Pritchard 1967 định nghĩa cửa sông như sau đó là một thuỳ vực ven bờ nứa khép kín, liên hệ trực tiẽp với biên và ở trong đó tước biên hoà trộn cỏ mức độ với nước ngọt đô ra từ các dòng
Trang 2GS.TS VŨ TRUNG TẠNG
SINH THÁI HỌC
các hệ cửa sông Việt Nam
KHAI THÁC, DUY TRÌ VÀ QUẢN LÝ TÀI NGUYÊN
CHO PHÁT TRIỂN BỂN VỪNG
NHÀ XƯÁT BẢN GIÁO DỤC VIỆT NAM
Trang 3Công ty c ổ phần Sách Đại học-D ạy nghé-Nhà xuất bản Giáo dục Việt Nami 1 giữ quyén công bố tác phẩm
375 - 2009/CXB/10 - 726/GD Mã số: 7K806Y9 - | [ DAI
Trang 4c' Vurưỷ cica săìUỷ, nơi ctuuịĩn tlếfi sanạr-ềíển-, trả iÂủnA hệ/ ỉùrdi itiâi lấ t độc đúa ưả [diức tạfi, nAưnẹs ẹưui về' tủi nquyỉn ^ ỉả i uộuỷ, 60% dđ*v số nkảìv
¿004 ưă 2/3 cúc ứùítih nhố/ tân h ỉn tAỉ ẹiớ i tâfi Vuuity ă câo khu uụo cứa Sỏnạs tiany pAàn u¿ 60 fw i từ ¿ở ưảa đất tiền ỉ^ệxuuy ước cỹZía de ^ anevia, í 992) c^ ờ (ùển nước ta tĩảv d ă i h ỉn 3.260 fun CÌUUỊ, ƯỚV CÂO hậ ứiốn(Ị/ SÓSIỶ đấ nước Ui (uển đê tọ a nín ưùny nước cửa sỏnỶ ĩẠriỶ tớn, t/Lonty đ â x u ấ t híệìv nhiều tiệ sinA tÂâi ííă câc sink cảnh đặc Lump cìcÂúag/ lă k ĩ t quảs của <ịuâ/ VUnh tươnO' tâ c sonqr-íùểềv, câ CÂU/ Uúc ựê nAữnỶ <ỊM*ỷ íu ậ t (ùến dộnỶ uĩnfy,
tọa la CÂC dạnty tă i nạuiỷẻn độc đda, CÂ q iâ tĩịs d ố i ƯỚO s ự pÂâl tù ể ti h ìn h tếr-
x ê hội ă nkửna (ịuốo ẹ ía câ (uĩn
cỳ{íện' tục, d a âf2s tụ c dản SÂ, ớ nước ta/, ủệo M iai tÂdo tă i nyutỷỉn liùnẹ/ cứa sânỶ nydiỷ căfìỸ đượo đấiỷ mạnA, nfucnty d a căn tẢíếii/ tù ĩn tÂức \xă/ nAüny fuĩii' ầíĩi ựẬ uúaty cAuiỷểrv Uếf2 / nảiỷ nỉệV đả/ uă ctanty cUui ctếtv nAữnẹ/ (lảu/ (ịuâ sin ti tÂdí nâfUj/ ní'.
c}ỊAậìi tÂứo được ẹ iâ txỊ ưă uui Uâ cảu ưunạ ítanỶ sự pA âl tù ể ìi kinẤ tế -
xê (lội, câc nạẢíỉn cứu/ đầu/ Uín ue cừũ/ sónty the& (ịuan điểm sin ti tÂâl họo được tâc qui kkm xướnỶ ưđ tĩiển kh at tiỉn câc cứa són y 'tíĩu/ &iểw: cừa (lệ/
sô n ỷ ^X ầtìỷ (1974—19 76¡1981—1985), hệ p tiâ ^oaiìv cĩjLanqr-c&ầU'
/999^, của sỗnẹ/ ^}{âl & 0iỏfu^ cìQuảnỶ cYilntv ị l 9 9 7 —1998)
nạ Ai ĩn cúu tùuỷ Ưẩsi được tâc ạiả uếfi tạo cẴa đến tưuỷ.
^ â c k ĩt (Ịiiả nqAiín cứu dê tọa cơ sứ cẮa sự' xa đăi của cẰuĂịẻn kkảa
cẽảo kệ/ sinh tĐâì/ cểúo/ sA^Ỷ CYla*n' ị^ ũ ^uưưỷ ^anẹ/, Í994) cYlộl
dunạ cùa nâ mở' la m ật kướrưị rưỳhiền cứu mới, đốny tÂời đăl ca sở (xon ấảw
uề pAtumq fiAdfi tiúụv cho câc nqAíĩn cứu/ sin h ítú ù (lỌC/ câc tiệs ecolan ưetv ịsìển ờ tucớo ta.
3
Trang 5c ) lạ ỉu ẻ n CÚU/ s in h thái hạc CÁC (lệ cứa sônọ/ ạ iờ đãif đã t ĩ ớ ihàiitx vân đề cấp ếảc ưả nianty tín h th à i sụ , đ ư ợ c đ ịn h (ú n k ÍKUiẹ n h iều đề tủi, ctiươna Vùnh nạAlẻn CÚU/ cẩfi cYlfỉà/ nước , c u ố n k u i s ự cẮií Lỷ của n ỉu è u lin h liực k h o a học ưà nÁiều/ c á n ẩ ậ kh o a hạc , (tony th ờ i n ố i ầậẤ lên tio n ạ c h iế n íược nẹA ién
o u i k h a i íỉxác iià SIC dụ n q tài nqutyẻn , ắảo tổ n đ a cLuiạ s i n h học lừb (lào uệ m ô i
tneònạ, iẰuộc đái (ùểìi ven ầờ iÁea (ịuan điểm Ịitiát ỈAÍển ầền ưimy
c&ăo hệ/ sinh/ thái/ cửa/ sôiUỊ/ CViệl' cĩỉa m khởiUỊ chi là m ội cÁuyên ktváa mà/ còn được m ột số' tiưònty đại học tự a chạn như m ột Cịiáa tĩin h uể ũnA títúu
hạc Aíểti nói chuncỷ tưuỷ ỉunA thái tiạo vù n y cứa sớnạ nói ù ê n y , n h a i là/ (đcu
ự ớ i ư i ệ o k h a i t h á o, s ừ d u a t y v à y u ả s i l ý t à i n q u i ỷ ẻ n c ủ a h ậ cA uyếii tiMạ ( đ ặ c
th u nàiỷ.
đảiỷ ẹắn 15 mĩm, tĩải qua ếua (uén đổi đối ưái đời sốnty dĩa iuưiạ cứa sớìna
^ iệ t cYlanv , táo ẹiả manty muốn cụp/ nhật nAửếiq kiến thức ƯÙ nỉiừịUị tu liệu m ới của m ật đơíi ưỊ íãnA tkẩ ấặo tÁìv đatiy pÁái ầăi mải với niũuuị ứuácẰ tÁức ta ¿ớn , ẹ/Uỷ ICL da tiaạl đậnỶ cùa can nẹườí Lumẹ cơ chế cùa nên fürüh té niớ cửa ưã kậi nhập/ quốc tế.
^K xnạ qu á tù n A (ịíèrv soạn , rnậc dìv táo Cỳìá đá cố ạỏỶUf, sxmty Oi uốn sảcÁ (lA á lĩá txh k h ỏ i th iế u sói- cfiư ĩl tìiOỶiỸ nÁỘỶv đư ợc ý k iế n ỶỏỊ2 ý t cả u ầu4i đạo đ ẻ Ỉắn tái &ản sa n (tược tố t (um Cẽ á c Lỷ Liến dánỶ tyàfi xừ t qici ưé:
Uỷ C& p Ẵ ầ n S d c A Sĩ)cu tiạo-^& ạiỷ n y fiè c)ÌẮ ả x u ấ t &án cẽjLao> (dục
^ViệÀ/ cYlam , 2 5 c H à í i ^ h iU ịé n , c){ à cYỉội.
Hà Nội, ngày 26 tháng 6 nám 2Ĩ009
TÁC GIẢ
GS.TS.NGƯT Vũ T m ngTạriỊgỊ
Trang 6T p A ư ơ n a /
CÁC KHÁI NIỆM VÀ MỘT VÀI ĐẶC TÍNH
C ơ BẢN VẺ VÙNG CỬA SÔNG
1.1 CÁC KHÁI NIỆM VỂ CỬA SÕNG
Từ cứa sòng (estuary) theo nghĩa La tinh, bao hàm từ aestus là thuỷ triều, còn estuary là từ chi một dạng cùa lục địa, trong đó thuý triều đóng vai trò quan ưọrg trong đời sống và sự phát triển tiến hoá cùa vùng Bởi vậy, trong các từ điểr người ta giải thích “cửa sông là cưa các con sông lớn có thuỷ triều” (từ điến Oxford) hoặc “một vùng gần bờ được khống chế bời nước biển khi triều cao, một vùrự biên được thành tạo bơi cửa một con sông” (Larouse)
Theo quan điếm cùa các nhà địa mạo thì cứa sông là cửa của một con sông
mà y đó đang có quá trình sụt lún kiến tạo không được đền bù hoặc là một thung lũnj sông bị chìm ngập do mực nước biển dâng lên, thường có dạng hình phều.Tất nhiên, những định nghĩa dựa trên các quan điềm riêng về địa mạo, địa chấ, khí h ậ u thường loại bỏ nhiều nguyên tác và các khuynh hướng thực dụng trortì rmhiên cứu khoa học ờ các nước và các khu vực khác nhau trên thế giới (Sttfen J.M Eilaber, 2000)
Trên quan điêm động lực, D.w Pritchard (1967) định nghĩa cửa sông như sau đó là một thuỳ vực ven bờ nứa khép kín, liên hệ trực tiẽp với biên và ở trong
đó tước biên hoà trộn cỏ mức độ với nước ngọt đô ra từ các dòng lục địa
Định nghĩa này mang nghĩa rộng hơn, bao hàm các đặc trưng vốn có cùa vùn' là sự biến dộng của các nhàn tố môi trường, gây ra bơi các yếu tố động lực, đồn’ thời phân biệt được với các hồ nước mặn (salt lake), nơi độ muối dù là lợ hay mặn thường ôn định theo thời gian, các vịnh lớn ven bién mà ờ đó động và thực vật giới, chù yếu là những loài nước mặn và các cửa sông thuộc vùng biền khòig có thuy triều như Biên Đen, Ban Tích v.v (Donal McLusky, 197I)
Tuy nhiên, theo định nghĩa này, các hệ cứa sông mù (blind estuary) và các cừasông quá mặn (liyperhaline) bị loại trừ Do đó, J.H Day (1981) đã bô sung và
đè 'Uất một định nghTa có nội dung rộng hơn:
"Cưa sông là thủy vực ven bờ nứa khép kín vê mặt không gian, liên hệ trực tiếp với biến một cách thuờnọ; xuyên hay theo chu kỳ, trong đó độ muối biển đoi do
sự tòa trộn có mức độ của nước biên với nước ngọt đô ra từ các dòng lục địa ”
5
Trang 7Khi mô tà các vịnh nông ven bờ (coastal bay) kế cận với các cứa sông, nội dung định nghĩa cũng được mở rộng hơn vì trong đó nước ngọt đồ ra từ các sông suối cũng dần mất cá tính cùa mình do sự hòa trộn với khối nước mặn, song nói chung, dạng thúy vực này không hoàn toàn là một cứa sông điển hình mà trong
đó chi xuất hiện “chế độ cửa sông” một cách tạm thời (temporary estuarine regime), liên quan với sự tồn tại cùa nước lũ thuộc các dòng sông hay lượng nước ngọt trong các trận giông tố bất thường, rồi sau đó nhanh chóng mất đ i do hoạt động ưu thế cùa các quá trình biển (Vũ Trung Tạng, 1994; Blaber, 1997) ơ nước ta những dạng này chính là các vụng, vịnh nông ven biên, như Bái Tư Long, Hạ Long, đầm Lăng Cô, vịnh Đà Năng, Quy Nhơn, Nha Trang v.v
Theo các định nghĩa trên, về bàn chất, trong mùa hè, khối băng thuộc các vĩ
độ cao tan cháy hòa trộn với nuớc biển tại chỗ cũng hình thành nhũng dạng ‘‘cứa sông cùa vùng cận cực” (Tully & Barber, 1961) Thêm nữa, những vùng không
hề có hệ thống sông lớn như bờ tây El-Salvado chăng hạn, trong thời kỳ mùa mưa, khối nước lớn từ rùng núi theo các khe suối chuyển ra Thái Bình d ư o n g cũng tạo nên một vùng cửa sông rộng lớn (Rodriguez, 1975)
H in h 1.1 VỊ trí vùng cửa sông trong các phân bậc của đới ven bờ
(Im an & N ordstrom , 1971)
Vùng cừa sông là nơi chuyền tiếp sông-biển thuộc đới biển ven bờ (coastal zone), nơi tương tác mãnh liệt cùa lục địa—đại dưưng (hình l.l) , một tr o n g 4 vùng tiếp xúc lớn nhất cúa hành tinh: Lục địa—đại dương (land-ocean)), khi quyển-thùy quyển (atmosphere-hydrosphere) mà biêu hiện là “màng nước ” với quần xã sinh vật màng nước (pleuston-neuston), vùng tiếp xúc n ư ớ c —đáy
Trang 8(pelago-benthos) và cuối cùng là đất ngập nước (Wetland), nơi chuyển tiếp từ nơi đất cao xuống nơi nước sâu, bao gồm cả vùng ven biến đến độ sâu 6m dưới mức triều kiệt Nhũng vùng chuyên tiếp này đóng vai trò rất quan trọng trong đời sống tự nhiên và hoạt động kinh tế cua con người, bởi vậy, chúng đang được các nhà sinh thái học rất quan tâm nghiên cứu.
1.2 ĐẶC TÍNH Cơ BẢN VỂ MÔI TRƯỜNG CỬA SỔNG
1.2.1 Độ muối, sự phân bố và CO’ chế biến đổi của độ muối trong vùng cửa sông
Dơ sự sai khác về độ muối (muối NaCl), cư dân cùa cua các vùng khác nhau trong thuy quyển có những nét rất riêng Nhũng sinh vật biển và sinh vật nước ngọt là những dạng khới khởi nguyên về mặt di truyền, từ chúng sau này mới xuất hiện cư dân cùa nước
lợ và nước quá mặn Ớ
nước quá mặn và nước lợ
không có những họ và bộ
đặc hữu (endemic), trong
khi đó, trong số những cư
dân chính cùa nước ngọt và
nước mặn hoàn toàn lại có
ca lớp và ngành đặc hữu
(hình 1.2)
Ngay ớ phần chuyển
tiếp sông-biền, theo sự
phâii loại thuy vực cùa Diễn 0 5 19 15 20 25 30 35
muoi cung bien đọng trong j 2 0 Ộ muối NaCI đư ợ c xem như "b ứ c tư ờ ng"
phạm VI rât rộng, từ 0,5 đên phân Chja Sjnh gió*i thành những nhóm riêng biệt
30 (32)%0, hay còn gọi là
vùng Mixohaline, (bang 1.1)
Vùng cứa sông với sự dao động lớn cùa các thông số đặc trưng được chia ra thành những phần khác nhau, khác nhau về độ muối, tính chất và tốc độ dòng cha> và đặc điểm cấu tạo nền đáy mà ở đó tồn tại các nhóm sinh vật với những đặc tinh sinh thái khác nhau (McLusky, 1974):
- Phần đầu cùa vùng cừa sông-nơi nước ngọt đồ vào với sự xâm nhập cùa nước mặn, độ muối cao nhất lẻn đến 5%o; dòng ưu thế là dòng nước ngọt Một số loài sinh vật nước ngọt có thể xâm nhập xuống kiếm ăn, nhất là khi nước ròng
7
Trang 9- Phần trên cùa vùng cứa sông-tốc độ dòng giám đi đáng ké do ở đắy c ó sự hòa trộn giữa nước ngọt và nước mặn, nền đáy phủ bùn, độ muối biến dôi từ 5 đến !8%0 Đây cũng là nơi xâm nhập cúa nhiều loài sinh vật biền rộng muối (euryhaline marine organism) vào kiếm ăn và sinh sàn.
- Phần giữa vùng cứa sông-đáy phù bùn với một vài nơi là cát, dòng mạnh lên, độ muối dao động trong khoáng 18-25%0
- Phần thấp cùa vùng cùa sông-đáy được phú bời cát, một vài nơi là bùn Dòng mạnh hơn, độ muối 25-30(32)%o Đây cũng là giới hạn thấp đối với những loài sinh vật biển hẹp muối (stenohaline marine organism) có thể xâm nhập- vào kiếm ăn hay sinh sản
- Phần chuyển tiếp—phần tận cùng chuyền từ chế độ cứa sông sang vùng biền ven bờ (neritic) Đáy được phù bởi cát sạch hoặc đá, dòng triều mạnh, độ muối cao gần với độ muối cùa vùng biển ven bờ, trên 30(32) %0
B ả n g 1.1 Hệ thống phân loại các thuỷ vự c nư ớ c lợ của V e n ice (1959)
Các dạng thủy vực Độ muối (°/oo NaCI)
Sự phân chia trên có ý nghía rất lớn trong việc nhận biết mức độ biến thiên
về cấu trúc cùa nền đáy, tốc độ dòng và độ muối, liên quan đến sự phân b o cua các quần xã sinh vật trong vùng cứa sông
Ranh giới cua vùng cửa sông rất thay đổi, do khối nước toàn vùng dịch chuyên tuỳ thuộc vào lượng nước của dòng sông và hoạt động cua thuỳ ttriều Trong mùa nước kiệt, giới hạn trên cùa vùng cưa sông tiến sâu vào đất liền, còn giới hạn dưới ôm sát lấy các cưa sông Trong mùa lũ, lười nước ngọt xâm nhập rất xa ra biên tới hàng chục hay hàng trăm cây số như lười nước ngọt cùa sông Amazon vượt khỏi cứa sông 400km vào Đại Tây Dương, còn 'nước ngọt vượt khói cửa sông Hậu ra Biển Đ ô ng-60km (Lagler, 1974), k h ó i bờ Borneo từ 2 0-50km và nước sông Ganges tràn ra vịnh Bengal một khoántg dài trên lOOkm (Blader, 2000)
Trang 10Sự tưưng tác sông-biên là một trong những yếu tố động lực quan trọng khi nghiên cứu vùng cứa sông vỉ nó đem đến hàng loạt hậu quá sinh thái như sự xâm nhập nước mặn vào hạ lưu, tạo ra cửa ngõ cho sự di nhập cùa các loài sinh vật biền vào nước ngọt và sinh vật nước ngọt ra biển, gây ra quá trình bồi tụ-bào mòn, sắp xếp lại các trầm tích ớ vùng cưa sông ven biến v.v về phần đáy, ranh giới ngoài cua vùng cưa sông chính là nơi diễn ra quá trinh lắng đọng các vật liệu bào mòn do dòng sông đem ra, tất nhiên, ranh giới đó không thể tiến xa hơn ra biển so với lưỡi nước ngọt ớ tầng mặt, nhưng có thê vượt khỏi độ sâu 15-20m, liên quan đến độ sâu của tầng nêm nhiệt
(thennocline)
Trong khối nước cửa sông, do điều
kiện khí hậu thuy hai văn (mưa, sự bốc
hơi nước, tính dị thường cua độ muối,
hoạt dộng cua sóng, thúy triều ) và hiệu
suất Coriolis nên sự phân b ố cua đ ộ muối
theo chiều thăng đứng và theo phương
ngang thay đôi
Trẽn cơ sờ đó, các cưa sông được
chia thành mấy dạng sau:
- Dạng cưa sông thuận (positive
estuary): (3 đày mưa và lượntỉ nước ngọt
chá) ra lớn hơn lưựng nước biến xâm nhập
vào Do vậy, nước có độ muối thấp trái lên
trên lóp nước có độ muối cao ở dưới, khi
cha) với tốc độ lớn tạo ra lực ma sát đu lôi
cuốn lớp nước mặn ở dưới trồi lèn trên rồi
chày cùng chiều với lóp riước trên ra biến
làm cho nước ngọt và nước biển xáo trộn
Trường họp này xuất hiện trong nhiều cừa
sông có lưu lượng nước lớn như hệ thống
sông Hồng, sông Cưu Long và dễ dàng
thấy được ớ tất cá các sông trong mùa mưa
cua u ìng (hình 1,3a)
Dạng cưa sông nghịch (negative
estuary): Trong điều kiện khí hậu khô
nóng, lượng nước ngọt quá ít, nước biên
ven bờ có độ muối tương đối thấp xâm
nhập vào cưa sông đê hoà trộn với nước ngọt thì bị mặn hoá do sự bốc hơi Nhờ
b)
\ 1
m uối theo chiều thẳng đừng.
9
Trang 11đó, từ tầng mặt nước bị mặn hoá, nặng hơn chìm xuống đáy rồi rời khoi vung như một dòng chay ra dưới đáy, nhất là ờ những cứa sông có các bờ cát chẩn ngăn một phần cứa phía ngoài (hình 1.3b).
Trong điều kiện các dái cát chẳn phía ngoài phát triển mạnh thường làm xuất hiện các cứa sông “mù” (Blind estuary) tạm thời vào thời kỳ mùa khô hoặc ttrong điều kiện lượng nước sông quá thấp và cứa sông hoàn toàn mất liên hệ VỚI biên thì các hồ nước mặn (salt lagoon), nước ngọt (freshwater lagoon) ven biển được tạo thành (Day, 1951) Tương tự, ta có thê gặp sự phát triển như thế cùa một số đầm, phá và cứa sông ớ ven biên Nam Trung Bộ Chăng hạn, phần thấp cua hạ lưu sông
Ba, sông Côn trong thời gian mùa khò hầu như bị cạn kiệt, cừa sông mất liên hệ với biên, để lại 2 bên bờ những dai cát trắng, đỏi nơi lòng sông chi còn lại nihừng xoang nước vừa nông vừa hẹp hay đề lộ ra nhũng đoạn thung lũng cạn k h ô , lơm chơm sói đá Đầm Trà ồ (Phù Mỹ, Binh Định), một phá ven biên đang bị ngọt hóa và trong trạng thái suy tàn theo hướng hình thành đầm lay than bùn do sụr phát triển cua bờ cát phía ngoài, ngăn cách đầm với biên trong suốt mùa khò Thêm nữa, việc xây đập chân Hòa Tân trên sông Châu Trúc càng thúc đẩy nhanh quá trình ngọt hóa và sự suy tàn cúa đầm (Vũ Trung Tạng, 1998; Đăng Trung Thuận
và nnk., 2000) Tương phán với Trà ô , đầm 0 Loan phát triển theo hướng mặn hóa do mối liên hệ với biên ngày một khó khăn, trong khi mùa khô ờ đây ké:o dài trên 2/3 nãm với lượng bốc hơi quá lớn (Vũ Trung Tạng, 1994)
- Giữa dạng cira sông thuận và nghịch là dạng trung gian (neutral estuary).Lực quay cua Trái Đất gây ra do sự chuyên động xung quanh trục của mình tạo ra hiệu suất Coriolis Ớ Bắc bán cầu, lực này thường làm cho dòng nước: mặn xâm nhập vào cứa sông có xu hưcýng lệch sang phía phái và tại phía đối diện, nước ngọt chay ra biền dạt về bên phái (theo hướng cháy cua dòng sông) wà lặn xuống sâu hơn (hình ] 4)
H in h 1.4 Ảnh hưởng của hiệu suất C oriolis lên hướng ch ả y của khối nư ớ c nígọt ra biển và hướng xâm nhập của nước m ặn vào cửa sông kèm với sự phân bố ciủa độ muối A - Lát cắt ngang và B - Lát cắt dọc vùng cừa sông (Tully & Barber, 1 9 6 1 ).
Trang 12Hệ qua dẫn đến là, sinh vật biến xâm nhập vào lục địa hay sinh vật nước ngọt xuống vùng cưa sông kiếm ăn đều vận động men theo phía bờ phai theo hucrng vận động cùa mình.
vì đáy được lắng đọng bơi các phần từ từ mịn đén dạng keo, yếm khí, càn trở quá trình hô hấp Hưn nữa, những đáy giàu mùn bà hĩru cơ (detritus) thường chửa rất nhiều nhóm vi khuân, những kè tiêu tốn nhiều oxy, đồng thời còn sán sinh ra các khí độc như mêtan và hydrosunphua (CH4, H:S), can trở sự ton tại và plìát triển cua nhiều loài động vật
Phần lớn các vùng cưa sông là nơi tốc độ dòng chay giảm, trơ thành trùn« tâm lẳng đọng cua các vật liệu bồi tích mang ra từ sông và mang vào từ biên Song cần nhấn mạnh rằng, tốc độ dòng chay được xem là nhản tố quan trọng kiêm soát sự lắng đọng của các vật liệu bồi tích với kích thước hạt khác nhau Nói chung, những phần tư có kích thước lớn thường láng nhanh hơn so với những phần tử có kích thước nho Chãng hạn, hạt có kích thước 60 // m lắng đọng ớ tốc
độ 0,25cm/s, còn hạt có kích thước 2f.im là lcm/s (McLusky, 1971) Hiệu suất cùa tốc độ dòng, kích thước các phẩn tư láng đọng, khoáng cách chuyến vận vật liệu trầm tích đirợc chi ra ớ hình l 5
Tại vùng cửa sông, ớ thế cân bằng cua các lực tương tác sông-biến hay nơi diễn ra sự triệt tiêu của hiệu suất dòng cháy (dòng cháy sông và dòng triều), các vật liệu có kích thước nhỏ nhất buộc phai lẳng xuống theo lực trọng trường đé tạo nên một vùng đáy rộng được phu bới các trầm tích hạt rất mịn
Nguồn gốc các trầm tích cứa sông phụ thuộc vào nguồn gốc cua vật liệu được dòng sông và dòng biến mang đến Những dòng sông có lirựng phù sa lớn như hệ thống sông Hồng và sông Cứu Long thường tạo nên ngay ơ cùa các sông dạng trầm tích sông (bờ, bãi sông), trong khi đó, nhìmg sông có lượng tải phù sa thấp còn dỏng triều lại mạnh và cỏ lượng tai vật chất cao thì vùng cưa sông được lấp đầy chù yếu bời trầm tích biền (thềm và các bar cưa sông) Không những thế,
11
Trang 13hiệu suất triều còn tạo ra lực bào mòn thềm đáy, bãi, bờ các cứa sông và trong thung lũng sông xuất hiện các hố sâu, dòng sông trơ nên quanh co, uốn khúc mà điền hình là các nhánh của hệ thống sông Thái Bình.
H in h 1.5 Tốc độ xói mòn, vận chuyển và lắng đọng các vật liệu trầm tích có kích thư ớc khác nhau Mô hình chỉ ra những giá trị có thể có cho các giai đoạn liắng
đọng (theo Postm a, trong tuyển tập của Lauff, 1967)
Nòi chung, trong vùng cứa sông, dơ sự tranh chấp sông-bién ờ các thiời kỳ địa chất khác nhau, liên quan với các pha biên tiến và biên thoái nên trầm tiích có nguồn gốc hỗn hợp sỏng-bièn Nguồn gốc, nhất là cấp độ hạt và lượng chấit dinh dường cua trầm tích quyết định đến thành phan loài, sự phân bố và miức độ phong phú cùa các nhóm sinh vật sống đáy trong vùng cửa sông
Trước các cưa sông nhiệt đới, nhất là nơi nhận lượng lớn các vật liệìu bào mòn do dòng sông chuyên ra thường hình thành các cồn đao, các bãi ngầm dạng sóng kế tiếp nhau chạy ra biền, gọi là tiền châu thổ (avandelta), ngăin cán
sự xâm nhập cùa dòng triều vào vùng cưa sông Hình dạng cua các cun đáio, bãi ngầm luôn biến động do lực tươnu lác sông-biên, song có xu thế lần lượt nâng cao khói mặt nước đê thành tạo các cồn đáo cứa sòng và đồng bàng châiu thổ Ngược lại, trong các cưa sông hình phễu, với lưu lượng nước thấp và lưựrng tai phù sa ít, các cồn cát ngầm chu yếu được xây đẳp bơi các trầm tích biến Ö đây, chúng dốc thoai ra biến do dòng triều khi đi vào bờ đã vun dần lèn, còn sườn phía trong có độ dốc lớn hơn, đố xuống những hố sâu do hoạt động của “thác triều” khi vượt qua đinh cồn
Nói chung, các hố và thác triều ơ vùng cưa sông có ý nghĩa lởn đối v<ới đời sống cua nhiều loài sinh vật vi chúng tạo nên nhữnu điều kiện thuận lợi chio quá
Trang 14trình “thuần hoá” tự nhiên cua các loài động vật bien điên hình trước khi xâm nhập sâu vào các thuý vực nước ngọt (Hardenberg, 1951; Rochford, 1951).
Vùng cửa sông với những nét khái quát trên đã tạo ra sự sai khác cơ bán với các loại hình thuy vực khác Đó là:
- Một vùng thường được giới hạn ờ cứa các sông và bị khống chế bởi dòng sông và hoạt động của thuý triều
- Nước cua vùng cứa sông bị mặn hoá, còn mức độ và phạm vi biến đối cùa
nó phụ thuộc vào lượng nước sông và sự xâm nhập mặn theo thuy triều
- Độ muối và hàng loạt các nhân tố môi trường khác không ổn định, biến động nhanh trong không gian và (heo thời gian, song sự biến thiên đó mang tính chu kỷ, chu kỳ mùa (mùa lũ và mùa kiệt), chu kỳ triều (nhật triều hay bán nhật triều) Đó là sự khác biệt cơ bản giữa cừa sông và các hồ nước mặn (salt lagoon) ven biển
- Phân bố trong vùng cưa sông là những loài sinh vật rộng sinh cánh, đặc biệt là loài rộng muối và rộng nhiệt Những loài này trong quá trình thích nghi với điều kiện môi trường đầy biến động đã tạo nên những quần xã ốn định đê tồn tại và phát triển hưng thịnh, làm xuất hiện ở đây một hệ san xuất có năng suất sinh học rất cao so với hàng loạt hệ sinh thái khác
1.3 LỊCH SỬ HỈNH THÀNH CÁC VÙNG CỦA SÒNG
Các cưa sông nói chung, được thành tạo cách chúng ta không xa về mặt thời gian, thường do sự sụt lún cùa các thung lũng sông hay một bộ phận ngập nước cua vùng bờ biên, hoặc do sự nâng lèn cua mực nước đại dương mà độ cao tương đối cùa đất so với mực nước biến thay đồi liên tục với tốc độ có thể đo được bàng centimet trong một thể ky Một số khác được thành tạo do sự hình thành các bờ cát chấn, ôm lấy một vụng biến nông với cứa riêng, qua đó các dòng sông đồ nước ra biến một cách an toàn (Krempf, 1930)
üorsline (1967) chi ra ràng, mực nước biển hiện tại dừng lại sau tuồi Băng
hà lần cuối, chi khoang 3.000 năm trước đây và do đó, tất cà các vùng cứa sông
đã biết hiện nay có tuồi ít hcm 3000 năm, thậm chí còn trẻ hơn nữa, chi khoảng vài ba đến 5-7 thế ký trước như các cửa sông thuôc Hải Phòng-Quang Yên Nhìnig cứa sông với tuối tưcTng đối tre nhir thế so với các môi trường tự nhiên khác có ý nghĩa quan trọng đổi với sự tiến hoá cùa các sinh vật cửa sông Theo logic đó, không phai tất cá các loài mà chi một số ít loài thích nghi được với điều kiện sông đẩy biến động cùa vùng cứa sông, trước hết là gradient độ muối và các ion khác Do đó, thành phần sinh giới nghèo hơn so với các hệ sinh thái lân cận (nước ngọt và nước mặn) Thích nghi với điều kiện tương đối khắc nghiệt, lại
13
Trang 15sống trong vùng giàu chất dinh dường, ít ké thù, các quẩn thề sinh vật cưa sông thường phát triển hưng thịnh về số lượng, tạo nên sán lượng cao cho khai tháic.Trong lịch sư phát triền cùa các hệ cứa sông trên thế giới, nhiều cừa sông đã
bị biến mất và thậm chí ngay trước mắt chúng ta, nhiều cứa sông khác đang bị suy tàn và có thể bị mất đi trong tương lai Những biến đồi nhò nhặt cùa mực nước biên và mực cao cùa thuỳ triều do sự biến động cua khí hậu, nhất là ttrong giai đoạn hiện nay, khi hiệu úng nhà kính ngày một gia tăng, Trái Đất ấ m lên, mực nước biên ngày một nâng cao có thê làm thay đôi mức triều cao cùa đới biển ven bờ và gây ra những đổi thay đáng kể trong sự hình thành và biến đ ộ n g cua các vùng cửa sông cũng như các hệ sinh thái ven bờ, thành phần sinh giới v à sự phân bố cùa chúng trong đó
Trang 16XT/ ì ư ơ n a 2
NHỮNG TÍNH CHẤT CHUNG CỦA CÁC HỆ CỬA SÔNG VIỆT NAM
2.1 VỊ TRÍ VÀ PHẠM VI CỦA VÙNG CỬA SỔNG VIỆT NAM• • •
Vùng cưa sông nước ta trài ra suốt dọc bờ biển từ 8°30' đến 2 p’30’ vĩ độ Bẳc
và quanh các đào, tạo nên vùng nước lợ rộng lớn (hình 2 1 )
H ìn h 2.1 Sự phân bố độ m uối của nước tầng m ặt
trong tháng IV và V (C hevey, 1935b)
Hàng loạt các hệ thống sông lớn nhó, nhất là hệ thống sông Hồng-Thái Bình
và Cứu Long-Đồng Nai, đều đồ ra biến Đông, nơi có chế độ thuỳ triều đặc sắc cùa
bờ Tây Thái Bình Dương (Nguyễn Ngọc Thụy, 1982) Một khối nước ngọt từ đó
đã làm cho vùng nước ven bờ bị ngọt hoá với độ muối thấp hơn 32%0, bao phù lên
15
Trang 17toàn bộ phân biên từ tây bãc Vịnh Bãc Bộ xuông đên biên Hà Tĩnh Xa hơn vè iphía nam, khối nước này ép sát vào bán đao Nam Bộ, từ bác Vũng Tàu đến đông mam vịnh Thái Lan Nước có độ muối cao hơn (32-33%o) ôm lấy khối nước trên và Hiình thành một dai hẹp song song với bờ biên Trung Bộ (Chevey, 1935, Wyrtki, 19'61) Như vậy, nhìn tồng quát, hầu như vùng nước ven biên nước ta, nhất là tiong thời
kỳ mưa lũ mang đặc tính cua vùng cưa sông điên hình
Trong phạm vi rộng Itrn cùa vùng biến ven bờ bị ngọt hoá đó xuất hiện hiàng loạt sinh cánh đặc sắc Đó là các hệ cưa sông-chuồi các đầm phá miền T nnng- các sình lay ngập triều được phú bời rừng cây ngập mặn Nam Bộ-các vụng, vịnh nông ven bờ nhận lượng nước ngọt từ các con sông Chúng là những dạng cưa sòng tuy có những sai khác về mức độ tương tác sông-biền, song đều là nhiũrng
hệ có sức san xuất cao, địa bàn kinh tế và quốc phòng trọng yếu cùa đất nước (Vũ Trung Tạng, 1982, 1983, 1987) Đối với các cứa sông nước ta, lịch sư hình thành
và phát triển gắn liền với lịch sứ hình thành và phát triền của bờ biển, có tuổi 2000-3000 nãm (Krempf, 1930, Zenkowish, 1963); Vũ Tự Lập và nnk, 198 I ) gan liền với sự tưcmg tác cùa dòng sông và dòng biến, hoạt động tương tác cua các quần xã sinh vật, bao gồm ca hoạt động cua con người, đồng thời không inàm ngoài những phưưng thức và tiến trình chung cùa lịch sư hình thành và phát ttriên cùa các vùng cứa sông khác trên thế giới (hình 2.2)
Quá trinh tương tác biển - cửa sõng I I
Quá trinh tương tác khi quyén - cửa sònc|
Nước mặn, trầm tích, chất dinh dưỡng và sinh vật bién
Nước ngọt, phù sa, chất dinh dưỡng
và sinh vật nước ngọt
Vùng cừa sông
í
c
•0) 3 O)
c ob
■n c
•<u> U)cÕ o
5 íb z
L-Quá trinh tương tác sỏng - cửa sòng
I I
Các nhản tố khí hậu
Hoạt động của con người
U
« Khiiquye?n
Com
+ - ngưrời
Tác động của vùng cữa sỏng đến hoat t
động của con người
H ình 2.2 Sơ đồ mối quan hệ tương tác của các quá trinh lục địa - biển lên vùing
cửa sông (Vũ Trung Tạng, 1994, cố sửa chữa)
Trang 182.2 ĐIỂU KIỆN KHÍ HẬU, THỜI TIẾT VÀ ẢNH HƯỞNG CUA CHỦNG LÊN VÙNG CỬA SỒNG
C ác hệ cứa sông nước ta nảm trong khu vực nhiệt đới gió mùa với sự phân hoi sâu sắc theo mùa trong năm: mùa giỏ đông bác và mùa gió tây nam Tuy nhiìn, do tính địa đới, đặc điếm địa hình, sự hoạt động cùa các hoàn lưu khí quxên mà mồi vùng có những nét riêng (bàng 2.1 )
B n g 2.1 Nhiệt độ trung bình, nhiệt độ tối thiểu và tối đa tại m ột số đi0 điểm dọc
bờ biển nước ta
Đơn vị: ° c
Điên độ trung binh nảm
'heo: Bruzon E., Carton p và Romer A Climat Indochine, 1950
/lùa gió Đông Bắc bất đầu từ tháng 11 kéo dài đến tháng 5 Đặc trung cùa mùa lày là nhiệt độ xuống thấp, trị số tối thấp có khi xuống đến 5,9-8,8°C (từ Huế ro ra) và 11,0-15,4 ° c (Đà Năng trờ vào) Lượng mưa trung bình ở Bấc Bộ
và N.m Bộ nói chung nhó, độ ẩm tuyệt đối thấp, còn độ bốc hơi cao (trừ những thánị m ưa phùrr ớ Bẳc Bộ) Đối với các tinh duyên hải Trung Bộ, mùa mưa thirờm đến muộn hơn, từ tháng 8 đến tháng 1 Do vậy, những yếu tố khí hậu và thời tết khác cũng biến đồi theo
/lùa gió Tây Nam kéo dài từ tháng 5 đến tháng 11, trùng với thời kỳ mưa tập trungír Bẳc Bộ, Nam Bộ và Tây Nguyên, chiếm 80-85% tổng lượng mưa cà năm
2-m»csw TRUNG TÁM THÒNG TIN THƯ VIỆNĐAI HỌC QUỐC GIA HÀ NÔI 17
ồ Ĩ Ủ 4 - 0 /
Trang 19Lượng mưa trung bình tháng dao động từ 195 đến 327mm (Hà Nội) hay 113 đến 334mm (TP Hồ Chí Minh) Nhiệt độ không khí tăng nhanh, có khi đạt gúiá trị tối cao, 39,5°c (Nha Trang) và 44,2°c (Đồng Hới) vào những ngày nóng nhấtit.Nhìn chung, nhiệt độ trung bình năm trên lãnh thố nước ta cao, từ 23,4 - đến 26,9°c, nhiệt độ trung bình tháng lạnh nhất từ 16,5 đến 25,8°c Nhiệt độ tăn g ' dần
từ Bắc xuống Nam trong cả hai mùa Song biên độ dao động cùa nhiệt độ Ị giữa các mùa thì ngược lại, giảm theo hướng đó, từ 12,3°c (Hà Nội) đến 3 ,l° c (TPP Hồ Chí Minh) với gradient trung bình 0,35° c /l vĩ tuyến
Dọc duyên hái nước sổ ngày nắng cao, thuận lợi cho quá trình sinh trươnng và phát triển của thực vật cũng như các sinh vật khác Đối với ven biên Bàc Bộộ, số ngày nắng trong nãm thường từ 1400 đến 1600 giờ, ven biển Phan Thiết—22414 giờ và TP Hồ Chí M inh-1983 giờ
Độ ẩm tuyệt đối (mb) và tương đối (%) rất cao Độ ấm cao trùng vào nhhừng tháng mùa mưa, trừ ớ đồng bằng Bẳc Bộ, tháng có độ ẩm tương đối cao rơi i vào những tháng mưa phùn và mưa ngâu, còn tháng có độ ẩm tương đối thấp là thháng
10, 11 (tháng hanh) và tháng 5 (tháng nóng nhất) Độ âm, nói chung, diễn i biến giống như nhiệt độ, giám từ Nam lên Bắc: ớ TP Hồ Chí Minh, trị số độ âm t tuyệt đối trung bình là 28.2mb, ở Đà Năng là 26.2mb và ơ Hà Nội 24.3mb (Nguuyền Đức Chính và Vũ Tự Lập, 1962)
Trên dọc tuyến duyên hải cũng xuất hiện nhiều tâm mua lớn như Móngg Cái (2860mm), Hà Tĩnh (2575mm) và Huế (2867mm), ngược lại, có những nơori rất khô hạn như đoạn từ mũi Dinh đến ỏ cấp , lượng mưa trong năm chỉ đạt 7577mm trong khi đó, lượng nước bốc hơi lại rất cao (ở Mũi Dinh: 1737mm), còn ở I Huê, lượng bốc hơi đạt cực tiếu (551 mm)
Khí hậu chung cúa toàn lãnh thổ, cũng như dọc duyên hải còn chịu nnhiều nhiễu loạn khác Một trong nhũng nhiễu loạn đó là các giải áp thấp nhiệt đóới và băo Theo thống kê nhiều nảm có tới 40% các cơn bão hình thành từ biển Đônng và tây Thái Bình Dương đố bộ vào nước ta (Phạm Ngọc Toàn và Phan Tất 1 Đắc, 1992) Mùa bão thường bắt đầu từ miền Bấc vào tháng 5, 6 và di chuyển xuuống phía Nam cho đến hết tháng 12 Ba tháng 9, 10 và 11 có nhiều bão nhất TTrung bình, hàng nãm có từ 4 đến 6 cơn bão và áp thấp nhiệt đới Bão thường gây nra gió mạnh (40-50m/s) và kèm theo mưa lớn (200-400mm hoặc cao hơn) Đi xKuống phía Nam, bão muộn dần và giám cả về tần suất xuất hiện và cường độ Tuy nhhiên, trong vài ba thập ký qua, áp thấp nhiệt đới và bào bị nhiễu loạn, đôi khi vuượt ra khói các quy luật thông thirờng xuất hiện trên bờ biên nước ta: cơn bão Lindaa đầu tháng 11 năm 1997 đã đi qua Cà Mau làm 445 người bị chết, 3409 người mất t tích,
3783 tàu thuyền bị chìm, gần 350 nghìn ha lúa và hoa màu hị mất trắng, ỉ Năm
2008, Biên Đông và ven bờ cùa nó chịu tới 12 cơn bão và áp thấp nhiệt đới vóới gió
Trang 20bão đạt tới câp 12-13, không những thê, thời gian xuât hiện cúa bão đên rât sớm và kéo dài cho tới tận gần cuối nãm, đường đi cùa bão cũng trở nên lắt léo, phức tạp.Cùng với những ánh hướng chung cùa khí hậu và thời tiết, miền duyên hài còn chịu nhiều tác động cùa biên, trong đó phải kể đến gió đất—gió biển Loại này thường xuất hiện từ tháng 4-10 Gió biẻn hoạt động từ 10 giờ và mạnh nhất khoáng 14-16 giờ, sau đó gió suy giảm và được thay thế bời gió đất Như vậy, thời tiết vùng duyên hái vào mùa nóng trờ nên dịu mát hơn.
Hoạt động cùa khí quyển diễn ra theo chu kỳ Sự luân phiên của 2 mùa gió hình thành nên hai thời kỳ mùa lũ và mùa kiệt trên các lưu vực sông Do đó, quá trình tưcTTig tác sông-biến cũng biến động và kéo theo là sự biến động cùa hàng loạt các nhân tố môi trường, ành hướng trực tiếp đến đời sống các quần xã sinh vật sống trong vùng cửa sông
2.3 HOẠT ĐỘNG TƯƠNG TÁC SỒNG-BIỂN VÀ NHŨNG HỆ QUẢ CỦA CHÚNG ĐỐI VỚI VÙNG CỬA SỒNG
2.3.1 Hoạt động của hệ thống sông
Các hệ thống sông của nước ta phần lớn đồ ra Biển Đông theo hướng Tây Bấc, Đông Nam (báng 2.2) với mật độ khoảng l5-20km /cứa sông, trừ một số sông ớ vùng Đông Bắc như Bằng Giang-K ỳ Cùng, phụ lưu của sông Tây Giang (Trung Ọuốc) và các sông ở phía Tây Trường Sơn đố nước vào sông Mê Kông Trong mạng lưới này, 90% là sông nhó, chi có 9 hệ thống sông lớn với diện tích lưu vực trên lO.OOOknr như hệ thống sông Bằng Giang-Kỳ Cùng, sông Hồng, sông Thái Bình, sông Mã, sông Cả, sông Thu Bồn, sông Ba, sông Đồng Nai, sông Cừu Long và khoáng 76% diện tích lãnh thổ nước ta thuộc các hệ thống sông này (Viện Khí tượng Thúy văn, 1985)
Hầng năm, qua các hệ thống sông, Biền Đông nhận từ lục địa 839 tỷ mét khối nước ngọt, ứng với modun dòng cháy năm là 22,8 lít/km2/s cùng với một lượng bùn cát trung bình 2 0 0 triệu tấn và trên 100 triệu tấn các chất hòa tan trong nước (Trần Tuất và Nguyền Đức Nhật, 1980; Nguyền Viết Phố, 1984)
Hai hệ thống sông lớn nhất nước ta là hệ thống sông Hồng-Thái Bình và hệ thống sông Cưu L ong-Đ ồng Nai
Sông Hồng có diện tích lưu vực 143.700km2 với chiều dài dòng chính là 1130km Tông lượng nước bình quân nhiều năm tại Sơn Tây là 114 tý mét khối
và dòng bùn cát là 115 triệu tấn, chiếm 57% lượng bùn cát của các sông toàn quoc (Nguyền Việt Phổ, 1984) Một trong những phụ lưu lớn cùa sông Hồng là sông Đà với tỏng lượng nước hàng năm là 56 ty mét khối, chiếm 46.6% tổng
19
Trang 21lượng nước cùa hệ sông Hồng và 80,3 triệu tấn phù sa, chiếm 64.0% lượiig lbùncát cùa cà hệ thống (Lưu Công Đào, 1984).
Hợp với hệ thống sông Hồng là sông Thái Bình Tông lượng nước bình qiuâncủa nó tại Phá Lại là 8,26 tý mét khối và 1,1 triệu tấn bùn cát
B ả n g 2.2 Sự phân bố của m ột số hệ thống sông chính chảy trẽn lãnh thổ n ư ớ c ta
Tên lưu vực
Diện tich các lưu vực
(km 2)
Các hệ thống sông chính
Diện tích
Chiiều
d à i
Tử Lập (1999)
Nguyễn Tri Thành (2002)
ủy hội sòng
Mê Kống
lưu vực
<km2)
dòrng chiính (k.m)
1 Sông Báng
11220 12400 11220
Sông Băng Giang 1(08
9 Sông Cửu Long
Trang 22Nam Sau khi hợp lưu tại Phá Lại, sông mang tên là sông Thái Bình mới trở nên đường bệ và nghiêm nghị khác thường Cách Phá Lại chừng 7km, tại Lau Khè, sông bất đẩu lách nhánh cho ra dòng Kinh Thày Đen lượt mình, sông này lại tách một nhánh thành sông Kinh Môn, rồi từ đó, các sông phân thành nhiều nhánh, đõ nước vào vịnh Bẳc Bộ bàng nhiều cứa: cưa Nam Triệu, cứa c ấ m , cừa Lạch ĩ'ray Do lượng nước ít lại cháy trên một vùng đất thấp bị khống chế bởi hoạt động mạnh cùa thúy triều vịnh Bắc Bộ nên các dòng sông trơ nên uốn khúc, ngoàn ngoèo; bãi bờ bị xâm thực rất mạnh, còn các cứa sông ngày một mở rộng, loe ra biên nhu những chiếc phễu không lồ.
Hệ này hàng nãm còn nhận khoáng 32% lượng nước và 27,5 triệu tấn bùn cát từ sông Hồng qua sông Đuống, sông Luộc Như vậy, châu thồ Băc Bộ được hình thành là kết quá hoạt động và đóng góp cùa cà hai hệ thống sông, song vai trò lớn nhất được kê đến là hệ thống sông Hồng Hiện nay, rìa châu thồ vẫn đang tiến ra biên với tốc độ khá lớn, từ 25m/năm ở tả ngạn sông Hồng đến 8 0 -
1 OOm/năm ớ rìa đông nam châu thổ
Dịch lên hướng Đông bắc, hệ thống sông Diễn Vọng, Tiên Yên, Ba Chẽ, Ka Long hàng năm chuyển vào vùng biển Quáng Ninh chừng 6,56 tý mét khối nước Xuống phía nam cùa hệ sông Hồng, ờ Bắc Trung Bộ !à sông Mã, sông Cà
VỚI lượng nước 16,6 tý inét khối
Nhìn chung, các hệ thống sông trên hoạt động theo mùa, liên quan với chế
độ mưa cùa toàn lưu vực Mùa lũ cùa các sông ở Bấc Bộ kéo dài từ tháng 6-10, muộn hơn đối với các sông ở phía nam Ở thời kỳ này, lượng dòng chảy chiếm 75-90% tồng krợng nước và 90% tổng lượng bùn cát cả năm, làm cho vùng cừa sòrg bị ngọt hóa và mớ rộng ra biển tới hàng chục cây số Ngược lại, vào mùa kiệt trong những tháng còn lại, lượng dòng chày thấp, vùng cửa sông bị thu hẹp Thúy triều còn đưa nước biền xâm nhập sâu vào lục địa theo các triền sông
Các hệ thống sông miền Trung đều ngắn và dốc ở phía thượng lưu, còn ờ hạ lưu cháy trên dái đồng bàng hẹp, khá bàng phãng Mùa lũ cùa các sông thường kéc dài từ tháng 9 đến tháng 12 với lượng dòng cháy tập trung trong 3 tháng chièm 50-70% tồng lượng nước cả nãm Mùa kiệt bất đầu mồi nơi mồi khác: từ
Hà Tình đến bẮc Thùa Thiên-H uế là các tháng 2, 3, 4 và 7, 8; còn từ nam Thừa
T h iìn -H u ế tới Bình Định vào tháng 6, 7 Lượng dòng chày lúc này chi chiếm 1-2% lượng dòng cháy năm (Nguyễn Viết Phồ, 1984) Bới vậy, vào mùa nước kiệt, ở vùng cứa sông và hạ iưu sông thuộc duyên hài miền Trung, nước thường
bị n ặ n hóa Nhiều đoạn thấp cùa hạ lưu các sông ít nước, các thung lũng sông khc cạn, trên nhiều đoạn nước chi tồn tại ớ dòng chảy gốc Hơn nữa, ở đây do sự tưong tác cùa các dòng sông và dòng biển đã tạo ra một diện mạo mới cho vùng
v e n biên Đó là các đầm phá nổi tiếng như Tam Giang-Cầu Hai, Lãng Cô,
21
Trang 23Trường Giang, Thị Nại, Ô Loan trong đó Tam Giang-Cầu Hai là phá lớn nhiất, với diện tích 216 km2 và trải dài trên 76km; còn nhó nhất là đầm nước M ặn (Quảng Ngãi), với diện tích là 2,8 km:
Nói chung, các đầm phá này chù yếu chứa nước mặn, độ muối biến động với biên độ lớn Theo Vũ Trung Tạng (1994), vào mùa mưa, các đầm phá như nhũng
hồ chứa, nước hầu như bị ngọt hoàn toàn, độ muối xuống đến 0 đen 2-5%o; vào mùa khô, các dòng sông trong vùng đều cạn kiệt, nước từ biển xâm nhập vào và
bị bốc hơi trở nên mặn hơn thay thế, độ muối thường cao 15 đến 25-29%0 Ớ những nơi mùa khô kéo dài, độ ẩm thấp, độ muối có xu hướng tãng lên đến miức quá mặn (39-4 l%o) như đầm Ô Loan (Phú Yên), trong khi đó, do hoạt động củ a con người (xây đập, ngăn sông) có đầm đă biến đổi thành một đầm nước ngọt thực sự như đầm Trà Ô (Binh Định) (Vũ Trung Tạng, 1998) Sự tuơng phàn sâu sắc của độ muối giữa các mùa là nét rất độc đáo cùa môi trường các đầm phá miền Trung, không chỉ quyết định đến thành phần loài, sự phân bố và năng siuất sinh học cùa chúng mà còn ảnh hưởng trực tiếp đến đời sống và hoạt động kiinh
tế của con người
ờ Nam Bộ, động lực chính để tạo nên vùng nước lợ và mở rộng châu thổ) ra biển là hệ thống sông Cừu Long (hình 2.3) Theo diện tích lưu vực, chiều dài dòng chính và lun lượng nước, sông Cừu Long là hệ thống sông lớn thứ 14 cù a thế giới với chiều dài là 4.350km, lưu lượng nước trung bình 11.000m3/s, phu trên diện tích lun vực 795.000k.rrr
Cửa Tiểu
25^ ” T J ~ 8' Cửa Đại 14n /~" Cửa Ba Lai
Vào lành thồ nước ta, sông cháy theo hai nhánh chính: sông Tiền và sông IHậu rồi dồn nước ra biến qua 9 cừa, từ cừa Tiểu đến cừa Tranh Đề Sông có lượng diòng chay lớn, 550.1 o9 rtr nước và từ 75 đến 100 triệu tấn bùn cát mỗi năm
Phnompenh
Û Mỹ Thuận
ữ Châu Đốc
Trang 24Mùa lũ cùa sông Mê Kông bát đầu từ tháng 7 và kéo dài đến tháng 11 Đinh
lũ xuất hiện vào tháng 9 hoặc tháng 10 với lượng dòng chảy chiếm 25-27% tồng lirợng nước cả năm Ba tháng có dòng chày iớn nhất (60-65% tổng lượng nước) làm cho toàn bộ vùng biển ven bờ bị ngọt hóa
Trong các tháng mùa kiệt, lưu lượng sông rất thấp, khoáng 1700 m3/s đã thu hẹp vùng cưa sông vào sát bờ, nước mặn theo thúy triêu tràn vào các cừa sông rộng, xâm nhập rất sâu vào đất liền, nhất là từ nừa cuối tháng 3 đến trung tuần tháng 4 Thang chịu ảnh hướng mặn ít nhất là tháng 10 Do đó, trong mùa khô, xấp xi 1,7 đẽn 2 triệu ha, chiếm 50% diện tích đất đai châu thố sông Cừu Long bị mặn hóa do sự xâm nhập mặn từ nhẹ đến nặng (Nguyễn Ngọc Huấn và Nguyễn Hoài, 2003) Kết quả cùa hiện tượng trên đã mờ đường cho nhiều loài động vật biển virợt cửa sông vào Biển Hồ và lên đến gần đinh châu thổ tại Kratie (Campuchia)
Thuỳ chế của sông Mekong được điều hoà là nhờ hồ Tonlesap (hay Biển Hồ)
và dòng Tonglesap (hình 2.4) Biển Hồ không phải là một lagoon ven biến thực
sự, song cỏ những đặc tính tương đồng (Chevey, 1935) Diện tích Biển Hồ là 2700km2 với độ sâu dao động từ 1 đến 9m và được bao quanh bời vùng đất thấp phu rừng Khi lũ đầu mùa xuất hiện, nước từ sông Mekong chày theo sông Tonglesap níược vào Biền hồ, tràn ngập vùng đất thấp xung quanh, đưa mặt nước hồ lên tới 16.000km2 (Dussart, 1974) Suốt 5 tháng ngập lũ trong năm, hồ đầy nước ngọt, hoạt động như một hồ chứa Động vật giới bị bẫy vào đây rồi tràn
ra vùng rìmií ngập nước xung quanh để kiếm ăn và sinh sản với tốc độ tăng trương nhanh gấp 2 lần so với điều kiện sống trong sông Do đó, ngay từ nhũng năm đầu của thế ký trước, p Chevey (1935b), p Chevey et F Lepoulain (1940)
đã đánh giá ràng, năng suất cá trong hồ (10 tấn/kin2) lớn hơn 10 lần so với bãi cá
ở Đại Tây Dương
Vào mùa khỏ, khi lũ thượng nguồn giảm, Biến Hồ mới nhả nước cùng với nguồn chất dinh dưỡng giàu có được tích tụ từ rừng ngập nước xung quanh và nhừng đàn cá giống phong phú về xuôi Lúc này diện tích mặt hồ giàm, đặc tính
“cưa sông” dần dần chế ngự, trong hồ, động thực vật giới cừa sông lại trờ nên đa dạng và phát triển khá phong phú
23
Trang 25H ình 2.4 Biển Hồ và vùng đất ngập nước của nó trong mùa lũ (Theo: W ikipedia.oirg)
2.3.2 Các quá trình động lực của biển
Các quá trình động lực biển tác động lên vùng cứa sông là sóng, hài liru ven
bờ và nhất là hoạt động cùa thuý triều, liên quan với lực hấp dẫn cúa Mặt Trăng và Mặt Trời lên bề mặt Trái Đất Chúng là những nhân tố trực tiếp chi phối đến các quá trinh bồi tụ-bào mòn, đồng thời mở đường cho các loài sinh vật biển xâm nihập sâu vào các thuỷ vục nước ngọt Năng lượng của các quá trình đó được đem dein từ biến và được sản sinh ra bời gió thổi trên mặt đại dương, từ các quá trình vận điộng cùa vò Trái Đất dưới đáy biền, do hoạt động của thùy triều và sự xáo động tại nưi giáp ranh giữa các quyển Những lực này tạo nên sóng và dòng truyền vào bờ với năng lượng tương úng là 2,5.109 KW và 2,4.109 KW, ngoài ra, vùng còn mhận được 0,1.1 o9 KW thuộc các nguồn năng lượng khác (Inman, 1974)
2.3.2.1 H oạt độn g của th ủ y triều
Thuý triều được gây ra bởi lực hấp dẫn cùa Mặt Trăng và Mật Trời lên Trái Đất và hoạt động theo những chu kỳ xác định (hình 2.5)
Chế độ thùy triều Biển Đông rất đa dạng và đặc sẳc, khác với các vùng biển khác trên thế giới ờ chỗ, thành phần sóng nhật triều chiếm ưu thế về biên đ ộ và năng lượng Theo Nguyễn Ngọc Thụy (1984) và Lê Đức Tố và nnk (2003), ttrên Biển Đông, nhật triều và nhật triều không đều chiếm hầu khắp không gian cùa
Trang 26biếr, trong khi đó, các vùng bán nhật triều đều và bán nhật triều không đều rất
phô bién ở các vùng biên trên thé giới lại chi chiếm một phân rât khiêm tốn ơ
Biển Đông và biên độ của bán nhật triều tại cứa Thuận An chi bàng 1/8 giá trị
cực đại cùa nhật triều Hòn Dấu Chế độ nhật triều đều ở vịnh Bác Bộ trờ thành
hiệr tượng hiếm thấy trên thế giới Tại Hòn Dấu, Hòn Gai, hầu hết các ngày
troru tháng có một lẩn nước lẻn và một lần nước xuống là nét đặc sác cho nhật
triềi thuằn khiết của vịnh Bẩc Bộ Độ cao thuy triều trong ngày nước cường cực
đại :ó thẻ đạt 4-6m , lớn nhất Biên Đông Nhừng khu vực có biẻn độ thủy triêu
lớn v^à biên động phức tạp còn gặp trong các vùng nước nông ven bờ bán đào
Đòrg Dương và eo biên Đài Loan
H ìn l 2.5 M õ tả lực tạo triều gây ra bởi lực hấp dẫn của M ặt Trăng lên Trái Đ ất (A)
và m ực nước triều ứng với các pha của M ặt Tráng trong tháng (B).
Aức chiều cao (4,0-4,5m) được ghi nhận ở phần bác vịnh Bấc Bộ, càng
xuốrg phía nam mức triều càng giám và đạt giá trị cực tiếu ớ cứa Thuận An
(0,5n), sau đó lại tăng dần, đạt cực đại lần thứ 2 tại Vũng Tàu, tương tự nhir
p hầr vịnh Bấc Bộ, đến Hà Tiên, độ cao thùy triều giám xuống giá trị cực tiểu
(l,2 n ) Trong nhũng vùng có biên độ triều lớn, trước các cứa sông lắm phù sa
như ừ Quáng Ninh đến Thanh Hóa hay cứa sông Cửu Long, mùi Cà Mau và
vịnh Rạch Giá thường xuất hiện nhũng bãi triều rộng, làm nền cho sự cư trú và
phát riển cùa cây rừng ngập mặn, tạo cơ sờ cho nghề khai thác và nuôi trồng
thiry.án nước lợ
"ốc độ dòng triều đi vào vùng cửa sông khá cao, từ 9 0 -1 50cm/s, còn hướng
dòmgtriều song song với hướng dòng chay sông khi xâm nhập vào lục địa, nhimg
thể hận tính triều xoay khi ờ xa các cửa sông (Vũ Trung Tạng, Lê Đức Tổ và nnk,
198:5 Theo các dòng sông, tốc độ truyền triều đạt 15-24km/giờ, còn anh hương cúa
thúy riều vào lục địa khá xa, từ 18 0 -1 90km dọc sông Hồng đến 350km dọc sông
C ừ u .ong (Nguyễn Ngọc Thụy, 1982)
loạt động cùa thúy triều diễn ra hàng ngày, không chi mang nãng lượng vào
vùnig:ứa sông mà còn tạo ra tính nhịp điệu trong đời sống của sinh vật trong vùng
25
Trang 272.3.2.2 Sóng và hái lưu ven bờ
Bèn cạnh hoạt động cùa thúy triều là tác động cùa sóng và hải lưu ven bờ, gây
ra bởi gió ma sát trên mặt đại dương Sóng chuyền vào bờ gặp bãi nông khi độ sâu năm trong khoáng 1,0- 1,5 độ cao sóng (h) thường gây ra sóng nhào, không chi làm xáo động mạnh khối nước mà còn húy hoại bờ và bãi biển (hình 2.6)
vận động sóng của khối nước
H ìn h 2.6 Sóng là m ột trong những động lực gây ra sự xói lờ bờ biển Sóng đ ư ợ c hình thành do gió (hình trái) Sự dao động xoay tròn của phân tử nướ c ờ bề m ặ t
có đường kính bầng chiều cao sóng (h), khi chuyển xuống sâu, giá trị đó ngày m ột giảm và tắt hẳn ờ độ sâu tầng nước bằng nửa chiều dài bư ớ c sóng (độ sâu = Ư 2 ) Sóng vỡ hay sóng nhào (hình phải) tại những độ sâu nầm giữa khoảng 1 -1 ,5 lần
độ cao sóng (h), ờ đấy cường độ bào mòn trở nên m ạnh nhất.
Độ cao của sóng do gió gây ra tùy thuộc vào cường độ và hướng ốn định cúa gió Ở ven biển thuộc châu thô Bác Bộ, sóng lớn thường trùng vào hướng gió đông và đông nam Ớ ven biến miền Trung, độ cao cua sóng phụ thuộc vào hướng đón gió cùa tùng đoạn bờ biên, thường có sóng lớn khi gió đông bắc hoặc gió đông, đông nam hoạt động mạnh Với những hướng gió trên, ờ Đông N a m
Bộ thời kỳ này gọi là “gió chướng” Sóng đạt độ cao lớn (3,0-3,5m)
Khi giông bão, đặc biệt là lúc triều cường, mực nước biển thường dâng c a o , gọi
là hiện tượng nước dâng, có sức hùy hoại mạnh và gây ra ngập mặn cho nhiêu vùng ven biển Các kháo sát đã ghi nhận nước dâng đạt độ cao ký lục là 360cm ngoài mực nước triều Trong cơn bão lrving-89, mực nước dâng quan sát được tại một số diêm ven biển không đồng nhất, tùy thuộc vào điều kiện mồi vùng (báng 2.3)
B á n g 2.3 M ực nước dâng trong cơn bão lrv in g -8 9 ờ ven biển vịnh Bẳc Bộ)
Địa đềm đo Triều (cm) Giá trị nước dâng
do bảo (cm)
Độ cao tống hợp so với số 0 hải đồ (c:m)
Theo: Đồ Ngọc Quỳnh, 2003, (KHCN-06, 1996-2(300)
Trang 28Đối với vùng ven biên nam vĩ tuyến 151>N mực nước dàng thuộc loại không lớn, thường dưới 50cm, giá trị cực đại chi đạt 200cm và rất ít khi xay ra Ngoài nước dâng do bão, nhũng thời kỳ triều cường ứng với hoạt động của gió mùa thịnh hành cũng gây hiện tượng nước dâng, làm ngập nhiều vùng đất thấp và ngập kéo dài, nhất là các đô thị ven biến có hệ thống thoát nước kém như TP Hồ Chi Minh, ven biển Ninh Thuận, Quang Ngãi Nước dàng làm úng lụt các thành phố và vùng đất thấp ven biến và còn tiếp tục xảy ra ác liệt hưn nữa khi Trái Đất
ấm lén, mực nước đại dương ngày một nâng cao
2.3.2.3 N hững hệ q u ả cứa các quá trình tương tác sông-biến
Sự phối họp hoạt động cùa các dòng sông và dòng biến gây ra do sóng, thúy triều và hài lưu ven bờ, ánh hương rất mạnh đến cấu trúc và đời sống cùa vùng cưa sông theo các phạm trù dưới đây
a) S ự xáo trộn của các khối nước và sự biến thiên của độ m uối
Trong vùng xáy ra sự hòa trộn giữa nước ngọt và nước mặn làm cho nước ngọt biến đồi hoàn toàn cá tính cua mình trở thành nước biển, cỏ độ muối xấp xi
độ muối cùa nước biển ven bờ Quá trình này được thực hiện từ phần đầu đến phần cuối cưa sông theo những cơ chế riêng
s%0
H ìn h 2.7 Sự biến đổi của độ m uối
A - Phân bố theo cá c tháng trong năm (1 9 7 4 -1 9 7 5 ) tại các trạm Bến G ót (a), Mũi Dộc (b) và B ằng La (c) B - Phân bố theo độ sâu tại cửa Lạch Huyện tháng 2 (a) và
tháng 8 (b) (Lưu Vàn Diệu, 1991)
Vào mùa nước lũ, với lưu lượng nước sông lớn, các cưa sông bị ngọt hóa hoàn toàn, những đường đẳng muối uốn cong ra biển, lưỡi nước ngọt cách cừa
27
Trang 29sông Hồng tới 30km, còn trước cưa sông Hậu tới 60km Do lượng nước ngọn lớn,
ư vùng cứa sông xuất hiện sự phân tầng tạm thời theo chiều thảng đứng, đ ặ c biệt
là các điêm gần cưa các con sông Điều này thấy rất rô trong sự biến thiên c u a độ muối theo các tháng trong năm và theo chiều thăng đứng cua khối nước liên quan đén mùa lù và mùa kiệt tại các trạm cứa sông thuộc địa phận Hai Phòng '(Lưu Văn Diệu, 1991) (hình 2.7)
Ngược lại, trong mùa khô trùng vào giai đoạn kiệt của dòng sông, nước biên xâm nhập sâu vào cưa sông và vùng đồng bàng thấp ven biến làm cho độ muối tăng lên rõ rệt, nhất là lúc triều cường Ngay đầu mùa khô, tháng 11 trước các cứa sông thuộc châu thô Bắc Bộ, độ muối thay đối rất nhanh, hinh thành các đường đăng muối thấp dần, ngày một xít nhau hơn khi tiến về các cưa sông Lúc này sự xâm nhập mận vào hạ lưu sông là khá xa Đường đăng muối 1%0 đạ t đến
2 lk m trên sông Hồng, 21-22km trên sòng Trà Lý (Vũ Truniỉ Tạng và nnk, 1985), thậm chí còn xa tới 57km trên sông Kinh Thầy thuộc hệ thống sông Thái Bình (Trằn Tuất, Nguyền Đức Nhật, 1980) (hình 2.8)
H ìn h 2.8 Đ ường giới hạn mặn (S%o) xâm nhập vào các cửa sông
ở châu thổ Bắc Bộ (Trung tâm Khí tượng T hủy văn biền, 1996)
Nhìn chung, các hệ thống sông ớ F3ắc Bộ và bắc Trung Bộ nhờ hệ thồing đê sông, đè biến rất vững chắc nên nước mặn chi xâm nhập theo các triền sôtng, ít gây anh hưởng tới đồng ruộng
Trước cửa hệ thống sông Cưu Long trong mùa kiệt (Q = 2.385m Vs), độ muối nước tầng mặt khá đồng đều, từ 30—3 1 %0 (Lagler, 1976), còn đường đẳng muối
Trang 304%( cùa nước biển xâm nhập vào lục địa trong tháng 4 chạy qua Bến Tre và Mỹ The kéo xuống Sóc Trăng, vòng lèn Long M ỹ , Gò Quao, Rạch Giá Như vậy, các huyìn Gò Công (Tiền Giang), tinh Ben Tre, các huyện ven hiên Trà Vinh, Sóc Trăig và bán đáo Cà Mau bị nhiễm mặn nặng với độ muối trên 4%0 (bang 2.4 và hình 2.9).
B á rg 2.4 Khoảng cách xàm nhập mặn từ Biển Đông vào đồng bẳng Sông Cửu Long
Zác nhảnh sông chính cả
lệ thống sông Cừu Long
Khoảng cách (km) từ cửa sông vào lục địa Lưu lượng 2000m3/s Lưu lượng 6000m3/s
Theo: Bộ Cài cách điền địa, phát triền nông thôn và nghề cá Nam Việt Nam, 1962)
Sụ biến thiên cua độ muối và những hệ qua đi kèm với nó anh hương trực tièp lên đời sông và sự phân bố cua các loài trong vùng cứa sông, ơ các cưa sông
quai chặt chẽ với hoạt
độrụ của thuy triều và quá
trinl đôi mới của khối
nưói Nghiên cứu cùa
Đoài Văn Bộ (I986) chi
ra nng, thúy triều ờ cửa
sông Hồng có thể đối mới
90°/c khối nước cửa sôna
tromị mỗi chu kỳ triều (24
giờ) và làm cho độ muối
biến thiên nhanh trong
khoaig thời gian một giờ
Trorụ các cửa sông mù,
vào hởi kỳ cừa bị đóng
lạm hời, sự biến đỏi đó
xảy a rất chậm, chi phụ
thmội chính vào lưu lượng
dòmgnước ngọt chay vào và sự bốc hơi cùa nước bề mặt Độ muối ồn định nhất
đ ư ạ tp h á t hiện trong các hồ nước mặn ven biển, tuy nhiên, với khoang thời gian dài* ộ muối cũng có thê biến đổi liên quan với chế độ mưa và dòng nước ngọt
H ình 2.9 Đ ườ ng giới hạn mặn 4%0 ở đồng bảng sông C ửu Long vào tháng 4 và sự phản bố độ muối
trư ớ c cửa sông vào tháng 9 ( * 29%0)
29
Trang 31Các cira sông mù và hồ nước mặn ven biến, đặc biệt ở những nơi khiô hạn hoặc bán khô hạn đều có thê xuất hiện trạng thái quá mặn (hyperhaine), thậim chí mặn gấp 3 lần độ mặn nước biển (Forbes & Cyrus, 1993) Sự giám thình liinh độ muối có thế xáy ra trorm những trận mưa rào và ngập lũ Những trạng thái rương phan hoặc quá mặn hoặc ngọt hoàn toàn cũng được phát hiện trong các p h i ven biên Nam Trung Bộ mà nôi bật là đầm Ò Loan (Nguyễn Văn Sưu, 1980) v à đầm Trà Ỏ (Vũ Trung Tạng, 1998).
Phần lớn các loài sinh vật cứa sông đều phái đối mặt với sư dao động c ù a độ muối, nhưng khả năng chống chịu với sự dao động đó tùy thuộc vào đặc tính từng loài Độ muối giảm thấp đến khoang 25%0 làm xuất hiện lập tức khả năng điều hòa áp suất thấm thấu cùa các loài cá biên nhiệt đới
Nhiều công trình liên quan đen kha năna này cùa cá đà được nghiên círu khá
kỹ (Green, 1968; Rankin & Jensen, 1993; Jobling, 1995) và chì ra rằng, độ muối
trước các cưa sông vào thờ i k ỳ m ùa m ira có thề g ia m đến 20-25% o ho ặc thấp
hơn Ớ một vài vùng như vịnh Bengal và một bộ phận cùa khối nước cận bò' Biến Đông, giá trị đó ít khi cao hưn 30%o Quần xã cá trong các vùng cưa sônjg ven biên khá đa dạnti (Pauly, 1985), gồm cả nhũng loài cá biên điên hình thuộ>c các
họ cá Đuối (Dasyatidae) và cá Nhám (Carcharhinidae)
Độ muối và sự dao động cua nó khône chi quyết định đến sự phân b'ố cùa các loài mà còn gây tác động đến quá trình trao đối chất của chúng, đồng thời được phán anh rõ nét trong tốc độ sinh trướng của cá con, những đối tượng được nuôi dưỡng trong thời gian ngắn ớ vùng cứa sông (Peterson et al., 1999)
Cùng với độ muối, độ đục cùa nước cửa sông gây tác động đáng kê đ ền đời sống sinh vật trong vùng, bao gồm cá nhiều loài cá Thứ nhất, độ đục n h ư một phương tiện báo vệ các loài trước sự sãn bắt cùa động vật ăn thịt, nhất là những loài bất mồi có hiệu quá trong điều kiện tầng nước được chiếu sáng tốt nhiư các loài cá ăn cá (piscivore) thuộc họ Carangidae, Sphyraenidae (Hecht & Vain der Lingen, 1992) Thứ hai, sụ tăng độ đục trong vùng cưa sông kẻo theo sụr phát triển phong phú cúa nguồn thức ăn động vật nồi (Zooplankton) với mật độ thường cao hem so với những cưa sông nước trong khác Zooplanton, về phía mình, lại lôi cuốn vào đây số đông các đàn cá ăn động vật nôi (planktivore) C hẳng hạn, trong các cứa sông ờ Borneo với độ đục cao, thường gặp nhiều loài thuiộc họ Clupeidae và Engraulidae vào kiếm ăn; ngược lại, ơ những cứa sông nước rtrong, hiện tượng đó không \u ất hiện (Blaber et al., 1997)
Cuối cùng, độ đục còn tạo cơ chế cho các loài động vật xâm nhập vào- hoặc rời khoi vùng cửa sông Trong tô hợp các nhân tố như sự giảm độ muối, khái nâng
Trang 32kiểm mồi dề dàng, ít vật ãn thịt thì độ đục đóng vai trò định hướng đôi với sự di chuyển cửa đàn cá vào cứa sông (hình 2.10).
I
Vùng sống vỏ Ị Bãi đẻ
H n h 2.10 Di cư của ấu trùng cá đối (Mugil cephalus) vảo cửa sông liên quan với
độ đục của nước (Blaber, 1987)
b) S ụ p h â n b ô và lắ n g đ ọ n g các trầ m tích
Lực tương tác sông-bien trong các cứa sông và đới nông ven bờ kế cận có
V a trò quan trọng trong sự phân bố và sắp xếp tại các trầm tích Những vật liệubia* mon tư lục địa Kích thước hat
đưrc dòng sông mang
ra biến hoặc từ biển
đurc dòng biến đem
v à« bờ khi tới cửa sông
đưíC chọn lọc và lắng
đ'Ọig tại các khu vực
kJh;c nhau tùy thuộc
v;à( tốc độ dòng chảy,
vài kích thước và khối
lưọig riêng cua trầm
tíicl Ket quá trên đưa
điếi sự xuất hiện những
X(03ig đáy, những dải cát và sa khoáng, những bãi ngâm có câp độ hạt khác nhau, nỊgiồn gốc khác nhau, hoặc trầm tích sông hoặc trầm tích biển hoặc có nguồn gốc ih(ỗi hợp sông-biền (hình 2.11)
Trầm tích sông Trầm tích biển
Điẻm cân bầng
Trang 33ơ trước cưa các sông giàu phù sa như sông Hồng và sông Cưu Long, nhờ lượng trầm tích khổng lồ được đem ra từ các dòng sông, các bãi n:gầm (avandelta) lần lirợt ngày một nâng lên, tturờng thành tạo các cù lao, cồn, đao chăn lay cửa sông, buộc sông phai phân dòng để đưa nước ra biển Sự phàn nhánh, tách dòng cùa hệ thống sông Hồng, sông Cửu Long là nhũng minh chứng điên hình cho quá trình phát triển cua các dai đồng bằng ven biến hay phirơnu thức lân biên tự nhiên cùa các rìa châu thô ơ đây, cân nhấn mạnh rằng, hình (thái, thậm chí ca vị trí cua các cồn, đáo cưa sông rất biến động do tác động cùa dòng sông, dòng biên, sóng, kè ca hoạt động cua gió khi cồn đã nôi khoi mặt niước Như vậy, tại các cưa sông kiểu tam giác châu, sự phát triển cua rìa châu thổ idiễn
ra liên tiếp theo kiêu “đất lấn biên”, nghỉa là cùng với dòng nước ngọt, cát phù sa chuyên ra vùng cùa sông được sáp xếp và lắng đọng đê tạo nên trên thềm đáy các vai cát và cồn bãi ầm Theo thời gian, các cồn, bãi được nâng cao dần, nổi Ikhói mặt nước tạo thành các đao cưa sông và đồne bằng châu thô Con người đà can thiệp vào quá trình biến đỏi này bàng còng cuộc quai đê lấn biên với phurơng thức vùng nước nông được khoanh lại đế tạo ra các đầm nước lợ nuôi trồng Ithuy sàn Đât phía ngoài vẫn tiếp tục lấn ra biến, còn đầm phía trong nhạt dần,, cói được trông thay thê cho các đối tượng thủy sàn và ơ giai đoạn cuối cùng cùa quá trinh mệnh danh là “thau chua, rứa mặn”, đất trớ nên ngọt, chuyền thành đất mông nghiệp, trồng lúa và hoa màu (hình 2.12)
Thau chua rưa mận là phương thức hoạt động đúng hướng, họp với quy luật phát trièn của các cưa sông châu thồ, nhưng cần lưu ý rằng, tốc độ lấn biên cua con người nhiều khi quá nhanh so với tự nhiên, đê lại phía trong đê những ô trũng, chưa được tự nhiên bồi đấp một cách hoàn chinh, tương tự như các ô trũng cua châu thồ đã timg xuất hiện trước đây trong nội đồng, tuy nhiên, chửng hoàn toàn khác nhau về phương thức và những nguyên nhân thành tạo, song đều gây khó khăn cho công tác thúy lợi sau này Hiện nay, do thiếu hiếu biết hoặc d o lợi
ích trước m ắt, ớ m ộ t số đ ịa phương ven biên, con ngư ờ i đã hoạt đ ộ n g trá i n g ư ợ c
với những quy luật phát tricn cùa ria châu thồ thuộc các hệ cưa sông dielta Nhũng diện tích đắt giánh giật được với thiên nhiên trong quá trinh quai đ ê lần biên và trai qua thời gian dài “thau chua, rira mặn” đến mức thuần thục đối với cây trồng, trước hết là cho lúa, đà bị đào bới, lấy nước mặn trở lại đè chuyến thành các ao đầm nuôi trông thúy san nước lợ, mặc dù những ao đâm này chu tồn tại vài ba năm, sau đó môi trường thoái hoá, năng suất nuôi trồng giám thắp v à bị
bo hoang (Vũ Trung Tạng và nnk., 2005; Nguyền Long, 2003)
Đối với các hệ cửa sông hình phều, lưu lirợng dòng cháy thấp và lượng bùn cát ít thì tác động cùa dòng biên trơ nên ưu thế, nhất là trong các tháng mùa Ikiệt Hoạt động cùa thúy triều tạo ra lực bào mòn bài bờ, đáy sông làm cho thung
Trang 34lũng sông sâu thèm, dòng chảy trở nên uốn lượn, khúc khuỷu, lòng sông mờ rộng, cứa sông ngày một loe ra biến Do đó, phạm vi của vùng cứa sông theo hướng thượng nguồn có thế ngày một lấn sâu vào đất liền Quá trình phát triển này ngược với diễn thế cùa các cừa sông kiểu tam giác châu, nghĩa là kiểu “biển lấn đất”, đã được một số nhà khoa học quan tâm khảo sát (Trần Đức Thạnh, 1991; Trần Đức Thạnh và nnk, 1991; Nguyễn Chu Hồi và nnk, 1991).
Giai đoạn II
Cồn cát
Hình 2.12 M ô hình về sự p h át triển của rìa châu thổ sông Hồng (lát cắt từ đất ra biển vớ i giả thiết 3 giai đoạn) Giai đoạn I: A -Đ ầ m nướ c lợ; B -B ã i triều;
C -B iể n nông G iai đoạn II: A -Đ ầ m nước ngọt, B -Đ ầ m nướ c lợ; C -B ã i triều;
D -B iể n nông G iai đoạn III: A -Đ ấ t nông nghiệp; B -Đ ầ m nước ngọt;
C -Đ ầ m nư ớ c lợ; D -B ã i triều và E -B iể n nông
Trước các cửa sông miền Trung, nơi mùa khô kéo dài hơn nửa năm, lưu lượng nước và khối vật liệu bồi tích của các hệ thống sông ít, dòng biển ven bờ trở thành động lực chù yếu đối với sự phát triển cùa bờ biển Khi chảy men theo
bờ cùng với lượng trầm tích mang theo, chúng đã nối đảo với đào hoặc nối đào với đất liền để thành tạo những bán đảo (bán đáo Sơn Trà, khối đảo mũi Ba Làng An), nhũng vịnh nông hoặc khi gặp các cứa sông do tương tác sông-biển, các vật liệu bồi tích được vun lên để hình thành các dải cát ôm lấy khối nước nông phía trong, tạo nên các phá Theo thời gian, có thể vài ba trăm năm, các hệ phá cũng lần lượt tiến ra biến bằng phương thức lấp đầy, làm xuất hiện dải cát mới phía ngoài, một vụng nước mới tré hơn thay thế cho phá cũ đã suy tàn mà nó chi còn
để lại những rạch nước nông đứt đoạn ở phía trong (Krempí, 1930)
Trang 35Tại nhũng nơi mật độ sông suối quá it như các tinh duyèn hái ớ Trung và Nam Trung Bộ, dòng biến thắng thế trong cán cân tương tác sông-biên đã chuyển một khối lượng lớn trầm tích biền vào bờ, vun lên thành những cồn cát rộng lớn với độ cao có nơi lên đến 30-40m Diện tích chung cùa dài cồn cát kéo dài từ Hà Tình đến Ninh Thuận được đánh giá vào khoáng lOO.OOOha, sơng lớn
nhất tập trung ớ tinh Quảng Bình (39.000ha), Phú Yên (14.000ha), Q uang Trị (13.000ha), Quảng Ngãi (lO.OOOha) Đối nghịch với dái đầm phá, các cồru cát thường nghèo kiệt và như một tai họa, xâm lấn đồng ruộng, làng mạc phia trong
do sự di chuyển cùa chúng theo gió Tránh rủi ro trên, cộng đồng dân cư địa phương từ lâu đã trồng những đai rừng phi lao chấn gió, chống cát bay và dưy trì
sự ốn định của cồn cát Song rất đáng tiếc, hiện nay người ta đà húy hoại chúng bàng cách đốn hạ rừng, đào bới cát làm ao đầm và khai thác nước ngầm vốn ít ói
để nuôi tôm Việc làm này rất tự phát và không được quán lý đã đê lại những hậu quả sinh thái tiềm ẩn nghiêm trọng
Quá trình tương tác sông-biền như trên không chi gây ra sự thay đổi trực tiếp ở vùng cùa sông mà còn làm cho đường bờ kế cận với nó, thậm chí cá nhũng địa điềm xa hơn bị biến dạng Tại những nơi mà khá nãng bồi tích cua sông, biên kém, lại phơi ra trước sóng gió, sự xói lờ bờ, bãi biến xảy ra càng mãnh liệt Hàng loạt những đoạn bờ như Cát Hải (Hải Phòng), Văn Lý (Nam Định), bờ biến phía đông cùa bán đào Cà Mau, từ Gành hào đến rạch Dương là những toàng chứng cho sự xói lở cứa bờ biền, gây ra bời nhiều nguyên nhân mà con người còn chưa nhận thức hết được Song những đoạn bờ trước châu thổ, chẳng hạn ờ Thái Thụy (Thái Binh), bờ nam huyện Giao Thùy (Nam Định) cũng đang bị bào mòn, nhưng mang tính tạm thời, nhàm xác lập lại trẩc diện cân bàng trong x u thế chung tiến ra biển cùa rỉa châu thổ (Vũ Trung Tạng, Nguyễn Hoàn và nnk, 1 985;
Vũ Trung Tạng, 2005)
Hiện tại, hoạt động cùa con người tại vùng cứa sông cũng như ở các hệ sinh thái liên đới càng thúc đẩy sự thay đối cán cân tương tác sông-biển, đưa đến những biến động ngày càng phức tạp và mạnh mẽ hơn đối với các điều kiện môi trường cừa sông và đới biển nông ven bờ, như việc quai đê lấn bièn khi bãi biên chưa được bồi đắp một cách hoàn chinh, triệt hạ rừng ngập mặn và rừng ph.i lao chấn gió ven biến để mờ mang diện tích ao đầm nuôi trong thúy sán, lấy đấr cho nông nghiệp và định cư; việc xây dựng các công trình ven biến, nạo vét luồng lạch cừa sông không trong quy hoạch hoặc tùy tiện, thiếu hiểu biết; việc đẳp đập để hình thành các hồ chứa, chạy máy phát điện trên các vùng trunig và thượng lưu các dòng sông Đương nhiên, những hậu quá sinh thái gây ra do hoạt động cùa con người như thế chưa được đánh giá một cách nghiêm túc và đ ầy đu, chắc chấn dẫn đến những thiệt hại đáng kể về tài nguyên và môi trường, đồn g
Trang 36thời dưa nên kinh tê cùa các vùng duyên hài vào tình trạng phát triên kém bên
ũ m g (Vù Trung Tạng, 1982, Vù Trung Tạng và nnk., 1985, Vũ Trung Tạng,
1994, 2004, 2005)
Sự biến thiên của các yếu tố khác trong vùng cửa sông
Quá trinh tương tác sông-biền còn gây ra sự biến động cùa các yếu tố môi trường khác như chế độ nhiệt, hàm lượng khí, các muối dinh dưỡng v.v
Nhiệt độ nước
Nhiệt độ nước trong vùng cứa sông phụ thuộc vào nhiệt độ cùa nước dòng sòng và nước biển hòa trộn với nhau Trong mùa hè, nhiệt độ nước thường cao (27-30°C), giám theo quy luật từ bờ ra khơi, từ mặt xuống đáy và từ nơi nước nông đến nơi nước sâu Ngược lại, trong mùa đông, nhiệt độ nước lại tăng theo các hướng đó Song, sự chênh lệch nhiệt độ giữa tầng mặt và đáy ờ những nơi nươc nông (0 đến 15-20m) không lớn, trong khoáng 0,5-2,0°C Sự chênh lệch nhiệt độ nước tầng mặt giữa ngày và đêm cũng khoáng 2-3°C, trong mùa hè nươc mát hơn vào ban đêm, còn trong mùa đông nước ấm hơn vào ban ngày (Vũ Trung Tạng và nnk, 1985)
Độ pH
Độ pH cùa nước phụ thuộc vào mức độ hòa trộn cùa nước sông với giá trị thương nhó hơn 7,4 và nước biên thường cao, 8,1-8,4 (Constantinov, 1984) Do sự đôi mới nước của cửa sông và tý lệ hòa trộn cua nước sông và nuớc biến mà giá trị
pH trong khối nước cưa sông thuộc châu thố sông Hồng cũng như ở các hệ cứa sông khác dao động từ 7,8 đến 8,4, cao và ổn định trong thời kỳ mùa khô và ờ nhìng nơi xa dần khói ánh hưởng cùa khối nước ngọt đổ vào biển (Đoàn Văn Bộ, 198-5; Lưu văn Diệu, 1991) Khoáng giá trị trên là ngưỡng thuận lợi đối với đời sống sinh vật, kê cá các giai đoạn từ trứng, ấu trùng đến trạng thái trướng thành
Các khí hòa tan
Tại các vùng cứa sông, hàm lượng oxy thường cao do nước luôn được xáo trộn Trong điều kiện nước thật sạch, ở 0°c một lít nước có thể hòa tan 10,29ml oxy song khi nhiệt độ và độ muối nâng cao, trị số đó giám Chẳng hạn, ờ 20°c
độ nuối thay đối từ 3 đến 4%0, hàm lượng oxy trong nước cũng thay đổi theo, từ 5,53 đến 5,18ml/l, còn ớ 30°c với các độ muối trên, hàm lượng oxy sẽ là 4,65 và 4,35nl/l tưong ímg Hàin lượng oxy tương tự như thế (4,5—5,5rnl/l) gặp tại vùng cứa lông ven biển Hái Phòng (Lưu Vãn Diệu, 1991) Hàm lượng oxy hòa tan giảrr khi nước cưa sông bị ô nhiễm bời các chất thái, nhất là chất thải hữu cơ khỏrg được xứ lý từ các cơ sớ công nghiệp, các ao đầm nuôi trồng thúy sán và nơi tìp trung dân cư ven biển thải ra
35
Trang 37Hàm lượng CO2 trong vùng cừa sông thường thấp vi giá trị pH cùa nước cac lơn giá trị trung bình, tạo nên một hệ đệm, trong đó tương ứng với giá trị pH cao, phần lớn
H2CO3 chuyển sang HCCV và RCO3 (R thường là Ca2*, Mg2*)
Ờ đáy những nơi tù đọng, nhất là trong các ao đầm nuôi trồng thúy sàn c ó hệ
số trao đổi nước thấp, do sự phân hủy cùa các hợp chất hữu cơ, trước hết là xác thực vật ngập mặn, hàm lượng 02 giảm, CO2 tăng và nhiều trường hợp còn xuất hiện khí độc như metan (CH4) và hydrosulfua (H2S)
Sự tạo thành H2S do các vi khuẩn kị khí khừ Sulfat, một chất rất giàu trong vùng cửa sông, ở điều kiện ngập nước, không có O2 và giàu chất hữu cơ:
6 (CH20 ) + 3Na2S 04 -> 3 C 02 + 3Na2C 03 +3H2S + 3H20 + Q (calo)
Vi khuẩn nhận 0 2 từ SO42” để oxy hóa các chất hữu cơ lấy năng lưạn:g sử dụng cho hoạt động sống cùa mình Hơn nữa, trong vùng được phù bới rừng ngập mặn, ở đáy đầm lầy cũng như trong đất chứa xác thực vật thường hình thành phèn Nhiều công trình chi ra rằng, phù sa sông chứa nhiều nhôm v à sất, còn trong nước biển chứa lượng lớn muối natri Sulfat (N aíS O Ạ Khi các chấn này tương tác với nhau làm xuất hiện các phản ứng trao đổi để tạo nên R.2(SO.»)3 <(R là
AI hoặc Fe) Bị thủy phân, các muối này sẽ sinh ra axit sulfuric làm giảm độ' pH,
có nơi xuống dưới 3
3Na2S 04 + 2R(OH)3 -> R2(S0 4)3 + 6NaOH
R2( S 04)3 + 6H2O -> R(OH)3 + H2SO4
Các Sulfat này là nguồn gốc chính của sự hình thành phèn vì chỉ có sự tương tác sông-biển mới có khá năng tích lũy lượng Sulfat đú lớn để thành tạo lớp trầm tích mà tỳ lệ pyrit (FeS2) đạt từ 4% trớ lên (tầng jarosite)
Các quá trình sinh H2S, H2SO4 và sự hóa phèn cùng xảy ra với sự thànih tạo khí metan (CH4), CO2 ở các lớp đáy Song, khi xuất hiện trong điều kiện thioáng khí chúng dề bị oxy hóa hoặc bị các vi sinh vật hiếu khí phân giái (hình 2.13)1
Các chắt dinh dưỡng
Các chất dinh dirỡng được cung cấp cho vùng cừa sông bởi nhiều nguồm, từ lục địa được các dòng sông mang ra hay từ biền được dòng triều mang vào 'và cà các chất được hình thành tại chồ do hoạt động của các loài sinh vật cừa sông thông qua mối quan hệ dinh dưỡng cùa các loài trong quần xã (hình 2.14)
Các sông nhiệt đới, nhất là vào thời kỳ mưa lũ thường đem đến cho các cửa sông nguồn chất dinh dưởng lớn lao, gồm mùn bã hữu cơ, các muối vô cơ v à hữu
cơ hòa tan, hợp chất tạo keo, v.v Phù sa cùa sông Hồng (tại Sơn Tây) chứai một lượng mùn bã hữu cơ lên đến 4,6mg/l, đạm và lân tống số tương ứng là 4,6 và 3,0mg/l, còn muối ở dạng dề tiêu: N H / - 0,67mg/l; N O3 -^4,ơmg/I; PiOs-Kóimg/l;
Trang 38K20-9 ,0 m g /l; các ion trao đồi: Ca2+-1,975 mili-đl/1; Mg2t-0,638 mili-đl/l (Nguyền Viết Phồ, 1984).
Hình 2.13 Sơ đồ về mối quan hệ của các quá trinh phân giải cuối cùng đối với các chất nhận điện tử có thể có trong tầng lắng đọng ở đ ảy các thủy vực cửa sông
(Theo: Klug e ta l., 1982)
Sông Cửu Long hàng năm đã chuyển ra vùng cửa sông 70-100 triệu tấn bùn cát, 75 triệu tấn các muối hòa tan và 20.000 kg/ha mùn bã thực vật (Lagler, 1976) Ớ sông thuộc phần đầu châu thổ (Campuchia) hàm lượng muối photphat dao động trong phạm vi 0,19-0,24mg P 0 4271; silic: 4,51-4,80mg/l; Feỉ+: 0,2-
0,3mg/l, c r 21,3-24,9mg/l (Nguyễn Xuân Tấn, Nguyễn Vãn Hảo, 1991)
Bèn cạnh đó là nguồn muối dinh dưỡng đuợc chuyển lên từ đáy biển do thùy triều, từ sự phân húy của các thảm cỏ biển, từ cây rừng ngập mặn Rừng Cà Mau, chẳng hạn, mỗi năm cung cấp 10,5 tấn/ha các sản phẩm rơi rụng Nhũng chất này tiếp tục bị phân hùy rồi chuyển ra vùng cừa sông một lượng đáng kề, chiếm tới 40% tổng sàn phẩm rơi rụng (Phan Nguyên Hồng và Nguyễn Hoàng Trí, 1984) Nhờ quá trinh làm giàu đó mà hàm lượng muối nitrit cùa một số vùng cửa sông dao động trong khoảng 4,2-12,7m g/m 3; nitrat: 64-472mg/m3; muối amôn: 93- 472mg/ni3; photphat: 11,2-1 l,6mg/m3; muối silic: 300-2300mg/l; ở tầng đáy, hàm lượng các muối cao hơn đôi chút so với tầng nước mặt (Đoàn Văn B ộ , 1986, Nguyễn Đức Cự, 1991) Do vậy, trong vùng cứa sông nhiệt đới, muối nitơ, muối photphat và các muối khác không bao giờ giới hạn đối với sự phát triển cùa thục
37
Trang 39vật nổi (Ryther và Dunstan, 1972) Vì vậy, ờ khu vục nước nông phía tây vịnh Bấc Bộ, do nguồn khoáng giàu có được chuyển ra từ lục địa, thực vật nôi phát triển cực thịnh, làm cho nước nở hoa Sau khi chết, xác tào được sóng dồn thành những đám xốp, phù lên mặt nước một lớp dày đến 0,5m, trôi qua cứa vịnh ra Biển Đông (Gurianova, 1972).
Hinh 2.14 Sơ đồ chu chuyển của các hợp chất hữu cơ trong vùng cử a sông
(Theo R euter J.H & Perdue EM 1977).
Detrit (detritus) là sàn phẩm được tạo ra do sự tan rã cùa xác chết nhiư thành
tế bào, cấu trúc xương và những mẩu protein hay xelluloz cùng với các chất bài tiết (excrement) cùa các loài động vật thường tồn tại dưới dạng các phần từ lơ lừng Trong quá trình phân hùy, các mành vụn hữu cơ hay keo hữu cơ lại là nơi
cư ngụ cho các vi sinh vật, tảo, thậm chí cả các loài động vật nguyên sinh (hình
Trang 402.15) Nhùng sinh vật này có mặt trên cơ chất trên trong hoạt động sống cùa mìrh đã tạo ra sinh khối và
nhiìu chất có hoạt tính sinh học
cao như các enzyme, vitamin,
hoccmon, các chất kháng sinh
Do đó, mùn bã hữu cơ được
xen là “một dạng vật chất có
ngiồn gốc sinh học đang được
phái huy bới vi sinh vật ở các
giai đoạn khác nhau và trở
thàih thức ãn tiềm tàng cho các
loài sinh vật ăn mùn bã”
(deritivore) như trùng bánh xe,
giá[ xác, thân mềm, da gai,
mộisố loài cá (Damell, 1966)
Các hợp chắt hữu cơ được thành tạo chú yếu từ nguyên tố cacbon, sau đó, phầi lớn các họp chất hữu cơ khác lại được tổng hợp nhờ các loài vi sinh vật, ví
dụ, ;ác hợp chất chứa nitơ, phôtpho; các vitamin, lipit, hoocmon, humic Phần lớn rong chúng là những chất hữu cơ hòa tan (disolved organic matter, DOM).Hợp chất humic là chất phổ biến trong các thủy vực và là sàn phẩm phân rã cuố cùng của cơ thể thực vật, động vật do hoạt động của vi sinh vật Một số chất hòiatan hay dưới dạng các phần tử có nguồn gốc từ mặt đất do sự rửa trôi đi vào thũ\ vực, một số có ngay trong thúy vực do sự phân hủy tại chỗ cùa xác tào trong tầnị nước Tất cá các dạng humic đều là hỗn hợp cùa nhiều hợp chất quininoit, nguin gốc protein và polyphenol Chúng được xác định theo mức tăng khối lưạig phân tử, giám khà năng hoà tan trong nước, trong ethanol và trong kiềm, còm iước sóng hấp thụ ánh sáng ngày một tăng
Pheo đánh giá, trong một thế tích nước biển, các chất hữu cơ hoà tan đạt đến 90—'8% tồng lượng chất hữu cơ, chi 2-10% thuộc dạng cơ thể sổng và cặn vẩn, troin; đó 2 dạng sau cũng có tý lệ tương ứng là 1: 5 Ở các thúy vực nước ngọt cũiriị có tình trạng tương tự
Nỉhiều loài thuỷ sinh, trước hết là vi khuẩn và động vật nguyên sinh, có khả năirií hấp thụ được các chất như đường đơn, vitamin, axit amin và những chất hừTu :ơ hoà tan khác trong nước như một nguồn thức ăn thông qua con đuờng thâin thấu Sự có mặt cüa photphotaza kiềm đôi khi đóng vai trò rất quan trọng troin đời sống của thực vật nước Chất này được chiết ra bới khuẩn Lam (Cxyaobacteria) và tạo ra kha năng giái phóng photpho từ ester đon photpho, mộ)t hất trao đồi ngoài cùa táo Adenozintriphotphat (ATP) hoà tan trong nước
Hình 2.15 M ô tả m ột phần tử detrit điẻn hình với sự phân bố của các loài vi sinh vật theo
các vết nứt, hõm trên đó (Theo: M eadow ns và Anderson, 1968)
39