1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Văn học việt nam từ đầu thế kỷ XX đến 1945

231 104 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 231
Dung lượng 4,71 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Biến động trong kết cấu xã hội và sự tác động đến đời sống văn học Cùng với bước chân xâm lược của thực dân Pháp, cơ cấu giai cấp trong xã hội Việt Nam đã cố những thay đổi rất lớn.. Pha

Trang 1

BỌ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

MOET

D ự ÁN PHÁT TRIẺN GIÁO VIÊN THPT & TCCN - TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH

ĐINH TRÍ DŨNG (chủ biên)NGÔ THỊ QUỲNH NGA

VĂN HỌC VIỆT NAM

Trang 2

BỌ GIÁO DỤC V À ĐÀO TẠO NGÀN HÀNG PHÁT TRỊẾN CHÂJ Á

D ự ÁN PHÁT TRIỀN GIÁO VIÊN THPT & TCCN - TRƯỜNG ĐẠI HỌC/INH

ĐINH TRÍ DŨNG (chủ biên)NGỔ THỊ QUỲNH NGA

Trang 3

Và-Vãn học Việt N a m từ đầu thế kỷ X X đến 1945 3

M Ụ C LỤC

Trang

Lời nói đầu 5

PHẦN THỨ NHẤT: KHÁI QUÁT VỀ VĂN HỌC VIỆT NAM TỪ ĐẦƯ THẾ KỶ XX ĐẾN 1945 7

Chương 1 Bối cảnh lịch sử-xã hội-văn hóa, quá trình vận động, đặc điểm và thành tựu của văn học Việt Nam từ đầu thế kỷ XX đến 1945 (Đinh Trí D ũ n g 9

Chương 2 Ba trào lưu văn học chủ yếu: văn học lãng mạn, văn học hiện thực phê phán, văn học cách mạng vô sản (Đinh Trí D ũng) 29

PHẦN THỬ HAI: VĂN HỌC VIỆT NAM GIAI ĐOẠN TỪ ĐẦƯ TK XX ĐẾN 1930 57

Chương 3 Phan Bội Châu (Ngô Thị Quỳnh N ga) 59

Chương 4 Tản Đà (Ngô Thị Quỳnh Nga) 81

Chương 5 Hồ Biểu Chánh (Ngô Thị Quỳnh Nga) 93

PHẦN THỨ BA: VĂN HỌC VIỆT NAM GIAI ĐOẠN TỪ 1930 ĐẾN 1945 105

Chương 6 Xuân Diệu (Đinh Trí Dũng) 107

Chương 7 Thạch Lam (Đinh Trí Dũng) 119

Chương 8 Nguyễn Tuân (Đinh Trí D ũng) 129

Chương 9 Nguyễn Công Hoan (Đinh Trí D ũng) ỉ 35 Chương 10 Vũ Trọng Phụng (Đinh Trí D ũng) 147

Trang 4

4 _Văn học Việt Nam từ dầu thế kỷ XX đến 1945

Chương 11 Nam Cao (Đinh Trí Dũng) 167 Chương 12 Nguyên Hồng (Đỉnh Trí D ũng) ỉ 87 Chương 13 Nhật ký trong tù của Chủ tịch Hồ Chi Minh

(Đỉnh Trí D ũng) ì 97 Chương 14 Tập thơ Từ ẩy của Tố Hữu (Đinh Trí D ũng) 219

Trang 5

Văn học V iệt N am từ đầu thế kỷ X X dến 1945 5

L Ờ I N ÓI ĐẲU

Theo chủ trương của Bộ Giáo dục và Đào tạo, các trường đại học nói chung, các trường đại học sư phạm nói riêng đã chuyến từ phương thức đào tạo theo niên chế sang đào tạo theo tín chỉ Phương thức đào tạo mới này có tính mềm dẻo, linh hoạt, đâ tạo điều kiện cho sinh viên có thể tự lựa chọn thời gian, lịch trinh học tập phù họp với bản thân Tuy nhiên, đào tạo theo tín chỉ cũng đòi hỏi cao ở sinh viên khả năng tự học, tự nshiên cứu

Sau khi chuyển đổi sang phương thức đào tạo mới, các trường đại học

đã tiến hành xây dựng lại chương trình, viết lại giáo trình Trong chương trình ngữ văn đại học sư phạm hiện nay, phần văn học Việt Nam hiện đại từ đầu thế

kỷ XX đến 1945 được chia làm một hoặc hai học phần (từ đầu thế kỷ XX đến

1930 và từ 1930-1945) Giáo trình này, trên quan điểm mới về phân kỳ văn học, chủ trương từ đầu thế kỷ XX đến 1945 là một thời kỳ văn học Vì vậy, chúng tôi cổ gắng trình bày những đặc điểm chung của văn học thời kỳ này trong một cái nhìn hệ thống, xuyên suốt, tuy nhiên, cũng không bỏ qua đặc điểm riêng của văn học từng giai đoạn; giai đoạn giao thời 1900-1930 và giai đoạn 1930-1945

Trong quá trinh biên soạn, các tác giả cỏ tham khảo một số giáo trình trước đây viết về văn học thời kỳ này, đồng thời cũng tiếp thu những thành tựu mới trong nghiên cứu lịch sử văn học Việt Nam từ đầu thể kỷ X X đến

1945, thể hiện tinh thần đổi mới trên cơ sở khoa học Tuy nhiên, vì hướng tới phục vụ đào tạo theo tín chỉ, chúng tôi chủ trương trình bày các kiến thức một cách hệ thống, tinh giản, chú ý những vấn đề trọng tâm M ỗi chương của giáo trình, ngoài phần nội dung, có thêm phần yêu cầu cần đạt và phần hướng đẫn học tập, trong đó có giới thiệu các tài liệu tham khảo chính, các câu hỏi, bài tập thực hành, tự nghiên cửu Các tài liệu tham khảo được sắp xếp theo thứ tự: các giáo trình, các sách chuyên khảo, các sách đọc thêm Phần câu hỏi, bài tập

Trang 6

6 Văn h ọc V iệt N am từ đầu thế kỷ X X đến 1945

thực hành, tự nghiên cứu chỉ nên xem là những gợi ý, người dạy có thể thêm bớt, thay đối cho phù hợp với tình hình thực tế

G iáo trình có cấu trúc gồm ba phần lớn Phần thứ nhất: Khải quát chung về về vấn học Việt Nam từ đầu thế kỷ X X đến 1945 Ở phần này, ngoài

chương đầu giới thiệu chung về bối cảnh lịch sử-xằ hội- văn hóa, quá trình vận động, đặc điểm và thành tựu của văn học Việt Nam từ đầu thế kv XX đến

1945, chúng tôi trình bày thêm chương hai: Ba trào hru văn học chủ yếu: vồn học lãng mạn, văn học hiện thực phê phán, vồn học cách mạng vô sản Việc

giới thiệu chung cả ba trào lưu văn học trong m ột chương m à không tách thành ba chương riêng rẽ như một số cuốn giáo trình trước đây là vừa nhằm tinh giản kiến thức, vừa để người học có cái nhìn đổi sánh cần thiết Phần thứ

hai: Văn học Việt N am giai đoạn từ đầu thế kỷ X X đến 1930, chúng tôi trình

bày ba tác giả tiêu biểu: Phan Bội Châu (khuynh hướng văn học yêu nước, cách m ạng cùa các nhà nho duy tân), Tản Đà (m ở đầu cho khuynh hưởng lãng

m ạn), Hồ Biểu C hánh (m ở đầu cho khuynh hướng hiện thực) Phần thứ ba:

Vân học Việt Nam giai đoạn (ừ ỉ 930 đến Ị 945, chúng tôi chọn các hiên tượng,

các tác gia tiêu biểu của ba trào lưu văn học: văn học lãng m ạn, văn học hiện thực phê phán, văn học cách mạng vô sản

G iáo trình Văn học Việt Nam hiện đại (từ đầu thế kỷ XX đến 1945) cố

gắng kế thừa những ưu điểm của các giáo trình viết về văn học thời kỳ này trước đó Tuy nhiên, với m ục tiêu phục vụ cho việc đào tạo giáo viên trung học phổ thông theo phương thức tín chỉ, giáo trình có định hướng và cách trình bày riêng Trong quá trình biên soạn, các tác già đã có rất nhiều cố gắng, tuy nhiên không thể nào tránh khỏi những sai sót nhất định M ong nhận được

sự góp ý, bổ sung của các giảng viên và sinh viên sử dụng giáo trình, để các tác giả có thể sửa chữa, nâng cao chất lượng trong những lần in sau

CÁC TÁC GIẢ

Trang 7

Vân học V iệt N am từ dầu thế kỷ X X đến 1945

PH À N TH Ú N H Ấ T

ĐÀU THÉ KỶ XX ĐÉN CÁCH MẠNG

THÁNG 8 NĂM 1945

Trang 8

8 Văn học Việt Nam từ đầu thế kỷ XX đến 1945

Trang 9

Văn học Việt N am từ dầu thế kỷ X X đến 1945 9

Chương 1

BÓI CẢNII LỊCH s ử - XÃ H ộ ĩ - VĂN HÓA, QUÁ TRÌNH VẬN ĐỘNG,

ĐẶC ĐIẺM VÀ THÀNH Tựu CỦA VĂN HỌC VĨỆT NAM

T Ừ ĐẦU TH Ế KỶ XX ĐẺN 1945

A YÊU CẦU CẢN ĐẠT«

- Nắm được bối cảnh lịch sử, xã hội, văn hóa tư tưởng đầu thế kỷ XX đến

1945, những tác động của bối cành ấy đển sự hình thành, phát triển của văn học

- Các chặng đường của hiện đại hóa văn học, thành tựu chủ yếu của mỗi giai đoạn, mỗi trào lưu văn học

- Những đặc điểm cơ bản của văn học aiai đoạn đầu thế kỷ XX đến 1945

- Đánh giá được vị trí cùa thời kỳ văn học này trong lịch sử vãn học dân

B NỘI DUNG

I, BÓI CẢNH LỊCH s ử , XÃ HỘI, VẢN HÓA

1 Sự khủng hoảng đtròng lối cứu nưóc n h ũ n g th ậ p kỷ đầu thế kỉ XX và sự

ra đòi của Đ ảng cộng sản Đông Dương năm 1930

Ở Việt Nam, xã hội phong kiến tồn tại trong suốt 10 thế kỷ Bước vào đầu thế kỷ XX, sau hai mươi năm đốc sức đánh dẹp các phong trào yêu nước, tổ chức

bộ máy cai trị, thực dân Pháp cơ bản đã làm xong công việc bình định Xã hội Việt Nam đã chuyển sane; một hình thái mới: xã hội thực dân nửa phong kiến Đông Dương trở thành nơi bọn thực dân vơ vét tài nguyên và bóc lột nhân công

rè mạt Các tầng lớp nhân dân sống vô cùng khổ cực, tăm tối

Đầu thế kỉ XX, ở Việt Nam xuất hiện nhiều phong trào giải phóng dân tộc với những con đường khác nhau: Con đường duy tân kết hợp với bạo động vũ trang của Phan Bội Châu; Con đường cải lương của Phan Châu Trinh; Con

Trang 10

10 Văn học V iệt N a m từ đầu th ế kỷ X X đ ế n 1945

đường cách mạng tư sản của Việt Nam quốc dân đảng của Nguyễn Thái Học Các phong trào giải phóng dân tộc này cuối cùng đều bế tắc và thất bại Xã hội đang khủng hoảng về đường lối cứu nước Hiện thực lịch sử này đã đẫn đến sự ra đời của Đảng Cộng sản Đông Dương năm 1930 Sự ra đời của Đảng đã đáp ứng những đòi hỏi của cuộc sổng, tác động mạnh mẽ đến phong trào đấu tranh giai cấp Sự ra đời của Đảng là bước ngoặt lịch sử, chấm dứt những bế tắc trong đường lối lãnh đạo, đồng thời cũng tác động mạnh đến đời sống văn học, làm xuất hiện trào lưu văn học cách mạng vô sản

2 Biến động trong kết cấu xã hội và sự tác động đến đời sống văn học

Cùng với bước chân xâm lược của thực dân Pháp, cơ cấu giai cấp trong xã hội Việt Nam đã cố những thay đổi rất lớn Nhiều giai cấp mới xuất hiện và vị trí

xã hội của các giai cấp cũng có sự thay đổi Đến thời kì 1930 - 1945, sự phân hoá giai cấp càng trở nên rõ rệt, sâu sắc hơn Tất cả các giai cấp đều có ý thức sử dụng văn học làm vũ khí đấu tranh Xã hội phong kiến tồn tại hai giai cấp chính: địa chủ phong kiến và nông dân Trong đó, giai cấp địa chù phong kiến nắm giữ

về ruộng đất, giai cấp nông dân là những người lao động làm thuê, nộp tô thuế Thời kỳ thực dân nửa phong kiến, hai giai cấp này vẫn tồn tại Tuy nhiên, giai cấp địa chủ phong kiến đến lúc này đã mất vai trò lịch sử, trở thành tay sai của để quốc Do đó, chúng đã trở thành đối tượng đả kích của nhiều xu hướng, trào lưu văn học khác nhau Văn học cách mạng coi phong kiến là kẻ thù: “Thực dân địa chủ một bầy/ Chúng là thú vật còn ta là người” Văn học hiện thực phê phán cũng hướng sự đả kích mãnh liệt vào bọn địa chủ phong kiến Ngô Tất Tố miêu

tả vợ chồng Nghị Quế với nhiều nét xấu xa, bỉ ổi, với cái nhìn khinh bỉ Nhân vật

Bá Kiến trong truyện ngắn Chí Phèo của Nam Cao điển hình cho tầng lóp địa

chủ, cường hào ở nông thôn với bản chất xấu xa, độc ác, nham hiểm Đ ịa chủ phong kiến còn xuất hiện trong văn học ỉãng mạn, nhưng chủ yếu bị đả kích ờ góc độ lễ giáo phong kiến (tiêu biểu là trong tiểu thuyết Tự lực văn đoàn)

Giai cấp nông dân là giai cấp bị bóc lột nặng nề nhất Họ trở thành mối quan tâm hàng đầu của vãn học giai đoạn này Tiểu thuyết Tự lực văn đoàn, không thể làm ngơ trước thực trạng của nông dân, ít nhiều có sự cảm thông nhất định, nhưng cái nhìn của họ thường là cái nhìn của người bề trên thương xót kẻ dưới Họ không thấu hiểu và không đủ sự cảm thông đối với người nông dân lao

Trang 11

V ă n iọ c V iệt N am từ đầu thế kỷ X X đến 1945 11

độnj Trong văn học hiện thực phê phán, các tác giả có sự đồng cảm sâu sắc, nhiềi lúc còn nhìn thấy vẻ đẹp của người nông dân, tuy nhiên không phải không

có mững cái nhìn lệch lạc Có thể nói văn học hiện thực đã để lại một khối lượng tác Ịhẩm xuất sắc viết về người nông dân lao động

Thời kỳ này xã hội xuất hiện thêm nhiều giai cấp mới Giai cấp tư sản với

số lrợng không nhiều Tư sản Việt Nam nhìn chung nghèo nàn về kinh tế, lực lượig yếu ớt, tư tưởng chính trị mang tính chất cải lương, thoả hiệp với thực dân Phá) Tư sàn Việt Nam phần lớn là tư sản kiêm địa chủ, vừa kinh doanh ở thành phổ vừa mua ruộng đất ở nông thôn Trong đời sống vãn học, giai cấp này cũng tạo a được tiếng nói của minh Tiểu thuyết Tự lực văn đoàn thể hiện quan điểm cải ương về mặt xã hội của giai cấp tư sản Văn học hiện thực phê phán Việt Nan viết rất ít về giai cấp tư sản Tuy nhiên, có một nhà vãn hiện thực rất am hiểu viết rất sổng động về giai cấp này, đó là Vũ Trọng Phụng

Giai cấp công nhân ngay từ khi ra đời đã chịu ảnh hưởng của phong trào yêuiước chống thực dân Cho đến những năm 20 của thế kỷ XX, giai cấp công nhâi được giác ngộ chủ nghĩa Mác - Lênin và trở thành giai cấp tiên phong lãnh đạoohong trào giải phóng dân tộc Bộ phận văn học cách mạng vô sản (lưu hành

bí nật) chính là tiếng nói của giai cấp này Tuy nhiên, ở văn học công khai, hình ànhigười công nhân trong văn học dường như chưa tương xứng với địa vị xã hội

của họ - Tiểu thuyết Lầm than của Lan Khai là tác phẩm đầu tiên viết về đề tài

nguri công nhân Ngay từ khi ra đời nó đã nhận được nhiều lời ca ngợi Cuốn tiểuthuyết đã phản ánh được ít nhiều hiện thực đời sống của những người công nhâi hầm mỏ Tuy nhiên, tác giả tỏ ra không am hiểu nhiều đời sổng người công nhâi, có chỗ nhấn mạnh quá đà cái nhếch nhác, bệ rạc của họ

Cùng với sự mở rộng của bộ máy cai trị, tầng lớp tiểu tư sản cũng ngày càn; đông thêm Đây là tầng lóp xã hội có đời sống bấp bênh, thường xuyên bị

đe iọa bởi thất nghiệp, phá sản, bởi thế nhìn chung họ có tinh thần cách mạng Nhing họ cũng dễ dao động theo hoàn cảnh Đây chính là tầng lớp có vai trò rất quai trọng đối với đời sống văn học công khai trước cách mạng Họ vừa là tác giả.vừa là công chúng của nhiều xu hướng văn học khác nhau: phong trào Thơ

m á văn học hiện thực phê phán, Tự lực văn đoàn Một số tác giả của dòng vãn họccách mạng cũng xuất thân từ tầng lóp tiểu tư sản

Trang 12

12 Vân học V iệt N am từ đầu thế kỷ X X đến 1945

3 Tình hình văn hóa, tư tưởng

Cuộc đấu tranh giai cấp quyết liệt cũng thể hiện trên lĩnh vực văn hoá Các giai cấp đều có ý thức sử dụng văn hoá như một thứ vũ khí để bảo vệ quyền lợi cho giai cấp mình, v ề phía thực dân Pháp, chúng thực hiện chính sách ngu dân,

hạn chê việc học hành, dẫn đến 90 % dân số Việt Nam trước cách mạng mù chữ

Chúng quản lí chặt chẽ báo chí, xuất bản, bóp nghẹt tự do ngôn luận Chì có giai đoạn ngắn từ 1936 đến 1939, do áp lực của phong trào dân chủ nên không khí có

dễ thở hơn Bởi vậy, nhiều tiểu thuyết tiến bộ, đặc sắc, có tinh thần phê phán

mãnh liệt đều ra đời trong thời gian này: s ố đỏ, Vỡ đê, Tắt đèn Bên cạnh đỏ,

thực đân Pháp còn triệt để sử dụng vũ khí văn hóa: cho ra đời hoặc dịch thuật nhiều tác phẩm chổng cộng, đề cao nho giáo, tuyên truyền mê tín dị đoan

Từ 1930 trở đi, văn hỏa tư sản, tiểu tư sản ở Đông Dương phát huy ảnh hường do giai cấp tư sản không còn làm cách mạng dân tộc mà chuyển sang đấu tranh băng văn hoá Văn hoá tư sản, tiểu tư sản dựa trên việc đề cao chủ nghĩa cá nhân, hoạt động chủ yếu trên lĩnh vực văn hóa, văn học, rấí kém cõi trên lĩnh vực

kĩ thuật Văn hóa tư sản có tính chất hai mặt: mặt tích cực là đề cao cá nhân, chống lại ý thức hệ phong kiến, ít nhiều có tinh thần dân tộc Nó cũng hướng đến mục tiêu xây dựng nền văn hoá hiện đại Mặt hạn chế là chủ nghĩa cá nhân cực đoan, xa rời cuộc đấu tranh chính trị, đề cao sự hường thụ, đễ dẫn con người đến chỗ lạc hướng

Đảng ta ngày cảng ý thức sâu sắc vai trò của văn hoá Từ 1936 đến 1939, trong bối cảnh thuận lợi, Đảng ta đã tăng cường tuyên truyền, phát huy ảnh hưởng của văn hoá vô sản qua dư luận, qua báo chí, sách vở Từ năm 1940 trờ đi, văn hoá vô sản ngày càng lan rộng, trước hết là ở các chiến khu cách mạng Cột

mổc thể hiện sự quan tâm của Đảng đối với văn hoá là sự ra đời của bản Đề cương văn hoá Việt Nam (1943) với phương châm: dân tộc, khoa học, đại chúng

Hội văn hoá cứu quốc ra đời đã tập hợp được nhiều nhà văn tiến bộ như Nam Cao, Tô Hoài, Nguyên Hồng

Thời kỳ này, do sự giao ỉưu tiếp xúc, văn hoá, văn học phương Tây cùne; ảnh hướng lớn đến đời sống văn hóa, văn học tronạ nước Nền văn hoá dân tộc

Trang 13

Văn học Việt N am từ đầu thổ kv X X đến 1945 13

mang bản sắc phương Đông tồn tại hàng chục thế kỷ, đến cuối thế kỷ XIX đàu thế kỷ XX băt đầu chạm trán với một hệ văn hoá mới nhập cảng từ phương Tây MỘI chân trời mới đã đến với các nhà nho duy tân Văn hoá Việt Nam mở rộng cửa dón nhận nhiều luồng văn hóa Trong cuộc xung đột văn hoá này, vãn hóa, văn học phương Tây đã có nhữne lúc tò ra lợi thế, lấn át nền văn hóa phương Đông cồ truyền Vì thế, ý thức bào vệ nền văn hoá dân tộc trở thành một tâm thế chung đôi với nhiều trí thức, nhiều nhà văn Việt Nam lúc bấy giờ

II QUÁ TRÌNH VẬN ĐỘNG CỦA VĂN HỌC

1 T ừ đầu thế kỷ XX đến 1930

Nhìn trên tổng thể dây là giai đoạn mang rõ tính chất íỊÌao thời của hai phạm trù văn học Những dấu ấn cùa phạm trù văn học irung dại vẫn còn khá rõ, tuy nhiên, vãn học đang vận động mãnh mẽ về phía hiện đại Giai đoạn này có thể phàn chia thành hai chặng: từ đầu thế kỷ XX đến 1920 và từ 1920 đến 1930

Trọng Quản (1887) Từ những tác phẩm lẻ tẻ, đến đầu thế kỷ XX ở Nam Bộ đã

có cà một phong trào viết truyện chữ quổc ngữ với hàng loạt cây bút như Trương Duy Toàn, Nguyễn Chánh sắt, Lê Hoàng Mưu, Nguyễn Bửu Mọc, Hồ Biểu Chánh Tiểu thuyết quốc ngữ Nam Bộ tuy còn chịu nhiều ảnh hường của văn xuôi trung đại, nhưng đồng thời đã có nhiều nét mới trong đề tài, kết cấu, ngôn ngữ Các tác phẩm thườns hướng đến miêu tả đời sống và con người Nam Bộ, sử dụng lối văn khẩu ngữ gần gũi với lời ăn tiếng nói hàng ngày

ơ miền Bắc, các sự kiện văn học vang dội trên văn đàn giai đoạn này đều gắn với tên tuổi của các sĩ phu yêu nước như Phan Bội Châu, Phan Châu Trinh, Hu>nh Thúc Kháng, Nguyễn Thượng Hiền Họ là những nhà Hán học được giác ngộ lý tưởng cách mạng tư sàn từ phương Tây qua các sách tân thư của Trung Quếc Bởi vậy, về mặt tư tưởng, họ có sự đổi mới quyết liệt, nhưng lại chưa có

Trang 14

điều kiện để đổi mới về mặt tư tưởng mỹ học, thi pháp và văn tự Các tác phẩm tuyên truyền của họ mang nội dung mới mẻ, có sức lay động, có ý nghĩa thức tỉnh Tuy nhiên, tư duy nghệ thuật của họ vẫn còn nặng màu sấc tư duy nghệ thuật trung đại Tiêu biểu như trường hợp Phan Bội Châu Phan Bội Châu sáng tác đến năm 1940 khi văn học Việt Nam đã đi vào chặng hoàn tất quá trình hiện đại hóa, nhưng ông vẫn làm thơ Đường, viết truyện, tiểu thuyết bằng chữ Hán, chữ Nôm, vẫn viết tiểu thuyết với hình thức chương hồi.

b, Từ 1920 đến 1930

Lực lượng sáng tác ở chặng này gồm một số nhà nho cuối cùng như Tản

Đà, Nguyễn Bá Học, Nguyễn Trọng Thuật, Phan Khôi , và một số trí thức Tây học đầu tiên như Phạm Quỳnh, Nguyễn Văn Vĩnh, Trọng Khiêm, Phạm Duy Tốn, Hoàng Ngọc Phách, Đông Hồ Trong đó, những cây bút Tây học đã đóng vai trò chủ lực Ở chặng này, văn học đã có những thành tựu nổi bật về tiểu thuyết, truyện ngắn của các tác giả Hồ Biểu Chánh, Hoàng Ngọc Phách, Trọng

Khiêm, Phạm Duy Tổn, Nguyễn Bá Học Đặc biệt, tiểu thuyết Tố Tâm của

Hoàng Ngọc Phách gây được tiếng vang trong công chúng và trở thành cột mốc trên chặng đường vận động theo hướng hiện đại của tiểu thuyết, v ề tiểu thuyết,

còn có thể kể thêm Kim Anh lệ sử của Trọng Khiêm, Quả dưa đỏ của Nguyễn

Trọng Thuật, một số tiểu thuyết của Đặng Trần Phất, Nguyễn Tử Siêu Truyện ngắn xuất hiện nhiều, tiêu biểu là các cây bút Phạm Duy Tổn, Nguyễn Bá Học.Trong các sáng tác, tính hiện đại đã chiếm ưu thế rõ, nhưng những yếu tổ trung đại vẫn tồn tại xen kẽ khá phổ biến từ nội dung đến hình thức, v ề thơ thì trong các sáng tác của Tản Đà, Trần Tuấn Khải đã xuất hiện cái tôi phóng túng lãng mạn, đậm chất sầu và mộng Những tình cảm lãng mạn này được thể hiện trong những hình thức truyền thống tương đối tự do như thất ngôn trường thiên, hát nói, lục bát

2 Giai đoạn 1930 - 1945

Đây là chặng hoàn tất của quá trình hiện đại hóa Lực lượng tác giả chặng này chủ yếu là các trí thức Tây học Họ là những người được lớn lên trong môi trường sinh hoạt đô thị, được học tiếng Pháp từ trên ghế nhà trường H ọ sớm được tiếp xúc với văn hóa, văn học phương Tây hiện đại Họ ít bị ảnh hưởng, ràng buộc với tư tưởng nho giáo, với quan niệm mv học trung đại Họ có điều

1 4 Văn học V iệt N am từ đầu thể kỷ X X đến 1945

Trang 15

Văn học Việt N a m từ đầu thế kỷ X X đến 1945 15

kiện thúc đẩv cuộc cách tân hiện đại hóa văn học Việt Nam lên một bước mới, toàn diện, sâu sắc và triệt để hơn, đưa văn học Việt Nam hòa nhập với văn học hiện đại thế giới

Từ 1930 đến 1945, văn học phát triển một cách rực rỡ, với nhiều thành tựu nổi bật, trở thành một trong những giai đoạn sôi động nhất của lịch sử văn học dân tộc Văn học cũng phân hóa theo các trào lưu, xu hướng khác nhau Văn xuôi

có địa vị quan trọng, phát triển đa dạng cả ở khuynh hướng hiện thực và lãng mạn Tự lực văn đoàn, nhất là các tiểu thuyết của Nhất Linh, Khái Hưng, truyện ngắn Thạch Lam đã có đóng góp lớn cho sự phát triển của vãn xuôi lãng mạn nói riêng, văn xuôi Việt Nam hiện đại nói chung Văn xuôi hiện thực phê phán cũng phát triển mạnh mẽ với các tên tuổi tiêu biểu: Nguyên Công Hoan, Ngô Tât Tô,

Vũ Trọng Phụng, Nam Cao, Nguyên Hồng, Tô Hoài

v ề thơ, sự xuất hiện phong trào Thơ mới vào năm 1932 đã tạo nên cuộc cách mạng trong thơ ca dân tộc Thơ mới đã nhanh chóng chiếm lĩnh thi đàn, thay thế cho lổi thơ cũ đã mất hết sinh khí Tuy chỉ tồn tại hơn 10 năm, nhưng Thơ mới đã để lại những dấu ấn sâu sắc, ảnh hưởng lớn đến cà nền thơ dân tộc trong suốt thế kỷ XX, với những tên tuổi rạng rỡ: Thế Lữ, Xuân Diệu, Huy Cận, Chế Lan Viên, Hàn Mặc Tử, Nguyễn Bính

Kịch nói tuy mới du nhập vào nước ta nhưng đã có những thành tựu Vi Huyền Đắc, Vũ Đình Long, Nguyễn Huy Tưởng là những tác giả được công chúng chú ý

Phê bình ván học từng bước trờ thành một ngành độc lập và phát triển khá mạnh trong giai đoạn này Những cây bút phê bình có nhiều đỏng góp quan trọng cho đời sống văn học có thể kể đến là Thiếu Sơn, Hoài Thanh, Vũ Ngọc Phan, Hải Triều, Trần Thanh Mại, Trương Chính Đã xuất hiện những công trình phê bình văn học xuất sắc, có ý nghĩa tổng kểt một phong trào thơ ca hoặc thành tựu

của một giai đoạn văn học như Thi nhân Việt Nam của Hoài Thanh và Hoài Chân, Nhà văn hiện đại của Vũ Ngọc Phan

Văn học cách mạng từ sau khi Đảng ra đời đã chuyển hẳn theo khuynh hướng vô sản và liên tục phát triển Thơ ca Xô viết Nghệ Tĩnh, tuy giản dị, mộc mạc nhưng thấm đẫm tinh thần yêu nước Sau khi phong trào Xô viết Nghệ Tĩnh bị

Trang 16

16 V ăn học V iệt N am từ đầu thế kỷ X X đ ến 1945

khủng bố, xuất hiện nhiều tác phẩm văn thơ ữong tù Đến thời kỳ Mặt trận dân chủ văn học cách mạng nửa hợp pháp phát triển mạnh và tiếp đó là văn học thời kỳ Mặt

trận Việt Minh Nhật kỷ trong tù của Hồ Chí Minh, Từ ẩy của Tố Hữu là những đỉnh

cao của nền văn học cách mạng giai đoạn 1930 - 1945 Ngoài ra, những tác giả, tác

phẩm cùng được chú ý là phóng sự Ngục Kon Tum của Lê Vẫn Hiến, thơ của Sóng

Hồng, Xuân Thủy, lý luận phê bình của Hải Triều, Đặng Thai Mai

III NHỮNG ĐẶC ĐIẺM c ơ BẢN CỦA VĂN HỌC VIỆT NAM TỪ ĐÀU THẾ KỶ XX ĐẾN 1945

1 Nền văn học được hiện đại hóa

Hiện đại hóa văn học là quá trình văn học thoát khỏi hệ thống thi pháp của văn học trung đại để xác định một hệ thống thi pháp mới, thi pháp văn học hiện

đại Đặc trưng cơ bản của thi pháp văn học trung đại là tính ước lệ, sùng cổ và

phi ngã Văn học dân tộc phải từng bước thoát ra khỏi ảnh hưởng của văn hóa khu vực, ảnh hưởng của văn học Trung Hoa để hội nhập với văn học thế giới

Đầu thế kỷ XX, sự xâm lược của thực dân Pháp đã làm thay đổi toàn bộ

cơ cấu xã hội Việt Nam Xã hội phong kiến phương Đông trì trệ, lấy làng xã làm đơn vị kinh tế, hành chính đã bị luồng gió phương Tây làm đảo lộn Tầng lớp thị dân, công chức ngày càng đông lên Nền kinh tế hàng hóa phát triển làm cho đời sống thành thị ngày càng sôi động Sự thay đổi trong đời sống xã hội đã kẻo theo

sự thay đổi trong đời sống tinh thần, tâm lí, thị hiểu thẩm mỹ Văn học cũng cần phải thay đổi để đáp ứng những yêu cầu mới của thời đại Sự đổi mới văn học diễn ra ở hai cấp độ: cấp độ thường xuyên và cấp độ cao trào Trong lịch sử văn học đã có những giai đoạn văn học đặt ra được những vấn đề mới mẻ, đầy tính nhân văn như giai đoạn nửa sau thế kỉ XVIII đến nửa đầu thế kỷ XIX Tuy nhiên,

do sự hạn chế của lịch sử, các nhà văn chưa có điều kiện để tạo nên một cuộc cách tân lớn trong văn học Đến đầu thế kỷ XX, khi phương thức sản xuất, cơ cấu

xã hội mới hình thành, điều kiện cho một sự chuyển đổi đã chín muồi Sự thay đổi lần này là sự thay đổi cả phạm trù văn học, với hàng loạt những chuyển đổi

từ quan niệm văn học, quan niệm về con người, thể loại, văn tự, thi pháp

Công cuộc hiện đại hóa làm xuất hiện những tác giả văn học kiểu mới Văn học trung đại chủ yếu là sáng tác của các nhà nho Họ dùng văn chương để

Trang 17

Văn học Việt Nam từ đầu thế kv XX đến 1945 17

hành đạo, để giáo hóa, thực hiện lý tưởng tu tề trị binh Các cây bút nho học thời trunạ đại có thể chia làm ba loại: nhà nho hành đạo, nhà nho ẩn dật và nhà nho tài tử Cà ba loại tác siả này đều có điểm chung là chưa bao giờ coi viết văn là một nghề để kiếm sống Từ đầu thể kỷ XX, lần đầu tiên trong lịch sử, viết vãn trở thành một nghề chuyên nghiệp Nghề viết văn cũng bình đẳng như mọi nghề khác trong bối cảnh kinh tế thị trường, Tác phẩm văn chương trở thành hàng hóa Người viết phài quan tâm đến sở thích, nguyện vọng, tâm tư của độc giả Cùng vói sự xuất hiện của lớp nhà văn chuyên nghiệp là sự xuất hiện của lớp công chúng mới, với những thị hiếu thẩm mỳ mới

Ngôn ngữ, văn tự cũng có nhiều thay đổi lớn Suốt 10 thế kỷ, các nhà văn truna đại sử dụng chừ Hán và chữ Nôm để sáng tác văn học, tạo thành hai bộ phận vãn học: văn học chữ Hán và văn học chữ Nôm Văn học viết bằng chữ Hán được đề cao Văn học viết bằng ngôn ngữ dân tộc (chừ Nôm) nhìn chung không được coi trọng, thường bị coi là “nôm na mách qué” Đến đầu thế kỷ XX, văn học Việt Nam đã có sự thay đổi về ngôn ngữ, văn tự Văn học viết bằng chữ quốc ngữ lên ngôi, từng bước trở thành độc tôn, mặc dù đôi khi các nhà văn vẫn dùng tiếng Hán, tiếng Pháp để sáng tác Ngôn ngữ văn học giảm dần tính ước lệ, tiến gần hơn với ngôn ngữ đời sống, đủ sức diễn tả mọi trạng thái tinh tế và phức tạp của nội tâm con người cùng những bức tranh sinh hoạt xã hội, thiên nhiên, phong tục Câu thợ có sự chuyển đổi từ thơ điệu ngâm sang thơ điệu nói Câu vãn xuôi ngày càng đa dạng, hiện đại, thể hiện trong các sáng tác của Thạch Lam, Nguyễn Tuân, Vũ Trọng Phụng, Nam Cao

2 Văn học phát triển với nhịp độ nhanh chỏng, khẩn trư ơ ng

v ề quá trình hiện đại hoá của văn học Việt Nam, Vũ Ngọc Phan trong

Nhà văn hiện đại đã khẳng định: “Ở nước ta, một năm đã có thể kể như 30 năm của người” Năm 1917, trên tờ N am Phong, Phạm Quỳnh còn than phiền “có

nước mà chưa có văn”, nhưng chỉ vài chục năm sau, đã có một nền văn học bề thế với những tên tuổi Nhất Linh, Thạch Lam, Xuân Diệu, Thế Lữ, Nguyễn Bính, Nguyễn Tuân, Nguyễn Công Hoan, Vũ Trọng Phụng, Nam Cao Ngôn ngữ cũng

có những bước tiến vượt bậc Từ lối văn khẩu ngữ của Hồ Biểu Chánh với những

“ngôn từ đơn sơ chất phác” đến lời văn trong sáng, gọt dũa, đầy nhạc điệu của Tự lực văn đoàn đã là một bước tiến lớn; và từ lời vâịn 'Ệtp\íụỊỆ)g^y^a^|ậéiọAi^p)Ỵãn

Trang 18

18 V ăn h ọc V iệt N am từ đầu thế kỷ X X đ ế n 1945

đa thanh, linh hoạt, vừa giàu tính nghệ thuật, vừa gần gũi lời ăn tiếng nói hàng ngày của Nguyễn Công Hoan, Vũ Trọng Phụng, Nam Cao lại là một bước tiến vượt bậc nữa

Sở dĩ văn học Việt Nam có được tốc độ hiện đại hoá mau lẹ như vậy trước hết là do nó có điều kiện tiếp nhận thẳng kinh nghiệm của văn học hiện đại phương Tây thế kỷ XIX và XX Thơ mới lãng mạn chịu ảnh huởng của Baudelaire, Verlaine, Rimbaud, Valérv Các truyện ngắn chịu ảnh hường của Alphonse Daudet, Maupassant; Nguyễn Tuân, Nhất Linh, Khái Hưng chịu ảnh hưởng của Gide

Đi được nhanh như vậy trong công cuộc hiện đại hóa phải dựa vào công sức của nhiều người Nguyễn Đăng Mạnh nói đến một cuộc “chạy tiếp sức” trong

văn học Khi Tổ Tám ra đời, người ta xem như một sự kiện gây chấn động dư

luận, thế nhưng chỉ mấy năm sau, khi tiểu thuyết Tự lực văn đoàn xuất hiện thì

Tố Tâm đã thành cổ lồ Khi Thế Lữ xuất hiện, Hoài Thanh ví như một “vầng sao

chỏi sáng” trên trời thơ Việt Nam Nhưng khi Xuân Diệu có mặt trên thi đàn thì Thế Lữ - cũng theo Hoài Thanh có thể xếp vào “văn đàn bảo giám” Tiểu thuyết

Tự lực văn đoàn cũng chỉ được dư luận chú ý khoảng dăm năm Khi Vũ Trọng Phụng, Nam Cao xuất hiện thì thứ tiểu thuyết này trở nên sáo mòn, mất sinh khí

3 Văn học phân hỏa thành hai bộ phận (hợp pháp và bất hợp pháp) và nhiều khuynh hướng

Đển giai đoạn 1930 - 1945, sự phân chia các bộ phận, các khuynh hướng văn học càng trở nên rõ rệt hon Văn học giai đoạn này bao gồm hai bộ phận: vãn học công khai, hợp pháp và văn học bất hợp pháp Văn học họp pháp là bộ phận văn học được sáng tác và lưu hành công khai, được chính quyền thực dân cho phép Chịu sự kiểm soát, kiểm duyệt chặt chẽ, văn học hợp pháp khó thể hiện trực tiếp những nội dung yêu nước và cách mạng Tuy nhiên, bộ phận văn học này có tinh thần dân tộc và dân chủ sâu sắc, các nhà văn thường qua cách thể hiện kín đáo để gửi gắm nỗi lòng mình Chính bộ phận văn học này đã có đóng góp quyết định vào công cuộc hiện đại hóa văn học Văn học bất hợp pháp là bộ phận văn học cách mạng, với hai nhánh là văn học cách mạng theo kiểu cũ (Phan Bội Chầu, Phan Châu Trinh ) và văn học cách mạng vô sản

Trang 19

Văn học V iệt N am từ đầu thế kỷ X X đến 1945 19

v ề cơ bản văn học dần dần hình thành ba trào lưu chủ yếu: trào lưu văn học lãng mạn trào lưu văn học hiện thực phê phán, trào lưu văn học cách mạng

vô sản Văn học lãng mạn hướng vào thể hiện cái tôi cá nhân, ưu tiên cho tiếng nói của trái tim, của cảm xúc Khuynh hướng lãng mạn được khơi dòng từ Tản

Dà, Hoàng Ngọc Phách từ những năm hai mươi, rồi phát triển nhanh chóng trờ thành một trào lưu nổi bật trong những năm ba mươi của thế kỉ XX với tiểu thuyết Tự lực văn đoàn, Thơ mới, Thạch Lam, Nguyễn Tuân

Trào lưu hiện thực hình thành trong văn xuôi từ những năm 20, 30 với các tiểu thuyết của Hồ Biểu Chánh, Trọng Khiêm, truyện ngắn Phạm Duy Tốn, Nguyễn Bá Học , từ khoảng 1930 trở đi nhanh chóng có nhiều thành tựu và trở thành một trào lưu lớn Ở thời kỳ 1932 - 1935, khi văn học lãng mạn còn thắng thế, văn học hiện thực đã có những gương mặt xuất sắc như Nguyễn Công Hoan, Tam Lang, Tú Mỡ Đen giai đoạn 1936 -1939, văn học hiện thực phát triển rực rỡ, với cảm hứng phê phán mãnh liệt, gắn liền với nhiều tên tuổi lớn như Vũ Trọng Phụng, Ngô Tất Tố, Nguyễn Công Hoan, Nguyên Hồng Giai đoạn 1940 - 1945, trong không khí xã hội ngột ngạt, văn học hiện thực phê phán vẫn tiếp tục có những thành tựu* với sự xuất hiện của Nam Cao, Tô Hoài, Kim Lân, Bùi Hiển

Văn học cách mạng, đặc biệt là văn học cách mạng vô sản tràn đầy tinh thần chiến đấu, thấm đượm lòng yêu nước và tự hào dân tộc, với hình tượng cao đẹp nhất là người chiến sĩ cách mạng và người cộng sản Ngoài văn học vô sản ờ trong nước, còn có các sáng tác của các chiến sĩ cộng sản hoạt động ở nước ngoài, tiêu biểu là các tác phẩm của Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh

Các khuynh hướng, trào lưu văn học vừa đấu tranh lại vừa chi phối, ảnh hưởng lẫn nhau Chẳng hạn, giữa văn học hiện thực và văn học lãng mạn ỉuôn có

sự đối chọi về quan điểm sáng tác Nhất Chi Mai phê phán Vũ Trọng Phụng, Ngô Tất Tố; Vũ Trọng Phụng viết bài công kích Tự lực văn đoàn Tuy nhiên, trên thực tế Vũ Trọng Phụng, Nguyễn Công Hoan vẫn cho ra đời các tác phẩm lãng

mạn Tố Hữu có nhiều bài thơ chống lại Thơ mới (Dửng dung, Tháp đo ),

nhưng ông vẫn học tập cách diễn đạt của Thơ mới Nguyên Hồng là một nhà văn hiện thực nhưng các sáng tác của ông sau 1939 đã có sự giao thoa với văn học cách mạng

Trang 20

20 Văn học V iệt N am từ đầu thế kỷ X X đ ến 1945

IV THÀNH T ự ư CHỦ YÉU CỦA VĂN HỌC

1 Quan niệm mói về con người

Văn học trung đại ra đời và vận động trong lòng xã hội phong kiến Tuy cũng có những biến đổi nhất định, nhưng nhìn chung con người trong văn học trung đại chịu ảnh hường của hệ tư tường nho giáo, lấy đạo lý làm nền tảng Nhà văn, nhà thơ sáng tác là để “tải đạo”, nói “chí” Do ảnh hưởng từ mô hình vũ trụ thiên - địa - nhân, do quan niệm thiên - nhân tương đồng và cũng do hoàn cảnh sống, nhà văn quan niệm con người là một cá thể vũ trụ, mang dấu ấn của vũ trụ, thiên nhiên Con người thấy chân dung mình trong vóc mai, dáng liễu, vóc hạc, mình ve, mắt phượng, mặt rồng Cho đến đầu thế kỷ XX, ta vẫn thấy mẫu hình con người này trong thơ Phan Bội Châu, Huỳnh Thúc Kháng Ý thức cá nhân không phải không có, nhưng bị kìm tỏa, thường chỉ xuất hiện ở những cá tính sáng tạo lớn, vượt thoát ra khỏi quan niệm nho giáo

Văn học hiện đại đã dần phá vỡ những quan niệm về con người của văn học trung đại Con người thần dân mang tính chất lệ thuộc đã chuyển dần sang con người công dân, làm chủ mình, làm chủ giang sơn đất nước: “Người dân ta của dân ta/ Dân là dân nước nước là nước dân” (Phan Bội Châu) Trong văn học công khai, một xu thế mới xuất hiện; xu thế hướng về con người cá nhân, khẳng định con người cá nhân Hoài Thanh gọi thời đại Thơ mới là “thời đại chữ tôi”, đối lập với “thời đại chữ ta” trước đó Trước đây, trong văn học trung đại, đã xuất hiện nhân vật tự xưng danh như Hồ Xuân Hương, Nguyễn Công Trứ, Tú Xương Nhưng phải đến Tản Đà, xưng danh mới trở thành phổ biến Nhân vật trong tác phẩm Tản Đà là chính ông: “Con người cá nhân Tản Đà ngạo nghễ đi

giữa thơ và văn” (Xuân Diệu) Tiểu thuyết Tố Tâm của Hoàng Ngọc Phách là

cuộc đấu tranh bảo vệ quyền tự do của con người cá nhân chống lại lễ giáo phong kiến Con người trong Tự lực văn đoàn là con người cá nhân xung đột với lễ giáo

và gia đình truyền thống, mang khát vọng tìm lối thoát ly khỏi đạo đức, dư luận

để thoả mẫn quyền tự do của mình Thơ mới đào sâu vào cái tôi, thể hiện tiếng nói hưởng thụ một cách thành thực, cỏ lúc kiêu căng, nâng minh ỉên chồ cao nhất: “Ta là Một, là Riêng là Thứ Nhất/ Không có chi bè bạn nổi cùng ta” (Xuân Diệu) Văn học hiện thực phê phán xem con naười là sản phẩm của hoàn cảnh,

Trang 21

Văn học V iệt N am từ đầu thẻ kỷ X X đến 1945 21

quan tâm thể hiện những vấn đề xã hội, nhưng các nhà văn luôn thể hiện bất hạnh gẳn với bi kịch cá nhân Đến Nam Cao, nhiều vấn đề sâu sắc như khát vọng cống hiến, khát vọng sáng tạo, yêu cầu phát triển cá nhân đã được đặt ra đầy day dứt qua nhiều tác phẩm

2 Thành tựu chủ yếu của các thể loại văn học

a, Cách tân các th ể loại cũ và sáng tạo các thế loại mời

Thể loại là nơi hội tụ những thành tựu của mọi sự đổi mới Thời trung đại, người ta quan tâm nhiều hơn đến thể văn hành chức, văn xuôi nghệ thuật xếp ờ vị trí thứ yếu Thơ ca được sử dụng phổ biến nhưng phải tuân theo quy phạm nghiêm ngặt Nhìn chung, hệ thống thể loại văn học thời trung đại là một hệ thống khép kín, không phát huy được khả năng độc lập sáng tạo của người viết Bước vào đầu thế kỷ XX, để đáp ứng đòi hỏi của hiện thực, các nhà văn phải tìm cách cách tân, tìm tòi những thể loại mới

Phương thức đầu tiên là cách tân các thể loại cũ Các nhà văn hiện đại vẫn

sử dụng một số thể loại của văn học trung đại như thơ Đường luật, tiểu thuyết chương hồi, phú, văn tế, câu đối nhưng trên tinh thần cải biến Thơ Đường luật

của Tản Đà và tiểu thuyết Trùng Quang tâm sừ của Phan Bội Châu là những ví

dụ điển hình Đến Tản Đà, thơ Đường luật trở thành một thể loại bình dân, có thể dùng để viết về mọi chù đề, từ những chủ đề sang trọng như nỗi niềm non nước đển cảnh sinh hoạt hàng ngày Tàn Đà đã khéo dùng những từ bình dị, những cách ngắt nhịp, phối thanh linh hoạt, làm cho thơ Đường trở nên thanh thoát, phóng khoáng, đầy cảm xúc

Tiểu thuyết Trùng Quang tâm sử của Phan Bội Châu viết bằng chữ Hán,

sử dụng hình thức thể loại tiểu thuyết chương hồi Mặc dù sử dụng thể loại văn học cũ, nhưng Phan Bội Châu đã lồng vào đó nội dung mới của thời đại Nhân vật tác giả đã tự xưng “tôi”, đi vào tác phẩm công khai từ đầu, đối thoại với người đọc Có nhiều chỗ tác giả dừng lại bình luận các chi tiết cốt truyện, trực tiếp bộc lộ cảm xúc Tác phẩm lấy đề tài từ cuộc khởi nghĩa của Trần Quý Khoáng - tôn thất nhà Trần chống quân Minh, nhưng người viết lại cố tình hiện đại hoá lịch sử, làm cho người đọc nhận thấy ở đó những lời kêu gọi nhân dân đứng dậy chống Pháp

Trang 22

22 V ăn học V iệt N am từ đầu thế kỷ X X đ ến 1945

Phương thức thứ hai là sáng tạo các thể loại mới, Các thể loại văn học Việt Nam thời trung đại chủ yếu vay mượn từ Trung Quốc Văn học Việt Nam đầu thể kỷ XX đã mau chóng tiêp thu văn học phương Tây đê cho ra đời những thể ỉoại mới: phóng sự, kịch nói, thơ tự do, thơ tám chữ Hồ Biểu Chánh là một

ví dụ điển hình cho nỗ lực cách tân về thể loại Ban đầu ông viết tiểu thuyết theo

hình thức truyện thơ ( ơ tình lục, Vậy mới phái) Sau đó, ông chuyền sang viết mỏ phỏng tiểu thuyết phương Tây (Cay đắng mùi đời, Ngọn cỏ gió đùa ) Sau 1930,

Hồ Biểu chánh từ bỏ lối viết mô phỏng và ông đã có những tiểu thuyết xuất sắc

nhất trong sự nghiệp văn chương của mình ( Con nhà giàu, Con nhà nghèo ).

b, Các thể loại văn xuôi

- Thể loại truyện ngắn

Truyện ngắn là thể loại tự sự cỡ nhỏ, có ưu thể trong việc phản ánh nhanh nhạy mọi mặt của đời sống Do báo chi phát triển, truyện ngắn lại càng có nhiều đất để phát triển Trong khoảng ba mươi năm đầu thế kỷ, truyện ngắn chưa có nhiều thành tựu, tính chất giao thời còn thể hiện rõ, ngoại trừ các truyện ngắn của Nguyễn Ái Quốc khoảng những năm 20 trên đất Pháp được viết với một phong cách hiện đại kiểu châu Âu Những cây bút truyện ngắn hiện đại đầu tiên trong

nước là Phạm Duy Tốn (Sổng chết mặc bay, Con người Sở Khanh, Nước đời lắm nỗi ) và Nguyễn Bá Học (Câu chuyện gia tình, Có gan làm giàu, Câu chuyện nhà sư ) Đen giai đoạn 1930 - 1945, truyện ngắn đã phát triển thành thể loại hoàn chỉnh, với nhiều phong cách độc đáo Truyện ngắn Nguyễn Công Hoan là bức tranh sinh động về sự đối lập giàu nghèo trong xã hội, trong đó bọn quan lại, nhà giàu ăn chơi phè phỡn, bất nhân, thất đức, còn các tầng lóp dân nghèo bị đẩy vào cảnh bần cùng, tha hóa về nghệ thuật, Nguyễn Công Hoan là bậc thầy truyện ngắn trào phúng, với cách tổ chức cốt truyện hấp dẫn, tình huống giàu kịch tính, cách kết thúc bất ngờ, tiếng cười khỏe khoắn gần với tiếng cười dân gian Thạch Lam, cùng với Thanh Tịnh, Hồ Dzếnh, Xuân Diệu, Đỗ Tốn đã tạo ra một xu hướng truyện ngắn thường được gọi là dòng truyện ngắn trữ tình Các tác giả thường quan tâm đến số phận những con người bé nhỏ, thể hiện sự cảm thương cùa mình bằng một ngôn ngữ giàu chất trữ tình Nam Cao là cây bút truyện ngắn xuất sắc trên cả hai đề tài nông dân và tiểu tư sản trí thức, trong đỏ

1 Các truyện ngắn của Phạm Duy Tốn và Nguyễn Bá Học đều đăng trên Nam Phong tạp chí.

Trang 23

Văn học V iệt N am từ đầu thố kỳ X X đến 1945 23

có những tác phẩm có thể xem là đỉnh cao của truyện ngẳn hiện đại như Chí Phèo Lão Hạc, Đời thừa Truyện ngắn Nam Cao lên tiếng báo động về sự tha

hóa, sự hủy diệt nhân cách của con người và đặt ra một cách ám ảnh vân đê quyền sống, quvền phát triển cá nhân trong bối cảnh xã hội ngột ngạt thời kỳ

1940 - 1945 Ngoài ra, các truyện ngẳn của Tô Hoài, Kim Lân, Bùi Hiển cũng có những thành công nhất định, với cách viết thiên về miêu tả phong tục, đưa cái hàng ngày vào trong truyện và nghệ thuật phân tích tâm lý khá tinh vi

- Thế loại tiểu thuyết

Nhiều người cho rằng tác phẩm Truyện thầy Lazarô Phiền của Nguyễn

Trọng Quản (1887) là cột mốc đánh dấu sự ra đời của thể loại tiểu thuyết Việt Nam hiện đại Tác phẩm dài 32 trang, thể hiện một câu chuyện bi kịch trong hôn nhân, gia đình Cách viết của Nguyễn Trọng Quàn đã chịu ảnh hưởng nhiều của tiểu thuyết Pháp thế kỹ XIX Từ khoảng đầu thế kỷ XX đến những năm 20, ở Nam bộ xuất hiện hàng loạt tiểu thuyết của Trần Thiên Trung, Trương Duy Toàn,

Hồ Biểu Chánh, Nguyễn Chánh sắt Các tác phẩm của họ vừa chịu ảnh hường của tiểu thuyết Trung Hoa, vừa học tập các hình thức tiểu thuyết tâm lý, tiêu thuyết phiêu lưu phương Tây Tuy nhiên, các tác giả đã cố gắng đưa vào câu chuyện những vấn đề của đương thời, nhiều tác phẩm đã thể hiện được bối cảnh của đất nước và con người Việt Nam

Từ 1920 đến 1932 là giai đoạn phát triển mạnh mẽ của tiểu thuyết văn xuôi tiếng Việt Đội ngũ sáng tác đông thêm, tác phẩm xuất hiện nhiều Riêng ở địa bàn Nam bộ đã có 32 tác giả tham gia sáng tác tiểu thuyết (theo địa chí văn hoá thành phố Hồ Chí Minh) Các cây bút nổi bật là Lê Hoằng Mưu, Nguyễn Chảnh Sắt, Phú Đức, Bửu Đình, Tân Dân Tử Trong đó, cây bút tiêu biểu nhất

là Hồ Biểu Chánh Ông là người mở ra xu hướng hiện thực trong tiểu thuyết hiện đại Các tiểu thuyết giai đoạn này khá đa dạng: tiểu thuyết ái tinh, tiểu thuyết lịch

sử, tiểu thuyết phiêu lưu, tiểu thuyết kiếm hiệp, tiểu thuyết xã hội

Ở miền Bắc, sự xuất hiện của tiểu thuyết có muộn hơn Sau các truyện ngắn của Nguyễn Bá Học, Phạm Duy Tổn, từ 1920 trở đi, xuất hiện những tiểu

thuyết đầu tiên như Cành lê điểm tuyết, Trần ai tri kỷ của Đặng Trần Phất Năm

1924 Trọng Khiêm cho xuất bản Kim Anh Lệ Sứ Năm 1925, Nguyễn Trọng

Trang 24

2 4 V ăn học V iệt N am từ đầu th ể ký X X đ ế n 1945

Thuật cho in Quả dưa đỏ Tổ Tâm (1925) cùa Hoàng Ngọc Phách là cột mốc mở

đầu cho tiểu thuyết hiện đại theo khuynh hướng lãng mạn

Giai đoạn 1930 - 1945, tiểu thuyết Việt Nam đã đạt được nhiều thành tựu rực rỡ với nhiều khuynh hướng, trào lưu Từ 1933, nhóm Tự lực văn đoàn, với các cây bút chủ đạo là Nhất Linh, Khái Hưng đã đem đến cho tiểu thuyết một sự cách tân khá toàn diện từ quan niệm về con người, xây đựng nhân vật, kết cấu, ngôn ngữ Tiểu thuyết Tự lực văn đoàn đề cao con người cá nhân, đề cao tinh yêu tự do ngoài vòng lễ giáo, bảo vệ cho quyền lợi người phụ nữ v ề mặt nghệ thuật, tiểu thuyết Tự lực văn đoàn thành công nhờ cốt truyện giản dị, nghệ thuật miêu tả tâm lý, cảm giác tinh vi, ngôn ngữ trong sáng, giàu nhạc điệu

Mở đầu với các tiểu thuyết mang màu sắc hiện thực - đạo lý của Hồ Biểu Chánh, đến giai đoạn 1930-1945, tiểu thuyết hiện thực đã vận động nhanh chóng, với nhiều thành tựu xuất sắc Tiểu thuyết hiện thực phong phú về đề tài và cách thể hiện, thường hướng vào phản ánh những vấn đề xã hội nóng bỏng, các xung đột mang tính giai cấp, xây dựng các tính cách điển hình trong hoàn cảnh điển

hình Ngô Tất Tố qua Tắt đèn đã phơi bày thảm cảnh khốn khổ, cùng đường của người nông dân VQ Trọng Phụng qua Giông tổ, s ổ đỏ, Vỡ đê có thiên hướng tái

hiện những bức tranh toàn cảnh rộng lớn, trong đó những xung đột xẫ hội hiện ra một cách gay gắt Sức mạnh tố cáo, phê phán mãnh liệt là mặt mạnh của ngòi bút

Vũ Trọng Phụng, sống mòn của Nam Cao, ra đời năm 1944 là đỉnh cao cuối

cùng của tiểu thuyết hiện thực phê phán, là tiếng nói cảm thông sâu sắc với những kiếp trí thức “sống mòn” , là một nỗ lực cách tân thể loại với cách viết đào sâu vào nội tâm, tâm lý, cách xây dựng nhân vật tính cách - tư tường, ngôn ngữ

đa thanh hiện đại

- Thể loại phóng sự

Phóng sự là thể loại văn học - báo chí mới du nhập vào nước ta Phóng sự

đáp ứng nhu cầu của công chúng muốn tiếp cận với sự thực của đời sống Bân án chế độ thực dân Pháp của Nguyễn Ái Quốc xuất bản ờ Paris năm 1925 là một

thiên phóng sự - điều tra chân thực, vừa giàu chất báo chí, vừa giàu chất văn học Giá trị nổi bật của tác phẩm trước hết là tính chất phê phán mãnh liệt của I1Ó Nó kết án, luận tội chủ nghĩa thực dân Pháp không chỉ ở Việt Nam, ờ Đông Dương

mà còn ở khắp các thuộc địa khác: An giê ri, Tuynidi, Tây Phi Ở trong nước,

Trang 25

V ăn hoc V iệt N am từ đầu thế kỷ X X dổn 1945 25

nhừ học tập cách viết của các cây bút phương Tây, lại được tiếp sức bởi không khi của thời đại bởi nền báo chí non trẻ nhưng phát triển sôi động, thể loại phóng

sự trong văn học V iệt Nam đã ra đời và nhanh chóng đạt được nhiều thành tựu

rực rỡ trên văn đàn văn học công khai Sau phóng sự đầu tiên Tói kéo xe của Tam Lang năm 1932, có thể lần lượt kể đến Vũ Trọng Phụng với Cạm bẫy người (1933), Kỹ nghệ lấy Tâv (1934), Cơm thầy cơm cô (1936), Lục xì (1937); Trọng Lang với Trong làng chạv (1935), Gà chọi (1935), Đồng bóng (1936), Hà Nội lầm than (1937); Ngô Tất Tố với Tập án cái đình (1939), Việc làng (1940); Nguyễn Đình Lạp với Thanh niên trụy lạc (1937-1938), Chợ phiên đi tới đáu (1937), Cường hào (1938) v.v Đặc biệt, Vũ Trọng Phụng được xem là “ông

vua phóng sự đất Bắc”, với nghệ thuật viết phóng sự sắc sảo, phơi bày các mặt

trái cùa xã hội Thời kỳ M ặt trận dân chủ, Ngục Konỉum của Lê Vãn Hiến là một

thiên phóng sự rất có giá trị về nhà tù thực dân, phơi bày tội ác của bọn chúng đối với những chiến sĩ cách mạng

c, Thơ

Trong 30 năm đầu thế kỷ XX, thơ Việt Nam chưa có nhiều thành tựu Các nhà thơ lúc này vẫn mượn những hình thức thơ truyền thống để bộc lộ cảm xúc Thơ Đường vẫn chiếm ưu thể và đã bị bạn đọc dần dần quay lưng Cũng có những nhà thơ đã có sự tìm tòi tìm một hướng đi mới, tiêu biểu là Tàn Đà, Á Nam Trần Tuấn Khải Nhưng những cố gắng của họ chưa mang lại sự đổi mới thực sự cho thơ V iệt Nam đầu thế kỷ XX Phải đến năm 1932, khi phong trào Thơ mới ra đời, thơ ca dân tộc mới thực sự chuyển sang phạm trù thơ hiện đại

Có thể xem phong trào Thơ mới là cuộc cách mạng trong thơ ca tiếng Việt Thơ

mới là tiếng nói của cái tôi cá nhân, cá thể Cái tôi ấy công khai và mạnh mẽ bộc

lộ nhu cầu giải phóng cá nhân, khát vọng hưởng thụ những hương sắc của cuộc đời Thơ mới cũng là tiếng nói bẩt hòa với xã hội, tìm cách chạy trốn vào cõi tiên, vào tình yêu, vào thiên nhiên, vào tôn giáo Thơ mới cũng tạo ra những cách biểu đạt mới, phá bỏ tính ước lệ, sáo mòn của thơ ca cổ điển, chuyển từ câu thơ điệu ngâm sang câu thơ điệu nói về mặt thể loại, Thơ mới là “cuộc tổng duyệt về thể loại” (lời Hoài Thanh), vừa cách tân các thể loại truyền thống, vừa sáng tạo các thể thơ mới như thơ tự do, thơ tám chữ

Trang 26

26 V ăn h ọ c V iệt N am từ đầu thế kỷ X X đến 1945

Mặc dầu chỉ tồn tại hơn 10 năm, Thơ mới đã đóng góp cho nền thơ dân tộc nhiều tài năng và phong cách thơ đa dạng Ở chặng đầu tiên, Thể L ữ là nhà thơ tiêu biểu, bên cạnh đó có sự đóng góp của Huy Thông, Lưu Trọng Lư, Nguyễn Nhược Pháp Ở chặng tiếp theo, Thơ mới phát triển đến đỉnh cao, với

nhiều tài năng tỏa sáng: Huy Cận với Lửa thiêng, Xuân Diệu với Thơ thơ và Gửi hương cho giỏ, Hàn M ặc Tử với Gái quê, Thơ điên, Chế Lan Viên với Điêu tàn

Ở chặng cuối, Thơ mới có phần bế tắc Tuy nhiên, cũng cần ghi nhận những nỗ lực cách tân hình thức của nhóm Xuân thu nhã tập (Nguyễn Xuân Sanh, Nguyễn Lương Ngọc, Đoàn Phú Tứ), nhóm Dạ đài (Trần Mai Châu, Trần Dần, Vũ Hoàng Địch) Ở chặng này, tạo được dấu ấn nhất là nhóm thơ Thâm Tâm, Trần Huyền Trân, Nguyễn Bính Họ có những bài thơ thể hiện niềm bi phẫn, ca ngợi các tráng sĩ lên đường, bóng gió nói về tâm sự của người dân mất nước trong đêm trước của cuộc cách mạng

Thơ ca cách mạng cũng có nhiều đóng góp, trước hết là về mặt nội dung Thơ ca Phan Bội Châu là những lời tâm huyết, tràn đầy nhiệt tình yêu nước và ý thức công dân, thúc giục mọi người phải hành động Thời kỳ Mặt trận dân chủ,

thơ ca cách mạng đã có bước phát triển mới, trong đó Từ ấy của Tố Hữu là đỉnh

cao Thơ Tố Hữu là tiếng nói của người cộng sản tha thiết với lý tưởng, nguyện

trung thành với lý tường M ột đỉnh cao khác của thơ cách mạng là tập Nhật ký trong tù của Hồ Chí Minh, sáng tác trong khoảng 1942 -1943 trong nhà tù của

Tường Giới Thạch ở Trung Quốc Tập thơ là tiếng nói của một tâm hồn “đại nhân, đại trí, đại đũng”, lả một hiện tượng độc đáo, một “hòn ngọc” vô giá của nền thơ ca dân tộc

d, Kịch nói

Kịch nói là m ột loại hình sân khấu hiện đại Ở thời trung đại, các thể loại sân khấu chính là tuồng, chèo, cải lương Đặc điểm của các loại hình nghệ thuật này là tính ước lệ, khuôn mẫu, cách điệu Bước sang thế kỷ XX, nghệ thuật sân khấu truyền thống không còn đáp ứng được thị hiếu của lóp công chúng mới «• công chúng đô thị Kịch nói ra đời đáp úng được thị hiếu của lớp công chúng này Những kịch bản kịch nói đầu tiên được dịch từ các vở kịch của Molière,

Comeille Vờ kịch nói đầu tiên của Việt Nam gây được sự chú ý là Chén thuốc độc của Vũ Đinh Long Tác phẩm mặc dù còn đơn giản, nhưng đã phản ánh đư­

Trang 27

V ăn học V iệt N am từ đầu thế kỷ X X đến 1945 27

ợc tình trạng xuống cấp của đạo đức xã hội, sự rạn vỡ cùa nền tảng gia đinh, Kịch nói từ sau năm 1930 đã phát triển phong phú hon, có những tác giả tạo

được dấu ấn rõ nét như Vi Huyền Đẳc, Đoàn Phú Tú, Nguyễn Huy Tường Kim Tiền cùa Vi Huyền Đắc và Vũ Như Tô của Nguyễn Huy Tường là những thành

côns tiêu biổu của kịch nói giai đoạn này

V KÉT LUẬN

Thời kv văn học từ đầu thế kỷ XX đến 1945 có một ý nghĩa hết sức quan trọng trong lịch sử văn học dân tộc, nó khép lại 10 thế kỷ của văn học trung đại

và mở ra một phạm trù văn học mới: phạm trù văn học hiện đại

Cùng với sự đổi thay của hình thái kinh tế xã hội, công cuộc hiện đại hóa cũng được khởi động và văn học được hiện đại hóa với một tốc độ khá nhanh Nếu như ờ 30 năm đầu thế kỷ XX, nền văn học vẫn mang tính chất giao thời thì đến giai đoạn 1930-1945, nền văn học đã thực sự có khuôn mặt hiện đại, phát triển rực rỡ với nhiều trào lưu, nhiều khuynh hướng và trào lưu nào cũng có thành tựu xuất sắc Văn học thời kỳ này tiếp tục phát huy những truyền thống tư tường quý báu của nền văn học dân tộc: chủ nghĩa yêu nước, tinh thần nhân đạo, tinh thần đân chủ, đồng thời bổ sung thêm những tư tưởng mới của thời đại như khát vọng canh tân đất nước, ý thức cá nhân, lý tường giài phóng nhân dân lao động, v ề mặt hình thức, tất cả các thể loại từ văn xuôi, thơ, kịch, ký đều có sự cách tân mới mẻ

Để có được những thành tựu xuất sắc như vậy trong một thời gian không dài, các nhà văn Việt Nam phải tiếp thu kinh nghiệm từ vãn học hiện đại phương Tây thế kỷ XIX, XX Nhưng nguyên nhân chính tạo nên thành công vẫn là xuất phát từ tiềm lực văn hóa dồi dào, mãnh liệt của dân tộc Việt Nam Tiềm lực ấy được phát huy bởi một đội ngũ trí thức Tây học tâm huyết với tiếng mẹ đẻ, với văn chương và có khát vọng xây dựng nền văn hóa, văn học hiện đại

c HƯỞNG DẲN HỌC TẬP

I TÀI LIỆU THAM KHẢO CHÍNH

1 Nhiều tác giả, Văn học Việt Nam (1900-1945), Nxb Giáo dục, HN, 1998.

Trang 28

28 Văn học V iệt N am từ đầu th ế kỷ X X đ ến 1945

2 Nhiều tác giả, Văn học Việt Nam hiện đại, tập 1, Nxb Đại học Sư phạm, HN,

2008

3 Mã Giang Lân (chủ biên), Quá trình hiện đại hóa văn học Việt Nam ỉ 900 -

ỉ 945, Nxb Văn hóa thông tin, HN, 2000.

4 Nguyễn Đăng Mạnh, Giáo trình lịch sử văn học Việt Nam Ị 930 - 1945, Nxb

Đại học Quốc gia, HN, 2000

5 Vũ Ngọc Phan, Nhà văn hiện đại, (tái bản), Nxb Hội nhà văn, HN, 2000.

6 Hoài Thanh, Hoài Chân, Thi nhãn Việt Nam, (tái bân), Nxb Văn học, HN,

1998

II CÂU HỎI ÔN TẬP, BÀI TẬP THỰC HÀNH, T ự NGHIÊN c ứ u

1 Phân tích những tác động của bối cảnh lịch sử, xã hội và văn hóa đến quá trình vận động, phát triển của văn học Việt Nam từ đầu thế kỷ XX đến 1945

2 Tại sao nói hiện đại hóa văn học Việt Nam đầu thế kỷ XX là một tất yếu, khách quan? Nêu các chặng đường và thành tựu hiện đại hóa văn học của mỗi chặng

3 Phân tích các đặc điểm cơ bản của văn học Việt Nam thời kỳ đầu thế kỷ XX đến 1945

4 Nêu đặc điểm, thành tựu chủ yếu của các trào lưu văn học cách mạng vô sản, văn học lãng mạn và văn học hiện thực phê phán

5 Nêu thành tựu của các thể loại: truyện ngắn, tiểu thuyết, phóng sự, thơ, kịch nói trong văn học Việt Nam thời kỳ đầu thế kỷ XX đến 1945

6 Đánh giá chung về vị trí của thời kỳ văn học từ đầu thế kỉ XX đến 1945 trong lịch sử văn học dân tộc

Trang 29

V ăn học V iệt N a m từ đầu thế kỷ X X dén 1945 29

Chương 2

BA T R À O LƯU VĂN HỌC CHỦ YẾU: VĂN HỌC LÂNG MẠN,

VÃN H Ọ C H IỆN TH Ự C PH Ê PHÁN, VĂN HỌC CÁCH MẠNG VÔ

SẢN

A YÊU CÀU CẦN ĐẠT

- Nắm được bối cảnh lịch sử, xã hội, văn hóa tư tưởng đầu thế kỷ XX đến

1945, những tác động của bối cảnh ấy dẫn đến sự hình thành và vận động của các trào lưu văn học

- Hiểu được quan điểm sáng tác, đặc trưng nghệ thuật, thành tựu nổi bật của các trào lưu văn học

- Nắm được các tác giả, tác phẩm tiêu biểu của các trào lưu văn học

B, NỘI DUNG

I KHÁI QUÁT TRÀO LƯU VĂN HỌC LÃNG MẠN

1 Khái niệm chủ nghĩa lãng mạn và chủ nghĩa lãng mạn trong văn học

Chủ nghĩa lãng mạn là một trào lưu tư tường và nghệ thuật của văn hóa châu Âu, bao trùm mọi loại hình nghệ thuật và khoa học, thời kỳ phồn thịnh của trào lưu này là cuối thế kỷ XVIII đến nửa đầu thế kỷ XIX Trong văn học, chủ nghĩa lãng mạn là một khuynh hướng, trào lưu văn học lớn, thu hút hàng loạt cây bút đầy tài năng ở Pháp, Đức, Anh, Nga Vào thế kỷ XVIII, từ lãng mạn vốn được dùng để chỉ tất cả những cái g là hoang đường, kỳ lạ, chỉ có trong sách vở chứ không tồn tại trên thực tế Vào khoảng giữa thể kỷ XVIII, nửa đầu thế kỷ XIX, chủ nghĩa lãng mạn trở thành một thuật ngữ dùng để chỉ một khuynh hướng, trào lưu văn học mới, đổi lập với chủ nghĩa cổ điển

Những đặc điểm tiêu biểu trong mô hình thế giới và quan điểm thẩm mỹ của các nhà văn sáng tác theo chủ nghĩa lãng mạn là:

Trang 30

30 V ăn học Việt N am từ đầu thế kỳ X X đ ển 1945

- Chủ nghĩa lãng mạn chủ trương phủ nhận thực tại, chạy trốn thực tại mà

họ cho là tầm thường, giả dổi, ngột ngạt Từ đó các nhà văn thường rút lui vào cái tôi cá nhân, vào thế giới nội tâm Cái tôi cá nhân của chủ nghĩa lãng mạn là cái tôi cô đơn, đứng cao hơn hoàn cảnh, tách biệt với xã hội, khao khát cái phi thường, mới lạ

- Chủ nghĩa lãng mạn đề cao vai trò của trực giác, vô thức, đề cao trái tim, cảm xúc con người Các nhà văn chủ trương để tinh cảm tuôn trào tự nhiên, thích

“tô màu ngoại giới”, say mê với những vận động bí ẩn của tâm hồn

- Các nhà văn iãng mạn ý thức đầy đủ vai trò của cá tính sáng tạo, vai trò của chủ thể nhà văn, chù trương chống lại sự gò bó của chủ nghĩa cồ điển, bác bỏ tính quy phạm trong mỹ học, giải phóng trí tưởng tượng của nhà văn và m ở rộng các hình thức biểu hiện nghệ thuật

2 Cơ sở xã hội, văn hóa, tư tưởng làm xuất hiện trào lưu lãng mạn trong văn học Việt Nam

Sau cuộc khởi nghĩa Hương Khê của Phan Đình Phùng thất bại (1895), thực dân Pháp đã đặt ách cai trị lên toàn cõi Đông Dương Chế độ thực dân, nửa phong kiến được thiết lập, làm thay đổi toàn bộ cơ cấu xã hội Thực dân Pháp đẩy mạnh khai thác thuộc địa, kéo theo đó là sự phát triển nhanh chỏng của các

đô thị, sự hình thành các giai cấp, các tầng lớp mới trong xã hội: giai cấp công nhân, giai cấp tư sản, tầng lớp tiểu tư sản Văn minh, văn hóa phương Tây đã tác động mạnh đến mọi mặt của đời sống, ban đầu là ở phương diện sinh hoạt vật chất, sau đó là ở phương diện văn hóa, tinh thần, thẩm mỹ Giai cấp tư sản, một

bộ phận tiểu tư sản đã hướng theo một lối sinh hoạt “vãn minh” kiểu phương Tây: ở nhà lầu, đi ô tô, dùng đèn điện, quạt điện, đi nghe hòa nhạc, thi sắc đẹp Lối sống mới đã làm thay đổi những tư tưởng, tình cảm, cảm xúc “Ta không thể vui cái vui ngầy trước, buồn cái buồn ngày trước, yêu ghét, giận hờn nhất nhất như ngày trước” 1

Mặt khác, sự bế tắc của các phong trào yêu nước và cách mạng trong những thập kỷ đầu của thế kỷ XX, cùng với các cuộc khủng bổ đã man của thực

1 Hoài Thanh - Hoài Chân, Thi nhân Việt Nam, Nxb Văn học, HN, 1995, tr 16.

Trang 31

Văn học V iệt N am từ đầu thế kỷ X X đến 1945 31

dân Pháp đối với phong trào cách mạng đã nàv sinh tâm lý thoát ly, trước hết là ở tầne lớp tiểu tư sản thành thị Thêm vào đó, thực dân Pháp cũng khuyên khích thanh niên hướna vào những kiểu ăn chơi, đua đòi trụy lạc, làm họ xa dần cách mạng Trên cơ sở xã hội này, văn học lãng mạn đã ra đời và nhanh chóng phát triển, đặc biệt là từ khoảng 1932 đến 1938 Đồng Chí Trường Chinh đã nhận định: “Sau cơn khủng bố trắng 1930-1931, một sự buồn rầu, u uất tràn ngập tâm hồn nhân dân Việt Nam Văn chương lãng mạn của Tự lực văn đoàn ra đời Giai cấp tư sản dân tộc không dám đấu tranh bằng chính trị và quân sự chống đế quốc nữa bèn chuyển ra đấu tranh bằng văn hóa chống phong kiến quan liêu (các báo

Phong hóa, Ngày nay, tủ sách Tự lực văn đoàn)".

Một tiền đề nữa cũng góp phần làm nảy sinh chủ nghĩa lãng mạn trong vãn học Việt Nam là ảnh hưởng của văn học phương Tây, trước hết là văn học Pháp, Xã hội Việt Nam lúc bấy giờ đã đủ điều kiện để ý thức cá nhân xuất hiện

Sự tiếp xúc với văn học Pháp, với các đại diện tiêu biểu như Chateaubriand, Hugo, Lamartine, Baudelaire càng làm cho ý thức ấy thêm sâu sắc trong bộ phận thanh niên trí thức cầm bút lúc bấy giờ như Thế Lữ, Xuân Diệu, Huy Cận, Chế Lan Viên

Điều đáng chú ý là văn học lãng mạn là một trào lưu lớn, phong phú, phức tạp, gồm nhiều xu hướng, nhiều trường phái khác nhau Trào lưu này bắt đầu hinh thành với thơ văn Tản Đà, Tố Tâm của Hoàng Ngọc Phách và phát triển điển hình ở giai đoạn 1930-1945 với các hiện tượng tiêu biểu: tiểu thuyết Tự lực văn đoàn, phong trào Thơ mới, Thạch Lam, Nguyễn Tuân

3 Quá trình hình thành, vận động của trào lưu lãng mạn

a) S ự hình thành khuynh hưởng lãng mạn trong văn học giai đoạn 1900-1930

Trong thơ, xu hướng lãng mạn bẳt đầu xuất hiện với Tương Phố, Á Nam Trần Tuấn Khải, nhưng rõ nhất là Tản Đà Thất vọng trước cuộc sống, đau lòng ữong đời tư, Tản Đà đã tìm cách giải thoát vào thé giới nội tâm, vào tưởng tượng Không gặp được người đẹp trong đời thực, Tản Đà tìm đến những người đẹp đã thành thiên cổ: Ngu Cơ, Tây Thi, Dương Quý Phi, Hằng Nga Ông ca ngợi và tìm kiếm tình yêu tự do, không bị ràng buộc với những kỹ nữ tài sắc Người du khách

và người kỹ nữ và hai hình tượng phổ biến trong nhiều bài hát nói, bài thơ, truyện

Trang 32

32 V ăn h ọc V iệt N am từ đầu thế kỳ X X đ ến 1945

ngắn của ông (Cánh bèo, Đời đáng chán, Thề non nước ) Tản Đà đã “đưa đến

cho thi đàn một hương vị lạ: sự ngang trái của những tình cảm, ý tưởng không chịu khép vào khuôn khổ, sự bộc bạch không chút dẩu diếm mọi tính nết ngõ ngách trong con người mình, nó làm xao xuyến tâm hồn cả một thể hệ thanh niên túc bấy giờ vốn đang thẹn thùng, e ấp, khao khát yêu đương, khao khát được sổng mạnh dạn với chính mình, sổng hết mình”2, v ề hình thức, Tản Đà đã vận dụng sáng tạo nhiều thể thơ ca cổ điển và dân gian (thơ Đường luật, thơ cổ phong, lục bát, hát nói ), sử dụng chúng một cách phóng túng, tài hoa, biển hóa Chính vì thế, Hoài

Thanh trong Thi nhãn Việt Nam cho rẳng Tản Đà là người “đã dạo những bản đàn

mờ đầu” cho sự xuất hiện phong trào Thơ mới

Trong văn xuôi, bên cạnh những Giấc mộng lớn, Giấc mộng con của Tản

Đà thì sự xuất hiện Tổ Tâm của Hoàng Ngọc Phách (năm 1925) đã báo hiệu sự

mờ đầu của xu hướng lãng mạn trong tiểu thuyết Việt Nam Qua mối tình trong sáng, say đắm và bất hạnh của Tố Tâm và Đạm Thủy, tác giả đã nhìn thấy những ràng buộc khắt khe, giả dối của lễ giáo phong kiến, đề cao tình yêu tự do của nam

nữ thanh niên Với Tố Tâm, Hoàng Ngọc Phách cũng có nhiều đổi mới trong

cách viết tiểu thuyết: chú trọng đào sâu vào thế giới bên trong, phát hiện những

éo le, mâu thuẫn trong nội tâm nhân vật Tổ Tâm cũng sử dụng thành công kết

cấu tâm lý, giảm bớt vai trò của cốt truyện và các tình huống ly kỳ Tuy vẫn còn dấu vết văn biền ngẫu, nhưng câu văn đã trong sáng, nhẹ nhàng, gọn gàng hơn

trước nhiều Có thể nói, nhiều vẩn đề đặt ra ở Tố Tâm sẽ được tiếp tục giải quyết

với mức độ sâu sắc hơn ở tiểu thuyết Tự lực văn đoàn

b) Trào lưu văn học lãng mạn giai đoạn 1930 -1945

Đển giai đoạn 1930-1945, trào lưu lãng mạn đã hình thảnh một cách rõ nét, với những thành tựu xuất sắc: tiểu thuyết Tự lực văn đoàn, phong trào Thơ mới, Thạch Lam, Nguyễn Tuân Thạch Lam, Nguyễn Tuân sẽ được trình bày ờ các chương riêng Ở đây, chỉ khái quát về văn xuôi Tự lực văn đoàn và phong trào Thơ mới

* Tự lực văn đoàn: Nói đến văn xuôi lãng mạn không thể không nhắc đến

Tự lực văn đoàn Tự lực vãn đoàn là tên gọi của một tổ chức văn học do Nhất

2 Nguyễn Huệ Chi, "Tản Đ à” , in trong Từ điển văn học bộ mới, Nxb Thế giới, HN, 2004, tr 1591.

Trang 33

Ván học Việt N am từ đầu thế kỹ X X dến 1945 33

Linh đứng đầu có tôn chỉ riêng, xuất hiện trên văn đàn công khai năm 1932, hoạt độne mạnh trong khoảng thời gian 1932 - 1940 Tự lực văn đoàn lấy tờ tuần báo

Phong hóa và sau đỏ là tờ Ngày nay làm cơ quan ngôn luận, phổ biến sáng tác

Họ có một nhà xuất bản riêng: nhà xuất bản Đời nay Tự lực vãn đoàn thường

được xem là trào lưu văn học lãng mạn, nhưng thật ra không thuần nhất, khuynh hướng tư tưởng và nghệ thuật của các thành viên trong nhóm phân hóa Chỉ có Nhất Linh, Khái Hưng, Hoàng Đạo là ba nhân vật trụ cột đã đề xướng và thể hiện đầy đủ nhất đường lối chủ trương của nhóm Đây cũng là ba nhà văn viết tiểu thuyết nhiều nhất trong Tự lực văn đoàn Do đó nói tiểu thuyết Tự lực văn đoàn chủ yếu là nói đến tiểu thuyết của ba nhà văn này Tiểu thuyết Tự lực văn đoàn vận động qua ba giai đoạn:

- Từ 1932 đến 1935

Đây ỉà thời kỳ nhóm Tự lực văn đoàn ra đời và nhanh chóng phát huy ảnh hưởng của mình trên lĩnh vực văn hóa, vãn học Khéo lợi đụng tâm lý thoát ly của thời đại, bằng cách viết học tập được ở phương Tây, tiểu thuyết Tự lực văn đoàn nhanh chóng tự phân biệt với những tiểu thuyết đương thời, trở thành món

ăn tinh thần hợp khẩu vị của nam nữ thanh niên thành thị lúc bấy giờ Giai đoạn này, Tự lực văn đoàn tập trung vào chủ đề tự do yêu đương, đề cao con người cá

nhân Các tiểu thuyết có tiếng thời kỳ này: Hồn bướm mơ tiên (1933 - Khái Hưng), Nửa chừng xuân (1934 - Khái Hưng), Đoạn tuyệt (1934 - Nhất Linh).

Nhìn chung ở giai đoạn này, nhiều tiểu thuyết của Tự lực văn đoàn có giá trị hiện thực và nhân đạo Chủ nghĩa cá nhân tư sản do Tự lực văn đoàn đề xướng còn có nhiều khía cạnh tích cực Nhiều nhân vật (đặc biệt là các nhân vật nữ) chiếm được cảm tình của người đọc

- Từ 1936 đến Ỉ939

Đây là thời kỳ "đắc ý ” của giấc mộng cải lương tư sàn của Tự iực văn đoàn Bởi vì lúc này, Đảng ta chủ trương tạm thời gác lại những khẩu hiệu đấu tranh giai cấp quyết liệt nhất để tập trung đòi tự do dân chủ, cải thiện đời sống dân sinh Dưới áp lực đấu tranh của quần chúng, thực dân Pháp cũng buộc phải nới rộng quyền tự do, dân chủ Từ lĩnh vực văn hóa, văn học, Tự lực văn đoàn vội vàng phát huy ảnh hưởng sang cả lĩnh vực chính trị Họ lập “Hội ánh sáng”,

Trang 34

34 Văn học Việt N am từ đầu th ế kỷ X X đ ến 1945

dựng các “Thôn ánh sáng” ở Phúc Xá , Voi Phục, Bất Bạt Cùng với những hoạt động chính trị, Tự lực văn đoàn đã cho ra đời một loạt tiểu thuyết luận đề cổ

động cho đường lối cải lương của mình: Hai vẻ đẹp của Nhất Linh (1936), Gia đình của Khái Hưng (1936), Con đường sáng của Hoàng Đạo (1938).

- Từ Ị 940 đến ỉ 945

Đây là thời thoái trào, bế tắc của tiểu thuyết Tự lực văn đoàn Nhất Linh, Khái Hưng đi dần vào con đường hoạt động chính trị phản động Giấc mộng cải lương tan vỡ như bong bóng xà phòng trước chính sách đàn áp, bóp nghẹt tự đo của thực dân Pháp sau đại chiến thế giới thứ hai Cuộc sổng xã hội khủng hoảng, ngột ngạt Tiểu thuyết Tự lực văn đoàn cũng mất phương hướng Trong bổi cảnh

đó, Nhất Linh, Khái Hưng cho ra đời các tiểu thuyết mang màu sắc tiêu cực: Đẹp của Khái Hưng (1941), Bướm trắng của Nhất Linh (1941), Thanh Đức của Khái

Hưng (1943), trong đỏ tuyên truyền cho chủ nghĩa vô luân, trụy lạc, đề cao những kẻ sống vô mục đích, ích kỷ, bệnh hoạn

Tiểu thuyết Tự lực văn đoàn có những yếu tố tích cực tiến bộ, đặc biệt là

trong thời kỳ đầu Các nhà văn đấu tranh quyết liệt chống lễ giáo phong kiến, đề cao quyền sống, đề cao tự do cá nhân, tự do yêu đương N hung những yếu tổ tích cực tiến bộ ấy nhanh chóng mất đi, chủ nghĩa cá nhân tư sản đi dần đến chỗ cực

đoan, với chủ nghĩa vô luân, tình yêu trụy lạc v ề mặt nghệ thuật, tiểu thuyết Tự lực văn đoàn đánh dấu một bước phát triển mới của nghệ thuật viết tiểu thuyết

Việt Nam, đưa tiểu thuyết Việt Nam đi vào quĩ đạo hiện đại: sử dụng kết cấu tâm

lý, đi sâu khám phá nội tâm nhân vật, dùng thiên nhiên miêu tả nội tâm, ngôn ngữ trong sáng, trữ tình, giàu nhạc điệu

* Phong trào Thơ mới: Là tên gội của một phong trào thơ ca, phần lớn

mang màu sắc lãng mạn trong văn học hợp pháp Việt Nam, thể hiện tiếng nối cá nhân của tầng lớp tiểu tư sản, ra đời vào những năm 1932 - 1933, chấm dứt khi cách mạng tháng Tám bùng nổ (8/1945)

Khái niệm Thơ mới ban đầu ra đời được dùng để đối lập với thơ cũ (thơ

trung đại - chủ yếu là thơ luật Đường) Hoài Thanh trong Thi nhân Việt Nam cho

rằng “tinh thần” của Thơ mới là đi từ chữ “ta” đến chữ “tôi” (cái tôi được hiểu theo nghĩa cá nhân, cá thể) Cho đến nay, khái niệm Thơ mới dùng để chỉ chung

Trang 35

V ăn h ọc V iệt N am từ đầu thế k ỷ X X đến 1945 35

một phong trào thơ ca lãng mạn (chặng sau có ảnh hường ít nhiều chủ nghĩa tượng trưng và siêu thực), mang ý thức hệ tư sản, tiểu tư sản

Phong trào Thơ mới xuất hiện do nhiều nguyên nhân Trước hết là nhu cầu khẳng định cái “tôi” của tầng lớp tư sản, tiểu tư sản, Sau 1930, cùng với sự mờ rộng qui mô của bộ máy cai trị thực dân và sự phát triển của các đô thị, tầng lớp tiểu tư sản thành thị ngày càng đông đảo Một thế hệ thanh niên trí thức được đào tạo từ nhà trường đế quổc xuất hiện Lớp thanh niên Tây học này có những nhu cầu mới, khát khao mới Họ cảm thấy bừng tỉnh về ý thức cá nhân Cái “tôi” tư sản, tiểu tư sản trỗi dậv mạnh mẽ, nó buộc phải chổng lại lễ giáo, chống lại ý thức hệ phong kiến già cỗi để tồn tại và phát triển Trong một buổi diễn thuyết ở nhà học hội Qui Nhơn, Lưu Trọng Lư tuyên bổ: “Các cụ ta ưa những màu đỏ choét, ta lại ưa những màu xanh nhạt Các cụ bâng khuâng vì tiếng trùng đêm khuya, ta nao nao vì tiếng gà lúc đứng ngọ Nhìn một cô gái xinh xắn, ngây thơ, các cụ coi như đã làm một điều tội lỗi; ta thì ta cho là mát mè như đứng trước một cánh đồng xanh Cái ái tình của các cụ thì chỉ là sự hôn nhân, nhưng đối với

ta thì trăm hình muôn trạng: cái tình say đắm, cái tình thoảng qua, cái tình gần gụi, cái tình xa xôi cái tình trong giây phút, cái tình ngàn thu Trong cuộc đấu tranh này, các nhà Thơ mới đã chọn thơ ca làm trận địa, bởi vì ờ đây hệ ý thức cũ đang cạn dần sức lực Thơ ca lại là nơi cái tôi của họ có thể gửi gắm lòng minh Nhưng cái mới ra đời chưa kịp khẳng định thì đã có nhu cầu thoát ly Những biến động dữ dội của xã hội, cuộc khủng bổ trắng của thực dân và tay sai đối với khởi nghĩa Yên Bái và phong trào Xô Viết Nghệ Tĩnh đã khiến cho không khí xã hội hết sức ngột ngạt Tầng lớp tiểu tư sản vổn không có hệ tư tưởng độc lập, lúc này càng hoang mang dao động Họ không dám đấu tranh chổng đế quốc nữa mà quay sang làm “cách mạng bằng văn hóa” Chán nản thực tại, xa lánh chính trị, họ muốn đi vào con đường chạy trốn Thơ mới chính là một con đường thoát ly đắc địa, vừa có thể giúp họ nguôi quên thực tại, lại vừa có thể góp phần bảo tồn văn hóa dân tộc như họ nghĩ Có thể nói Thơ mới có muôn nẻo đường chạy trốn: trốn vào cõi tiên (Thế Lữ), trốn vào vũ trụ (Huy Cận), trốn vào tình yêu (Xuân Diệu), trốn vào thiên nhiên, đồng quê (Nguyễn Bính), trốn vào rượu, thuốc phiện, ái tình xác thịt (Vũ Hoàng Chương) Xét trong bổi cảnh mất

1 Hoài Thanh - Hoài C hân, Thi nhãn Việt Nam , Nxb Văn học, HN, 1998, Tr 17.

Trang 36

36 Văn học V iệt N am từ đầu thế k ý X X đến 1945

nước lúc bấy giờ, chạy trốn không thể xem là một thái độ tích cực, tuy nhiên cũng không nên lên án nặng nề như trong một thời gian dài trước đây Bởi vì, trong bối cảnh lúc ấy, không phải ai cũng có thể đến với cách mạng hoặc đi làm cách mạng Chưa đến với cách mạng thì họ mượn Thơ mới để thể hiện thái độ quay lưng với xã hội đen tối, đi tim kiếm một thế giới trong sạch trong tưởng tượng, gửi gẳm những nỗi niềm, ước vọng về một sự đổi thay cuộc đời Nhiều bài Thơ mới còn gửi gắm lòng yêu nước, tinh thần dân tộc một cách kín đáo

(Nhớ rừng của Thế Lữ, Con voi già, Tiếng địch sông Ô của Huy Thông, Điêu tàn

của Chế Lan Viên )

Thơ mới ra đời còn do yêu cầu của việc đổi mới thơ ca dân tộc Trước khi Thơ mới ra đời, thi đàn thơ Việt chủ yếu chỉ có loại thơ ngâm hoa vịnh

nguyệt, 8 câu 7 chữ vần luật gò bó (Nam Phong, Tiếng Dân ) Một tài năng

như Tản Đà cùng những ngọn gió mới trong sáng tác của Tương Phổ, Á Nam Trần Tuấn Khải cũng không thay đổi được không khí của một thi đàn đang bế tắc Thơ cũ lúc này như “cái ngục giam hãm tình tứ” (lời Xuân Diệu) Vì vậy, yêu cầu giải phóng tình cảm cá nhân ở đây còn bắt gặp yêu cầu đổi mới nội đung và hình thức thơ ca Yêu cầu này đã được đặt ra từ trước đó nhưng lúc này đã trở nên vô cùng cấp thiết

Hành trình vận động của thơ mới là hành trình ra đời, vận động của cái tôi

cá nhân trong bổi cảnh ngột ngạt cửa xã hội thuộc địa Có thể chia hành trình này làm ba giai đoạn

- Giai đoạn ỉ 932 - ỉ 935

Đây là thời kỳ thơ mới đấu tranh để khẳng định mình trên đời sống văn học Bài báo “Vê một lối thơ mới trình chánh giữa làng thơ” của Phan Khôi trên

Phụ nữ Tân văn số ra ngày 10/3/1932 được xem là phát súng lệnh của phong

trào Cuộc tấn công rầm rộ của Thơ mới vào thơ cũ bắt đầu Hàng chục tờ báo ờ

cả Trung Nam Bắc hăng hái vào cuộc, ra sức lên án thơ cũ, cổ động cho Thơ mới Phe Thơ mới ra quân khá hăng hái, nhiều khi liều lĩnh, thô bạo Phái thơ cũ chống lại không kém phần kịch liệt cả bằng lý lẽ và sáng tác Song cuối cùng phái thơ cũ đã phải chịu bại trận, chủ yếu vì họ không cho ra đời được một sáng tác gì có sinh khí Trong khí đó Thơ mới phát triển nhanh, được sự ủng hộ của công chúng thành thị, đặc biệt là tầng lớp thanh niên

Trang 37

Văn học V iệt N am từ đầu thế kỷ X X đến 1945 3 7

Một lóp thi sĩ mới xuất hiện, trong đó có những tài nãng: Lưu Trọng Lư, Huy Thông, Vũ Đinh Liên, Nguyễn Nhược Pháp, Thái Can và nhất là Thế Lữ, nsười “không trống không kèn đã bênh vực vừng vàng cho Thơ mới” (lời Hoài Thanh) Một lớp công chúng mới ra đời (tiểu tư sản thành thị, học sinh, sinh viên, công chức) tích cực cổ vũ, ủng hộ cho Thơ mới Đây là thời kỳ Thơ mới đi tìm hình thức thể hiện, do đó bên cạnh những thành công còn có nhiều non nớt, dễ dãi

Cái “tôi” cá nhân trong Thơ mới ra đời, say sưa với những chân trời mới

lạ Chủ nghĩa cá nhân tư sản, tiểu tư sản đã đem đến cho nó một lẽ sống mới, với nhiều vui, tin, hăng hái Thơ mới tìm đến và say sưa ca ngợi mùa xuân, tình yêu

và nhan sắc phụ nữ Thiên nhiên được vẽ bằng những nét bút tươi thắm gợi cảm Vừa mới ra đời, cái “tôi” Thơ mới còn nhiều bỡ ngỡ, dè dặt, nó chưa dám say sưa lao vào hường thụ, chưa dám đào sâu vào bản thể, do đó cảm giác cô đơn, ớn lạnh chưa xuất hiện nặng nề như giai đoạn sau

Trong giai đoạn này, Thơ mới chứa đựng nhiều tình cảm trong sáng, tích cực: tình yêu chưa nhuốm màu nhục cảm, thiên nhiên được vẽ bằng những đường nét tươi thắm, tình cảm dân tộc được thể hiện một cách kín đáo Thơ mới

lúc này cũng thường đoái tưởng đến “cảnh cơ hàn nơi nước đọng bùn lầy”, đoái

thương những kẻ “thân tàn ma dại”, những kiếp sống giang hồ (thơ Thái Can, Vũ

Đình Liên).

Tình cảm tích cực rõ nhất là lòng yêu nước ngậm ngùi xa xăm Thơ Huy Thông thường tìm đến một sức sổng mạnh mẽ bí mật nào đó trong thĩên nhiên (Sóng biển, mặt trời ngạo nghễ trong giông tố) Huy Thông nổi tiếng ở một số bài có chất anh hùng ca, đầy cảm hứng lãng mạn, viết về những anh hùng rút từ lịch sử Á Đông (Kinh Kha, Hạng Võ), có tác dụng gợi lại quá khử oanh liệt của

dân tộc Huy Thông còn có bài Con voi già ghi lại hình ảnh người chí sĩ cách

mạng Phan Bội Châu Tuy nhiên, với cảm quan của mình, Huy Thông thường tìm đến những người anh hùng chiến bại

Nhà Thơ mới tiêu biểu nhất của giai đoạn này là Thế Lữ Với những bài thơ đầu tiên ra mắt công chúng khoảng 1932 - 1933, Thế Lữ “như vầng sao đột hiện ánh sáng chói khắp cả trời thơ Việt Nam” (Hoài Thanh) Với Thế Lữ, Thơ mới đã giành địa vị ưu thắng và nhanh chóng vượt qua những chập chững buổi

Trang 38

38 Văn học V iệt N am từ đầu thế kỷ X X đến 1945

đầu Thế Lữ là người đầu tiên trong Thơ mới đề xướng lẽ sống thoát lỵ bằng nghệ thuật:

Anh dù bảo: tính tình tôi thay đổi Không chuyên tâm, không chủ nghĩa Nhưng cần chỉ?

Tôi chỉ là một khách tình si, Ham cái đẹp muôn hình muôn vẻ.

Thế Lữ đầu tiên tìm đến với cảnh đẹp cùa thiên nhiên Thiên nhiên trong thơ Thể Lữ thường đầy màu sắc, khi thì hùng vĩ, bí mật, khi thì thi vị, mơ mộng rất thích họp với khẩu vị của lóp thanh niên khao khát tình yêu Thế Lữ còn tìm đến vẻ đẹp của tình yêu và nhan sắc phụ nữ Với Thế Lữ, trong “vườn trần gian” thắm tươi nhất là những thiếu nữ Nhà thơ say sưa ca ngợi tình yêu Thơ tình Thế

Lừ thanh sạch, chưa đượm màu nhục thể Nhà thơ thường đứng từ xa mà nhìn ngắm người đẹp Ở Thể Lừ dường như chỉ có “tình yêu” mà không có “ người yêu” Trong thơ thấp thoáng hình bóng của rất nhiều “cô em”

Thế Lữ tuyên bố lẽ sống thoát ly, nhưng những âm vang của hiện thực chưa tắt trong cõi lòng Tâm sự đau khổ, u uất của con hổ ở vườn bách thú là tâm

sự chung của một lóp người đang sống trong “nhục nhằn tù hãm” của cânh nô lệ

và khao khát quãng đời tự do:

Gậm một khối căm hờn trong cũi sẳt,

Ta nằm dài, trông ngày thảng dần qua, Khinh lũ người kia ngạo mạn, ngẩn ngơ, Giương mắt bẻ giễu oai linh rừng thẳm.

Thế Lữ tìm đến với người anh hùng lý tường vừa tầm với tầng lớp tiểu tư sản lúc bấy giờ, đó là người khách chinh phu Con người “chí nặng bốn phương trời nước rộng” đó đã ra đi chỉ vì “ghét lũ vô nhân giận nỗi đời” Người “khách chinh phu” của Thế Lữ từ chối mọi hạnh phúc riêng, kể cả tình yêu Khách chinh phu là sự kết hợp giữa tâm sự của người trí thức mang nồi nhục mất nước và cảrn xúc của người nghệ sĩ giang hồ say mê cái đẹp thuần túy, say đắm thiên nhiên trong thơ Thế Lữ Hình ảnh người khách chinh phu có nét gần gũi với những

Trang 39

Văn học V iệ t N am từ đầu thế kỷ X X đến 1945 39

người anh hùng chiến bại trong Đoạn tuyệt của Nhất Linh Đó là loại người anh

hùng trong mộng tưỡng

Dựng lên những giấc mơ huyền ảo, lộng lẫy để quên hiện thực nhưng Thế

Lừ sớm biết rằng mộng vẫn chỉ là mộng Nhiều bài thơ Thế Lừ thường kết thúc

bằng sự vỡ mộng (Vẻ đẹp thoáng qua, Hoa thủy tiên ) Ca ngợi vẻ đẹp thì vẻ

đẹp rồi sẽ tàn phai, sống với tiên thì chỉ là ảo ảnh, làm con hô thì chì là con hô

trong vườn bách thú ( Than ói thời oanh liệt nay còn đâu) Cái buồn đã đến, bàng

bạc khắp nơi, cả trong giấc mơ, cả trong cành tiên, một cái buồn vô cớ, thi vị:

Buồn ơi, xa vắng mênh mông là buồn Tình cảnh bể tắc sớm đến với Thế Lữ Mấy vần //20* ( 1935) ra đời cũng là

lúc hồn thơ Thế Lữ cạn nguồn Mấy năm sau, lúc Mấy vần thơ - tập mới ra đời

( 1940), người đọc gặp một Thế Lữ chán chường, tuyệt vọng, muổn quên đi tất cả

- Giai đoạn ỉ 936 - 1939

Đây là thời kỳ Thơ mới phát triển tới đình cao và đồng thời cũng bắt đầu bộc lộ sự bế tắc Cuộc tranh luận giữa thơ mới và thơ cũ coi như chấm dứt Thơ mới toàn thắng và các nhà thơ mới ra sức tìm tòi, trau dồi nghệ thuật thơ ca và ờ

tư thế chiến thẳng, nó quay lại làm lành với thơ cũ, tự gắn mình với lịch sử thơ ca của dân tộc

Đội ngũ các nhà Thơ mới ngày càng đông đảo Thơ mới xuất hiện nhiều

xu hướng khác nhau: xu hướng tiếp tục đào sâu vào cái tôi cá nhân như Xuân Diệu, Huy Cận; xu hướng đi vào cành trí thiên nhiên, đồng quê: Nguyễn Bính, Anh Thơ, Bàng B á Lân, Đoàn Văn Cừ; xu hướng “Thơ Điên” của Hàn Mặc Tử, Chế Lan Viên Nhà thơ tiêu biểu nhất của giai đoạn này là Xuân Diệu

Cái “tôi” tiểu tư sản không còn dè dặt như trước nữa mà nó lao vào hưởng thụ cuộc đời một cách thực sự N ó gạt bỏ mọi mọi hoài bão mơ hồ của Thế Lữ, Huy Thông để say sưa với tình yêu trần tục, đắm say của Xuân Diệu Theo Hoài Thanh, Xuân Diệu là nhà thơ “mới nhất trong các nhà thơ mới” Cái tôi trong thơ Xuân Diệu phát biểu thẳng những khao khát, những dục vọng, hoài bão riêng tư

Trang 40

40 V ăn học Việt N am từ đầu thế ký X X đến 1945

nồng cháy của nó, không cần một màn sương hư ảo nào che dấu Nó công khai tuyên bố chỗ đứng ngạo nghễ của mình:

Ta là Một là Riêng là Thứ Nhất, Không có chi bè bạn nổi cùng ta

(Hy Mã Lạp Sơn - Xuân Diệu)

Bên cạnh những vần thơ khát sống, khát yêu, khát khao giao cảm với cuộc đời, Xuân Diệu còn có những vần thơ thể hiện thấm thìa nồi cô đơn, bất lực Cái

cô đơn trong thơ Xuân Diệu là cái cô đơn nhục thể, luôn rùng mình ớn lạnh trước cuộc đời:

Em sợ lắm giá băng tràn mọi nèo, Trời đầy trăng lạnh lẽo suốt xương da

(Lời kỹ nữ - Xuân Diệu)

Thơ Xuân Diệu thường tràn đầy cảm xúc, với giọng điệu nồng nàn, say đắm, với cách diễn đạt, dùng từ mới mẻ, táo bạo Ông học tập thành công nhiều thủ pháp của thơ lãng mạn và thơ tượng trưng Pháp

Bên cạnh Xuân Diệu là người bạn thơ Huy Cận Tập Lừa thiêng (1940)

của Huy Cận có nhiều bài thơ yêu đời, trong sáng Huy Cận viết hay về tình yêu tuổi học trò, tuổi áo trắng Tiếng thơ ấy luôn tha thiết: “tôi đi tìm người, tôi đi tìm thơ” Nhưng rồi cuộc đời từ chối nó Nhà thơ tìm đến vũ trụ và chỉ tìm thấy ở đỏ

sự rợn ngợp, hoang vắng Lửa thiêng là “một bản ngậm ngùi dài” (Xuân Diệu);

“người đã gọi dậy cái hồn buồn của Đông Á, người đã khơi lại cái mạch sầu mấv nghìn năm vẫn ngấm ngầm trong cõi đất này” (Hoài Thanh) Cái tôi lúc này chì biết rùng mình, ớn lạnh:

Một chiếc linh hồn nhỏ:

Mang mang thiên cổ sầu

Sự xuất hiện của trường thơ loạn (Hàn Mặc Tử, Chế Lan Viên, Bích Khê) thể hiện một khuynh hướng tìm tòi khác của Thơ mới Hàn Mặc Tử là một tài

năng lớn, độc đáo, với một hồn thơ vừa mãnh liệt, vừa kỳ dị Thơ điên (sáng tác

sau khi ông bị bệnh) có những bài thơ vào loại hay nhất trong thơ Việt Nam hiện

Ngày đăng: 03/12/2019, 00:18

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w