1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tác động của cấu trúc an ninh tại khu vực Châu Á – Thái Bình Dương tới Việt Nam giai đoạn 2010-2020

171 383 7

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 171
Dung lượng 2,5 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đến nay đã có những công trình khoa học nghiên cứu về cấu trúc an ninh khu vực tại Châu Á - Thái Bình Dương ở những phạm vi và mức độ khác nhau, tuy nhiên chưa có công trình nào nghiên cứu một cách trực tiếp và toàn diện về tác động của cấu trúc an ninh tại khu vực này đối với Việt Nam. Vì vậy, luận án “Tác động của cấu trúc an ninh tại khu vực Châu Á - Thái Bình Dương tới Việt Nam giai đoạn 2010-2020” có thể xem là công trình có những đóng góp mang tính hệ thống trên cả phương diện lý luận và thực tiễn về vấn đề này. Luận án đã phân tích, luận giải những vấn đề mang tính lý luận về cấu trúc an ninh khu vực và tác động của cấu trúc an ninh khu vực đối với các quốc gia nói chung và quốc gia vừa và nhỏ như Việt Nam nói riêng như khái niệm cấu trúc an ninh khu vực, các dạng thức cấu trúc an ninh khu vực, sự hình thành và vận động của cấu trúc an ninh khu vực. Trên cơ sở những lý thuyết sẵn có, luận án đã bước đầu đưa ra và luận giải những vấn đề mới như cơ chế hay nội dung tác động của cấu trúc an ninh khu vực đối với quốc gia. Luận án đã khảo sát, đánh giá sự vận động của cấu trúc an ninh tại khu vực Châu Á - Thái Bình Dương trong từng giai đoạn, đặc biệt là giai đoạn 2010-2020 đồng thời làm rõ vị trí của Đông Nam Á và Việt Nam trong tổng thể cấu trúc để làm cơ sở phân tích các tác động của cấu trúc đối với Việt Nam trên cả ba phương diện môi trường an ninh, không gian phát triển và vị thế quốc gia. Luận án đưa ra những dự báo về những yếu tố tác động đến cấu trúc an ninh tại khu vực Châu Á - Thái Bình Dương trong thập niên tới, từ đó đưa ra ba kịch bản về sự vận động của cấu trúc an ninh tại khu vực đến năm 2030. Những khuyến nghị trong luận án được xây dựng trên cơ sở khoa học sẽ là nguồn tham khảo có ý nghĩa đối với công tác hoạch định chính sách đối ngoại của Việt Nam trong thời gian tới.

Trang 1

HỌC VIỆN NGOẠI GIAO

Trang 2

HỌC VIỆN NGOẠI GIAO

HÀ NỘI - 2019

Trang 3

Tôi xin cam đoan luận án tiến sĩ “Tác động của cấu trúc an ninh tại khu vực Châu Á - Thái Bình Dương tới Việt Nam giai đoạn 2010 - 2020”

là công trình nghiên cứu của cá nhân tôi Các số liệu, tài liệu trong luận

án tiến sĩ là trung thực, khách quan Kết quả nghiên cứu của luận án tiến

sĩ chưa từng được công bố trong bất cứ công trình nào

Hà Nội, ngày tháng năm 2019

NGHIÊN CỨU SINH

Đỗ Lê Chi

Trang 4

Hoàn thành luận án tiến sĩ này, ngoài sự nỗ lực cố gắng của bản thân, nghiên cứu sinh đã nhận được sự quan tâm sâu sắc, sự giúp đỡ chân thành, sự hướng dẫn tận tình của nhiều thầy giáo, cô giáo, lãnh đạo, cán bộ quản lý giáo dục, đồng nghiệp, bạn bè và những thành viên trong gia đình

Nghiên cứu sinh xin bày tỏ lòng cảm ơn chân thành nhất đến tất cả những người đã luôn quan tâm, giúp đỡ nghiên cứu sinh trên con đường khoa học gian khó này

Nghiên cứu sinh đặc biệt biết ơn người hướng dẫn khoa học GS.TS Nguyễn Thái Yên Hương tận tình hướng dẫn, động viên, thúc giục nghiên cứu sinh vượt qua mọi trở ngại để hoàn thành công trình này

Hà Nội, ngày tháng năm 2019

NGHIÊN CỨU SINH

Đỗ Lê Chi

Trang 5

LỜI CAM ĐOAN

LỜI CẢM ƠN

MỤC LỤC

DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT

DANH MỤC CÁC HÌNH

MỞ ĐẦU 1

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ THỰC TIỄN VỀ TÁC ĐỘNG CỦA CẤU TRÚC AN NINH TẠI KHU VỰC CHÂU Á - THÁI BÌNH DƯƠNG TỚI VIỆT NAM GIAI ĐOẠN 2010 - 2020 13

1.1 Lý thuyết về tác động của cấu trúc an ninh khu vực 13

1.1.1 Cấu trúc an ninh khu vực 13

1.1.1.1 Khái niệm cấu trúc an ninh khu vực 13

1.1.1.2 Dạng thức cấu trúc an ninh khu vực 18

1.1.1.3 Sự hình thành và vận động của cấu trúc an ninh khu vực 18

1.1.2 Tác động của cấu trúc an ninh khu vực tới quốc gia 22

1.1.2.1 Quan điểm về tác động của cấu trúc an ninh khu vực tới quốc gia 22

1.1.2.2 Cơ chế tác động của cấu trúc an ninh khu vực đối với quốc gia 24

1.1.2.3 Nội dung tác động của cấu trúc an ninh khu vực tới quốc gia 25

1.1.3 Cấu trúc an ninh tại khu vực Châu Á - Thái Bình Dương trong một số trường phái lý thuyết quan hệ quốc tế 28

1.1.3.1 Chủ nghĩa hiện thực 28

1.1.3.2 Chủ nghĩa tự do 29

1.1.3.3 Chủ nghĩa kiến tạo 30

1.2 Cấu trúc an ninh tại khu vực Châu Á - Thái Bình Dương trước năm 2010 32

1.2.1 Sự vận động của cấu trúc an ninh tại khu vực Châu Á - Thái Bình Dương trước năm 2010 32

1.2.1.1 Giai đoạn Chiến tranh Lạnh 32

1.2.1.2 Giai đoạn Chiến tranh Lạnh kết thúc đến trước năm 2010 33

Trang 6

trước năm 2010 34

1.2.2.1 Cấu trúc an ninh khu vực được hình thành và vận động trên cơ sở cân bằng quyền lực 34

1.2.2.2 Cơ chế hợp tác đa phương phát triển hơn, ASEAN xác lập vị trí quan trọng hơn trong cấu trúc an ninh khu vực 36

1.2.2.3 Sự phân bố lực lượng trong cấu trúc an ninh khu vực từng bước hình thành tầng nấc 38

1.3 Địa thế chiến lược của Đông Nam Á và Việt Nam trong cấu trúc an ninh tại khu vực Châu Á - Thái Bình Dương 38

1.3.1 Địa thế chiến lược của Đông Nam Á tại khu vực 38

1.3.1.1 Đông Nam Á là địa bàn tranh chấp chiến lược hàng đầu của nước lớn 38

1.3.1.2 ASEAN có vị trí chiến lược trong tính toán chiến lược của các nước lớn đối với Châu Á - Thái Bình Dương 40

1.3.1.3 Mỗi nước ASEAN có thế mạnh và giá trị địa- chiến lược riêng tại khu vực 40

1.3.2 Giá trị địa - chiến lược của Việt Nam tại khu vực 41

1.3.2.1 Giá trị địa - chính trị 41

1.3.2.2 Giá trị địa - kinh tế 42

1.3.2.3 Giá trị địa - an ninh 44

Tiểu kết chương 1 45

CHƯƠNG 2: SỰ VẬN ĐỘNG CỦA CẤU TRÚC AN NINH TẠI KHU VỰC CHÂU Á - THÁI BÌNH DƯƠNG GIAI ĐOẠN TỪ 2010 ĐẾN NAY VÀ TÁC ĐỘNG TỚI VIỆT NAM 47

2.1 Vận động của cấu trúc an ninh tại khu vực Châu Á - Thái Bình Dương từ 2010 đến nay và sự tham gia của Việt Nam 47

2.1.1 Những nhân tố tác động tới sự vận động của cấu trúc an ninh tại khu vực Châu Á - Thái Bình Dương giai đoạn từ 2010 đến nay 47

2.1.1.1 Tình hình và các xu thế nổi bật của thế giới và khu vực 47

Trang 7

2.1.3 Sự tham gia của Việt Nam trong cấu trúc an ninh tại khu vực Châu Á - Thái Bình Dương 68

2.1.3.1 Chủ trương và hoạt động tham gia của Việt Nam trong cấu trúc an ninh tại khu vực Châu Á - Thái Bình Dương 68 2.1.3.2 Đóng góp của Việt Nam trong xây dựng cấu trúc an ninh tại khu vực Châu Á - Thái Bình Dương 70

2.2 Tác động của cấu trúc an ninh tại khu vực Châu Á - Thái Bình Dương tới Việt Nam giai đoạn từ 2010 đến nay 74

2.2.1 Tác động tới môi trường an ninh 74

2.2.1.1 Thay đổi môi trường an ninh và quan hệ quốc tế tại khu vực 74 2.2.1.2 Bản chất và hình thức xử lý các vấn đề an ninh khu vực thay đổi, nguy cơ xung đột cục bộ gia tăng song ít khả năng nổ ra chiến tranh 78 2.2.1.3 Đông Nam Á là trọng điểm tranh chấp chiến lược nước lớn, mang đến cả thách thức và cơ hội cho ASEAN 82

2.2.2 Tác động tới không gian phát triển 85

2.2.2.1 Không gian sinh tồn của Việt Nam bị thu hẹp trước việc Trung Quốc thiết lập và mở rộng vận hành cấu trúc “Đàn sếu bay” 85 2.2.2.2 Chính sách cạnh tranh giữa các nước lớn trên lĩnh vực kinh tế thương mại đặt ra cả cơ hội và thách thức đối với sự phát triển của Việt Nam 90 2.2.2.3 Việt Nam có cơ hội phát huy giá trị địa - chiến lược đặc thù, thúc đẩy hành lang kinh tế Đông - Tây, chủ động đảm bảo không gian phát triển cân đối, bền vững 96

Trang 8

2.2.3.1 Vị thế quốc gia tăng lên, Việt Nam có điều kiện thay đổi về chất năng lực bảo đảm môi trường an ninh và không gian phát triển của mình 99 2.2.3.2 Việt Nam có cơ hội tác động vào tiến trình định hình cấu trúc an ninh và tham gia giải quyết các vấn đề chung tại khu vực 104 2.2.3.3 Là tâm điểm cọ xát chiến lược của nước lớn, Việt Nam gặp khó khăn trong quan hệ đối ngoại với nước lớn và xử lý quan hệ nội bộ ASEAN 106

Tiểu kết chương 2 109 CHƯƠNG 3: DỰ BÁO TÁC ĐỘNG CỦA CẤU TRÚC AN NINH TẠI KHU VỰC CHÂU Á - THÁI BÌNH DƯƠNG TỚI VIỆT NAM ĐẾN NĂM 2030

VÀ KHUYẾN NGHỊ CHÍNH SÁCH 111 3.1 Dự báo tác động của cấu trúc an ninh tại khu vực Châu Á - Thái Bình Dương tới Việt Nam đến năm 2030 111

3.1.1 Dự báo về các yếu tố tác động đến cấu trúc an ninh tại khu vực Châu Á

- Thái Bình Dương 111

3.1.1.1 Xu hướng phát triển tại khu vực 111 3.1.1.2 Tương quan lực lượng và chiều hướng chiến lược của các nước lớn 114 3.1.1.3 Tương lai của ASEAN và các cơ chế do ASEAN làm trung tâm 116

3.1.2 Dự báo các kịch bản về cấu trúc an ninh tại khu vực Châu Á - Thái Bình Dương đến năm 2030 118

3.1.2.1 Kịch bản 1: Chưa có được một cấu trúc bao trùm, tổng thể mà tiếp tục tồn tại đồng thời hai tiểu cấu trúc do Mỹ và Trung Quốc dẫn dắt, vừa riêng biệt, vừa đan xen; ASEAN duy trì vai trò “trung tâm” trong khó khăn 118 3.1.2.2 Kịch bản 2: Cạnh tranh chiến lược Mỹ - Trung dẫn tới xung đột

vũ trang hoặc thỏa hiệp phân chia ảnh hưởng; các dạng thức cấu trúc hiện

có bị phá vỡ; ASEAN không còn duy trì được vai trò trung tâm 120 3.1.2.3 Kịch bản 3: Các cường quốc khu vực ủng hộ, tạo không gian cho một dạng thức cấu trúc bao trùm do ASEAN thực sự giữ vai trò trung tâm 122

Trang 9

ích của Việt Nam 123

3.2 Khuyến nghị chính sách đối với Việt Nam 128

3.2.1 Cần đánh giá đúng mối quan hệ chặt chẽ giữa tình trạng cấu trúc an ninh khu vực với lợi ích quốc gia 128

3.2.2 Giữ vững môi trường an ninh 132

3.2.3 Bảo đảm không gian phát triển 136

3.2.4 Nâng cao vị thế quốc gia 141

Tiểu kết chương 3 145

KẾT LUẬN 147

DANH MỤC CÔNG TRÌNH ĐÃ CÔNG BỐ 150 TÀI LIỆU THAM KHẢO Error! Bookmark not defined

Trang 10

TT Từ viết tắt Tiếng Anh Tiếng Việt

1 ADMM+ ASEAN Defence Ministerial

Meeting Plus

Hội nghị Bộ trưởng Quốc phòng ASEAN mở rộng

vùng sông Mekong

5 ARF Asian Regional Forum Diễn đàn Khu vực Châu Á

7 ASEAN+1 ASEAN plus One Hợp tác ASEAN và từng bên

đối thoại

8 ASEAN+3 ASEAN plus Three Hợp tác ASEAN và Trung

Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc

9 BRI Belt and Road Initiative Sáng kiến Vành đai, Con đường

10 CA - TBD Asia Pacific Châu Á - Thái Bình Dương

11 CPTPP Comprehensive and Progressive

Agreement for Trans - Pacific Partnership

Hiệp định Đối tác toàn diện và Tiến bộ xuyên Thái Bình Dương

14 EAMF Expanded ASEAN Maritime Forum Diễn đàn Biển ASEAN mở rộng

15 EAS East Asia Summit Hội nghị Cấp cao Đông Á

17 FTA Free Trade Agreement Hiệp định Thương mại tự do

19 IPS Indo Pacific Strategy Chiến dịch Ấn Độ Dương -

25 SCO Shanghai Cooperation Organization Tổ chức hợp tác Thượng Hải

26 TPP Trans - Pacific Partnership

Agreenment

Hiệp định Đối tác xuyên Thái Bình Dương

Trang 11

Bảng 1.1 Các dạng thức cấu trúc an ninh khu vực 19Bảng 2.1 GDP và ngân sách quốc phòng của Mỹ, Trung Quốc, Nga năm 2018 53Bảng 2.2 Số liệu về nhập khẩu vũ khí của các nước khu vực CA - TBD 812Bảng 2.3 Kim ngạch xuất nhập khẩu của Việt Nam năm 2018 95

Trang 12

Hình 1.1: Cơ chế tác động của cấu trúc an ninh khu vực đối với quốc gia 25

Hình 1.2: Mạng lưới liên kết của Mỹ ở Châu Á - Thái Bình Dương 36

Hình 1.3: Cơ chế do ASEAN sáng lập 37

Hình 2.1: Tỉ lệ đầu tư trực tiếp của Mỹ và Trung Quốc vào ASEAN 62

Hình 2.2: Số liệu xuất khẩu dầu thô của Việt Nam 87

Hình 3.1: Mười nền kinh tế lớn nhất thế giới năm 2030 114

Hình 3.2: Dự báo tương quan sức mạnh hải quân giữa Mỹ và Trung Quốc 115

Trang 13

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Sự tồn tại, phát triển và lợi ích của mỗi quốc gia phụ thuộc lớn vào không gian sinh tồn và môi trường an ninh của quốc gia đó, bao gồm yếu tố bên trong và yếu tố bên ngoài Trong thời đại toàn cầu hóa, lợi ích của các quốc gia vừa tùy thuộc chặt chẽ nhau hơn, nhưng cũng va đập gay gắt hơn Điều này tất yếu hình thành những thiết chế, cơ chế để giải quyết xung đột lợi ích nhằm duy trì môi trường hòa bình, hợp tác để các quốc gia cùng phát triển Những thiết chế, cơ chế

đó vận hành trong một khuôn khổ nhất định, thường được gọi là cấu trúc an ninh (CTAN), một dạng thức hệ thống mà trong đó các cơ chế được vận hành trong sự cạnh tranh và hợp tác, cùng tạo nên những cách thức ngăn chặn các xung đột lợi ích, tạo không gian hợp tác, duy trì sự ổn định tương đối của môi trường an ninh chung, đồng thời thúc đẩy hệ thống đó vận động, phát triển phù hợp với tình hình mới, với sự thay đổi của những yếu tố chủ chốt trong hệ thống đó Cách thức tổ chức và vận hành của cấu trúc đó quyết định hành vi của các chủ thể trong hệ thống cấu trúc

Châu Á - Thái Bình Dương (CA - TBD) là một khu vực địa lý rộng lớn, chiếm 46% diện tích toàn cầu gồm các quốc gia Đông Á, Đông Nam Á (ĐNA), Nam Á, các quốc gia thuộc Châu Đại Dương và các vùng biển cận kề các quốc gia này thuộc khu vực Tây Thái Bình Dương

Kể từ năm 1970, Châu Á là khu vực phát triển kinh tế năng động nhất thế giới với tốc độ tăng trưởng kinh tế trên 5% giai đoạn 2010 - 2018 và chiếm 40% GDP toàn cầu (không bao gồm Mỹ), trong đó có một số nền kinh tế lớn nhất thế giới như Trung Quốc, Nhật Bản, Ấn Độ Chính vì vậy, khu vực CA - TBD được gọi là "Trung tâm của thế giới trong thế kỷ XXI", đầu tàu tăng trưởng kinh tế toàn cầu, trung tâm hợp tác và cạnh tranh chiến lược giữa các nước lớn, trước hết

là giữa Mỹ và Trung Quốc Quá trình này đang làm thay đổi nhanh chóng tương quan ảnh hưởng và trật tự quyền lực trên thế giới, làm gia tăng sự phức tạp, nhạy cảm và tính khó dự đoán của môi trường địa - chính trị, địa - kinh tế của khu vực CA - TBD

Trang 14

Hiện nay, CTAN tại khu vực CA - TBD vận động theo hướng phức tạp Điều này đã và đang tác động trực tiếp, mạnh mẽ đến tất cả các quốc gia ở khu vực, nhất là lĩnh vực an ninh, đối ngoại Điều này đòi hỏi các quốc gia ở CA - TBD phải có sự điều chỉnh chính sách đối ngoại một cách phù hợp để tận dụng thời cơ

do tác động tích cực, đồng thời giảm tối đa thách thức do tác động tiêu cực từ CTAN tại khu vực CA - TBD

Việt Nam là quốc gia có vị trí địa - chiến lược quan trọng tại khu vực CA

- TBD, là thành viên có vai trò quan trọng của Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN) và tham gia tích cực các thể chế đa phương, liên kết hợp tác an ninh khu vực CTAN tại khu vực CA - TBD luôn có tác động trực tiếp, nhanh chóng tới Việt Nam Việc chủ động nhận diện thời cơ, thách thức do tác động từ CTAN tại khu vực để đề xuất khuyến nghị chính sách phù hợp nhằm bảo đảm lợi ích và an ninh quốc gia (ANQG) Việt Nam là yêu cầu, đòi hỏi cấp bách đặt ra từ thực tiễn Trong khi đó, khảo sát cho thấy chưa có công trình khoa học đã công bố nào nghiên cứu trực tiếp, chuyên sâu về tác động của CTAN tại khu vực CA - TBD tới Việt Nam

Xuất phát từ tình hình trên, việc lựa chọn nghiên cứu đề tài “Tác động của cấu trúc an ninh tại khu vực Châu Á - Thái Bình Dương tới Việt Nam giai đoạn 2010 - 2020” làm luận án tiến sĩ, chuyên ngành quan hệ quốc tế (QHQT) là

cần thiết cả về lý luận và thực tiễn

2 Lịch sử nghiên cứu nghiên cứu vấn đề

Qua khảo sát, nghiên cứu sinh tìm thấy các công trình nghiên cứu về CTAN tại khu vực CA - TBD ở phạm vi khác nhau, có thể sắp xếp thành 04 nhóm chủ yếu Việc sắp xếp này chỉ mang tính tương đối nhằm giúp nghiên cứu sinh khảo sát một cách có hệ thống Cụ thể:

Một là, nhóm công trình nghiên cứu về lý thuyết cấu trúc an ninh khu vực, cấu trúc an ninh tại khu vực Châu Á - Thái Bình Dương

Cuốn World order (Trật tự thế giới) của Henry Kissinger, do NXB Penguin

Books Limited phát hành năm 2014 Sách lý giải về nguyên nhân của sự hòa hợp, xung đột quốc tế; đề cập thách thức đặt ra đối với việc thiết lập một trật tự thế giới

ở thế kỷ XXI trong bối cảnh các quốc gia tiếp tục bị chia rẽ sâu sắc bởi quan điểm

Trang 15

lịch sử, xung đột vũ trang, khoảng cách công nghệ hay tư tưởng cực đoan về ý thức

hệ Chương 5 và Chương 6 nghiên cứu khu vực Châu Á, so sánh quan điểm cân bằng quyền lực giữa Châu Âu và Châu Á, trật tự khu vực Châu Á và vị trí của Trung Quốc trong trật tự khu vực và thế giới Do mục tiêu đặt ra, nên sách chưa đề cập, giải thích về CTAN khu vực và tác động của CTAN khu vực tới quốc gia

Cuốn Regional Powers and Security Orders: A Theoretical Framework

(Khung lý thuyết về Trật tự an ninh và các cường quốc khu vực) của Robert Stewart

- Ingersoll và Derrik Fraizier xuất bản năm 2012 Sách trình bày về khung lý thuyết mới để lý giải vai trò của các cường quốc khu vực trong việc tạo dựng và duy trì trật tự an ninh khu vực Theo các tác giả, sự biến động của tình hình an ninh quốc

tế có liên quan mật thiết với mối quan tâm của các quốc gia đối với khu vực và chịu tác động lớn từ hành động và chính sách của các cường quốc khu vực Đây là những nội dung được nghiên cứu sinh kế thừa Do tiếp cận nghiên cứu trật tự an ninh khu vực, nên sách chưa nghiên cứu về CTAN khu vực, tác động của quốc gia tới CTAN khu vực

Cuốn International Relations Theory and the Asia - Pacific (Lý thuyết quan

hệ quốc tế và Châu Á - Thái Bình Dương) của G.John Ikenberry và Michael Mastandumo, do NXB Đại học Columbia phát hành năm 2003 Sách đề cập về việc ứng dụng lý thuyết QHQT Phương Tây nghiên cứu thực tế hành vi và chính sách đối ngoại của các quốc gia Châu Á Nghiên cứu sinh kế thừa nội dung phân tích mối quan

hệ giữa ba cường quốc có vai trò định hình tương lai kinh tế, chính trị của khu vực

CA - TBD là Mỹ, Trung Quốc và Nhật Bản trên cả phương diện an ninh và kinh tế trong sách để phân tích sự vận động của CTAN tại khu vực CA - TBD

Cuốn Regional Security Structures in Asian (Những cấu trúc an ninh khu

vực ở Châu Á) của Ashok Kapor, do NXB Routledge xuất bản năm 2003, tái bản năm 2013 đã đề cập đến những vấn đề nghiên cứu sinh quan tâm trong quá trình nghiên cứu luận án Ashok Kapor cho rằng việc giải thích các mối QHQT ở Châu

Á giai đoạn sau Chiến tranh Thế giới II đã quá nhấn mạnh đến tác động của yếu tố Chiến tranh Lạnh, do đó chưa đánh giá một cách đầy đủ, đúng mức về những nhân

tố khác như sự xuất hiện của các cường quốc khu vực, xung đột và cách thức giải

Trang 16

quyết xung đột trong khu vực Sách nhận diện những nhân tố này để tiếp cận, lý giải về những hình thái quan hệ phức tạp ở ba khu vực chính của Châu Á là Bắc

Á, ĐNA và Nam Á Do cách tiếp cận, nên sách chưa nghiên cứu về tác động của CTAN tại khu vực CA - TBD đối với các quốc gia, trong đó có Việt Nam

Hai là, nhóm công trình nghiên cứu về tổng thể cấu trúc an ninh tại khu vực Châu Á - Thái Bình Dương

Cuốn Asia - Pacific Rebalance 2025: Capabilities, Presence and Partnerships (Tái cân bằng Châu Á - Thái Bình Dương 2025: Khả năng, sự hiện

diện và quan hệ đối tác), do Trung tâm Nghiên cứu Chiến lược và Quốc tế công bố năm 2016 Sách đánh giá độc lập về Chiến lược Quốc phòng Mỹ tại CA - TBD, đưa ra những kiến nghị và đề xuất nhằm tiếp tục duy trì chính sách tái cân bằng Sách khảo sát, đánh giá toàn diện các nhân tố trong khu vực có ảnh hưởng đến chiến lược và lợi ích của Mỹ, như vai trò, vị trí của các nước đồng minh, đối tác

và tổ chức khu vực; chính sách và hành động của các nước lớn; khoảng cách về tiềm lực quân sự giữa các nước Nghiên cứu sinh kế thừa kết quả nghiên cứu này

để phân tích cơ chế hình thành và vận động của CTAN tại khu vực CA - TBD, đưa

ra dự báo và khuyến nghị chính sách của Việt Nam

Trong cuốn Bilateralism, Multilateralism and Asia - Pacific Security (Chủ

nghĩa song phương, đa phương và An ninh Châu Á - Thái Bình Dương) do NXB Routledge phát hành, William T.Tow và Brendan Taylor tập hợp 13 bài viết của các học giả uy tín trên thế giới về mối quan hệ giữa các cơ chế hợp tác song phương

và đa phương đối với an ninh và ổn định ở khu vực CA - TBD Sách phản bác nhận định cho rằng hai cơ chế này phủ nhận nhau trong hợp tác an ninh, dần dần cơ chế

đa phương sẽ thay thế cơ chế song phương; từ đó nhấn mạnh cơ chế đa phương và song phương có thể song song tồn tại, và đóng góp vai trò quan trọng trong duy trì

an ninh và hợp tác khu vực Sách cung cấp dữ liệu tin cậy giúp nghiên cứu sinh phân tích đặc điểm của CTAN tại khu vực CA - TBD

Cuốn Multilateral Asian Security Architecture: Non - ASEAN Stakeholders

(Cấu trúc an ninh đa phương Châu Á: Vai trò của các quốc gia ngoài ASEAN) của See Seng Tan do NXB Taylor & Francis Ltd xuất bản năm 2017 Sách phân tích,

Trang 17

so sánh vai trò, vị trí của 5 quốc gia (Úc, Nhật Bản, Trung Quốc, Mỹ và Indonesia) đối với CTAN khu vực này kể từ sau Chiến tranh Lạnh Qua đó nhận định, cùng với ASEAN, 5 quốc gia này cũng có vai trò đặc biệt quan trọng trong việc định hình và duy trì cơ chế hợp tác đa phương ở Châu Á Vì thế, khi nghiên cứu CTAN nói chung và cơ chế hợp tác đa phương nói riêng ở khu vực này chúng ta không thể không xem xét đến các quốc gia lớn có lợi ích ở đây Sách là tài liệu tham khảo hữu ích với các học giả, nhà nghiên cứu quan tâm đến vấn đề an ninh, chính trị Châu Á và các tổ chức liên kết quốc tế

Cuốn Cục diện thế giới đến 2020 do Phạm Bình Minh chủ biên, NXB Chính

trị quốc gia, xuất bản năm 2010 Sách phân tích, suy luận và dự báo về cục diện thế giới, xu hướng phát triển toàn cầu, trong đó tập trung vào khu vực CA - TBD

và ĐNA với những yếu tố có tác động trực tiếp đến an ninh, ổn định khu vực như các thách thức an ninh phi truyền thống, mối quan hệ giữa các nước lớn có lợi ích

ở khu vực là Mỹ, Trung Quốc, Nga, Nhật Bản… Những vấn đề này được nghiên cứu sinh kế thừa và tiếp tục phát triển trong luận án

Cuốn Con đường củng cố An ninh và Hợp tác ở Đông Á của Nguyễn Quang

Thuấn, do NXB Khoa học xã hội, xuất bản năm 2016 Sách nghiên cứu chuyên sâu

về tình hình Đông Á; phân tích chính sách của các nước lớn đối với khu vực, đặc biệt là triển khai chính sách của Trung Quốc, Ấn Độ; ảnh hưởng của Trung Quốc, Nga và tổ chức ASEAN đối với các vấn đề an ninh khu vực; đánh giá về các vấn

đề an ninh của Đông Á, hạt nhân của toàn khu vực CA - TBD Sách phân tích thực trạng và nhấn mạnh yêu cầu cần có những thiết chế an ninh đa phương phù hợp tại khu vực để giúp kiểm soát các vấn đề tại khu vực, thúc đẩy xu hướng hợp tác, phát triển tại Đông Á

Ba là, nhóm công trình nghiên cứu về các yếu tố chủ chốt trong cấu trúc

an ninh tại khu vực Châu Á - Thái Bình Dương

Cuốn Shifting Power in Asia - Pacific (Chuyển dịch quyền lực ở Châu Á

- Thái Bình Dương) của Fels Enrico, được NXB Springer phát hành năm 2017 Sách khảo sát một cách hệ thống về sự thay đổi của cán cân quyền lực trong khu vực, phân tích sự trỗi dậy mạnh mẽ của Trung Quốc, mối quan hệ cạnh tranh Mỹ

- Trung, quan hệ song phương giữa 6 cường quốc trung bình trong khu vực (Úc,

Trang 18

Nhật, Hàn Quốc, Thái Lan, Indonesia và Pakistan) với Mỹ và Trung Quốc Đặc biệt, sách so sánh sức mạnh và ảnh hưởng của 44 quốc gia ở khu vực này đối với QHQT trong 20 năm qua dựa trên 55 tiêu chí

Cuốn Asian Waters: The struggle over the Asia Pacific and the Strategy of Chinese Expansion (Vùng biển Châu Á: Tranh chấp khu vực Châu Á - Thái Bình

Dương và Chiến lược bành trướng của Trung Quốc) của Humphrey Hawksley Sách nghiên cứu tranh chấp trên biển, trong đó tập trung vào chiến lược của Trung Quốc, nỗ lực tìm kiếm mối quan hệ với Mỹ nhằm tạo nên thế cân bằng chiến lược của một số quốc gia yếu hơn trong khu vực, đồng thời nhận định, dự báo về khả năng hiện thực hóa tham vọng bành trướng của Trung Quốc trên biển và mối quan

hệ liên minh mới giữa Nhật Bản, Philippines, Hàn Quốc và Đài Loan để đối phó với tham vọng này

Cuốn The New ASEAN in Asia - Pacific and Beyond (Một ASEAN mới

vượt ra ngoài phạm vi Châu Á - Thái Bình Dương) của Shaun Narine, do NXB Lynne Rienner xuất bản năm 2018 Sách đề cập 8 vấn đề gồm (i)ASEAN trong thế kỷ XXI; (ii)Lịch sử ASEAN: Ra đời và Khủng hoảng; (iii)Cải cách hậu khủng hoảng; (iv)Chủ nghĩa thể chế khu vực; (v)Mối quan hệ với Trung Quốc; (vi)Mối quan hệ với Hoa Kỳ; (vii) ASEAN và các cường quốc khu vực; và (viii)Vai trò của ASEAN Sách là công trình nghiên cứu công phu, toàn diện về ASEAN Sách

có giá trị tham khảo đối với nghiên cứu sinh khi phân tích về ASEAN và vai trò của ASEAN đối với sự hình thành và phát triển của CTAN tại khu vực CA - TBD

Cuốn Asia - Pacific Security: US, Australia and Japan and the New Security Triangle (Mỹ, Úc, Nhật Bản và sự hình thành tam giác an ninh ở khu vực

Châu Á - Thái Bình Dương) của William Tow, Mark Thomson, Yoshimobu Yamanoto, Satu Limaye, do NXB Routledge phát hành năm 2008 Sách nghiên cứu quan hệ hợp tác an ninh giữa ba quốc gia này và khả năng áp dụng mô hình ba bên ở khu vực CA - TBD; nghiên cứu lý thuyết và thực trạng quan hệ Mỹ, Úc, Nhật Bản, trên cơ sở đó đánh giá tác động đối với mạng lưới liên minh song phương của Mỹ tại khu vực, cũng như mối liên hệ giữa tình hình an ninh, chính trị khu vực với tình hình chính trị nội bộ trong mỗi nước Đây là những vấn đề được nghiên

Trang 19

cứu sinh khi kế thừa khi đánh giá về CTAN tại khu vực CA - TBD

Cuốn Thế hệ lãnh đạo thứ năm của Trung Quốc: Những điều chỉnh chính sách với Mỹ và các tác động tới khu vực Châu Á - Thái Bình Dương do Nguyễn

Thái Yên Hương chủ biên, được NXB Chính trị Quốc gia phát hành năm 2015 Sách khảo sát, phân tích chuyên sâu các vấn đề quan trọng liên quan đến chính sách đối ngoại của Trung Quốc, trọng tâm là: (i) Chính sách với Mỹ từ sau Đại hội

18, nhân tố trong và ngoài nước tác động đến chính sách Trung Quốc đối với Mỹ; (ii) Vị trí của Mỹ trong chính sách đối ngoại của Trung Quốc; (iii) Những điều chỉnh cơ bản trong chính sách đối ngoại của Trung Quốc sau Đại hội 18 nói chung

và với Mỹ nói riêng; (iv) Sự ứng phó của lãnh đạo nước này đối với chính sách và hành động thực tiễn của Mỹ trong quan hệ hai nước Trên cơ sở đó, tác giả đưa ra

dự báo về điều chỉnh trong chính sách của Trung Quốc đối với Mỹ, quan hệ Mỹ - Trung, cũng như tác động của chúng đối với khu vực CA - TBD

Luận án tiến sĩ, Tác động của quan hệ Mỹ - Trung đến an ninh Châu Á - Thái Bình Dương sau Chiến tranh Lạnh, Lê Hải Bình, Học viện Ngoại giao, 2013

Luận án phân tích một cách toàn diện tác động của quan hệ Mỹ - Trung đến các vấn đề cơ bản của an ninh Châu Á - Thái Bình Dương sau Chiến tranh Lạnh từ góc

độ của Việt Nam Luận án cũng đưa ra các kịch bản của quan hệ Mỹ - Trung đến năm 2020 và chiều hướng tác động của mối quan hệ này đối với an ninh CA - TBD; đồng thời đề xuất một số kiến nghị đối với chính sách đối ngoại của Việt Nam nhằm tận dụng các cơ hội cũng như giảm thiểu thách thức do mối quan hệ này mang lại Quan hệ Mỹ - Trung là yếu tố chủ chốt trong CTAN tại khu vực CA - TBD Đây

là tài liệu có giá trị đối với quá trình nghiên cứu luận án của nghiên cứu sinh

Luận án tiến sĩ, Vai trò của ASEAN trong trật tự Đông Á tới năm 2020 và định hướng chính sách đối ngoại của Việt Nam, Nguyễn Hùng Sơn, Học viện

Ngoại giao, 2013 Luận án nghiên cứu, phân tích vai trò của ASEAN trong việc hình thành trật tự Đông Á, trên cơ sở đó kiến nghị phương thức tham gia ASEAN phù hợp với vai trò của tổ chức này trong trật tự khu vực tới năm 2020 Đặc biệt, luận án khẳng định và chứng minh luận điểm: các nước vừa và nhỏ có thể tác động vào việc xác lập trật tự khu vực và thế giới trong một số điều kiện nhất định và chỉ

Trang 20

rõ các điều kiện đó; đồng thời đề xuất bộ tiêu chí đánh giá vai trò của các nước vừa

và nhỏ; kiến nghị việc hoạch định chính sách đối ngoại của Việt Nam tham gia ASEAN trong bối cảnh trật tự Đông Á có nhiều biến động ASEAN cũng là yếu tố quan trọng của CTAN tại khu vực CA - TBD Vì vậy, kết quả nghiên cứu của luận

án rất có giá trị đối với nghiên cứu sinh

Bốn là, nhóm công trình nghiên cứu về tác động của cấu trúc an ninh tại khu vực Châu Á - Thái Bình Dương tới Việt Nam

Cuốn Asia - Pacific Security Cooperation: National Interests and Regional order (Hợp tác an ninh khu vực Châu Á - Thái Bình Dương: Lợi ích quốc gia và

trật tự khu vực) của See Seng Tan và Amitav Acharya, được NXB Routledge phát hành năm 2014 Sách nghiên cứu tổng quan về các cách tiếp cận mới đối với khu vực CA - TBD kể từ sau Chiến tranh Lạnh và Sự kiện 11/9; tác động của mối quan

hệ an ninh khu vực đối với Mỹ, Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc, Indonesia, Philippines, Malaysia, Thái Lan và Singapore; nhận định triển vọng trong tương lai hợp tác an ninh ở Đông Á Mặc dù, không đề cập đến Việt Nam, nhưng sách gợi ý nghiên cứu sinh về phương pháp tiếp cận khi tiến hành đánh giá, dự báo về tác động của CTAN tại khu vực tới Việt Nam

Cuốn Cục diện Châu Á - Thái Bình Dương do Dương Phú Hiệp và Vũ Văn

Hà đồng chủ biên, được NXB Chính trị Quốc gia phát hành năm 2006 Sách đề cập cục diện khu vực trong 20 năm đầu thế kỷ XXI, trọng tâm là Đông Bắc Á và ĐNA; thực trạng về thế và lực của của các quốc gia trên cả phương diện kinh tế, chính chính trị, quốc phòng, an ninh, đối ngoại; nhận định về thuận lợi, thách thức và xu hướng phát triển trong khu vực đến năm 2020 Sách không chỉ cung cấp cho nghiên cứu sinh những thông tin, nội dung có thể kế thừa và phát triển, mà còn gợi ý về cách thức tiếp cận và giải quyết các vấn đề trong luận án

Do các công trình trên đề cập tác động của QHQT và an ninh khu vực CA - TBD chủ yếu đối với thế giới, khu vực, nên chưa đi sâu nghiên cứu tác động đối với từng quốc gia nhỏ và vừa, trong đó Việt Nam Một số công trình đưa ra nhận định, dự báo về tác động của tình hình khu vực đối với Việt Nam, cũng như gợi ý chính sách, nhưng lại chưa có nghiên cứu trực tiếp vấn đề tác động của CTAN tại

Trang 21

khu vực CA - TBD tới Việt Nam Đây là những vấn đề đặt ra mà luận án cần tiếp tục nghiên cứu, giải quyết

3 Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu

* Mục tiêu nghiên cứu

Mục tiêu nghiên cứu nhằm làm rõ sự vận động và tác động của CTAN tại khu vực CA - TBD tới Việt Nam từ năm 2010 đến nay, trên cơ sở đó đưa ra khuyến nghị chính sách đến năm 2030 nhằm bảo đảm lợi ích và ANQG Việt Nam

* Nhiệm vụ nghiên cứu

Để thực hiện mục tiêu trên, nhiệm vụ nghiên cứu của luận án gồm:

- Phân tích, làm rõ lý thuyết về CTAN khu vực; tình hình CTAN tại khu vực

CA - TBD trước năm 2010; địa thế chiến lược của Đông Nam Á và Việt Nam trong CTAN tại khu vực CA - TBD

- Phân tích, đánh giá sự vận động của CTAN tại khu vực CA - TBD giai đoạn từ 2010 đến nay, sự tham gia của Việt Nam trong CTAN tại khu vực và đánh giá tác động tới Việt Nam

- Dự báo xu hướng tác động của CTAN tại khu vực CA - TBD tới Việt Nam, trên cơ sở đó đưa ra khuyến nghị chính sách phù hợp

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

* Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của luận án là CTAN tại khu vực CA - TBD và tác động của CTAN tại khu vực CA - TBD tới Việt Nam

* Phạm vi nghiên cứu

- Về nội dung, luận án nghiên cứu tác động của CTAN tại khu vực CA -

TBD tới Việt Nam dựa trên lý thuyết QHQT và chủ yếu tập trung vào lĩnh vực an ninh, đối ngoại

- Về không gian, luận án nghiên cứu khu vực CA - TBD, đặc biệt là khu

vực Đông Á - nơi tập trung các vấn đề trọng yếu gắn với lợi ích và ANQG của Việt Nam

- Về thời gian, luận án nghiên cứu giai đoạn từ năm 2010 đến nay, dự báo

đến năm 2030 Năm 2010 là mốc thay đổi đáng chú ý về so sánh lực lượng nước lớn và cục diện tình hình tại khu vực CA - TBD

Trang 22

5 Phương pháp nghiên cứu

Luận án được nghiên cứu dựa trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và quan điểm của Đảng về đối ngoại Luận

án sử dụng các phương pháp nghiên cứu cụ thể chủ yếu sau:

- Phương pháp cấu trúc: sử dụng lý thuyết phương pháp cấu trúc trong ngôn ngữ học để nghiên cứu về các yếu tố (thành tố) cấu thành CTAN tại khu vực CA - TBD, quan hệ giữa các yếu tố này (nguyên tắc, quy tắc, cơ chế liên kết, tương tác)

và các nhân tố tác động đến sự vận động, hoạt động của CTAN tại khu vực CA - TBD, trên cơ sở đó phân tích làm rõ khái niệm CTAN khu vực, mô hình CTAN tại khu vực CA - TBD, sự vận động của CTAN tại khu vực CA - TBD ở Chương

1 và Chương 2 của luận án

- Phương pháp phân tích tài liệu: khảo sát, tìm kiếm, thu thập tài liệu, trên

cơ sở đó phân tích, so sánh các kết quả nghiên cứu, số liệu, tài liệu có liên quan đến đề tài theo từng nội dung, vấn đề khoa học, từ đó tổng hợp, đánh giá rút ra những kết luận khoa học về nội dung nghiên cứu tại Chương 1 và Chương 2 của luận án

- Phương pháp nghiên cứu lịch sử, so sánh, tổng hợp: tiến hành nghiên cứu, so sánh hoạt động của các thể chế, cơ chế, diễn đàn, sáng kiến về CTAN tại khu vực CA - TBD, trên cơ sở đó phân tích làm rõ đặc điểm, sự tác động của các cấu trúc này tới Việt Nam ở Chương 1 và Chương 2 của luận án

- Phương pháp nghiên cứu điển hình: khảo sát, nghiên cứu các cơ chế, thể chế hợp tác an ninh điển hình tại khu vực CA - TBD Dựa trên kết quả nghiên cứu điển hình, kết hợp với phương pháp chuyên gia để rút ra những kết luận khoa học

về đánh giá tác động của CTAN tại khu vực CA - TBD tới Việt Nam ở Chương 2

- Phương pháp dự báo: trên cơ sở thực trạng tình hình ở Chương 2, kết hợp

tư duy khoa học, logic, phỏng vấn chuyên gia, tổng hợp các dự báo của các tổ chức, học giả lớn, trên cơ sở đó dự báo về xu hướng vận động của CTAN tại khu vực

CA - TBD và chiều hướng tác động của xu hướng vận động đó tới Việt Nam theo các kịch bản đến năm 2030

6 Nguồn tài liệu

- Luận án sử dụng tài liệu gốc, chính thức của các nước, tổ chức quốc tế,

Trang 23

văn kiện của Đảng Cộng sản Việt Nam và Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam

- Luận án khai thác sách, bài báo, báo cáo khoa học được công bố chính thức trong nước và ngoài nước; đề tài khoa học, chuyên đề nghiên cứu của Bộ Ngoại giao, viện nghiên cứu thuộc Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam

- Luận án khai thác, sử dụng thông tin, số liệu từ trang tin điện tử, cổng thông tin điện tử của các tổ chức, viện nghiên cứu, hãng thông tấn, báo chí uy tín

7 Những đóng góp của luận án

- Luận án là công trình nghiên cứu một cách có hệ thống về tác động của CTAN tại khu vực CA - TBD tới Việt Nam, trong đó nổi bật là đóng góp mới về đánh giá tác động của CTAN khu vực tới Việt Nam trên ba phương diện môi trường

an ninh, không gian phát triển và vị thế quốc gia

- Đóng góp những khuyến nghị có cơ sở khoa học để xây dựng chính sách đối ngoại của Việt Nam đến năm 2030

- Đóng góp một công trình khoa học phục vụ công tác đào tạo, nghiên cứu của các cơ sở giáo dục đại học, các viện nghiên cứu tại Việt Nam

- Chương 2 Sự vận động của cấu trúc an ninh tại khu vực Châu Á - Thái Bình Dương giai đoạn từ 2010 đến nay và tác động tới Việt Nam Bám sát

khung lý thuyết ở Chương 1, Chương này phân tích sự vận động của CTAN tại khu vực CA - TBD giai đoạn 2010 - 2020, làm rõ sự tham gia của Việt Nam trong CTAN tại khu vực và đánh giá tác động của CTAN tại khu vực CA - TBD giai đoạn 2010 - 2020 tới Việt Nam trên ba phương diện gồm môi trường an ninh,

Trang 24

không gian phát triển và vị thế quốc gia

- Chương 3 Dự báo tác động của cấu trúc an ninh tại khu vực Châu Á - Thái Bình Dương tới Việt Nam đến năm 2030 và khuyến nghị chính sách Trên

cơ sở kết quả nghiên cứu ở Chương 1 và Chương 2, Chương này phân tích dự báo

về tác động của CTAN tại khu vực CA - TBD tới Việt Nam đến năm 2030, đưa ra

bốn nhóm khuyến nghị chính sách đối với Việt Nam trong thời gian tới

Trang 25

CHƯƠNG 1

CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ THỰC TIỄN

VỀ TÁC ĐỘNG CỦA CẤU TRÚC AN NINH TẠI KHU VỰC

CHÂU Á - THÁI BÌNH DƯƠNG TỚI VIỆT NAM GIAI ĐOẠN 2010 - 2020

1.1 Lý thuyết về tác động của cấu trúc an ninh khu vực

1.1.1 Cấu trúc an ninh khu vực

1.1.1.1 Khái niệm cấu trúc an ninh khu vực

Cấu trúc an ninh khu vực là trụ cột của hệ thống QHQT, tác động trực tiếp đến lợi ích và chính sách đối ngoại của mỗi quốc gia CTAN khu vực thể hiện mối quan hệ giữa các nước trong cùng một khu vực địa lí nhằm đối phó và giải quyết những vấn đề an ninh chung Để xây dựng khái niệm CTAN khu vực, trước hết cần làm rõ nhận thức về nội dung liên quan, bao gồm khái niệm an ninh, cấu trúc và cấu trúc khu vực

* An ninh

Theo Từ điển Oxford, an ninh được hiểu là trạng thái an toàn, không phải

đối mặt với nguy hiểm hay mối đe dọa nào Ở cấp độ quốc gia, theo quan điểm truyền thống, an ninh là khả năng của một quốc gia trong việc chống lại mối đe dọa hay hành động tấn công vũ lực từ bên ngoài [74] Tuy nhiên, trong bối cảnh toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế, khái niệm an ninh trong lý thuyết chính trị quốc

tế được mở rộng hơn nhiều cùng với sự xuất hiện của những mối đe dọa mới, vượt

ra khỏi phạm vi biên giới một quốc gia, trở thành thách thức chung đối với hòa bình và ổn định của khu vực và toàn cầu Đáng chú ý là quan điểm an ninh toàn diện với một cách tiếp cận toàn diện, tổng quan hơn đối với vấn đề an ninh trên cả

ba khía cạnh, gồm đối tượng bảo vệ, các mối đe dọa và công cụ để đối phó với các mối đe dọa đó

Theo Haftendorn, đối tượng bảo vệ của an ninh không chỉ giới hạn ở cấp độ

quốc gia mà cần mở rộng ra nhiều cấp độ khác, từ “cá nhân, gia đình, xã hội, quốc gia, hệ thống quốc tế và cả nhân loại” [49] Tương tự như vậy, các học giả cho

rằng mối đe dọa đối với an ninh không chỉ có các yếu tố quân sự như quan điểm

Trang 26

truyền thống mà còn cả những yếu tố phi quân sự xuất phát từ nhiều vấn đề phức tạp trong đời sống xã hội như “kinh tế, môi trường, nhân quyền hay di cư” và đáng chú ý là các vấn đề này thường có mối liên hệ và tác động qua lại lẫn nhau [68]

Do đó, công cụ đối phó với các thách thức này cũng đa dạng hơn nhiều, bao gồm

cả công cụ quân sự, kinh tế và ngoại giao Trong cuốn The Concept of Security

(Khái niệm an ninh), Baldwin khẳng định: Tương tự như sự thịnh vượng, các mục tiêu an ninh có thể đạt được bằng nhiều cách thức khác nhau

An ninh toàn diện là quan niệm được sử dụng phổ biến tại CA - TBD Cách tiếp cận toàn diện và bao quát này là cơ sở quan trọng để thiết lập các cơ chế hợp tác nhằm đảm bảo hòa bình, ổn định, cùng phát triển, tạo ra nền tảng cơ bản để định hình cấu trúc khu vực

* Cấu trúc và cấu trúc khu vực

Lý thuyết về cấu trúc trong QHQT liên hệ mật thiết với lý thuyết về hệ thống Hệ thống được định nghĩa là tập hợp những phần tử tương tác với nhau Ở một cấp độ, hệ thống bao gồm cấu trúc, và cấu trúc là thành tố ở cấp độ hệ thống giúp cho ta nhận biết các phần tử đang thuộc một hệ thống, có trật tự và tương tác chứ không phải đơn thuần là một tập hợp không có mối liên kết nội tại Theo Kenneth N.Waltz, cấu trúc là một bộ phận chủ đạo tạo nên chỉnh thể hệ thống,

được định nghĩa là cách sắp xếp của các bộ phận Chỉ những biến đổi trong cách

sắp xếp mới tạo ra sự thay đổi về cấu trúc [95] Nói cách khác, cấu trúc được xác định bởi sự sắp xếp giữa các đơn vị cấu thành và quy tắc của sự sắp xếp đó

Trong chính trị quốc tế, hệ thống QHQT bao gồm cả chủ thể quốc gia và chủ thể phi quốc gia như các tổ chức phi chính phủ hay liên chính phủ, tuy nhiên, quốc gia - dân tộc vẫn là chủ thể chính Cách thức sắp xếp giữa các chủ thể này

sẽ hình thành nên cấu trúc định hình hệ thống quốc tế

Khái niệm cấu trúc khu vực được xây dựng dựa trên hai nội dung cơ bản trong lý thuyết QHQT là cấu trúc và khu vực Trong đó, khu vực được hiểu là một phạm vi địa lí nhất định gồm các quốc gia có những nét tương đồng về đặc điểm

tự nhiên, kinh tế, văn hóa, xã hội và như vậy, cấu trúc khu vực là cách sắp xếp vị trí của các quốc gia ở cùng một phạm vi địa lí nhất định Vị trí của mỗi quốc gia

Trang 27

trong sự trật tự sắp xếp được quyết định bởi vai trò, ảnh hưởng của quốc gia đó cũng như tương quan sức mạnh của quốc gia đó với các quốc gia khác trong hệ

thống khu vực Cách sắp xếp này được mô tả bởi thuật ngữ mối quan hệ Mối quan

hệ vừa thể hiện được sự tương tác giữa các quốc gia, vừa thể hiện được vị trí của chúng trong quan hệ đó Các mô thức, dạng thức quan hệ khác nhau sẽ tạo ra những hình thái cấu trúc khu vực khác nhau Nói cách khác, cấu trúc khu vực được hiểu

là tổng thể các khuôn mẫu, mô thức quan hệ giữa các chủ thể trong một hệ thống quan hệ quốc tế của một khu vực địa lý nhất định Trong đó, chủ thể quốc gia -

dân tộc là chủ thể chủ yếu

* Cấu trúc an ninh khu vực

Từ cách tiếp cận toàn diện về an ninh và cấu trúc khu vực, các nhà nghiên

cứu đã đưa ra những định nghĩa về cấu trúc an ninh khu vực Đáng chú ý là Barry

Buzan với học thuyết Tổ hợp an ninh khu vực (Regional Security Complex Theory) Theo ông, trong một hệ thống quốc tế vô chính phủ, mỗi khu vực luôn

tồn tại “một nhóm quốc gia có những quan niệm và lo ngại về an ninh gắn kết chặt chẽ với nhau đến mức việc phân tích các vấn đề an ninh quốc gia của từng nước không thể tách rời nhau được” [38; tr.90], trên cơ sở đó hình thành nên các “tổ hợp

an ninh” với những đặc điểm và sự tương tác mang tính đặc thù Khái niệm “tổ hợp” của Barry Buzan rất gần với khái niệm cấu trúc trong lý thuyết về hệ thống quốc tế khi nhấn mạnh đến mối quan hệ giữa các nước theo cả chiều ngang (tương tác giữa các đơn vị trong cùng tổ hợp) và chiều dọc (vị trí của các đơn vị trong tổ hợp và tương tác giữa tổ hợp thấp hơn với tổ hợp cao hơn)

Một số học giả khác như Hedley Bull, Ikenberry, Robert Steward -

Ingersoll và Derrick Frazier cho rằng cấu trúc an ninh khu vực là sự sắp xếp giữa các chủ thể trong hệ thống khu vực, gồm cả các luật lệ, nguyên tắc và thể chế được xây dựng nhằm quy định sự tương tác giữa các chủ thể cũng như bảo vệ những mục tiêu và giá trị cốt lõi chung [83] Trong khi đó, Christopher Snedden tại Trung tâm nghiên cứu an ninh CA - TBD thuộc Viện Quốc phòng Mỹ giải thích CTAN khu vực là hệ thống các quan niệm, hành vi, quan hệ, liên minh và thể chế được các quốc gia xây dựng và phát triển để đảm bảo an ninh khu vực [82]

Trang 28

Nhìn tổng thể, việc tiếp cận và lí giải khái niệm CTAN khu vực vẫn chủ yếu dựa trên quan điểm lý thuyết của Phương Tây, theo đó (i) Cạnh tranh quyền lực là nhân tố cơ bản, chủ đạo của việc hình thành cấu trúc khu vực, do đó các nước lớn có vai trò quan trọng trong việc dẫn dắt các thể chế khu vực và cấu trúc

khu vực (ii) Cấu trúc khu vực có mục tiêu quan trọng nhất là bảo vệ an ninh của các

nước thành viên, chống lại đe dọa về vũ lực từ các chủ thể bên ngoài và thực tế

CTAN tại khu vực Châu Âu chủ yếu dựa trên các liên minh quân sự (iii) Mỹ và

Châu Âu đòi hỏi mức độ liên kết về an ninh cao giữa các thành viên, quá trình ra

quyết định thường dựa trên đa số thay vì đồng thuận (iv) Phạm vi chủ quyền của

các nước có thể bị điều chỉnh khi tham gia hợp tác trong cấu trúc khu vực

Trong nghiên cứu QHQT, bên cạnh khái niệm CTAN khu vực còn có một khái niệm có nội dung liên quan khác là trật tự khu vực Theo học giả Mỹ G.John Ikenberry, trật tự là khái niệm tương đối tĩnh, phản ánh tương quan quyền lực và lợi ích của các quốc gia trong hệ thống QHQT khu vực [54; tr.23] Trong khi CTAN khu vực được định hình bởi sự dàn xếp, thỏa thuận giữa các chủ thể, thể hiện qua các thể chế, luật chơi nhằm giải quyết vấn đề an ninh chung thì trật tự khu vực được xem như kết quả được tạo ra bởi các luật chơi đó Luật chơi đóng vai trò vừa là công cụ thể hiện và phát huy vừa là giới hạn của quyền lực Một khu vực có thể vừa có CTAN khu vực vừa xác lập được trật tự, nhưng cũng có thể chỉ có một trong hai yếu tố hoặc chưa có được yếu tố nào

Trên cơ sở kế thừa các quan niệm phổ biến về CTAN khu vực trong lý thuyết

hệ thống quốc tế và khái niệm an ninh toàn diện đang được thừa nhận và sử dụng

rộng rãi, luận án đưa ra khái niệm: Cấu trúc an ninh khu vực là hình thái quan hệ giữa các chủ thể trong một phạm vi địa lí nhất định, thể hiện qua hệ thống các thể chế, cơ chế và thỏa thuận trên lĩnh vực chính trị - an ninh nhằm đối phó và giải quyết các thách thức an ninh chung

Từ khái niệm trên có thể thấy CTAN khu vực được cấu thành bởi ba yếu tố chủ yếu là: (i) Dạng thức quan hệ thể hiện tương quan quyền lực giữa các chủ thể trong cấu trúc; (ii) Các cơ chế, khuôn khổ thể hiện cách thức vận động của quyền lực; và (iii) Các vấn đề an ninh chung và các chuẩn mực đặc trưng của khu vực

Trang 29

Trong ba yếu tố trên, dạng thức quan hệ thể hiện tương quan quyền lực giữa các chủ thể giữ vai trò chủ chốt và chi phối hai nhân tố còn lại Bản chất quan hệ

có thể là hợp tác, cạnh tranh hoặc vừa hợp tác vừa cạnh tranh và có ảnh hưởng quyết định đến hình thái cấu trúc QHQT của hệ thống khu vực Về lý thuyết, chủ thể của các hình thái quan hệ này có thể là các quốc gia hoặc các chủ thể phi quốc gia Tuy nhiên, trên thực tế, chủ thể chính của quan hệ chính trị quốc tế thường là các quốc gia, và quốc gia càng lớn càng có vai trò quan trọng trong việc quyết định, tác động dạng thức quan hệ ở khu vực Theo Derrick Frazier and Robert Stewart Ingesoll, thứ hạng quyền lực khu vực được quyết định bởi các chủ thể tham gia, đặc biệt là các quốc gia lớn, có tiềm lực mạnh vốn được gọi là các cường quốc khu vực Điều này có nghĩa các nước lớn nắm lợi thế trong CTAN khu vực

và sẽ có xu hướng tạo ra các thể chế để bảo vệ lợi ích và lợi thế của họ

Yếu tố khuôn khổ, thể chế, liên kết thể hiện cách thức vận động của quyền lực và đặc tính của CTAN khu vực Theo Li Kaisheng, các thể chế hợp tác có thể chia làm 05 loại, gồm các liên minh song phương, cơ chế tạm thời, quan hệ đối tác chiến lược, thượng đỉnh đa phương và diễn đàn an ninh [59] Khi phân tích CTAN khu vực cần phân tích các thể chế khu vực trên cả ba phương diện là: chủ thể của thể chế, chức năng của thể chế và nguyên tắc, luật chơi của thể chế Trong một khu vực, cấu trúc an ninh không nhất thiết phải là một tổ chức duy nhất nào mà là hệ thống gắn kết ở một mức độ nhất định của các thể chế, thỏa thuận, diễn đàn đa phương và các cơ chế khác nhằm cung cấp chức năng cần thiết để duy trì trật tự và

ổn định chung Các thể chế, thỏa thuận, diễn đàn và cơ chế này cùng song trùng tồn tại, phát triển, vừa bổ sung thúc đẩy vừa cạnh tranh lẫn nhau để định hình nên CTAN khu vực

Ngoài hai yếu tố trên, CTAN khu vực còn bao gồm cả các chuẩn mực quốc

tế được xây dựng thông qua các cơ chế hợp tác và những vấn đề an ninh chung trong khu vực Các vấn đề này sẽ tác động đến các hình thức liên kết, tập hợp lực lượng cũng như chính sách hợp tác an ninh của các quốc gia cụ thể Ba yếu tố này

có mối quan hệ hữu cơ, cùng nhau định hình CTAN khu vực

Trang 30

1.1.1.2 Dạng thức cấu trúc an ninh khu vực

Trong lý thuyết, các dạng thức CTAN khu vực được phân định theo nhiều tiêu chí khác nhau Theo tiêu chí về tính chỉnh thể, có thể phân CTAN thành hai loại gồm cấu trúc thống nhất, bao trùm (như ở Tây Âu) và cấu trúc còn bị phân tách, đang trong quá trình định hình (như ở Châu Á) Dựa trên tiêu chí phân cực,

có thể phân CTAN khu vực thành cấu trúc đa cực, cấu trúc lưỡng cực, cấu trúc đơn cực và cấu trúc phi cực Dựa vào trạng thái quan hệ giữa các chủ thể tham gia cấu trúc, Buzan và Waever phân loại CTAN khu vực thành cấu trúc đồng thuận và cấu trúc đối nghịch

Với định nghĩa CTAN khu vực là hình thái quan hệ giữa các chủ thể quốc gia, Luận án đồng tình với cách phân loại của Robert Steward - Ingersoll & Derrick Frazier, xác định dạng thức CTAN khu vựa căn cứ vào tiêu chí về cách thức hình thành các hình thái quan hệ giữa các phần tử bên trong Theo đó, CTAN khu vực có 5 dạng thức chính gồm: Cấu trúc dựa trên bá quyền, cấu trúc dựa trên cân bằng quyền lực, cấu trúc dựa trên hòa hợp quyền lực, cấu trúc dựa trên quan

hệ hợp tác và cấu trúc tự do Mỗi dạng thức có những đặc trưng riêng, thể hiện qua bảng so sánh dưới đây

Trong một khu vực có thể tồn tại đồng thời nhiều dạng thức cấu trúc khác nhau, có sự chuyển dịch từ dạng này sang dạng khác Khó xác định một khu vực

có cấu trúc hoàn toàn trùng khớp với một dạng thức cụ thể nêu trên

1.1.1.3 Sự hình thành và vận động của cấu trúc an ninh khu vực

* Yếu tố tác động sự hình thành và vận động của cấu trúc an ninh khu vực

Cấu trúc an ninh khu vực là hình thái quan hệ giữa các nước trên lĩnh vực chính trị - an ninh, được tạo ra bởi sự dàn xếp giữa các chủ thể nhằm giải quyết các vấn đề an ninh tại khu vực; sự hình thành và vận động của CTAN khu vực được quyết định bởi hai yếu tố: (i) sự dàn xếp, thỏa thuận giữa các quốc gia và (ii)

xu hướng, tình hình liên quan đến an ninh nổi lên; trong đó (i) là yếu tố bên trong, mang tính chủ quan của cấu trúc, (ii) là yếu tố bên ngoài, mang tính khách quan

Trang 31

Bảng 1.1 Các dạng thức cấu trúc an ninh khu vực

Dạng thức

CTAN

Khả năng phân cực trong CTAN

Cấu trúc

dựa trên

bá quyền

Cấu trúc do một quốc gia có sức mạnh vượt trội định hình

và chi phối Các thể chế, cơ chế hợp tác về an ninh tại khu vực do quốc gia này dẫn dắt và lãnh đạo vì thế không chỉ nhằm giải quyết các vấn đề an ninh chung của khu vực mà còn phục vụ trực tiếp lợi ích của quốc gia bá quyền (Cấu trúc khu vực lục địa Á Âu, khu vực Nam Mỹ thời Chiến tranh Lạnh)

Đơn cực, lưỡng cực hoặc đa cực

Đa cực hoặc lưỡng cực

Đơn cực, lưỡng cực hoặc đa cực

Cấu trúc

tự do

Các quốc gia trong khu vực không có sự tương tác với nhau

đủ để hình thành bất cứ liên kết hay cơ chế hợp tác nào trong việc giải quyết các vấn đề an ninh chung của khu vực (Cấu trúc ở Trung Phi hay Đông Bắc Phi)

Không có cực

Nguồn: Nghiên cứu sinh tổng hợp từ các nguồn tài liệu Cách thức và mục tiêu dàn xếp của các quốc gia phụ thuộc trước hết vào

tương quan lực lượng, là sự phản ánh so sánh sức mạnh tổng hợp giữa các bên

Trang 32

Các bên ở đây có thể là các quốc gia riêng lẻ hoặc của các nhóm quốc gia có cùng chí hướng và lợi ích liên minh lại với nhau Khi tương quan sức mạnh tổng hợp về chính trị, kinh tế, quân sự và văn hóa giữa các quốc gia không có sự chênh lệch nhiều, không có “siêu cường” với sức mạnh nổi trội sẽ dẫn đến xu hướng xuất hiện các dàn xếp cân bằng, hợp tác Khi trong khu vực nổi lên một cường quốc với sức mạnh tổng hợp vượt trội so với các nước khác sẽ dẫn đến những tập hợp lực lượng theo xu hướng phù thịnh, trong đó các nước nhỏ nhận sự bảo hộ nhất định về an ninh, quân sự, sự hỗ trợ về kinh tế nhưng tính tự quyết và độc lập của quốc gia trong QHQT và khu vực sẽ giảm đi, chịu sự định hướng và chi phối của nước lớn

Theo Neack (1995), siêu cường có sức mạnh vượt trội sẽ theo đuổi mục tiêu bảo vệ vị trí lãnh đạo của mình trong hệ thống quốc tế và khu vực, cạnh tranh và cân bằng ảnh hưởng đối với các siêu cường khác; trong khi những quốc gia trung bình và yếu thường hướng đến mục tiêu đảm bảo an ninh và ổn định để phát triển [74] Cùng quan điểm trên, Robert Jackson và Gorge Sorensen cho rằng hệ thống quốc tế và khu vực luôn tồn tại thứ bậc giữa các quốc gia; chủ thể nào lớn hơn sẽ nắm quyền chi phối trong các dàn xếp, tạo ra khuôn khổ, “luật chơi” mà các chủ thể khác phải tuân theo Các cường quốc giữ vai trò quyết định trong việc tập hợp

và định hình các liên kết ở khu vực [57; tr.62]

Chuyển dịch quyền lực cũng là một tác nhân quan trọng Bàn về “sự hình

thành xung đột khu vực”, R.Vayrynen cho rằng, sự chuyển dịch trong phân bố quyền lực quốc tế sẽ tạo ra những trung tâm phát triển và xung đột mới, từ đó cấu trúc và trật tự khu vực cũng thay đổi theo [62] Khi quyền lực của một siêu cường

bị suy giảm, vị trí thống trị và bá quyền bị dịch chuyển hoặc san sẻ cho một hoặc nhiều cường quốc khác mới nổi lên, những giá trị, luật lệ, nguyên tắc, cơ chế đã được thiết lập sẽ đối mặt với nguy cơ không còn được các cường quốc mới chấp nhận, và họ cũng muốn thiết lập trật tự mới bảo đảm cho họ có vai trò, ảnh hưởng lớn hơn Tại khu vực sẽ hình thành các xu hướng liên kết và tập hợp lực lượng mới do các cường quốc mới nổi khởi xướng Cường quốc truyền thống cũng sẽ phải điều chỉnh chính sách và chiến lược của mình để duy trì vai trò và ảnh hưởng tại khu vực Sự chuyển dịch quyền lực kéo theo sự thay đổi trong chính

Trang 33

sách và chiến lược của các chủ thể, đặc biệt là các nước lớn đối với khu vực sẽ tác động mạnh mẽ đến sự hình thành và vận động của CTAN khu vực

Bên cạnh yếu tố tác động có tính chủ quan trên, sự hình thành và vận động

của CTAN khu vực còn chịu sự tác động trực tiếp của xu hướng, tình hình an ninh nổi lên Đây là những vấn đề chung đặt ra đối với tất cả các nước trong khu vực,

đòi hỏi phải liên kết để cùng đối phó Barry Buzan cho rằng chính sự phụ thuộc lẫn nhau về an ninh là một nhân tố quyết định sự hình thành và vận động của CTAN khu vực Các thách thức, cơ hội có thể đến từ bên ngoài khu vực, dẫn đến xu hướng liên kết, tập hợp lực lượng để đối phó, điển hình trong định dạng “an ninh tập thể” Chúng cũng có thể đến từ bên trong, khiến cho các quốc gia trong khu vực phải cùng nhau giải quyết Các thách thức, cơ hội mới này có thể làm cho các nước trong khu vực liên kết chặt chẽ hơn, nhưng cũng có thể làm phân rã tập hợp lực lượng trong CTAN đã có

* Biểu hiện vận động của cấu trúc an ninh khu vực

Với tư cách là hình thái quan quan hệ giữa các chủ thể trong hệ thống khu vực, sự vận động của cấu trúc chính là sự thay đổi, vận động của các mô thức, hình thái quan hệ đó; và được biểu hiện trên 3 phương diện chủ yếu là: (i) sự thay đổi trong quan hệ giữa các nước lớn; (ii) sự thay đổi trong xu hướng tập hợp lực lượng

và (iii) sự thay đổi, điều chỉnh trong hệ thống các khuôn khổ, cơ chế và liên kết khu vực Cụ thể:

Bản chất của chính trị quốc tế và ngoại giao là chính trị dựa trên sức mạnh

vì thế mọi sự thay đổi của CTAN khu vực trước hết cũng được thể hiện qua sự

thay đổi, điều chỉnh trong quan hệ giữa các nước lớn Hedley Bull cho rằng hệ

thống quốc tế và cấu trúc khu vực được định hình và thể hiện qua mối quan hệ giữa các quốc gia [36; tr.16-19] Bảng 1.1 phần nào cho thấy mỗi dạng thức cấu trúc tồn tại hình thái một quan hệ đặc trưng giữa các nước lớn và các khả năng phân cực riêng Khi có sự chuyển dịch từ dạng thức này sang dạng thức khác, mối quan

hệ và khả năng phân cực cũng thay đổi theo

Sự vận động của cấu trúc còn thể hiện qua sự thay đổi trong các xu hướng tập hợp lực lượng tại khu vực thông qua các hình thức liên minh, liên kết, thường

Trang 34

do các cường quốc có ảnh hưởng dẫn dắt Theo các nhà hiện thực chủ nghĩa, khi CTAN khu vực diễn ra sự chuyển dịch từ dạng thức dựa trên sức mạnh bá quyền sang dạng thức cân bằng quyền lực sẽ có hiện tượng hình thành các xu hướng tập hợp lực lượng đối trọng nhau được chi phối, dẫn dắt bởi cường quốc tại vị và cường quốc mới nổi Đồng thời, nguy cơ xung đột xảy ra tại khu vực cũng lớn hơn Đối với các nước vừa và nhỏ, bên cạnh lựa chọn tham gia vào các tập hợp lực lượng

do nước lớn dẫn dắt, các nước này có thể tự tập hợp lại thông qua các cơ chế hợp tác riêng để hạn chế sự phụ thuộc vào nước lớn

Ngoài ra, các khuôn khổ, cơ chế hợp tác là một yếu tố cấu thành quan trọng của CTAN khu vực vì thế sự vận động của cấu trúc còn biểu hiện qua sự điều

chỉnh, thay đổi trong hệ thống các khuôn khổ, cơ chế hợp tác tại khu vực Theo

một số học giả như Keohane, Acharya và Johnston, các cơ chế có vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy sự hợp tác của các quốc gia và trong hệ thống quốc tế luôn tồn tại những quy định, nguyên tắc, luật lệ quy định và phản ánh mối quan hệ giữa các chủ thể tham gia

Như vậy, CTAN khu vực là một bộ phận cốt lõi cấu thành hệ thống quốc tế tại khu vực Sự hình thành và vận động của cấu trúc chịu sự tác động mạnh mẽ của tương quan lực lượng giữa các chủ thể chính, sự chuyển dịch quyền lực và tình hình liên quan đến an ninh đang nổi lên ở khu vực Được định nghĩa là hình thái quan hệ giữa các nước trong khu vực trên lĩnh vực chính trị - an ninh nên sự vận động của cấu trúc trước hết được thể hiện qua sự điều chỉnh trong quan hệ giữa các nước, trực tiếp và đáng chú ý nhất là quan hệ giữa các nước lớn, tiếp đó là sự thay đổi trong xu hướng tập hợp lực lượng và sự điều chỉnh trong hệ thống các khuôn khổ, cơ chế hợp tác an ninh - quốc phòng ở khu vực

1.1.2 Tác động của cấu trúc an ninh khu vực tới quốc gia

1.1.2.1 Quan điểm về tác động của cấu trúc an ninh khu vực tới quốc gia

Nghiên cứu tác động của CTAN khu vực đối với quốc gia là nghiên cứu mối quan hệ giữa tổng thể và bộ phận, giữa hệ thống và phần tử cấu thành, vì vậy cần xem xét cả vai trò của CTAN khu vực cũng như vị trí, mức độ ảnh hưởng của các chủ thể quốc gia trong cấu trúc đó

Chủ nghĩa hiện thực nhìn chung đề cao tác động của hệ thống quốc tế đối với quốc gia, tuy nhiên khác nhau về cách nhìn và đánh giá về mức độ tác động

Trang 35

Trong khi Keneth Waltz đề cao vai trò tác động của hệ thống, Robert Gilpin hay Henry Kissinger lại cho rằng sự chi phối của hệ thống chỉ ở mức độ vừa phải và không đồng đều với từng quốc gia Các cường quốc khu vực được xem là những quốc gia sở hữu sức mạnh tổng hợp cao hơn, và lãnh đạo tiến trình giải quyết các vấn đề an ninh nổi lên để duy trì trật tự khu vực [46] Theo Robert Steward - Ingersoll và Derrick Frazier, trong hệ thống thứ bậc, các quốc gia đứng đầu luôn

sử dụng ưu thế về sức mạnh vượt trội để thiết lập và duy trì CTAN khu vực phù hợp với lợi ích, giá trị và chuẩn mực của mình [83]

Trong khi đó, các quốc gia vừa và nhỏ chịu sự tác động theo chiều thụ động Trong lý thuyết QHQT, quốc gia vừa (còn gọi là quốc gia tầm trung) được xác định là những quốc gia không phải là siêu cường quốc hay cường quốc nhưng có

đủ năng lực để thiết lập ảnh hưởng nhất định trong khu vực, còn nước nhỏ là những quốc gia có năng lực hạn chế và phụ thuộc nhiều vào mối quan hệ với nước lớn để bảo vệ an ninh và lợi ích của mình Theo Keohane, “một nước tầm trung là nước

mà nhà lãnh đạo cho rằng họ không thể hành động hiệu quả một mình nhưng có thể có tác động mang tính hệ thống đến một nhóm nhỏ thông qua các thể chế quốc tế; một nước nhỏ là nước mà nhà lãnh đạo cho rằng họ không thể hành động một mình hay trong một nhóm nhỏ để tạo ra ảnh hưởng đối với hệ thống quốc tế” [52]

Như vậy, theo Chủ nghĩa hiện thực, trong CTAN khu vực, các nước vừa và nhỏ phụ thuộc chủ yếu vào “luật chơi” do nước lớn áp đặt, thường phải chấp nhận những giá trị, chuẩn mực do nước lớn đặt ra theo tiêu chuẩn nước lớn và phù hợp với lợi ích nước lớn Theo Neack (1995), trong khi các quốc gia vừa có thêm sự lựa chọn liên minh hay lực lượng để tham gia thì quốc gia nhỏ lại thường phụ thuộc vào một nước lớn cụ thể và chính sách đối ngoại của các quốc gia này sẽ bị can thiệp, chi phối bởi nước lớn để đổi lấy sự ổn định và an ninh [74] Chủ nghĩa tự do

và Chủ nghĩa kiến tạo lại cho rằng trong hệ thống quốc tế nói chung, sự tương tác giữa các quốc gia ngày càng lớn, do đó các nước vừa và nhỏ cũng ngày càng có vị trí quan trọng, không nhất thiết nước yếu luôn bị chi phối và khuất phục bởi nước lớn trong CTAN khu vực [20; tr.34]

Từ cách tiếp cận của các trường phái lý thuyết về vai trò của CTAN khu vực

và vị trí của các chủ thể của các loại chủ thể trong cấu trúc, có thể hiểu như sau:

Trang 36

Tác động của cấu trúc an ninh khu vực đối với quốc gia là quá trình cấu trúc an ninh khu vực tạo ra các xu hướng vận động trong chính sách, hành vi và điều kiện bảo đảm lợi ích quốc gia của các nước tại khu vực Với tư cách vừa là tổng thể,

vừa là môi trường nên sự tác động của CTAN khu vực đối với quốc gia mang tính tất yếu khách quan Mỗi cấu trúc là một mẫu hình quan hệ đặc trưng, có những vấn

đề và chức năng chung cần giải quyết và với tư cách là phần tử cấu thành, các quốc gia phải tính toán, lựa chọn những công cụ chính sách và hành vi có sự tương hợp nhất định với xu hướng vận động chung của cấu trúc nhằm bảo vệ tối đa lợi ích

của mình

1.1.2.2 Cơ chế tác động của cấu trúc an ninh khu vực đối với quốc gia

Cơ chế tác động của CTAN khu vực đối với quốc gia là mối quan hệ tác động giữa cái tổng thể và cái bộ phận, giữa cái môi trường chung đến môi trường riêng CTAN khu vực tác động tới quốc gia thông qua các khuôn khổ đã được các thành viên thừa nhận, được thể hiện bởi các quy định về thứ bậc quyền lực, nguyên tắc dựa trên luật pháp quốc tế, cách thức quan hệ giữa các chủ thể, chuẩn mực, giá trị hay định hướng chung cấu trúc hướng đến Sự tác động của cấu trúc đối với quốc gia diễn ra theo hai hướng chính như sau:

Thứ nhất, thông qua khuôn khổ, quy định, CTAN khu vực chi phối chính sách

và hành vi đối ngoại của mỗi quốc gia Thông thường, các quốc gia sẽ phải lựa chọn những chính sách đối ngoại phù hợp với các quy tắc, chuẩn mực, thể chế chung của khu vực để tìm kiếm cơ hội và tránh những thách thức từ phản ứng ngược của cấu trúc và các chủ thể khác Trong bối cảnh hội nhập, kết quả của hoạt động đối ngoại của quốc gia có ý nghĩa rất lớn đối với môi trường an ninh, phát triển của quốc gia cũng như vị thế và sức mạnh của quốc gia trong QHQT

Thứ hai, hệ thống khuôn khổ, luật lệ là công cụ để CTAN khu vực còn thực

hiện chức năng duy trì trật tự, giải quyết các vấn đề an ninh nổi lên, thiết lập môi trường quốc tế ở khu vực Đến lượt mình, trật tự và môi trường khu vực sẽ xác định

vi trí, vai trò của từng quốc gia với tư cách là các phần tử đang tồn tại và tương tác trong cấu trúc đồng thời trực tiếp tác động đến môi trường riêng của từng chủ thể có thể theo hướng tạo cơ hội, điều kiện thuận lợi hay đặt ra những thách thức, khó khăn đối với điều kiện an ninh và phát triển của mỗi quốc gia

Trang 37

Có thể thấy dù theo hướng nào, CTAN khu vực cũng tác động đến ba yếu tố

chính chi phối trực tiếp lợi ích quốc gia, bao gồm: môi trường an ninh, không gian

phát triển và địa vị quốc gia trong hệ thống quốc tế Cơ chế tác động giữa CTAN khu vực tới quốc gia mang tính hai chiều, ở chiều ngược lại lợi ích quốc gia sẽ quyết định chính sách và hành vi đối ngoại của các quốc gia, từ đó tạo sự thay đổi trong khuôn khổ, luật chơi và tạo ra sự vận động của CTAN khu vực (Hình 1.1)

Hình 1.1: Cơ chế tác động của cấu trúc an ninh khu vực đối với quốc gia

Nguồn: Nghiên cứu sinh tổng hợp từ các nguồn tài liệu

1.1.2.3 Nội dung tác động của cấu trúc an ninh khu vực tới quốc gia

Cấu trúc an ninh tác động đến lợi ích quốc gia thông qua công cụ là hệ thống các khuôn khổ, “luật chơi”; chi phối trực tiếp lợi ích của một quốc gia thông qua nhiều góc độ, trực tiếp nhất là tới môi trường an ninh và sự phát triển sức mạnh của quốc gia trong hệ thống quan hệ quốc tế Cụ thể:

CTAN khu vực

Khuôn khổ, “luật chơi”

Trật tự khu vực, môi trường khu vực Chính sách và hành vi đối ngoại quốc gia

Vị thế quốc gia

LỢI ÍCH QUỐC GIA

Môi trường

an ninh

Không gian phát triển

Trang 38

* Cấu trúc an ninh khu vực tác động tới sự thay đổi ở môi trường an ninh của quốc gia

Theo lý thuyết “Tổ hợp an ninh khu vực” của Buzan, an ninh của các quốc gia trong cùng khu vực địa lý gắn kết chặt chẽ với nhau đến mức không thể tách rời do vậy an ninh của mỗi quốc gia luôn đặt trong và chịu sự tác động trực tiếp của môi trường an ninh khu vực Về nguyên tắc, trong một môi trường an ninh khu vực hòa bình, ổn định được duy trì bởi các khuôn khổ, luật lệ đã được thiết lập thì không gian an ninh xung quanh của các quốc gia được bảo đảm, nguy cơ xung đột cũng giảm do hành vi của các chủ thể đều chịu sự điều chỉnh của luật lệ chung và sẵn sàng cùng hợp tác để giải quyết những vấn đề an ninh chung

Trong những CTAN diễn ra cạnh tranh quyền lực và ảnh hưởng giữa các nước lớn với các xu hướng tập hợp lực lượng khác nhau thì môi trường an ninh khu vực trở nên phức tạp hơn do hệ thống luật lệ để duy trì trật tự hiện có không được tôn trọng và thực hiện đầy đủ Sự xuất hiện những cơ chế hợp tác, liên kết do các cường quốc khác nhau dẫn dắt có thể khác biệt, thậm chí trái ngược nhau, cơ dẫn đến chia rẽ, xung đột trong khu vực

Môi trường an ninh khu vực phức tạp tác động nhiều chiều đến khả năng bảo vệ an ninh của mỗi quốc gia, nhất là quốc gia vừa và nhỏ Một mặt, nước nhỏ đứng trước nguy cơ bị uy hiếp, đe dọa về an ninh từ nước lớn khi nước lớn lợi dụng ưu thế vượt trội, bỏ qua luật lệ chung để áp đặt chiến lược; mặt khác sự kiềm chế lẫn nhau giữa các nước lớn cũng tạo cho nước vừa và nhỏ nhiều lựa chọn hơn trong bảo vệ lợi ích của mình

* Cấu trúc an ninh khu vực tác động làm thay đổi năng lực tổng hợp quốc gia

Năng lực tổng hợp quyết định quyền lực và sức mạnh của quốc gia Trong bối cảnh toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế sâu rộng, sự phụ thuộc giữa các quốc gia ngày càng gia tăng, năng lực của mỗi quốc gia chịu sự tác động mạnh mẽ từ yếu tố bên ngoài

Trước hết, sự phân bố quyền lực tác động đến chính sách quốc phòng của quốc gia Khi CTAN khu vực vận động theo hướng cân bằng quyền lực với sự cạnh tranh gay gắt giữa các cường quốc và tập hợp lực lượng đối trọng nhau sẽ

Trang 39

dẫn đến nguy cơ chạy đua vũ trang giữa các chủ thể, và năng lực quân sự của mỗi quốc gia cũng sẽ tăng lên Quốc gia nhỏ và vừa có thể lựa chọn tham gia các cơ chế, liên kết để giúp nâng cao khả năng phòng vệ của quốc gia, có thể là liên kết với cường quốc để nhận được sự bảo đảm về an ninh, hoặc liên kết với các quốc gia có chung mối đe dọa và tương đương về năng lực để tạo nên sức mạnh tập thể cùng đối phó với thách thức chung

Cấu trúc an ninh khu vực với các cơ chế, thể chế liên kết sẽ thúc đẩy sự hợp tác, chia sẻ giữa các quốc gia trong việc xây dựng cộng đồng cùng phát triển thịnh vượng Theo Keohane và Martin, trong phần lớn các trường hợp, tham gia vào các liên kết, tập hợp khu vực sẽ đem đến cho quốc gia cơ hội chia sẻ thông tin, mở rộng quan hệ hợp tác, trong đó có quan hệ thương mại Tuy nhiên, do CTAN khu vực được định hình và chi phối bởi các nước lớn nên các nước nhỏ khi tham gia vào QHQT sẽ chịu nhiều rủi ro và bất lợi hơn trong việc bảo vệ lợi ích của mình

* Cấu trúc an ninh khu vực tác động đến diễn biến và kết quả quan hệ quốc

tế của quốc gia

Với tư cách là môi trường diễn ra hành vi đối ngoại của quốc gia, CTAN khu vực tác động đến toàn bộ quá trình quan hệ từ mục tiêu, động cơ, hành vi đến kết quả Sự thay đổi trong mối quan hệ giữa các nước lớn, sự xuất hiện của các xu hướng tập hợp lực lượng mới hay các vấn đề liên quan đến an ninh khu vực nổi lên là những biến số quan trọng để các quốc gia đoán định, lựa chọn chính sách và công cụ đối ngoại Sự tác động của CTAN khu vực trong trường hợp này mang tính thuận hay nghịch, hay đan xen thể hiện qua mức độ thuận lợi, khó khăn của quốc gia trong quá trình lựa chọn và hoạch định chính sách đối ngoại nhằm đảm bảo tối đa lợi ích của mình trong QHQT

Kết quả QHQT của một quốc gia thể hiện tập trung ở vị thế và ảnh hưởng của quốc gia đó trong hệ thống quốc tế và khu vực Thông thường, khi chính sách

và quan hệ đối ngoại của quốc gia phù hợp với xu hướng vận động chung của hệ thống sẽ đem lại cơ hội thuận lợi cho quốc gia do có được sự thừa nhận và ủng hộ của các chủ thể khác, đặc biệt là các nước lớn từ đó quốc gia sẽ có điều kiện để nâng cao vai trò, vị trí của mình tại khu vực Ngược lại, nếu hành vi và chính sách

Trang 40

đối ngoại của một quốc gia đi ngược lại với xu hướng chung của các hình thái quan

hệ trong cấu trúc sẽ có nguy cơ đối mặt với phản ứng ngược từ cấu trúc và các chủ thể khác

1.1.3 Cấu trúc an ninh tại khu vực Châu Á - Thái Bình Dương trong một số trường phái lý thuyết quan hệ quốc tế

có nhiều nét tương đồng với Châu Âu vào giai đoạn cuối thế kỷ XIX , khi mà các nước lớn tiến hành cuộc chạy đua gay gắt để xác lập vị trí của mình trong một cấu trúc đa cực [48]

Cùng quan điểm đó, Henry Kissinger nhận định “mối quan hệ giữa các quốc gia Châu Á gần như tương tự với hệ thống cân bằng quyền lực của Châu Âu vào thế

kỷ XIX ”, “Trung Quốc đang vươn lên vị trí siêu cường”, “những quốc gia Châu Á khác đang tìm kiếm đối trọng để cân bằng với một Trung Quốc đang ngày càng hùng mạnh hơn” và “Mỹ đóng vai trò như một nhân tố chủ chốt để đảm bảo Trung Quốc

và Nhật Bản cùng tồn tại trong hòa bình bất chấp sự nghi kỵ lẫn nhau” [63]

Chủ nghĩa hiện thực cho rằng mặc dù có nhiều nét tương đồng nhưng Châu

Á giai đoạn hậu Chiến tranh Lạnh tồn tại nhiều yếu tố bất ổn như tranh chấp chủ quyền, lãnh thổ kết hợp với tranh chấp tài nguyên và chủ nghĩa dân tộc; sự liên kết lỏng lẻo về kinh tế và an ninh trong khi lại thiếu các cam kết rộng rãi về dân chủ hay các thể chế ràng buộc như Châu Âu Mặt khác, các quốc gia Châu Á bị chia cắt cát cứ về địa lý, đủ gần để “nhìn ngó, dè chừng” nhau nhưng lại thiếu sự thân thiết và cởi mở để cùng nhau xây dựng những giải pháp, thiết chế chung cho trật

Ngày đăng: 02/12/2019, 15:03

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w