1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

XÂY DỰNG CHỦ ĐỀ “TÌM HIỂU NGHỀ ĐÚC ĐỒNG Ở LÀNG NGHỀ TỐNG XÁ Ý YÊN – NAM ĐỊNH” TRONG DẠY HỌC VẬT LÍ 10 THEO ĐỊNH HƯỚNG TRẢI NGHIỆM SÁNG TẠO

91 91 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 91
Dung lượng 2,3 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Để thực hiện được điều đó một trong những khâu quan trọng là tiếp tục đổi mới mạnh mẽ phương pháp dạy và học theo định hướng phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo của học sinh; tập

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC

VŨ VĂN TẤN

XÂY DỰNG CHỦ ĐỀ

“TÌM HIỂU NGHỀ ĐÚC ĐỒNG Ở LÀNG NGHỀ

TỐNG XÁ - Ý YÊN – NAM ĐỊNH” TRONG DẠY HỌC VẬT LÍ 10

THEO ĐỊNH HƯỚNG TRẢI NGHIỆM SÁNG TẠO

LUẬN VĂN THẠC SĨ SƯ PHẠM VẬT LÍ

HÀ NỘI - 2018

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC

VŨ VĂN TẤN

XÂY DỰNG CHỦ ĐỀ “TÌM HIỂU NGHỀ ĐÚC ĐỒNG Ở LÀNG NGHỀ

TỐNG XÁ - Ý YÊN – NAM ĐỊNH” TRONG DẠY HỌC VẬT LÍ 10 THEO ĐỊNH HƯỚNG TRẢI NGHIỆM SÁNG TẠO

LUẬN VĂN THẠC SĨ SƯ PHẠM VẬT LÍ CHUYÊN NGÀNH: LÍ LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC VAT LÍ

Mã số: 8 14 01 11

Người hướng dẫn khoa học: TS DƯƠNG XUÂN QUÝ

HÀ NỘI - 2018

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Để có thể hoàn thành đề tài luận văn thạc sĩ này, bên cạnh sự nỗ lực cố gắng của bản thân, tác giả còn nhận được sự hướng dẫn nhiệt tình của quý Thầy, Cô cũng như sự động viên ủng hộ của gia đình và bạn bè trong suốt thời gian học tập nghiên cứu và thực hiện luận văn thạc sĩ

Tác giả xin chân thành bày tỏ lòng biết ơn đến toàn thể quý thầy cô trong Trường Đại học Giáo Dục - ĐHQGHN đã tận tình truyền đạt những kiến thức quý báu cũng như tạo mọi điều kiện thuận lợi nhất cho tác giả trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu

Tác giả xin chân thành bày tỏ lòng biết ơn đến tập thể cán bộ giáo viên các trường trong huyện Ý Yên – Nam Định: Trường THPT Đại An, THPT Phạm Văn Nghị, THPT Đỗ Huy Liêu, THPT Tống Văn Trân, THPT Mỹ Tho, THPT Lý Nhân Tông; tập thể lớp 10A3, 10A4 trường THPT Đại An – Ý Yên – Nam Định cùng hội cha mẹ học sinh của lớp đã không ngừng hỗ trợ, hợp tác và tạo mọi điều kiện tốt nhất cho tác giả trong suốt thời gian học tập, nghiên cứu và thực hiện luận văn Đặc biệt, tác giả xin chân thành cảm ơn Thầy giáo – TS Dương Xuân Quý, người đã hết lòng giúp đỡ, chỉ bảo, hướng dẫn và tạo mọi điều kiện tốt nhất cho tác giả hoàn thành luận văn này

Cuối cùng, tác giả xin chân thành cảm ơn đến gia đình, các anh chị và các bạn đồng nghiệp đã hỗ trợ cho tác giả rất nhiều trong suốt quá trình học tập, nghiên cứu

và thực hiện đề tài luận văn thạc sĩ một cách hoàn chỉnh

Hà Nội, ngày 20 tháng 1 năm 2018

Học viên

Vũ Văn Tấn

Trang 5

DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 2.1: Phiếu đánh giá dành cho nhóm 55

Bảng 2.2 Nội dung viết bài thu hoạch 56

Bảng 2.3 Bản xác định các tiêu chí đánh giá theo mức độ 57

Bảng 2.4 Phiếu đánh giá dành cho giáo viên 58

Bảng 2.5 Phiếu phỏng vấn của nhóm 1 về lịch sử hình thành và phát triển của Làng đúc đồng Tống Xá – Ý Yên – Nam Định 59

Bảng 2.6 Phiếu phỏng vấn của nhóm 2 về các công cụ sử dụng trong đúc đồng 59

Bảng 2.7 Phiếu phỏng vấn của nhóm 3 về quy trình đúc đồng 60

Bảng 2.8 Phiếu phỏng vấn của nhóm 4 về vai trò của sự chuyển thể các chất trong đúc đồng 60

Bảng 3.1 Kết quả học tập học kì I (năm học 2016-2017) của hai lớp 10A3, 10A4 - trường THPT Đại An 62

Bảng 3.2 Kết quả điểm của lớp 10A3 63

Bảng 3.3 Kết quả điểm của lớp 10A4 63

Trang 6

DANH MỤC CÁC HÌNH

Hình 2.1: Học sinh 10A3 phỏng vấn các công nhân đúc đồng 49

Hình 2.2 Học sinh 10A4 trải nghiệm một số công đoạn chế tác đồng 50

Hình 2.3 Poster giới thiệu về làng đúc đồng Tống Xá 51

Hình 2.4 Bài viết thu hoạch cá nhân của học sinh 10A4 53

Trang 7

MỤC LỤC

Lời cảm ơn i

Danh mục các chữ viết tắt ii

Danh mục các bảng iii

Danh mục các hình……… iv

MỞ ĐẦU 1

Chương 1:CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆC TỔ CHỨC DẠY HỌC TRẢI NGHIỆM SÁNG TẠO TRONG MÔN VẬT LÍ Ở TRƯỜNG THPT 6

1.1 Giáo dục học về hoạt động trải nghiệm sáng tạo 6

1.1.1 Những tư tưởng về học tập trải nghiệm trên thế giới 6

1.1.2 Quan điểm học tập trải nghiệm ở Việt Nam 12

1.2 Một số khái niệm thuật ngữ cơ bản 16

1.2.1 Hoạt động 16

1.2.2 Trải nghiệm 16

1.2.3 Sáng tạo 17

1.2.4 Năng lực 18

1.2.5 Hoạt động trải nghiệm sáng tạo 18

Tiểu kết chương 1 28

Chương 2: XÂY DỰNG CHỦ ĐỀ “TÌM HIỂU NGHỀ ĐÚC ĐỒNG Ở LÀNG NGHỀ TỐNG XÁ – Ý YÊN – NAM ĐỊNH” TRONG DẠY HỌC VẬT LÍ 10 THEO ĐỊNH HƯỚNG TRẢI NGHIỆM SÁNG TẠO 29

2.1 Giới thiệu chung về chương “Chất rắn và chất lỏng Sự chuyển thế” – Vật lí 10 – Ban cơ bản 29

2.1.1 Cấu trúc, nội dung chương "Chất rắn và chất lỏng Sự chuyển thể" 29

2.1.2 Nội dung kiến thức và mục tiêu cần đạt được khi dạy học chương “Chất rắn và chất lỏng Sự chuyển thể” 30

2.2 Những yêu cầu chung về thiết kế hoạt động trải nghiệm sáng tạo 34

2.3 Cấu trúc chung của chủ đề hoạt động trải nghiệm sáng tạo 35

Trang 8

2.4 Thiết kế các hoạt động học tập khi xây dựng chủ đề “Tìm hiểu nghề đúc đồng ở làng nghề Tống Xá – Ý Yên – Nam Định” trong dạy học vật lí 10 theo hướng trải

nghiệm sáng tạo 37

Tiểu kết chương 2 61

Chương 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 62

3.1 Một vài đặc điểm về hai lớp thực nghiệm 62

3.2 Phân tích điểm số thu được sau hoạt động 62

3.3 Phân tích các phiếu điều tra phỏng vấn 63

Tiểu kết chương 3 69

KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 70

1 Kết luận 70

2 Khuyến nghị 70

TÀI LIỆU THAM KHẢO 73

PHỤ LỤC 75

Trang 9

và các phẩm chất, năng lực khác ở từng lớp, từng cấp học, coi đó là cam kết bảo đảm chất lượng của cả hệ thống và từng cơ sở giáo dục, là căn cứ để chỉ đạo, giám sát và đánh giá chất lượng giáo dục phổ thông

Để thực hiện được điều đó một trong những khâu quan trọng là tiếp tục đổi mới mạnh mẽ phương pháp dạy và học theo định hướng phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo của học sinh; tập trung dạy cách học và rèn luyện năng lực tự học, tạo cơ sở để học tập suốt đời, tự cập nhật và đổi mới tri thức, kỹ năng, phát triển năng lực; khắc phục lối truyền thụ áp đặt một chiều, ghi nhớ máy móc; vận dụng các phương pháp, kỹ thuật dạy học một cách linh hoạt, sáng tạo, phù hợp với mục tiêu, nội dung giáo dục, đối tượng học sinh và điều kiện cụ thể của mỗi cơ sở giáo dục phổ thông Đa dạng hoá hình thức tổ chức học tập, coi trọng cả dạy học trên lớp

và các hoạt động xã hội, trải nghiệm sáng tạo, tập dượt nghiên cứu khoa học Phối hợp chặt chẽ giáo dục nhà trường, giáo dục gia đình và giáo dục xã hội Đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin và truyền thông trong các hoạt động giáo dục

Đặc biệt ở chương trình giáo dục cấp trung học phổ thông nhằm giúp học sinh hình thành phẩm chất và năng lực của người lao động, nhân cách công dân, ý thức quyền và nghĩa vụ đối với Tổ quốc trên cơ sở duy trì, nâng cao và định hình các phẩm chất, năng lực đã hình thành ở cấp trung học cơ sở; có khả năng tự học và

ý thức học tập suốt đời, có những hiểu biết và khả năng lựa chọn nghề nghiệp phù

Trang 10

hợp với năng lực và sở thích, điều kiện và hoàn cảnh của bản thân để tiếp tục học lên, học nghề hoặc bước vào cuộc sống lao động

Trong những năm qua, việc dạy và học bộ môn vật lí ở trường phổ thông về

cơ bản có nhiều đổi mới nhất định Có nhiều thí nghiệm được sử dụng trong quá trình dạy và học, trên tinh thần người học tự thực hiện các thí nghiệm để tìm ra tri thức hoặc xác nhận kiến thức dưới sự hướng dẫn của thầy giáo Tuy nhiên việc dạy

và học hầu như còn bó buộc trong lớp học, các thí nghiệm tuy ngày càng được cải tiến, hoàn thiện về độ đơn giản, chính xác nhưng việc học chủ yếu ở việc học sinh thực hiện theo các bước được quy định sẵn mà chưa thể hiện được sự sáng tạo của mình Điều này làm các em chưa cảm nhận được sự vất vả của các nhà khoa học trong việc khám phá tri thức, các em chưa cảm nhận được sự sáng tạo và việc cần thiết của sự sáng tạo trong tìm hiểu tri thức Bên cạnh đó theo xu hướng đổi mới giáo dục sau năm 2018 thì việc dạy học tích hợp trong trường phổ thông được diễn

ra mạnh mẽ Việc này đòi hỏi các em phải có sự kết hợp kiến thức của các môn học khác

Luật giáo dục được Quốc hội khóa XI, kì họp thứ 7 thông qua tháng 6/2005,

điều 28- “ Yêu cầu về nội dung, phương pháp giáo dục phổ thông” đã chỉ rõ:

“phương pháp giáo dục phổ thông phải phát huy tính tích cực tự giác, chủ động sáng tạo của học sinh, phù hợp với đặc điểm của từng lớp học, môn học, bồi dưỡng phương pháp tự học, rèn luyện kĩ năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn, tác động đến tình cảm, đem lại niềm vui, hứng thú học tập cho học sinh”

Với mục tiêu nâng cao chất lượng dạy học vật lí ở phổ thông nói riêng các môn học khác nói chung, các nhà nghiên cứu sư phạm đã đưa ra nhiều phương pháp dạy học hiện đại ở các bài học nội khóa và ngoại khóa Hoạt động ngoại khóa là hình thức tổ chức dạy học nhằm hỗ trợ, bổ sung cho các giờ lên lớp nó có tính chất

tổ chức tổ chức tổng hợp, làm phong phú, sâu sắc thêm kiến thức của học sinh về các mặt khác nhau của đời sống xã hội, hoạt động ngoại khóa còn tạo hứng thú học tập cho học sinh

Tuy nhiên trên thực tế hoạt động ngoại khóa mới được tổ chức lẻ tẻ ở một số trường đặc biệt là những trường trọng điểm với các hình thức như nói chuyện, phát động học sinh sưu tầm tài liệu đơn giản Trong những hình thức này học sinh

Trang 11

không chủ động lĩnh hội trị thức mà chỉ tham gia do sức ép, lấy lệ Vậy làm thế nào

để phát huy năng lực học sinh trong dạy học vật lí Đây là mối quan tâm hàng đầu của các nhà lí luận dạy học cũng như các giáo viên ở phổ thông Một hướng góp phần nâng cao chất lượng dạy học đó là tổ chức hoạt động trải nghiệm sáng tạo Đây có thể được coi là hình thức học tập trải nghiệm gắn học tập với thực tiễn, gắn giáo dục trong nhà trường với giáo dục ngoài xã hội, “phá vỡ” không gian lớp học, đồng thời có sự tham gia của nhiều nguồn lực vào quá trình giáo dục Đây là một hình thức tổ chức dạy học tạo điều kiện để cho học sinh có những trải nghiệm khám phá mới mẻ, qua đó góp phần hình thành năng lực, kĩ năng làm việc nhóm, kĩ năng sưu tầm,

Để góp phần nâng cao chất lượng giảng dạy thông qua hoạt động trải

nghiệm sáng tạo cho học sinh, tác giả chọn đề tài “Xây dựng chủ đề “Tìm hiểu

nghề đúc đồng ở làng nghề Tống Xá – Ý Yên – Nam Định” trong dạy học vật lí

10 theo định hướng trải nghiệm sáng tạo”

2 Mục đích nghiên cứu

Khẳng định vai trò và ý nghĩa của hoạt động học tập trải nghiệm sáng tạo, từ

đó xây dựng chủ đề “ tìm hiểu nghề đúc đồng ở làng nghề Tống xá- Ý Yên – Nam Định” để sử dụng trong dạy học theo định hướng trải nghiệm sáng tạo nhằm phát triển tính tích cực và năng lực sáng tạo của học sinh lớp 10 ở trường THPT Đại An – Ý Yên – Nam Định

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

3.1 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của đề tài chính là vấn đề cách thức tổ chức hoạt động trải nghiệm sáng tạo trong việc xây dựng chủ đề “ Tìm hiểu nghề đúc đồng ở làng nghề Tống xá – Ý Yên – Nam Định” khi dạy học vật lí 10 ở trường THPT Đại An -

Trang 12

4 Câu hỏi nghiên cứu

- Tổ chức hoạt động học tập trải nghiệm sáng tạo có ý nghĩa và vai trò như thế nào trong giáo dục nói chung và dạy học môn Vật lí lớp 10 nói riêng?

- Các thức tổ chức thực nghiệm sư phạm bằng hoạt động tìm hiểu nghề đúc đồng ở làng nghề Tống Xá – Ý Yên – Nam Định khi dạy học vật lí lớp 10 như thế nào theo hướng trải nghiệm sáng tạo cho học sinh?

5 Giả thuyết khoa học

Nếu xây dựng được chủ đề “ tìm hiểu nghề đúc đồng ở làng nghề Tống xá- Ý Yên – Nam Định” và vận dụng phù hợp với cách thức tổ chức hoạt động học tập trải nghiệm sáng tạo thì sẽ phát triển được ở học sinh tính tích cực và năng lực sáng tạo của học sinh

6 Nhiệm vụ nghiên cứu

- Nghiên cứu cơ sở lí luận của việc tổ chức hoạt động trải nghiệm sáng tạo như: khái niệm, nội dung, yêu cầu, các hình thức tổ chức học tập trải nghiệm sáng tạo

- Nghiên cứu cơ sở thực tiễn của hoạt động trải nghiệm sáng tạo

- Nghiên cứu nội dung chương trình môn vật lí lớp 10, và những mảng kiến thức tự nhiên liên quan để xác định nội dung tiến hành hoạt động học tập trải nghiệm sáng tạo phù hợp

- Đề xuất một số hình thức và biện pháp tổ chức hoạt động học tập trải nghiệm sáng tạo cho học sinh trong dạy học vật lí

- Thực nghiệm sư phạm để kiểm chức tính khả thi của đề tài

- Phân tích kết quả sau quá trình thực nghiệm để rút ra các kết luận

7 Phương pháp nghiên cứu

- Phương pháp nghiên cứu lí thuyết: Đọc và phân tích, tổng hợp các tìa liệu

về Tâm lí học, Giáo dục học, các tài liệu chuyên khảo về tổ chức dạy học trải nghiệm sáng tạo, tài liệu vật lí, phương pháp dạy học vật lí, dự thảo chương trình giáo dục phổ thông mới, sách giáo khoa vật lí lớp 10 và các tài liệu khác có liên quan trong và ngoài nước

- Phương pháp nghiên cứu thực tiễn: Tổ chức hoạt động học tập trải nghiệm sáng tạo trong dạy học vật lí với học sinh khối 10 trường THPT Đại An huyện Ý

Trang 13

Yên tỉnh Nam Định, tiến hành quan sát, điều tra bằng phiếu điều tra đối với giáo viên và học sinh tham gia các hoạt động Tiến hành sàng lọc, tổng hợp các ý kiến và kết quả điều tra đưa ra các kết quả nghiên cứu của luận văn

8 Đóng góp của luận văn

Thực hiện tốt những nhiệm vụ đề ra, luận văn góp phần:

- Xác định được vai trò, ý nghĩa của hoạt động học tập trải nghiệm sáng tạo trong dạy học vật lí

- Phản ánh được thực trạng dạy và học vật lí, thực trạng của việc tổ chức hoạt động học tập trải nghiệm sáng tạo ở trường phổ thông

- Đề xuất một số hình thức và biện pháp tổ chức hoạt động học tập trải nghiệm sáng tạo trong chương trình vật lí lớp 10 ở trường THPT

9 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn

10 Dự kiến cấu trúc của đề tài

Ngoài phần mở đầu và kết luận và khuyến nghị, tài liệu tham khảo, phụ lục, luận văn cấu trúc thành 3 chương:

Chương I: Cơ sở lí luận và thực tiễn của việc tổ chức dạy học trải nghiệm sáng tạo trong dạy học môn vật lí ở trường trung học phổ thông

Chương II: Xây dụng chủ đề “Tìm hiểu nghề đúc đồng ở làng nghề Tống Xá – Ý Yên – Nam Định” trong dạy học vật lí 10 theo định hướng trải nghiệm sáng tạo

Chương III: Kết quả nghiên cứu

Trang 14

CHƯƠNG I

CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA HOẠT ĐỘNG HỌC TẬP TRẢI NGHIỆM SÁNG TẠO TRONG DẠY HỌC VẬT LÍ

Ở TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG 1.1 Giáo dục học về hoạt động trải nghiệm sáng tạo

1.1.1 Những tư tưởng về học tập trải nghiệm trên thế giới

Có thể nói tư tưởng giáo dục về học qua trải nghiệm đã manh nha xuất hiện

từ thời cổ đại, được dần dần phát triển bởi các nhà giáo dục trên thế giới và hiện nay được nhiều nước có nền giáo dục tiên tiến trên thế giới coi như triết lý giáo dục của quốc gia mình

Hơn 2000 năm trước, ở phương Đông các nhà giáo dục mà đại diện là Khổng Tử (551 – 479 TCN) cũng đã từng nói “Những gì tôi nghe, tôi sẽ quên Những gì tôi thấy, tôi sẽ nhớ Những gì tôi làm, tôi sẽ hiểu”, tư tưởng này thể hiện tinh thần chú trọng học tập từ trải nghiệm và việc làm Cùng thời gian đó, ở phương Tây các nhà triết học mà đại diện là nhà triết học Hy Lạp – Socrate (470 –

399 TCN) cũng nêu lên quan điểm: “Người ta phải học bằng cách làm một việc gì đó; Với những điều bạn nghĩ là minh biết, bạn sẽ thấy không chắc chắn cho đến khi làm nó”

Tuy nhiên quan điểm học qua trải nghiệm chỉ trở thành tư tưởng giáo dục chính thống và phát triển thành học thuyết khi gắn liền với các nhà tâm lý học, giáo dục học như John Dewey, Kurt Lewin, Jean Piaget, Lev Vygotsky, David Kolb, William James, Carl Jung, Paulo Freire, Carl Rogers và các nhà giáo dục hiện đại sau này…

Khi bàn về vai trò của giáo dục, nhà triết học, tâm lí học, giáo dục học xuất sắc người Mỹ - John Deway đã dẫn chứng những hình thức giáo dục trong lịch sử Lúc đầu, sự truyền đạt kinh nghiệm giữa các thế hệ là trực tiếp Dần dần, việc học tập thông qua hình thức truyền đạt kinh nghiệm ngày càng khó khăn, trừ khi việc học ít phức tạp Những gì người lớn truyền đạt thường mang tinh chất giáo điều, xa rời, dẫn đến sự dập khuôn máy móc ở người học Vì vậy cần tổ chức các hoạt động nhằm hình thành kinh nghiệm cho người học bằng những hoạt động có tổ chức, có

Trang 15

kế hoạch, đó chính là hoạt động học tập trong nhà trường John Deway cũng đưa ra quan điểm “học qua làm, học bắt đầu từ làm” Theo ông , quá trình sống và quá trình giáo dục không phải là hai quá trình mà là một quá trình thống nhất Giáo dục tốt nhất phải là sự học tập trong cuộc sống, trong quá trình sống, con người không ngừng thu lượm kinh nghiệm và cải tổ kinh nghiệm từ đó phát triển khả năng nhận thức của con người và đó là quá trình giáo dục Từ đó ông yêu cầu nhà trường phải

là một dạng cuộc sống xã hội, trở thành một xã hội thu nhỏ, phải chứa đựng những thứ thiết yếu của xã hội để từ đó người học được trải nghiệm trong đó, từ đó mà lĩnh hội được những tri thức cần thiết Để làm được điều đó ông cũng cho rằng, dạy học phải giao việc cho học sinh làm chứ không phải giao vấn đề cho học sinh học

Deway cũng cho rằng, đối với trẻ em thì khả năng học hỏi từ kinh nghiệm hết sức có ý nghĩa, đồng thời khả năng lưu giữ kinh nghiệm sẽ giúp cho việc giải quyết khó khăn trong các tình huống mà đứa trẻ sẽ gặp trong cuộc sống sau này Điều đó có nghĩa là khả năng điều chỉnh hành vi trên cơ sở các kinh nghiệm trước

đó và hình thành kinh nghiệm mới của trẻ rất quan trọng Do đó mục đích giáo dục không phải là đào tạo người học, hay làm cho người học phát triển phù hợp với một vài khuôn mẫu định sẵn xa vời, mà là giúp cho người học giải quyết những vấn đề được đặt ra do những tiếp xúc hằng ngày, với điều kiện tự nhiên và xã hội Chính vì thế bên cạnh những hoạt động trong trường cần thiết kế các hoạt động xã hội khác

để trẻ có hứng thú, tham gia thực hiện và tự nhận thấy ý nghĩa của chúng cũng như vai trò của mình trong đó Bên cạnh đó ông cũng khẳng định, sự phát triển thể chất của trẻ sẽ đi trước về giác quan, theo đó trẻ hành động trước khi có nhận thức đầy

đủ về hành động đó, điều đó tuy dẫn đến những hành động hấp tấp nhưng qua đó trẻ

sẽ học hỏi và có them nhiều trải nghiệm cho bản thân

Cũng như John Deway, nhà giáo dục người Mỹ - David Kolb cũng đưa ra những quan điểm nhấn mạnh đến giáo dục trải nghiệm Ông đưa ra một số khẳng định: việc học tốt nhất cần chú trọng đến quá trình chứ không phải kết quả; học là quá trình liên tục trên nền tẳng kinh nghiệm; học tập đòi hỏi việc giải quyết xung độ giữa mô hình lý thuyết với cuộc sống thực tiễn; Học tập là sự kết nỗi giữa con người với môi trường và học tập là quá trình kiến tạo tri thức, nó là kết quả của sự chuyển hóa giữa kiến thức xã hội và kiến thức cá nhân Từ những khẳng định đó

Trang 16

của ông ta có thể thấy việc học tập không thể tác rời việc trải nghiệm, và học tập qua trải nghiệm đóng vai trò tích cực và quan trọng nhất

Theo Bourassa, Serre vfa Ross thì để chiếm lĩnh được kiến thức và các năng lực mới, trước tiên con người phải sống trong sự trải nghiệm của chính mình và sau

đó phải suy ngẫm về sự trải nghiệm đó Sự trải nghiệm không những là nguồn gốc của kiến thức mà cũng là môi trường kiểm chứng kiến thức thu được và đảm bảo được sự đúng đắn và chính xác của các kiến thức mà người học đã học được Trong quá trình trải nghiệm, người học phải điều tiết những đặc trưng mang tính bản chất của mình với môi trường, từ đó hình thành ý thức, ý tưởng và xây dựng được ý nghĩa của cuộc sống, ý nghĩa của sự học

Dewey, Vygostky và Glassman thì cho rằng, trong quá trình trải nghiệm người học thể hiện được giá trị của bản thân mình, thiết lập được các quan hệ giữa

cá nhân với tập thể, với các cá nhân khác và với môi trường học và môi trường sống Sự trải nghiệm có ý nghĩa sẽ huy động tổng thể các giá trị của các nhân từ cảm xúc đến ý thức và hành động, xây dựng được các mối quan hệ với người khác

và với môi trường Như vậy, học tập qua sự trải nghiệm là môi trường tích cực để xây dựng hình thành và củng cố hành vi, thái độ tích cực của người học với môi trường tự nhiên, môi trường sống và cuộc sống thực tiễn

Chickering thì cho rằng, quá trình học tập trải nghiệm chỉ đạt được kết quả khi có những thay đổi trong sự phán xét, trong cảm xúc, kiến thức và khả năng của người học quá các sự kiện cuộc sống của chính người học đó, nghĩa là người học trải qua sự trải nghiệm thì có sự thay đổi về hành vi, thái độ cũng như tri thức của chính họ

Theo Willingham thì hoạt động trải nghiệm được diễn ra dưới hai hình thức của sự học đó là học trải nghiệm qua cuộc sống hằng ngày, đây là hình thức học không chính thức, qua công việc hằng ngày, qua thể thao…và hình thức học tập trong khuôn khổ chính thức đó là sự trải nghiệm có chủ đích của nhà giáo dục trong quá trình đào tạo người học như chương trình làm việc, các hoạt động học tập đa dạng Trong khi đó, theo quan điểm của Keeton và Tate thì hoạt động học tập trải nghiệm là quá trình học mà người học được tiếp cận trực tiếp với thực tế mà học nghiên cứu, học tập và với cuộc sống thực tiễn

Trang 17

Có thể thấy các tác giả trên đều cho rằng, hoạt động trải nghiệm phải đặt người học quan sát trực tiếp hiện tượng mà họ nghiên cứu đồng thời với việc chính

họ phải thực hiện các hành động này để xác định bản chất của các hiện tượng thực

tế đang diễn ra Quan điểm này cũng được Piaget đề xuất từ những năm 1970 cho các hoạt động trải nghiệm trong nhà trường, đó là sự hiểu biết của con người không phải tạo ra một bản sao thực tế mà phải hành động để biến đổi thực tế mà học quan sát, nghiên cứu được Như vậy, hoạt động trải nghiệm trong nhà trường là hoạt động học tập mà người học được tiếp cận trực tiếp trên đối tượng học tập, người học phải

có ý thức thay đổi thực tiễn, nghĩa là vận dụng những tri thức mà mình thu nhận được vào một tình huống mới, bối cảnh mới phuc vụ sự phát triển của con người

Hiện nay, hoạt động trải nghiệm sáng tạo được hầu hết các nước phát triển quan tâm, nhất là các nước tiếp cận chương trình giáo dục phổ thông theo hướng phát triển năng lực; chú ý giáo dục nhân văn, giáo dục sáng tạo, giáo dục phẩm chất

và kĩ năng sống như: Anh, Australia, Đức, Hàn Quốc, Nhật, Singapore, Trung Quốc

… Trong chương trình giáo dục của mỗi nước, bên cạnh các hoạt động dạy và học qua các môn học, còn có các hoạt động ngoài các môn học Ở đó học sinh thông qua các hoạt động đa dạng và phong phú gắn với thực tiễn để trải nghiệm, thử sức; vừa củng cố các kiến thức đã học, vừa có cơ hội sáng tạo trong vận dụng do yêu cầu của các tình huống cụ thể Chương trình hoạt động trải nghiệm sáng tạo sẽ giúp nhà trường gắn liền với cuộc sống, xã hội; giúp học sinh phát triển hài hòa giữa thể chất

và tinh thần Việc thực hiện chương trình hoạt động trải nghiệm sáng tạo ở nhà trường phổ thông được các nước thực hiện một cách linh hoạt; có nước do nhà trường tổ chức, có nước do tổ chức xã hội kết hợp với nhà trường để tổ chức chương trình này một cách hài hòa vừa giúp học sinh trải nghiệm thực tiễn vừa học tốt các môn học chính khóa

Sau đây xin điểm qua kinh nghiệm tổ chức các hoạt động này ở nhà trường của một số nước có nền giáo dục phát triển cao và các nước có những đặc điểm văn hóa, xã hội tương đồng với Việt Nam

1.1.1.1 Hoạt động trải nghiệm đối với học sinh phổ thông nước Anh

Ở nước Anh và nhiều nước phát triển, giáo dục không chỉ phó thác cho mình nhà trường Rất nhiều tổ chức, cá nhân, xã hội đều chung tay góp sức và cùng chia

Trang 18

sẻ sứ mệnh nặng nề mà vinh quang ấy Một trong những trung tâm giáo dục trải nghiệm được rất nhiều học sinh tham gia là Trung tâm Widehorion ( tạm dịch:

Chân trời rộng mở) Thành lập năm 2004, Chân trời rộng mở như là niềm hy vọng

của giáo dục ngoài trời trong đó có dạy học phiêu lưu – mạo hiểm

Ý tưởng xây dựng nên trung tâm này xuất phát từ một hiện thực rất đơn giản, khó tin mà những người sáng lập nhận ra, đó là: Hơn 50% trẻ con của nước Anh chưa bao giờ biết nông thôn, miền quê là gì; riêng London con số này là 35% Cứ

10 đứa trẻ ở Thủ đô nước Anh thì có tới 4 em sống trong nghèo đói và luôn có nhu cầu được đến những địa điểm ngoài trời an toàn với giá thấp Và những người sáng

lập ra Chân trời rộng mở khẳng định: việc đi thăm các miền quê và trải nghiệm giáo

dục ngoài trời là một trong những yếu tố quyết định cho sự phát triển lành mạnh của trẻ và học tập phiêu lưu – mạo hiểm là một chất xúc tác mạnh mẽ cho điều đó Những khóa học và hoạt động phiêu lưu – mạo hiểm sẽ làm cho học sinh hứng thú, kích thích, vui vẻ, giúp cho trẻ cảm thấy dễ chịu và học tập tốt hơn

Chính từ quan điểm đó, mà đã có hàng loạt các hoạt động trải nghiệm cho tất

cả các lứa tuổi học đường, từ tổ chức trải nghiệm thiên nhiên cho học sinh tiểu học đến các hoạt động động phiêu lưu – mạo hiểm cho học sinh thanh, thiếu niên Nhiều hoạt động liên kết với các chủ đề của chương trình và phù hợp với mục đích, đối tượng học tập Chẳng hạn, liên quan đến môn khoa học là việc quan sát thú lớn, thú nhỏ, đầm mình xuống ao hồ… Liên quan đến môn Địa lí là các khái niệm bờ biển, sông ngòi, sự trái ngược của các hướng… Liên quan đến môn nghệ thuật như làm báo, làm đồ gốm… Liên quan đến giáo dục thể chất là môn chạy định hướng, khám phá đường đua…

Vai trò, tính hữu ích của các hoạt động trải nghiệm và phiêu lưu – mạo hiểm

đã được khẳng định rất rõ Một nghiên cứu mới công bố gần đây đã chỉ ra rằng: Trong dạy học hiện đại, lớp học không thể là không gian sáng tạo cho tất cả mọi người; do vậy cần mở rộng rộng các tri thức hữu ích cho trẻ em thông qua môi trường bên ngoài Bởi qua các hoạt động trải nghiệm, nhiều trẻ em đã vượt qua được những rào cản cá nhân và tất cả mọi học sinh đều tăng thêm lòng tự tin Không những thế, các em còn tích lũy cho mình những kỹ năng làm việc nhóm rất

Trang 19

tuyệt vời, để qua đó mang lại cho các em cách nhìn quan trọng về sự trợ giúp bạn bè cùng trang lứa trong tất cả các hoạt động [4, tr 42-43]

1.1.1.2 Hoạt động trải nghiệm trong chương trình giáo dục Hàn Quốc

Cùng với hoạt động dạy học các môn, hoạt động trải nghiệm sáng tạo là một hoạt động quan trọng tạo nên chương trình giáo dục Hàn Quốc Hoạt động này được thực hiện xuyên suốt từ tiểu học đến trung học phổ thông với thời lượng chiếm từ 9,1% đến 13,4% Hoạt động trải nghiệm sáng tạo về cơ bản mang tính chất là hoạt động tập thể tổ chức sau các giờ học trên lớp, có mối quan hệ bổ sung, hỗ trợ cho các hoạt động giảng dạy, được thực hiện nhằm mục tiêu đào tạo ra các thế hệ nhân tài có định hướng tương lai với đầy đủ nhân cách và sức sáng tạo, biết vận dụng một cách tích cực những kiến thức đã học vào thực tế, đồng thời biết chia sẻ và quan tâm tới mọi người xung quanh

Chương trình giáo dục ngoại khóa sáng tạo gồm có 4 nhóm hoạt động chính là: hoạt động độc lập, hoạt động câu lạc bộ, hoạt động tình nguyện và hoạt động định hướng Về hoạt động cụ thể trong từng nhóm, nhà trường có thể lựa chọn và tổ chức thực hiện một cách linh động sao cho phù hợp với đặc điểm của học sinh, cấp học, khối lớp, nhà trường và điều kiện xã hội của địa phương

Hoạt động trải nghiệm sáng tạo ở cấp tiểu học lấy trọng tâm là hình thành những thói quen sinh hoạt cơ bản, nuôi dưỡng ý thức, tư duy tập thể cho học sinh, đồng thời phát hiện những tố chất, cá tính của các em Hoạt động trải nghiệm sáng tạo ở cấp trung học cơ sở tập trung tạo dựng cho học sinh thái độ biết chung sống hòa hợp với mọi người trong cộng đồng, biết suy nghĩ tới hướng đi trong tương lai của bản thân, đồng thời biết tự phát hiện và khẳng định bản thân Hoạt động trải nghiệm sáng tạo ở trung học phổ thông lấy trọng tâm là giúp định hướng các nhu cầu đa dạng của học sinh theo hướng lành mạnh, hình thành mối quan hệ giữa người với người toàn diện hơn, biết tự lựa chọn hướng đi cho bản thân và phát triển theo đúng bản chất của mình [4, tr 44-45]

1.1.1.3 Hoạt động trải nghiệm sáng tạo trong các trường học ở Singapore

Hoạt động trải nghiệm sáng tạo có tên gọi là “Chương trình học tập năng động” trong đó bao gồm cả hoạt động giáo dục ngoài trời Các hoạt động này được khẳng định là một “thành phần cốt lõi của toàn bộ trải nghiệm ở nhà trường”, cung

Trang 20

cấp một nền tảng xác thực cho việc học tập sẽ diễn ra Đây là hoạt động bắt buộc song song với học tập trong nhà trường Nội dung được học sinh thực hiện ở trong 4 nhóm: Nhóm câu lạc bộ và hội, nhóm nghệ thuật, nhóm thể thao và các trò chơi, các nhóm đồng phục Hoạt động của các nhóm này được chỉ đạo, quản lí bởi một Ủy ban phụ trách về hoạt động ngoại khóa trực thuộc Bộ giáo dục Singapore [3, tr 197]

1.1.1.4 Hoạt động trải nghiệm sáng tạo trong các nhà trường ở Trung Quốc

Hoạt động trải nghiệm sáng tạo được gọi là hoạt động thực tiễn tổng hợp Để đáp ứng sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa Trung Quốc đòi hỏi nền giáo dục phải đào tạo, bồi dưỡng một lớp người “ có tình yêu Tổ quốc XHCN, có năng lực thích ứng với đời sống xã hội, tham gia lao động xã hội và không ngừng hấp thu tri thức mới, có chí tiến thủ, tinh thần sáng tạo cái mới ” Và để thực hiện mục tiêu này nền giáo dục Trung Quốc đã xây dựng chương trình hoạt động, coi các hoạt động ngoài giờ lên lớp là bộ phận hữu cơ của chương trình học, chứ không đơn thuần chỉ là hoạt động có tính chất phụ trợ, tự nguyện của học sinh [3, tr 193]

Nhìn chung, “học tập trải nghiệm” là một lí thuyết học tập được thế giới rất coi trọng bởi nó đề cao việc hình thành năng lực của con người thông qua những trải nghiệm thực tiễn, điều đó hoàn toàn phù hợp với các qui luật về tâm lí trong việc hình thành và phát triển nhân cách cho học sinh

1.1.2 Quan điểm học tập trải nghiệm ở Việt Nam

Ca dao Việt Nam có câu: “Học là học để mà hành – Vừa hành vừa học mới

là người khôn” hay “ Trăm hay không bằng tay quen” … để nhấn mạnh mối quan

hệ giữa học và hành luôn luôn gắn kết với nhau, không bao giờ tách rời nhau

Luật giáo dục của Việt Nam năm 2010 cũng đã khẳng định: “Hoạt động giáo dục phải được thực hiện theo nguyên lý học đi đôi với hành, giáo dục kết hợp với lao động sản xuất, lý luận gắn liền với thực tiễn, giáo dục nhà trường kết hợp với giáo dục gia đình và giáo dục xã hội” - [theo điều 3 Luật giáo dục năm 2010]

Theo đó hoạt động giáo dục là một thể thống nhất của ba yếu tố: Học đi đôi với hành, lý luận gắn liền với thực tiễn – giáo dục kết hợp với lao động sản xuất – nhà trường gắn với gia đình và xã hội

Thứ nhất học đi đôi với hành, lý luận gắn liền với thực tiễn, là một quan

điểm từ lâu đời trong giáo dục của nước ta Chủ tịch Hồ Chí Minh đã dạy “ học với

Trang 21

hành phải đi đôi; học không hành thì học vô ích; hành mà không học thì hành không trôi chảy” Bác cũng chỉ ra

- Đại học thì cần kết hợp lý luận khoa học với thực hành, ra sức học tập lý luận và khoa học tiên tiến của các nước, kết hợp với thực tiễn của nước ta, để thiết thực giúp ích cho công cuộc xây dựng nước nhà

- Trung học thì cần đảm bảo cho học trò những tri thức phổ thông, chắc chắn, thiết thực, thích hợp với nhu cầu và tiền đồ xây dựng nước nhà, bỏ những phần kiến thức không cần thiết với đời sống thực tế

- Tiểu học thì cần giáo dục cho các cháu thiếu nhi: yêu tổ quốc, yêu nhân dân, yêu lao động, yêu khoa học, trọng của công Cách dạy phải nhẹ nhàng và vui

vẻ

Thứ hai là Giáo dục phải kết hợp với lao động sản xuất là một quan điểm

đúng đắn của Đảng ta được đề ra và thực hiện xuyên suốt qua thời kì kháng chiến

và kiến quốc Trong đó coi trọng và tiến hành đồng thời hoạt động học tập và hoạt động lao động sản xuất của học sinh, kết hợp chặt chẽ tác dụng hình thành và phát triển nhân cách của hai loại hoạt động chủ yếu của lứa tuổi này, nền giáo dục có khả năng to lớn trọng việc đào tạo những người lao động phát triển đầy đủ và cân đối về tâm hồn và thể chất, về tri thức và đạo đức, về lý luận và thực hành Đồng thời nền giáo dục còn có tác dụng to lớn trong việc thúc đẩy sản xuất phát triển Tuy từ khi

đề ra đến nay, có một số thời kì quan điểm này đã chưa đựa chú trọng, chưa đem lại những kết quả thực sự, nhưng trước hết đó là một quan điểm đúng đắn, điều này được chứng mình qua những thành quả đào tạo, đặc biệt là trong những năm 60, 70 của thế kỉ trước

Thứ ba là Nhà trường gắn với gia đình và xã hội là sự tổng kết kinh nghiệm

giáo dục của ông cha ta, đồng thời là sự kế thừa kinh nghiệm giáo dục của cả loài người Vì giáo dục gia đình và xã hội có những thế mạnh riêng mà giáo dục nhà trường không thể thay thế được Ví dụ, giáo dục đạo đức như lòng nhân ái, tính trung thực, cần kiệm được gia đình làm rất tốt Những phẩm chất này thường được nhen nhóm lên ở các em từ thuở nhỏ, từ mái ấm gia đình, qua tấm gương, qua lời dạy bảo của bố mẹ, ông bà, chú bác, anh chị và cộng đồng xung quanh Tương tự thế, tinh thần cộng đồng, lòng dũng cảm, kiên cường, trí sáng tạo, sự ứng xử khéo

Trang 22

léo cũng thường được hình thành và phát triển trong quá trình lăn lộn trải nghiệm trong thực tế cuộc sống, qua các trò chơi và hoạt động tập thể ở gia đình và cộng đồng xã hội xung quanh

Bên cạnh đó bản chất của quá trình giáo dục được xác định căn cứ vào những

cở sở sau:

- Thứ nhất, quá trình giáo dục là quá trình hình thành một kiểu nhân cách

trong xã hội Sự phát triển các nhân con người được quy định bởi tác động qua lại của các nhân tố xã hội và nhân tố học sinh, trong đó sự ưu tiên hàng đầu thuộc về các nhân tố xã hội Cá nhân được phát triển dưới ảnh hưởng của chương trình Quá trình xã hội hóa cá nhân là quá trình biến cá nhân là thành viên của xã hội(ứng với các giai đoạn phát triển lịch sử cụ thể của xã hội); có đầy đủ các giá trị xã hội để tham gia vào những hoạt động của xã hội Do đó, muốn xác định được bản chất của quá trình giáo dục phải xuất phát từ cơ chế có tính xã hội của nó là sự truyền đạt và lĩnh hội những kinh nghiệm lịch sử - xã hội của các thế hệ trước trong các lĩnh vực hoạt động của đời sống xã hội Nhờ đó cá nhân chiếm lĩnh được các giá trị văn hóa của loài người

- Thứ hai, trong quá trình giáo dục, luôn có mối quan hệ giữa nhà giáo dục

và người được giáo dục (cá nhân hoặc tập thể), đó là quan hệ sư phạm – một loại quan hệ xã hội đặc thù Quan hệ sư phạm này luôn luôn chịu sự chi phối của các quan hệ chính trị, tư tưởng, văn hóa, xã hội, kinh tế, khoa học – kỹ thuật , đặc biệt

là những quan hệ chính trị - xã hội Quan hệ sư phạm là cơ sở để xác định bản chất của quá trình giáo dục, đó là sự thống nhất giữa sự tác động giáo dục của nhà giáo dục và sự tiếp nhận, tự điều chỉnh của người được giáo dục trong quá trình giáo dục

Bản chất của quá trình giáo dục là một quá trình xã hội nhằm hình thành và phát triển cá nhân trở thành những thành viên xã hội, những thành viên đó phải thỏa mãn được hai mặt: vừa phù hợp (thích ứng) với các yêu cầu của xã hội ở mỗi giai đoạn phát triển, vừa có khả năng tác động cải tạo, xây dựng xã hội, làm cho nó tồn tại và phát triển Những nét bản chất của cá nhân là do các mối quan hệ xã hội hợp thành Quá trình giáo dục là quá trình làm cho người được giáo dục ý thức được các quan hệ xã hội và các giá trị của nó để rồi biết vận dụng vào các lĩnh vực: kinh tế, văn hóa – xã hội, đạo đức, tôn giáo, pháp luật, gia đình

Trang 23

Quá trình vận dụng, trải nghiệm các quan hệ xã hội đó sẽ giúp học sinh tích lũy được kinh nghiệm xã hội tốt và có nhu cầu, hành vi, thói quen, biết thể hiện đúng đắn các quan hệ xã hội Quá trình tham gia vào các quan hệ xã hội như vậy sẽ giúp cho học sinh khẳng định những quan hệ mới, tích cực trong mọi lĩnh vực của cuộc sống và biết loại bỏ khỏi bản thân những quan niệm, những biểu hiện tiêu cực, tàn dư cũ, lạc hậu không còn phù hợp với xã hội ngày nay

Quá trình giáo dục là quá trình hình thành bản chất người – xã hội(tính người, tình người) trong mỗi cá nhân một cách có ý thức, là quá trình tổ chức để mỗi cá nhân chiếm lĩnh được các lực lượng bản chất xã hội của con người, được biểu hiện ở toàn bộ các quan hệ xã hội của con người Triết học Mác – Xít đã khẳng định: Bản chất xã hội của con người chỉ có được khi nó tham gia vào đời sống xã hội đích thực thông qua hoạt động và giao lưu ở một môi trường văn hóa Do đó, việc tiếp cận bản chất quá trình giáo dục buộc chúng ta phải xem xét quá trình tổ chức đời sống, hoạt động và giao lưu của đối tượng giáo dục

Mỗi con người đều sống trong một môi trường lịch sử xã hội cụ thể Quá trình giáo dục là quá trình tổ chức cuộc sống cho mỗi cá nhân hoặc nhóm, tầng lớp

xã hội theo các chuẩn mực, các yêu cầu của sự phát triển xã hội, làm cho cá nhân biết sống phù hợp với các quan hệ xã hội

Hoạt động và giao lưu là hai mặt cơ bản, thống nhất trong cuộc sống của con người và cũng là điều kiện tất yếu của sự hình thành và phát triển nhân cách của cá nhân Các lý thuyết về hoạt động đã chứng tỏ rằng con người muốn tồn tại và phát triển phải có hoạt động và giao lưu Nếu các hoạt động và giao lưu của cá nhân (hoặc nhóm người) được tổ chức một cách khoa học với các điều kiện, phương tiện hoạt động tiên tiến, phong phú, đa dạng; cá nhân được tham gia vào các hoạt động

và giao lưu đó thì sẽ có nhiều cơ hội tốt cho sự phát triển của họ Vì bất kỳ một hoạt động nào của con người cũng đều phải đặt vào những mối quan hệ xã hội và những hình thái giao lưu nhất định Chính vì vậy quá trình giáo dục vừa mang bản chất của hoạt động vừa mang bản chất của giao lưu Giáo dục là một quá trình tác động qua lại mang tính xã hội giữa nhà giáo dục và người được giáo dục, giữa những người được giáo dục với nhau và với các lực lượng, các quan hệ xã hội trọng và ngoài nhà trường

Trang 24

Như vậy, bản chất của quá trình giáo dục là quá trình tổ chức các hoạt động

và giao lưu (hay nói cách khác là tổ chức cho người học trier nghiệm), nhằm giúp cho người được giáo dục tự giác, tích cực, độc lập chuyển hóa những yêu cầu và những chuẩn mực của xã hội thành hành vi và thói quen tương ứng, tích lũy để chuyển hóa thành năng lực

1.2 Một số khái niệm thuật ngữ cơ bản

1.2.1 Hoạt động

Trong giáo dục nói riêng và trong đời sống nói chung chúng ta nhắc nhiều

đến thuật ngữ hoạt động, chính vì mức độ phổ biến của thuật ngữ này nên cũng có nhiều quan niệm khác nhau về hoạt động

Theo từ điển tiếng Việt định nghĩa: “1 Làm những việc khác nhau với mục

đích nhất định trong đời sống xã hội: hoạt động nghệ thuật hoạt động quân sự 2 Vận động, cử chỉ, không chịu ngồi im, yên chỗ: một con người thích hoạt động 3 Vận động, vận hành để thực hiện chức năng nào hoặc gây tác động nào đó: Máy móc hoạt động bình thường theo dõi hoạt động của cơn bão.”

Theo từ điển Bách Khoa Việt Nam xuất bản năm 2005 do nhà xuất bản từ

điển bách khoa Hà Nội định nghĩa: “một phương pháp đặc thù của con người quan

hệ với thế giới chung quanh nhằm cải tạo thế giới theo hướng phục vụ cuộc sống của mình Trong mối quan hệ ấy, chủ thể của HĐ là con người, khách thể của HĐ

là tất cả những gì mà HĐ tác động vào, qua đó tạo ra được sản phẩm thỏa mãn nhu cầu của chủ thể Mục đích trên đây thể hiện trong nhiều kĩnh vực và trên nhiều dạng HĐ: kinh tế, chính trị, xã hội, quân sự, tư tưởng, lí luận, văn hóa, tâm lí

…Nhưng hình thức cơ bản, có ý nghĩa quyết định là thực tiễn xã hội HĐ thường được chia thành hai loại: HĐ hướng ngoại nhằm cải tạo thiên nhiên và xã hội; HĐ hướng nội nhằm cải tạo bản thân con người Hai loại HĐ ấy gắn liền mật thiết với nhau vì con người chỉ có thể cải tạo mình trong quá trình cải tạo thiên nhiên và xã hội HĐ bao giờ cũng mang tính lịch sử qua các thời đại khác nhau.” [12, tr141, tập 2]

Trong cuốn “Tổ chức hoạt động trải nghiệm sáng tạo trong nhà trường phổ

thông” do tác giả Nguyễn Thị Liên chủ biên, các tác giả đưa ra quan điểm cho rằng

“Hoạt động là quá trình cá nhân thực hiện các quan hệ giữa họ với thế giới tự

nhiên, xã hội, người khác và bản thân Đó là quá trình chuyển hóa năng lực lao

Trang 25

động (cùng với các phẩm chất tâm lý) của bản thân thành sự vật, thành thực tế và quá trình ngược lại là quá trình tách những thuộc tính sự vật, của thực tế quay trở

về với chủ thể, biến thành vốn liếng tinh thần của chủ thể.” [19, tr 62 - 63]

1.2.2 Trải nghiệm

Theo từ điển tiếng Việt định nghĩa : Trải có nghĩa là “đã từng qua, từng biết,

từng chịu đựng”, còn nghiệm có nghĩa là “kinh qua thực tế nhận thấy điều đó đúng” Như vậy, trải nghiệm có nghĩa là quá trình chủ thể được trực tiếp tham gia

hoạt động và rút ra những kinh nghiệm cho bản thân

Theo từ điển Bách Khoa Việt Nam xuất bản năm 2002 do nhà xuất bản từ

điển bách khoa Hà Nội định nghĩa: “Theo nghĩa chung nhất, là bất kì một trạng thái

có màu sắc xúc cảm nào được chủ thể cảm nhận, trải qua, đọng lại thành bộ phận (cùng với trí thức, ý thức….)trong đời sống tâm lí của từng người Theo nghĩa hẹp hơn, chuyên biệt hơn của tâm lí học, là những tín hiệu bên trong, nhờ đó nghĩa của các sự kiện đang diễn ra đối với cá nhân được ý thức, chuyển thành ý riêng của cá nhân, góp phần lựa chọn tự giác các động cơ cần thiết, điều chỉnh hành vi của cá nhân.” [14, tr 515, tập 4]

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia định nghĩa trải nghiệm hay kinh nghiệm

là “tổng quan khái niệm bao gồm tri thức, kĩ năng trong quan sát sự vật hoặc sự

kiện đạt được thông qua tham gia vào hoặc tiếp xúc đến sự vật hoặc sự kiện đó”

Lịch sử của từ trải nghiệm gần nghĩa với khái niệm thử nghiệm Thực tiễn cho thấy

trải nghiệm đạt được thường thông qua thử nghiệm và trải nghiệm thường đi đến một tri thức về sự hiểu biết đến sự vật, hiện tượng, sự kiện

1.2.3 Sáng tạo

Theo từ điển Bách Khoa Việt Nam xuất bản năm 2002 do nhà xuất bản từ

điển bách khoa Hà Nội định nghĩa: “hoạt động tạo ra cái mới Có thể ST trong bất

kì lĩnh vực nào: khoa học (phát minh), nghệ thuật, sản xuất – kĩ thuật (sáng tác, sáng chế), kinh tế, chính trị …Thời cổ đại, con người tin rằng chỉ có Thượng đế hay Tạo hóa mới ST ra thế giới và muôn loài Cùng với sự tiến bộ của lịch sử, nhận thức của con người dần dần thoát khỏi ý niệm duy tâm về Thượng đế, và thấy rằng chính con người là kẻ ST: tạo ra lịch sử(trong đó có bản thân con người), làm biến đổi diện mạo của thế giới, tức là tạo ra một thế giới chưa hề có, thế giới đã nhân

Trang 26

hóa – phù hợp với ý niệm và nhu cầu của loài người” [13, tr730, tập 3]

Theo từ điển tiếng Việt định nghĩa: “sáng tạo là tạo ra những giá trị mới về

vật chất hoặc tinh thần, hoặc có cách giải quyết mới, không bị gò bó, phụ thuộc vào cái đã có.”

Ở đây chúng ta cũng cần hiểu các mức độ khác nhau của sự sáng tạo Trong khuôn khổ của hoạt động trải nghiệm sáng tạo trong trường trung học phổ thông là hướng đến những sáng tạo mang tính cá nhân cho học sinh Đó là tạo ra những cái mới đối với kinh nghiệm của các em, điều này tuy không có ý nghĩa nhiều đối với thế giới hay xã hội nhưng lại đóng vai trò đặc biệt quan trong với khả năng sáng tạo của học sinh hiện tại và trong tương lai, nó sẽ là tiền đề cho những sáng tạo mang tính xã hội sau này

1.2.4 Năng lực

Theo từ điển Bách Khoa Việt Nam xuất bản năm 2002 do nhà xuất bản từ

điển bách khoa Hà Nội định nghĩa: “đặc điểm của cá nhân thể hiện mức độ thông

thạo - tức là có thể thực hiện một cách thành thục và chắc chắn - một hay một số dạng hoạt động nào đó NL gắn liền với những phẩm chất về trí nhớ, tính nhạy cảm, trí tuệ, tính cách của cá nhân NL có thể phát triển trên cơ sở năng khiếu (đặc điểm sinh lí của con người, trước hết là của hệ thần kinh trung ương), song không phải là bẩm sinh, mà là kết quả phát triển của xã hội và của con người (đời sống xã hội, sự giáo dục và rèn luyện, hoạt động của cá nhân) NL cao đạt được những thành tựu hoàn thiện, xuất sắc, mới mẻ, có ý nghĩa xã hội, gọi là tài năng Tài năng đặc biệt làm nên kì tích trong hoạt động sáng tạo, vượt lên trên mức bình thường được gọi

là thiên tài.” [13, tr41, tập 3]

Theo từ điển tiếng Việt định nghĩa: “khả năng, điều kiện chủ quan hoặc tự

nhiên sẵn có để thực hiện một hoạt động nào đó hoặc phẩm chất tâm sinh lí và trình

độ chuyên môn tạo cho con người khả năng hoàn thành một loạt hoạt động nào đó với chất lượng cao.”

Còn theo dự thảo chương trình giáo dục phổ thông tổng thể năm 2015 thì Bộ

giáo dục và Đào tạo đưa ra khái niệm là “Năng lực là khả năng thực hiện thành

công hoạt động trong một bối cảnh nhất định nhờ sự huy động tổng hợp các kiến thức, kỹ năng và các thuộc tính cá nhân khác như hứng thú, niềm tin, ý chí, Năng

Trang 27

lực của cá nhân được đánh giá qua phương thức và kết quả hoạt động của cá nhân

đó khi giải quyết các vấn đề của cuộc sống.”

1.2.5 Hoạt động trải nghiệm sáng tạo

1.2.5.1 Định nghĩa

Trong kỉ yếu hội thảo về Hoạt động trải nghiệm sáng tạo của học sinh phổ

thông của Bộ giáo dục và Đào tạo năm 2014 có nhiều quan điểm về hoạt động trải

nghiệm sáng tạo do nhiều nhà giáo dục đưa ra

Trong bài “Hoạt động trỉa nghiệm sáng tạo – góc nhìn từ lý thuyết “Học từ

trải nghiệm”” tác giả Đinh Thị Kim Thoa cho rằng “hoạt động trải nghiệm sáng tạo là hoạt động giáo dục thông qua sự trải nghiệm và sáng tạo của cá nhân trong việc kết nối kinh nghiệm học được trong nhà trường với thực tiễn đời sống mà nhờ

đó các kinh nghiệm được tích lũy thêm và dần chuyển hóa thành năng lực”.[8]

Tác giả Bùi Ngọc Diệp chi rằng: “hoạt động trải nghiệm sáng tạo là một

biểu hiện của hoạt động giáo dục đang tồn tại trong chương trình giáo dục hiện hành Hoạt động trải nghiệm sáng tạo là hoạt động mang tính xã hội, thực tiễn đến với môi trường giáo dục trong nhà trường để học sinh tự chủ trải nghiệm trong tập thể, qua đó hình thành và thể hiện được phẩm chất, năng lực, nhận ra năng khiếu,

sở thích, đam mê, bộc lộ và điều chỉnh cá tính, giá trị; nhận ra chính mình cũng như khuynh hướng phát triển của bản thân; bổ trợ cho và cùng với các hoạt động dạy học trong chương trình giáo dục thực hiện tốt nhất mục tiêu giáo dục Hoạt động này nhấn mạnh sự trải nghiệm, thúc đẩy năng lực sáng tạo của người học và được tổ chức thực hiện một cách linh hoạt sáng tạo.[8]

Theo Ngô Thị Dung thì “Hoạt động trải nghiệm sáng tạo là thuật ngữ dùng

để chỉ các hoạt động giáo dục trong nhà trường được tổ chức phù hợp với bản chất hoạt động của con người, tính từ trải nghiệm sáng tạo để nhấn mạnh bản chất hoạt động chứ không phải là một dạng hoạt động mới”.[8]

Theo Lê Huy Hoàng, thì “Hoạt động trải nghiệm sáng tạo là hoạt động xã

hội, thực tiễn giúp học sinh tự chủ trải nghiệm trong tập thể, quá trình đó hình thành và thể hiện phẩm chất năng lực; nhận ra năng khiếu, sở thích, đam mê, bộc lộ

và điều chỉnh cá tính, giá trị, nhận ra chính mình cũng như khuynh hướng phát triển bản thân; bổ trợ và cùng với các hoạt động dạy học trong chương trình giáo

Trang 28

dục thực hiện tốt nhất mục tiêu giáo dục Hoạt động này nhấn mạnh sự trải nghiệm, thúc đẩy năng lực sáng tạo của người học và được tổ chức một cách linh hoạt, sáng tạo.”[8]

Trong cuốn “Tổ chức hoạt động trải nghiệm sáng tạo trong nhà trường phổ

thông” do tác giả Nguyễn Thị Liên chủ biên, các tác giả đưa ra quan điểm cho rằng

“Hoạt động trải nghiệm sáng tạo là hoạt động giáo dục, trong đó nội dung và cách

thức tổ chức tạo điều kiện cho từng học sinh được tham gia trực tiếp và làm chủ thể của hoạt động, tự lên kế hoạch, chủ động xây dựng chiến lược hành động cho bản thân và cho nhóm để hình thành và phát triển những phẩm chất, tư tưởng, ý chí, tình cảm, giá trị, kỹ năng sống và những năng lực cần có của công dân trong xã hội hiện địa, qua hoạt động học sinh phát huy khả năng sáng tạo để thích ứng và tạo ra cái mới, giá trị cho cá nhân và cộng đồng.” [19, tr 73]

Còn theo dự thảo chương trình giáo dục phổ thông tổng thể năm 2015 thì Bộ

giáo dục và Đào tạo đưa ra khái niệm là “Hoạt động trải nghiệm sáng tạo là hoạt

động giáo dục trong đó từng học sinh được trực tiếp hoạt động thực tiễn trong nhà trường hoặc trong xã hội dưới sự hướng dẫn và tổ chức của nhà giáo dục, qua đó phát triển tình cảm, đạo đức, các kỹ năng và tích luỹ kinh nghiệm riêng của cá nhân Trải nghiệm sáng tạo là hoạt động được coi trọng trong từng môn học; đồng thời trong kế hoạch giáo dục cũng bố trí các hoạt động trải nghiệm sáng tạo riêng, mỗi hoạt động này mang tính tổng hợp của nhiều lĩnh vực giáo dục, kiến thức, kỹ năng khác nhau.”

1.2.5.2 Nội dung hoạt động trải nghiệm sáng tạo

Hoạt động trải nghiệm sáng tạo có nội dung rất đa dạng và mang tính tích hợp, tổng hợp kiến thức, kỹ năng của nhiều môn học, nhiều lĩnh vực học tập và giáo dục như: giáo dục đạo đức, giáo dục trí tuệ, giáo dục kỹ năng sống, giáo dục giá trị sống, giáo dục nghệ thuật, thẩm mỹ, giáo dục thể chất, giáo dục lao động, giáo dục

an toàn giao thông, giáo dục môi trường, giáo dục phòng chống ma túy, giáo dục phòng chống HIV/AIDS và tệ nạn xã hội Nội dung giáo dục của hoạt động trải nghiệm sáng tạo thiết thực và gần gũi với cuộc sống thực tế, đáp ứng được nhu cầu hoạt động của học sinh, giúp các em vận dụng những hiểu biết của mình vào trong thực tiễn cuộc sống một cách dễ dàng, thuận lợi

Trang 29

Về cơ bản các nội dung của hoạt động trải nghiệm sáng tạo thường thuộc về

4 nhóm sau đây:

+ Nhóm các hoạt động xã hội

+ Nhóm các hoạt động học thuật

+ Nhóm các hoạt động nghệ thuật và thể thao

+ Nhóm các hoạt động định hướng nghề nghiệp (tìm hiểu thông tin về hướng phát triển tương lai, tìm hiểu bản thân)

Tuy nhiên đối với mỗi hoạt động thì nội dung luôn có sự đan xen của các nội dung khác nhau bên cạnh nội dung chính của hoạt động Như trong các hoạt động

xã hội như đến thăm và giúp đỡ trẻ em mồ côi, bệnh viện, người già neo đơn, vệ sinh môi trường công cộng Nếu trong các hoạt động đó ta có thể mời các ca sĩ, người nổi tiếng, danh nhân thành đạt đến thăm hỏi, cổ động, làm cùng thì ta đã có

sự lồng ghép về các nội dung học thuật hay định hướng nghề nghiệp ; hoặc trong các hoạt động với nội dung chính là định hướng nghề nghiệp như đi thăm các làng nghề nổi tiếng như thăm làng đúc đồng, làng nghề mộc thì ta đã có sự lồng ghép các

nội dung về học thuật, xã hội và nghệ thuật trong đó

Tuy vậy việc lựa chọn nội dung cho hoạt động trải nghiệm sáng tạo trong nhà trường vẫn cần đảm bảo một số nguyên tắc sau:

+ Mục tiêu: Các nội dung được lựa chọn phải có ưu thế để đạt được các mục tiêu năng lực đề ra, tức là phải có nội dung chính ứng với các năng lực ưu tiên

+ Phù hợp: Nội dung lựa chọn cần phải phù hợp với độ tuổi, trình độ nhận thức của đối tượng tham gia, điều này trước hết sẽ làm cho đối tượng tự tin vào năng lực bản thân và từng bước chiếm lĩnh các nội dung chứa đựng trong hoạt động

Nội dung lựa chọn cũng cần phải phù hợp với điều kiện, đặc điểm của địa phương, vùng miền, trường sở tại Điều này giúp hiện thực hóa được hoạt động, giảm chi phi thực hiện hoạt động, lôi cuốn được đối tượng tham gia và tạo điều kiện

để đối tượng tự mình trải nghiệm

+ Khoa học – giáo dục: Nội dung phải đảm bảo tính lôgic và khoa học, tính thẩm mỹ và tính đạo đức Vì bản thân đó cũng là những nội dung cần giáo dục cho học sinh trong quá trình hoạt động, nếu những yếu tố đó bị vi phạm thì vô tình sẽ

Trang 30

làm phá vỡ hoạt động đề ra, hơn thế nữa có thể làm trệch mục tiêu giáo dục

+ Thời sự: Nội dung được lựa chọn cần đáp ứng được những yêu cầu của xã hội ở thời điểm tổ chức hoạt động Tính cấp thiết của nội dung hoạt động luôn gắn liền với tính địa phương, điều này sẽ mang lại hiệu quả cao cho hoạt động, người học sẽ dễ dàng thu nhận được những bài học cần thiết

+ Gắn kết: Nội dung hoạt động cần tạo ra sự gắn kết giữa các đối tượng với nhau, đối tượng với các hoạt động, đối tượng với đời sống thực tiễn địa phương Sự gắn kết càng rộng thì hiệu quả mang lại của hoạt động càng lớn vì điều này sẽ thúc đẩy phát triển các kỹ năng sống cần thiết cho người học

1.2.5.3 Quy mô tổ chức hoạt động trải nghiệm sáng tạo

Hoạt động trải nghiệm sáng tạo có thể tổ chức theo những quy mô khác nhau như: theo nhóm, theo lớp, theo khối lớp, theo trường hoặc liên trường Tuy nhiên, tổ chức theo quy mô nhóm và quy mô lớp có ưu thế hơn về nhiều mặt như: tổ chức đơn giản, đỡ tốn kém, mất ít thời gian tổ chức cũng như thực hiện, học sinh tham gia được nhiều hơn và có nhiều khả năng hình thành, phát triển các năng lực cho học sinh

Đi cùng với các quy mô tổ chức khác nhau thì các lực lượng tham gia vào quá trình tổ chức và thực hiện có thể rất đa dạng Về phía trường học có thể có sự tham gia của giáo viên chủ nhiệm lớp, giáo viên bộ môn, cán bộ Đoàn thanh niên, tổng phụ trách Đội, ban giám hiệu nhà trường, cha mẹ học sinh Về các lực lượng ngoài nhà trường có thể có sự tham gia của chính quyền địa phương, hội khuyến học các cấp, hội phụ nữ các cấp, Đoàn thanh niên các cấp, hội cựu chiến binh, các doanh nghiệp, các nhà hoạt động, bảo trợ xã hội, những nghệ nhân, người lao động, những người dân địa phương có hoàn cảnh tiêu biểu ứng với nội dung cần đạt Mỗi lực lượng giáo dục có tiềm năng, thế mạnh riêng, không nhất thiết phải có tính mô phạm cần thiết, việc hoạt động có thể không cần tiến hành theo các kịch bản định sẵn Tùy từng nội dung, tính chất của từng hoạt động mà sự tham gia của các lực lượng có thể là trực tiếp hoặc gián tiếp, có thể là chủ trì, đầu mối hoặc phối hợp; có thể về những mặt khác nhau như: hỗ trợ kinh phí, phương tiện, địa điểm tổ chức, đóng góp về mặt chuyên môn, trí tuệ, hình ảnh minh họa hay đơn giản là sự ủng hộ

về tinh thần Do đó, hoạt động trải nghiệm sáng tạo sẽ tạo điều kiện cho học sinh

Trang 31

được học tập, giao tiếp rộng rãi với nhiều lực lượng giáo dục về nhiều khía cạnh của đời sống thực tiễn; được lĩnh hội các nội dung giáo dục qua nhiều kênh khác nhau, với nhiều cách tiếp cận khác nhau Điều đó làm tăng tính đa dạng, hấp dẫn, chất lượng, thực tế và hiệu quả của hoạt động trải nghiệm giáo dục nói riêng và hoạt động giáo dục nói chung

1.2.5.4 Địa điểm tổ chức

Hoạt động trải nghiệm sáng tạo có thể tổ chức tại nhiều địa điểm khác nhau ở trong hoặc ngoài nhà trường như: lớp học, thư viện, nhà đa năng, phòng thí nghiệm, phòng truyền thống, sân trường, vườn trường, công viên, vườn hoa, viện bảo tàng, các di tích lịch sử, các danh lam thắng cảnh, các công trình công cộng, nhà các nghệ nhân, các làng nghề, các cơ sở sản xuất, các nhà dân Nói chung là ở tất cả các địa điểm khác nhau, trong và ngoài nhà trường sao cho thỏa mãn các yếu tố sau:

+ Nội dung giáo dục: Với mỗi một nội dung giáo dục thì địa điểm tổ chức hoạt động phải phù hợp, phải có tính điển hình thể hiện rõ ở địa điểm tổ chức Nếu không thực hiện được điều này thì quá trình học tập của học sinh cũng như quá trình

tổ chức hoạt động sẽ mang tính gò ép và có thể dẫn đến hiểu sai mục tiêu tổ chức hoạt động hoặc nguy hiểm hơn là gây ra phản tác dụng

+ Hình thức tổ chức: Khi chọn địa điểm tổ chức phải có sự thống nhất với hình thức tổ chức Nếu địa điểm và hình thức không phù hợp sẽ khó triển khai hoạt động, dẫn đến không đạt được hiệu quả của hoạt động

+ Quy mô tổ chức và lực lượng tham gia

+ Điều kiện cụ thể của trường học, địa phương, vùng miền mà lựa chọn địa điểm tổ chức cho phù hợp, không nên dập khuôn máy móc

1.2.5.5 Hình thức tổ chức hoạt động

Hoạt động trải nghiệm sáng tạo trong nhà trường phổ thông có hình thức tổ chức rất đa dạng và phong phú Cùng một chủ đề, một nội dung giáo dục nhưng hoạt động trải nghiệm sáng tạo có thể tổ chức theo nhiều hình thức hoạt động khác nhau, tùy vào độ tuổi và nhu cầu học sinh, tùy vào điều kiện cụ thể của lớp học, trường học cũng như địa phương nơi tổ chức hoạt động

Trong trường học thì các hoạt động trải nghiệm sáng tạo có thể được tổ chức dưới các hình thức như: hoạt động câu lạc bộ, tổ chức trò chơi, thành lập các diễn

Trang 32

đàn, sân khấu tương tác, các hội thi, hoạt động giao lưu, chia sẻ kinh nghiệm, hoạt động nhân đạo, hoạt động tình nguyện, sinh hoạt tập thể, lao động công ích, thể dục thể thao

Ngoài nhà trường thì có thể tổ chức hoạt động trải nghiệm dưới các hình thức như: đi thăm quan di tích lịch sử, làng nghề thủ công mĩ nghệ, nhà các nghệ nhân, công trường xây dựng, xưởng sản xuất, viện bảo tàng, nhà dân, người có hoàn cảnh đặc biệt ; thực hiện các hoạt động đền ơn đáp nghĩa, hoạt động từ thiện, lao động phục vụ cộng đồng, lao động cùng người dân địa phương, làm việc trong các làng nghề, xưởng sản xuất

Nhờ các hình thức tổ chức đa dạng, phong phú mà việc giáo dục học sinh được thực hiện một cách tự nhiên, sinh động, nhẹ nhàng, hấp dẫn, không gò bó và khô cứng, phù hợp với đặc điểm tâm sinh lý cũng như nhu cầu, nguyện vọng của học sinh Trong quá trình thiết kế, tổ chức thực hiện và đánh giá hoạt động trải nghiệm sáng tạo, cả giáo viên lẫn học sinh đều có cơ hội thể hiện sự sáng tạo, chủ động, linh hoạt của mình, làm tăng thêm tính hấp dẫn, độc đáo của các hình thức tổ chức hoạt động, từ đó nâng cao hiệu quả của quá trình giáo dục

1.2.5.6 Tính địa phương

Theo UNESCO thì một trong 4 trụ cột giáo dục con người và cũng là trụ cột quan trọng nhất là học để chung sống – learn to live Điều đó cho thấy một điều cả thể giới đều công nhận là việc học tập nói riêng hay giáo dục con người nói chung đều hướng tới mục tiêu cuối cùng là để người học có thể chung sống được với xã hội, với tự nhiên Nếu quá trình giáo dục không làm được điều đó hay không hướng tới điều đó thì đó là quá trình giáo dục lệch lạc và cần thay đổi

Hoạt động trải nghiệm sáng tạo trong trường phổ thông là một hoạt động giáo dục, nó thúc đẩy phát triển nhanh ý thức cộng đồng, hướng người học tới cuộc sống thực tế, gắn liền với thực tiễn đời sống tự nhiên và xã hội Chính vì thế nó thúc đẩy phần nào quá trình giáo dục của nước ta hiên nay, vốn được coi là nặng kiến thức hàn lâm mà thiếu kiến thức thực tiễn

Tuy nhiên để áp dụng tốt trong môi trường giáo dục nước ta, vốn còn nhiều yếu kém về các điều kiện nhận thức và kinh tế của người dân nói chung thì các hoạt động trải nghiệm phải trước hết hướng tới tính địa phương Như phân tích ở

Trang 33

trên thì hoạt động trải nghiệm sáng tạo có thể được tổ chức với các hình thức, quy

mô, địa điểm và nội dung rất phong phú, vì thế có thể nói tổ chức hoạt động trải nghiệm sáng tạo cho học sinh ở đâu cũng được Nhưng để phù hợp với điều kiện kinh tế hiện nay của các vùng miền địa phương thì tốt nhất là tổ chức tại địa phương, trong bán kính càng hẹp càng tốt miễn sao thảo mãn các yêu cầu về nội dung, hình thức, địa điểm và quy mô tổ chức là được

Ví dụ cũng là trải nghiệm lao động của những người công nhân, nếu địa phương có các xưởng sản xuất lớn thì ta có thể tổ chức cho học sinh đi tham quan, làm việc thử tại đó; nếu địa phương có nhà máy gạch thì cũng là một nơi rất tốt cho học sinh tham quan học hỏi, chứ không nhất thiết phải đi quá xa để tìm đến một công xưởng sản xuất lớn quá

Tất nhiên cái này phải tùy vào khả năng điều kiện của từng địa phương, trường lớp, bởi nếu tổ chức các hoạt động trải nghiệm càng sâu rộng bao nhiêu thì khả năng hiểu biết, tương tác của học sinh càng lớn, từ đó bài học mà học sinh thu được càng cao và hiệu quả

Chính vì thế khi tổ chức hoạt động trải nghiệm sáng tạo cho học sinh phổ thông thì điều kiện địa phương rất cần được quan tâm, nghĩ tới khi xây dựng kế hoạch và tổ chức hoạt động sao cho hợp lí

1.2.5.7 Vai trò của hoạt động trải nghiệm sáng tạo

- Học tập trải nghiệm sáng tạo làm tăng tính hấp dẫn trong học tập: Hình

thức dạy học trải nghiệm là hình thức giáo dục học sinh theo hình thức dạy học ngoài thực tế, trong đó các em được tiếp xúc với các sự vật, sự việc, hiện tượng thực

tế, điều này làm cho hoạt động giảng dạy của giáo viên và việc học của học sinh mang tính thực tế, linh hoạt tránh nhàm chán từ đó mà tăng tính hấp dẫn trong học tập

- Phát huy được tính tích cực, tư duy độc lập sáng tạo cho học sinh: Vì các

hoạt động gắn với thực tế, nên đòi hỏi người học phải tự nỗ lực để thu lượm kiến thức và giải quyết các vấn đề đặt ra Học tập trải nghiệm chú trọng vào việc giúp học sinh khai thác những tiềm năng sẵn có, định hình những thói quen, tính cách tốt ngay khi còn ngồi trên ghế nhà trường để tạo nền móng vững chắc cho sự phát triển

Trang 34

tiếp theo Phương pháp học này không áp đặt học sinh mà giáo viên chỉ quan sát và đưa ra gợi ý, trợ giúp các em Khuyến khích tối đa sự sáng tạo của học sinh

- Dạy học trải nghiệm tạo điều kiện kết nối các kiến thức khoa học liên

ngành: Nội dung học tập trải nghiệm rất phong phú và đa dạng mang tính tổng hợp

kiến thực kĩ năng của nhiều môn học, nhiều lĩnh vực học tập và giáo dục như: Giáo dục trí tuệ, giáo dục kĩ năng sống, giáo dục đạo đức, giáo dục thẩm mĩ và thể chất, Chính nhờ đặc trưng này mà học tập trải nghiệm trở nên gần gũi, thiết thực với cuộc sống, giúp các em vận dụng vào trong cuộc sống một cách dễ dàng và thuận lợi hơn Học tập trải nghiệm trong môn Vật lí có thể tích hợp với môn Hóa học, Sinh học, Địa lí,

- Dạy học trải nghiệm giúp gắn kết giữa các lực lượng giáo dục trong và

ngoài nhà trường: Hoạt động học tập trải nghiệm sáng tạo có sức hút mạnh mẽ, có

sự tham gia, phối hợp liên kết với lực lượng giáo dục trong và ngoài nhà trường như: cha mẹ học sinh, chính quyền địa phương, những tổ chức Tùy thuộc nội dung, tính chất của từng hoạt động mà sự tham gia của lực lượng có thể là trực tiếp hay gián tiếp Do đó, hoạt động trỉa nghiệm tạo điều kiện cho học sinh được giao tiếp rộng rãi với nhiều lực lượng giáo dục khác nhau, được lĩnh hội các nội dung giáo dục qua nhiều kênh khác nhau với nhiều cách tiếp cận khác nhau Điều đó làm tăng tính đa dạng, hấp dẫn và hiệu quả của hoạt động trải nghiệm sáng tạo

- Học tập trải nghiệm gắn kết giữa người dạy và người học: Dạy học bằng

trải nghiệm đòi hỏi người dạy phải tuân theo phong cách người hỗ trợ, hướng dẫn

để giúp người học thu được kiến thức từ những kinh nghiệm thực tế, đồng thời phải phù hợp với phong cách của người học nhằm phát huy tốt nhất khả năng và sự sáng tạo người học

- Học tập trải nghiệm là mô hình học tập tiên tiến nhằm giúp học sinh hoàn

thiện bản thân mình: Học tập trải nghiệm sáng tạo, tạo ra sự tự tin cho học sinh

trong học tập, hình thành năng lực học tập cho học sinh, lập kế hoạch, tổ chức làm việc nhóm, thu thập và xử lý thông tin, lập báo cáo, thuyết trình, đánh giá và tự đánh giá Qua các giờ học đó, học sinh sẽ cảm thấy yêu thích môn học và hiểu kiến thức một cách sâu sắc hơn Ngoài ra, học tập trải nghiệm là điều kiện học hỏi lẫn nhau, giúp học sinh phát huy tính tích cực tự học, sáng tạo, tính tự giác, giúp các em

Trang 35

phát huy tốt các kỹ năng như: kỹ năng giao tiếp, kỹ năng hợp tác Các bài giảng gắn với thực tiễn đời sống, tăng thời gian thực hành đã giúp cho học sinh động não, trải nghiệm và giải quyết những vấn đề của cuộc sống linh hoạt, hiệu quả hơn

Trang 36

Tiểu kết chương 1

Nghiên cứu cơ sở lí luận của việc tổ chức dạy học TNST ở trường Phổ thông cho thấy:

- Trước yêu cầu đổi mới phương pháp dạy học sau 2015, các nhà nghiên cứu

đã cố gắng áp dụng, đưa vào các phương pháp, hình thức dạy học mới nhằm phát triển năng lực cho học sinh Và hoạt động dạy học TNST đã đáp ứng được yêu cầu

đó

- Dạy học TNST giúp các bài học gắn liền với thực tiễn, có vai trò quan trọng trong việc rèn luyện khả năng tư duy sáng tạo, phát triển năng lực cho học sinh Điều này cũng phù hợp với xu thế đổi mới chung của nền giáo dục nước nhà cũng như trên thế giới, đó là việc dạy học gắn với thực tế

- Thông qua tìm hiểu, phân tích, tổng hợp các tài liệu có liên quan, luận văn góp phần làm rõ thêm các khái niệm, đặc điểm, yêu cầu, các hình thức tổ chức TNST trong dạy học Trên cơ sở đó, tác giả tiếp tục xây dựng cấu trúc và các hoạt động dạy học TNST cụ thể ở chương tiếp theo

Trang 37

CHƯƠNG 2 XÂY DỰNG CHỦ ĐỂ “TÌM HIỂU NGHỀ ĐÚC ĐỒNG Ở LÀNG NGHỀ TỐNG XÁ – Ý YÊN – NAM ĐỊNH” TRONG DẠY HỌC VẬT LÍ 10 THEO ĐỊNH HƯỚNG TRẢI NGHIỆM SÁNG TẠO 2.1 Giới thiệu chung về chương “Chất rắn và chất lỏng Sự chuyển thể” – Vật

lí 10 – Ban cơ bản

2.1.1 Cấu trúc, nội dung chương “Chất rắn và chất lỏng Sự chuyển thể”

Chương trình vật lí lớp 10 gồm hai phần: Phần I: Cơ học và phần II: Nhiệt học Có thể nói đây là hai mảng kiến thức vô cùng quan trọng và gần gũi với thực tiễn đời sống

Nếu ở phần Cơ học cung cấp cho học sinh các kiến thức về chuyển động của các vật và là cơ sở của nhiều ứng dụng quan trọng trong đời sống và trong các ngành kĩ thuật hiện đại thì phần Nhiệt học trang bị cho học sinh kiến thức về sự chuyển động và tương tác giữa các phân tử dẫn đến sự biến đổi trạng thái của các chất Trên cơ sở các nghiên cứu đó để ứng dụng vào chế tạo các thiết bị, vật dụng cần thiết cho khoa học và đời sống

Ngay từ lớp 6 và lớp 8, học sinh đã được tìm hiểu những kiến thức về nhiệt học như sự nở vì nhiệt của chất rắn, chất lỏng, chất khí cũng như một số ứng dụng của các hiện tượng đó, sự nóng chảy và đông đặc, sự bay hơi và ngưng tụ, sự sôi

Do vậy, kiến thức phần Nhiệt học ở lớp 10, trên cơ sở kế thừa những kiến thức đã học, đã bổ sung và mở rộng hơn về mặt định lượng với các định luật, công thức phù hợp với trình độ nhận thức của học sinh ở bậc THPT, giúp học sinh có cái nhìn đầy

đủ hơn về phần nhiệt học và các hiện tượng tự nhiên liên quan xảy ra xung quanh

Nội dung kiến thức phần Nhiệt học – Vật lí 10 – Ban cơ bản chia thành 3 chương là chương V, chương VI và chương VII trong nội dung chương trình vật lí lớp 10 Trong đó nội dung chính mà đề tài hướng tới là chương VII

Chương VII: CHẤT RẮN VÀ CHẤT LỎNG SỰ CHUYỂN THẾ gồm 7 bài

Bài 34: Chất rắn kết tinh Chất rắn vô định hình Bài 35: Biến dạng cơ của vật rắn

Bài 36: Sự nở vì nhiệt của vật rắn

Trang 38

Bài 37: Các hiện tượng bề mặt của chất lỏng Bài 38: Sự chuyển thế của các chất

Bài 39: Độ ẩm của không khí Bài 40: Thực hành: Xác định hệ số căng bề mặt của chất lỏng

Nhận xét: Kiến thức vật lí 10 phần Nhiệt học nói chung và kiến thức

chương VII – Chất rắn và chất lỏng Sự chuyển thế nói riêng là mảng kiến thức tương đối khó đối với học sinh THPT Tuy trong phần này lượng công thức, các định luật không nhiều, độ phức tạp của các bài tập không cao nhưng lại khó hiểu về bản chất vật lí, vì trong phần này các em nghiên cứu vật chất và sự biến đổi vật chất

ở cấp độ phân tử, thứ mà mắt thường không quan sát được Tuy nhiên các quy luật vật lí trong phần này đều được rút ra từ thực tế, nên đó là một thuận lợi giúp các em

dễ hình dung được hiện tượng cũng như ứng dụng trực tiếp các kiến thức đã học vào thực tế Cũng chính vì thế nên nếu tổ chức tiến trình dạy học như thông thường

sẽ khó đảm bảo cho học sinh tiếp thu đầy đủ cũng như hiểu được và khắc sâu kiến thức Vì thế, muốn hoạt động học tập trở nên ý nghĩa và hiệu quả, người giáo viên nên có sự đầu tư thiết kế giáo án và tổ chức thêm một số hoạt động học tập trải nghiệm, để học sinh có cơ hội tìm hiểu, giải thích và hiểu thấu đáo hơn bản chất của kiến thức vật lí có mặt trong các hiện tượng có mặt trong đời sống xung quanh

2.1.2 Nội dung kiến thức và mục tiêu cần đạt được khi dạy học chương “Chất

- Phân biệt được chất rắn kết tinh

- Phát triển năng lực giải quyết vấn đề trong việc phân biệt chất rắn kết tinh và chất rắn vô định hình

- Phát triển các NLTP liên quan đến sử dụng kiến thức vật lí, về

Trang 39

và chất rắn vô định hình về cấu trúc vi mô và những tính chất vĩ

mô của chúng

* Kĩ năng

- Vận dụng được các kiến thức đã học về chất rắn giải thích các hiện tượng gần gũi trong thực tế

phương pháp, trao đổi thông tin

và nhóm NLTP liên quan đến cá nhân khác nhau

- Phát triển năng lực tự học,

năng lực quan sát trong việc vận dụng các kiến thức đã học để giải thích các hiện tượng liên

* Kĩ năng

- Vận dụng được hệ thức của định luật Húc đối với biến dạng của vật rắn vào việc giải các bài tập

- Phát triển năng lực giải quyết vấn đề trong việc phân biệt biến dạng đàn hồi và biến dạng dẻo

- Phát triển các NLTP liên quan đến sử dụng kiến thức vật lí, về phương pháp, trao đổi thông tin

và nhóm NLTP liên quan đến cá nhân khác nhau

- Phát triển năng lực tự học,

năng lực quan sát trong việc vận dụng các kiến thức đã học để giải thích các hiện tượng liên quan đến chất rắn trong thực tế, cũng như vận dụng định luật Húc đối với biến dạng của vật rắn vào việc giải bài tập

- Nêu được ý nghĩa của sự nở dài,

sự nở khối của vật rắn trong đời

- Phát triển năng lực giải quyết vấn đề, năng lực tự học trong việc hiểu được các khái niệm và

ý nghĩa của sự nở dài và sự nở khối của vật rắn trong đời sống

và kĩ thuật

- Phát triển các NLTP liên quan

Trang 40

đến sử dụng kiến thức vật lí, về phương pháp, trao đổi thông tin

và nhóm NLTP liên quan đến cá nhân khác nhau

- Phát triển năng lực tự học,

năng lực quan sát trong việc vận dụng các kiến thức đã học để giải thích các hiện tượng liên quan đến sự nở vì nhiệt của chất rắn trong thực tế

- Mô tả được thí nghiệm về hiện tượng mao dẫn

* Kĩ năng

- Vận dụng kiến thức về các hiện tượng bề mặt của chất lỏng giải thích các hiện tượng có trong thực

tế

- Vận dụng biểu thức độ lớn lực căng bề mặt trong việc giải các bài tập

- Phát triển năng lực giải quyết vấn đề, năng lực tự học trong việc hiểu được các khái niệm và

ý nghĩa của các hiện tượng bề mặt chuất lỏng trong đời sống và

kĩ thuật

- Phát triển các NLTP liên quan đến sử dụng kiến thức vật lí, về phương pháp, trao đổi thông tin

và nhóm NLTP liên quan đến cá nhân khác nhau

- Phát triển năng lực tự học,

năng lực quan sát trong việc vận dụng các kiến thức đã học để giải thích các hiện tượng bề mặt của chất lỏng trong thực tế

- Phát triển năng lực thực nghiệm khi học sinh tiến hành các thí nghiệm thực về các hiện tượng bề mặt chất lỏng

Ngày đăng: 03/12/2019, 08:42

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Bộ giáo dục và Đào tạo (2005), Luật Giáo dục. NXB Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Luật Giáo dục
Tác giả: Bộ giáo dục và Đào tạo
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 2005
2. Bộ giáo dục và Đào tạo (2015), Kĩ năng xây dựng và tổ chức các hoạt động TNST trong trường trung học. Tài liệu tập huấn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kĩ năng xây dựng và tổ chức các hoạt động TNST trong trường trung học
Tác giả: Bộ giáo dục và Đào tạo
Năm: 2015
4. Bộ Giáo dục và Đào tạo (2008), Vật lí lớp 10. NXB Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vật lí lớp 10
Tác giả: Bộ Giáo dục và Đào tạo
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 2008
5. Bộ Giáo dục và Đào tạo (2008), Vật lí lớp 10 – nâng cao. NXB Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vật lí lớp 10 – nâng cao
Tác giả: Bộ Giáo dục và Đào tạo
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 2008
6. Bộ Giáo dục và Đào tạo (2008), Vật lí lớp 10 – Sách giáo viên. NXB Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vật lí lớp 10 – Sách giáo viên
Tác giả: Bộ Giáo dục và Đào tạo
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 2008
7. Bộ Giáo dục và Đào tạo (2008), Vật lí lớp 10 nâng cao – Sách giáo viên. NXB Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vật lí lớp 10 nâng cao – Sách giáo viên
Tác giả: Bộ Giáo dục và Đào tạo
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 2008
8. Bùi Ngọc Diệp, Hình thức tổ chức các hoạt động trải nghiệm sáng tạo trong nhà trường phổ thông. Tạp chí Khoa học Giáo dục số 113 – Tháng 02/2015 – Trang 37 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hình thức tổ chức các hoạt động trải nghiệm sáng tạo trong nhà trường phổ thông
9. Bùi Tố Nhân (2015), “Quản lí hoạt động trải nghiệm sáng tạo tại các trường Trung học cơ sở thuộc quận Lê Chân thành phố Hải Phòng”. Luận văn thạc sĩ, Trường ĐHGD – ĐHQG Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quản lí hoạt động trải nghiệm sáng tạo tại các trường Trung học cơ sở thuộc quận Lê Chân thành phố Hải Phòng
Tác giả: Bùi Tố Nhân
Năm: 2015
10. Đỗ Hương Trà (2016), Dạy học tích hợp phát triển năng lực học sinh - Quyển I: Khoa học tự nhiên. NXB Đại học Sư Phạm Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dạy học tích hợp phát triển năng lực học sinh - Quyển I: Khoa học tự nhiên
Tác giả: Đỗ Hương Trà
Nhà XB: NXB Đại học Sư Phạm
Năm: 2016
11. Đỗ Hương Trà (2012). LAMAP - Một phương pháp dạy học hiện đại. NXB Đại học Sư Phạm Sách, tạp chí
Tiêu đề: LAMAP - Một phương pháp dạy học hiện đại
Tác giả: Đỗ Hương Trà
Nhà XB: NXB Đại học Sư Phạm
Năm: 2012
12. Hội đồng quốc gia chỉ đạo biên soạn từ điển bách khoa Việt Nam (2002), Từ điển bách khoa Việt Nam – tập 2. NXB Trung tâm biên soạn từ điển bách khoa Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển bách khoa Việt Nam – tập 2
Tác giả: Hội đồng quốc gia chỉ đạo biên soạn từ điển bách khoa Việt Nam
Nhà XB: NXB Trung tâm biên soạn từ điển bách khoa
Năm: 2002
13. Hội đồng quốc gia chỉ đạo biên soạn từ điển bách khoa Việt Nam (2003), Từ điển bách khoa Việt Nam – tập 3. NXB Trung tâm biên soạn từ điển bách khoa Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển bách khoa Việt Nam – tập 3
Tác giả: Hội đồng quốc gia chỉ đạo biên soạn từ điển bách khoa Việt Nam
Nhà XB: NXB Trung tâm biên soạn từ điển bách khoa
Năm: 2003
14. Hội đồng quốc gia chỉ đạo biên soạn từ điển bách khoa Việt Nam (2005), Từ điển bách khoa Việt Nam – tập 4. NXB Trung tâm biên soạn từ điển bách khoa Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển bách khoa Việt Nam – tập 4
Tác giả: Hội đồng quốc gia chỉ đạo biên soạn từ điển bách khoa Việt Nam
Nhà XB: NXB Trung tâm biên soạn từ điển bách khoa
Năm: 2005
16. IA.I.PÊ REN MAN (2009), Vật lí vui – Quyển 1. NXB Giáo Dục Việt Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vật lí vui – Quyển 1
Tác giả: IA.I.PÊ REN MAN
Nhà XB: NXB Giáo Dục Việt Nam
Năm: 2009
17. IA.I.PÊ REN MAN (2009), Vật lí vui – Quyển 2. NXB Giáo Dục Việt Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vật lí vui – Quyển 2
Tác giả: IA.I.PÊ REN MAN
Nhà XB: NXB Giáo Dục Việt Nam
Năm: 2009
18. Lê Thị Nga ( 2015), “Tổ chức hoạt động học tập trải nghiệm sáng tạo cho học sinh trong dạy học lịch sử địa phương ở trường Trung học phổ thông huyện Ba Vì – Hà Nội”. Luận văn thạc sĩ. Trường ĐHGD-ĐHQG Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tổ chức hoạt động học tập trải nghiệm sáng tạo cho học sinh trong dạy học lịch sử địa phương ở trường Trung học phổ thông huyện Ba Vì – Hà Nội
19. Nguyễn Thị Liên (Chủ biên) cùng nhóm tác giả (2016), Tổ chức hoạt động trải nghiệm sáng tạo trong nhà trường phổ thông. NXB Giáo dục Việt Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tổ chức hoạt động trải nghiệm sáng tạo trong nhà trường phổ thông
Tác giả: Nguyễn Thị Liên (Chủ biên) cùng nhóm tác giả
Nhà XB: NXB Giáo dục Việt Nam
Năm: 2016
20. Nguyễn Ngọc Nhị - Hoàng Văn Sơn (1981), Hội vui vật lí. NXB Giáo Dục 21. Nguyễn Văn Cường (2005 ), Lí luận dạy học hiện đại. NXB Đại học Sư Phạm Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hội vui vật lí". NXB Giáo Dục 21. Nguyễn Văn Cường (2005 ), "Lí luận dạy học hiện đại
Tác giả: Nguyễn Ngọc Nhị - Hoàng Văn Sơn
Nhà XB: NXB Giáo Dục 21. Nguyễn Văn Cường (2005 )
Năm: 1981
22. Nguyễn Quang Đông (2011), Tuyển tập câu hỏi định tính Vật lí. NXB ĐH Thái Nguyên Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tuyển tập câu hỏi định tính Vật lí
Tác giả: Nguyễn Quang Đông
Nhà XB: NXB ĐH Thái Nguyên
Năm: 2011
23. Phan Dũng (2014), Phương pháp luận sáng tạo khoa học – kỹ thuật giải quyết vấn đề và ra quyết định (giáo trình tóm tắt). ĐH Khoa học tự nhiên – ĐH quốc gia TP. HCM Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phương pháp luận sáng tạo khoa học – kỹ thuật giải quyết vấn đề và ra quyết định (giáo trình tóm tắt)
Tác giả: Phan Dũng
Năm: 2014

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w