1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

văn hóa phật giáo và vấn đề bảo tồn văn hóa phật giáo việt nam từ sau đổi mới đến nay

41 53 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 41
Dung lượng 94,11 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

bài đầy đủ một tiểu luân gồm tất cả các mục. lời cảm ơn mở đầu nội dung kết luận tài liêu tham khảo Trải qua hơn 2.000 năm du nhập và phát triển ở Việt Nam, Phật giáo đã chứng tỏ được vị thế của mình, gắn bó cùng dân tộc, hòa quyện với văn hóa dân tộc, những thành tố văn hóa dân tộc Việt Nam như: ngôn ngữ, niềm tin, tập quán, văn học, nghệ thuật,…không đâu là không có dấu ấn của văn hóa Phật giáo. Được biết đến là một trong ba tôn giáo lớn trên thế giới(1), ra đời ở Ấn Độ vào khoảng thế kỷ thứ VI trước Tây lịch. Du nhập vào Việt Nam từ rất sớm (đầu Tây lịch), Phật giáo đã nhanh chóng hòa mình cùng dòng chảy của văn hóa dân tộc Việt Nam, gần gũi và thấm sâu trong tâm thức của người dân Việt, dung hợp với tín ngưỡng bản địa, tham gia vào công cuộc xây dựng và bảo vệ đất nước, thổi vào văn hóa Việt Nam một làn gió văn hóa mới, đó chính là văn hóa Phật giáo. Giáo lý, đạo đức Phật giáo với sự đề cao tính nhân ái, vị tha, khuyên răn con người tránh điều ác, làm điều thiện, tất cả đều gần gũi với tư duy, lối sống và văn hóa của con người Việt Nam. Phật giáo đã đóng góp những giá trị văn hóa của mình để làm giàu và phong phú hơn cho kho tàng văn hóa Việt Nam. Chính bởi vậy, văn hóa Phật giáo được xem như một thành tố không thể thiếu của nền văn hóa dân tộc Việt Nam. Phật giáo với tư cách là một tôn giáo luôn đồng hành cùng dân tộc, vì vậy trong giai đoạn hiện nay khi vấn đề toàn cầu hóa đang ngày càng mở rộng, đặt ra những thách thức đối với sự đổi mới và phát triển văn hóa, con người Việt Nam thì văn hóa Phật giáo với những giá trị của mình sẽ ảnh hưởng trực tiếp và đóng vai trò là một chủ thể quan trọng để trở thành cầu nối cho văn hóa Việt Nam sánh bước phát triển cùng với nhiều nền văn hóa khác trên thế giới. Hơn nữa, trong bối cảnh hiện nay, khi hiện tượng xâm lăng văn hóa, những làn sóng văn hóa ngoại lai đang trở thành rào cản, làm mất đi những giá trị văn hóa truyền thống quý báu của dân tộc ta thì việc nghiên cứu về văn hóa Phật giáo và bảo tồn văn hóa Phật giáo Việt Nam với mục đích gìn giữ và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc lại càng trở nên ý nghĩa và thiết thực. Xuất phát từ những lí do nêu trên tôi chọn đề tài nghiên cứu “Văn hóa Phật giáo và vấn đề bảo tồn văn hóa Phật giáo Việt Nam hiện nay” làm bài tiểu luận của mình. Với đề tài này, tôi mong muốn góp một phần nhỏ vào việc nghiên cứu văn hóa Phật giáo, đồng thời nhận định rõ hơn vị thế của văn hóa Phật giáo trong xã hội Việt Nam hiện nay và đưa ra một số giải pháp nhằm bảo tồn, phát huy những tinh hoa của văn hóa Phật giáo trong nền văn hóa Việt Nam.

Trang 1

Qua đây em cũng gửi lời cảm ơn tới các cán bộ Thư viện trường Đại học Sư phạmHuế đã giúp em trong quá trình thu thập tư liệu để làm bài tiểu luận.

Đồng thời, em cũng gửi lời cảm ơn chân thành đến những người thân trong giađình và bạn bè đã luôn bên cạnh, động viên, giúp đỡ em có thể hoàn thành tốt nhiệm

vụ học tập trong thời gian qua

Em xin chân thành cảm ơn!

Sinh viên thực hiệnNguyễn Thị Ánh Ngọc

Trang 3

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Trải qua hơn 2.000 năm du nhập và phát triển ở Việt Nam, Phật giáo đã chứng

tỏ được vị thế của mình, gắn bó cùng dân tộc, hòa quyện với văn hóa dân tộc,những thành tố văn hóa dân tộc Việt Nam như: ngôn ngữ, niềm tin, tập quán, vănhọc, nghệ thuật,…không đâu là không có dấu ấn của văn hóa Phật giáo Được biếtđến là một trong ba tôn giáo lớn trên thế giới(1), ra đời ở Ấn Độ vào khoảng thế kỷthứ VI trước Tây lịch Du nhập vào Việt Nam từ rất sớm (đầu Tây lịch), Phật giáo

đã nhanh chóng hòa mình cùng dòng chảy của văn hóa dân tộc Việt Nam, gần gũi

và thấm sâu trong tâm thức của người dân Việt, dung hợp với tín ngưỡng bản địa,tham gia vào công cuộc xây dựng và bảo vệ đất nước, thổi vào văn hóa Việt Nammột làn gió văn hóa mới, đó chính là văn hóa Phật giáo Giáo lý, đạo đức Phậtgiáo với sự đề cao tính nhân ái, vị tha, khuyên răn con người tránh điều ác, làmđiều thiện, tất cả đều gần gũi với tư duy, lối sống và văn hóa của con người ViệtNam Phật giáo đã đóng góp những giá trị văn hóa của mình để làm giàu và phongphú hơn cho kho tàng văn hóa Việt Nam Chính bởi vậy, văn hóa Phật giáo đượcxem như một thành tố không thể thiếu của nền văn hóa dân tộc Việt Nam

Phật giáo với tư cách là một tôn giáo luôn đồng hành cùng dân tộc, vì vậytrong giai đoạn hiện nay khi vấn đề toàn cầu hóa đang ngày càng mở rộng, đặt ranhững thách thức đối với sự đổi mới và phát triển văn hóa, con người Việt Namthì văn hóa Phật giáo với những giá trị của mình sẽ ảnh hưởng trực tiếp và đóngvai trò là một chủ thể quan trọng để trở thành cầu nối cho văn hóa Việt Nam sánhbước phát triển cùng với nhiều nền văn hóa khác trên thế giới Hơn nữa, trong bốicảnh hiện nay, khi hiện tượng xâm lăng văn hóa, những làn sóng văn hóa ngoạilai đang trở thành rào cản, làm mất đi những giá trị văn hóa truyền thống quý báucủa dân tộc ta thì việc nghiên cứu về văn hóa Phật giáo và bảo tồn văn hóa Phậtgiáo Việt Nam với mục đích gìn giữ và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc lại càngtrở nên ý nghĩa và thiết thực

Xuất phát từ những lí do nêu trên tôi chọn đề tài nghiên cứu “Văn hóa Phật

giáo và vấn đề bảo tồn văn hóa Phật giáo Việt Nam hiện nay” làm bài tiểu luận

của mình Với đề tài này, tôi mong muốn góp một phần nhỏ vào việc nghiên cứuvăn hóa Phật giáo, đồng thời nhận định rõ hơn vị thế của văn hóa Phật giáo trong

xã hội Việt Nam hiện nay và đưa ra một số giải pháp nhằm bảo tồn, phát huynhững tinh hoa của văn hóa Phật giáo trong nền văn hóa Việt Nam

(1) Hai tôn giáo kia là: Kitô giáo và Hồi giáo

Trang 4

2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề

Văn hóa Phật giáo với tư cách là một nhân tố cấu thành trong văn hóa Việt Namnên không thể thiếu vào việc tham gia và đóng góp trong tiến trình xây dựng nềnvăn hóa dân tộc Tuy nhiên, nghiên cứu về văn hóa Phật giáo và bảo tồn văn hóaPhật giáo Việt Nam vẫn chưa có nhiều công trình khai thác chuyên sâu Trongphạm vi liên quan đến đề tài này, tôi tạm chia ra các mảng như sau:

Các công trình sách nghiên cứu về Phật giáo và văn hóa Phật giáo gồm có:

- Về Phật giáo: Tư tưởng Phật giáo Việt Nam của Nguyễn Duy Hinh, 1999; ViệtNam Phật giáo sử luận I - II - III của Nguyễn Lang, 2000; Tinh thần nhập thế củaPhật giáo Việt Nam(1945-1975) của Lê Cung,2019; Lịch sử Phật giáo Việt Namcủa Lê Mạnh Thát (gồm tập I, II, III xuất bản năm 1999, 2001 và 2002); Kháilược Phật giáo Việt Nam của Nguyễn Cao Thanh, 2008; Mấy vấn đề về Phật giáotrong lịch sử Việt Nam của Nguyễn Đức Sự và Lê Tâm Đắc, 2010;… Đây là một

số công trình nghiên cứu khái quát về quá trình du nhập và phát triển của Phậtgiáo vào Việt Nam, qua đó giúp người đọc hiểu rõ hơn về tiến trình hình thành vàphát triển của Phật giáo Việt Nam qua hơn 2.000 năm lịch sử, Phật giáo đã gắn bó

và bám rễ, thấm sâu trong đời sống tinh thần, sinh hoạt văn hóa, tập quán, tínngưỡng của người Việt Nam

- Về văn hóa Phật giáo có những công trình kể đến như: Văn hóa Phật giáo và lốisống của người Việt ở Hà Nội và châu thổ Bắc Bộ của Nguyễn Thị Bảy, 1997;Phật giáo với văn hóa Việt Nam của Nguyễn Đăng Duy, 1999; Truyền thống vănhóa và Phật giáo Việt Nam của Minh Chi, 2003;… Nhìn chung, các công trìnhnghiên cứu đều chỉ ra vai trò cũng như những đóng góp của Phật giáo và văn hóaPhật giáo đối với nền văn hóa Việt Nam, qua đó khẳng định Phật giáo và văn hóaPhật giáo có ảnh hưởng nhất định trong đời sống xã hội, đặc biệt là đời sống vănhóa tinh thần

Ngoài ra, cũng có một số học giả đã lấy đề tài văn hóa Phật giáo để nghiên cứuchuyên sâu trong các luận văn Thạc sĩ và luận án Tiến sĩ của họ Có thể kể đến

như: Phan Nhật Huân (2008) với đề tài “Ảnh hưởng của văn hóa Phật giáo đối với văn hóa Việt Nam (thời Lý - Trần)”, luận văn Thạc sĩ Triết học, Đại học sư

phạm Hà Nội Trong luận văn của mình, tác giả đã làm sáng tỏ ảnh hưởng của vănhóa Phật giáo đối với văn hóa Việt Nam thời kỳ Lý - Trần (từ thế kỷ XI đến thế

kỷ XIV) trên một số lĩnh vực cụ thể của văn hóa như văn học, kiến trúc… Qua đó

đề ra một số giải pháp nhằm bảo tồn và phát huy những giá trị văn hóa Phật giáoViệt Nam thời Lý - Trần trong bối cảnh hiện nay Tiếp đến, Phan Thị Lan (2010)

“Đạo đức Phật giáo trong đời sống đạo đức xã hội Việt Nam hiện nay”, luận văn

Thạc sĩ Triết học, Đại học khoa học xã hội và nhân văn Hà Nội Với đề tài này,tác giả đã đưa ra quan niệm, phạm trù đạo đức Phật giáo, phân tích ảnh hưởng củađạo đức Phật giáo đến nhân cách của người Việt Nam Đồng thời, kiến nghị một

Trang 5

số giải pháp nhằm phát huy ảnh hưởng tích cực và hạn chế ảnh hưởng tiêu cựccủa đạo đức Phật giáo trong đời sống xã hội Việt Nam hiện nay.

Trên các báo, tạp chí chuyên ngành cũng có nhiều bài viết tập trung nghiên cứuvấn đề bảo tồn văn hóa Phật giáo như:

- Nguyễn Quế Hương và Nguyễn Ngọc Quỳnh (2005) “Về công tác bảo tồn và phát huy giá trị di tích Phật giáo trong những năm gần đây”, tạp chí Khoa học xã

hội Việt Nam, số 1, tr 69 - 78

- Đặng Văn Bài (2008) “Nhận diện để phát huy giá trị di sản văn hóa Phật giáo Việt Nam”, tạp chí Nghiên cứu tôn giáo, số 5, tr 16 - 22.

- Nguyễn Hữu Oanh (2009) “Bảo vệ, phát huy văn hóa Phật giáo một nhiệm vụ quan trọng & cấp thiết”, Tạp chí Di sản Văn hóa, số 1, tr 13 - 16.

Các bài viết trên đều thống nhất về quan điểm bảo tồn văn hóa Phật giáo một cáchtrực tiếp hoặc gián tiếp, ở các mức độ và khía cạnh khác nhau, từng bước nhậndiện và đánh giá sự cấp thiết trong việc gìn giữ, phát huy những giá trị của vănhóa Phật giáo Ngoài ra, trên các tạp chí nghiên cứu khác như: tạp chí nghiên cứuPhật học, tạp chí Văn hóa Nghệ thuật,… cũng có nhiều bài viết liên quan đến vấn

đề bảo tồn văn hóa Phật giáo

Nhìn chung, các công trình trên ở mức độ khác nhau, trong đó ít nhiều đề cậpđến văn hóa Phật giáo và bảo tồn văn hóa Phật giáo Việt Nam Theo hướngnghiên cứu, kế thừa kết quả nghiên cứu của các công trình đi trước, trên cơ sở đóthực hiện đề tài của mình Trong bài tiểu luận nghiên cứu về đề tài này, tôi tiếptục làm rõ vị trí và vai trò của văn hóa Phật giáo trong văn hóa Việt Nam Đồngthời, đối với vấn đề bảo tồn văn hóa Phật giáo, tôi sẽ đưa ra một số quan điểm,chính sách của Đảng, Nhà nước, Giáo hội Phật giáo Việt Nam để thấy đượcnhững vấn đề đặt ra đối với các cấp quản lý trong hoạt động bảo tồn và phát huynhững giá trị của văn hóa Phật giáo Việt Nam hiện nay

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Về đối tượng nghiên cứu là văn hóa Phật giáo và vấn đề bảo tồn văn hóa

Phật giáo.

Về phạm vi nghiên cứu:

Không gian, nghiên cứu văn hóa Phật giáo Việt Nam và vấn đề bảo tồn vănhóa Phật giáo Việt Nam hiện nay

Thời gian, từ sau đổi mới (1986) đến nay

4 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

Về mục đích, bài tiểu luận trên cơ sở khái quát về văn hóa Phật giáo và vị trí

của văn hóa Phật giáo trong văn hóa Việt Nam, tập trung phân tích, làm sáng tỏvấn đề bảo tồn văn hóa Phật giáo Việt Nam hiện nay Qua đó đưa ra một số giảipháp để bảo tồn văn hóa Phật giáo nhằm góp phần xây dựng và phát triển văn hóaViệt Nam

Trang 6

Về nhiệm vụ, để thực hiện tiểu luận thứ nhất tôi tiến hành phân tích khái niệm

và biểu hiện của văn hóa Phật giáo; làm rõ vị trí của văn hóa Phật giáo trong vănhóa Việt Nam Thứ hai, trình bày một số tư tưởng của Hồ Chí Minh; quan điểm,chính sách của Đảng, Nhà nước và Giáo hội Phật giáo Việt Nam đối với vấn đềbảo tồn văn hóa Phật giáo Việt Nam hiện nay Thứ ba, đưa ra một số giải pháp đốivới vấn đề bảo tồn văn hóa Phật giáo Việt Nam

5 Cơ sở luận và phương pháp nghiên cứu

Về cơ sở lý luận:

Dựa trên những nguyên tắc của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩaduy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác - Lênin; tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối củaĐảng và chính sách của Nhà nước về tôn giáo nói chung và Phật giáo nói riêng

Về phương pháp nghiên cứu:

Sử dụng phương pháp nghiên cứu tôn giáo học, đồng thời kết hợp các phươngpháp nghiên cứu khoa học cụ thể như: phân tích và tổng hợp; sự thống nhất giữalôgíc và lịch sử; các phương pháp khái quát hóa, trừu tượng hóa; xử lý tư liệu…

6 Đóng góp của đề tài

Trên cơ sở phân tích khái quát về văn hóa Phật giáo và những biểu hiện củavăn hóa Phật giáo; bài tiểu luận làm rõ vai trò và vị trí của văn hóa Phật giáotrong văn hóa Việt Nam Từ đó, bài tiểu luận đưa ra những quan điểm để bảo tồnvăn hóa Phật giáo Việt Nam trong giai đoạn hiện nay Đồng thời, trình bày một sốgiải pháp đối với bảo tồn văn hóa Phật giáo Việt Nam nhằm gìn giữ và phát huynhững giá trị văn hóa Phật giáo trong bối cảnh hội nhập, toàn cầu hóa văn hóa

Trang 7

CHƯƠNG 1 VĂN HÓA PHẬT GIÁO VÀ VỊ TRÍ CỦA VĂN HÓA PHẬT GIÁO

TRONG VĂN HÓA VIỆT NAM

1.1 Văn hóa Phật giáo và biểu hiện của Văn hóa Phật giáo

1.1.1 Khái niệm “Văn hóa Phật giáo”

Phật giáo đã trải qua hơn 2.000 năm lịch sử du nhập và phát triển ở Việt Nam Bằngcon đường hòa bình, những giáo lý của đạo Phật về bình đẳng, bác ái, cứu khổ, cứunạn,… gần gũi với người dân, gắn kết với truyền thống văn hóa tín ngưỡng bản địa,

đã tạo nên những nét đặc sắc riêng của Phật giáo trong nền văn hóa dân tộc Từ việcđóng góp những giá trị của mình trong dòng chảy văn hóa Việt Nam, Phật giáo vàvăn hóa Phật giáo thực sự đã trở thành một phần quan trọng của văn hóa Việt Nam

Vì văn hóa Phật giáo với tư cách là thành tố cơ bản của văn hóa nên cũng mang

những nét đặc trưng của văn hóa Do vậy, trước khi tìm hiểu khái niệm “Văn hóa Phật giáo” thì cần phải hiểu về khái niệm “Văn hóa” Thêm vào đó, việc nghiên cứu

một vài nét khái quát về Phật giáo và văn hóa sẽ góp phần làm sáng tỏ hơn khái niệm

“Văn hóa Phật giáo”

* Một số khái niệm về văn hóa

Có thể nói, văn hóa là khái niệm mang nội hàm rộng với nhiều cách hiểu khácnhau, liên quan đến mọi mặt đời sống vật chất và tinh thần của con người, do vậy rấtkhó để đưa ra một định nghĩa chính xác về văn hóa Về mặt thuật ngữ khoa học: Vănhóa được bắt nguồn từ chữ Latinh "Cultus" với nghĩa gốc là gieo trồng, được dùng

theo nghĩa Cultus Agri là "gieo trồng ruộng đất" và Cultus Animi là "gieo trồng tinh thần" tức là "sự giáo dục bồi dưỡng tâm hồn con người" Theo nhà triết học người Anh Thomas Hobbes (1588 - 1679): "Lao động dành cho đất gọi là sự gieo trồng và

sự dạy dỗ trẻ em gọi là gieo trồng tinh thần" [20] Tuy khái niệm văn hóa được dùng

theo nhiều nghĩa khác nhau, nhưng thường có thể hiểu theo hai cách: theo nghĩa hẹp

và theo nghĩa rộng Theo nghĩa hẹp, văn hóa được giới hạn theo chiều sâu hoặc theochiều rộng, theo không gian hoặc theo thời gian… Giới hạn theo chiều sâu, văn hóađược xem là những giá trị tinh hoa (nếp sống văn hóa, văn hóa nghệ thuật…) Giớihạn theo chiều rộng, văn hóa được dùng để chỉ những giá trị trong từng lĩnh vực (vănhóa giao tiếp, văn hóa kinh doanh…) Giới hạn theo không gian văn hóa, văn hóađược dùng để chỉ những giá trị đặc thù của từng vùng, miền (văn hóa phương Đông,văn hóa phương Tây…) Giới hạn theo thời gian, văn hóa được dùng để chỉ nhữnggiá trị trong từng giai đoạn (văn hóa cổ đại, văn hóa hiện đại…) Theo nghĩa rộng,văn hóa thường được xem là bao gồm tất cả những gì do con người sáng tạo ra.Chính với cách hiểu rộng này, văn hóa đã trở thành đối tượng của văn hóa học - khoahọc nghiên cứu về văn hóa

Trong lĩnh vực này, nhà nhân học người Anh, Edward Burnett Tylor là người đầutiên trình bày định nghĩa về văn hóa như một đối tượng nghiên cứu khoa học trong

Trang 8

công trình “Văn hóa nguyên thủy” (Primitiveculture) xuất bản ở Luân Đôn, năm

1871, trong đó E B Tylor đưa ra định nghĩa “Văn hóa hay văn minh, theo nghĩa rộng về tộc người học, nói chung gồm có tri thức, tín ngưỡng, nghệ thuật, đạo đức, luật pháp, tập quán và một số năng lực và thói quen khác được con người chiếm lĩnh với tư cách một thành viên của xã hội” [13, tr 13] Theo định nghĩa như vậy thì văn

hóa và văn minh là một; nó bao gồm tất cả những lĩnh vực liên quan đến đời sốngcon người, từ tri thức, tín ngưỡng đến nghệ thuật, đạo đức, pháp luật… Có người ví,

định nghĩa này mang tính “bách khoa toàn thư” vì đã liệt kê hết mọi lĩnh vực sáng

tạo của con người [2, tr 39]

Như vậy, mối quan hệ giữa cá nhân, tập thể và môi trường là quan trọng trong việchình thành văn hóa của con người Năm 1952, nhà nhân học người Mỹ A.L Kroeber

và C Kluckhohn xuất bản cuốn sách “Culture, a critical review of concept and definitions” (Văn hóa, điểm lại bằng cái nhìn phê phán các khái niệm và định nghĩa),

tác giả đã trích lục khoảng 160 định nghĩa về văn hóa do các nhà khoa học đưa ra ở

nhiều nước khác nhau Trong đó, họ cũng định nghĩa về văn hóa như sau: “Văn hóa

là những mô hình hành động minh thị và ám thị được truyền đạt dựa trên những biểu trưng, là những yếu tố đặc trưng của từng nhóm người… Hệ thống văn hóa vừa là kết quả hành vi vừa trở thành nguyên nhân tạo điều kiện cho hành vi ” [5, tr 357]

Ở Việt Nam, một trong những khái niệm văn hóa thường được đề cập đến nhiều

nhất là định nghĩa của Chủ Tịch Hồ Chí Minh về văn hóa: “Vì lẽ sinh tồn cũng như mục đích của cuộc sống, loài người mới sáng tạo và phát minh ra ngôn ngữ, chữ viết, đạo đức, pháp luật, khoa học, tôn giáo, văn học, nghệ thuật, những công cụ cho sinh hoạt hằng ngày về mặt ăn, ở và các phương thức sử dụng Toàn bộ những sáng tạo và phát minh đó tức là văn hóa” [6, tr 431] Với cách hiểu này, văn hóa sẽ bao

gồm toàn bộ những gì do con người sáng tạo và phát minh ra

Có thể thấy rằng, các định nghĩa về văn hóa được đưa ra dưới nhiều cách tiếp cận vàphân loại khác nhau, nhưng tôi đồng ý với quan điểm về văn hóa của UNESCO đưa

ra năm 2002 như sau: “Văn hóa nên được đề cập đến như là một tập hợp của những đặc trưng về tâm hồn, vật chất, tri thức và xúc cảm của một xã hội hay một nhóm người trong xã hội và nó chứa đựng, ngoài văn học và nghệ thuật, cả cách sống, phương thức chung sống, hệ thống giá trị, truyền thống và đức tin” [12]

Như vậy, văn hóa là một mẫu thức tập hợp kiến thức, tín ngưỡng và thái độ ứng xửcủa con người Trong ý nghĩa chung, văn hóa bao gồm ngôn ngữ, tư tưởng, niềm tin,tập quán, luật lệ, lễ nghi, thể chế, công cụ, kỹ thuật, nghệ thuật và các thành tố liên hệkhác Sự phát triển văn hóa tùy thuộc vào khả năng học tập và truyền đạt kiến thức từthế hệ trước cho thế hệ sau Hay tóm lại, văn hóa chính là tổng thể các giá trị đặctrưng được hình thành, tồn tại và phát triển suốt quá trình lâu dài của đất nước, giá trịđặc trưng ấy mang tính bền vững, trường tồn Văn hóa bao gồm giá trị vật chất vàtinh thần do lao động của con người làm ra và phục vụ lại cho chính con người

Trang 9

Trong dòng chảy của văn hóa, Phật giáo với tư cách là một trong những thành tốcủa văn hóa Việt Nam đã trở thành mạch nguồn xuyên suốt và ngày càng khẳng định

vị trí của mình trong trong dòng chảy ấy Du nhập vào Việt Nam từ đầu Tây lịch theohai con đường: đường thủy thông qua buôn bán với thương gia Ấn Độ, đường bộthông qua giao lưu văn hóa với Trung Quốc nên Phật giáo ở Việt Nam chính là sảnphẩm của sự giao lưu, tiếp biến và cũng chịu nhiều ảnh hưởng từ hai nền văn minh kểtrên Quá trình truyền giáo và phát triển của đạo Phật khi du nhập vào Việt Nam mộtmặt chịu sự tác động và chi phối của đặc trưng văn hóa, mặt khác nó tác động vàochính văn hóa Việt Nam mà kết quả là Phật giáo sẽ thích ứng chọn lọc, hội nhập vớinền văn hóa, được làm phong phú và sâu sắc thêm bởi các giá trị văn hóa bản địa Nókhông những tạo ra tư tưởng khoan hòa, nhân ái trong chính sách an dân trị quốc củacác vương triều Lý - Trần thời văn hóa Đại Việt, mà còn góp phần rất quan trọngtrong việc định hình lối sống, phong tục, chuẩn mực giá trị văn hóa Việt Nam Phậtgiáo không phải chỉ là tôn giáo thuần thúy, mà Phật giáo còn là đạo đức, là trí tuệ.Phật giáo bổ sung cho văn hóa, thúc đẩy văn hóa phát triển, tạo nên một luồng vănhóa mới - văn hóa Phật giáo Việt Nam, khác với Phật giáo Trung Quốc hay Ấn Độ cổđại Ngay từ khi du nhập vào Việt Nam, Phật giáo với bản chất hòa bình, bao dung,bình đẳng nên nhanh chóng được người Việt đón nhận và ghi dấu ấn trong tư tưởng,văn hóa của người Việt Nam [20]

Phật giáo từng bước tạo được chỗ đứng trong tâm thức người dân Việt bằng truyềnthuyết Man Nương kỳ bí và huyền ảo Sự dung hợp giữa Phật giáo với tín ngưỡngdân gian bản địa đã giúp cho Phật giáo gắn bó và đồng hành với văn hóa, con ngườiViệt Nam Bởi văn hóa dân gian là sản phẩm sáng tạo của nhân dân, kết tinh trí tuệ,thể hiện khát vọng và tâm tư tình cảm của nhân dân Với tư cách là một phương diệnvăn hóa, Phật giáo khẳng định được vị thế của mình trong nền văn hóa dân tộc Phậtgiáo có khả năng thâm nhập vào nhiều mặt của đời sống xã hội như: chính trị, vănhọc, kiến trúc, điêu khắc, hội họa, âm nhạc, phong tục, tập quán, tín ngưỡng, lễ hội…

Từ khi du nhập, cùng với chiều dài của lịch sử dân tộc Việt Nam, Phật giáo đã trảiqua một ngàn năm Bắc thuộc cho đến đời Đinh, Lê; bốn trăm năm cực thịnh trongđời Lý - Trần và phát triển không ngừng suốt sáu trăm năm cho đến ngày nay Phậtgiáo đã cống hiến cho dân tộc Việt Nam những thành quả văn hóa vô cùng quý giá.Phật giáo và văn hóa Phật giáo luôn giữ một vị thế quan trọng và không thể tách rờivăn hoá dân tộc Có thể nói rằng, văn hóa Việt Nam một phần lớn là văn hóa Phậtgiáo và nếu như không xét văn hóa Phật giáo trong văn hóa Việt Nam thì chúng ta sẽkhông thể có một nền văn hóa đa dạng và phong phú như hiện nay

Vậy văn hóa Phật giáo là gì?

Theo những quan niệm về văn hóa nêu trên và từ những giá trị Phật giáo mang lạitrong đời sống của con người, tôi cho rằng: Văn hóa Phật giáo là một bộ phận củavăn hóa nhân loại, là sự kết hợp giữa tinh hoa văn hóa vật chất và tinh thần của đạoPhật chứa đựng trong đời sống của con người, được con người sáng tạo và tích lũy

Trang 10

trong quá trình hoạt động thực tiễn của mình Văn hóa Phật giáo chính là tổng thể cácgiá trị đặc trưng, là những thành tựu mà Phật giáo có được trong lịch sử tồn tại vàphát triển

Như vậy, văn hóa Phật giáo Việt Nam là văn hóa được xây dựng trên đất nước ViệtNam, cho con người Việt Nam, trong xã hội Việt Nam, trong lịch sử Việt Nam Quathời gian văn hóa Phật giáo đã thấm sâu vào phong tục tập quán, lối sống, hình thành

tư tưởng tình cảm của người Việt Nam Có thể thấy, khái niệm “Văn hóa Phật giáo” cũng rất mới mẻ, khi Phật giáo không dừng lại ở một tôn giáo hay triết học, mà

phổ biến như một lối sống [17]

Tóm lại, văn hóa Phật giáo không đứng ngoài, mà ở bên trong văn hóa nhân loại

Nó là cái thống nhất trong chỉnh thể của văn hóa nhân loại, nhưng lại có những giá trịđặc thù và đơn nhất của mình Hơn nữa, cũng như văn hóa nói chung, văn hóa Phậtgiáo có chức năng nhất định của mình và thể hiện rõ những chức năng đó qua việctác động đến cộng đồng Phật tử cũng như các cộng đồng khác

1.1.2 Biểu hiện của Văn hóa Phật giáo

Phật giáo du nhập vào Việt Nam từ rất sớm, là một tôn giáo có hệ thống giáo lý

khá đồ sộ, sâu sắc và hoàn chỉnh, khi du nhập vào Việt Nam, Phật giáo đã đưa lại một

hệ thống các quan niệm về vũ trụ, nhân sinh cho cộng đồng người Việt Phật giáo với

tư tưởng bao dung và độ lượng, hiếu hòa và đoàn kết, do vậy, giáo lý của đạo Phậtphù hợp với nguyện vọng của đại đa số người dân Việt Phật giáo nhanh chóng đượcnhân dân ta tiếp nhận, hòa quyện với truyền thống văn hóa Việt Nam và được ví như

“nước thấm vào lòng đất”, “sữa hòa với nước” “Thuyết nhân quả” trong đạo Phật phù hợp với quan niệm của dân gian “Ông Trời trừng phạt kẻ ác, cứu giúp người hiền lành”, vì thế phương châm sống “ở hiền” để được “gặp lành”, tu thân, tích đức

được người dân đón nhận và thực hành theo

Trong suốt chiều dài lịch sử, từ buổi đầu du nhập cho đến nay, Phật giáo đã thực sựthâm nhập, ăn sâu vào trong tâm hồn, nếp nghĩ, lối sống của dân tộc Việt Nam và trởthành một phần bản sắc dân tộc Văn hóa Phật giáo đã để lại cho dân tộc nhiều di sản

có giá trị đặc sắc Trong sự hình thành và phát triển của mình, văn hóa Phật giáo biểuhiện hết sức phong phú với nhiều hình thức, được thể hiện dưới hai dạng cụ thể là:văn hóa vật thể và văn hóa phi vật thể Chúng ta có thể thấy rằng: văn hóa vật thểtrong văn hóa Phật giáo là những sản phẩm được tồn tại dưới dạng vật chất, khắc họatiêu biểu thông qua hệ thống kiến trúc: Chùa, Tháp như chùa Một Cột, chùa Thầy,chùa Dạm, chùa Phật Tích (Bắc Ninh), tháp Bình Sơn (Phú Thọ), hay các tác phẩmđiêu khắc về tượng thờ, đồ thờ cúng và những tác phẩm hội họa về Phật giáo, Vănhóa phi vật thể trong văn hóa Phật giáo chính là hệ thống tư tưởng, các chuẩn mực,giáo lý của đạo Phật; các nghi lễ; phong tục, tập quán; nghệ thuật của Phật giáo [17] Trước hết, trên phương diện văn hóa vật thể, có thể thấy văn hóa Phật giáo đã manglại những giá trị văn hóa đặc sắc, đóng góp vào kho tàng văn hóa dân tộc thể hiện khá

rõ trong các công trình kiến trúc, điêu khắc và hội họa

Trang 11

- Về kiến trúc: Phật giáo truyền vào Việt Nam đã đem theo các kiểu kiến trúc chùa

tháp, lầu chuông, gác trống theo mô hình kiến trúc của Ấn Độ, Miến Điện và TrungHoa Tuy nhiên cùng thời gian, tinh thần khai phóng của Phật giáo phối hợp với lối tưduy tổng hợp của dân tộc Việt đã tạo ra một mô hình kiến trúc rất riêng cho Phật giáo

ở Việt Nam Kiến trúc chùa Việt Nam nói chung và đồng bằng Bắc Bộ nói riêngkhông cao lớn, đồ sộ, không lộng lẫy như một số nước ở các vùng lân cận (Lào, TháiLan, Campuchia…) Điều này cũng dễ hiểu, bởi trước hết một phần là do điều kiện tựnhiên, phần khác là do tư duy người Việt ở đồng bằng Bắc Bộ vốn hài hòa, nên ngôichùa Việt cũng mang phong cách hài hòa Chùa, Tháp ở Việt nam thường được xâydựng với lối kiến trúc đặc biệt, mái chùa ẩn dấu sau lũy tre làng, dưới gốc cây đa hay

ở một nơi có cảnh trí thiên nhiên đẹp hoặc thanh vắng Ngôi chùa cũng chính là nơihội tụ các sinh hoạt cộng đồng, đời sống tâm linh của dân làng

Hệ thống Chùa, Tháp phong phú, được hình thành và phát triển qua các giai đoạn,đáng chú ý là kiến trúc Chùa, Tháp thời Lý - Trần Khâm phục những thành tựu củavăn hóa Phật giáo Việt Nam thời Lý - Trần, sách vở Trung Hoa đời Minh truyền tụngnhiều về bốn công trình nghệ thuật lớn mà họ gọi là An Nam tứ đại khí là tháp BáoThiên (1057), chuông Quy Điền (1080), vạc Phổ Minh (1262) và tượng Phật Di Lặc

chùa Quỳnh Lâm Mặc dù, “Tứ Đại Khí” này đều bị quân Minh xâm lược tàn phá ở

thế kỷ XV nhưng những công trình nổi tiếng này vẫn được ghi chép và lưu truyềnqua sử sách

Tượng Phật chùa Quỳnh Lâm: Chùa Quỳnh Lâm ở Đông Triều (Quảng Ninh) đượcxây dựng vào khoảng thế kỷ XI, có pho tượng Di - Lặc bằng đồng Theo văn bia nayvẫn còn giữ được trong chùa thì tượng cao 6 trượng (xấp xỉ 24m), đặt trong một tòaPhật điện cao 7 trượng Đứng từ bến đò Đông Triều, cách xa 10 dặm vẫn còn trôngthấy nóc điện

Tháp Báo Thiên: Gồm 12 tầng, cao 20 trượng, do vua Lý Thánh Tông cho xâydựng vào năm 1057 trên khuôn viên chùa Sùng Khánh ở phía tây hồ Lục Thủy (tức

hồ Gươm, Hà Nội) bằng đá và gạch, riêng tầng thứ 12 đúc bằng đồng Tháp là đệnhất danh thắng đế đô một thời Đến năm 1414, tháp bị quân Vương Thông tàn phá,nền tháp còn lại to như một quả đồi, có thời dùng làm nơi họp chợ Thời Pháp, những

gì còn sót lại đã bị phá hủy hoàn toàn để xây nhà thờ lớn trên đất ấy

Chuông Quy Điền: Năm 1101, vua Lý Nhân Tông cho xuất kho hàng vạn cân đồng

để đúc quả chuông này và dự định treo tại chùa Diên Hựu (tiền thân chùa Một Cộtsau này), trong một tòa tháp bằng đá xanh cao 8 trượng Nhưng chuông đúc xong toquá (tương truyền có đường kính 1,5 trượng (gần 6m), cao 3 trượng (gần 12m), nặngtới vài vạn cân), không treo lên nổi đành để ở ngoài ruộng Mùa nước ngập, rùa bò ra

bò vào nên dân gian gọi là chuông Quy Điền (tức ruộng rùa)

Vạc Phổ Minh: Đúc bằng đồng vào thời Trần Nhân Tông, đặt tại sân chùa PhổMinh (tức Mạc, ngoại thành Nam Định) Vạc sâu 4 thước (gần 1,6m), rộng 10 thước(gần 4m), nặng trên 7 tấn Vạc to tới mức có thể nấu được cả một con bò mộng; trẻ

Trang 12

con có thể chạy nô đùa trên thành miệng vạc Đến nay vẫn còn 3 trụ đá kê chân vạctrước sân chùa [10, tr 483 – 484]

Phật giáo cũng để lại nhiều quần thể kiến trúc độc đáo và danh lam thắng cảnh chonước Việt, nhiều ngôi chùa nổi tiếng ở miền Bắc với kiến trúc đặc trưng, tạo nên dấu

ấn của văn hóa Phật giáo như: chùa Một Cột, chùa Thầy, chùa Dạm…Trong đó nổitiếng nhất là ngôi Chùa Một Cột với tên gọi khác là chùa Diên Hựu (tức kéo dài tuổithọ), một tên gọi hết sức ý nghĩa ở vào thời điểm chúng ta mới thoát khỏi ách đô hộcủa phong kiến phương Bắc và bắt đầu bắt tay vào xây dựng, củng cố một quốc giađộc lập thật sự Theo các tài liệu, chùa Diên Hựu được dựng trên hồ Linh Chiểu, ởvườn Tây Cấm trong kinh thành Thăng Long, với thiết kế đuôi mái cong lưỡng longtriều nguyệt, vững chãi trên một trụ đá như hoa sen thanh khiết vươn lên khỏi mặt hồ,biểu hiện một sự thanh cao, trong sạch, thấm đượm tinh thần của Phật giáo và cũngbiểu trưng cho cốt cách tinh thần của người Việt Hình ảnh của ngôi chùa với kiếntrúc độc đáo đã trở thành biểu tượng của văn hóa Việt Nam

Không chỉ dừng ở đó, kiến trúc của Phật giáo còn thể hiện khát vọng, ước muốn củangười dân Việt, mỗi ngôi chùa lại được xây dựng theo lối kiến trúc riêng để truyền tảinhững mong muốn ấy Chẳng hạn như kiến trúc của chùa Dạm (Bắc Ninh) lý giải chonhững khát khao về cuộc sống no đủ, sinh sôi, ăn sâu vào tâm thức của con người quaviệc chọn cột đá khổng lồ nguyên khối để làm biểu tượng Linga (sinh thực khí), thểhiện ước vọng mưa thuận gió hòa, vạn vật phồn vinh, sinh sôi nảy nở theo tư duy của

cư dân Việt chuyên canh lúa nước Chùa Dạm hội tụ đủ huyết mạch linh thông theothuyết phong thủy, chùa đặt ở sườn núi phía Nam của dãy Lãm Sơn, chính giữa ngọncao nhất Núi Rùa làm tiền án, ngòi Con Tên làm Minh Đường bên tả có ThanhLong, bên hữu có Bạch Hổ chầu về Chùa dựa hẳn vào sườn núi và bốn lớp nền đátrườn theo sườn núi vừa tôn tầm cao công trình vừa tạo dáng vẻ uy nghiêm, hài hòavới cảnh quan thiên nhiên xung quanh [10, tr 486]

Như vậy, kiến trúc chùa Phật giáo đã phần nào thể hiện được nét đẹp văn hóa vàchứa đựng những giá trị của văn hóa Phật giáo Hơn nữa, kiến trúc chùa với mục đíchphục vụ nhu cầu tâm linh của người dân Việt nên lại càng làm cho nét đẹp văn hóađậm đà, phong phú

- Về điêu khắc: Văn hóa Phật giáo không chỉ chuyển tải qua các công trình kiến trúc

mà còn được biểu hiện qua các sản phẩm điêu khắc Những tác phẩm điêu khắc nhưtượng nghìn tay, nghìn mắt (Bút Tháp), các pho tượng La Hán - Bồ Tát (Tâyphương), tượng Phật A Di Đà,… là những công trình nghệ thuật tiêu biểu, mang đếnnhững giá trị thẩm mỹ độc đáo cho kho tàng văn hóa Việt Nam

Ngày nay có dịp tham quan viện bảo tàng lớn ở Việt Nam, chúng ta sẽ thấy nhiềucốt tượng, phù điêu của Phật giáo được trưng bày, đó không những là một niềm tựhào của nền văn hóa dân tộc Việt mà còn là dấu vết chứng minh sự ảnh hưởng củaPhật giáo có mặt trong lĩnh vực này Tiêu biểu là các tác phẩm như tượng Bồ tátQuan Âm nghìn mắt nghìn tay được thờ ở Chùa Bút Tháp Ngoài pho tượng nghìn

Trang 13

mắt nghìn tay kể trên, tại nhiều chùa chiền Việt Nam, còn bảo lưu đến nay đượcnhiều pho tượng đủ kiểu, đủ thể tài rất nổi tiếng khác Chẳng hạn: tượng Quan ÂmThiên Thủ, Thiên Nhãn ở chùa Kim Liên sau này được đưa về thờ tại chùa Quán Sứ

Hà Nội, tượng 18 vị La Hán; Tôn Giả ở chùa Tây Phương (Hà Nội), tượng Đức Phậtnhập Niết Bàn ở chùa Phổ Minh (Nam Định), tượng Phật A Di Đà ở chùa Phật Tích(Bắc Ninh),…trong đó nhiều pho được liệt vào hàng tuyệt tác của nền nghệ thuậtđiêu khắc Việt Nam Tất cả đều mang nặng tính triết lý đạo Phật đi đôi với tính cáchcon người Việt và được người Việt tôn thờ kính mến như nhà thơ Huy Cận đã mô tả

và ca ngợi trong bài thơ “18 vị La Hán chùa Tây Phương” của ông

Điêu khắc không chỉ thể hiện qua các bức tượng Phật mà còn qua những chạm khắctinh tế trên những đồ thờ tự hay trên những cánh cửa, cảnh quan xung quanh ngôichùa Những đồ thờ tự trong Chùa như chân đèn, lư hương, đều có chạm khắc hìnhhọc hay những động vật đã được cách điệu khá mỹ thuật, làm gia tăng thêm vẻ đẹpcũng như ý nghĩa của nó Ở thời Lý - Trần, những loại hình có liên quan đến Phật

Giáo như lá bồ đề, hoa sen, vũ nữ uốn mình theo điệu "Tribanga" của Ấn độ trở nên

rất phổ biến trong nghệ thuật trang trí Chùa, Tháp Tuy nhiên những nghệ nhân thời

Lý - Trần đã biết cách hóa một số loại trở thành những hình ảnh độc đáo không tìmthấy ở những nơi khác, chẳng hạn như hình lá bồ đề thì thường có con rồng bé nhỏnằm gọn trong chiếc lá, một kiểu hoa văn gần giống như chữ ký đời nhà Lý, hoa senđược thể hiện trong nhiều hình thái và thường cũng có hình của những con rồng nhỏtrong những cánh hoa này Chính những hình rồng đặc biệt đời nhà Lý cũng là sựphối hợp hình rồng phương Bắc và hình rắn những dân tộc theo nền văn minh Ấn Độ Hình những vũ nữ múa biến cách thành những vũ nữ dâng hoa, chẳng hạn như hình

ở những bậc đá trong Tháp đời nhà Lý ở Chương Sơn (Hà Nam) hay những thiếu nữsùng bái Phật như hình khắc ở những chân cột của chùa Phật Tích Chúng ta còn thấyđược những hoa văn hình đám mây đang xoắn chung quanh những nhân vật thầnthoại, chẳng hạn như những bức chạm nổi tại chùa Thái Lạc (Hải Dương) hay trênnhững cánh cửa của chùa Phổ Minh (Nam Định), những hoa văn hình sóng nước như

ở nền Tháp Phổ Minh, hoa văn hình hoa cúc theo từng dây dài như mặt đá chạm nổitìm thấy ở Tháp Chương Sơn Đây là những ví dụ điển hình của những công trìnhsáng tạo nổi bật trong điêu khắc, trang trí của Phật giáo thời đại Lý - Trần còn tồn tạiđến ngày nay [17]

- Về hội họa: Có thể thấy hội họa Phật giáo được ít người chú ý đến, bởi các tác

phẩm hội họa Phật giáo bị mai một và thất lạc, không lưu giữ được nhiều Tuy nhiênkhông vì thế mà sự phát triển của hội họa Phật giáo bị quên lãng Dựa vào các bứctranh chạm khắc trên đá, trên gỗ còn mãi mãi chứng tích về sự có mặt của các bứctranh từ thời Lý - Trần đến nay Đó là những tranh chạm trên mặt lan can, hành langchạy quanh hồ Linh Chiểu và Bích Trì thuộc chùa Một Cột (Hà Nội), những tượngđắp và hình vẽ ở chùa Báo Ân (Thanh Hóa), Rồng trong cánh sen bệ tường chùaNgọc Khảm,… hay trong các kinh sách không thể thiếu những tranh, hình ảnh minh

Trang 14

họa về đạo Phật giúp cho người đọc dễ hiểu Tranh tường là một phần không thểthiếu trong mỹ thuật Phật giáo Những bức tranh tường chạy dài tiêu biểu như tranhđược vẽ trên tường chùa Quán Sứ (Hà Nội), có những bức tranh vẽ địa ngục và niếtbàn đã giải thích được luật nhân quả vốn trừu tượng, bày ra viễn cảnh giữa conđường đi tới cõi cực lạc và con đường dẫn xuống địa ngục để Phật tử trông thấy mà

tự suy ngẫm Những tranh vẽ thường mang tính giáo dục, truyền tải tới người xemgiáo lý, lời răn dạy của đức Phật tới Phật tử nhằm xây dựng con người có lòng vị tha,

từ bi, hỷ xả Hội họa Phật giáo Việt Nam từ những giai đoạn đầu đã được phát triểnphong phú, muôn hình, muôn vẻ Các nghệ sĩ Phật tử đưa thiên nhiên vào các tranhtrang trí trên chùa, lựa chọn những nét bình dị, hiền hòa, thơ mộng của thiên nhiênnhư hoa cúc, hoa sen, con chim, con cá,… và những em bé xinh xắn, thơ ngây,…Tất

cả đều là những hình ảnh gần gũi và gắn liền với đời sống hàng ngày

Nhiều tranh lụa, tranh màu nước, sơn dầu, sơn mài đề cập đến Phật giáo đã đượccác họa sĩ, nghệ nhân tên tuổi ở Việt Nam thể hiện một cách sống động và tinh tế qua

các tác phẩm như “chùa Thầy” của Nguyễn Gia Trí sáng tác năm 1938, “Lễ Chùa” của Nguyễn Siêu, “Đi Lễ Chùa” của Nguyên Khắc Vịnh Đặc biệt từ thập niên tám mươi trở lại đây, có “Thiền Quán”, “Quan Âm Thị Hiện”; “Bích Nhãn”, “Rừng Thiền” của họa sĩ Phượng Hồng, “Hồi Đầu Thị Ngạn” của Huỳnh Tuần Bá; “Nhất Hoa Vạn Pháp” của Văn Quan, Qua đó, hội họa Phật giáo đã thể hiện được những

đặc trưng riêng, đánh dấu sự thành công của nó trong nền mỹ thuật Việt Nam [10] Tóm lại, từ việc tìm hiểu văn hóa Phật giáo qua các công trình kiến trúc, điêu khắc

và hội họa,…Chúng ta có thể biết thêm những giá trị vật chất của văn hóa Phật giáo

để có sự nhìn nhận, đánh giá đúng đắn hơn vai trò và những đóng góp của văn hóaPhật giáo trong tiến trình phát triển văn hóa dân tộc

Đây là những minh chứng tiêu biểu cho sự phong phú và đa dạng của văn hóa Phậtgiáo được biểu hiện qua cấu trúc văn hóa vật thể Tuy nhiên còn một phần không thểtách rời và cấu thành nên tổng thể văn hóa Phật giáo chính là văn hóa phi vật thể củaPhật giáo được thể hiện qua hệ thống tư tưởng, các chuẩn mực, giáo lý của đạo Phật;các nghi lễ; phong tục, tập quán, nghệ thuật… của Phật giáo

- Về tư tưởng, giáo lý: Trong tư tưởng Phật giáo, “Tứ Diệu Đế” được xem là giáo lý

cơ bản, lấy con người làm trung tâm và vì con người mà thực hiện Đạo Phật là họcthuyết về khổ và diệt khổ Bản chất của Phật giáo là từ bi, trí tuệ; bản nguyện Phậtgiáo là giác ngộ, giải thoát; bản hạnh Phật giáo là hòa bình, giáo dục và từ thiện.Trước hết Phật giáo có một hệ thống tư tưởng - đạo đức sâu sắc, coi trọng sự tudưỡng nhân cách Muốn làm tín đồ hay theo Phật giáo phải biết Giới, Định, Tuệ Giới

là những quy phạm ngăn cấm các tín đồ làm việc, nói và suy nghĩ không theo quyđịnh (nhằm điều chỉnh hành vi của tín đồ và giữa tín đồ với xã hội) Định là giữ trạngthái tinh thần không xao động, Tuệ là sự thông suốt mọi sự [19]

Những quan niệm về thiện - ác, về từ bi cũng thuộc phạm trù đạo đức Phật giáo.Thế nào là thiện, thế nào là ác, đó là vấn đề vô cùng phức tạp Nhưng xét về khía cạnh

Trang 15

nào đó, thì ở mỗi thời đại, dân tộc, nền văn hóa đều có quan niệm thiện, ác khác nhau.Nhà Nho cho rằng: cái gì phù hợp với lương tri con người là thiện, ngược lại là ác.Còn quan niệm thiện của Phật giáo đại thừa lại có hai ý nghĩa: Một là thuận theo và

phù hợp với tư tưởng “vô thường, vô ngã”; hai là vì lợi ích chung của chúng sinh Đây

chính là điều làm cho đạo đức Phật giáo có tính thế tục

Nếu như Giới, Định, Tuệ về cơ bản là tự rèn luyện bản thân thì những quan niệm từ

bi là để giải quyết quan hệ giữa con người với con người, con người với xã hội vàthiên nhiên trên nguyên tắc có lợi cho người khác Kinh Quán vô lượng thọ chỉ rõ

người có tâm Phật là người đại từ bi "Từ là làm cho người ta lạc quan và bi là làm cho người ta thoát khỏi đau khổ" Từ - bi kết hợp với nhau tạo thành nguyên tắc vì lợi

ích chúng sinh mà hành động Các nhà triết học gọi đó là chủ nghĩa vị tha Giáo lý từ

bi, tinh thần hiếu hòa, hiếu sinh của Phật giáo đã ảnh hưởng và thấm nhuần sâu sắctrong tâm hồn của người Việt Nam, được thể hiện và biến thành những câu ca dao, tục

ngữ rất phổ biến như “lá lành đùm lá rách”, hay:

“Nhiễu điều phủ lấy giá gương

Người trong một nước phải thương nhau cùng”

Cùng với đạo lý từ bi, người Việt còn chịu ảnh hưởng sâu sắc một đạo lý khác củađạo phật là đạo lý Tứ Ân, gồm ân cha mẹ, ân sư trưởng, ân quốc gia và ân chúng sinh.Đạo lý này được xây dựng theo một trình tự phù hợp với bước phát triển của tâm lý vềtình cảm của dân tộc Việt Tình thương ở mọi người bắt đầu từ thân đến xa, từ tìnhthương cha mẹ, họ hàng lan dần đến tình thương trong các mối quan hệ xã hội vớithầy bạn, đồng bào quê hương đất nước Đặc biệt trong đạo lý tứ ân, ta thấy ân cha mẹ

là nổi bật và ảnh hưởng rất sâu đậm trong tình cảm và đạo lý của người Việt [19]

Ngoài ra, học thuyết “nhân quả báo ứng” của Phật giáo cũng tác động vào xã hội

Việt Nam sâu sắc Nó chỉ rõ xu hướng chuyển động tốt hay xấu của đời người chính là

do nghiệp quyết định Nghiệp mà con người lựa chọn được phân biệt là thiện và ác.Thiện nghiệp sẽ đưa đến thiện quả, ác nghiệp nhất định đưa tới ác quả Nhận thức vềnhân quả báo ứng, nhân dân ta thường nói: gieo gió thì gặt bão, đời cha ăn mặn đờicon khát nước, Tư tưởng, giáo lý của đạo Phật đưa những giá trị tốt đẹp vào trongđời sống cộng đồng, giúp cho con người hướng thiện, đưa nếp sống sinh hoạt xã hộithành những ứng xử văn hóa có tầm, hướng đến một nền giáo dục đề cao các giá trịChân - Thiện - Mỹ

- Về nghi lễ, lễ hội: Thông qua những nghi lễ Phật giáo, văn hóa Phật giáo được thể

hiện một cách cụ thể: lễ cúng rằm, mùng một và lễ chùa đều có hình ảnh mang dấu ấncủa văn hóa Phật giáo Theo đúng truyền thống tập tục cúng rằm, mùng một là tập tụccúng “Sóc Vọng” Sóc: là tên gọi ngày bắt đầu một tháng, là trước, mới, là bắt đầu,khởi đầu Vọng: là ngày rằm (tức ngày 15) tháng âm lịch Vọng có nghĩa là trông xa,

là ngày mặt trăng mặt trời đối xứng nhau ở hai cực Người xưa cho rằng vì thế mặttrời, mặt trăng nhìn rõ nhau, thấu suốt ánh sáng cho nhau, soi chiếu vào mọi tâm hồnlàm cho con người trở nên sáng suốt, trong sạch, đẩy lùi được mọi đen tối, vẩn đục

Trang 16

trong tâm hồn Người ta cho rằng, nhờ sự thông suốt của mặt trời, mặt trăng mà thầnthánh, ông bà, tổ tiên có thể liên lạc, thông thương với con người, sự cầu nguyện sẽđạt tới sự cảm ứng với các cõi giới khác và sự cảm thông sẽ được thiết lập là ngàytrong sạch để các vị tăng kiểm điểm hành vi của mình, gọi là ngày Bố tát và ngàysám hối, người tín đồ về chùa để tham dự lễ sám hối, cầu nguyện bỏ ác làm lành vàsửa đổi thân tâm Quan niệm ngày Sóc Vọng là những ngày trưởng tịnh, sám hối, ănchay xuất phát từ ảnh hưởng của Phật giáo Đại thừa Ngoài việc đi chùa sám hối, ởnhà vào ngày rằm và mùng một, họ sắm đèn, nhang, hương hoa để dâng cúng TamBảo và tổ tiên ông bà, thể hiện lòng tôn kính, thương nhớ những người quá cố và cụthể hóa hành vi tu tâm dưỡng tính của họ [13]

Bên cạnh việc đi chùa sám hối vào ngày rằm, mùng một, người Việt Nam còn cótập tục khác là đi viếng chùa, lễ Phật vào những ngày hội lớn như ngày rằm thánggiêng, rằm tháng tư (Phật Đản) và rằm tháng bảy (lễ Vu Lan) Đây là một tập tục,một nhu cầu không thể thiếu được trong đời sống người Việt Chính điều đó đã gópphần tạo nên bản sắc và nét đẹp văn hóa của dân tộc

Lễ hội Phật giáo là một phần không thể thiếu tạo nên những điểm riêng biệt của vănhóa Phật giáo Lễ hội là hình thức sinh hoạt văn hóa cộng đồng đặc biệt, bản thân nó

là một kho lịch sử khổng lồ, tích tụ vô số những lớp phù sa văn hóa, là bảo tàng sống

về sinh hoạt văn hóa, chứa đựng các giá trị tinh thần sâu sắc Các lễ hội Phật giáo củaViệt Nam thực sự đã làm phong phú cho đời sống văn hóa trong suốt quá trình hìnhthành và phát triển của văn hóa nước nhà Những lễ hội Phật giáo cũng được tổ chứckhá thường xuyên, như lễ tắm Phật được thực hiện hàng năm, Nhân vương hội (hộitụng kinh Phật thuyết Nhân vương Bát Nhã Ba La Mật kinh) được tổ chức nhiều lầntrong Cung, rồi việc rước các vị Phật Tứ pháp về kinh để cầu đảo cũng nhiều lầnđược sử sách ghi lại…đã tạo ra một diện mạo phong phú trong đời sống tinh thần củangười dân thời Lý

Ngoài những ngày Sóc, Vọng thì còn có những ngày lễ lớn như: Đại lễ Phật Đản,

Lễ Vu Lan, lễ hội Quán Thế Âm,…Trong đó tiêu biểu như lễ Phật Đản: Lễ Phật Đản

là lễ trọng của đạo Phật để kỷ niệm ngày xuất thế và tưởng nhớ Đức Thế Tôn - ngườikhai sáng đạo Phật Trước đây, các nước Đông Á thường tổ chức lễ Phật Đản vàongày 8 tháng 4 (âm lịch), đến Đại hội Phật giáo thế giới lần đầu tiên tại Colombo, Sri– Lanka (ngày 25 tháng 5 đến ngày 8 tháng 6 năm 1950), 26 nước thành viên đãthống nhất lấy ngày Rằm tháng 4 (âm lịch) hàng năm làm ngày Phật giáo giáo quốc

tế Giáo hội Phật giáo Việt Nam cũng theo lệ chung của nhiều nước lấy ngày này làmngày lễ Phật Đản Ở Việt Nam, lễ Phật Đản từ lâu đã trở thành lễ hội lớn của dân tộc,được Giáo hội Phật giáo Việt Nam tổ chức một cách trang trọng Nhiều người haygọi ngày Phật Đản là “Mùa Phật Đản” để hòa chung niềm vui cùng mọi người trênkhắp thế giới mừng ngày Đức Phật ra đời Đây cũng là dịp để khích lệ truyền thốngvăn hóa Phật giáo đối với công cuộc xây dựng và bảo vệ tổ quốc Việt Nam, đồng thờithể hiện rõ chính sách tôn giáo của Đảng và Nhà nước ta nên được tổ chức long

Trang 17

trọng, thu hút rất nhiều người tham gia, kể cả những người không có tín ngưỡng Phậtgiáo [13]

Nghi lễ, lễ hội văn hóa Phật giáo được coi là một thành tố văn hóa mang giá trị vănhóa phi vật thể tiêu biểu và còn là nơi tích hợp các mặt giá trị văn hóa phi vật thểphong phú, đa dạng, bởi trong lễ hội Phật giáo, ngoài phần nghi lễ, ta còn thấy nhiềuhình thức văn hóa nghệ thuật độc đáo khác như: trình diễn các nghệ thuật sân khấu,nghệ thuật chèo gắn với các Phật thoại, các vị tổ của Phật giáo Việt Nam, múa Phậtgiáo (Lục cúng hoa đăng), âm nhạc Phật giáo, các phẩm phục,… Nghi lễ, lễ hội Phậtgiáo cũng đóng vai trò là nơi giao lưu, cộng cảm và liên kết tình thân trong các cộngđồng Phật tử ở từng đạo tràng nói riêng, cộng đồng cư dân làng xã, vùng miền nóichung

- Về phong tục, tập quán: Văn hóa Phật giáo để lại dấu ấn qua các tập tục như: ăn

chay, thờ phật, phóng sinh và bố thí Hầu như tất cả người Việt Nam đều chịu ảnhhưởng nếp sống văn hóa này Ăn chay hay ăn lạt xuất phát từ quan niệm từ bi củaPhật giáo Vì khi đã trở về với phật pháp, mỗi người Phật tử phải thọ giới và trì giới,trong đó giới căn bản là không sát sinh hại vật, mà trái lại phải thương yêu mọi loài

Ăn chay và thờ Phật là việc đi đôi với nhau của người Việt Nam Người Phật tử,người mộ đạo thờ Phật là một chuyện, nhiều người không phải là Phật tử cũng dùngtượng Phật hay tranh ảnh có yếu tố Phật giáo để chiêm ngưỡng và trang trí cho cảnhnhà thêm đẹp và trang nghiêm Theo quan niệm của họ, Phật giáo là một thành tựu về

tư tưởng văn hóa của dân tộc và nhân loại

Cũng xuất phát từ tinh thần từ bi của đạo Phật, tục lệ bố thí và phóng sinh đã thấmsâu vào đời sống sinh hoạt của quần chúng Đến ngày rằm và mùng một, người Việtthường hay mua chim, cá, rùa,… để đem về chùa chú nguyện rồi đi phóng sinh, giúpchúng thoát khỏi kiếp giam cầm Tiêu biểu nhất của tục phóng sinh - một phong tụcđẹp và vẫn giữ nguyên giá trị văn hóa truyền thống là cứ vào dịp 23 tháng chạp gọi làngày tết ông Công, ông Táo, nhân gian tiễn Táo Quân về chầu trời Lễ cúng thường

có đồ ăn, hoa quả, tùy theo gia chủ, nhưng phải có cá chép hoặc chim nhỏ Sau khicúng lễ xong, người ta mang cá chép ra thả ở ao hồ hoặc sông suối Còn một số vùngquê, nhất là ở miền Nam người ta thường thả chim về với tự nhiên Điều đó thể hiệnnét đẹp trong đạo lý Phật giáo với tư tưởng nhân văn cao cả, giáo dục nhận thức chocon người trong việc đối xử với thiên nhiên, cái nôi đã sinh ra nhân loại

Người Việt cũng thích làm phước và sẵn sàng giúp đỡ kẻ nghèo khó, hoạn nạn,vào các ngày lễ hội lớn họ tập trung về chùa Tuy nhiên, trong xã hội hiện đại nhữngbiểu hiện mang tính chất hình thức trên này càng bị thu hẹp Thay vào đó mọi ngườitham gia vào những đợt cứu trợ, tương tế cho các đồng bào gặp thiên tai, hoàn cảnh

sống gặp khó khăn đúng với truyền thống đạo lý của dân tộc là “lá lành đùm lá rách”.

Ngoài ra, những phong tục của người Việt Nam chịu ảnh hưởng Phật giáo và cũngtương đối phổ biến có thể kể đến như: Tập tục đốt vàng mã, tập tục coi ngày giờ hay

Trang 18

một số tập tục khác như cúng sao hạn; xin xăm, bói quẻ, ma chay, cưới hỏi… Nhìnchung, những phong tục này gắn liền và dung hợp với tập quán của người Việt, chịuảnh hưởng rõ rệt từ những nghi thức của Phật giáo

- Về nghệ thuật: Nói đến nghệ thuật trong văn hóa Phật giáo thì không thể không

nói đến những áng thơ ca, văn học, những điệu hát, múa,… bởi đây cũng chính là sựđộc đáo của văn hóa Phật giáo

Vào thời Lý - Trần, khi Phật giáo được coi là Quốc giáo thì ngoài kinh sách Phậtgiáo còn có nhiều tác phẩm thuộc thể loại văn học Phật giáo đặc trưng, đó là thể Lục,gồm Tạp lục, Ngữ lục, Thiền lục Điều này cho thấy, kinh sách nhà chùa và văn họcPhật giáo đã đạt thế thượng phong, áp đảo hoàn toàn văn học nghệ thuật Trong khotàng ca dao dân ca, chúng ta bắt gặp những hình ảnh gần gũi với người dân Việt Nam

qua ngôi chùa làng “Đất vua, chùa làng, phong cảnh Bụt”, hình ảnh ông Bụt (theo

cách gọi dân dã của người Việt thay cho Phật) còn hiện lên trong các câu truyện cổ

tích như “Tấm Cám”; “Cây tre trăm đốt”,… khi gặp khó khăn người dân luôn trông

đợi vào sự giúp đỡ của Bụt, qua đó cho thấy một nếp nghĩ rất bình dị, phù hợp với lốisống của con người Việt Nam Người dân Việt Nam còn mượn ca dao để nhắc nhở,

răn dạy con cháu phải hiếu kính với cha mẹ, phải lấy hiếu hạnh làm đầu: “Tu đâu không bằng tu nhà, thờ cha kính mẹ mới là chân tu”; “Đêm đêm khấn nguyện Phật trời, cầu cho cha mẹ sống đời với con”,… Hình ảnh của ngôi chùa, tiếng chuông, ông

Bụt hay những quan niệm hiếu hạnh, quan niệm nhân quả mang nhiều âm hưởngPhật giáo và thường trực xuất hiện trong kho tàng văn hóa của dân tộc, qua đó ta thấy

sự ảnh hưởng sâu sắc của Phật giáo trong đời sống của người Việt Nam

Bên cạnh ca dao bình dân, trong các tác phẩm văn học của các nhà thơ, nhà vănchúng ta cũng thấy có nhiều bài thơ, tác phẩm chịu ảnh hưởng ít, nhiều của Phật giáo

ở đây chỉ nói đến các thơ văn Việt Nam chịu sự ảnh hưởng của tư tưởng Phật giáo, rõnhất là trong thơ văn chữ Nôm, chữ Việt bắt đầu từ thế kỷ thứ XVIII trở về sau Phậtgiáo đề ra cứu khổ, cứu nạn cho chúng sinh, như tác phẩm chữ Nôm nổi tiếng trongthế kỷ XVIII là Cung Oán Ngâm Khúc của Nguyễn Gia Thiều (1741 - 1798) với thểsong thất lục bát, dài 356 câu, là khúc ngâm của người cung nữ bị vua ruồng bỏ, oánthan về thân phận mình Nội dung tác phẩm chịu nhiều ảnh hưởng của Phật giáo, nhất

là triết lý ba pháp ấn Vô Thường, Khổ, Vô Ngã Cung Oán Ngâm Khúc là tác phẩmđầu tiên trong lịch sử văn học dân tộc Việt đã sử dụng lối biểu diễn bằng cảm giác

mà trong đó tư tưởng triết lý đạo Phật đóng vai trò chủ đạo

Qua thế kỷ XIX, với thi hào Nguyễn Du (1765 - 1820) lại là một áng văn bất hủvới Truyện Kiều, một truyện thơ nôm viết bằng thể lục bát dựa theo tác phẩm KimVân Kiều Truyện của Thanh Tâm Tài Nhân (Trung Quốc), gồm 3254 câu thơ Đây làmột truyện thơ chịu nhiều ảnh hưởng của Phật giáo, trong đó ta thấy nổi bật nhất làthuyết về Khổ Đế, một phần quan trọng của giáo lý Tứ Diệu Đế, kế đó là tinh thần vềhiếu đạo, thuyết nhân quả và nghiệp báo

Trang 19

Điểm qua một số thơ văn Việt nam có những ảnh hưởng của Phật giáo như trên, cóthể thấy tư tưởng, văn hóa Phật giáo đã để lại dấu ấn của mình sâu đậm trên diễn đàn

tư tưởng của Việt Nam bởi những triết lý sâu xa của nhà Phật Với tư tưởng khoandung, hòa bình, Phật giáo góp phần thức tỉnh lương tri con người, làm cho con ngườiđược sống trong hòa bình, nhân ái Văn hóa đạo đức Phật giáo có khả năng điềuchỉnh hành vi đạo đức con người, định hình lối sống, phong tục, chuẩn mực giá trịvăn hóa Việt Nam, nhờ đó góp phần đào tạo nguồn nhân lực có chất lượng để phục

vụ cho sự phát triển đất nước

Ngoài ra, văn hóa Phật giáo còn gắn liền với các loại hình nghệ thuật sân khấu (Hátbội, hát chèo, kịch nói…) đặc biệt là nghệ thuật Chèo gắn với các tích Phật, tích

truyện giàu tính nhân văn, múa Phật giáo (Lục cúng hoa đăng)… Tính triết lý “nhân quả báo ứng” của Phật giáo đóng vai trò quan trọng trong các bài ca chèo, vở diễn

phù hợp với đạo lý phương Đông và nếp sống truyền thống của dân tộc Đáng kể nhất

là vở chèo “Quan Âm Thị Kính”, mượn ngôn ngữ sân khấu chèo nhằm diễn lại sự tích

Đức Phật Quan Âm Thị Kính để công chúng thấm thía chữ Nhẫn, chữ Tâm và lòng

từ bi, hỷ xả, sẵn sàng chịu nỗi oan nghịch cứu nhân độ thế để được thành Phật Hay

vở chèo “Mục Liên Thanh Đề” cũng là một sự thành công trong mối quan hệ giữa

nghệ thuật chèo và Phật giáo

Nhìn lại, văn hóa Phật giáo Việt Nam với những giá trị văn hóa vật thể và văn hóaphi vật thể đã góp phần không nhỏ tạo nên bản sắc riêng cho nền văn hóa dân tộc.Văn hóa Phật giáo Việt Nam mang đậm nét văn hóa Việt với những đặc trưng giản

dị, hài hòa, cân đối, phù hợp và gần gũi với con người Việt Nam

1.2 Vị trí của Văn hóa Phật giáo trong văn hóa Việt Nam

1.2.1 Văn hóa Phật giáo với văn hóa truyền thống Việt Nam

Khái niệm văn hóa truyền thống hay giá trị văn hóa truyền thống có thể hiểu là

“văn hóa và giá trị gắn với xã hội tiền công nghiệp, phân biệt với văn hóa, giá trị văn hóa thời đại công nghiệp hóa Tất nhiên, khái niệm truyền thống để chỉ những cái gì đã hình thành từ lâu đời, mang tính bền vững và được trao truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác, thì không chỉ xã hội tiền công nghiệp mới có mà với cả xã hội công nghiệp hóa, hiện đại hóa thì truyền thống vẫn hình thành và định hình Hơn thế nữa, còn có sự kết nối giữa truyền thống tiền công nghiệp với truyền thống công nghiệp hoá thể hiện trong từng hiện tượng hay giá trị văn hoá” [11, tr 21]

Như vậy, văn hóa truyền thống Việt Nam theo quan điểm ở đây chính là những giátrị văn hóa vật thể và văn hóa phi vật thể được hình thành trong lịch sử văn hóa ViệtNam Do đó, khi xem xét mối tương quan giữa văn hóa Phật giáo với văn hóa truyềnthống Việt Nam, tôi mong muốn làm rõ những giá trị văn hóa vật thể và phi vật thểcủa Phật giáo đối với văn hóa truyền thống

Trước hết, sự tương tác giữa văn hóa Phật giáo với văn hóa truyền thống thể hiệnqua giá trị văn hóa vật thể và phi vật thể của Phật giáo được kết tinh trong không gianvăn hóa truyền thống của ngôi chùa Phật - một thiết kế văn hóa đặc thù Nếu như

Trang 20

thiếu đi hình ảnh những ngôi chùa Phật giáo thì có lẽ cũng sẽ thiếu đi những nét kiếntrúc, điêu khắc độc đáo của Phật giáo một nhân tố làm đẹp và phong phú cho khotàng văn hóa Việt Nam Chùa là nơi con người được san sẻ cả về tinh thần lẫn vật

chất nên nó mang một ý nghĩa từ ngữ cao đẹp, nhân văn “mái chùa che chở hồn dân tộc” Không gian của những ngôi chùa cổ xưa rõ ràng là nhỏ bé, chật hẹp hơn nhiều

những ngôi chùa mới xây dựng đồ sộ, khang trang như hiện nay, nhưng không gianvăn hoá, lễ hội, ứng xử thì bao trùm hết không gian làng xã, cộng đồng, đi vào trongđời sống ứng xử để trở thành văn chương, nghệ thuật, thẩm mỹ, đạo lý,… Trongnhiều ngôi chùa đã hình thành nên những không gian văn hóa truyền thống điển hình,nơi diễn ra những sinh hoạt văn hóa Phật giáo, các nghi thức tôn giáo như: lễ Phậtđản, lễ Vu Lan, lễ hội Quán Thế Âm,

Thêm vào đó, Việt Nam lại là một nước có truyền thống văn hóa nông nghiệp trồnglúa nước, nên xét dưới góc độ triết lý âm dương thì đây là nền văn hóa trọng âm vớinhững đặc trưng như con người sống nặng về tình cảm, sống hài hòa với thiên nhiên,môi trường xã hội bao dung Vì thế nên trong kiến trúc truyền thống Việt Nam cũngmang những đặc trưng của nền văn hóa gốc nông nghiệp Nếu nhìn sang kiến trúccủa đạo Phật cũng có thể thấy những điểm tương đồng khi ảnh hưởng nhiều từ kiếntrúc truyền thống của người Việt, đặc điểm là phải hòa vào thiên nhiên, hòa vào trờiđất Theo kiến trúc truyền thống, một ngôi chùa hay đền, đình phải đạt chuẩn thông

tam giới, theo quan điểm "nhất thể vũ trụ", "âm dương quân bình" và "thiên nhiên hợp nhất": Với mái tượng trưng cho tầng trời, với đất - thân là nơi thần và người tiếp

cận, cần được thông nhau Vì thế nền đất để mộc, hoặc có lát phải để những mạchrộng hoặc dùng gạch bát thấm nước để thông âm dương; những nơi đặt ban thờ thìgầm ban thờ lộ đất… để âm dương không bị cách trở

Trong các công trình kiến trúc đều khai thác tự nhiên như cây xanh, mặt nước, đánúi… mang đến cho con người cảm giác hòa mình với thiên nhiên, thoải mái khi có

sự kết hợp giữa thiên nhiên và kiến trúc Triết lý âm dương chi phối rất lớn đến kiếntrúc truyền thống Việt Nam và nhất là trong kiến trúc Chùa, Tháp ở vị trí, hướng xâydựng, cách liên kết theo lối ghép âm - dương các bộ phận trong kiến trúc, vật liệu xâydựng với ngói âm dương; các biểu tượng âm dương có truyền thống lâu đời như biểutượng vuông - tròn nói đến sự hoàn thiện, chẳng hạn như chùa Một Cột đặt trên cộttròn và cột tròn lại đặt trên cái hồ vuông

Ngôi chùa và những di vật trong chùa thực sự là những công trình nghệ thuật có giátrị thẩm mỹ cao và có nội dung phong phú - không những giới thiệu giáo lý nhà Phật

mà còn phản ánh quan niệm sống của con người, hướng vào phục vụ đời sống conngười qua nhiều thế hệ Không gian văn hóa truyền thống trong ngôi chùa hòa quyện

và kết hợp với văn hóa truyền thống của dân tộc đã góp phần tạo nên sự phong phú,

đa sắc hơn cho văn hóa dân tộc

Không chỉ vậy, văn hóa Phật giáo còn thể hiện sự hòa quyện với văn hóa truyềnthống khi ngay từ buổi đầu du nhập, Phật giáo luôn đồng hành cùng dân tộc trong

Ngày đăng: 02/12/2019, 23:54

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
8. Thích Viên Thành (1992), “Bác Hồ với Chùa Hương và Chùa Thầy”, Tạp chí lịch sử Đảng, số 3 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bác Hồ với Chùa Hương và Chùa Thầy
Tác giả: Thích Viên Thành
Năm: 1992
13. Tỷ Khiêu Như Tịnh (2009), “Ngày Phật đản và ý nghĩa tắm Phật”, Tạp chí nghiên cứu Phật học, số 3, tr 16 - 18 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngày Phật đản và ý nghĩa tắm Phật
Tác giả: Tỷ Khiêu Như Tịnh
Năm: 2009
3. Đảng cộng sản Việt Nam (2011), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Nxb. Chính trị Quốc gia - Sự thật, Hà Nội Khác
4. Hội thảo Quốc tế về Chủ tịch Hồ Chí Minh (1990), Nxb. KHXH, Hà Nội Khác
5. A.L.Kroeber và Kluckhohn (1952), Culture, a critical review of concept and definitions, Vintage Books, A Division of Random House, New York Khác
6. Hồ Chí Minh (1995), Toàn tập, tập 3, in lần 2, Nxb. Chính trị Quốc gia, Hà Nội Khác
7. Hồ Chí Minh (1995), Toàn tập, tập 5, Nxb. Chính trị Quốc gia, Hà Nội Khác
9. Tôn Đức Thắng (1973), Chỉ thị về việc chấp hành chính sách đối với chùa thờ Phật và đối với Tăng ni Khác
10. Trần Ngọc Thêm (2001), Tìm về bản sắc văn hóa Việt Nam, Nxb. TP. Hồ Chí Minh Khác
11. Ngô Đức Thịnh (chủ biên, 2010), Những giá trị văn hóa truyền thống Việt Nam, Nxb. Chính trị Quốc gia, Hà Nội Khác
12. Tuyên bố chung của UNESCO về tính đa dạng văn hóa (http://www. unesco. org/education/ imld_2002/ unversal_decla. shtml) Khác
14. E.B. Tylor (2000), Văn hóa nguyên thủy (sách tham khảo), Huyền Giang dịch từ tiếng Nga, Nxb. Văn hóa nghệ thuật, Hà Nội Khác
15. Trung Tâm Bảo tồn di sản văn hóa tôn giáo, Một số vấn đề về văn hóa tôn giáo và tư vấn bảo tồn di sản văn hóa tôn giáo trong giai đoạn hiện nay, Kỷ yếu tọa đàm khoa học Khác
16. Viện nghiên cứu tôn giáo (1998), Hồ Chí Minh về vấn đề tôn giáo, tín ngưỡng, Nxb. KHXH, Hà Nội Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w