sĩ) đương thời Ông luôn dành cho họ sự trân trọng, ngợi ca nhân cách cứng cỏi, thanh cao, mặc
dù không tìm được lối thoát trên con đường hành đạo, phải sống “ẩn dật” song
về bản chất vẫn là sự gắn bó chặt chẽ với cuộc đời Phải chăng, đây là loại hình nhân vật mang hình bóng và tâm sự của chính Nguyễn Dữ Tác giả Bùi Duy Tân
trong bài viết “Truyền kỳ mạn lục, một thành tựu của truyện ký văn học viết bằng chữ Hán”, in trong Văn học Việt Nam từ thế kỷ X đến nửa đầu thế kỷ XVIII, Tập II, Nxb Đại học và trung học chuyên nghiệp, Hà Nội, đã khẳng định:
“Truyền kỳ mạn lục tuy có vẻ là những “truyện kỳ lạ” xảy ra hàng trăm năm về trước, nhưng về thực chất lại phản ánh được những phần sâu sắc của xã hội đương thời Và trên thực tế thì đằng sau thái độ dè dặt, khiêm tốn, Nguyễn Dữ rất tự hào về tác phẩm của mình, tác phẩm mà qua đó ông đã bộc lộ tâm tư, thể hiện hoài bão, phát biểu nhận thức, bày tỏ quan điểm về những vấn đề lớn của
xã hội, của con người trong khi xã hội phong kiến đang suy thoái” [67, tr 242]
Theo dòng thời gian, Truyền kỳ mạn lục của Nguyễn Dữ luôn đón nhận
được sự quan tâm và đánh giá rất cao từ phía độc giả và giới nghiên cứu bởi giá trị đích thực của nó Ẩn sau lớp vỏ hình thức kỳ ảo lại là những vấn đề nhân sinh, những vấn đề có ý nghĩa xã hội to lớn được tác giải cô nén thông qua số phận các nhân vật trong truyện Vì vậy, từ mỗi câu chuyện truyền kỳ, Nguyễn
Dữ đã tái hiện lại hiện thực cuộc sống của một giai đoạn lịch sử đầy bi thương của dân tộc Việt Nam thế kỷ XVI
1.2.2.2 Truyện Từ Thức lấy vợ tiên trong Truyền kỳ mạn lục của Nguyễn Dữ
Truyện Từ Thức lấy vợ tiên, là câu chuyện thứ 9 trong Truyền kỳ mạn lục
của Nguyễn Dữ Câu chuyện về chàng Từ Thức sống vào đời nhà Trần, niên hiệu Trần Thuận Tông (1388-1389), người Hóa Châu (Thanh Hoá ngày nay), vì
có phụ ấm được bổ làm quan Tri huyện Tiên Du (Tỉnh Bắc Ninh ngày nay) Bên cạnh huyện đường có một tòa chùa danh tiếng Trong chùa có một cây mẫu đơn,
Trang 30đến kỳ hoa nở, người đến xem đông như hội Tháng 2 Bính Tý (1396) người ta thấy có người con gái xinh đẹp tuyệt vời đến xem hội, vin vào cành hoa không may làm gãy, bị người coi hoa bắt giữ Động lòng thương, Từ Thức cởi áo cừu gấm trắng chuộc lỗi cho người con gái ấy Mọi người khen quan huyện là một người hiền đức Tuy làm quan nhưng không mẫn cán, Từ Thức thường bị quan trên quở trách Lại thêm tính hay rượu, thích đàn, ham thơ, mến cảnh, Từ Thức bèn trả ấn tín, từ quan bỏ về
Vốn yêu cảnh hang động ở huyện Tống Sơn (Thanh Hóa ngày nay), nên
Từ Thức đã dựng lều cỏ để ở Ngao du ở đâu cũng mang theo một bầu rượu, một
cây đàn, mấy quyển thơ của Đào Uyên Minh, (là thi gia đời Đông Tấn Từng làm Huyện lệnh Bành Trạch, sau vì không chịu luồn cúi nên treo ấn từ quan) hễ gặp chỗ nào thích ý như núi Chích Trợ, động Lục Vân, sông Lãi, cửa Nga
(những thắng cảnh của Thanh Hóa) thì ngả rượu ra uống và đều có thơ đề vịnh
Một hôm Từ Thức dậy sớm trông ra bể Thần Phù (cửa sông ra bể, thuộc huyện Nga Sơn, nay thuộc tỉnh Thanh Hóa) ở phía ngoài xa vài chục dặm, thấy có đám
mây ngũ sắc đùn đùn kết lại như một đóa hoa sen mọc lên, vội chèo thuyền ra thì thấy một trái núi rất đẹp Bèn buộc thuyền lên bờ thì thấy những vách đá cao vút nghìn trượng, sừng sững đứng thẳng Chợt thấy ở trên vách đá bỗng nứt toác
ra một cái hang Từ vén áo đi vào, đi mò độ hơn một dặm thì thấy có đường đi ngoi lên Lên đến ngọn núi thì bầu trời sáng sủa Chung quanh toàn là những lâu đài nguy nga, mây xanh ráng đỏ, bám ở lan can, cỏ lạ hoa kỳ, nở đầy trước cửa
Từ Thức nghĩ nếu không phải là chỗ đền đài thờ phụng, tất là cái xóm của
những bậc lánh đời, như những nơi núi Thứu nguồn Đào (nơi ẩn dật, hay cõi tiên) Từ đi theo hai cô tiên áo xanh đến gặp bà tiên áo trắng và được biết nơi
đây là núi Phù Lai, một động tiên thứ 6 trong 36 động, bồng bềnh ở ngoài bể cả, dưới không có bám bíu, như hai núi La Phù tan hợp theo với sóng rợn Bà tiên chính là địa tiên ở Nam nhạc, là Ngụy phu nhân, bà có con gái tên là Giáng Hương, ngày trước gặp phải cái nạn trong khi đi xem hoa, nhờ chàng cứu giúp,
Trang 31ơn ấy không quên, nay muốn cho nó kết duyên để báo đền ơn trước Ngay đêm
ấy tiệc cưới diễn ra linh đình có quần tiên đến dự tiệc
Từ Thức ở cõi tiên thấm thoắt đã một năm Một hôm, Từ nói với Giáng Hương: Tôi bước khách bơ vơ, lòng quê bịn rịn, lệ hoa thánh thót, lòng cỏ héo hon, dám xin thể tình mà cho được tạm về? Giáng Hương bùi ngùi không nỡ
dứt, nàng khóc mà nói: Thiếp chẳng dám vì tình phu phụ mà ngăn cản mối lòng quê hương của chàng Song cõi trần nhỏ hẹp, kiếp trần ngắn ngủi, dù nay chàng
về nhưng chỉ e liễu sân hoa vườn, không còn đâu cảnh tượng như ngày trước nữa Khi chia biệt nàng đưa cho chàng một bức thư viết lụa Chàng đi chỉ thoắt
chốc đã về đến nhà, thì thấy vật đổi sao dời, thành quách nhân gian, hết thảy đều không như trước nữa, duy có những cảnh núi khe là vẫn không thay đổi sắc biếc mầu xanh thủa nọ Bèn đem tên họ mình hỏi thăm những người già cả thì thấy
có người nói: Thuở bé tôi nghe nói ông cụ tam đại nhà tôi cũng cùng tên họ như ông, đi vào núi mất đến nay đã hơn 80 năm, nay đã là năm thứ 5 niên hiệu Diên Ninh là đời ông vua thứ ba của triều Lê rồi Chàng bấy giờ mới hậm hực bùi
ngùi, muốn lại lên xe mây để đi, nhưng xe đã hóa làm một con chim loan mà bay mất Mở thư ra đọc mới biết là Giáng Hương đã nói trước với mình những lời ly biệt Chàng bèn mặc áo cừu nhẹ, đội nón lá ngắn, vào núi Hoành Sơn, rồi sau không không biết đi đâu mất
Truyện Từ Thức lấy vợ tiên trong Truyền kỳ mạn lục của Nguyễn Dữ là một trong những câu chuyện lấy cốt truyện từ truyện cổ tích thần kỳ Sự tích động Từ Thức Nhưng không đơn thuần chỉ là câu chuyện tình yêu đẹp giữa
người trần tục (Từ Thức) với một nàng tiên (Giáng Hương), hay chỉ để giải thích tên một hang động là Động Từ Thức hay còn gọi là Động Bích Đào như đã nói ở phần trên, mà còn phản ánh những vấn đề của cuộc sống nhân sinh Người đọc
có thể dễ dàng nhận thấy sự mượn có ý thức không hề thụ động của Nguyễn Dữ đối với những cốt truyện có nguồn gốc từ văn học dân gian nói chung và truyện
cổ tích thần kỳ Sự tích động Từ Thức nói riêng Không chỉ đơn thuần phản ánh
quan niệm về hạnh phúc của con người trần tục, truyện còn đề cập đến tình yêu,
Trang 32hạnh phúc hay sầu muộn, khổ đau của tiên nữ Giáng Hương: được gặp lại người mình yêu vẻ mặt nàng hồng hào, tươi tắn, khi phải từ biệt chồng, duyên tình chia cắt nàng cũng đau khổ, ngậm ngùi Tiên nữ Giáng Hương cũng có tình yêu, cũng có nỗi buồn đau của con người trần thế Trái tim nàng cũng mang những khát khao yêu đương, khát khao hạnh phúc hay những đau khổ nhớ nhung Giáng Hương phải chăng cũng chính là biểu tượng của vẻ đẹp tâm hồn, của khát vọng tình yêu tự do, hạnh phúc trọn vẹn và số phận của người phụ nữ mọi thời
Ngoài ra, truyện Từ Thức lấy vợ tiên của Nguyễn Dữ còn đề cập đến cuộc
đời của kiểu nhân vật dật sĩ (người ẩn dật) Thể hiện khá rõ thái độ bất hợp tác với triều chính, phê phán triều đình không biết dùng người hiền để mang lại ấm
no, hạnh phúc cho dân, cho nước… họ thường tìm cách sống lánh đời, hòa nhập trong thiên nhiên, chọn cách sống làm bầu bạn với cỏ cây, mây nước, chim muông,… một không gian thiên nhiên tĩnh lặng, trong sạch, thanh bình Người dật sĩ đã chọn cách sống hoà mình trong không gian ấy để chối bỏ lợi danh, để được sống ung dung, tự tại, được sống là chính mình: trong trắng, liêm khiết,
đạo cao, đức trọng Câu chuyện của chàng Từ Thức không chịu “buộc mình trong áng lợi danh” đi theo tiếng gọi của thiên nhiên, trăng nước, mây trời Sau
đó nhờ thiên duyên với Giáng Hương mà được lên cõi tiên và sống cuộc sống nơi tiên giới, giống như một thể nghiệm về một cuộc sống khác của ẩn sĩ lánh đời lúc bấy giờ
Từ Thức tuy đã tìm thấy hạnh phúc nơi tiên đảo cùng tiên nữ Giáng Hương, nhưng dù tấm thân có sống nơi tiên cảnh thì tấm lòng vẫn không thôi ngóng về cuộc sống trần gian Vì vậy, chàng đã quyết quay trở về cõi trần để thoả nỗi nhớ quê hương, nhớ người thân và hẹn ngày tái ngộ, sum vầy cùng Giáng Hương nơi tiên cảnh, ai ngờ lần ra đi này cũng là lần cách biệt, không thể quay trở lại của chàng Một năm trên trời bằng trăm năm dưới trần gian, về tới quê hương nhưng cảnh vật, làng quê cũng như con người đều đổi khác Phải chăng, thể hiện hình tượng nhân vật như vậy, Nguyễn Dữ đã bộc lộ sự lúng túng trong việc tìm kiếm một cách sống cho dật sĩ cũng như cho chính ông đương
Trang 33thời Chàng Từ Thức mang hình bóng và tâm sự của Nguyễn Dữ có thể cộng tác với triều chính song lựa chọn con đường thoái ẩn lại là một lựa chọn tốt hơn với bản thân trong hoàn cảnh xã hội đương thời Từ Thức có lên cõi tiên rồi cuối cùng cũng trở về với trần tục Như vậy, trong sâu thẳm khát vọng của dật sĩ, họ vẫn ngóng trông về thế tục - đó mới là nơi họ cháy hết mình cho khát vọng và lý tưởng sống Song do hoàn cảnh xã hội mà họ không thể tiếp tục cộng tác Thái
độ từ quan - quy ẩn của Nguyễn Dữ có thể nói là sự kết tinh hình bóng và tâm sự của kẻ sĩ Việt Nam trước ông, sau ông và đương thời
Truyện Từ Thức lấy vợ tiên của Nguyễn Dữ đã vay mượn cốt truyện của truyện cổ tích Sự tích động Từ Thức Tuy nhiên, tác giả truyện truyền kỳ này đã
thể hiện rõ sự sáng tạo khi mở rộng chủ đề và đề cập đến vấn đề thân phận của người trí thức trong xã hội phong kiến chuyên quyền đương thời trong truyện, ở
đó họ không có chỗ dung thân và ở đó họ không thể tự do thực hiện được lý
tưởng của mình Đúng là “Dưới ngòi bút của nhà văn họ Nguyễn, cái thần kỳ,
cổ tích đã được nhào nặn để thành chất liệu hiện thực, gắn liền với đời thường”
[75, tr 201]
Tựu chung lại, chúng ta có thể nói lần đầu tiên trong văn học Việt Nam, một phương thức nghệ thuật mới thể hiện một nội dung thời đại đã được khẳng
định ở Truyền kỳ mạn lục của Nguyễn Dữ Ở tác phẩm này, nội dung phản ánh
thời đại ra đời dưới phương thức kỳ ảo như là một yếu tố nghệ thuật phục phụ đắc lực cho tư tưởng tác giả Điều đặc biệt quan trọng là chủ nghĩa nhân văn vốn
đã manh nha trong văn học giai đoạn trước, đến giai đoạn này Nguyễn Dữ đã kế thừa và tiếp thu một cách tích cực Kế thừa và sáng tạo từ kết cấu cốt truyện, đề tài, môtip của văn học dân gian, nhà văn đã chứng minh được vị trí và vai trò, sức mạnh, tầm quan trọng của con người trong vũ trụ Ông cũng là một trong những nhà văn đầu tiên đặt vấn đề tình yêu nam nữ tự do, khát vọng hạnh phúc
tự do, khát vọng sống tự do vượt ra ngoài khuôn khổ của lễ giáo phong kiến
Với những thành công về nhiều phương diện kể trên, Truyền kỳ mạn lục của
Nguyễn Dữ luôn là đối tượng thú vị và hấp dẫn trong các đề tài nghiên cứu
Trang 341.3 Vấn đề tác giả và thể loại truyện thơ Nôm Từ Thức tân truyện
1.3.1 Sơ lược về thể loại truyện thơ Nôm
Ở Việt Nam, truyện thơ Nôm có hình thức đầu tiên là những bài hát tự sự của các nghệ nhân hát rong, những bài hát tự sự này phần lớn do các nghệ nhân sáng tác hoặc dựa trên cơ sở của truyện cổ dân gian, hoặc rút ra từ một truyện thơ Nôm đã có trước Càng về sau, những bài hát này càng được bồi bổ thêm về mặt nội dung cũng như nghệ thuật và đến một lúc nào đó bài hát đã được ghi vào trong sách, từ đó chính thức trở thành một truyện thơ Nôm Ðể tuyên truyền đạo Phật cho các tín đồ mà phần đông là không biết chữ, một số nhà sư có học
đã nghĩ ra cách diễn Nôm một số sự tích trong kinh Phật, hình thức này ngày càng phát triển và nhiều truyện thơ Nôm đã xuất hiện theo con đường này Tuy nhiên, giai đoạn đầu truyện thơ Nôm truyền khẩu và truyện thơ Nôm viết cùng tồn tại song song Cho đến nay chúng ta vẫn chưa xác định được truyện thơ Nôm viết xuất hiện vào thời gian nào trong lịch sử văn học vì hầu hết các truyện
thơ Nôm còn lại đều không có tên tác giả và thời điểm sáng tác (Từ Thức tân truyện là một ví dụ) Nguyên nhân là do tâm lý coi thường các sáng tác bằng chữ
Nôm, xem đây là loại văn học nhảm nhí, nôm na, mách qué, cho nên khi các sáng tác bằng chữ Nôm ra đời tác giả của chúng không được chú ý đến và dần dần bị quên lãng, hoặc do sự cấm đoán, thái độ thù địch của giai cấp thống trị nên nhiều tác giả đã không dám lưu danh trong sáng tác, hoặc do chính nguyên nhân phát triển văn học, do trước khi được ghi chép bằng chữ quốc ngữ, truyện thơ Nôm đã được lưu hành trong nhân dân chủ yếu là bằng miệng, qua một thời gian dài lưu hành từ người này sang người khác, từ vùng này sang vùng khác nhiều truyện thơ Nôm dần dần mất tên tác giả ban đầu và trở thành tác phẩm
khuyết danh, có truyện đã trở nên rất gần gũi với các truyện cổ dân gian như Từ Thức tân truyện
Là loại hình tự sự có khả năng phản ánh hiện thực với một phạm vi tương đối rộng, được sáng tác bằng chữ Nôm, hầu hết các tác phẩm được viết theo thể lục bát- thể thơ dân tộc, cũng có một số ít tác phẩm viết theo thể thất ngôn bát cú
Trang 35(thơ Ðường luật) Khoảng thế kỷ XV bộ phận văn học Nôm ra đời và phát triển cực thịnh vào thế kỷ XVIII đến thế kỷ XIX Theo khảo sát truyện thơ Nôm lục bát của Phùng Khắc Khoan được viết từ thế kỷ XVI, được nhắc đến nhiều là tác
phẩm Lâm tuyền vãn, gồm 185 câu, gắn với thời gian tác giả bị lưu đày Đến thế
kỷ XVII, xuất hiện nhiều hơn các tác phẩm truyện thơ Nôm lịch sử và diễn ca tôn giáo như các sự tích về Phật Bà, Phật Mẫu, Phật Bà Quan Âm Thị Kính…,
Đặc biệt là sự xuất hiện của những truyện thơ Nôm về đề tài xã hội như Thoại Khanh – Châu Tuấn, Tống Trân – Cúc Hoa… Phần lớn các truyện thơ Nôm lưu
hành hiện nay cũng ra đời trong hai thế kỷ XVIII - XIX Sự xuất hiện và chiếm lĩnh vị thế cao của thể loại truyện thơ Nôm là minh chứng sống chứng minh cho thể thơ lục bát của dân tộc đã phát huy được ưu thế của nó trong việc thuật, kể lại các sự kiện về cuộc đời nhân vật và tỏ ra rất thích hợp để dễ dàng lưu truyền
Có thể nói đây là hai thế kỷ tạo dấu ấn rực rỡ nhất của thể loại truyện thơ Nôm
Những truyện thơ Nôm có tên tác giả như Truyện Hoa tiên của Nguyễn Huy Tự, truyện Đoạn trường tân thanh của Nguyễn Du, Sơ kính tân trang của Phạm
Thái… cũng được đón nhận và lưu truyền mạnh mẽ Đây là lúc những vấn đề về thực trạng xã hội hay những vấn đề về số phận con người được ký thác nhiều nhất trong các sáng tác truyện thơ Nôm Đến cuối thế kỷ XIX, sang đầu thế kỷ
XX việc sáng tác truyện thơ Nôm dần dần chấm dứt “Truyện thơ Nôm từ giã văn đàn, kết thúc sứ mệnh lịch sử của mình” [50; tr 117], vì thể loại văn xuôi
mới ra đời đã đủ sức thay thế nó
Về việc phân loại truyện thơ Nôm cũng có nhiều tiêu chí khác nhau: dựa vào nguồn gốc, đề tài của truyện hay dựa vào nội dung và hình thức của truyện Loại truyện có đề tài, cốt truyện từ các truyện cổ dân gian có các truyện như
Trương Chi, Tấm Cám, Thạch Sanh… Loại truyện lấy đề tài, cốt truyện từ văn học Trung Quốc có các truyện như Truyện Hoa Tiên, Nhị độ mai, Phan Trần…
Loại truyện lấy đề tài, cốt truyện từ những sáng tác chữ Hán hoặc những sự tích
có thật ở Việt Nam có các truyện như Tống Trân - Cúc Hoa, Bích Câu kỳ ngộ
Dựa vào nội dung và hình thức, có hai loại là truyện thơ Nôm bình dân do các
Trang 36nho sĩ bình dân sáng tác và truyện thơ Nôm bác học do các nhà nho thuộc tầng lớp trên sáng tác Loại truyện thơ Nôm bình dân có nội dung mang đậm tính chất quần chúng, với nghệ thuật mộc mạc, giản dị; loại truyện thơ Nôm bác học
có phần phức tạp hơn truyện thơ Nôm bình dân, nghệ thuật điêu luyện hơn truyện thơ Nôm bình dân Truyện thơ Nôm hữu danh (còn tên tác giả) ví như
Truyện Hoa tiên của Nguyễn Huy Tự, loại này còn lại không nhiều Truyện thơ
Nôm hữu danh phần lớn là truyện thơ Nôm bác học Truyện thơ Nôm khuyết danh (không còn tên tác giả) Phần lớn các truyện thơ Nôm khuyết danh là truyện thơ Nôm bình dân
1.3.2 Về đặc điểm truyện thơ Nôm bình dân
1.3.2.1 Đặc điểm nội dung
Truyện thơ Nôm bình dân có một phong cách gần giống với truyện cổ dân gian, nhất là cổ tích thần kỳ Phần lớn các truyện thơ Nôm bình dân đều mượn kết cấu, cốt truyện của truyện cổ tích thần kỳ và bảo lưu khuôn dạng của truyện
cổ Cơ sở cốt truyện là xung đột xã hội, xung đột giữa thiện, ác nhưng các truyện thơ Nôm bình dân chỉ biểu hiện ở góc độ bảo vệ tình yêu, hạnh phúc, chống lại sự thống trị của giai cấp phong kiến, có kết cấu theo đường thẳng và kết thúc có hậu, tình tiết phát triển theo sự phát triển của nhân vật chính Cũng như truyện cổ tích, truyện thơ Nôm được nâng đỡ bằng đôi cánh của sự tưởng tượng, của sức lãng mạn bay bổng, kỳ ảo Yếu tố kỳ ảo trong truyện thơ Nôm cũng chính là vũ khí đấu tranh bằng tinh thần của con người trong những hoàn cảnh nghiệt ngã nhất
Việc vay mượn cốt truyện của truyện thơ Nôm rất phong phú, có khi vay mượn từ những tích cũ, truyện cũ được lưu truyền trong dân gian như truyện
Thạch Sanh, Trương Chi… Có khi vay mượn cốt truyện trong kho tàng tiểu thuyết cổ điển Trung Quốc như Song Tinh, Hoa Tiên, Nhị độ mai, Đoạn trường tân thanh… Hay từ các truyện chí quái, truyền kỳ Việt Nam như Truyện Từ Thức, Bích Câu kỳ ngộ… Hiện tượng vay mượn này là không tránh khỏi bởi do
quá trình phát triển và giao lưu với văn hoá, văn học khu vực Đặc biệt có những
Trang 37truyện thơ Nôm được ra đời từ chính sự hư cấu cảnh ngộ cuộc đời tác giả, hay từ
chính thực trạng xã hội tác giả đang sống như truyện Chàng Lýa, Lục Vân Tiên,… Đây là một trong những nguyên nhân làm nên sự phong phú, đa dạng về
phương diện nội dung của truyện thơ Nôm
Truyện thơ Nôm bình dân đặt ra các vấn đề trung tâm để phán ánh là cuộc đấu tranh giai cấp, cuộc đấu tranh của những người bị áp bức chống cường quyền bạo chúa, tố cáo bộ mặt thối nát, tàn bạo của xã hội phong kiến trên bước đường suy vong của nó, bảo vệ tình yêu thủy chung, bảo vệ hạnh phúc gia đình, bảo vệ nhân phẩm, đề cao phẩm chất tốt đẹp của quần chúng lao động… Ngoài
ra các tác giả truyện thơ Nôm bình dân cũng thường đưa ra những cách giải quyết tích cực, tiến bộ các vấn đề xã hội… Đây là những đặc điểm chính về nội dung của truyện thơ Nôm bình dân, những đặc điểm này cũng đã nói lên rằng truyện thơ Nôm bình dân có một nội dung gần gũi với quan niệm đạo đức, thẩm
mỹ của quần chúng lao động
Nhằm mục đích tố cáo tội ác của giai cấp thống trị, vạch rõ bản chất của
xã hội phong kiến, nói lên những nỗi thống khổ của quần chúng lao động, tác giả của truyện thơ Nôm bình dân đã phơi bày chân dung thực vốn nhơ bẩn của giai cấp thống trị Có thể nói, cùng với bộ phận văn học dân gian, truyện thơ Nôm bình dân đã giúp chúng ta tìm hiểu thêm được nhiều mặt thuộc về bản chất của xã hội phong kiến Vì lẽ đó những truyện thơ Nôm khuyết danh đã xây dựng được một hệ thống nhân vật phản diện từ vua chúa, quan lại, bọn nhà giàu ở nông thôn cho đến cả thần thánh (những thần thánh tàn ác) Qua hệ thống nhân vật phản diện này các tác giả đã tố cáo và vạch trần bản chất xấu xa của giai cấp bóc lột, áp bức đồng thời nói lên tình trạng thống khổ của các tầng lớp nhân dân với một thái độ đồng tình sâu sắc
Nếu truyện thơ Nôm bác học thường coi vua chúa như những thần tượng thiêng liêng tôn quý, thì truyện thơ Nôm bình dân lại coi vua chúa chỉ là những tên hôn quân, bạo chúa, chúng sẵn sàng ép duyên trắng trợn, chúng đã ép các tân khoa trạng nguyên phải bỏ vợ để lấy con gái mình, hay những người con gái đẹp
Trang 38như Ngọc Hoa bị ép phải bỏ chồng để lấy vua (Phạm Tải – Ngọc Hoa) Quan lại
trong truyện thơ Nôm bình dân hiện lên chỉ là những kẻ bất tài, vô dụng, chỉ giỏi
việc xu nịnh vua, giỏi ức hiếp dân lành (truyện Phương Hoa) Bọn nhà giàu ở
nông thôn như bọn phú ông, trưởng giả với tâm lý tham tiền chúng có thể làm
tất cả, coi con gái như một món hàng gả bán (truyện Tống Trân - Cúc Hoa)
Ðồng thời tác giả của bộ phận văn học này đã nói lên được nỗi thống khổ của quần chúng lao động khi hạnh phúc tan vỡ, tính mạng bị đe dọa với một thái độ đồng tình sâu sắc
Ðề cao những phẩm chất tốt đẹp của quần chúng lao động, truyện thơ Nôm bình dân đã xây dựng các nhân vật chính là những người sẵn lòng yêu thương, cưu mang những con người sa cơ, lỡ vận, có tấm lòng chí hiếu đối với
mẹ chồng, nổi bật nhất vẫn là tình cảm, tình yêu của những cặp vợ chồng, họ yêu thương thắm thiết và chung thủy hết mực với nhau Sự chung thủy của cặp
vợ chồng Phạm Công - Cúc Hoa, Phạm Tải - Ngọc Hoa đã giúp họ vượt qua mọi thử thách, mọi cảnh ngộ éo le mà xã hội phong kiến đã bày ra, giúp họ vượt lên trên sự cám dỗ của giàu sang, phú quý và luôn đứng vững trước sự đe dọa của cường quyền, bạo lực
Ðề cao quần chúng lao động, bộ phận văn học này đặc biệt chú ý vào việc đề cao vẻ đẹp ngoại hình, vẻ đẹp phẩm hạnh… của người phụ nữ Các nhân vật phụ nữ xuất hiện trong các truyện thơ Nôm bình dân với một tư thế của người vươn lên làm chủ vận mệnh Cúc Hoa, Ngọc Hoa đã cương quyết lấy người con trai mình yêu, đến với họ bằng tấm lòng yêu thương và thông cảm
cho dù chàng trai đó là kẻ ăn mày nghèo khổ, bần hàn Một số nhân vật nữ
không chỉ dám chủ động xây dựng hạnh phúc mà còn tích cực đấu tranh để bảo
vệ hạnh phúc và tình yêu đẹp của mình
Tác giả của những truyện thơ Nôm bình dân có thể là tầng lớp nhà nho bình dân, hoặc những nho sĩ ẩn dật, lánh đồi Họ có cuộc sống khá gần gũi với quần chúng nhân dân nên rất hiểu người dân Bởi vậy bên cạnh việc phản ánh nỗi thống khổ của quần chúng lao động họ luôn tìm hướng giải quyết tích cực để
Trang 39những người lương thiện luôn chiến thắng các thế lực bạo tàn, đồng thời phản ánh những ước mơ đẹp, tinh thần lạc quan, niềm tin mãnh liệt của nhân dân vào
sự chiến thắng của chính nghĩa đối với hung tàn, của cái thiện đối với cái ác Đặc biệt trong các sáng tác của mình họ luôn tiếp thêm niềm tin vào sự sống cho những người lao động trong xã hộ xưa, tìm đến những sáng tạo nghệ thuật này một phần cũng vì lý do trên
Tuy nhiên so với văn học dân gian, truyện thơ Nôm bình dân cũng có một
số nét khác biệt, sự khác biệt đã thể hiện ở phạm vi phản ánh rộng hơn các câu chuyện cổ Tác giả truyện thơ Nôm bình dân đã chú ý mô tả một số cảnh sinh hoạt xã hội và con người, yếu tố trữ tình ít nhiều đã có vị trí đáng kể, thỉnh thoảng có tác giả đã chú ý miêu tả tâm trạng của nhân vật Tác giả truyện thơ Nôm bình dân không còn dùng những lời bình luận, triết lý về cuộc đời của tác giả ở đầu hay cuối truyện như truyền kỳ
1.3.2.2 Đặc điểm nghệ thuật
Kết cấu truyện thơ Nôm bình dân cũng như kết cấu truyện thơ Nôm bác
học, được xây dựng theo mô hình ổn định: Gặp gỡ - tai biến – đoàn tụ Nhân vật
xuất hiện số lượng nhiều hay ít tuỳ theo phạm vi hiện thực, cuộc sống được tác giả phản ánh trong tác phẩm Vì vậy có những tác phẩm có tới 50 nhân vật như
Phạm Công – Cúc Hoa, cũng có tác phẩm chỉ có 3 nhân vật như Bích Câu kỳ ngộ Hầu hết nhân vật trong truyện thơ Nôm được chia ra thành hai tuyến Thiện
– Ác, cũng có những tác phẩm chỉ có nhân vật chính diện, không có nhân vật
phản diện như: Phan Trần, Bích Câu kỳ ngộ, Từ Thức…
Trong Truyện thơ Nôm, các nhân vật nam thường ít được chú trọng trong miêu tả ngoại hình, nhưng thường là người có học thức, thành đạt, nhân vật nữ thường được chú trọng miêu tả kĩ về ngoại hình theo lối ước lệ, công thức và mang tính quy phạm, nhân vật nữ trong truyện thơ Nôm không chỉ đẹp người
mà còn đẹp nết, rất thuỷ chung và sẵn sàng vượt qua mọi khó khăn, trở ngại để đạt được hạnh phúc Tính cách của nhân vật truyện thơ Nôm được thể hiện qua
Trang 40ngôn ngữ trực tiếp của nhân vật Do đó, ngôn ngữ độc thoại, đặc biệt là đối thoại của nhân vật chiếm số lượng rất nhiều trong tác phẩm truyện thơ Nôm
Về ngôn ngữ truyện thơ Nôm, hầu hết mỗi tác phẩm đều cùng tồn tại song song hai hệ thống ngôn ngữ bình dân và ngôn ngữ bác học Cũng có những tác
phẩm ngôn ngữ nghệ thuật đạt đến độ chính xác, tinh vi như tác phẩm Đoạn trường tân thanh của đại thi hào Nguyễn Du
Nhìn chung, do những hạn chế của lịch sử cho nên các tác giả truyện thơ Nôm bình dân chưa nhìn thấy ở hiện thực động lực để giải quyết các vấn đề thời đại đặt ra, cho nên trong đấu tranh họ phải nhờ đến những lực lượng siêu hình như thần Phật giúp đỡ Nhưng thần Phật cũng chỉ có mặt để cho con người chiến đấu hết mình với hoàn cảnh Tuy còn có một số hạn chế nhất định nhưng truyện thơ Nôm bình dân vẫn là một bộ phận văn học có giá trị, là vốn quý trong gia tài văn hóa chung của dân tộc Bộ phận văn học này đã đóng góp tiếng nói vào loại hình tự sự của nền văn học nước nhà Cùng với các bộ phận truyện thơ Nôm khác, bộ phận truyện thơ Nôm khuyết danh đã tạo nền để trên cơ sở đó xuất hiện
kiệt tác Truyện Kiều của Nguyễn Du
1.3.3 Về truyện thơ Nôm Từ Thức tân truyện
Văn bản về chuyện Từ Thức hiện có:
- Từ Thức tân truyện, Quan Văn Đường tàng bản, khắc in năm Duy Tân
Nhâm Tí (1912), tại Thư viện Khoa học Trung ương, ký hiệu AN 216 Truyện dài 608 câu lục bát
- Từ Thức tân truyện (quốc ngữ), do Nguyễn Ngọc Xuân phiên âm, (nhà
in Văn Minh, Hà Nội xuất bản năm 1919)
- Truyện Từ Thức (quốc ngữ), nhà xuất bản Văn học in năm 1963, do Vũ
Ngọc Khánh soạn
- Từ Thức tiên hôn, Tác phẩm xuất bản bằng quốc ngữ sau năm 1920, do
Lê Khắc Khuyến, hiệu Nguyệt Đình, người xã Hoằng Quang, huyện Hoằng Hoá, Thanh Hoá soạn