1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Văn xuôi ninh bình sau 1975

110 41 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 110
Dung lượng 1,76 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Sự đổi mới của văn học Ninh Bình sau 1975 nói chung, văn xuôi nói riêng ngày càng phản ánh sâu sắc, phong phú quá trình tiếp nhận sự tác động của đời sống và lịch sử, có sự kế thừa những

Trang 1

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM

ĐINH THỊ THU

VĂN XUÔI NINH BÌNH SAU 1975

LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÔN NGỮ, VĂN HỌC VÀ VĂN HÓA VIỆT NAM

THÁI NGUYÊN - 2019

Trang 2

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM

ĐINH THỊ THU

VĂN XUÔI NINH BÌNH SAU 1975

Ngành: Văn học Việt Nam

Mã số: 8220121

LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÔN NGỮ, VĂN HỌC VÀ VĂN HÓA VIỆT NAM

Người hướng dẫn khoa học: TS NGÔ THU THỦY

THÁI NGUYÊN - 2019

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đề tài luận văn khoa học: “Văn xuôi Ninh Bình sau

1975” là công trình nghiên cứu của cá nhân tôi dưới sự hướng dẫn khoa học

của TS Ngô Thu Thủy Các nội dung nghiên cứu, kết quả trong luận văn này là trung thực và chưa từng được công bố dưới bất kì hình thức nào

Tôi xin chịu hoàn toàn trách nhiệm về nghiên cứu của mình

Tác giả luận văn

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Với tất cả tấm lòng kính trọng và biết ơn sâu sắc, tôi xin chân thành cảm

ơn TS Ngô Thu Thủy - người đã hết lòng tận tình hướng dẫn, giúp đỡ tôi trong

quá trình học tập, nghiên cứu và hoàn thành luận văn này

Tôi xin bày tỏ lời cảm ơn đến Ban Giám hiệu, phòng sau Đại học và các

thầy giáo, cô giáo khoa Ngữ Văn trường Đại học Sư phạm Thái Nguyên đã

giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu

Tôi cũng xin gửi lời cảm ơn đến những người thân yêu đã luôn bên cạnh động viên, khích lệ tôi trong những ngày học tập ở trường

Tôi xin chân thành cảm ơn!

Thái Nguyên, ngày tháng năm 2019

Tác giả luận văn

Đinh Thị Thu

Trang 5

MỤC LỤC

LỜI CAM ĐOAN i

LỜI CẢM ƠN ii

MỤC LỤC iii

MỞ ĐẦU 1

1 Lý do chọn đề tài 1

2 Lịch sử vấn đề 2

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 8

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 9

5 Phương pháp nghiên cứu 9

6 Đóng góp của luận văn 10

7 Cấu trúc của luận văn 10

NỘI DUNG 11

Chương 1: NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ VĂN XUÔI NINH BÌNH SAU 1975 11

1.1 Diện mạo văn học Ninh Bình sau 1975 11

1.1.1 Sự vận động của lịch sử, xã hội 11

1.1.2 Sự vận động của văn học 13

1.2 Những nét chính về văn xuôi Ninh Bình sau 1975 18

1.2.1 Về đội ngũ sáng tác 19

1.2.2 Về thể loại 22

Tiểu kết chương 1 27

Chương 2 VĂN XUÔI NINH BÌNH SAU 1975 TỪ PHƯƠNG DIỆN NỘI DUNG 28

2.1 Đề tài chiến tranh và người lính 28

2.1.1 Ký ức chiến tranh 28

2.1.2 Sự tác động của chiến tranh đến nhân cách con người 37

2.2 Đề tài thế sự, đời tư 43

2.2.1 Khát vọng tình yêu, hạnh phúc gia đình 44

2.2.2 Hiện thực cuộc sống đa chiều, sinh động 49

Trang 6

2.2.3 Bản sắc văn hóa độc đáo 56

Tiểu kết chương 2 66

Chương 3 VĂN XUÔI NINH BÌNH SAU 1975 TỪ PHƯƠNG DIỆN NGHỆ THUẬT 67

3.1 Sự đa dạng hóa ngôi kể và điểm nhìn 67

3.1.1 Trần thuật từ ngôi thứ nhất 68

3.1.2 Trần thuật từ ngôi thứ ba 75

3.2 Sự đa dạng về ngôn ngữ 80

3.2.1 Ngôn ngữ giản dị đời thường 80

3.2.2 Ngôn ngữ mang màu sắc địa phương 84

3.3 Sự phong phú trong giọng điệu 87

3.3.1 Giọng điệu ngợi ca 87

3.3.2 Giọng điệu triết lí 90

Tiểu kết chương 3 95

KẾT LUẬN 96

TÀI LIỆU THAM KHẢO 99

PHỤ LỤC

Trang 7

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

1.1 Văn học hiện đại Ninh Bình có quá trình hình thành và phát triển tương ứng với quá trình hình thành và phát triển của nền văn học dân tộc Những thành tựu sau năm 1975 đã mang đến cho văn học Ninh Bình một diện mạo mới, đánh dấu bước phát triển trong lịch sử văn học Việt Nam, văn xuôi đóng vai trò chủ đạo trong bước ngoặt của dòng chảy hiện đại ấy Sự đổi mới của văn học Ninh Bình sau 1975 nói chung, văn xuôi nói riêng ngày càng phản ánh sâu sắc, phong phú quá trình tiếp nhận sự tác động của đời sống và lịch sử,

có sự kế thừa những giá trị tinh hoa của văn học truyền thống và có điều kiện hội nhập với văn hóa thế giới

Là một bộ phận của văn học Việt Nam, văn xuôi Ninh Bình đã và đang có những đóng góp quan trọng cho sự phát triển của văn học nghệ thuật Tuy sự phát triển ở các giai đoạn văn học không đều nhau nhưng nó vẫn tạo thành dòng chảy liên tục tương ứng với dòng chảy của văn học dân tộc

1.2 Được coi là thể loại có nhiều thành tựu, văn xuôi đã có những bước chuyển mình đáng kể, có sự đổi mới về nội dung và cách tân về nghệ thuật Với một đội ngũ sáng tác đông đảo có tính kế thừa và phát triển, văn xuôi giai đoạn này có nhiều khởi sắc góp phần làm nên diện mạo văn học Ninh Bình Hàng loạt các tác phẩm thuộc các thể loại: truyện ngắn, bút kí, tùy bút, tản văn được công bố trên sách báo tạp chí từ Trung ương đến địa phương Ngoài các tác giả văn xuôi tiêu biểu là: Kao Sơn, Hoàng Phương Nhâm, Vũ Huy Anh, Phạm Việt Long,…gần đây còn xuất hiện những cây bút văn xuôi có nhiều triển vọng như: Phạm Thị Duyên, Vũ Thanh Lịch, Quyên Quyên,… Về nội dung, bên cạnh việc tập trung ca ngợi vẻ đẹp của quê hương và con người Ninh Bình trong xây dựng cuộc sống mới, các cây bút văn xuôi đã chú ý hơn đến những

số phận riêng của con người, mang đến cho những trang viết một chiều sâu nhân bản, nhân văn

Trang 8

1.3 Văn xuôi Ninh Bình sau 1975 đã có mặt ở hầu hết các chương trình giáo dục từ Trung học cơ sở đến Cao đẳng, Đại học chuyên ngành Ngữ Văn từ lâu Ở bậc Trung học cơ sở các tác giả, tác phẩm được đưa vào giảng dạy là những tác giả đã thành danh; là những tác phẩm hay, có giá trị về nội dung và nghệ thuật, có tính giáo dục, tính thẩm mĩ, phù hợp và gắn bó chặt chẽ với chương trình chính khóa Trong chương trình Đại học, giảng viên giới thiệu chân dung văn học của các tác giả đã thành danh - là hội viên hội Nhà văn Việt Nam Đó là các tác giả: Lâm Xuân Vi, Trần Lâm Bình, Kao Sơn, Hoàng Phương Nhâm, Bình Nguyên, đi sâu tìm hiểu về cuộc đời và sự nghiệp văn học của các tác giả, khẳng định những đóng góp của các tác giả cho sự nghiệp phát triển văn học tỉnh nhà Các tác giả, tác phẩm được nghiên cứu khá kĩ càng, đem đến cho người học một cái nhìn toàn diện, chính xác và đầy đủ về những vấn

đề văn hóa, diện mạo văn học của quê hương

1.4 Là một người con của quê hương Ninh Bình yêu dấu, tôi rất tự hào khi được sinh ra và lớn lên ở đây - mảnh đất hiền hòa đầy yêu thương Nghiên

cứu “Văn xuôi Ninh Bình sau 1975” là một trong những điều kiện thuận lợi để

tôi có dịp bày tỏ thái độ, sự hiểu biết, tình cảm, lòng thành kính, biết ơn đối với quê hương của mình

2 Lịch sử vấn đề

2.1 Trong những năm hợp nhất tỉnh (1976 - 1992), Ninh Bình thay đổi về mọi mặt, tiến hành khôi phục kinh tế, hàn gắn vết thương chiến tranh, đời sống của nhân dân ngày càng được nâng cao Phong trào sáng tác văn thơ từng bước được đẩy mạnh Các cây bút sáng tác thơ, văn xuất hiện nhiều Tuy nhiên, lĩnh vực văn xuôi hầu như chưa có công trình gì đáng kể, có chăng chỉ là những công trình lẻ tẻ, thưa thớt của một số nhà giáo, nhà nghiên cứu, phê bình Ngoài một vài truyện ngắn của Kao Sơn, Ngô Xuân Hành, Phạm Việt Long, hoặc truyện kí của Nguyễn Thế Kiểm, được đăng tải trên Tạp chí Văn nghệ Hà Nam Ninh, tác giả văn xuôi là người Ninh Bình số lượng ít

Trang 9

2.2 Từ khi tái lập tỉnh (1992), văn học Ninh Bình chứng kiến những bước chuyển mình đổi thay của quê hương từ một tỉnh nghèo nàn, lạc hậu vươn lên với những bước phát triển mới trên mọi mặt của đời sống xã hội Các văn nghệ

sĩ sống và làm việc trên địa bàn tỉnh cũng như những người sống xa quê hương cũng cảm nhận rõ nét sự đổi thay của quê hương, đất nước trong cơ chế kinh tế thị trường với tất cả mọi khía cạnh của đời sống Tình yêu đó đã tạo động lực cho những sáng tạo của các văn nghệ sĩ Ninh Bình trong thời gian qua Có thể nói, văn học Ninh Bình thật sự khởi sắc cả về số lượng và chất lượng, từ đội ngũ văn nghệ sĩ sáng tác đến thể loại, đề tài Bên cạnh thơ là thể loại sáng tác chủ đạo có nhiều thành tựu, thì các thể loại khác như truyện ngắn, tiểu thuyết,

kí, kịch bản sân khấu, phê bình văn học, nghiên cứu sưu tầm,… cũng không ngừng phát triển, làm nên một diện mạo vô cùng khởi sắc của văn học Ninh Bình Nhiều tác giả đã trở thành hội viên Hội Văn học Nghệ thuật tỉnh, có những tác giả là Hội viên Hội nhà văn Việt Nam, trở thành những cây bút vững chắc, làm nòng cốt cho bộ môn văn xuôi của Hội Văn học Nghệ thuật tỉnh (Kao Sơn, Hoàng Phương Nhâm, Đinh Ngọc Lâm…)

Năm 1994, Ninh Bình đã có một Tạp chí chuyên ngành Văn học nghệ

thuật, đó là Tạp chí văn nghệ Ninh Bình Tạp chí này đăng tải hầu hết các tác

phẩm do các tác giả Ninh Bình sáng tác với hàng trăm truyện ngắn, bút kí, làm phong phú cho văn học Ninh Bình Từ đây, văn xuôi Ninh Bình thật sự phát triển, các truyện ngắn, truyện dài và những bài kí xuất hiện đều đặn trên các báo, tạp chí của tỉnh và Trung ương

Năm 2002, văn học địa phương Ninh Bình được đưa vào giảng dạy ở trường Trung học cơ sở và được phổ biến rộng rãi đến đông đảo sinh viên, giáo viên và học sinh trên địa bàn tỉnh Năm 2009, Sở Giáo dục và Đào tạo Ninh

Bình đã biên soạn tài liệu “Ngữ văn Ninh Bình” để giảng dạy phần văn học địa

phương trong chương trình Ngữ văn cơ sở Tài liệu được biên soạn theo từng lớp (từ lớp 6 đến lớp 9) và có 21 tiết thực hiện nội dung giáo dục địa phương Ở

Trang 10

mỗi lớp học đều có các phần: văn, tiếng việt và tập làm văn theo đơn vị tiết học, bài học được ấn định trong sách giáo khoa và khung phân phối chương trình Trung học cơ sở môn Ngữ văn Giúp các thầy giáo, cô giáo và các em học sinh hiểu rõ hơn về truyền thống văn hóa lịch sử, về con người, quê hương nơi mình đang sinh sống và làm việc

Nhằm góp phần giáo dục toàn diện học sinh, giữ gìn và phát huy giá trị của di sản văn hóa vì lợi ích của toàn xã hội và truyền thống tốt đẹp của cộng đồng các dân tộc Việt Nam, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch cũng đã ban hành công văn số 73/HD - BVHTTDL ngày 16/1/2013 về việc “hướng dẫn sử dụng

di sản văn hóa trong dạy học ở trường phổ thông”, trong đó nêu rõ: “lồng ghép nội dung dạy học di sản văn hóa vào các môn học, hoạt động giáo dục trong chương trình giáo dục phổ thông Văn học địa phương Ninh Bình chính là một sản phẩm tinh thần gắn với cộng đồng và cá nhân trong hệ thống di sản văn hóa phi vật thể của tỉnh

Cũng trong năm 2002, trường Cao đẳng sư phạm Ninh Bình (nay là Đại

học Hoa Lư) đã tổ chức biên soạn cuốn “Những vấn đề văn hóa, văn học và ngôn ngữ địa phương Ninh Bình” để làm tài liệu giảng dạy cho sinh viên

ngành văn - sử trình độ Cao đẳng Học phần có ý nghĩa quan trọng, trang bị cho người học cái nhìn toàn diện, chính xác về các lĩnh vực văn hóa, diện mạo văn học và việc sử dụng từ ngữ địa phương; giúp sinh viên hiểu biết và hòa nhập hơn với môi trường mà mình đang sống, có ý thức tìm hiểu, giữ gìn và tái tạo những giá trị văn hóa, văn học của quê hương Giáo dục cho sinh viên lòng tự hào về quê hương xứ sở của mình Từ đó, nhằm chuẩn bị cho giáo sinh khi ra trường có thể dạy tốt 21 tiết “Ngữ văn địa phương” quy định trong chương trình Trung học cơ sở

Năm 2008, Bộ Chính trị khóa X đã ban hành nghị quyết số 23-NQ/TW về việc tiếp tục xây dựng và phát triển văn học, nghệ thuật trong thời kì mới Những quan điểm của Đảng tại Nghị quyết này đến nay vẫn là quan điểm chỉ

Trang 11

đạo căn bản nhất đối với lĩnh vực văn học nghệ thuật Những quan điểm được nhấn mạnh tại Nghị quyết về phát triển văn học nghệ thuật tại địa phương như

sau: thứ nhất, khẳng định văn học, nghệ thuật là một bộ phận trọng yếu của văn hóa Ninh Bình; thứ hai, phát triển văn học, nghệ thuật Ninh Bình thời kì đẩy

mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa, hội nhập quốc tế phải mang tính toàn diện

và mạnh mẽ, thấm nhuần sâu sắc tinh thần nhân văn dân chủ, vừa có tác dụng định hướng, vừa đáp ứng nhu cầu thưởng thức văn hóa của nhân dân, hướng

con người vươn tới chân, thiện, mỹ và phát triển toàn diện; thứ ba, tài năng văn

học, nghệ thuật là vốn quý của dân tộc Chăm lo phát hiện, bồi dưỡng, quý trọng và phát huy các tài năng văn học, nghệ thuật là trách nhiệm của toàn xã hội, trước hết là của Đảng, Nhà nước và của các tổ chức trong hệ thống chính trị từ tỉnh đến cơ sở Tôn trọng, đảm bảo quyền tự do sáng tạo, tạo điều kiện thuận lợi, phát huy tính độc lập, khơi dậy mọi nguồn lực sáng tạo của văn nghệ

sĩ vì quê hương, đất nước, dân tộc và nhân dân

Nghị quyết 05 Bộ Chính trị Trung ương Đảng khóa VI đã xác định văn học “là bộ phận đặc biệt nhạy cảm của văn hóa, thể hiện khát vọng của con người về chân, thiện, mĩ, có tác dụng bồi dưỡng tình cảm, tâm hồn, nhân cách, bản lĩnh của các thế hệ công dân, xây dựng môi trường đạo đức trong xã hội…” Năm 2013, Ban Tuyên giáo Tỉnh ủy Ninh Bình thực hiện thành công đề

tài: “Định hướng phát triển văn học, nghệ thuật Ninh Bình đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030” là cơ sở cho các cấp ủy đảng, chính quyền, các cơ quan

quản lý nhà nước về văn học nghệ thuật trên địa bàn tỉnh ban hành chủ trương, chính sách phát triển văn học nghệ thuật, tạo điều kiện cho đội ngũ văn nghệ

sỹ, những người làm công tác lý luận phê bình văn học, nghệ thuật phát huy khả năng sáng tạo, có những tác phẩm, tác giả xuất sắc, xứng tầm quốc gia Năm 2017, đánh giá sự phát triển của văn học địa phương Ninh Bình,

Trường Đại học Hoa Lư đã tổ chức thành công hội thảo khoa học “Nghiên cứu

25 năm phát triển của văn học địa phương Ninh Bình (1992 - 2017)”, từ đó đề

Trang 12

xuất một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng sáng tác, nghiên cứu văn học Ninh Bình trong thời gian tới Trên cơ sở đó, nghiên cứu những tiền đề lý luận

về văn học sử và những ảnh hưởng của các điều kiện tự nhiên, kinh tế, chính trị, xã hội, văn hóa,… tới sự phát triển của văn học địa phương Ninh Bình trong

25 năm (1992 - 2017) Từ những đặc điểm cơ bản của văn học Ninh Bình 25 năm qua, đánh giá những thành tựu nổi bật của văn học từ nhiều phương diện thể loại (thơ ca, kịch, truyện ngắn và tiểu thuyết), đời sống văn học (sáng tác, tiếp nhận, lý luận phê bình) Từ đó, nhận rõ trách nhiệm của bản thân, nâng cao

ý thức giữ gìn truyền thống tốt đẹp của quê hương, phát huy khả năng để xây dựng quê hương phát triển trong thời đại hội nhập Văn học địa phương Ninh Bình, cùng với các loại hình văn học nghệ thuật khác như hội họa, điêu khắc, sân khấu dân gian, ca nhạc,… đã và đang góp sức mình trong việc giới thiệu, quảng bá quê hương, con người Ninh Bình, con người Tràng An ngàn năm văn hiến với bạn bè trong nước và quốc tế Đặc biệt, đây cũng là giai đoạn mà những ưu thế thiên nhiên ban tặng cho tỉnh nhà như: danh lam thắng cảnh, các

di tích văn hóa, lịch sử đã được khai thác, bảo tồn một cách hệ thống đem lại nguồn lợi kinh tế, khơi gợi cảm xúc cho con người và cảm hứng sáng tác của văn nghệ sĩ

Bên cạnh đó, còn có một số ý kiến, đánh giá về tác phẩm như:

Đánh giá về tập truyện Trú rét của Vũ Thanh Lịch, tác giả Việt Hà đã viết:

“Cốt truyện tuy không mới, nhưng cách miêu tả của Vũ Thanh Lịch vô cùng tinh tế Dưới ngòi bút của chị, những con chữ không còn là những con chữ nằm yên trên giấy, mà chúng biết nhảy nhót, biết cựa quậy, biết khóc, biết cười cùng nhân vật…” [15]

Tiểu thuyết Chân núi có một con đường (Vũ Thanh Lịch), nhà văn Cao Sơn cho rằng: “Cuốn sách như một bản tình ca trong sáng cho tuổi mới lớn, được thể hiện với nhiều bè trầm, phảng phất, hoài nhớ Một lưu giữ đẹp và cần thiết” [43]

Trang 13

Tác phẩm Khúc đồng dao lấm láp của Kao Sơn, tác phẩm đạt giải A - Nhà

xuất bản Kim Đồng trong cuộc vận động sáng tác cho thiếu nhi 1999 - 2000 đã thu hút sự quan tâm của các nhà nghiên cứu Nhà văn Ma Văn Kháng (thành viên hội đồng chung khảo - Báo Tiền Phong số 58 - 15/05/2001) đã từng chia

sẻ về tác phẩm này “Truyện biểu lộ năng lực đi sâu mô tả tâm lí trẻ thơ, năng lực tìm biết, phát hiện những vùng sâu kín trong tâm hồn thơ dại, nơi đầu nguồn nhân cách của các em… Bằng ngôn ngữ tỉnh lược, hàm xúc, một chú bé

kể lại chuyện đời mình… rất thật thà, thật thơ ngây, tự nhiên và không ít tâm trạng Giàu chất sống hiện thực, truyện có những khám phá đặc sắc trong đó rất đáng chú ý là cái phần chìm sâu không nói ra…” [21] Nhà văn Văn Chinh (báo Nông nghiệp Việt Nam 26/06/2001) nhận xét: “Không phải thơ Chất thơ chỉ phảng phất như hương đồng gió nội làm mềm mại cái gian khó nhọc nhằn ở một ngôi làng chiêm trũng Nó nâng câu chuyện của những đứa trẻ nghèo thành Khúc Đồng dao có thể của năm đã xa, có thể của hôm nay nhưng cũng

có thể còn hát về lâu dài… Cả quyển sách bõ công 15 năm gạch xóa, mỗi chữ mỗi chăm chút mà không bị tước bỏ những ba - via vốn là đặc trưng của ngôn ngữ văn xuôi Văn Kao Sơn khỏe mà mềm mại, chan chứa cảm xúc Qua văn thấy ông thật yêu trẻ con! Khúc đồng dao lấm láp do “tôi” dẫn ta đến với số phận đứa trẻ từ lúc nó khóc chào đời… cho đến khi dứt nó khỏi tuổi thơ êm ả,… khỏi mối tình ấu thơ của mình như cây bị bứng khỏi gốc, khỏi tuổi thơ một

đi không trở lại Câu chuyện kết thúc ở đây, trong dư âm kèn đám như một ẩn

dụ về tuổi thơ ngọt ngào và lấm láp đã chết để tiếp cận với đắng cay, chua ngọt của người lớn, một dư vị bùi ngùi… Trong văn xuôi Việt Nam hiếm có tác phẩm nào duy trì được một nhạc cảm như ở Khúc đồng dao lấm láp Nó như dàn nhạc giao hưởng chơi bè trầm riêng tôn tiếng đàn bầu số phận nhân vật thánh thót và nức nở trong cảm nhận của người đọc…” [11] Nhà văn Nguyễn Thị Ấm - Báo Giáo dục Thời đại số 68 khẳng định: “Thú thật, đã lâu lắm tôi mới được đọc một tập truyện viết về thiếu nhi hay đến như vậy Truyện viết

Trang 14

bằng một thứ văn mới đọc cứ như một mạch suối tuôn trào Nhưng tôi trộm nghĩ, loại truyện này người lớn đọc mới thích, còn trẻ em chưa chắc chúng đã hiểu hết cái hay của tác phẩm…” [3]

Ngoài ra còn phải kể đến một số bài viết khoa học, bài báo giới thiệu, phân tích tác phẩm của một số tác giả văn học địa phương Ninh Bình trên báo chí, tạp chí của Trung ương và địa phương như các bài viết của Lâm Xuân Vi, Bình Nguyên, Nguyễn Thị Bình, Nguyễn Mạnh Quỳnh, Nguyễn Thị Phương… Tuy nhiên chúng tôi nhận thấy các bài viết mới chỉ dừng lại ở góc nhìn nhỏ lẻ, chưa có những thành công đáng kể, sự đột phá không nhiều

Qua quá trình khảo sát, chúng tôi nhận thấy các công trình bài viết đều có cái nhìn rộng rãi trong việc nghiên cứu, đánh giá về tình hình văn học Ninh Bình sau 1975 ở nhiều góc độ khác nhau Tuy nhiên, các công trình bài viết này chỉ dừng lại ở mặt diện mạo văn học Ninh Bình chứ chưa khai thác sâu về văn xuôi Ninh Bình sau 1975 Hơn nữa, nếu như có đề cập đến thì cũng chỉ dừng lại ở khía cạnh nhỏ lẻ chứ chưa đi sâu khám phá toàn bộ văn xuôi Ninh Bình sau 1975 Tuy nhiên các công trình, bài viết nghiên cứu đã khảo sát là cơ sở hết sức quan trọng và hữu ích để giúp tác giả tham khảo, nghiên cứu nhằm xây dựng cơ sở lí luận cho đề tài luận văn của mình

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

3.1 Mục đích nghiên cứu

Đề tài làm rõ quá trình vận động, tồn tại và phát triển của văn xuôi Ninh Bình sau 1975; khẳng định vị trí và những đóng góp của văn xuôi Ninh Bình sau 1975 trong tiến trình văn học Ninh Bình nói riêng và trong văn học Việt Nam đương đại nói chung

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

Để đạt được mục đích nghiên cứu chúng tôi xác định một số nhiệm vụ chính của đề tài như sau:

- Tìm hiểu diện mạo văn xuôi Ninh Bình sau 1975

Trang 15

- Chúng tôi tập trung nghiên cứu một số phương diện nổi bật nhất về nội dung và nghệ thuật thể hiện của văn xuôi Ninh Bình từ sau 1975 ở đề tài chiến tranh - người lính và đề tài thế sự - đời tư với những đặc sắc về ngôi kể, ngôn ngữ và giọng điệu

- Đánh giá thành tựu và hạn chế của văn xuôi Ninh Bình sau 1975

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

4.1 Đối tượng nghiên cứu

Luận văn tập trung nghiên cứu một cách hệ thống về “Văn xuôi Ninh Bình sau 1975”

4.2 Phạm vi nghiên cứu

Luận văn tập trung nghiên cứu một số tác giả, tác phẩm tiêu biểu của địa phương Ninh Bình trong phạm vi từ sau 1975, tập trung chủ yếu vào ba tác giả: Kao Sơn, Hoàng Phương Nhâm, Vũ Thanh Lịch Ngoài ra, chúng tôi còn mở rộng so sánh với tác phẩm văn xuôi của một số nhà văn Ninh Bình khác (Ngô Xuân Hành, Trần Duy Đới, Thanh Thản, Ninh Đức Hậu,…) và các tác phẩm tiêu biểu của văn xuôi Việt Nam hiện đại

5 Phương pháp nghiên cứu

5.1 Phương pháp thống kê - phân loại

Phương pháp này được luận văn sử dụng để khảo sát và thống kê tất cả các tác phẩm tiêu biểu từ đó tiến hành phân loại các ngữ liệu theo các khía cạnh của vấn đề nghiên cứu

5.2 Phương pháp phân tích - tổng hợp

Từ các tài liệu thu thập được về văn xuôi Ninh Bình sau 1975, chúng tôi tiến hành phân tích, xử lý, tổng hợp thông tin để có cái nhìn khái quát về vấn đề nghiên cứu

5.3 Phương pháp so sánh

Phương pháp này được sử dụng để so sánh các khía cạnh khác nhau của nội dung đề tài với tác phẩm của một số tác giả khác Qua đó chỉ ra sự đổi mới

Trang 16

và sáng tạo của văn xuôi Ninh Bình sau 1975 trong tiến trình văn học Việt Nam hiện đại

Luận văn góp phần xác định vị trí, vai trò và những đóng góp của văn xuôi Ninh Bình sau 1975 trong dòng chảy văn học dân tộc

6.2 Về thực tiễn

Chúng tôi hy vọng luận văn phần nào có thể làm tài liệu tham khảo cho

ngành giáo dục trong dạy học phần văn học địa phương ở các cấp học, ngành văn hóa - du lịch để giới thiệu bản sắc văn hóa, vẻ đẹp của con người Ninh Bình trong công cuộc đổi mới của đất nước

7 Cấu trúc của luận văn

Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Tài liệu tham khảo, Phụ lục, luận văn gồm ba chương:

Chương 1: Những vấn đề chung về văn xuôi Ninh Bình sau 1975

Chương 2: Văn xuôi Ninh Bình sau 1975 từ phương diện nội dung

Chương 3: Văn xuôi Ninh Bình sau 1975 từ phương diện nghệ thuật

Trang 17

NỘI DUNG

Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ VĂN XUÔI NINH BÌNH SAU 1975

1.1 Diện mạo văn học Ninh Bình sau 1975

1.1.1 Sự vận động của lịch sử, xã hội

Năm 1975 đánh dấu mốc sự kiện lịch sử quan trọng mang tính bước ngoặt trong cuộc đấu tranh anh hùng của dân tộc Việt Nam, đất nước thống nhất, đời sống dân tộc có nhiều đổi thay to lớn trên mọi phương diện từ kinh tế, chính trị,

xã hội đến văn hóa nghệ thuật Mọi hoạt động được chuyển từ thời chiến sang thời bình, nhân dân Ninh Bình cùng nhân dân cả nước vượt qua khó khăn tích cực lao động, cống hiến xây dựng quê hương, đất nước Năm 1986, đất nước tiến hành đổi mới toàn diện, dần dần chấm dứt được khủng hoảng và bước sang giai đoạn phát triển Xu hướng dân chủ hóa tạo điều kiện thuận lợi để các nhà văn được bộc lộ tư tưởng riêng, cá tính và tài năng của mình Ý thức nghệ thuật của nhiều nhà văn đã có sự đổi mới

Tỉnh Ninh Bình có thay đổi về địa giới hành chính Quốc hội khóa V (12/1975) đã thông qua nghị quyết hợp nhất hai tỉnh Nam Hà và Ninh Bình thành tỉnh Hà Nam Ninh Trong những năm hợp nhất tỉnh, nhân dân Ninh Bình cùng nhân dân cả nước tiến hành khôi phục kinh tế, hàn gắn vết thương chiến tranh, góp phần quan trọng cùng cả tỉnh giành nhiều thắng lợi trên các lĩnh vực kinh tế, xã hội, văn hóa, quốc phòng an ninh,… vượt qua giai đoạn khó khăn thử thách, tạo ra những động lực cơ bản thúc đẩy xã hội phát triển, đời sống nhân dân ngày càng được cải thiện và nâng cao

Trước yêu cầu đổi mới của thời kì công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, Quốc hội khóa VIII họp ngày 26/12/1991 đã ra nghị quyết phân định lại địa giới hành chính tỉnh Hà Nam Ninh Năm 1992, tỉnh Ninh Bình được tái lập Ninh Bình được hình thành từ vùng đất phù sa cổ, con người cư trú từ sớm cách nay khoảng ba vạn năm, một vùng mang đậm dấu tích lịch sử chống ngoại

Trang 18

xâm, bảo vệ, phát triển đất nước Lịch sử sản sinh cho vùng đất Ninh Bình nhiều danh nhân gắn liền với lịch sử dựng nước và giữ nước như: Đinh Tiên Hoàng, Trương Hán Siêu, Nguyễn Minh Không, Ninh Tốn, Vũ Duy Thanh, Phạm Thận Duật,…

Chặng đường lịch sử hơn 30 năm chiến tranh, dân tộc Việt Nam nói chung, nhân dân Ninh Bình nói riêng phải đối mặt với rất nhiều khó khăn sau chiến tranh Những ngày đầu trên con đường độc lập, tự do nhân dân bắt đầu đối mặt với muôn vàn thách thức, hậu quả nặng nề của chiến tranh: mất mát, hy sinh, tổn thất về vật chất và tinh thần; nền kinh tế nghèo nàn, lạc hậu lại bị chiến tranh tàn phá nặng nề, kìm hãm, đời sống nhân dân sa sút đã làm cho tỉnh Ninh Bình bộc lộ nhiều bất cập, trì trệ Đặc biệt là từ khi tái lập tỉnh, kế thừa và phát huy truyền thống lịch sử vẻ vang của quê hương, quân và dân Ninh Bình luôn nêu cao tinh thần đoàn kết, chủ động, sáng tạo, khai thác tốt các tiềm năng sẵn có và không ngừng khôi phục, phát triển kinh tế; tích cực xây dựng cơ sở vật chất kĩ thuật phục vụ đời sống và sản xuất, tăng cường lực lượng quốc phòng an ninh, góp phần cùng cả nước đập tan âm mưu phá hoại của các thế lực thù địch, đưa quê hương, đất nước vượt ra khỏi khủng hoảng kinh tế xã hội Lối sống và tác phong công nghiệp, khoa học, văn minh được khẳng định góp phần tăng cường nề nếp kỷ cương cho xã hội Các loại hình văn hóa nghệ thuật truyền thống vẫn tiếp tục được quan tâm, bảo tồn và phát triển

Các lĩnh vực như dịch vụ thương mại, ngân hàng, giao thông vận tải, bưu chính viễn thông,… cơ bản đáp ứng nhu cầu sản xuất và đời sống Văn hóa xã hội có bước phát triển, đóng góp tích cực vào thành tựu của công cuộc đổi mới, xây dựng và phát triển đất nước Dân chủ xã hội chủ nghĩa được phát huy và ngày càng mở rộng Đây là niềm tin, động lực to lớn, là cơ sở vững chắc để Ninh Bình tiếp tục vững bước trên con đường đổi mới, phát triển nhanh và bền vững hơn trong những năm tiếp theo

Từ khi thực hiện đường lối đổi mới, kinh tế Ninh Bình thoát khỏi trì trệ, dần chấm dứt được khủng hoảng, phát triển liên tục đồng đều với tốc độ nhanh

Trang 19

Bộ mặt kinh tế, xã hội nhất là khu vực nông thôn thay đổi rõ rệt Đời sống nhân dân không ngừng được cải thiện và nâng cao cả về vật chất và tinh thần Cuộc sống văn minh xã hội chủ nghĩa đang từng bước trở thành hiện thực trên quê hương Ninh Bình

Ninh Bình được thiên nhiên ban tặng cho nhiều thắng cảnh đẹp, đa dạng như: Vườn Quốc gia Cúc Phương, khu danh thắng Tam Cốc - Bích Động, khu

du lịch sinh thái ngập nước Vân Long,… cùng với các tài nguyên nhân văn như: Cố đô Hoa Lư, quần thể Nhà thờ đá Phát Diệm, núi chùa Non Nước, chùa Bái Đính,… Đặc biệt, Quần thể danh thắng Tràng An đã được UNESCO ghi danh Di sản văn hóa và Thiên nhiên thế giới Nhân dân Ninh Bình đời sau nối tiếp đời trước đã sáng tạo nên một không gian văn hóa đặc sắc với những thành tựu rực rỡ về kiến trúc, điêu khắc; những áng thơ văn, hát chèo, ca trù, hát xẩm,… những làng nghề thủ công truyền thống; những phong tục, tập quán, lễ hội dân gian,… Những giá trị văn hóa đó còn được giữ gìn và phát triển đến ngày nay Những giá trị đạo đức tốt đẹp của dân tộc như yêu nước, cần cù, sáng tạo, nhân ái, thủy chung, khoan dung,… vẫn được người Ninh Bình tiếp tục giữ gìn và phát huy Tình yêu đó được thể hiện sinh động bằng những nỗ lực lao động, cống hiến xây dựng quê hương, đất nước của các văn nghệ sĩ Ninh Bình trong thời gian qua

Như vậy, tất cả những hiện thực sinh động của đời sống kinh tế, chính trị,

xã hội, văn hóa đó đã tác động trực tiếp, sâu sắc đến đời sống văn học, nghệ thuật Ninh Bình Đây là niềm tin, là cơ sở vững chắc để Ninh Bình tiếp tục vững bước trên con đường đổi mới, phát triển nhanh và bền vững trong những năm tiếp theo

1.1.2 Sự vận động của văn học

Theo các nhà nghiên cứu của văn học Việt Nam hiện đại, tiến trình văn học Việt Nam từ đầu thế kỉ XX đến nay có ba xu hướng vận động chính tương ứng với ba giai đoạn phát triển Từ đầu thế kỉ XX đến 1945, văn học vận động theo hướng hiện đại hóa; từ 1945 đến 1975, xu hướng vận động cơ bản của nền

Trang 20

văn học cách mạng là đại chúng hóa và cách mạng hóa Từ sau 1975, nhất là từ nửa cuối những năm 80, dân chủ hóa là xu hướng vận động bao trùm của nền văn học đất nước Cùng với văn học Việt Nam hiện đại, văn học hiện đại Ninh Bình cũng có lịch sử phát triển qua các thời kì: thời kì từ đầu thế kỉ XX đến Cách mạng tháng Tám năm 1945; thời kì từ Cách mạng tháng Tám năm 1945 đến 1975 và thời kì từ 1975 đến nay Mỗi giai đoạn văn học đều có diện mạo với quy luật và đặc điểm riêng

Thời kì từ đầu thế kỉ XX đến Cách mạng tháng Tám năm 1945, cùng với

sự ra đời của Đảng cộng sản Việt Nam và sự phát triển của cách mạng, văn học Ninh Bình đã xuất hiện những tác giả, tác phẩm nhưng chưa nhiều Tuy chưa trở thành phong trào phát triển sâu rộng, còn nặng tính tự phát nhưng những sáng tác ở giai đoạn này có tác dụng tích cực trong việc tuyên truyền cách mạng, khích lệ tinh thần yêu nước, chống Pháp của nhân dân Một số tác giả tiêu biểu: Phạm Tăng, Nguyễn Lương Ngọc, Tạ Hữu Yên,…

Thời kì từ cách mạng tháng Tám năm 1945 đến 1975, văn học Ninh Bình

nói riêng và văn học dân tộc nói chung là nền văn học của chế độ mới - nền văn học mang lí tưởng độc lập tự do và chủ nghĩa xã hội So với lực lượng sáng tác

ở giai đoạn trước, đội ngũ văn nghệ sĩ từng bước được tập hợp, khích lệ và có định hướng nội dung sáng tác cụ thể cho từng chủ điểm Phong trào sáng tác thơ văn địa phương ngày càng mở rộng Các tác phẩm đều được viết theo khuynh hướng sử thi và cảm hứng lãng mạn Vẻ đẹp của người Ninh Bình hiện lên trong các tác phẩm với những phẩm chất cao quý, nổi bật là tinh thần chiến đấu, hy sinh vì Tổ quốc, đặt lợi ích của tập thể, của dân tộc lên trên lợi ích cá nhân Nhiều cây bút sáng tác thơ văn xuất hiện, trình độ tri thức của họ đã được nâng cao hơn và đã dần hình thành nên những cây bút chuyên sáng tác theo từng thể loại: văn xuôi, thơ, kịch,… Ở giai đoạn này thơ ca vẫn tiếp tục phát triển và giữ vai trò chính Một số tác giả đã có tập thơ in riêng dần trở nên quen thuộc với công chúng địa phương như Tạ Hữu Yên, Mai Ngọc Uyển,… Văn

Trang 21

xuôi giai đoạn này chưa thực sự phát triển Số lượng tác giả còn ít Cùng với thơ, văn xuôi, kịch cũng bắt đầu phát triển, chủ yếu là kịch ngắn Nổi bật là các tác giả: An Viết Đàm, Đăng Thanh,… Nhìn chung, văn học Ninh Bình thời kì này gắn với từng bước đi của cách mạng địa phương

Thời kì từ 1975 đến nay, nhân dân ta đã hoàn thành cuộc đấu tranh giải

phóng dân tộc, thống nhất đất nước Lịch sử nước nhà mở ra một trang mới, văn học nước nhà cũng bước sang một giai đoạn mới Giai đoạn này văn học Ninh Bình phát triển tương đối toàn diện cả về số lượng và chất lượng Với đội ngũ tác giả khá đông đảo và từng bước đã có những tác phẩm đạt chất lượng cao, văn học Ninh Bình đang có những bước tiến xa hơn trong sự giao lưu, hòa nhập với dòng chảy văn học của cả nước thời kì hiện đại

Về nội dung, bên cạnh việc chuyển đổi trong quan niệm về hiện thực từ việc ca ngợi vẻ đẹp của quê hương và con người Ninh Bình trong xây dựng cuộc sống mới, các cây bút đã chú ý hơn đến những số phận riêng của con người, đưa văn học vượt qua tình trạng lệ thuộc vào đề tài, mở ra sự phong phú trong khám phá hiện thực đời sống trong tính muôn mặt muôn vẻ của nó Trước hết có thể thấy sự đa dạng và phong phú trên bình diện thể loại của văn học địa phương Ninh Bình

Thơ tiếp tục phát triển và so với các thể loại khác thì vượt trội hơn hẳn cả

về số lượng và chất lượng Nếu như ở giai đoạn trước, tác giả có tập thơ in riêng còn ít thì đến giai đoạn này xuất hiện nhiều tập thơ của các tác giả ở hầu hết các vùng miền trong tỉnh đã lần lượt được xuất bản Một số tác giả có tác phẩm chất lượng tốt, được tặng giải thưởng Ủy ban toàn quốc các hội Văn học nghệ thuật Việt Nam như: Lâm Xuân Vi, Bình Nguyên, Trần Xuân Trường,… Nhiều tập thơ, lý luận phê bình được Ủy ban nhân dân tỉnh tặng giải thưởng Văn học nghệ thuật Trương Hán Siêu Trong cuộc thi thơ lục bát do báo Văn nghệ Trẻ - Hội Nhà văn Việt Nam tổ chức năm 2001 - 2002, các tác giả thơ ở Ninh Bình đã có số lượng bài dự thi khá cao và đạt nhiều giải thưởng trong đó

Trang 22

có hai trong số ba giải A là Bình Nguyên và Kao Sơn, hai giải ba là Vũ Hùng

và Trần Lâm Bình và một bằng khen là Lê Thi Hữu Ngoài ra, thơ văn của các tác giả Ninh Bình thường xuyên được đăng tải trên các sách, báo, tạp chí của Trung ương và được phát trên Đài tiếng nói Việt Nam

Trong những năm gần đây, kể từ thời kì đổi mới, diện mạo văn xuôi Ninh Bình phong phú hơn với những nỗ lực mở rộng phạm vi và vấn đề cuộc sống, con người được miêu tả trong tác phẩm Văn học được nhìn từ nhiều phía, giảm dần giọng điệu sử thi, ngợi ca mà nhuốm màu thế sự, mang đến cho văn học chiều sâu nhân văn Con người được nhìn ở nhiều vị thế trong tính đa chiều của mọi mối quan hệ: con người xã hội, con người lịch sử, con người của gia đình, con người với phong tục,… Các tác phẩm bám sát khai thác nhiều phương diện hiện thực đời sống trong cơ chế thị trường Trong truyện ngắn, tiểu thuyết, nhiều tác giả khám phá chủ đề lịch sử yêu nước và cách mạng của nhân dân các dân tộc trong tỉnh Thế mạnh của các cây bút trẻ mới xuất hiện gần đây là khả năng bao quát, phản ánh những vấn đề phong phú, đa dạng nhưng vô cùng phức tạp của cuộc sống hiện đại hiện nay Có thể xem đó như một biểu hiện của tư duy

đổi mới trong sáng tác của các tác giả, ở các tác phẩm: Khúc đồng dao lấm láp, Duyên giời,… của Kao Sơn, Biệt thự Rose, Dường như trời lại mưa,… của Hoàng Phương Nhâm, Đi qua đồng cói, Trú rét,… của Vũ Thanh Lịch

Nghệ thuật sân khấu cũng có bước phát triển mới với một số tác giả như: Đăng Thanh, Ngọc Cương, Ninh Đức Hậu,… Nhiều vở kịch nói, kịch chèo… với đề tài lịch sử về cuộc sống hiện đại của địa phương được sáng tác và dàn dựng Đặc biệt, nhà soạn kịch Đăng Thanh đã được trao tặng giải thưởng Nhà nước về văn học nghệ thuật

Bộ phận Lý luận phê bình từng bước được hình thành và phát triển với các cây bút: Lâm Xuân Vi, Nguyễn Mạnh Quỳnh, Nguyễn Thị Bình, Bùi Ngọc Minh, Nguyễn Thị Phương,… Trong đó đã có tác giả được tặng giải thưởng cao của Ủy ban toàn quốc các hội Văn học nghệ thuật Việt Nam: Nguyễn Mạnh Quỳnh, Nguyễn Thị Bình

Trang 23

Đại hội lần thứ VI của Đảng (1986) đã tạo động lực mạnh mẽ thúc đẩy xu hướng dân chủ hóa trong văn học phát triển mạnh mẽ nhất từ trước đến nay trên nhiều cấp độ và phương diện của văn học, làm thay đổi cơ bản diện mạo của nền văn học từ vai trò, vị trí và chức năng của văn học, xu hướng thẩm mĩ của nhà văn cũng như quan niệm về hiện thực và con người Văn học giai đoạn trước được xem là một thứ vũ khí tư tưởng của cách mạng, phục vụ cho mục tiêu và đáp ứng các yêu cầu của sự nghiệp cách mạng

Nằm trong dòng chảy của văn học dân tộc, văn học Ninh Bình sau 1975 không chỉ tiếp nối thành tựu từ nhiều phương diện của văn học trước đó mà còn tìm kiếm khám phá những nội dung và hình thức mới để tạo nên diện mạo riêng Các thể loại văn học đều có những biến đổi rất đáng kể, thơ không chỉ bó hẹp trong những vấn đề của cuộc sống con người Ninh Bình mà vươn tới những vấn đề chung rộng lớn của đất nước, thời đại Văn xuôi cũng đang hướng tới những vấn đề chung của đất nước, của dân tộc Văn học Ninh Bình đến nay phản ánh sinh động hiện thực đời sống xã hội của đất nước nói chung, của tỉnh nói riêng, bộc lộ tình cảm sâu sắc với đất và người Ninh Bình trong hành trình đổi mới hội nhập, hòa nhịp với những chuyển động của đời sống văn

học đất nước

Sự mở rộng trong quan niệm về hiện thực và cách tiếp cận với nó đã dẫn đến sự nảy nở của nhiều khuynh hướng trong văn học giai đoạn này Từ văn xuôi đến thơ đều nhìn thấy rất rõ sự chuyển mình trong khuynh hướng sáng tác Khuynh hướng khám phá đời sống muôn vẻ trong cái hàng ngày, trong quan hệ thế sự và đời tư là một xu hướng phổ biến Đó chính là tuổi thơ đầy ắp kỉ niệm vui buồn với những câu chuyện không đầu không cuối, với chuyện gia đình, làng xóm, chuyện trường lớp và bao nhiêu mối quan hệ đan xen phức tạp trong truyện của Kao Sơn Hoàng Phương Nhâm, Vũ Thanh Lịch… đều có những tác phẩm gắn bó với khuynh hướng này

Từ thời kì đổi mới, quan niệm về hiện thực trong sáng tác của các tác giả địa phương Ninh Bình càng trở nên đa dạng, đa chiều Hiện thực không phải

Trang 24

chỉ là những gì đã biết, mà còn chứa đựng những phức tạp, bí ẩn chưa thể khám phá và chưa thể biết hết Sáng tác của các tác giả như: Bình Nguyên, Kao Sơn, Đăng Thanh, Lâm Xuân Vi, Đinh Hữu Niên, Lê Công, Hoàng Phương Nhâm, Đinh Ngọc Lâm, Vũ Thanh Lịch, Thanh Thản, Trần Lâm Bình, Ninh Đức Hậu,… và nhiều tác giả khác thể hiện rõ một khuynh hướng nhận thức về hiện thực với khát vọng nhận thức thật sự toàn vẹn, vượt qua cách nhìn giản đơn, sơ lược, dễ dãi

Như vậy, ý thức đổi mới đã thể hiện khá rõ ở chính các nhà văn, văn học Ninh Bình như đang chứng kiến sự “lột xác” của quê hương từ một tỉnh nghèo nàn, lạc hậu và khó khăn trăm bề vươn lên trở thành một đô thị trẻ với những bước phát triển trên mọi mặt của đời sống xã hội Các nhà văn cũng cảm nhận rõ nét những đổi thay của quê hương, đất nước trong cơ chế thị trường và phản ánh sinh động qua các tác phẩm văn học Các tác phẩm văn học Ninh Bình bộc lộ những nỗi niềm, xúc cảm trước những đổi thay của đời sống Có thể kể đến các tập truyện của Hoàng Phương Nhâm, Kao Sơn và Vũ Thanh Lịch

Quan sát sự vận động của văn học Ninh Bình sau 1975, chúng ta dễ dàng nhận thấy lĩnh vực văn xuôi nghệ thuật có sự biến đổi thật sự mạnh mẽ và sâu sắc Tinh thần sử thi vốn bao trùm giai đoạn văn học chiến tranh đã từng bước nhường chỗ cho cảm hứng thế sự - đời tư Nhận thức mới về hiện thực chiến tranh, quan tâm hơn đến số phận con người, văn học những năm đầu sau chiến tranh đã đến gần hơn với độc giả Luận văn của chúng tôi tập trung bao quát giai đoạn văn học từ sau 1975, để giúp bạn đọc có một cái nhìn tương đối hệ thống về diện mạo văn xuôi Ninh Bình sau 1975

1.2 Những nét chính về văn xuôi Ninh Bình sau 1975

Là một bộ phận không thể thiếu trong nền văn học của mỗi dân tộc và nhân loại, văn xuôi là thể loại phản ánh kịp thời những đổi thay về cuộc sống

và con người trong thời kì đổi mới trên những phương diện khác nhau Văn xuôi Ninh Bình sau 1975 có quá trình hình thành và phát triển tương ứng với

Trang 25

quá trình hình thành và phát triển của nền văn học dân tộc Bên cạnh việc kế thừa những thành tựu giai đoạn trước, văn xuôi đã có những điểm sáng nổi bật, với những tác giả đã tạo dựng được chỗ đứng vững chắc trên văn đàn như: Kao Sơn, Hoàng Phương Nhâm, Đăng Thanh, Ninh Đức Hậu,… Minh chứng rõ rệt nhất là các giải thưởng văn nghệ mà họ đã giành được: giải thưởng Nhà nước, giải thưởng của Bộ, ngành Trung ương, giải thưởng Trương Hán Siêu của tỉnh,… Các sáng tác văn học đã góp phần quan trọng trong việc phản ánh đời sống văn hóa tinh thần của cộng đồng dân cư, mang bản sắc riêng, độc đáo có tính chất đặc thù của quê hương, trực tiếp bồi dưỡng tâm hồn, tình cảm, nhân cách cho các thế hệ con người của quê hương Ninh Bình Dưới đây là sự khái quát bước đầu về những thành tựu của văn xuôi Ninh Bình từ sau 1975 đến nay

1.2.1 Về đội ngũ sáng tác

Theo khảo sát của chúng tôi, đội ngũ tác giả văn xuôi Ninh Bình là những người đã và đang sinh sống, công tác tại Ninh Bình, gắn bó với cuộc sống của người dân Ninh Bình và có đóng góp trực tiếp cho công cuộc xây dựng quê hương như: Đăng Thanh, Kao Sơn, Trần Lâm Bình, Thanh Thản, Đinh Ngọc Lâm, Ninh Đức Hậu,… Ngoài ra còn có tác giả tuy không quê gốc ở Ninh Bình nhưng có quá trình gắn bó và có tác phẩm viết về Ninh Bình được coi là tác giả Ninh Bình như Trương Minh Phố, Hoàng Phương Nhâm Một số tác giả vì điều kiện công tác hay sinh sống, không còn ở Ninh Bình, thì dù ở đâu, viết gì thì tác phẩm của họ vẫn mang đậm bản sắc địa phương Ninh Bình Từ lời ăn tiếng nói, phong tục tập quán, phong cảnh quê hương, tính cách con người quê nhà luôn được các tác giả chú trọng và đề cập Các truyện ngắn, tiểu thuyết của các tác giả: Kao Sơn, Hoàng Phương Nhâm, Đào Thu Hà, Đỗ Quyên Quyên đã chứng minh điều đó

Từ năm 1975 đến nay, trải qua quá trình vận động và phát triển, văn xuôi Ninh Bình đã đạt được một số thành tựu, góp phần xây dựng nền văn học Việt Nam Do đó, tìm hiểu đội ngũ tác giả văn xuôi Ninh Bình là cần thiết, để từ đó

có thể xác định được những đóng góp của họ cho sự phát triển của văn xuôi

Trang 26

tỉnh nhà Dòng chảy liên tục của văn xuôi Ninh Bình hiện nay chính là nhờ vào

sự tiếp nối của các thế hệ cầm bút gắn bó với đất và người Ninh Bình Sự phân chia các thế hệ tác giả văn xuôi Ninh Bình từ sau 1975 chỉ là tương đối Đối với đội ngũ tác giả văn xuôi Ninh Bình từ 1975 đến nay theo tôi, có thể hình dung đó là sự tiếp nối của hai thế hệ

Thế hệ thứ nhất bao gồm những cây bút thành danh sau 1975 và tới giai đoạn này vẫn góp sức không nhỏ đối với sự phát triển của văn xuôi Ninh Bình như: Kao Sơn, Hoàng Phương Nhâm, Nguyễn Thế Kiểm, Thanh Thản,… Đây

là lực lượng nòng cốt, thúc đẩy văn học Ninh Bình phát triển Nhiều tác giả đã trở thành hội viên Hội nhà văn Việt Nam, trở thành những cây bút vững chắc cho bộ môn văn xuôi của Hội Văn học Nghệ thuật tỉnh (Kao Sơn, Hoàng Phương Nhâm,…)

Thế hệ thứ hai là những cây bút trưởng thành sau ngày tái lập tỉnh như:

Vũ Thanh Lịch, Trần Duy Đới, Lê Hữu Chư, Ninh Đức Hậu, Đinh Ngọc Lâm, Đào Thu Hà, Phạm Thị Duyên, Đỗ Quyên Quyên, Mai Hồng Quế, Đinh Hữu Niên,… Họ chính là lực lượng kế cận, là nguồn bổ sung dồi dào cho đội ngũ văn xuôi trong tỉnh

Quá trình phát triển về đội ngũ cho thấy sự phấn đấu bền bỉ trong nghề nghiệp, sự chuyên tâm theo đuổi con đường văn chương của mỗi tác giả Tất cả khẳng định phong trào văn học ở Ninh Bình đang từng bước hòa nhập với những vấn đề chung rộng lớn của đất nước Đó có thể coi là dấu hiệu của sự trưởng thành Nó vừa làm nên cốt lõi của phong trào, vừa làm hậu thuẫn cho đội ngũ sáng tác văn học tiếp tục phát triển

Trong những năm qua, Tạp chí Văn nghệ Ninh Bình không ngừng đổi mới, đáp ứng yêu cầu và nhiệm vụ trong tình hình mới Đây không chỉ là nơi đăng tải sáng tác của những cây bút tỉnh nhà ở các thể loại mà còn là nơi giới thiệu sáng tác của các cây bút trẻ nhằm bổ sung kịp thời cho đội ngũ sáng tác Đây cũng là nơi giao lưu trao đổi với các cây bút trong cả nước ở

Trang 27

nhiều lĩnh vực, nhằm thúc đẩy mạnh mẽ hoạt động sáng tác của các văn nghệ

sĩ Ninh Bình

Chất lượng sáng tác ngày càng được nâng cao ở các thể loại Các tác giả

và tác phẩm đoạt giải thưởng từ Trung ương đến địa phương ngày càng nhiều

Đề tài được mở rộng đến mọi vấn đề của đời sống xã hội, góp phần làm giàu có

và phong phú tâm hồn con người nói chung và con người trên quê hương Ninh Bình nói riêng Dấu ấn văn học tỉnh nhà được khởi sắc ở nhiều khía cạnh, và có những tác giả đã giành được giải thưởng khá ấn tượng Nhà văn Hoàng Phương Nhâm đạt giải nhất truyện ngắn Ninh Bình năm 1996, giải ba - nhà xuất bản

Kim Đồng năm 2003, cho tập truyện Miền cổ tích Năm 1996, đạt giải thưởng

văn học của Ủy ban toàn quốc liên hiệp các hội Văn học nghệ thuật Việt Nam

cho tập truyện Người hát thánh ca (in chung với Kao Sơn) Năm 2003, đạt giải

thưởng văn học của Ủy ban toàn quốc Liên Hiệp các hội Văn học nghệ thuật

Việt Nam cho tập truyện Tê-rê-xa ngốc nghếch Giải thưởng cuộc thi viết

truyện ngắn cho thanh thiếu nhi, do hội Nhà văn Việt Nam và Bộ Giáo dục và Đào tạo tổ chức năm 2004 Trưởng thành từ trại sáng tác trẻ Ninh Bình, Vũ Thanh Lịch là tác giả có sức viết dồi dào, tác phẩm thường xuyên được đăng tải trên báo Văn nghệ, Tạp chí Văn nghệ quân đội, Tạp chí Văn nghệ Ninh

Bình,… được độc giả chú ý Năm 2015, tập truyện Đi qua đồng cói của Vũ

Thanh Lịch đạt giải C của Ủy ban toàn quốc Liên hiệp các hội Văn học nghệ thuật Việt Nam Năm 2001, nhà văn Kao Sơn đạt giải A của Nhà xuất bản Kim

Đồng cho tác phẩm Khúc đồng dao lấm láp Gần đây, nhà văn Kao Sơn đạt giải nhì cho tác phẩm Trăng vàm cọp, hưởng ứng cuộc vận động sáng tác văn học

cho thiếu nhi, giai đoạn 2012- 2013 do dự án hỗ trợ thiếu nhi Việt Nam - Đan Mạch tổ chức, với chủ đề “Vượt qua sợ hãi”

Phong cảnh sơn thủy hữu tình của Ninh Bình và con người Ninh Bình không chỉ đem lại cảm xúc sáng tác cho các nhà văn, nhà thơ trong tỉnh mà còn thu hút sự quan tâm của nhiều nhà thơ, nhà văn trong nước Một số nhà văn,

Trang 28

nhà thơ có tên tuổi như: Tố Hữu, Xuân Quỳnh, Trần Đăng Khoa, Vũ Quần Phương, Nguyễn Đức Mậu, Trúc Thông,… khi đến với Ninh Bình đều có những tác phẩm ghi lại cảm xúc của mình với mảnh đất được mệnh danh là

“địa linh nhân kiệt” này

Có thể nói, văn xuôi Ninh Bình từ 1975 đến nay đã có một đội ngũ tác giả tương đối hùng hậu và giàu sinh lực Các thế hệ cầm bút với nềm đam mê văn chương và tình yêu mãnh liệt dành cho quê hương Ninh Bình chắc chắn sẽ tạo được những dấu ấn mới trong sự nghiệp văn học nghệ thuật Ninh Bình nói

chung và sự nghiệp văn xuôi nói riêng

1.2.2 Về thể loại

Sau 1975, đất nước hòa bình, thống nhất, Ninh Bình cũng như các địa phương khác bước vào công cuộc khắc phục hậu quả chiến tranh, xây dựng cuộc sống mới Đặc biệt, vào cuối những năm 80, đầu những năm 90, thời kì chuyển từ cơ chế quản lý quan liêu, bao cấp sang cơ chế thị trường thì cơ cấu kinh tế của các tỉnh nói chung và của Ninh Bình nói riêng cũng có những chuyển biến mạnh mẽ Các cây bút đã không ngừng cố gắng, nỗ lực cho ra đời những tác phẩm có chất lượng nghệ thuật cao

Trong lĩnh vực văn xuôi Ninh Bình, truyện ngắn là thể loại phổ cập và phát triển hơn cả Với dung lượng nhỏ, gọn và khả năng tiếp cận những biến động phức tạp của đời sống, con người, truyện ngắn đã chiếm ưu thế và góp phần không nhỏ cho công cuộc đổi mới Hầu như tác giả nào cũng có truyện

ngắn gây ấn tượng với độc giả như: Kao Sơn - tập truyện Nơi bắt đầu (in chung, 1986), Người hát thánh ca (in chung, 1995); Hoàng Phương Nhâm - tập truyện Người hát thánh ca (in chung, 1995), Những tia nắng hình rẻ quạt (2001), Tê - rê - xa ngốc nghếch (2004), Những mảnh đời lầm lụi (2006), Về dại (2007), Dường như trời lại mưa (2008); Vũ Thanh Lịch - tập truyện Trú rét (2013), Đi qua đồng cói (2015); Ninh Đức Hậu - tập truyện Ánh sáng và âm thanh (2010), Ngô Xuân Hành - tập truyện Bến sông quê, Hai nửa vòng đời

Trang 29

(2004), Đắm đuối vì con (2016); Đỗ Quyên Quyên - tập Hoa hồng gai

(2007), Các sáng tác cơ bản có nội dung tốt, trong sáng, tích cực, góp phần xây dựng tâm hồn tình cảm con người và tình yêu quê hương đất nước Một số tác giả đã có nỗ lực tìm tòi để đổi mới thi pháp, bước đầu tạo được sự chú ý của công chúng trong và ngoài tỉnh

Nói về truyện ngắn, không thể không nhắc đến Kao Sơn và Hoàng Phương Nhâm là những cây bút tiên phong ở thể loại này Tác phẩm của họ luôn gắn với vùng đất và con người Ninh Bình Truyện ngắn của Hoàng Phương Nhâm, hiện thực nóng bỏng của cuộc sống đều được chắt lọc và phản ánh từ một khả năng quan sát tinh tế và trái tim đầy yêu thương nhân hậu Tác giả còn đề cập đến nhiều vấn đề bức thiết, những mặt trái của cuộc sống hiện tại trong thời buổi kinh tế thị trường Nhân vật trong truyện của bà là những con người bình thường nhưng lại có số phận không bình thường Họ là những người sa cơ, lỡ bước, những người không nơi nương tựa, những đứa trẻ mồ côi, những người trở về từ chiến trường mà thân thể không còn nguyên vẹn Đặc sắc của Kao Sơn là khả năng sắc sảo trong việc nắm bắt đời sống hiện thực, phát hiện ra những khuất lấp trong đời sống tâm hồn con người, trước những

thay đổi của xã hội Có lẽ vì thế mà bạn văn chương gọi ông là “nhà văn của những con người bất hạnh” Đọc truyện của Vũ Thanh Lịch người ta không dễ

quên, bởi mỗi truyện là một ám ảnh về số phận con người, cùng với bao chiêm nghiệm về thực tiễn những năm tháng đã đi qua, bao biến động thăng trầm của cuộc đời, những uẩn khúc giữa hai miền sáng tối Nhưng hơn hết vẫn là tình người, tình đời nhân ái, cao thượng, vị tha Đọc mỗi truyện ngắn, độc giả khám phá được những vấn đề về cuộc sống, về nhân sinh, làm giàu thêm cho đời sống tâm hồn con người

So với truyện ngắn, tiểu thuyết phát triển chậm hơn, một phần cũng bởi đặc trưng của thể loại này Ở thời kì đầu mới tách tỉnh, Ninh Bình chưa có tiểu

thuyết xuất hiện Mười một năm sau (2003) xuất hiện tiểu thuyết Dòng sông

Trang 30

thời con gái của Kao Sơn Từ đó đến nay, văn xuôi Ninh Bình xuất hiện được trên dưới 10 cuốn tiểu thuyết, tiêu biểu là tiểu thuyết Khúc đồng dao lấm láp của Kao Sơn (2001), Một đời người của Nguyễn Minh Ngọc (2012), Thằng còi của Vũ Văn Lâu (2014), Những mảnh đời gió bụi của Nguyễn Văn Thực (2014), Biệt thự Rose của Hoàng Phương Nhâm (2010), Ma tình của Đào Thu

Hà (2013), Chân núi có một con đường của Vũ Thanh Lịch (2015),… Đó là

những thành tựu của tiểu thuyết Ninh Bình Nhìn vào số lượng cho thấy tiểu thuyết Ninh Bình xuất hiện chưa nhiều Điều này đòi hỏi các tác giả, nhất là tác giả trẻ phải lấp đầy

Là một thể loại văn học nằm trong phương thức tự sự, ký là thể loại linh hoạt, nhạy bén trong việc phản ánh kịp thời những đổi thay về cuộc sống và con người trong thời kì đổi mới Ký thường xuất hiện trên tạp chí Văn nghệ Ninh Bình Tuy nhiên, những bài ký được tập hợp thành sách còn hiếm hoi Dấu ấn địa phương thể hiện rõ nhất qua các bài bút ký, ghi chép của Lâm Xuân

Vi, Lê Liêu, Lê Hữu Chư, Phạm Bình, Thanh Thản, Đinh Hữu Niên,… phản ánh kịp thời, sinh động từng bước đi lên của địa phương, đem đến cho người đọc một cái nhìn vừa cụ thể, vừa khái quát về cuộc sống và con người Ninh

Bình Nổi bật là tập ký Đi và ngẫm của Lâm Xuân Vi, Tiếng hát Ninh Bình quê

mẹ ở Trường Sa của Phạm Bình, Ông sì lồ của Lê Hữu Chư, Ký biển đảo Việt Nam của Đinh Hữu Niên,…

Sự đa dạng và phong phú trên bình diện thể loại đã đưa văn học vượt qua tình trạng lệ thuộc vào đề tài, mở ra sự phong phú trong khám phá và thể hiện hiện thực đời sống Những năm đầu sau chiến tranh, nhìn chung văn học vẫn đậm chất sử thi nhưng bắt đầu nới rộng nội dung hiện thực, đề cập đến nhiều vấn đề hơn và được độc giả quan tâm, tiếp nhận Khai thác các vấn đề đạo đức, nhân cách con người, các vấn đề tình yêu, hạnh phúc gia đình dưới góc độ đời

tư, văn xuôi thể hiện cảm hứng đạo đức rõ nét Quan tâm đến những vấn đề nảy sinh trong cuộc sống hàng ngày, đến những mối quan hệ của con người và

Trang 31

những diễn biến tâm tư, tình cảm của con người, văn xuôi sau 1975 đã mang lại cho văn học nhiều đổi mới mạnh mẽ không chỉ ở nội dung mà đổi mới trên cả bình diện nghệ thuật Từ sự thay đổi điểm nhìn trần thuật đến xây dựng nhân vật, kết cấu và nghệ thuật trần thuật khiến vấn đề được phản ánh trở nên khách quan, gần gũi, chân thực, giàu tính thuyết phục Ngôn ngữ đời thường được đưa vào tác phẩm một cách sinh động, hấp dẫn, gần gũi với cuộc sống đời thường Con người trong văn học hôm nay được nhìn ở nhiều vị thế trong tính đa chiều của mọi mối quan hệ: con người xã hội, con người lịch sử, con người với phong tục, với người khác và với chính mình,… giảm dần giọng điệu sử thi, ngợi ca Những dấu hiệu đổi mới này đã tạo nên diện mạo riêng và mới mẻ cho văn xuôi sau 1975

Trong sự giao lưu với đời sống văn hóa và văn học thế giới ngày càng mở rộng, văn học ngày càng gia tăng tính hiện đại Đối với mỗi người cầm bút, nhu cầu cách tân ngày càng trở thành động lực mạnh mẽ, nhất là thế hệ nhà văn xuất hiện từ thời kì đổi mới Biểu hiện tập trung nhất là những tìm tòi, khám phá trong cái muôn mặt của cuộc sống đời thường Vì vậy, các tác phẩm văn học Ninh Bình bộc lộ những nỗi niềm, xúc cảm trước sự đổi thay của đời sống

Có cả niềm tự hào vì sự đổi mới, phát triển, vươn lên, có cả những nuối tiếc khi những tác động từ mặt trái kinh tế thị trường làm mai một phần nào nét giản dị,

ân tình, mộc mạc, hồn nhiên của con người Các tác giả đào xới vào những tầng sâu của cuộc sống, khám phá những mạch ngầm, khái quát những vấn đề và quy luật của lịch sử, của nhân sinh cả trong quá khứ và hiện tại Đọc truyện của Kao Sơn, người đọc luôn thích thú bởi những vấn đề nhà văn gợi ra từ sau mỗi

cuộc đời, mỗi số phận nhân vật (Khúc đồng dao lấm láp, Dòng sông thời con gái, ) Trong truyện Hoàng Phương Nhâm, hiện thực cuộc sống được phản

ánh sinh động, tác giả đề cập đến nhiều vấn đề bức thiết, những mặt trái của

cuộc sống hiện tại trong thời buổi kinh tế thị trường (Dường như trời lại mưa, Biệt thự Rose, Người sau cùng trở về làng Vọc, Phận đàn bà,…) Truyện của

Trang 32

Vũ Thanh Lịch, mỗi truyện là một ám ảnh về thân phận con người, cùng bao

nhiêu biến động của cuộc sống (Trú rét, Đi qua đồng cói, Cây son ngừ,…)

Tuy có những thành công đáng kể, nhưng nhìn chung, văn xuôi Ninh Bình vẫn còn đơn giản trong cách viết, cách xây dựng tác phẩm, nên chưa thực sự hấp dẫn Có nhiều tác phẩm thể hiện dấu ấn địa phương ở những mức độ khác nhau, nhưng vẫn còn thiếu những tác phẩm khai thác, khám phá chiều sâu văn hóa địa phương Nhân vật trong truyện và tiểu thuyết tuy đa dạng, nhưng còn cảm tính, sơ lược, chưa có nhiều nhân vật mang cá tính độc đáo Những góc khuất của cuộc sống và con người chưa được nhiều tác giả khai thác thành công Mặc dù vậy, những thành quả mà văn xuôi Ninh Bình đạt được từ sau

Trang 33

Tiểu kết chương 1

Từ sau 1975, cùng với sự phát triển, đổi mới của văn học cả nước, văn xuôi Ninh Bình ngày càng xuất hiện nhiều tác giả với những tác phẩm có chất lượng tốt Nhờ đội ngũ ấy, trong những năm qua, văn xuôi Ninh Bình đã không ngừng tăng lên về số lượng và chất lượng tác phẩm so với các giai đoạn trước

đó Với hương sắc riêng, văn xuôi Ninh Bình sau 1975 đã phản ánh sinh động hiện thực đời sống, tư tưởng, tình cảm, của con người Ninh Bình, góp phần làm nên vẻ đẹp đa dạng, phong phú cho nền văn học dân tộc nói chung và văn học Ninh Bình nói riêng Đặc biệt, đây cũng là giai đoạn mà những ưu thế thiên nhiên ban tặng cho tỉnh nhà như danh lam thắng cảnh, các di tích văn hóa, lịch

sử đã được khái thác, khơi gợi cảm xúc cho con người và cảm hứng sáng tác của văn nghệ sĩ

Trong những năm qua, văn học Ninh Bình đã có sự chuyển mình đổi thay với những bước phát triển mới trên mọi mặt của đời sống xã hội Sự góp mặt của các cây bút trên hầu hết các thể loại văn học là minh chứng rõ nhất Qua đó cho thấy, văn xuôi là một đề tài lớn, có vị trí quan trọng, thu hút được sự chú ý của nhiều nhà văn trong các thời kì, giai đoạn văn học từ đầu thế kỉ XX đến nay, tạo nên bức tranh hoàn chỉnh, đa dạng, toàn diện về hiện thực xã hội Ninh Bình trong các thời kì lịch sử được phản ánh trong văn học Đồng thời, hình ảnh con người trong văn học cũng có sự biến đổi theo những đổi thay của hoàn cảnh lịch sử, xã hội cùng với sự mở rộng và đào sâu các hướng tiếp cận và sự khám phá về con người Góp phần đáng kể vào thành tựu chung của văn xuôi hiện đại, văn học Ninh Bình đang có những bước tiến xa hơn trong sự giao lưu, hòa nhập với dòng văn học của cả nước

Trang 34

Chương 2 VĂN XUÔI NINH BÌNH SAU 1975 TỪ PHƯƠNG DIỆN NỘI DUNG

Cùng với sự phát triển của văn xuôi đương đại, văn xuôi Ninh Bình sau

1975 đã có những thay đổi nhất định về nội dung phản ánh và hình thức thể hiện Đây là sự thay đổi tất yếu của văn học, hướng tới những vấn đề thời sự nóng bỏng Khuynh hướng sử thi trước đây đã dần được thay thế bằng khuynh hướng hiện thực những vấn đề về xã hội, nhân sinh được nhà văn chuyển tải qua những thông điệp của đời sống Sự đột phá, sáng tạo của đội ngũ nhà văn mới đã khẳng định nỗ lực tìm tòi, giàu nhiệt huyết, tài năng của mình Có nhiều tác giả, tác phẩm tạo được ấn tượng tốt trên văn đàn cả nước nói chung và văn học Ninh Bình nói riêng, được bạn đọc yêu mến đón nhận

Cho tới hôm nay, những dấu mốc lịch sử bi tráng, hào hùng ấy vẫn luôn là nguồn cảm hứng sáng tạo của nhiều thế hệ văn nghệ sĩ Ninh Bình Các nhà văn

có điều kiện nhận thức lại hiện thực chiến tranh và người lính, khắc phục cái nhìn phiến diện, đơn giản, gò bó như giai đoạn trước Với cái nhìn mới, người lính hiện ra sinh động hơn, chân thật hơn, có chiều sâu tâm lí hơn Trong cái nhìn phong phú, đa dạng, phức tạp ấy, văn xuôi Ninh Bình sau 1975 đã nhanh chóng chuyển mình để đáp ứng nhu cầu phản ánh những hiện thực mới của địa phương và con người trong tính chân thật, cụ thể và tính nhân văn, nhân ái đa dạng sinh động Ngoài đề tài chiến tranh, luận văn sẽ tìm hiểu về đề tài thế sự - đời tư thông qua một số tác phẩm tiêu biểu của các tác giả như: Kao Sơn, Hoàng Phương Nhâm, Vũ Thanh Lịch

2.1 Đề tài chiến tranh và người lính

2.1.1 Ký ức chiến tranh

Chiến tranh vốn là đề tài được trở đi trở lại nhiều trong văn học Không phải ai trải qua chiến tranh cũng viết được và viết hay về chiến tranh Hiện thực cuộc sống mới chỉ là tư liệu, sản phẩm văn học còn phụ thuộc vào tài năng của người cầm bút Sau 1975, với sự thay đổi quan niệm về hiện thực, văn học đã

Trang 35

nghiêng về khai thác đề tài chiến tranh, với cái nhìn chân thật, sinh động cung cấp cho bạn đọc về một thời chinh chiến đã qua

Trước năm 1975, nếu như chiến tranh được miêu tả bằng cái nhìn sử thi và cảm hứng lãng mạn với những chiến thắng vẻ vang và lòng tự hào dân tộc thì sau 1975, các nhà văn Ninh Bình đã đi sâu vào khắc họa hình ảnh chiến tranh với bao nỗi đau trĩu nặng Dưới cái nhìn hiện thực thay cho cái nhìn lãng mạn,

họ soi chiếu ngòi bút vào từng ngóc ngách của cuộc chiến và tâm hồn người lính để phản ánh những đau thương mất mát, khốc liệt mà chiến tranh đã tạo nên Chính những đấu tranh, dằn vặt nội tâm gay gắt, dai dẳng với bản thân nhân vật, nhà văn đã tô đậm những cảm xúc của các nhân vật, làm gia tăng tính khốc liệt của các sự kiện diễn ra trong đời sống

Cuộc chiến tranh giải phóng dân tộc đã lùi xa, nhưng nỗi đau mà nó để lại cho con người trên mảnh đất này vẫn chưa phai mờ Còn rất nhiều liệt sĩ chưa tìm được hài cốt hay chưa xác định được tên tuổi, quê quán Văn học

về chiến tranh vì thế như món nợ tinh thần mà các thế hệ nhà văn còn trăn trở Là người đã từng đóng góp sức trẻ và tuổi thanh xuân của mình cho chiến thắng vĩ đại của dân tộc, Hoàng Phương Nhâm dành nhiều tâm huyết viết về quá khứ của một thời khói lửa bằng sự trải nghiệm sâu sắc Trong sáng tác của bà, những vấn đề về chiến tranh và hậu chiến vẫn luôn ám ảnh, day dứt Chiến tranh đã được mô tả, khắc họa trong những hoàn cảnh ác liệt, với những sự thật trần trụi, với diễn biến tâm lí phức tạp của người lính, những vết thương sâu thẳm trong trái tim con người trong và sau cuộc chiến Tuy nhiên, sự khốc liệt của chiến tranh chỉ là phông nền để bộc lộ những phẩm chất tốt đẹp của con người

Nhân vật trong truyện Hoàng Phương Nhâm là những người bình thường nhưng lại có số phận không bình thường Trở về từ chiến trường, có người thân thể không còn nguyên vẹn, mà nếu còn nguyên vẹn thì tương lai của họ lại bị

đe dọa bởi thứ chất hủy diệt mà đế quốc Mỹ đã gây ra Nhân vật trong Dường

Trang 36

như trời lại mưa, Người sau cùng trở về làng Vọc, Người đàn bà hư hỏng,… là

những hình ảnh tiêu biểu của con người Việt Nam trong chiến tranh: dũng cảm, gan góc, vượt mọi khó khăn, gian khổ, chấp nhận hy sinh, sẵn sàng xả thân vì độc lập - tự do - thống nhất Tổ quốc

Với truyện Dường như trời lại mưa, nhân vật chính là một gã điên Trong

chiến tranh gã điên ấy đã từng là người lính dũng cảm, bị thương, trở về giữa đời thường nhưng trong tâm hồn, trong trái tim anh không lúc nào quên hình ảnh về những người đồng đội của mình trong chiến tranh Những cử chỉ, hành động của gã đã toát lên nghĩa tình đồng chí, đồng đội nhưng thật trớ trêu, trong

mắt mọi người anh là thằng điên: “Trời mưa! Gã đi trên hè phố, quần áo tả tơi, đầu không nón mũ, râu tóc bờm xờm, tất cả đều bị nước mưa làm cho dính bết vào cái thân hình gầy gò, tiều tụy của gã” [37, tr.54] Gặp cái cây đổ ở ven

đường, lúc nào gã cũng tưởng mình đã gặp được bạn cũ nên cứ cố kéo cái cây đứng dậy Không hề nghĩ cho bản thân, gã điên đã dành cái áo duy nhất của mình che cho thân cây bị đổ, dành khẩu phần ăn của mình là chiếc bánh mì đã

nhũn vì nước mưa cho cây “ăn”: “Gã thò tay vào cạp quần móc ra chiếc bánh

mì bẹp gí đã bắt đầu nhũn ra vì ngấm nước mưa đặt vào chỗ cành cây bị cắt cụt chỉ còn một mẩu đang chĩa thẳng về phía gã như cầu cứu Cái bánh ướt nhũn dính vào vỏ cây Gã cởi luôn cái áo ướt sũng ra khoác cho cái cây” [37,

tr.55] Giống như những ngày ở chiến trường, các đồng chí, đồng đội của anh đang cần được che chở, giúp đỡ Đó là những năm tháng hào hùng trong chiến trường khốc liệt, là nghĩa tình đồng chí, đồng đội thân yêu Dư âm chiến tranh luôn đeo đuổi, ám ảnh, hiện hữu trong tiềm thức của gã điên ấy Nhưng cho dù rơi vào tình cảnh vô thức, trong anh vẫn có một niềm thức tỉnh Gã điên thật sự

thức tỉnh khi thấy xung quanh mình đồng đội “đã về đủ cả”: “Khi gã điên tỉnh lại thấy quanh mình những người đồng đội Họ nhìn gã thân thiện Gã cười với

họ và hỏi: Về cả rồi chứ? Họ gật đầu: Về cả rồi!” [37, tr.67] Chữa bệnh cho

anh, cưu mang đùm bọc anh là những nữ đồng đội, những người đã cùng anh vào sinh ra tử, là bác xích lô giàu lòng nhân ái Họ xót xa trước hoàn cảnh của

Trang 37

anh, một thời cống hiến sức mình cho đất nước, giờ đây sống trong ám ảnh, lẻ loi, phải vật lộn với cuộc sống giữa đời thường Viết về những người đã cùng

“vào sinh ra tử” những năm tháng hào hùng trong quân ngũ, Hoàng Phương

Nhâm luôn dành nhiều tình cảm, nỗi niềm trước hoàn cảnh của hai cô gái, một

thời cống hiến tuổi thanh xuân cho đất nước và cả hai đều ở cảnh “quá lứa nhỡ thì” Trở về sau chiến tranh, họ là những mảnh đời bất hạnh, nghèo khó,

vá víu, nương tựa vào nhau “Khi xuất ngũ, chị đưa Hằng về ở với mình trong một ngôi nhà nhỏ tại khu ngoại vi thị xã… Ban ngày chị đưa Hằng đến làm việc ở một cơ sở dành cho những người khiếm thị rồi đạp xe xuống bãi than Công việc của chị ở bãi than chẳng lấy gì làm nhàn hạ nhưng tiền lương hàng tháng cũng đủ cho hai chị em sống tằn tiện” [37, tr.61] Tác giả đã rất tinh tế

khi miêu tả những người lính trở về sau chiến tranh, để toát lên vẻ đẹp của tình đồng chí Chính tình đồng chí, đồng đội là sức mạnh, là chất kết dính bền chặt nâng đỡ những cuộc đời đau khổ Câu chuyện đem lại cho người đọc những suy ngẫm về giá trị cuộc sống, về tình người, về hạnh phúc đời thường giản dị trong cuộc sống bộn bề hôm nay

Chiến tranh trở thành kí ức bi thảm, kinh hoàng của những ai đã từng trải qua, trở thành những hồi ức day dứt, ám ảnh trong tâm trí con người Trong dòng chảy của văn học Việt Nam, Bảo Ninh cũng đã mang đến chân dung ám

ảnh của nhân vật Kiên (Nỗi buồn chiến tranh) Chiến tranh đã lấy đi của anh

tuổi trẻ, tình yêu và cái nhìn chân thành, trong sáng vào cuộc đời Vậy nên khi trở về đời thường, anh trở thành một tay nhà văn phường lập dị, một kẻ mộng

du không sao hòa nhập được với hiện tại Quá khứ găm đầy vết thương của chiến tranh Mối tình đầu vốn dĩ cho anh nghị lực sống cũng rơi vào bi kịch Oái ăm thay, nghịch lý thay, quá khứ ấy lại cho Kiên cái quyền nhìn về nó anh mới thấy mình thật sự đang sống

Văn học quan tâm đến số phận con người gắn liền với hạnh phúc và đau khổ đã góp phần nâng cao giá trị của con người, bồi dưỡng nhân cách và hoàn thiện con người hơn Đọc tác phẩm của Hoàng Phương Nhâm, chúng ta hiểu

Trang 38

con người trăn trở, nhận thức như thế nào về quá khứ, về chiến tranh, về những

gì được mất trong cuộc đời

Khai thác những góc khuất của chiến tranh, các tác giả văn xuôi Ninh Bình đã rất nhạy cảm khi nhận ra nỗi đau giới tính thầm lặng, cô đơn, sự chờ đợi trong vô vọng của bao nhiêu người phụ nữ Những cặp vợ chồng chỉ được sống với nhau những tháng ngày ngắn ngủi Những cặp tình nhân không kịp trở

về thực hiện lời ước hẹn Văn và Mẫn, Lãm, Hòa (Người sau cùng trở về làng Vọc của Hoàng Phương Nhâm), Thảo và Vụ (Suối nữ của Vũ Thanh Lịch), Thăng và Nụ (Ngày trở về của Đinh Ngọc Lâm), chị Hiền Thư (Trở lại làng Đừng của Trần Duy Đới) là những số phận éo le ấy Truyện Người sau cùng trở về làng Vọc của Hoàng Phương Nhâm là câu chuyện trở về của Văn sau bao

nhiêu năm cầm súng, gặp lại những người thân quen: bà cụ Phan, cô Lãm,… từng lời nói của họ khiến Văn day dứt Sự trở về của anh là niềm vui đối với

gia đình, là niềm vui đối với Mẫn “Cô vội lấy hai bàn tay bưng mặt Đôi vai gầy của cô rung lên từng chặp Nước mắt lọt qua kẽ tay từng giọt rơi xuống, biến mất trên nền sân đất” [35, tr.99] những giọt nước mắt của cô là nỗi vui

mừng khôn xiết giành cho Văn Bên cạnh những giọt nước mắt của sự mừng vui, đoàn tụ ngày độc lập còn là nỗi niềm xa xót của những gia đình có con đi

chiến đấu mà không có ngày trở về: “Bà lão bỗng ngậm ngùi - Hai thằng con trai nhà Phan đi bộ đội trước cháu mà chẳng có thằng nào về cả!”, [35, tr.95]

là nỗi nhớ nhung, chờ đợi mòn mỏi của người mẹ, người phụ nữ có chồng

(Lãm), có người yêu (Hòa) đi chiến đấu không trở về: “Họ lầm lụi sống và lầm lụi yêu” (Hoàng Phương Nhâm) Từ chính những cuộc đời lầm lụi của họ lại

ánh lên tấm lòng thủy chung, nhân hậu, vị tha, giàu đức hy sinh Những câu văn se sắt, nghẹn ngào Người mãi mãi nằm lại, người mòn mỏi đợi chờ Thời gian qua đi, tuổi xuân úa tàn, chỉ còn lại nước mắt, nhạt nhòa ẩn hiện miền kí

ức yêu thương một thuở… chính tình yêu và lòng thủy chung là ánh sáng dẫn đường cho người phụ nữ vượt lên sóng gió cuộc đời Sự trở về của Văn mang

Trang 39

lại bao niềm hạnh phúc, đám cưới của Văn và Mẫn là trái ngọt sau chục năm

trời chờ đợi “người đã đợi anh ngót chục năm trời đằng đẵng mặc tin gần, tin

xa, trong trái tim cô vẫn rực cháy một ngọn lửa niềm tin được thắp sáng”

[35, tr.102] Cuộc sống của vợ chồng anh được mọi người nhìn bằng con mắt

có chút thèm thuồng, ghen tỵ Rồi vợ chồng anh cũng sắp có con Những tưởng hạnh phúc sẽ viên mãn nhưng rồi bi kịch khác lại đến với gia đình Văn Hai đứa con của anh bị dị tật do hậu quả của chất độc khi Văn còn ở chiến trường Bi kịch ấy đến với gia đình anh một cách đột ngột, đau đớn đối với

mỗi người trong gia đình Cuộc chiến tranh đã lùi xa, đất nước đã hoàn toàn

giải phóng nhưng nỗi đau mà nó để lại cho những người dân nơi đây vô cùng lớn Chiến tranh đã gây ra bao nghịch lý đau thương cho những người dân trên mảnh đất này Sự chờ đợi mòn mỏi của những người mẹ, người vợ, người

em, người yêu,… với những tình cảm của họ có thể đo bằng chiều dài của cuộc kháng chiến, nhưng họ vẫn chờ với một niềm tin son sắt, thủy chung

rằng “ngày mai anh ấy sẽ về” Có những người phụ nữ hy sinh cả tuổi thanh

xuân mỏi mòn chờ đợi nhưng người chồng, người yêu của họ không bao giờ trở về nữa Nhà văn dường như nhạy cảm hơn, xót xa hơn trước những nỗi đau, mất mát mà chiến tranh gây ra, trước sự khắc nghiệt của chiến tranh in hằn lên số phận nhỏ bé của con người Đó còn là bi kịch của Hiền Thư - vợ bộ

đội trong truyện Trở lại làng Đừng của Trần Duy Đới Bố chồng chị đã hy

sinh, chồng chị, anh Quyền cũng hy sinh, chị đã phải lặng thầm nén nỗi niềm

trong lòng, không để mẹ chồng biết Để có động lực sống tiếp, chị chủ động

muốn có con với Phúc, một trong ba chàng trai trọ học mà chị yêu quý như

em trai Trớ trêu thay, Đức - đứa con của chị với Phúc cũng hy sinh ngoài mặt trận như bố của nó vậy Mình chị ở lại căn nhà trống vắng, nhang khói cho

bốn bát hương liệt sĩ “Cái số của chị nó phải vậy chú ạ Bố chồng liệt sĩ, Chồng hy sinh ngoài mặt trận Bố của con chị cũng tử trận Được một đứa con cho ra trận, rồi nó cũng chẳng trở về!” [14, tr.132] Đối với gia đình

Trang 40

Phúc, chị chưa muốn cho gia đình Phúc biết chuyện anh có con, vì sợ đã mất con, lại mất luôn cả cháu họ không trụ nổi Nhưng tiền tuất và tiền phụ cấp hàng tháng của Đức, chị cất đi, chờ có dịp sẽ chuyển cho gia đình Phúc Câu chuyện kết thúc đầy tính nhân văn

Trong dòng chảy văn học Việt Nam, những bi kịch cá nhân ấy còn được diễn tả trong sáng tác của nhà văn Nguyễn Minh Châu Đó là hoàn cảnh trớ

trêu, bi kịch của mẹ Êm (Miền cháy của Nguyễn Minh Châu) khi phát hiện ra

Sinh chính là con của kẻ sát nhân đã giết chết con trai mình, mẹ Êm đã phải trải qua một quá trình đấu tranh tư tưởng thật quyết liệt Mặc dù trải qua những bi kịch của cuộc đời, nhưng với phẩm chất bao dung nhân hậu cao quý, mẹ Êm đã

cố nén nỗi đau mất con, bà đã có cách ứng xử đầy tình người: “Tội của cha hắn thì cha hắn chịu Hắn chỉ là một đứa con nít Hắn đã biết chi?” [55, tr 1404]

Vì thế mà câu chuyện mang đậm tính nhân văn

Có thể thấy, đọc truyện của Hoàng Phương Nhâm, người đọc luôn có niềm tin vào những điều tốt đẹp Nhân vật trong truyện của bà khá phong phú, mỗi cuộc đời, mỗi số phận là một cảnh ngộ khác nhau Cho dù chiến tranh đã lùi xa nhưng hậu quả nặng nề của nó vẫn còn đó: những mảnh đất xác xơ, những số phận bi thảm vì bom đạn, có những người lính trở về với vết thương, bệnh tật và những cảnh đời éo le, thầm lặng, cô đơn; có những đứa trẻ lớn lên mang đầy dị tật bởi chúng là nạn nhân của chất độc màu da cam Nhiều người lính đã mãi mãi nằm lại chiến trường, để lại trong gia đình biết

bao nỗi day dứt, ngóng đợi

Không giống như lớp nhà văn với trải nghiệm trực tiếp, Vũ Thanh Lịch - nhà văn trẻ nhìn chiến tranh qua tư liệu, qua các di tích lịch sử, qua những câu chuyện kể Bởi vậy, nhà văn thường chú ý đến những suy tư, xúc cảm, những diễn biến phức tạp trong nội tâm của người lính sau chiến tranh Dễ nhận ra

trong sáng tác của Vũ Thanh Lịch là truyện ngắn Suối nữ Trong truyện cảnh

tàn phá, hủy diệt của chiến tranh đã được tác giả miêu tả một cách ghê rợn:

Ngày đăng: 03/12/2019, 11:23

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w