Nghị quyết cũng chỉ rõ để thực hiện thành công quá trình đổi mới căn bản và toàn diện giáo dục và đào tạo cần phải thực hiện đồng bộ nhiều nhiệm vụ, nhiều giải pháp trong đó cần đặc bi
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
LUẬN VĂN THẠC SỸ QUẢN LÝ GIÁO DỤC
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
LUẬN VĂN THẠC SỸ QUẢN LÝ GIÁO DỤC
Chuyên ngành: Quản lý giáo dục
Mã số: 8140114
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Nguyễn Thành Vinh
HÀ NỘI - 2018
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Với tình cảm chân thành, tôi xin trân trọng cảm ơn tập thể các thầy giáo, cô giáo trường Đại học Giáo dục, Đại học Quốc gia Hà Nội đã nhiệt tình giảng dạy, trang bị cho chúng tôi hệ thống tri thức quý báu về khoa học quản lý giáo dục, về phương pháp nghiên cứu khoa học, giúp đỡ tôi hoàn thành chương trình học tập và
có được những kiến thức, kỹ năng cần thiết để nghiên cứu, thực hiện luận văn này Đặc biệt tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến PGS.TS Nguyễn Thành Vinh – người đã tận tâm, dày công hướng dẫn tôi trong suốt quá trình nghiên cứu và thực hiện đề tài
Tôi cũng xin chân thành cảm ơn gia đình, đồng nghiệp, bạn bè đã luôn bên cạnh, cổ vũ, khích lệ, động viên, giúp đỡ để tôi hoàn thành luận văn này
Mặc dù bản thân đã có nhiều cố gắng trong quá trình nghiên cứu, thực hiện đề tài song do thời gian và năng lực có hạn nên chắc chắn luận văn không thể tránh khỏi những thiếu sót nhất định Kính mong nhận được sự chỉ dẫn, góp ý của quý thầy (cô), các nhà khoa học trong Hội đồng khoa học cùng các bạn đồng nghiệp để luận văn được hoàn thiện hơn
Trân trọng cảm ơn!
Hà Nội, ngày 16 tháng 5 năm 2018
Tác giả
Vũ Thị Mười
Trang 4DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
4 CNTT Công nghệ thông tin
5 ĐNGV Đội ngũ giáo viên
6 GD&ĐT Giáo dục và Đào tạo
19 UBND Ủy ban nhân dân
20 VHVN Văn hóa văn nghệ
Trang 5MỤC LỤC
LỜI CẢM ƠN i
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT ii
DANH MỤC CÁC BẢNG vi
DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ, SƠ ĐỒ vii
MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ ĐỘI NGŨ GIÁO VIÊN VÀ PHÁT TRIỂN ĐỘI NGŨ GIÁO VIÊN THEO CHUẨN NGHỀ NGHIỆP Ở TRƯỜNG THCS 8
1.1 Tổng quan nghiên cứu vấn đề 8
1.2 Một số khái niệm cơ bản 10
1.2.1 Phát triển 10
1.2.2 Đội ngũ giáo viên 11
1.2.3 Phát triển đội ngũ giáo viên: 12
1.2.4 Chuẩn nghề nghiệp giáo viên 13
1.3 Trường THCS trong hệ thống Giáo dục quốc dân 15
1.3.1 Vị trí của trường THCS 15
1.3.2 Mục tiêu đào tạo của trường THCS 15
1.3.3 Nhiệm vụ và quyền hạn của trường THCS 15
1.4 Nội dung phát triển đội ngũ giáo viên THCS theo Chuẩn nghề nghiệp 16
1.4.1 Quy hoạch ĐNGV 16
1.4.2 Tuyển dụng ĐNGV 17
1.4.3 Sử dụng đội ngũ 18
1.4.4 Việc đào tạo, bồi dưỡng ĐNGV 18
1.4.5 Kiểm tra, đánh giá ĐNGV 19
1.4.6.Tạo môi trường làm việc cho ĐNGV 20
1.5 Những yếu tố tác động tới việc phát triển đội ngũ giáo viên theo Chuẩn nghề nghiệp 22
1.5.1 Những yếu tố khách quan 22
Trang 6TIỂU KẾT CHƯƠNG 1 27
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG ĐỘI NGŨ GIÁO VIÊN VÀ PHÁT TRIỂN ĐỘI NGŨ GIÁO VIÊN TẠI TRƯỜNG THCS NGUYỄN ĐĂNG ĐẠOTHEO CHUẨN NGHỀ NGHIỆP 28
2.1 Khái quát về đặc điểm kinh tế, văn hóa, xã hội ở thành phố Bắc Ninh 28
2.2 Khái quát về Giáo dục & Đào tạo ở thành phố Bắc Ninh 29
2.3 Khái quát về các trường THCS trọng điểm tại tỉnh Bắc Ninh 30
2.3.1 Mục tiêu xây dựng trường THCS trọng điểm 30
2.3.2 Nhiệm vụ của các trường THCS trọng điểm 31
2.3.3 Quy chế tuyển chọn giáo viên trường THCS trọng điểm 32
2.3.4 Chế độ chính sách đối với các trường THCS trọng điểm 34
2.3.5 Trường THCS trọng điểm Nguyễn Đăng Đạo, thành phố Bắc Ninh 35
2.4 Giới thiệu khảo sát 36
2.4.1 Mục đích khảo sát 36
2.4.2 Đối tượng khảo sát 36
2.4.3 Nội dung khảo sát 36
2.4.4 Cỡ mẫu khảo sát 37
2.4.5 Phương pháp khảo sát 37
2.5 Kết quả khảo sát 37
2.5.1 Về số lượng, trình độ và cơ cấu 37
2.5.2 Việc đáp ứng các tiêu chuẩn, tiêu chí quy định trong bộ chuẩn nghề nghiệp giáo viên 43
2.5.3 Thực trạng về việc dùng Chuẩn ở trường THCS Nguyễn Đăng Đạo 45
2.5.4 Thực trạng phát triển đội ngũ giáo viên ở trường THCS Nguyễn Đăng Đạo theo Chuẩn nghề nghiệp 47
2.5.5 Thực trạng về các yếu tố tác động đến việc phát triển đội ngũ GV tại trường THCS Nguyễn Đăng Đạo theo Chuẩn nghề nghiệp 60
2.6 Đánh giá chung về đội ngũ giáo viên và phát triển đội ngũ GV tại trường THCS Nguyễn Đăng Đạo, thành phố Bắc Ninh 61
2.6.1 Điểm mạnh 61
2.6.2 Điểm yếu 62
Trang 72.6.3 Nguyên nhân của những hạn chế 64
TIỂU KẾT CHƯƠNG 2 67
CHƯƠNG 3: BIỆN PHÁP PHÁT TRIỂN ĐỘI NGŨ GIÁO VIÊN TẠI TRƯỜNG THCS NGUYỄN ĐĂNG ĐẠO THEO CHUẨN NGHỀ NGHIỆP 69
3.1 Nguyên tắc đề xuất giải pháp 69
3.1.1 Đảm bảo tính đồng bộ 69
3.1.2 Đảm bảo tính khả thi 69
3.1.3 Đảm bảo tính kế thừa 69
3.2 Các biện pháp phát triển đội ngũ giáo viên tại trường THCS Nguyễn Đăng Đạo, thành phố Bắc Ninh, tỉnh Bắc Ninh đáp ứng Chuẩn nghề nghiệp 69
3.2.1 Biện pháp 1 Tổ chức để toàn thể giáo viên nhận thức lại vai trò của Chuẩn trong việc giúp giáo viên phấn đấu đạt chuẩn để tiến bộ trong nghề nghiệp 69
3.2.2 Biện pháp 2 Hoàn thiện quy hoạch ĐNGV theo Chuẩn nghề nghiệp 71
3.2.3 Biện pháp 3 Đổi mới cách tuyển dụng ĐNGV theo Chuẩn 76
3.2.4 Biện pháp 4 Đổi mới cách quản lí ĐNGV theo Chuẩn 79
3.2.5 Biện pháp 5 Đổi mới cách đánh giá ĐNGV theo Chuẩn 82
3.2.6 Biện pháp 6 Tăng cường hoạt động bồi dưỡng ĐNGV theo Chuẩn 84
3.2.7 Biện pháp 7 Tạo môi trường cho ĐNGV phấn đấu đạt chuẩn 86
3.3 Mối quan hệ giữa các biện pháp 89
3.4 Khảo nghiệm tính cần thiết và khả thi của các biện pháp 90
3.4.1 Mục đích khảo nghiệm 90
3.4.2 Đối tượng khảo nghiệm 90
3.4.3 Cách đánh giá 90
3.4.4 Kết quả đánh giá: 91
TIỂU KIẾT CHƯƠNG 3 97
KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 98
1 Kết luận 98
2 Khuyến nghị 99
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 102
PHỤ LỤC 105
Trang 8DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng: 2.1 Thống kê trình độ đào tạo của đội ngũ GV 38
Bảng: 2.2 Thống kê năng lực tiếng Anh của đội ngũ GV 38
Bảng: 2.3 Thống kê năng lực tiếng Anh của đội ngũ GV dạy môn Tiếng Anh 38
Bảng: 2.4 Thống kê độ tuổi và giới tính của đội ngũ GV 40
Bảng: 2.5 Thống kê số lượng giáo viên theo môn học 42
Bảng: 2.6: Kết quả đánh giá việc đáp ứng các tiêu chuẩn, tiêu chí trong bộ chuẩn nghề nghiệp GV 43
Bảng: 2.7 Kết quả GV tự đánh giá, xếp loại 45
Bảng: 2.8 Kết quả tổ chuyên môn đánh giá, xếp loại 45
Bảng: 2.9 Kết quả Hiệu trưởng đánh giá, xếp loại 46
Bảng: 2.10 Kết quả đánh giá hoạt động xây dựng quy hoạch phát triển đội ngũ 48
Bảng: 2.11 Thống kê số lượng GV học nâng cao trình độ đào tạo 51
Bảng: 2.12 Kết quả hoạt động kiểm tra, đánh giá ĐNGV 55
Bảng: 2.13 Kết quả đánh giá hoạt động thực hiện chế độ chính sách đối với ĐNGV 57
Bảng: 2.14 Kết quả đánh giá mức độ tác động của các yếu tố khách quan và chủ quan đến việc phát triển đội ngũ GV 60
Bảng: 3.1 Dự báo số lượng GV theo tỷ lệ GV/lớp 72
Bảng: 3.2 Dự báo số lượng GV theo cơ cấu môn học 73
Bảng: 3.3 Thống kê kết quả khảo nghiệm về mức độ cần thiết của các biện pháp đề xuất phát triển ĐNGV theo Chuẩn nghề nghiệp 91
Bảng: 3.4 Kết quả khảo nghiệm về mức độ khả thi của các biện pháp 93
Bảng: 3.5 Tương quan giữa tính cần thiết và tính khả thi của các biện pháp 95
Trang 9DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ, SƠ ĐỒ
Sơ đồ: 3.1 Mối quan hệ giữa các biện pháp 90 Biểu đồ: 3.1 Mức độ cần thiết của các biện pháp đề xuất 92 Biểu đồ 3.2 Mức độ khả thi của các biện phát triển đội ngũ giáo viên theo Chuẩn nghề nghiệp 94 Biểu đồ: 3.3 Mức độ cần thiết và khả thi của các biện pháp 95
Trang 10MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Phát triển đội ngũ giáo viên luôn là vấn đề chiến lược của mỗi quốc gia vì đội ngũ giáo viên chính là yếu tố hàng đầu quyết định chất lượng giáo dục Không ai khác, chính đội ngũ giáo viên là nguồn duy nhất có khả năng đào tạo được nguồn nhân lực có khả năng hiện thực hóa mọi kế hoạch cho tương lai, đặc biệt trong thế kỷ XXI được xem là thế kỷ của CNTT và kinh tế tri thức Vì thế, nâng cao chất lượng ĐNGV được xem là khâu đột phá, trọng tâm của công cuộc đổi mới căn bản và toàn diện giáo dục, đặc biệt là giáo dục phổ thông Giáo viên được coi như yếu tố then chốt của cải cách, đổi mới giáo dục Tuy nhiên, hiện nay, trước yêu cầu đổi mới giáo dục, năng lực của đội ngũ giáo viên phổ thông vẫn để lại những lo ngại cả về lượng và chất Điều đó đòi hỏi phải có những giải pháp để tháo gỡ, phát triển năng lực nghề nghiệp của giáo viên nhằm đáp ứng tốt nhất những yêu cầu của thời kỳ mới mà trước hết là yêu cầu của chương trình giáo dục phổ thông mới sau năm 2018 Theo một kết quả đánh giá tổng quát năng lực giáo viên, nếu chương trình giáo dục phổ thông mới triển khai trong thời gian tới với định hướng và yêu cầu chuyển từ trang bị nội dung kiến thức sang phát triển phẩm chất và năng lực của người học bằng việc dạy học tích hợp và lồng ghép, dạy học phân hóa, trải nghiệm sáng tạo thì năng lực của đội ngũ giáo viên phổ thông đang đứng trước những thách thức mới Cũng theo một kết quả khảo sát thực trạng năng lực dạy học của giáo viên của trường đại học Sư phạm Hà Nội cho thấy, tuy giáo viên đã có những năng lực cần thiết để đáp ứng với yêu cầu đổi mới giáo dục phổ thông nhưng số giáo viên có năng lực vững chắc chỉ đạt trên dưới 20%, những giáo viên đã có năng lực nhưng chưa vững chắc chiếm tỉ lệ khá cao Do đó việc bồi dưỡng, phát triển đội ngũ nhà giáo là yêu cầu cấp thiết đòi hỏi phải được giải quyết ngay tức thì Nâng cao chất lượng đội ngũ nhà giáo vừa là mục tiêu, vừa là động lực để phát triển của mỗi nhà trường Tăng cường xây dựng đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục một cách toàn diện theo hướng chuẩn hóa là nhiệm vụ vừa đáp ứng yêu cầu trước mắt, vừa mang tính chiến lược lâu dài nhằm thực hiện thành công chiến lược phát triển giáo dục và chấn hưng đất nước
Bước sang thế kỷ XXI nền giáo dục hiện đại có những xu hướng đổi mới sâu sắc từ quan niệm về vị trí, vai trò, chức năng của giáo dục đến nội dung và phương
Trang 11pháp giáo dục Sự đổi mới này tất yếu đặt ra những yêu cầu về xây dựng đội ngũ giáo viên Sự phát triển vũ bão của khoa học - công nghệ đòi hỏi mỗi thầy cô giáo phải luôn bồi dưỡng, cập nhật thông tin, tri thức mới có thể hoàn thành tốt nhiệm vụ Nhận thức sâu sắc được điều đó, trong nhiều năm qua, Đảng và Nhà nước ta
đã rất quan tâm đến công tác nâng cao chất lượng đội ngũ nhà giáo Ngày 15 tháng
6 năm 2004, Ban Bí thư Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam đã có Chỉ thị số 40
CT/TW ngày 15/6/2004 về “Xây dựng, nâng cao chất lượng nhà giáo và đội ngũ
cán bộ quản lý giáo dục” Tiếp đó ngày 11/ 01/ 2005 Thủ tướng Chính phủ ban
hành Quyết định số 09/2005/QĐ-TTg về việc Phê duyệt “Đề án Xây dựng, nâng
cao chất lượng đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục giai đoạn 2005-2010”
Năm 2011, Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XI đặt vấn đề: “Đổi mới căn bản, toàn
diện nền giáo dục” Ngày 04 tháng 11 năm 2013, Hội nghị Trung ương 8, khóa XI đã
thông qua Nghị quyết số 29-NQ/TW của Ban chấp hành Trung ương "Về đổi mới căn
bản, toàn diện giáo dục và đào tạo, đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế"
trong đó khẳng định "vai trò quyết định chất lượng giáo dục và đào tạo của đội ngũ
nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục" Nghị quyết cũng chỉ rõ để thực hiện thành
công quá trình đổi mới căn bản và toàn diện giáo dục và đào tạo cần phải thực hiện
đồng bộ nhiều nhiệm vụ, nhiều giải pháp trong đó cần đặc biệt chú trọng "Phát triển
đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý, đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục và đào tạo",
"Thực hiện chuẩn hóa đội ngũ nhà giáo theo từng cấp học và trình độ đào tạo Tiến tới tất cả các giáo viên tiểu học, trung học cơ sở, giáo viên, giảng viên các cơ sở giáo dục nghề nghiệp phải có trình độ từ đại học trở lên, có năng lực sư phạm"
Để chuẩn hóa đội ngũ nhà giáo theo từng cấp học, Bộ GD & ĐT đã ban hành
Quy định Chuẩn nghề nghiệp giáo viên trung học cơ sở, giáo viên trung học phổ thông (Ban hành kèm theo Thông tư số 30/2009/TT-BGDĐT ngày 22 tháng 10 năm
2009 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo) Chuẩn nghề nghiệp giáo viên trung
học là hệ thống các yêu cầu cơ bản đối với giáo viên trung học về phẩm chất chính trị, đạo đức lối sống; năng lực chuyên môn, nghiệp vụ Sự ra đời của bộ Chuẩn nghề nghiệp một mặt giúp mỗi thầy cô giáo tự đánh giá phẩm chất chính trị, đạo đức lối
Trang 12luyện phẩm chất đạo đức và nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ Với các nhà quản lý giáo dục, Chuẩn nghề nghiệp chính là cơ sở để đánh giá, xếp loại, xây dựng
kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng nhằm nâng cao chất lượng của đội ngũ giáo viên
Chuẩn ra đời với mục đích rất tốt đẹp tuy nhiên trong quá trình áp dụng vào thực tế, Chuẩn đã không thể hiện hết được vai trò của nó như mong đợi Chuẩn chỉ được sử dụng một lần duy nhất vào cuối năm học để đánh giá, xếp loại giáo viên
Và điều đáng nói hơn là kết quả đánh giá theo Chuẩn: gần như 100% GV được đánh giá theo Chuẩn đều đạt Chuẩn thậm chí vượt Chuẩn rất nhiều trong khi Nghị quyết
Hội nghị Trung ương 8 khóa XI nhận định: "Đội ngũ nhà giáo còn nhiều bất cập
về chất lượng, số lượng và cơ cấu, một bộ phận chưa theo kịp yêu cầu đổi mới và phát triển giáo dục, thiếu tâm huyết, thậm chí vi phạm đạo đức nghề nghiệp" Kết
quả đánh giá theo Chuẩn như hiện nay ở các trường phổ thông vô tình trở thành
"rào cản" trong việc nâng cao chất lượng giáo dục
Vậy vấn đề đặt ra là Chuẩn đã và đang được vận hành trong thực tế không đúng mục đích, chức năng của nó và việc dùng Chuẩn đã và đang không đem lại hiệu quả như mong đợi GV không xứng đáng đạt Chuẩn – yêu cầu cần và đủ đối với mỗi giáo viên, vẫn Chuẩn Vậy họ sẽ thỏa mãn, bằng lòng với chính mình, không lý do, không động cơ để nỗ lực, phấn đấu vươn lên Và rồi chất lượng giáo dục của chúng ta sẽ đi về đâu nếu chúng ta có một thế hệ nhà giáo – lớp người được
xã hội đề cao, tôn vinh trao niềm tin, gửi trọng trách rèn giũa, giáo dục thế hệ tương lai của đất nước bị đạt nhầm Chuẩn!
Bắc Ninh là một vùng đất giàu truyền thống hiếu học, khoa bảng Để phát huy truyền thống tốt đẹp đó, một trong những chính sách ưu tiên hàng đầu của các cấp lãnh đạo tỉnh Bắc Ninh là coi trọng, chăm lo, đầu tư phát triển giáo dục và đào tạo
và biệt là giáo dục mũi nhọn Sự ra đời của của 08 trường THCS trọng điểm (trong
đó có trường THCS Nguyễn Đăng Đạo) và trường THPT Chuyên Bắc Ninh – ngôi
trường hiện đại nhất Việt Nam và chỉ đứng thứ 2 trong khu vực Đông Nam Á, với
cơ chế, chính sách hoạt động riêng là minh chứng rõ ràng cho điều đó Tuy nhiên dường như với những kết quả thực tế đã đạt được thì chất lượng giáo dục và đào tạo vẫn chưa thực sự tương xứng với sự quan tâm, đầu tư của tỉnh, chưa đáp ứng được
sự kỳ vọng, mong mỏi của nhân dân
Trang 13Trường THCS Nguyễn Đăng Đạo, thành phố Bắc Ninh là một trong 08 trường THCS trọng điểm của tỉnh Bắc Ninh Với sứ mệnh là cái nôi ươm mầm, phát hiện, bồi dưỡng, đào tạo nhân tài cho quê hương đất nước nói chung, thành phố và tỉnh Bắc Ninh nói riêng, trong suốt những năm học qua, đội ngũ cán bộ quản lý và đội ngũ giáo viên của nhà trường đã không ngừng cố gắng, nỗ lực, tích cực, chủ động bồi dưỡng phẩm chất đạo đức nhà giáo, năng lực chuyên môn nghiệp vụ nhằm hoàn thành tốt trọng trách được giao, góp phần làm đẹp hơn bức tranh giáo dục của tỉnh nhà Tuy nhiên, hiện nay, trước bối cảnh quốc tế và trong nước có nhiều thay đổi to lớn và nhanh chóng; trước đòi hỏi ngày càng cao và khắt khe của sự nghiệp
"đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục" nước nhà, đội ngũ giáo viên và công tác quản
lý đội ngũ giáo viên tại trường THCS Nguyễn Đăng Đạo đã bước đầu bộc lộ những tồn tại, hạn chế so với yêu cầu Điều đó thực sự là một vấn đề được đặt ra khiến các nhà quản lý giáo dục tại trường THCS Nguyễn Đăng Đạo nói riêng, thành phố Bắc Ninh nói chung phải trăn trở Chất lượng giáo dục của nhà trường sẽ đi về đâu nếu đội ngũ giáo viên - lực lượng quyết định chất lượng giáo dục của nhà trường, chưa
đáp ứng được yêu cầu của thời đại mới? Liệu có còn "chỗ đứng" cho một trường
trọng điểm khi ở đó đội ngũ thầy cô tỏ ra non kém, bộc lộ những hạn chế về phẩm chất và năng lực? Làm thế nào để có được một đội ngũ thầy giáo, cô giáo toàn tâm,
toàn ý, "vừa hồng, vừa chuyên" đáp ứng được yêu cầu, đòi hỏi ngày càng cao của
thực tế giáo dục? Và với sự quan tâm, ưu ái đặc biệt của tỉnh, sự kỳ vọng thiết tha của nhân dân thành phố thì chất lượng hiện tại của nhà trường liệu đã xứng tầm?
Mặt khác, Quy chế tuyển chọn GV trường THPT Chuyên Bắc Ninh và 08 trường
THCS trọng điểm trên địa bàn tỉnh của UBND tỉnh Bắc Ninh ngày 27 tháng 7 năm
2017 quy định rõ sẽ điều động, chấm dứt hợp đồng với "những GV trong năm học
không đạt Chuẩn nghề nghiệp theo quy định Chuẩn nghề nghiệp GV trung học của Bộ GD&ĐT hoặc có 2 năm liên tiếp xếp loại khá theo quy định Chuẩn nghề nghiệp GV trường trung học của Bộ GD&ĐT quy định." [25] Phải làm thế nào để ĐNGV của nhà
trường không chỉ đạt Chuẩn mà còn phải đạt Chuẩn ở mức độ cao xứng đáng là GV
trường trọng điểm là vấn đề đặt ra mà nhà quản lý cần phải quan tâm
Xuất phát từ tất cả những điều đó, những yêu cầu về lý luận và thực tiễn,
Trang 14điểm, bản thân tôi nhận thấy mình phải có trách nhiệm, nghĩa vụ góp phần vào việc
nâng cao chất lượng GD&ĐT của tỉnh nhà, làm cho bức tranh giáo dục của Bắc
Ninh trở nên đẹp hơn, lung linh, hoàn hảo hơn Đồng thời tôi cũng nhận thấy vấn đề
trước mắt cần phải tập trung quan tâm đặc biệt chính là công tác bồi dưỡng, xây
dựng ĐNGV Cần xem công tác bồi dưỡng, xây dựng ĐNGV là đòi hỏi cấp bách, là
vấn đề sống còn, cần được giải quyết Tôi mạnh dạn xin chọn đề tài nghiên cứu:
t tr n ng g o v n t tr ng T Ngu n ng o t n p
Bắc N n tỉn Bắc N n t eo Chu n ng ng ” với mong muốn tìm ra được
những giải pháp tốt nhất, khả thi nhất để có ĐNGV tốt nhất đáp ứng được đòi
hỏi của thực tế hiện nay
2 Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở nghiên cứu lý luận và khảo sát thực trạng đội ngũ giáo viên và
việc phát triển đội ngũ giáo viên, đề tài hướng tới mục đích đề xuất một số biện
pháp để phát triển đội ngũ giáo viên tại trường THCS Nguyễn Đăng Đạo, thành phố
Bắc Ninh, tỉnh Bắc Ninh theo Chuẩn nghề nghiệp nhằm đáp ứng yêu cầu của sự
nghiệp đổi mới giáo dục
3 Khách thể và đối tượng nghiên cứu
3.1 Khách th nghiên cứu
- Đội ngũ giáo viên ở trường THCS
3.2 i tượng nghiên cứu
- Phát triển đội ngũ giáo viên ở trường THCS Nguyễn Đăng Đạo, thành phố
Bắc Ninh, tỉnh Bắc Ninh theo Chuẩn nghề nghiệp
4 Câu hỏi nghiên cứu
- Phát triển đội ngũ giáo viên ở trường THCS Nguyễn Đăng Đạo, thành phố Bắc Ninh,
tỉnh Bắc Ninh theo Chuẩn nghề nghiệp đang đặt ra vấn đề gì cho nhà quản lý?
- Có thể nghiên cứu những yêu cầu của Chuẩn nghề nghiệp để tìm ra các công
việc giáo viên cần làm nhằm đạt được các tiêu chí, tiêu chuẩn, làm cơ sở cho việc
xác định các nội dung phát triển đội ngũ giáo viên THCS , giúp giáo viên phấn đấu
đạt Chuẩn để giải quyết các vấn đề đó không?
5 Giả thuyết nghiên cứu
Đội ngũ giáo viên là người có vai trò quyết định tới chất lượng giáo dục Tuy
Trang 15nhiên trước yêu cầu đổi mới giáo dục, đội ngũ giáo viên ở trường THCS Nguyễn Đăng Đạo đã bước đầu bộc lộ những hạn chế, tồn tại nhất định Nếu nghiên cứu những yêu cầu của từng tiêu chí, tiêu chuẩn trong bộ Chuẩn nghề nghiệp mà Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành, tìm được các công việc cần làm nhằm đạt được các tiêu chí, tiêu chuẩn thì có thể xác định được những nội dung phát triển đội ngũ này, giúp giáo viên phấn đấu đạt Chuẩn và có thể tự đánh giá được mức độ đạt chuẩn của bản thân và đồng nghiệp Từ đó góp phần phát triển đội ngũ giáo viên tại trường THCS Nguyễn Đăng Đạo, thành phố Bắc Ninh, tỉnh Bắc Ninh đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục hiện nay
6 Nhiệm vụ nghiên cứu
6.1 Nghiên cứu cơ sở lý luận về đội ngũ giáo viên và phát triển đội ngũ giáo viên ở trường THCS theo Chuẩn nghề nghiệp
6.2 Khảo sát thực trạng về đội ngũ giáo viên và phát triển đội ngũ giáo viên ở trường THCS Nguyễn Đăng Đạo, thành phố Bắc Ninh, tỉnh Bắc Ninh theo Chuẩn nghề nghiệp 6.3 Đề xuất một số biện pháp phát triển đội ngũ giáo viên ở trường THCS Nguyễn Đăng Đạo, thành phố Bắc Ninh, tỉnh Bắc Ninh theo Chuẩn nghề nghiệp
7 Phạm vi nghiên cứu
- Phạm vi: Nghiên cứu một số biện pháp phát triển đội ngũ giáo viên ở trường THCS Nguyễn Đăng Đạo, thành phố Bắc Ninh, tỉnh Bắc Ninh theo Chuẩn nghề nghiệp
- Khách thể khảo sát: Cán bộ quản lý và đội ngũ giáo viên tại trường THCS Nguyễn Đăng Đạo, thành phố Bắc Ninh, tỉnh Bắc Ninh
8 Phương pháp nghiên cứu
8.1 Nhóm p ơng pháp nghiên cứu lý thuyết
- Sử dụng phương pháp: Phân tích, tổng hợp, hệ thống hóa, khái quát hóa để xác định cơ sở lý luận cho vấn đề nghiên cứu
8.2 N óm p ơng p p ng n cứu thực ti n
- Phương pháp khảo sát nhằm tìm ra những mặt mạnh, mặt tích cực cũng như mặt yếu kém, những bất cập của ĐNGV và phát triển đội ngũ giáo viên theo chuẩn nghề nghiệp
Trang 16giáo viên
- Phương pháp phỏng vấn, nhằm thu thập các thông tin về thực trạng đội ngũ giáo viên và quản lí đội ngũ giáo viên theo chuẩn nghề nghiệp
8.3 ơng p p bổ trợ
- Phương pháp xử lý số liệu thống kê Người nghiên cứu sử dụng phần mềm
xử lý thống kê SPSS for Windows, phiên bản 17.0 để xử lý các thông tin thu thập được trong quá trình nghiên cứu
9 Cấu trúc của luận văn
Ngoài phần Mở đầu và Kết luận, Luận văn gồm ba chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận về đội ngũ giáo viên và phát triển đội ngũ giáo viên
theo Chuẩn nghề nghiệp ở trường THCS
Chương 2: Thực trạng đội ngũ giáo viên và phát triển đội ngũ giáo viên theo
Chuẩn nghề nghiệp ở trường THCS Nguyễn Đăng Đạo thành phố Bắc Ninh, tỉnh Bắc Ninh
Chương 3: Biện pháp phát triển đội ngũ giáo viên theo Chuẩn nghề nghiệp ở
trường THCS Nguyễn Đăng Đạo thành phố Bắc Ninh, tỉnh Bắc Ninh
Trang 17CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ ĐỘI NGŨ GIÁO VIÊN VÀ PHÁT TRIỂN ĐỘI NGŨ GIÁO VIÊN THEO CHUẨN NGHỀ NGHIỆP Ở TRƯỜNG THCS
1.1 Tổng quan nghiên cứu vấn đề
Giáo dục và đào tạo là một vấn đề hết sức quan trọng trong đời sống chính trị
và phát triển của mỗi quốc gia, dân tộc Hưng thịnh hay suy vong của mỗi quốc gia, dân tộc phụ thuộc vào nhiều yếu tố cả chủ quan lẫn khách quan nhưng cơ bản và quyết định nhất vẫn là giáo dục Thực tế đã chứng minh điều đó Chính vì thế, có
thể thấy không có ưu tiên nào lớn hơn ưu tiên cho giáo dục luôn là phương châm
được đề cao, tôn trọng ở tất cả các nước phát triển trên thế giới Ở Nhật Bản - đất nước hùng mạnh về kinh tế vào hàng đầu thế giới, giáo dục và đào tạo luôn được
xem là quốc sách hàng đầu Ở Sin-ga-po, quan điểm: "Nếu thắng trong cuộc đua
giáo dục, sẽ thắng trong phát triển kinh tế" của cố Thủ tướng Lý Quang Diệu luôn
là kim chỉ nam giúp quốc đảo Sư tử nhỏ bé này "lột xác" ngoạn mục vươn mình trỗi dậy trở thành “con rồng Châu Á" chỉ sau 50 năm ngắn ngủi Ở Mỹ - đất nước được
coi là phát triển nhất trên thế giới về mọi mặt: kinh tế, giáo dục, công nghệ khoa học , giáo dục cũng luôn là lĩnh vực được đặc biệt chú trọng Nhà giáo dục học nổi
tiếng Gunnar Myrdal đã từng nói: “Trong suốt chiều dài lịch sử của nước Mỹ, giáo
dục luôn là niềm hy vọng lớn lao để cải biến từng cá nhân và xã hội” Người Mỹ
cho rằng: rất nhiều tiến bộ về kinh tế, chính trị, khoa học và văn hóa của Mỹ đạt được trong lịch sử khá ngắn ngủi của mình là nhờ vào sự phát triển của giáo dục Vì vậy chưa bao giờ họ xem nhẹ giáo dục
Ở nước ta, trong suốt tiến trình cách mạng, Đảng và nhà nước đã luôn khẳng định giáo dục và đào tạo là quốc sách hàng đầu, là những chính sách trọng tâm, có vai trò chính yếu của nhà nước, được ưu tiên trước nhất, thậm chí đi trước một bước
so với các chính sách phát triển kinh tế, xã hội khác Nghị quyết Trung ương 8,
khóa XI đã khẳng định: "Giáo dục và đào tạo là quốc sách hàng đầu, là sự nghiệp
của Đảng, Nhà nước và của toàn dân Đầu tư cho giáo dục là đầu tư cho phát triển, được ưu tiên đi trước trong các chương trình, kế hoạch phát triển kinh tế- xã hội."
Trang 18Có thể nói vai trò của giáo dục và đào tạo đối với sự tồn tại và phát triển của mỗi quốc gia, dân tộc là điều không thể phủ nhận Tuy nhiên bài toán đặt ra là làm thế nào để phát triển giáo dục và đào tạo? Làm thế nào để giáo dục và đào tạo phát huy hết vai trò, sức mạnh của nó? Phải làm sao để có một nền giáo dục thực
sự có chất lượng, một nền giáo dục có thể là động lực, là đòn bẩy thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội?
Chất lượng giáo dục và đào tạo phụ thuộc vào rất nhiều yếu tố như: cơ sở vật chất, trang thiết bị dạy học, cơ chế quản lý, chương trình, sách giáo khoa, đội ngũ giáo viên, đội ngũ cán bộ quản lý Để có được và nâng cao chất lượng giáo dục phải tập trung giải quyết đồng bộ tất các yếu tố trên, trong đó đặc biệt quan trọng nhất là đội ngũ giáo viên Đội ngũ giáo viên, dù ở thời đại nào, cũng vẫn là yếu tố giữ vai trò quyết định đến chất lượng giáo dục và đào tạo: Không có thầy giỏi
không thể có học trò giỏi
Vì thế, vấn đề đội ngũ giáo viên và vấn đề phát triển đội ngũ giáo viên trong các nhà trường nói chung, nhà trường THCS nói riêng, từ lâu đã trở thành mối quan tâm đặc biệt của các nước trên thế giới trong đó có Việt Nam chúng ta Đã có rất nhiều công trình nghiên cứu khoa học, nhiều đề tài luận văn, luận án bàn về vấn đề này Có thể kể đến một số công trình của các tác giả tiêu biểu như: Eleonora Vilegas-Reiers (1998); Ganser (2000); Cochran-Smith và Lytle (2001); Youngs (2001)
Ở nước ta, vấn đề phát triển đội ngũ giáo viên sao cho có hiệu quả nhất đến nay cũng đã được nhiều tác giả, nhiều nhà khoa học tập trung đầu tư nghiên cứu
Có thể kể đến một số nghiên cứu của các tác giả như: Phạm Minh Hạc, Đặng Quốc Bảo, Trần Kiểm, Nguyễn Ngọc Quang, Nguyễn Quốc Chí, Nguyễn Thị Mỹ Lộc, Nguyễn Văn Lê, Nguyễn Đức Trí, Phạm Viết Vượng, Nguyễn Đức Chính Các công trình khoa học này đã có những đóng góp tích cực về mặt lý luận và thực tiễn trong công tác quản lý, quản lý giáo dục, quản lý trường học
Tuy nhiên các công trình này chủ yếu chỉ nghiên cứu về mặt lý luận Các nhà khoa học chưa có công trình nghiên cứu chuyên sâu, chưa có bài báo khoa học nào về vấn đề phát triển đội ngũ giáo viên theo Chuẩn nghề nghiệp (dùng Chuẩn để xây dựng và phát triển đội ngũ giáo viên).Việc nghiên cứu các biện pháp phát triển đội ngũ giáo viên theo Chuẩn nghề nghiệp ở từng cấp học, ngành
Trang 19học, bậc học, từng địa phương, đơn vị, trường học dường như chưa được đề cập
cụ thể, đầy đủ và chi tiết trong khoa học giáo dục
Gần đây, một số luận văn Thạc sĩ khoa học chuyên ngành Quản lý giáo dục
đã bước đầu chú ý đến việc nghiên cứu vấn đề quản lý và phát triển nâng cao chất lượng đội ngũ giáo viên theo Chuẩn nghề nghiệp gắn liền với từng cấp học, bậc học ở từng địa phương, đơn vị, trường học cụ thể
Nhìn chung các luận văn đã nghiên cứu tổng quan một số khái niệm về quản lý, quản lý giáo dục, quản lý nhà trường, Chuẩn và Chuẩn nghề nghiệp giáo viên… từ Mầm non, THCS đến THPT Bên cạnh đó, các luận văn đã nghiên cứu, phân tích đúng thực trạng công tác quản lý, phát triển đội ngũ giáo viên theo Chuẩn nghề nghiệp Qua nghiên cứu thực trạng, các luận văn đã đề xuất nhiều biện pháp nhằm quản lý, phát triển đội ngũ giáo viên theo Chuẩn nghề nghiệp có tính khả thi cao, đáp ứng yêu cầu
của công cuộc "đổi mới căn bản và toàn diện giáo dục và đào tạo"
1.2 Một số khái niệm cơ bản
1.2.1 t tr n
Phát triển là vận động, tiến triển theo chiều hướng tăng lên [9, tr.1244] Trong lịch sử triết học, quan điểm siêu hình xem sự phát triển chỉ là sự tăng, giảm thuần túy về lượng, không có sự thay đổi về chất của sự vật, hiện tượng Đồng thời, quan điểm siêu hình cũng xem sự phát triển là quá trình tiến lên liên tục, không trải qua những bước quanh co phức tạp
Đối lập với quan điểm siêu hình, trong phép biện chứng, khái niệm phát triển dùng để chỉ quá trình vận động của sự vật, hiện tượng theo khuynh hướng đi lên: từ trình độ thấp đến trình độ cao, từ kém hoàn thiện đến hoàn thiện hơn Như vậy, khái
niệm phát triển không đồng nhất với khái niệm "vận động" (biến đổi) nói chung Đó
không phải là sự biến đổi tăng lên hay giảm đi đơn thuần về lượng hay sự biến đổi tuần hoàn lặp đi lặp lại ở chất cũ mà là sự biến đổi về chất theo hướng ngày càng hoàn thiện của sự vật ở những trình độ ngày càng cao hơn
Phát triển cũng là quá trình phát sinh và giải quyết mâu thuẫn khách quan vốn
có của sự vật, hiện tượng; là quá trình thống nhất giữa phủ định các nhân tố tiêu cực
và kế thừa, nâng cao nhân tố tích cực từ sự vật, hiện tượng cũ trong hình thái của sự
Trang 20Theo Đại Từ điển Tiếng Việt: “Giáo viên là người dạy học ở bậc phổ thông
hoặc tương đương” [9, tr 627]
Theo Luật Giáo dục Nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam: “Nhà giáo
là người làm nhiệm vụ giảng dạy, giáo dục trong nhà trường, cơ sở giáo dục khác”
Khoản 3, Điều 70, Luật Giáo dục sửa đổi năm 2009 đã nêu: “Nhà giáo giảng dạy ở
cơ sở giáo dục mầm non, giáo dục phổ thông, giáo dục nghề nghiệp trình độ sơ cấp nghề, trung cấp nghề, trung cấp chuyên nghiệp gọi là giáo viên” [19]
Như vậy, giáo viên là tên gọi chỉ nhà giáo thực hiện hoạt động dạy học và giáo dục tại các cơ sở giáo dục mầm non, giáo dục phổ thông, giáo dục chuyên nghiệp và dạy nghề Theo đó, giáo viên thực hiện lao động nghề nghiệp của mình tại các trường THCS được gọi là giáo viên THCS
1.2.2.3 Đội ngũ giáo viên
Theo quan điểm của một số tác giả nước ngoài: Đội ngũ giáo viên là những chuyên gia trong lĩnh vực giáo dục, họ nắm vững tri thức và hiểu biết dạy học và giáo dục như thế nào và có khả năng cống hiến toàn bộ tài năng và sức lực của họ cho giáo dục
Một số tác giả Việt Nam lại cho rằng đội ngũ giáo viên trong ngành giáo dục
là một tập thể người, tập thể đó bao gồm cán bộ quản lý, giáo viên Nếu chỉ đề cập đến đặc điểm của ngành thì đội ngũ đó chủ yếu là đội ngũ giáo viên và đội ngũ cán
bộ quản lý giáo dục
Từ những quan điểm trên ta có thể hiểu khái niệm đội ngũ giáo viên như sau: Đội ngũ giáo viên là tập hợp những giáo viên được tổ chức thành lực lượng có chung một lý tưởng, mục đích, nhiệm vụ là thực hiện các mục tiêu giáo dục đề ra cho lực lượng, tổ chức đó Họ làm việc theo một kế hoạch thống nhất và gắn bó với nhau về mặt vật chất và tinh thần
Trang 211.2.3 t tr n ng g o v n:
ĐNGV là nguồn nhân lực trong các nhà trường Do đó, trước khi tìm hiểu khái niệm phát triển ĐNGV, đề tài đề cập đến khái niệm phát triển nguồn nhân lực
1.2.3.1 Phát triển nguồn nhân lực
Nguồn nhân lực theo nghĩa rộng được hiểu như nguồn lực con người của một quốc gia, một vùng lãnh thổ Theo nghĩa hẹp được hiểu là toàn bộ lực lượng lao động có khả năng lao động, đang có việc làm hoặc chưa có việc làm Xét trong phạm vi một đơn vị, cơ quan hay địa phương, nguồn nhân lực chính là toàn bộ lao động của đơn vị, cơ quan hay địa phương đó
Theo Phạm Văn Thuần: Phát triển nguồn nhân lực là "chức năng QL giúp
cho người QL tuyển mộ, lựa chọn, huấn luyện và phát triển các thành viên của tổ chức” [21, tr 23]
Cũng theo Phạm Văn Thuần, phát triển nguồn nhân lực là khó khăn và phức tạp vì con người là một thực thể rất phức tạp mỗi con người là một thế giới riêng biệt họ khác nhau về năng lực làm việc, sở thích, nguyện vọng, hoàn cảnh cá nhân Trong mỗi con người luôn vận động và thay đổi, thậm chí đôi khi trong mỗi con người có những mâu thuẫn trong suy nghĩ, lời nói và hành động Vì vậy hiểu
và đánh giá đúng về mỗi con người là không dễ dàng
Phát triển nguồn nhân lực ngày nay là một khoa học và là một nghệ thuật Là khoa học vì nó sử dụng những thành tựu của khoa học để nghiên cứu về con người, đúc kết những nguyên tắc mang tính lý luận khoa học trong quản lý con người Là nghệ thuật bởi quản lý con người không thể tuân thủ những nguyên tắc máy móc, nó đòi hỏi tính linh hoạt, uyển chuyển Nghệ thuật về tìm hiểu và điều khiển con người đòi hỏi cả những linh cảm của người lãnh đạo Những linh cảm
đó chỉ có được khi chúng ta có được hệ thống kiến thức sâu sắc về con người và đặc biệt nó phải được trải nghiệm qua thực tế cuộc sống
1.2.3.2.Phát triển nguồn nhân lực trong giáo dục
Phát triển nguồn nhân lực trong giáo dục là quá trình thu hút, phát triển và duy trì đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục có năng lực và trách nhiệm với công việc nhằm thực hiện được nhiệm vụ, mục tiêu và chiến lược phát triển giáo dục đã
Trang 221.2.3.3 Phát triển đội ngũ giáo viên
Theo cách tiếp cận trên thì phát triển ĐNGV chính là quá trình tác động có mục đích của chủ thể QL (người CBQL) tới người lao động (GV) như: xây dựng quy hoạch; tuyển dụng; đào tạo, bồi dưỡng; sử dụng; đánh giá năng lực thực hiện
và đãi ngộ nhằm nâng cao chất lượng của đội ngũ, đáp ứng được yêu cầu đổi mới giáo dục phổ thông hiện nay, góp phần đảm bảo cho sự phát triển bền vững của nhà trường
1.2.4 u n ng ng p g o v n
1.2.4.1 Khái niệm "Chuẩn"
"Chuẩn là cái được chọn làm căn cứ để đối chiếu, để làm mẫu" [9, tr 301]
Như vậy, Chuẩn là yêu cầu, là tiêu chí tuân thủ những nguyên tắc nhất định, được dùng làm thước đo đánh giá hoạt động, công việc, sản phẩm của một lĩnh vực nào đó Trong Chuẩn chứa đựng các lĩnh vực, yêu cầu, các quy định và những tiêu chí nhằm đạt được nội dung về mức độ giá trị, chất lượng của nội dung này và hiệu quả, cách thức của quá trình đạt tới các giá trị, chất lượng của nội dung đó như thế nào Các lĩnh vực, yêu cầu, tiêu chí xác định rõ nội dung được gọi là chuẩn nội dung; hệ thống các yêu cầu, tiêu chí được gọi là chuẩn thực hiện
Như vậy, Chuẩn không chỉ là các mốc, là căn cứ dùng để so sánh đối chiếu
mà Chuẩn còn là cái đích để đạt tới Chuẩn được cụ thể hóa bằng những tiêu chí và khi đạt được những tiêu chí (đạt chuẩn) tức là đạt được mục tiêu đề ra
1.2.4.2 Chuẩn nghề nghiệp giáo viên trung học
Chuẩn nghề nghiệp giáo viên trung học là hệ thống các yêu cầu cơ bản đối với giáo viên trung học về phẩm chất chính trị, đạo đức, lối sống; năng lực chuyên
môn, nghiệp vụ sư phạm [1] Với cách mô tả đó, Chuẩn nghề nghiệp giáo viên có giá trị như một “thước đo” năng lực hành nghề của giáo viên diễn ra trong bối
cảnh thực tiễn giáo dục Đó là điểm khác biệt cơ bản của Quy định Chuẩn nghề nghiệp giáo viên trung học so với các văn bản khác và cần được tính đến khi vận dụng Chuẩn này vào đánh giá giáo viên Sử dụng thước đo này không đơn giản, vì đơn vị đo lường là phẩm chất, năng lực nghề giáo dục – nghề tạo ra nhân cách là
một thực thể tâm lí Giáo viên được vinh danh “kĩ sư tâm hồn” là ở ý nghĩa đó
Chuẩn nghề nghiệp giáo viên trung học được ban hành tại Thông tư số
Trang 2330/2009/TT-BGDĐT ngày 22/10/2009 của Bộ trưởng Bộ GD&ĐT gồm 6 tiêu chuẩn và 25 tiêu chí Cụ thể như sau:
Tiêu chuẩn 1: Phẩm chất chính trị, đạo đức, lối sống
Tiêu chí 1: Phẩm chất chính trị
Tiêu chí 2: Đạo đức nghề nghiệp
Tiêu chí 3: Ứng xử với học sinh
Tiêu chí 4: Ứng xử với đồng nghiệp
Tiêu chí 5: Lối sống, tác phong
Tiêu chuẩn 2: Năng lực tìm hiểu đối tượng và môi trường giáo dục
Tiêu chí 6: Tìm hiểu đối tượng giáo dục
Tiêu chí 7: Tìm hiểu môi trường giáo dục
Tiêu chuẩn 3: Năng lực dạy học
Tiêu chí 8: Xây dựng kế hoạch dạy học
Tiêu chí 9: Đảm bảo kiến thức môn học
Tiêu chí 10: Đảm bảo chương trình môn học
Tiêu chí 11: Vận dụng các phương pháp dạy học
Tiêu chí 12: Sử dụng các phương tiện dạy học
Tiêu chí 13: Xây dựng môi trường học tập
Tiêu chí 14: Quản lí hồ sơ dạy học
Tiêu chí 15:Kiểm tra, đánh giá kết quả học tập của học sinh
Tiêu chuẩn 4: Năng lực giáo dục
Tiêu chí 16: Xây dựng kế hoạch các hoạt động giáo dục
Tiêu chí 17: Giáo dục qua môn học
Tiêu chí 18: Giáo dục qua các hoạt động giáo dục
Tiêu chí 19: Giáo dục qua các hoạt động trong cộng đồng
Tiêu chí 20: Vận dụng các nguyên tắc, phương pháp, hình thức tổ chức giáo dục Tiêu chí 21: Đánh giá kết quả rèn luyện đạo đức của học sinh
Tiêu chuẩn 5: Năng lực hoạt động chính trị, xã hội
Tiêu chí 22: Phối hợp với gia đình học sinh và cộng đồng
Tiêu chí 23: Tham gia hoạt động chính trị, xã hội
Trang 24Tiêu chí 24: Tự đánh giá, tự học và tự rèn luyện
Tiêu chí 25: Phát hiện và giải quyết vấn đề nảy sinh trong thực tiễn giáo dục
1.3 Trường THCS trong hệ thống Giáo dục quốc dân
1.3.1 Vị trí của tr ng T
Quản lý trường THCS là một nhiệm vụ rất quan trọng thực hiện mục tiêu giáo dục, cụ thể là giúp học sinh phát triển toàn diện về đạo đức, trí tụê, thể chất thẩm mỹ và các kỹ năng cơ bản nhằm hình thành nhân cách con người Việt Nam XHCN
Trong Điều 2 của Điều lệ trường trung học nói về vị trí trường trung học như sau: Trường trung học là cơ sở giáo dục của bậc trung học, bậc học nối tiếp bậc tiểu học của hệ thống giáo dục quốc dân nhằm hoàn chỉnh học vấn phổ thông Trường có tư cách pháp nhân và có con dấu riêng
1.3.2 Mục t u o t o của tr ng T
- Giáo dục trung học cơ sở nhằm giúp học sinh củng cố và phát triển những kết quả của giáo dục tiểu học; có học vấn phổ thông ở trình độ cơ sở và những hiểu biết ban đầu về kỹ thuật và hướng nghiệp để tiếp tục học trung học phổ thông, trung cấp, học nghề hoặc đi vào cuộc sống lao động [19]
- Trên cơ sở các mục tiêu chung về phát triển giáo dục, chiến lược phát triển
giáo dục 2011 - 2020 đã định rõ các mục tiêu phát triển giáo dục phổ thông như sau: “Thực hiện giáo dục toàn diện về đức, trí, thể, mỹ Cung cấp học vấn phổ
thông cơ bản, hệ thống và có tính hướng nghiệp; tiếp cận trình độ các nước phát triển trong khu vực Xây dựng thái độ học tập đúng đắn, phương pháp học tập chủ động, tích cực, sáng tạo; lòng ham học hỏi, ham hiểu biết, năng lực tự học, năng lực vận dụng kiến thức vào cuộc sống”
- Trên cơ sở các mục tiêu chung về phát triển giáo dục, mục tiêu chung về phát
triển giáo dục phổ thông, chiến lược phát triển giáo dục 2011 - 2020 đã nêu bật mục
tiêu phát triển giáo dục đối với cấp THCS là: “Cung cấp cho học sinh học vấn phổ
thông cơ sở và những hiểu biết ban đầu về kỹ thuật và hướng nghiệp để thực hiện phân luồng sau trung học cơ sở , tạo điều kiện để học sinh tiếp tục học tập hoặc đi vào cuộc sống lao động”
1.3.3 N m vụ v qu n n của tr ng T
- Tổ chức giảng dạy, học tập và các hoạt động giáo dục khác theo chương trình giáo dục phổ thông do Bộ GD&ĐT ban hành;
Trang 25- Quản lý giáo viên, cán bộ, nhân viên; tham gia tuyển dụng và điều động giáo viên, cán bộ, nhân viên;
- Tuyển sinh và tiếp nhận học sinh, vận động học sinh đến trường, quản lý học sinh theo quy định của Bộ GD&ĐT;
- Thực hiện kế hoạch phổ cập giáo dục trong phạm vi cộng đồng;
- Huy động, quản lý, sử dụng các nguồn lực cho hoạt động giáo dục, hợp với gia đình học sinh, tổ chức và cá nhân trong hoạt động giáo dục;
- Quản lý và sử dụng cơ sở vật chất, trang thiết bị theo quy định của nhà nước;
- Tổ chức giáo viên, nhân viên, học sinh tham gia các hoạt động xã hội;
- Tự đánh giá chất lượng giáo dục và chịu sự kiểm định chất lượng giáo dục của cơ quan có thẩm quyền kiểm định chất lượng giáo dục;
- Thực hiện các nhiệm vụ, quyền hạn khác theo quy định của pháp luật
1.4 Nội dung phát triển đội ngũ giáo viên THCS theo Chuẩn nghề nghiệp
Đội ngũ giáo viên chính là nguồn nhân lực trong giáo dục Vì vậy phát triển ĐNGV theo Chuẩn nghề nghiệp cũng bao gồm đầy đủ các hoạt động như trong quản lý nguồn nhân lực trong giáo dục Cụ thể bao gồm sáu hoạt động sau: Quy hoạch ĐNGV, tuyển dụng ĐNGV; sử dụng ĐNGV; đào tạo, bồi dưỡng ĐNGV; kiểm tra, đánh giá ĐNGV; tạo môi trường làm việc cho ĐNGV
1.4.1 Qu o c NGV
Quy hoạch ĐNGV là hoạt động lập kế hoạch về nguồn GV nhằm đáp ứng những nhu cầu, đòi hỏi trong tương lai của nhà trường trên cơ sở phân tích, đánh giá sự tác động, ảnh hưởng của những nhân tố bên trong và cả bên ngoài nhà trường
Để xây dựng quy hoạch ĐNGV, nhà quản lý cần thực hiện các công việc sau:
- Phân tích, đánh giá thực trạng về ĐNGV của nhà trường trên tất cả các mặt như: số lượng, cơ cấu độ tuổi, cơ cấu giới tính, cơ cấu môn học, năng lực và phẩm chất của đội ngũ Chỉ rõ một cách khách quan những điểm mạnh, điểm yếu của ĐNGV trong nhà trường
- Phân tích các yếu tố bên ngoài nhà trường tác động, ảnh hưởng đến ĐNGV của nhà trường như: sự phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, của địa phương; chế độ chính sách đối với ĐNGV; công cuộc đổi mới căn bản và toàn diện GD&ĐT…
Trang 26lượng Nhà quản lý cần phải dự báo được nhà trường sẽ cần đến bao nhiêu thầy, (cô)? Ở độ tuổi nào? Nam bao nhiêu người? Nữ bao nhiêu người? Môn học nào cần bổ sung GV? Những phẩm chất và năng lực nào mà người GV của nhà trường cần phải có để có thể thực hiện tốt công việc của mình?
Công tác quy hoạch ĐNGV là hoạt động có ý nghĩa vô cùng quan trọng đối với mỗi nhà trường Làm tốt công tác này, nhà trường sẽ luôn đủ về số lượng GV, đồng bộ về cơ cấu và đặc biệt chất lượng đội ngũ luôn được đảm bảo, là điều kiện thuận lợi để nhà trường có thể thực hiện thành công mục tiêu giáo dục của mình
1.4.2 Tu n dụng NGV
Tuyển dụng ĐNGV là hoạt động thu hút đội ngũ nhà giáo về công tác, làm việc tại nhà trường nhằm giúp cho nhà trường thực hiện được mục tiêu đủ về số lượng, cân đối về cơ cấu, đảm bảo về chất lượng đội ngũ Qua đó, làm nên chất lượng giáo dục của nhà trường
Theo TS Phạm Văn Thuần hoạt động tuyển dụng gồm 02 bước cơ bản là: tuyển mộ và tuyển chọn
Tuyển mộ là quá trình thu hút những người có tiềm năng sư phạm từ cả bên trong và bên ngoài ngành GD&ĐT
Tuyển chọn là quá trình đánh giá những người đã tham gia tuyển mộ theo một yêu cầu, đòi hỏi nhất định để tìm được những người phù hợp về công tác tại nhà trường
Tuyển mộ và tuyển chọn là hai hoạt động có mối quan hệ mật thiết với nhau Tuyển mộ là cơ sở của tuyển chọn Tuyển chọn là kết quả của quá trình tuyển mộ Nếu việc tuyển mộ được thực hiện tốt thì nhà quản lý sẽ có cơ hội tuyển chọn được những GV tốt về trường mình Ngược lại nếu công tác tuyển mộ ều ào thì việc tuyển chọn sẽ gặp rất nhiều khó khăn, thậm chí không thể thực hiện được vì không
có nguồn đáp ứng được yêu cầu nói tóm lại chất lượng tuyển chọn phụ thuộc vào kết quả việc tuyển mộ Vì vậy khi tiến hành tuyển mộ GV, nhà trường cần thông tin rộng rãi, đầy đủ, chi tiết trên các phương tiện truyền thông để đảm bảo những người có nhu cầu và năng lực thực sự không bị bỏ lỡ cơ hội Khi tuyển chọn, nhà quản lý cần chọn lựa một cách khách quan, công bằng, công tâm, theo đúng những tiêu chuẩn, tiêu chí đã đặt ra nhằm chọn lựa được những thầy (cô) vừa có phẩm
Trang 27chất đạo đức tốt vừa có năng lực chuyên môn vững vàng, đáp ứng được yêu cầu, đòi hỏi của nhà trường
1.4.3 Sử dụng ng
Sử dụng đội ngũ là việc sắp xếp, bố trí những thầy (cô) vừa được tuyển chọn
về nhà trường vào những vị trí, những công việc nhất định nhằm vừa thực hiện được mục tiêu giáo dục của nhà trường vừa tạo cơ hội cho các thầy (cô) phát huy hết khả năng, thế mạnh của bản thân
Việc sử dụng đội ngũ có ý nghĩa quan trọng trong việc nâng cao chất lượng giáo dục của nhà trường Nếu nhà quản lý sử dụng đội ngũ tốt, bố trí công việc một cách hợp lý thì sẽ giúp cho đội ngũ phát huy được hết năng lực, sở trường của mình, toàn tâm, toàn ý cống hiến cho việc thực hiện mục tiêu giáo dục của nhà trường Ngược lại nếu sắp xếp không hợp tình, hợp lý thì vừa không phát huy được điểm mạnh của mỗi thầy (cô) giáo vừa tạo tâm lý không thoải mái cho các thầy (cô) dẫn đến các biểu hiện tiêu cực trong nhà trường như: nói xấu lẫn nhau, chia bè chia phái, gây mất đoàn kết nội bộ…
Vậy nên để việc sử dụng đội ngũ có hiệu quả, nhà quản lý cần chú ý một số nội dung sau:
- Nắm bắt được điểm mạnh và điểm yếu, năng lực và sở trường của mỗi thâỳ (cô) trong nhà trường
- Tìm hiểu tâm tư, nguyện vọng, mong muốn cá nhân của mỗi thầy (cô)
- Đảm bảo việc phân công lao động, sử dụng đội ngũ công bằng, khách quan, không vì lợi ích cá nhân mà tất cả chỉ hướng tới thực hiện thành công mục tiêu giáo dục của nhà trường
Việc sử dụng đội ngũ tuân thủ các nguyên tắc trên sẽ đem lại nhiều lợi ích cho nhà trường như đã trình bày ở trên
1.4.4 V c o t o bồ d ỡng NGV
Đào tạo, bồi dưỡng ĐNGV là việc làm cần thiết để duy trì và nâng cao chất lượng đội ngũ của nhà trường, là điều kiện quyết định để nhà trường có thể đứng vững và thắng lợi trong điều kiện mà nền kinh tế, xã hội và giáo dục có nhiều biến đổi như hiện nay
Trang 28- Tuyên truyền, giải thích giúp cho toàn thể ĐNGV của nhà trường thấy được vai trò, tầm quan trọng của hoạt động bồi dưỡng
- Lấy quan điểm “chuẩn hóa” làm căn cứ để xây dựng nội dung, chương trình đào tạo, bồi dưỡng “Chuẩn hóa” ở đây được hiểu là chuẩn về: trình độ đào
tạo, phẩm chất đạo đức, năng lực nghề nghiệp
- Trên quan điểm “chuẩn hóa”, nhà quản lý cần sử dụng bộ Chuẩn nghề nghiệp GV mà Bộ GD&ĐT đã ban hành để xây dựng các nội dung bồi dưỡng cụ thể tương ứng với yêu cầu của từng tiêu chuẩn và tiêu chí trong bộ Chuẩn
- Xác định bồi dưỡng theo Chuẩn nghề nghiệp GV là cần thiết và quan trọng Tuy nhiên trong quá trình quản lý hoạt động bồi dưỡng, nhà quản lý nên tìm hiểu xem GV của mình thiếu, yếu khâu nào thì bồi dưỡng khâu ấy, chứ không tham lam lam, ôm đồm bồi dưỡng toàn bộ các tiêu chuẩn và tiêu chí trong bộ Chuẩn
- Bên cạnh việc chú trọng những nội dung bồi dưỡng như: phẩm chất chính trị, đạo đức lối sống hay năng lực chuyên môn, phương pháp giảng dạy….nhà quản lý cần đặc biệt chú ý bồi dưỡng năng lực Tin học và ngoại ngữ cho ĐNGV của nhà trường vì đây là 02 năng lực mà người GV trong thời đại mới rất cần nhưng thực tế lại đang thiếu và yếu
- Hình thức bồi dưỡng cần đa dạng, phong phú, tạo được hứng thú, niềm đam
mê học tập cho toàn thể đội ngũ
Trong thời kỳ xã hội có nhiều biến đổi và phát triển không ngừng như hiện nay, bồi dưỡng ĐNGV là yếu tố tiên quyết để đảm bảo cho sự thành công vững chắc của mỗi nhà trường
1.4.5 K m tra n g NGV
Kiểm tra, đánh giá là quá trình khẳng định mức độ đạt được của mỗi thầy (cô) trong quá trình thực hiện nhiệm vụ được giao Trên cơ sở dó, nhà quản lý có những tác động thích hợp để duy trì kết quả đã đạt được của các thầy (cô) cũng như thúc đẩy để họ đạt được những kết quả tốt hơn
Việc kiểm tra, đánh giá có ý nghĩa to lớn trong việc tạo nên động lực làm việc, giúp các thầy (cô) trong nhà trường không ngừng cố gắng, nỗ lực phấn đấu
để đạt được những kết quả tốt hơn trong công việc của mình Mặt khác kết quả kiểm tra, đánh giá còn là cơ sở giúp nhà quản lý thực hiện chế độ chính sách đối
Trang 29với đội ngũ một cách thỏa đáng, xây dựng nội dung, chương trình bồi dưỡng, đào tạo đội ngũ cũng như bố trí, sử dụng đội ngũ trong nhà trường một cách hợp lý Tuy nhiên nếu quá trình kiểm tra, đánh giá không công bằng, khách quan, không phản ánh trung thực được kết quả lao động của mỗi thầy (cô) thì chẳng những nó không có tác dụng động viên, khích lệ mà nó còn triệt tiêu đam mê, nhiệt huyết cống hiến của mỗi thầy (cô)
Việc kiểm tra, đánh giá có ý nghĩa, vai trò quan trọng đối với việc phát triển đội ngũ như vậy nên trong quá trình kiểm tra, đánh giá cần chú ý một số nội dung sau:
- Việc kiểm tra, đánh giá không được tiến hành một cách tùy tiện, cảm tính
mà phải dựa trên cơ sở pháp lý về hệ thống các văn bản quy định về đánh giá công chức, viên chức trong ngành giáo dục
- Kiểm tra, đánh giá phải dựa trên cơ sở bộ Chuẩn nghề nghiệp GV với các tiêu chuẩn và tiêu chí cụ thể, rõ ràng Có nghĩa là việc kiểm tra, đánh giá phải gắn liền với các yêu cầu trong từng tiêu chuẩn và tiêu chí có trong bộ Chuẩn, xem GV của nhà trường đáp ứng được hay không đáp ứng được so với những yêu cầu của
bộ Chuẩn
- Việc kiểm tra, đánh giá phải được tiến hành với nhiều hình thức khác nhau:
GV tự đánh giá, đánh giá thông qua HS, đánh giá thông qua đồng nghiệp, đánh giá thông qua phụ huynh học sinh, qua lãnh đạo cấp trên…
- Phải đảm bảo tính thẳng thắn, công bằng, khách quan, dân chủ, không thiên
Trang 30- Xây dựng môi trường làm việc thân thiện trong đó mọi người cảm thấy thật vui
vẻ, thoải mái, dễ chịu Mọi người sống có trách nhiệm, đoàn kết, gắn bó, yêu thương lẫn nhau Mọi người được tôn trọng và bảo vệ, được tạo điều kiện để phát huy hết khả năng của mình, được lắng nghe và chia sẻ mọi vui buồn trong cuộc sống
- Các chế độ chính sách liên quan đến quyền lợi của GV phải được thực hiện một cách thỏa đáng, nghiêm túc, không để cho GV phải cảm thấy bị thiệt thòi
- Cơ sở vật chất, trang thiết bị dạy học của nhà trường phải được đầu tư, mua sắm đầy đủ để tạo thuận lợi cho GV trong quá trình làm việc
Một môi trường làm việc lý tưởng sẽ là “đòn bẩy” giúp ĐNGV phát triển không ngừng, đem đến những cơ hội gặt hái thành công cho nhà trường
Phát triển đội ngũ giáo viên theo Chuẩn nghề nghiệp ngoài việc sử dụng các chức năng quản lí như trên có thể được tiến hành theo một phương thức khác, trong đó bộ Chuẩn với các tiêu chí, tiêu chuẩn chỉ rõ những công việc người giáo viên cần thực hiện để đạt chuẩn Do vậy phát triển đội ngũ giáo viên theo chuẩn sẽ gồm các bước sau:
1 Nghiên cứu các tiêu chuẩn, tiêu chí, yêu cầu của từng tiêu chí, các minh chứng cần có cho mỗi tiêu chí trong bộ Chuẩn nghề nghiệp để xây dựng khung tham chiếu trong đó chỉ rõ những công việc mà người GV cần làm để đạt Chuẩn, yêu cầu cụ thể của từng công việc
2 Căn cứ khung tham chiếu, đề xuất đổi mới công tác quy hoạch, tuyển chọn,
sử dụng, bồi dưỡng, đánh giá và thực hiện các chế độ chính sách đối với đội ngũ giáo viên
Trang 31cầu về thời gian, các nguồn lực để thực hiện, cuối cùng thống nhất về những việc cần và phải thực hiện hết để đạt chuẩn
d Tổ chức để từng giáo viên, từng tổ chuyên môn ký cam kết thực hiện trong khoảng thời gian các bên thống nhất
e Hỗ trợ các nguồn lực (nếu có thể) để giáo viên thực hiện cam kết, động viên, khuyến khích giáo viên thực hiện cam kết đúng hạn
g Đến hạn tổ chức để từng giáo viên tự đánh giá việc thực hiện các công việc theo cam kết của mình
h Hỗ trợ, giúp đỡ để các giáo viên chưa đạt chuẩn tiếp tục phấn đấu
Bảy bước trên của quá trình phát triển đội ngũ giáo viên theo chuẩn thực chất
là một hệ thống quản lí giáo viên theo chuẩn, thay thế cho phương thức quản lí bằng chức năng Ba bước 1,2,3 để thực hiện nguyên tắc quan trọng nhất của phương thức
quản lí bằng chuẩn “Viết ra tất cả những gì cần làm”, bước 4,5 để thực hiện
nguyên tắc khó nhất trong quản lí bằng chuẩn : “làm đúng những gì đã viết”, bước 6.7 để thực hiện nguyên tắc dễ nhất “ viết lại những gì đã làm theo đúng những gì
đã viết và đề xuất cải tiến”
1.5 Những yếu tố tác động tới việc phát triển đội ngũ giáo viên theo Chuẩn nghề nghiệp
1.5.1 N ững ếu t k c quan
1.5.1.1 Chưa có văn bản hướng dẫn giáo viên phấn đấu để đạt Chuẩn
Hiện nay, Bộ Giáo dục và Đào tạo mới chỉ ban hành bộ Chuẩn nghề nghiệp với các tiêu chuẩn và tiêu chí để nhằm đánh giá mức độ đạt được của các giáo viên
mà chưa có văn bản hướng dẫn giáo viên phải làm gì và làm như thế nào để có thể đạt chuẩn Vì vậy với những giáo viên đã đạt Chuẩn thì dễ dàng thỏa mãn còn với những giáo viên chưa đạt Chuẩn thì loay hoay, không biết phải làm gì để có thể phấn đấu đạt Chuẩn
1.5.1.2 Xu thế toàn cầu hóa, hội nhập quốc tế và công cuộc đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo nước nhà
Xu thế toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng như hiện nay đã đặt ra nhiều yêu cầu mới đối với người giáo viên: người giáo viên phải có phẩm chất
Trang 32nhà giáo mẫu mực, đồng thời phải có năng lực chuyên môn vững vàng, năng động, sáng tạo, nhanh chóng cập nhật những thay đổi mới trong giáo dục
Đặc biệt việc đổi mới mạnh mẽ về mục tiêu, chương trình, phương pháp dạy
và học; hình thức và phương pháp thi, kiểm tra, đánh giá kết quả giáo dục được xác định trong Nghị quyết số 29 của Ban chấp hành Trung ương tháng 11 năm
2013 đã tác động trực tiếp và sâu sắc đến ĐNGV, buộc họ phải thay đổi và làm mới chính mình để tồn tại và phát triển Vai trò của người thầy trong thời kỳ đổi
mới giáo dục không phải là "nhồi nhét tri thức cho học sinh" (Tsunesaburo
Makiguchi – Nhật Bản) mà điều quan trọng là thầy phải biết khơi gợi đam mê và hứng thú học tập của HS Thầy phải luôn bên cạnh HS nhưng không phải để truyền
thụ “những mảnh tri thức chết” mà để hỗ trợ, hướng dẫn, giúp đỡ chúng trong
hành trình đi tìm chân lý
1.5.1.3 Văn hóa nhà trường
Theo ThS Trịnh Ngọc Toàn: "Văn hóa nhà trường là một tập hợp các giá trị,
niềm tin, hiểu biết, chuẩn mực cơ bản được các thành viên trong nhà trường cùng chia sẻ và tạo nên bản sắc của nhà trường đó Căn cứ theo hình thức biểu hiện thì văn hóa nhà trường gồm phần nổi có thể nhìn thấy như: không gian cảnh quan nhà trường, lôgô, khẩu hiệu, hành vi giao tiếp và phần chìm không quan sát được như: niềm tin, cảm xúc, thái độ "
Văn hóa nhà trường có tác động trực tiếp và sâu sắc đến toàn thể ĐNGV trong trường – những người quyết định chất lượng giáo dục của nhà trường Nếu văn hóa nhà trường tích cực nó sẽ thúc đẩy sự sáng tạo, nỗ lực của mỗi cá nhân, tạo nên tình thương yêu, sự quan tâm chân thành giữa các thành viên trong nhà trường và đảm bảo các thành viên trong nhà trường đều sẵn sàng hợp tác, chia sẻ kinh nghiệm vì mục tiêu chung
Ngược lại nếu văn hóa nhà trường tiêu cực nó sẽ khiến các thầy (cô) cảm thấy chán nản, hoài nghi, không có niềm tin tưởng vào sự phát triển của nhà trường, không có động cơ, lý do để phấn đấu vươn lên, tâm lý bè phái, phe cánh trong trường cũng sẽ xuất hiện làm chia rẽ, mất đoàn kết nội bộ
Tóm lại VHNT dù tích cực hay tiêu cực vẫn luôn tồn tại và ảnh hưởng trực tiếp đến mỗi thành viên trong ngôi trường đó
Trang 331.5.1.4 Các yếu tố về chính sách
Có thể nói các yếu tố về chính sách và cơ chế quản lý có ảnh hưởng rất lớn đến ĐNGV Nếu nhà trường xây dựng được một hệ thống các cơ chế chính sách tốt, thực hiện đầy đủ, nghiêm túc các quy định về quyền lợi của nhà giáo thì ĐNGV trong trường
đó sẽ có cảm giác thoải mái, dễ chịu Họ sẽ yên tâm công tác, có ý thức, có động lực để phấn đấu vươn lên đạt những thành tích tốt hơn trong công việc của mình
Ngược lại việc thực hiện các chế độ chính sách không thỏa đáng, không đầy
đủ sẽ tác động tiêu cực đến ĐNGV Nó khiến họ cảm thấy mệt mỏi, chán nản, thất vọng thậm chí triệt tiêu ý thức nỗ lực vươn lên của đội ngũ thầy (cô)
Chính vì vậy muốn có ĐNGV tốt, có chất lượng thì nhà quản lý cần phải chú ý đến việc xây dựng và thực hiện nghiêm túc các chế độ chính sách đối với nhà giáo, cần xem việc thực hiện chế độ chính sách với đội ngũ nhà giáo là đòn bẩy, là động lực thúc đẩy ĐNGV tự giác, chủ động rèn luyện, học tập để tiến bộ
1.5.1.5 Tác động của nền kinh tế thị trường
Nền kinh tế thị trường với mặt trái của nó đã tác động mạnh mẽ đến hầu hết các thầy (cô) giáo Nhiều thầy (cô) chạy theo những lợi ích của nền kinh tế thị trường mà không còn giữ được cái tâm trong sáng và sự nhiệt huyết, tận tụy hết lòng với nghề của mình Nền kinh tế thị trường đòi hỏi các thầy (cô) phải là người
có bản lĩnh chính trị vững vàng, có ý chí, có nghị lực, quyết tâm và lòng yêu nghề cháy bỏng mới đủ sức vượt qua sức cám dỗ, hấp dẫn của nó
1.5.2 N ững ếu t c ủ quan
1.5.2.1 Nhu cầu về tự bồi dưỡng
Trước yêu cầu ngày càng cao và khắt khe của công cuộc đổi mới căn bản và toàn diện giáo dục và đào tạo như đã trình bày ở trên đòi hỏi mỗi thầy, cô giáo muốn tồn tại và phát triển được trong nghề của mình không có cách nào khác là phải luôn luôn có ý thức làm mới mình về phẩm chất đạo đức, năng lực, trình độ chuyên môn nghiệp vụ Nếu không cố gắng tự học, tự bồi dưỡng, trau dồi bản thân, các thầy cô sẽ
tự đào thải mình Vậy để tồn tại và phát triển, tự học, tự bồi dưỡng là con đường duy nhất với mỗi thầy cô
1.5.2.2 Đời sống giáo viên còn nhiều khó khăn
Trang 34Chúng ta ai cũng nói rằng: Nghề dạy học là nghề cao quý nhất trong những
nghề cao quý Nhưng thực tế có lẽ ít ai biết rằng đa phần hiện nay, giáo viên không
đủ sống bằng chính nghề của mình Đồng lương còm cõi, ít ỏi mỗi tháng không đủ giúp giáo viên trang trải biết bao nỗi lo toan trong cuộc sống Điều đó khiến họ buộc phải vận động, phải tự xoay sở, tự làm thêm đủ việc để kiếm tiền Ở những nơi
có điều kiện, nhu cầu học thêm cao thì giáo viên còn có thể dạy thêm, dạy nếm Nhưng số thầy cô đi dạy thêm cũng không nhiều vì xu hướng học của học sinh hiện nay chỉ tập trung vào những môn chính như Toán, Lí, Hoá, Anh văn, Sinh hay Ngữ văn…Mặt khác không phải thầy cô nào giảng dạy các môn cơ bản trên cũng có thể
đi dạy thêm để tăng thêm thu nhập Không thể dạy thêm, các thầy cô còn lại lao vào làm đủ thứ việc nào là: mở tiệm cà phê, quán nét, uốn tóc, buôn bán…thậm chí rửa
xe, bán bánh mỳ Ở những vùng nông thôn đồng bằng hay miền núi, không ít giáo viên còn phải làm thêm nương, rẫy để mong kiếm thêm thu nhập Một ngày tất tả, bộn bề công việc như trên thử hỏi các thầy cô làm gì còn có thời gian và tâm sức để
mà "toàn tâm, toàn ý" cống hiến cho sự nghiệp giáo dục? Thực tế cho thấy vì để có
thêm thời gian kiếm tiền, nhiều giáo viên đã phải bớt xén thời gian dành cho công tác giảng dạy: bài vở soạn giảng qua loa, đến lớp trễ giờ, ra tiết sớm, câu giờ cấy điểm rồi hiện tượng ép học sinh phải học thêm, hiện tượng tiêu cực trong thi cử, hiện tượng mắng mỏ trừng phạt quá mức khi học sinh vi phạm… đã xảy ra và có
xu hướng chưa dừng lại
1.5.2.3 Lớp học đông học sinh, giáo viên phải dạy nhiều giờ
Tại Điều lệ trường trung học cơ sở, trung học phổ thông và trường phổ thông
có nhiều cấp học ban hành kèm theo Thông tư số 12/2011/TT-BGDĐT quy định:
"Mỗi lớp ở các cấp THCS và THPT có không quá 45 học sinh" Thực tế cho thấy,
trước yêu cầu của việc đổi mới nội dung, phương pháp giảng dạy như hiện nay thì
việc "không quá 45 học sinh"/lớp học vẫn là một con số lớn Đấy là còn chưa kể
đến hiện tượng ở nơi "đất chật người đông" con số thực tế có khi còn cao hơn nhiều
lần Hiện tượng lớp học đông đúc như trên là yếu tố gây khó khăn không nhỏ trong quá trình GV phấn đấu để đáp ứng được các yêu cầu của bộ Chuẩn nghề nghiệp Bên cạnh đó, định mức giờ dạy đối với GV THCS hiện nay cũng được xem là
"lực cản" trong quá trình bồi dưỡng, phấn đấu để đạt Chuẩn của GV Theo quy
Trang 35định tại Thông tư 28/2009/TT-BGDĐT ngày 21 tháng 10 năm 2009 của Bộ giáo dục và Đào tạo, định mức tiết dạy của giáo viên trung học cơ sở là 19 tiết/tuần Ngoài nhiệm vụ giảng dạy chính ở trên lớp, giáo viên còn phải thực hiện những hoạt động chuyên môn và các hoạt động khác theo sự phân công của Hiệu trưởng Với khối lượng công việc dày như vậy, GV trên thực tế là rất khó có thời gian để chỉn chu, rèn giũa công việc của mình để đáp ứng tốt những yêu cầu, những đòi hỏi
mà bộ Chuẩn đã đặt ra
Tóm lại, lớp học đông học sinh, giáo viên phải dạy nhiều giờ là một trong những rào cản, gây khó khăn cho quá trình bồi dưỡng nhằm đáp ứng Chuẩn nghề nghiệp hiện nay của GV THCS
1.5.2.4 Thói quen với phương pháp dạy học truyền thống, tâm lý bảo thủ, ngại thay đổi của một bộ phận GV
Đất nước ta đang trong công cuộc đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo trong đó việc đổi mới phương pháp dạy học là một trong những nội dung được đặc biệt quan tâm, chú trọng Tuy nhiên thực tế hiện nay, có một bộ phận không nhỏ ĐNGV nhất là các thầy (cô) có tuổi do đã quen với phương pháp dạy học
truyền thống - truyền thụ kiến thức lý thuyết một chiều , nên xuất hiện tâm lý bảo
thủ, ngại thay đổi, cứ muốn giữ nguyên một phương pháp dạy học đã cũ, không còn
phù hợp trong thời đại mới Điều đó tạo ra lực cản, gây khó khăn trong việc phát triển, nâng cao chất lượng đội ngũ và thực hiện mục tiêu giáo dục của nhà trường
Trang 36đó có định hướng, có giải pháp cụ thể, thực tế để xây dựng, phát triển đội ngũ nhà
giáo "vừa hồng, vừa chuyên" đáp ứng yêu cầu đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục
và đào tạo
Phát triển đội ngũ giáo viên theo định hướng Chuẩn nghề nghiệp phụ thuộc vào nhiều yếu tố Do vậy để công tác quản lý có hiệu quả, nhà quản lý giáo dục không được nôn nóng, vội vàng, đốt cháy giai đoạn mà cần thực hiện đầy đủ các mục tiêu, nội dung quản lý giáo viên theo Chuẩn nghề nghiệp như đã trình bày ở trên Nhà quản lý cần phải giải thích những nội dung của Chuẩn nghề nghiệp, hướng dẫn những công việc cần thiết để GV thực hiện và đạt được chuẩn, hướng dẫn giáo viên tự đánh giá… theo hướng động viên khuyến khích giáo viên tự giác nâng cao trình độ chuyên môn để đạt chuẩn Nhà quản lý không nên chỉ dùng Chuẩn như một thước đo để đánh giá giáo viên là đạt chuẩn hay không đạt chuẩn
mà điều quan trọng chỉ nên dùng Chuẩn như một khâu, một công việc của quá
trình quản lý, đánh giá giáo viên Chuẩn nên được sử dụng như một cái "đích" để
mỗi thầy cô tự "soi", tự điều chỉnh và hoàn thiện mình
Trang 37CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG ĐỘI NGŨ GIÁO VIÊN VÀ PHÁT TRIỂN ĐỘI NGŨ GIÁO VIÊN TẠI TRƯỜNG THCS NGUYỄN ĐĂNG ĐẠO
THEO CHUẨN NGHỀ NGHIỆP
2.1 hái quát về đặc điểm kinh tế, văn hóa, xã hội ở thành phố Bắc Ninh
Nằm bên bờ sông Như Nguyệt với âm vang của Nam quốc sơn hà, thành phố Bắc Ninh có làng Tiến sĩ Kim Đôi với 25 vị Tiến sĩ các triều, có làng Diềm là nơi Vua Bà, Thủy tổ Quan họ sáng lập những làn điệu dân ca danh bất hư truyền Thành phố Bắc Ninh ngày nay có quy hoạch đô thị hiện đại, được công nhận thành phố Sáng - Xanh - Sạch - Đẹp
Sau một chặng đường không dài, thành phố Bắc Ninh là đơn vị Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân, được Đảng và Nhà nước tặng thưởng Huân chương Độc lập hạng Ba năm 2009 và Huân chương Độc lập hạng Nhì năm 2014 Với sự phát triển toàn diện, ngày 25/6/2014 Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định 1044/QĐ-TTg công nhận thành phố Bắc Ninh là đô thị loại II trực thuộc tỉnh Bắc Ninh, đồng thời được xác định có vai trò quan trọng trong việc hình thành đô thị lõi của tỉnh Bắc Ninh và tính kết nối với vùng Thủ đô, góp phần quan trọng xây dựng tỉnh Bắc Ninh trở thành tỉnh công nghiệp vào năm 2015 và trở thành Thành phố trực thuộc Trung ương vào những năm 20 của thế kỷ 21
Hiện nay, thành phố Bắc Ninh có 16 phường, 3 xã, diện tích tự nhiên là 82,61 km2, dân số 183.000 người
Sự nghiệp GD&ĐT của thành phố Bắc Ninh không ngừng đựơc đổi mới và nâng cao chất lượng toàn diện hướng tới mục tiêu “Nâng cao dân trí, bồi dưỡng nhân lực, đào tạo nhân tài”, ngành giáo dục luôn khẳng định là đơn vị dẫn đầu toàn tỉnh với 90% cán bộ giáo viên đạt trình độ trên chuẩn Đầu tư xây dựng cụm trường trọng điểm chất lượng cao, hiện đại, đồng bộ và tăng cường cơ sở vật chất trường lớp, trang thiết bị phục vụ dạy học Hệ thống giáo dục phát triển mạnh ở cả 4 cấp Đến nay, trên địa bàn thành phố có 77 trường học và 16 trường đại học, cao đẳng, trung cấp, dạy nghề và đang quy hoạch khu đô thị đại học trên địa bàn
Trang 38Phong trào khuyến học, khuyến tài phát triển cả về bề rộng và chiều sâu; việc xây dựng quỹ khuyến học được quan tâm và kịp thời khen thưởng, trao học bổng,
hỗ trợ học sinh có hoàn cảnh khó khăn và tuyên dương học sinh đỗ đại học chính quy nguyện vọng 1 hàng năm Đồng thời tiếp nhận hàng trăm thạc sỹ, sinh viên Đại học tốt nghiệp loại giỏi về thành phố công tác
2.2 hái quát về Giáo dục & Đào tạo ở thành phố Bắc Ninh
Năm học 2016-2017 là năm học thứ 3 ngành GD&ĐT thành phố Bắc Ninh triển khai thực hiện Nghị quyết số 44/NQ-CP ngày 09/6/2014 của Chính phủ và
Nghị quyết của BCH Đảng bộ tỉnh Bắc Ninh về: “Đổi mới căn bản, toàn diện giáo
dục và đào tạo tỉnh Bắc Ninh giai đoạn 2014-2020, định hướng đến năm 2030”
Toàn ngành Giáo dục và Đào tạo thành phố đã nỗ lực tập trung đổi mới, nâng cao chất lượng, hiệu quả giáo dục, tiếp tục đẩy mạnh các phong trào thi đua; thực hiện những giải pháp đồng bộ nhằm tạo sự chuyển biến căn bản, toàn diện về chất lượng giáo dục và đào tạo Với sự cố gắng và quyết tâm cao, năm học 2016-2017 nói riêng, những năm học qua nói chung, ngành GD&ĐT thành phố Bắc Ninh đã đạt được những kết quả đáng tự hào:
Thành phố Bắc Ninh là nơi có nhiều trường Mầm non, Tiểu học, THCS nhất
so với các huyện, thị trong tỉnh Hiện, toàn thành phố có 27 trường Mầm non, 24
trường Tiểu học, 20 trường THCS, 19 trung tâm học tập cộng đồng Ở mỗi cấp học, bậc học, thành phố lại đầu tư, quan tâm xây dựng các trường trọng điểm chất lượng cao như: Trường Mầm non Hoa Hồng, Ninh Xá; Tiểu học Suối Hoa, Trần Quốc Toản; THCS Nguyễn Đăng Đạo, Suối Hoa Hệ thống các trường trọng điểm của thành phố là nơi thu hút, bồi dưỡng các em HS giỏi, có năng khiếu, có tư chất thông minh, tạo nguồn nhân lực chất lượng cao, đáp ứng yêu cầu phát triển của quê hương, đất nước trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá và hội nhập quốc tế
Công tác PCGD và việc xây dựng trường chuẩn Quốc gia được chú trọng Năm học 2016-2017, 100% các trường Mầm non, Tiểu học, THCS của thành phố đều đạt chuẩn phổ cập giáo dục ở cấp độ 3, xóa mù chữ ở cấp độ 2 Cơ sở vật chất trường lớp và trang thiết bị phục vụ dạy học được tăng cường theo hướng chuẩn hoá và hiện đại hoá Đến nay, số trường đã đạt chuẩn Quốc gia mức 1 trong
Trang 39toàn thành phố là: 66/71 trường đạt tỷ lệ 92,95% Số trường đạt chuẩn mức 2 là 29/71 trường
Về chất lượng giáo dục, năm học 2016-2017, ngành GD&ĐT thành phố Bắc Ninh đã tiếp tục thực hiện thành công mục tiêu nâng cao chất lượng giáo dục ở tất
cả các ngành học, bậc học Chỉ tính riêng bậc THCS, ngành GD&ĐT thành phố cũng đã đạt được những kết quả đáng ghi nhận Về Hạnh kiểm có tới 96.5% HS xếp loại Khá và Tốt, 70.4% xếp loại học lực Khá và Giỏi Nhiều HS tham gia dự thi và đạt giải cao trong các kỳ thi chọn HSG cấp Thành phố, cấp tỉnh và Quốc gia
Có thể nói ngành GD&ĐT thành phố Bắc Ninh đã và đang chuyển biến theo hướng ổn định về mọi mặt, tăng dần về chất lượng và hiệu quả So với mặt bằng chung của tỉnh Bắc Ninh cũng như cả nước thì GD&ĐT thành phố Bắc Ninh được đánh giá là có tiềm năng phát triển ngang tầm với các đô thị lớn trên cả nước Để làm được điều đó, là sự cố gắng vươn lên mạnh mẽ của đội ngũ CBQL và giáo viên, đặc biệt là sự quan tâm của Đảng bộ và nhân dân thành phố Bắc Ninh đối với sự nghiệp Giáo dục và Đào tạo
2.3 hái quát về các trường THCS trọng điểm tại tỉnh Bắc Ninh
Các trường THCS trọng điểm phải là hình mẫu của cấp trung học của tỉnh về cơ sở vật chất, đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý; các hoạt động giáo dục phải đứng đầu về chất lượng, là nơi đi đầu trong việc triển khai thực hiện đổi mới phương pháp giảng dạy và học tập
Đổi mới phương pháp dạy học theo hướng phát triển năng lực cá nhân của học sinh, áp dụng các phương pháp dạy học tích cực, chú trọng rèn luyện
Trang 40của học sinh, công tác nghiên cứu khoa học và vận dụng kiến thức vào thực tế;
sử dụng có hiệu quả trang thiết bị dạy học vào việc đổi mới phương pháp
Tăng cường công tác giáo dục lịch sử, truyền thống, đạo đức, pháp luật, kỹ năng sống, giáo dục quốc phòng - an ninh cho học sinh trong trường học Xây dựng kỷ cương nề nếp, môi trường giáo dục lành mạnh, an toàn, thân thiện
Đẩy mạnh và nâng cao chất lượng dạy học ngoại ngữ, tin học, đặc biệt
là việc ứng dụng công nghệ thông tin nhằm nâng cao năng lực cho đội ngũ cán
bộ quản lý, giáo viên trong công tác quản lý, công tác dạy và học [27]
2.3.2 N m vụ của c c tr ng T trọng m
2.3.2.1 Chất lượng giáo dục
Đổi mới phương pháp giảng dạy, nâng cao chất lượng giáo dục đại trà
và chất lượng mũi nhọn: 100% học sinh có hạnh kiểm khá, tốt, có kỹ năng sống tốt, ý thức giao tiếp tốt
- Giai đoạn 2017 - 2020:
+ Phấn đấu 90% học sinh xếp loại lực học giỏi, 10% học sinh xếp loại lực học khá, không có học sinh xếp loại trung bình, yếu; 20 - 30 % học sinh có khả năng giải bài tập một số môn học bằng tiếng Anh; 90 - 100% học sinh sử dụng thành thạo hệ thống công nghệ thông tin (chương trình tin học)
- Giai đoạn 2021 - 2025:
+ Phấn đấu 95% học sinh xếp loại lực học giỏi, 5% học sinh xếp loại lực học khá, không có học sinh xếp loại trung bình, yếu; 31 - 50 % học sinh có khả năng giải bài tập một số môn học bằng tiếng Anh; 95 - 100% học sinh sử dụng thành thạo hệ thống công nghệ thông tin (chương trình tin học)
2.3.2.2 Đội ngũ giáo viên
Bố trí sắp xếp đủ và đồng bộ đội ngũ giáo viên tại 8 trường THCS trọng điểm theo quy định hiện hành
- Giai đoạn 2017 - 2020:
Phấn đấu có 100% giáo viên đạt trình độ trên chuẩn; nâng tỷ lệ giáo viên có trình độ Thạc sĩ từ 7% (năm 2017) lên 15% (năm 2020); 15% giáo viên giảng dạy các môn tự nhiên (toán, lý, hóa, sinh) dạy học song ngữ (tiếng Anh) cho học sinh