1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

THỰC HÀNH QUYỀN CÔNG tố TRONG vụ án cố ý gây THƯƠNG TÍCH HOẶC gây tổn hại CHO sức KHỎE của NGƯỜI KHÁC từ THỰC TIỄN QUẬN 9, THÀNH PHỐ hồ CHÍ MINH

85 40 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 85
Dung lượng 752 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

một cách triệt để, có hiệu Trênquả.cơ sở đó, Ngành kiểm sát cũng đã xác địnhrõ nhiệm vụ và đặt ra yêu cầu cụ thể để thực hiện những nhiệm vụ đó thôngqua nhiều văn bản như Chỉ thị số 06/C

Trang 1

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM

HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

TRƯƠNG THỊ NGỌC HUỆ

THỰC HÀNH QUYỀN CÔNG TỐ TRONG

VỤ ÁN CỐ Ý GÂY THƯƠNG TÍCH HOẶC GÂY TỔN HẠI CHO SỨC KHỎE CỦA

NGƯỜI KHÁC

TỪ THỰC TIỄN QUẬN 9, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HÌNH SỰ VÀ TỐ TỤNG HÌNH SỰ

Trang 2

HÀ NỘI, năm 2019

Trang 3

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM

HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

TRƯƠNG THỊ NGỌC HUỆ

THỰC HÀNH QUYỀN CÔNG TỐ TRONG VỤ ÁN CỐ

Ý GÂY THƯƠNG TÍCH HOẶC GÂY TỔN HẠI CHO

SỨC KHỎE CỦA NGƯỜI KHÁC

TỪ THỰC TIỄN QUẬN 9, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Trang 4

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan Luận văn này là công trình nghiên cứu khoa học độclập của riêng tôi Các tài liệu, tư liệu được sử dụng trong luận văn có nguồndẫn rõ ràng Các kết quả nghiên cứu trong luận văn có được là do quá trìnhlao động

trung thực của tôi

Hà Nội, ngày tháng 8 năm 2019

NGƯỜI CAM ĐOAN

TRƯƠNG THỊ NGỌC HUỆ

Trang 5

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

Chương 1 : MỘT SỐ VÁN ĐỀ LÍ LUẬN VÀ PHÁP LUẬT VỀ THỰC HÀNH QUYỀN CÔNG TỐ ĐỐI VỚI CÁC VỤ ÁN CỐ Ý GÂY THƯƠNG TÍCH HOẶC GÂY TỔN HẠI CHO SỨC KHỎE CỦA NGƯỜI KHÁC 9

1.1 Khái niệm - Phạm vi - Đặc điểm của thực hành quyền công tố 9

1 1.1 Khái niệm - Phạm vi 9

1.1.2 Đặc điểm và nội dung hực hành quyền công tố 14

1.1.3 Mối quan hệ giữa thực hành quyền công tố với kiểm sát hoạt động tư pháp 16

1.2 Khái niệm- Đặc điểm tội phạm cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác 19

1.2.1 Khái niệm 19

1.2.2 Đặc điểm 19

1.3 Quy định của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 về thực hành quyền công tố trong các giai đoạn tố tụng 22

1.3.1 Giai đoạn thực hành quyền công tố, kiểm sát việc tiếp nhận, giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố 22

1 3.2 Giai đoạn điều tra vụ án 26

1.3.3 Giai đoạn truy tố 28

Chương 2: THỰC TRẠNG THỰC HÀNH QUYỀN CÔNG TỐ ĐỐI VỚI CÁC VỤ ÁN CỐ Ý GÂY THƯƠNG TÍCH HOẶC GÂY TỔN HẠI CHO SỨC KHỎE CỦA NGƯỜI KHÁC TRÊN ĐỊA BÀN QUẬN 9, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH 32

Trang 6

2.1 Tình hình tội phạm Cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sứckhỏe của người khác trên địa bàn Quận 9 thời gian từ năm 2014 đến năm

2018 32

2.1.1 Khái quát về đặc điểm tự nhiên, kinh tế - xã hội Quận 9 .32

2.1.2 Cơ cấu tổ chức của Viện kiểm sát nhân dân Quận 9 Thành phố Hồ Chí Minh……….34

2.1.3 Tình hình của tội phạm cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác trên địa bàn Quận 9 35

2.2 Kết quả thực hành quyền công tố đối với các vụ án cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác trên địa bàn Quận 9 Thành phố Hồ Chí Minh 38

2.3 Những hạn chế, tồn tại và nguyên nhân 47

2.3.1 Những hạn chế, tồn tại .47

2.3.2 Nguyên nhân của những tồn tại, hạn chế .56

Chương 3:YÊU CẦU VÀ GIẢI PHÁP, KIẾN NGHỊ NHẰM NÂNG CAO HIỆU QUẢ CÔNG TÁC THỰC HÀNH QUYỀN CÔNG TỐ ĐỐI VỚI CÁC VỤ ÁN CỐ Ý GÂY THƯƠNG TÍCH HOẶC GÂY TỔN HẠI CHO SỨC KHỎE CỦA NGƯỜI KHÁC TRÊN ĐỊA BÀN QUẬN 9, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH 60

3.1 Yêu cầu và phương hướng 60

3.1.1 Yêu cầu .60

3.1.2 Phương hướng .62

3.2 Một số giải pháp nâng cao chất lượng thực hành quyền công tố đối với các vụ án cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ của người khác trên địa bàn Quận 9 thành phố Hồ Chí Minh 62

3.2.1 Nâng cao nhận thức về vị trí, vai trò, chức năng, nhiệm vụ của Viện kiểm sát nhân dân trong công tác thực hành quyền công tố đối với

Trang 7

các vụ án cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ của người khác 62

3.2.2 Nâng cao chất lượng quản lý, chỉ đạo, điều hành trong công tác thực hành quyền công tố đối với các vụ án về tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác 63

3.2.3 Nâng cao chất lượng đội ngũ Kiểm sát viên làm công tác thực hành quyền công tố 64

3.2.4 Tăng cường cơ sở vật chất, trang thiết bị, phương tiện phục vụ công tác chuyên môn, nghiệp vụ của Viện kiểm sát nhân dân 66

Trang 8

: Kiểm sát viên: Tố tụng hình sự: Viện kiểm sát: Viện kiểm sát nhân dân

Trang 9

DANH MỤC BẢNG BIỂU

Bảng 2.1 Số vụ, số bị can về tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho

sức khỏe của người khác bị khởi tố từ năm 2014 đến năm 2018 trên địa bànQuận 9 35

Bảng 2.2 Số vụ án và bị can bị đình chỉ, tạm đình chỉ về tội cố ý gây thương

tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác trong các năm từ 2014

-2018 trên địa bàn Quận 9 40

Bảng 2.3 Số vụ án và bị can về tội tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại

cho sức khỏe của người khác kết thúc điều tra được VKS truy tố trong cácnăm từ 2014-2018 trên địa bàn Quận 9 45

Trang 10

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Tình hình kinh tế - xã hội đất nước ngày càng phát triển kéo theo hệ lụy

là tội phạm ngày càng gia tăng và phức tạp hơn Điều này đặt ra yêu cầu nặng

nề hơn cho công tác đấu tranh phòng chống tội phạm Nghị quyết số

63/2013/QH13 ngày 27 tháng 11 năm 2013 của Quốc hội về tăng cường các biện pháp đấu tranh phòng, chống tội phạm đã nhấn mạnh yêu cầu cụ thể về cácbiện pháp đấu tranh phòng chống tội phạm trong giai đoạn hiện nay Để cụ thể hóa các chủ trương, biện pháp đó, các văn bản pháp luật hình sự, đặc biệt là quyđịnh của Bộ luật hình sự, BLTTHS ngày càng được hoàn thiện hơn Trách nhiệm đấu tranh phòng chống tội phạm thuộc về nhân dân và cả hệ thống chính trị, trong đó, trách nhiệm của các cơ quan tư pháp, trong đó có VKS Trách nhiệm đó được VKS thực hiện thông qua công tác thực hiện chức năng của mình, nhất là công tác THQCT Trước yêu cầu cải cách tư pháp, trách nhiệm của VKS càng được đặt ra nặng nề hơn Nghị quyết số 08/NQ-TN ngày

02/01/2002 “Về một số nhiệm vụ trọng tâm của công tác tư pháp trong thời gian tới” và Nghị quyết số 49/NQ-TW ngày 02/06/2005 “Về chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020” của Bộ Chính trị đã khẳng định “VKSND tiếp tục thực hiện chức năng công tố và kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong hoạt động tư pháp … tăng cường trách nhiệm công tố trong hoạt động điều tra…” Hiến pháp năm 2013 tiếp tục khẳng địnhVKSND có chức năng THQCT và

kiểm sát hoạt động tư pháp nhằm thực hiện“hiệm vụ bảo vệ pháp luật, bảo vệ quyền con người, quyền công dân, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa, bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân, góp phần bảo đảm pháp luật được chấp hành nghiêm chỉnh và thống nhất”[15, tr.27] Điều này đòi ỏhi hoạt động của VKSND nói chung,

hoạt động THQCT nói riêng cần được nhận thức đầy đủ, đúng đắn, thực hi

Trang 11

một cách triệt để, có hiệu Trênquả.cơ sở đó, Ngành kiểm sát cũng đã xác định

rõ nhiệm vụ và đặt ra yêu cầu cụ thể để thực hiện những nhiệm vụ đó thôngqua nhiều văn bản như Chỉ thị số 06/CT-VKSTC ngày 06/12/2013 về tăngcường trách nhiệm công tố trong hoạt động điều tra, gắn công tố với hoạtđộng điều tra đáp ứng yêu cầu đấu tranh phòng, chống tội phạm, Chỉ thị số04/CT-VKSTC ngày 10 tháng 7 năm 2015 về tăng cường các biện pháp phòngchống oan, sai và nâng cao trách nhiệm trong giải quyết bồi thường thiệt hạicho người bị oan trong hoạt động tố tụng hình sự

Quận 9 Thành phố Hồ Chí Minh là đô thị nằm ở vị trí cửa ngõ ĐôngBắc của thành phố, nối liền địa bàn kinh tế trọng điểm của khu vực Quận 9

có diện tích 113,896.200 km2, có 13 phường với dân số 235.268 người [5]

Với địa bàn rộng, dân cư tương đối đông và hàng năm đều gia tăng, kinh tế ngày càng pháttriển đưa đến hệ lụy là tình hình tội phạm cũng ngày càng gia tăng Vì vậy,ênb cạnh giữ vững ổn định, phát triển kinh tế, Quận 9 còn đối

mặt với không ít những khó khăn về vấn đề đấu tranh phòng chống tội phạm,trong đó có tội phạm cố ý gây thương tích và gây tổn hại cho sức khỏe củangười khác So với các địa phương khác, Quận 9 là khu vực luôn chiếm tỷ lệtương đối lớn về loạitội phạm này và hiện nay đangcó chiều hướng gia tăng

về số lượng cũng nhưmức độ nguy hiểm Công tác THQCT đối với các tội cố

ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác trên địa bàn

Quận 9 trong những năm gần đây có nhiều chuyển biến tích cực, vai trò của

Viện kiểm sát ngày càng được khẳng.Hầuđịnhhếtcác vụ án cố ý gây thương

tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác xảy ra trên địa bàn quận được phát hiện, điều tra, truy tố và xét xử nhanh chóng, kịp thời, đảm bảo sự nghiêm minh, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật đã góp phần quan trọng vào việc giữ vững an ninh chính trị và trật tự an toàn xã hội Tuy nhiên, qua

thực tiễn công tác của Viện kiểm sát cho thấy, công tác thực hành quyền công

Trang 12

tốđối với các vụcốáný gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của

người khác trên địa bàn Quận cũng9 cónhữnghạn chế, bất cập do nhiều

nguyên nhân khác nhau cần được khắc phục kịp thời

Trước thực trạng nêu trên, việc làm rõ những vấn đề lý luận và thực

tiễn vềhoạt động thực hành công tố đối với các vụ án về tội cố ý gây thương

tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác trên địa bàn Quận 9, thành

phố Hồ Chí Minh là hết sức cần thiết

Xuất phát từ những lý do trên, tác giảđã chọn đề tài: Thực hành quyền

công tố trong vụ án cốý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của

ngườì khác từ thực tiễn Quận 9, thành phố Hồ Chí Minh” làm Luận văn

thạc sỹ của mình

2 Tình hình nghiên cứu

THQCT nói chung vàTHQCT đối với các vụcốáný gây thương tích hoặc

gây tổn hại cho sức khỏe của người khác nói riênghiện nay đang là chủ đề được

khá nhiều học giả cũng như người làm công tác thực quantiễn tâm, nghiên cứu

dưới nhiều góc độ khác nhau Đưa ra quan điểm nghiên cứu dưới dạng sách tham

khảo có thể kể đến một số tác phẩm điển hình như cuốn “THQCT và kiểm sát

hoạt động tư pháp trong giai đoạn điều tra” của TS Lê Hữu Thể, TS Đỗ Văn

Đương và CN Nông Xuân Trường Cuốn sách này tác

giả chủ yếu đưa ra và phân tích các vấn đề lý luận chung về thực hành quy công tố và

thực hành quyền công tố trong giai đoạn điều tra Bên cạnh đó còn có cuốn “Một số vấn

đề về tăng cường trách nhiệm công tố trong hoạt động điều tra, gắn công tố với hoạt động điều tra theo yêu cầu cải cách tư pháp”

của TS Nguyễn Hải Phong (chủ biên) Cuốn sách này tác giả chủ yếu đưa ra và phân tích các vấn đề lý luận chung về thực hành quyền côngiaitố trong đoạn điều tra, chủ trương định hướng của Đảng và đưa ra giải pháp nhằm tăng cường trách nhiệm công

tố trong hoạt động điều tra mà không gắncông tác

Trang 13

nàyvới tội phạm cụ thBển cạnh đó,hững cuốn bình luậnkhoa họcBộ luật Tố tụng

Hình sự của các trường nhưhọcĐạiLuật Hà Nội, Đại họcuật Lthành phố Hồ Chí

Minh hoặccá cuốn bình luận của các tác giả như GS.TS Nguyễn Ngọc Anh–

LS.TS Phan Trung Hoài, TS Phạm Mạnh Hùng và các đồngác t giả, TS Trần VănBiên– TS Đinh Thế Hưng,… cũng nghiên cứu về công tác thực hành quyền công

tố nhưng chỉ đề cập với thờivàlượngmang íttính chất chungđối với quy định của Bộluật Tố tụng Hìnhvềchứcsự năng nhiệm vụ của Viện kiểm nhânsát dân trong tố

tụng hình sự mà không đi sâu nghiên cứu công tác nàycũng như không gắncông tácnày với tội phạm cụ thể

Nghiên cứu dưới góc độ luận văn có tác giả Trịnh Duy Tám với luận

văn thạc sỹ luật học "Áp dụng pháp luật trong THQCT trong giai đoạn điều

tra của VKSND ở Việt Nam hiện nay”; tác giả Nguyễn Mạnh Tùng với luận

văn thạc sỹ luật học “THQCT và kiểm sát hoạt động điều tra các vụ án về ma

túy ở Thành phố Hà Nội”; tác giả Phạm Anh Đức với luận văn thạc sỹ

“Nhiệm vụ, quyền hạn của VKS trong giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm

và kiến nghị khởi tố”; tác giả Nguyễn Ngọc Ánh với luận văn thạc sỹ luật học

“THQCT và kiểm sát điều tra các vụ án xâm phạm sở hữu trên địa bàn thành

phố Hà Nội”; tác giả Phan Thị Savới luận văn thạc sỹ luật “họcTHQCT trong

giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án hình sự từ thực tiễn huyện Mộ Đức, tỉnh

Quảng Ngãi”, tác giả Lê Thị Tuyết Hoa với luận án tiến sỹ luật học

“Quyền công tố ở Việt Nam”, Các công trình này nghiên cứu về công tác thực hành

quyền công tố nói chung, công tác thực hành quyền công tố va kiểm sátviệc tuân theo pháp luật ở giai đoạn điều tra hoặcgiai đoạn xét xử

gắn với một loại tội phạm cụnhưthểtội phạm về ma túy, tội xâm phạm sở hữu

Ngoài ra, có nhiều tác giả thể hiện quan điểm nghiên cứu vềvấn đề này

dưới dạng các bài viết khoa học được đăng trên các báo, tạp chí như: bài viết

Trang 14

“Tổ chức bộ máy và chức năng, nhiệm vụ của Viện kiểm sát trong tiến trình cải cách tư pháp” của tác giả Lê Hữu Thểđăng trên Tạp chí Kiểm sát số 14 –

16/2008; “Bàn về mô hình viện kiểm sát theo yêu cầu cải cách tư pháp” của tác giả Lại Hợp Việt, tạp chí kiểm sát số 14-16/ 2008; bài viết “Tăng cường trách

nhiệm của công tố trong giai đoạn điều tra trong BLTTHS” của tác giả Nguyễn Tiến Sơn đăng tạp chí kiểm sát số 09/2015; bài viết“Một số vấn đề đặt ra từ thực tiễn thực hiện chức năng THQCT và kiểm sát hoạt động tư pháp của VKS theo

yêu cầu cải cách tư pháp” của tác giảguyễnN Duy Giảng đăng trên Trang thông tin điện tử của VKS ND tối cao; bài viết“Một số vấn đề về quyền công tố” của

tác giảTrần Văn Độ đăng trên Tạp chí Luật học số 3/2001, bài viết“thực trạng

công tác THQCT ,kiểm sát điều ,trakiểm sát xét xửcác vụ án hình sự tại Viện

kiểm sát02 cấp tỉnh Bình Dương và giải pháp, kiến nghị” của tác giảNguyễn

Phước Trung đăng trên Trang thông tin điện tử của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh

BìnhDương, …

Các công trình nghiên cứu, các bài viết nêu trên đã đề cập các góc độ

khác nhau khi bàn về hoạt động THQCT dưới góc độ lý luận và thực tiễn Tuy nhiên, cho đến nay chưa có tác giả nào đưa ra công trình khoa học nghiên

cứu một cách hệ thống, toàn diện, sâu sắc và đầy đủ về công tác THQCT đối

với các vụ án về tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của

người khác, nhất làắng với địa bàn cụlàthểQuận 9 thành phố Hồ Chí Minh

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài

- Mục đích nghiên cứu:Trên cơ sở nghiên cứu những vấn đề lý luận về

THQCT đối vớicác vụ án về ộti cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức

khỏe của người khác, phân tích thực trạng áp dụng pháp luậttrênđể cơ sở đótác

giả đưa ra một sốđề xuất, kiến nghịgóp phần âng cao chất lượng công tác

THQCT đối với các vụ án về tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức

khỏe của người khác nói riêng và các vụ án hình sự nói chung

Trang 15

- Nhiệm vụ nghiên cứu:Để thực hiện mục đích nghiên cứu, luận văn

đặt ra và giải quyết các nhiệm vụ:

+ Làm rõ lý luận về THQCT đối với các vụ án cố ý gây thương tíchhoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác

+ Làm rõuyq định của BLTTHS năm 2015 và các văn bản pháp luật có liên quan về THQCT trong các giai đoạn tố tụng

+ Phân tích, đánh giá thực trạng công tácTHQCT đối vớicác vụ án vềtội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác trênđịa bàn Quận 9 thành phố Hồ ChívàMinhững khó khăn, vướng mắc trong quátrình thực hiện công tác này

+ Đưa ra một số giải pháp,kiến nghị nhằm góp phần nâng cao hiệu quảcông tácTHQCT đối với cácụván cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại chosức khỏe của người khác trên địa bàn Quận 9, thành phố ồHChí Minh

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài

- Đối tượng nghiên cứu:

Công tácTHQCT đối với cácụván cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hạicho sức khỏe của người khác trên địa bàn Quận 9, thành phố ồH Chí Minh

- Phạm vi nghiên cứu

+ Phạm vi về thời gian: luận văn tập trung khảo sát công tácTHQCTđối với các ụván cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe củangười khác trên địa bàn Quận 9, thành phố ồHChí Minh từ năm 2014 đến năm2018;

+ Phạm vi về không gian: luận văn khảo sát tình hình thực hiệncôngtácTHQCT đối với cácvụ án cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sứckhỏe của người khác chỉ trên địa bàn Quận 9, thành phố ồHChí Minh

Trang 16

+ Phạm vi về nội dung: Công tácTHQCT và kiểm sát hoạt động tư pháp

đối với các ụván cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe

của người khác được Viện kiểm sát thực hiện trong cả giai đoạn điều tra, truy tố, xét

xử Tuy nhiên, vớithời gian ngắn và khả năng nghiên cứu có hạn, luận

văn chỉtập trung nghiên cứu, khảo sát thực trạngcông tác này ở ihagiai đoạn là điều tra và truy tố

5 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu của đề tài

- Cơ sở phương pháp luận:Luận văn được thực hiện trên cơ sở phương

pháp luận là phép duy vật biện chứng của chủ nghĩa Mác – Lê nin, tư tưởng

Hồ ChíMinh và hệ thống các quan điểm của Đảng, Nhà nước về đấu tranhphòng, chống tội phạm, cải cách tư pháptrong giai đoạn hiện nay

- Phương pháp nghiên cứu:tác giả sử dụng tổng hợp các phương pháp

nghiên cứukhác nhau, cụ thể là các phương pháp: phân tích, tổng hợp, thống

kê, so sánh,nghiên cứu án điển hình nhằm làm sáng tỏ các vấn đề lý luận và

thực tiễn của đề tài

6 Đóng góp mới và ý nghĩa của đề tài

Việc nghiên cứu đề tài này có ý nghĩa quan trọng cả về mặt lý luận và

thực tiễn

Về mặt lýận:luLuận văn là công trình nghiên cứu đi sâu vào phân tích

một cách tương đối đầy đủ, toàn diện, có hệ thống quy định vềhoạt động của

Viện kiểm sátkhi THQCT đối vớicác vụ án về tội cố ý gây thương tích hoặc

gây tổn hại cho sức khỏe của người khác và việc áp dụng những quy định đó

trên thực tế Với kết quả nghiên cứu đạt được, luận văn có thể góp phần bổ

sung và làm phong phú thêm lý luận về hoạt động THQCT đối vớicác vụ án

về tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác

dưới góc độ pháp lý hình sự, tố tụng hình sựvà đưa ra cơ sở khoa học của hoạt

động hoàn thiện pháp luật về hoạt động này

Trang 17

Về mặt thực tiễn:Luận văn có thể được sử dụng làm tài liệu tham khảođối với những người làm công tác thực tiễn để nâng cao hiệu quả áp dụngpháp luật hình sự, tố tụng hình sựvà những người học tập, giảng dạy, nghiêncứu lập pháp về công tácTHQCT đối vớicác vụ án về tội cố ý gây thương tíchhoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác.

7 Kết cấu của luận văn

Ngoài phần mở đầu, phần kết luận, phụ lục và danh mục tài liệu thamkhảo, nội dung của luận văn được chia thành 3 chương:

Chương 1 : Một số vấn đề lí luận và pháp luật về THQCT đối với các

vụ án cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác

Chương 2: Thực trạng THQCT các vụ án cố ý gây thương tích hoặc

gây tổn hại cho sức khỏe của người khác trên địa bàn quận 9, Thành phố HồChí Minh

Chương 3: Yêu cầu và một số giải pháp nâng cao hiệu quả THQCT đối

vớicác vụ án cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của ngườikhác trên địa bàn quận 9, Thành phố Hồ Chí Minh

Trang 18

Chương 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÍ LUẬN VÀ PHÁP LUẬT VỀ THỰC

HÀNH QUYỀN CÔNG TỐ ĐỐI VỚI CÁC VỤ ÁN CỐ Ý GÂY

THƯƠNG TÍCH HOẶC GÂY TỔN HẠI CHO SỨC KHỎE CỦA

NGƯỜI KHÁC 1.1 Khái niệm - Phạm vi - Đặc điểm của thực hành quyền công tố

1.1.1 Khái niệm - Phạm vi

Khái niệmvề quyền côngtố:

Chế định VKS được quy địnhtrong pháp luật Việt Namđã từ rất lâu

nhưng cho đến Hiến pháp năm 1980thì thuật ngữ“thực hành quyền công”tố

với tư cách là chức năng của Viện kiểm sát mới được chính thức ghi nhận

thời điểm đó,khái niệm quyền công tố và THQCT đã được nghiên cứu,đề

cập khá nhiều trong khoa học pháp lí nước ta dưới các góc độ khác nhau

Song, cho đến nay, chúng ta vẫn chưa đạt được sự thống nhất cao về nhận thức đối với vấn đề này, cóchưmột quan điểm thống nhất khi bàn về quyền công tố.Theo Đại từ điển tiếng Việt của tác giả Nguyễn Như Ý, công tố có

nghĩa là "điều tra, truy tố và buộc tội kẻ phạm pháp trước Tòa án" [34, tr.204]

Theo đó, công tố bao gồm cả hoạt động điều tra và truy tố, buộc tội kẻ phạm tội

trước Tòa án Theo Từ điển Luật học, công tố“là quyền của Nhà nước truy cứu

trách nhiệm hình sự đối với người phạm tội”[26, tr.188] Ở Việt Nam hiện nay,

quyền công tố được Nhà nước giao cho VKS thực hiện Trên cơ sở đó có thể

hiểu, “quyền công tố là quyền buộc tội nhân danh Nhà nước đối với người

phạm tội”[26, tr.188] Trong giới nghiên cứu khoa học, khái niệm quyền công tố

được đưa ra tương đối nhiều nhưng có thể kể đến một số quan điểm chính sau:

Quan điểm thứ nhất: “Quyền công tố là quyền của nhà nước giao cho

VKS truy tố kẻphạm tội ra Tòa án, thực hiện sựbuộc tội tại phiên tòa (thực

hiện quyền công tố)” [21, tr.24] Như vậy, theo quan điểm này, quyền công tố

Trang 19

chỉ tồn tại trong lĩnh vực hình sự, đó là quyền của Nhà nước truy tố kẻ phạm

tội ra trước Tòa án để xét xử và bảo vệ sự buộc tội đó tại phiên tòa hình sự

(duy trì quyền công tố) Và ở Việt Nam, quyền này được giao cho chủ thể duy

nhất là VKSND Điều này đồng nghĩa với việc công tác thực hiện quyền công

tố chỉ diễn ra ở một lĩnh vực duy nhất là TTHS và công tác này cũng chỉ tồn

tại ở một giai đoạn duy nhất của TTHS là giai đoạn xét xử sơ thẩm Quan

điểm này chưa phản ánh đầy đủ bảnấtcủach quyền công tốBở.i lẽ, truy tố và

buộc tội chỉ là một trong số các quyền năng, hoạt động của VKS ở giai đoạn

xét xử sơ thẩm trong TTHS Ngoài hai quyền năng đó, VKS còn có nhiều

quyền năng khác khi THQCT ở giai đoạn xét xử sơ thẩm hình sự và ở các giai

đoạn khác trong TTHS

Quan điểm thứ hai: “Quyền công tố là quyền của Nhà nước giao cho các

cơ quan tiến hành tố tụng trong việc truy cứu trách nhiệm hình sự và áp dụng

các chế tài hình ốsựiv ớđi người phạm tội”[21, tr.26] Theo quan điểm này, chủ

thể THQCT không chỉ có VKS mà còn có các cơ quan tiến hành tố tụng khác

như CQĐT, Tòa án, Thi hành án Như vậy, quyền công tố có trong tất cả các

giai đoạn tố tụng từ khởi tố, ềđiu tra, truy tố, xét xử đến thi hành án đối với các

vụ án hình sự Quanểm nàyđi đã đồng nhất khái niệm quyền công tố với nguyên

tắc TTHS, dẫn đến nhầm lẫn giữa các chức năng cơ bản trong TTHS (buộc tội,

gỡ tội, xét xử …)

Quan điểm thứ ba: “Quyền công tố là quyền nhân danh Nhà nước thực hiện việc

truy ứcu trách nhiệm hình sự đối với người phạm tội Quyền này thuộc về nhà nước, được Nhà nước giao cho một cơ quan thực hiện (ở nước làVKS ) để phát hiện tội phạm vàycứutru trách nhiệm hình sự đối với người phạm tội” [21, tr.40] Cụ thể, cơ quan có chức năngTHQCT có trách nhiệm

bảo đảm việc thu thập đầy đủ tài liệu, chứng cứ để có thể xác định một cách

chính xác tội phạm, người phạm tội và trên cơ sở đó quyết định truy tố bị can

Trang 20

ra trước Tòa án cũng như bảo vệ sự buộc tội đó trước phiên tòa Bên cạnh đó,theo quan điểm này thì cơ quan có quyền công tố được phép nhân danh Nhànước để truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người phạm tội vàquyền này chỉ

có trong lĩnh vực duy nhất là trong TTHS Ở Việt Nam, VKS ND là cơ quanduy nhất được Nhà nước giao quyền công tố mà không có bất kỳ cơ quan nào

có thể thay thế được

Có thể nói rằng,cho đến nay, khi đưa ra khái niệm quyền công tố có rấtnhiều quan điểm khác nhau Mỗi quan điểm đều có những yếu tố hợp lýnhưng cũng đều thể hiện những bất cập nhất định Với nhận thức của mìnhkhi nghiên cứu về vấn đề này, tác giả ủng hộ khái niệm quyền công tố đượcđưa ra tại quan điểm thứ năm nêu trên, bởi một số lý do sau:

Một là, quan điểm này phù hợp với quan điểm truyền thống ở Việt Nam

khi nghiên cứu lịch sử nhà nước - pháp luật về quyền công tố Theo đó, quyềncông tố là quyền của Nhà nước buộc tội đối với người có hành vi vi phạmpháp luật hình sự

Hai là, quan điểm này cũng phù hợp với các quy định pháp luật của Nhà

nước ta qua các thời kỳ về quyền công tố Cụ thể, Hiến pháp, Luật tổ chứcVKS

ND và pháp luật tố tụnghình sự của nước ta qua các thời kỳ đều khẳng định VKSND có chức năngTHQCT Bên cạnh đó, Nghị quyết số08-NQ/TW ngày 02/01/2002 của Bộ Chính trị cũng đã nêu rõ: "VKS các cấp thực hiện tốt chức năng công tố và kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong hoạt động tư pháp [1, tr.8] Bên cạnh đó,quan điểm của ngành Kiểm sát cũng đã thể hiện một cách thốngnhất từ trước đến nay: "Việc THQCT chỉ có trong lĩnh vực hình sự và chỉ trong giai đoạn điều tra, truy tố, xét xử" [23, tr 2]

Phạm vi quyền công tố

Về phạm vi không gian: dựa trên quan điểm chính thống về khái niệm

quyền công tố được đưa ra ở trên có thể khẳng định rằng quyền công tốchỉ có

Trang 21

trong lĩnh vực TTHS màkhông thể có trong lĩnh vực tố tụngkhác Theo đó, quyền

công tố là quyền nhân danh Nhà nước thực hiện việcộibuđốịc vớit người phạm

tội ệVicbuộc tội thì chỉ có trong lĩnh vực TTHS, cho nên quyền công tố không thể tồn tại trong các lĩnh vực khác không liên quan đến sự buộc tội như trong tố tụng hành chính, dân sự, kinh tế, Vì lẽ đó, quyền công tố chỉ tồn tại trong lĩnh vực duy nhất có liên quan đến tội phạm và sự buộc tội là lĩnh vực TTHS

Về phạm vi thời gian: theo quan điểm khoa học được thừa nhận phổ biến

hiện nay, “phạm viquyền công tố bắt đầucó từ khi tội phạm được thực hiện và kết thúc khi bản án có hiệu lực pháp luật, không bịkháng nghị” [21, tr.50-51] Tác giảcho rằng quan điểm này rất đúng đắn Bởi lẽ, từ khi tội phạm được thực hiện, trách nhiệm của cơđượquancgiao quyền công tố là tiến hành các hoạt động

tố tụng theo quy định của pháp luậtphátnhằmiện

tội phạm và người phạm tội cũngxácnhư định căn cứ để buộc tội họ Tuy nhiên, không phải trong mọi trường hợp THQCT đều kéo dài đến khi bản án, quyết định của Tòa án có hiệu lực pháp luật, mà có thể chấm dứt ở giai đoạn

tố tụng sớm hơn theo quy định của pháp luật tố tụng hình sự Bởi vì, không phảitất cả các vụ án hình sự đều được đưa ra xét xử trước Tòa án mà ở giai đoạn tố tụng nào đókhi quyền công tố chấm dứt thì quyền THQCT cũng không còn Như vậy, phạm vi uyqền công tố kết thúckhi bản án có hiệu lực pháp luật hoặc trong trường hợp đặc biệt, nó sẽ kết thúc khi có quyết định đình chỉ vụ án

Khái niệm về thực hành quyền công tố

Trên cơ sở khái niệm quyền công, kháitố niệmthực hànhquyền công tốcũng được đưa ra tương đối nhiềuTheo Từ điển tiếng Việt, “thực hành” cónghĩa là “làm để áp dụng lý thuyết vào thực tế, thực hành đồng nghĩa với

“thực hiện”” [33, tr.1245] Như vậy, THQCT có thể được hiểu là áp dụng

Trang 22

quyền công tố vào thực tế THQCT cũng được hiểu là “hoạt động của VKStrong việc truy cứu trách nhiệm hình sự người phạm tội và buộc tội họ trướcTòa án” [8, tr.12] Từ điển Luật học đưa ra khái niệm, “THQCT là việc sửdụng tổng hợp các quyền năng pháp lý thuộc nội dung quyền công tố để truycứu trách nhiệm hình sự đối với người phạm tội trong các giai đoạn điều tra,truy tố và xét xử” [26, tr.188] Như vậy, để đảm bảo thực hiện quyền công tốtrong việc đấu tranh phòng chống tội phạm thì Nhà nước ta ban hành các vănbản pháp luật, trong đó quy định cụ thể các quyền năng pháp lý thuộc nộidung quyền công tố Các quyền năng này được giao cho cơ quan có tráchnhiệm THQCT thực hiện để phát hiện tội phạm và truy cứu trách nhiệm hình

sự đối với người phạm tội Từ năm 1960 đến nay, VKSND là cơ quan duynhất được giao chức năng THQCT Để thực hiện chức năng này, VKSND phải

sử dụng tất cả quyền năng pháp lý về TTHS nhằm phát hiện kịp thời, xử lýnghiêm minh mọi hành vi phạm tội, đảm bảo không bỏ lọt tội phạm và ngườiphạm tội cũng như không làm oan người vô tội Luật Tổ chức VKSND năm

2014 cũng đã có quy định về bản chất của chức năng này, theo đó, THQCT

“là hoạt động của VKSND trong tố tụng hình sự để thực hiện việc buộc tộicủa Nhà nước đối với người phạm tội, được thực hiện ngay từ khi giải quyết

tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố và trong suốt quá trình khởi tố,điều tra, truy tố, xét xử vụ án hình sự” [18, tr 8]

Phạm vi THQCT là vấn đề hiện nay vẫn còn tồn tại nhiều quan điểmkhác nhau trong thực tiễn Tuy nhiên, theo quy định của pháp luật hiện hành,phạm vi THQCT chỉ có trong lĩnh vực TTHS Công tác này được “bắt đầu từkhi vụ việc phạm tội xảy ra và trong suốt quá trình điều tra đến khi kết thúcviệc buộc tội” [8, tr 13] Việc buộc tội kết thúc khi bản án có hiệu lực phápluật, không bị kháng nghị hoặc khi vụ án bị đình chỉ theo quy định của phápluật TTHS Như vậy, phạm vi của công tác THQCT bắt đầu từ khi vụ việc

Trang 23

phạm tội xảy ra và kết thúc khi có bản án có hiệu lực pháp luật, không bịkháng nghị hoặc khi vụ án bị đình chỉ Cụ thể, VKSND THQCT ở các giaiđoạn và lĩnh vực sau: THQCT trong việc giải quyết tố giác, tin báo về tộiphạm và kiến nghị khởi tố; THQCT trong giai đoạn điều tra; THQCT tronggiai đoạn truy tố; THQCT trong giai đoạn xét xử.

1.1.2 Đặc điểm và nội dung THQCT

Đặc điểm của THQCT

Khác với hoạt động của VKSND trong các lĩnh vực tố tụng khác như tốtụng hành chính, tố tụng dân sự, hoạt động THQCT chỉ tồn tại duy nhấttrong lĩnh vực TTHS

Về chủ thểTHQCT: dưới góc độ chức năng của chủ thể được giaoquyền tiến hành tố tụng, THQCT là chức năng mà Nhà nước chỉ giao cho cơquan tiến hành tố tụng duy nhất đó là VKS Các cơ quan có thẩm quyền tiếnhành tố tụng khác không có chức năng này

Hoạt động THQCT mang tính công khai và được thực hiện theo trình

tự, thủ tục tố tụng do pháp luật quy định Vì vậy, hoạt động của VKS mangtính độc lập, chỉ tuân theo pháp luật và được giám sát bởi nhiều chủ thể khácnhau

Dưới góc độ chức năng của cơ quan tiến hành tố tụng, THQCT là thựchiện chức năng buộc tội của Nhà nước đối với người phạm tội nhằm bảo đảmkhông bỏ lọt tội phạm, người phạm tội và không làm oan người vô tội, …

Mục đích củaTHQCT là nhằm bảo đảm mọi hành vivà người phạm tộiđược phát hiện, xử lý một cách kịp thời, nghiêm minh, đúng người, đúng tội,đúng pháp luật, không làm oan người vô tội, không để lọt tội phạm và ngườiphạm tội; Không để người nào bị khởi tố, bị bắt, bị hạn chế quyền con người,quyền công dân một cách trái luật Mục đích của hoạt động THQCT tuy vẫnphải bao hàm cả việc xem xét, đánh giá nhằm gỡ tội nhưng thực hiện quyền

Trang 24

buộc tội đối với người phạm tội vẫn là chủ yếu.

Nội dung của THQCT

Luật tổ chứcVKSND năm 2014 và BLTTHS đã quy định rõ, nội dungcủa công tác THQCT bao gồm:

Quyết định phát động quyền công tố để mở cuộc điều tra hình sự đốivới sự kiện phạm tội, người phạm tội: Yêu cầu khởi tố, hủy bỏ quyết địnhkhởi tố hoặc không khởi tố vụ án trái pháp luật; phê chuẩn, không phê chuẩnquyết định khởi tố bị can; trực tiếp khởi tố vụ án, khởi tố bị can trong một sốtrường hợp

Quyết định việc có hạn chế hay không quyền tự do, dân chủ của cánhân người phạm tội: Quyết định, phê chuẩn việc áp dụng, thay đổi, hủy bỏcác biện pháp hạn chế quyền con người, quyền công dân trong việc giải quyết

tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố và trong việc khởi tố, điều tra,truy tố

Đề ra yêu cầu điều tra và yêu cầu CQĐT, cơ quan được giao nhiệm vụtiến hành một số hoạt động điều tra thực hiện; Yêu cầu cơ quan, tổ chức, cánhân hữu quan cung cấp tài liệu để làm rõ tội phạm, người phạm tội;

Quyết định việc thay đổi hoặc chấm dứt hoạt động tố tụng (đình chỉđiều tra, đình chỉ vụ án, quyết định truy tố bị can ra tòa)

Hủy bỏ các quyết định tố tụng trái pháp luật khác trong việc giải quyết

tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố và trong việc khởi tố, điều tra

Trực tiếp giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố; tiếnhành một số hoạt động điều tra để làm rõ căn cứ quyết định việc buộc tội đốivới người phạm tội; Điều tra các tội phạm xâm phạm hoạt động tư pháp, cáctội phạm về tham nhũng, chức vụ xảy ra trong hoạt động tư pháp

Kháng nghị bản án, quyết định của Tòa án trong trường hợp phát hiệnoan, sai, bỏ lọt tội phạm, người phạm tội;

Trang 25

1.1.3 Mối quan hệ giữa thực hành quyền công tố với kiểm sát hoạt

động tư pháp

THQCT và kiểm sát hoạt động tư pháp tuy là hai chức năng độc lập của

VKS, có đối tượng và nội dung khác nhau nhưng chúng có mối quan hệ chặtchẽ với nhau

Như đã phân tích ở trên,THQCT là hoạt động của VKSND trong TTHS

để thực hiện việc buộc tội của Nhà nước đối với người phạm tội Công tác này

được thực hiện ngay từ khi giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị

khởi tố và trong toàn bộ quá trình khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử vụ án hình

sự Chức năng của THQCT là truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người

phạm tội, truy tố người phạm tội và bảo vệ sự buộc tội đó Như vậy, đối tượng

hướng tới của THQCT là vạch tội người phạm tội ra trước Tòa án,

nó chỉ tồn tạiduy nhất trong lĩnh vực TTHSVKSND THQCT nhằm bảo đảm

mọi hành vi phạm tội, người phạm tội phải được phát hiện, xử lý kịp thời,

nghiêm minh, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật, không để lọt tội phạm và

người phạm tội nhưng cũng không để xảy ra oan, sai

Còn “kiểm sát hoạt động tư pháp là hoạt động của VKS ND để kiểm sát

tính hợp pháp của các hành vi, quyết định của cơ quan, tổ chức, cá nhân trong

hoạt động tư pháp, được thực hiện ngay từ khi tiếp nhận và giải quyết tố giác,

tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố và trong suốt quá trình giải quyết vụ án

hình sự; trong việc giải quyết vụ án hành chính, vụ việc dân sự, hôn nhân và

gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động; việc thi hành án, việc giải quyết

khiếu nại, tố cáo trong hoạt động tư pháp; các hoạt động tư pháp khác theo

quy định của pháp luật” [18, tr.10-11] Kiểm sát hoạt động tư pháp lànhằm

mục đích kiểm sát tính hợp phápủa các hành vi, quyết định của các cơ quan, tổ chức,

cá nhân trong hoạt động tư :phápphát hiện vi phạm pháp luật, kiến nghị, yêu cầu khắc phục vi phạm, đảm bảo quá trình tiến hành tố tụng tuân

Trang 26

thủ các nguyên tắc, trình tự thủ tục, thẩm quyền theo quy định của pháp luật.

Kiểm sát hoạt động tư phápđược thực hiện trong lĩnh vực TTHSvàtrong quá

trình tiến hành tố tụng đối với vụ án hành chính, vụ việc dân sự, hôn nhân và gia đình,kinh doanhthương mại, lao động

Như vậy, mối quan hệ giữa hai chức năng này chỉ tồn tại trong lĩnh vực

TTHS Trong đó, tuy là hai chức năng độc lập nhưng THQCT và kiểm sát các

hoạt động tư pháp lại có mối quan hệ mật thiết với nhau Trong đó, chỉ có một

số hoạt động mang tính độc lập tương đối, còn lại đa số các hoạt động của

chúng đan xen và hỗ trợ, tác động qua lại lẫn nhau Nếu xét ở từng giai đoạn

tố tụng thì các chức năng này thể hiện ở những mức độ và phạm vi khác nhau

với các nội dung cụ thể khác nhau Nhưng xét một cách tổng thể thì dù ở giai

đoạn tố tụng nào chúng cũng thể hiện mối quan hệ gắn bó hữu cơ, đan xen,

tác động qua lại và bổ sung một cách tích cực cho nhau, điều nàyđược thể

hiện ở một số khía cạnh sau:

Kết quả của hoạt động kiểm sát hoạtđộng tư pháplà cơ sở cho việc

THQCT có hiệu quả và ngược lại việc THQCT đảm bảo sự tuân thủ pháp luật

Khi có cơ sở xác định tội phạm từ tố giác của người dân, tin báo của cơ quan,

tổ chức hoặc thông qua hoạt động điều tra phát hiện dấu hiệu của tội phạm thì

CQĐT sẽ phải thực hiện một số hoạt động điều tra ban đầu để xác định có dấu

hiệu của tội phạm hay không? Nếu đủ căn cứ xác định có dấu hiệu của tội

phạm thì sẽ ra quyết định khởi tố vụ án để tiến hành điều tra đồng thời phải

thông báo cho VKS cùng cấp biết Lúc này VKS với chức năng, nhiệm vụ của

mình sẽ tiến hành kiểm sát việc tuân theo các quy định của pháp luật về khởi

tố vụ án của CQĐT Trong quá trình kiểm sát điều tra nếu phát hiện thấy

quyết định khởi tố của CQĐT là không có căn cứ hoặc có dấu hiệu trái pháp

luật thì VKS sẽ THQCT của mình bằng cách ra quyết định hủy bỏ quyết định

khởi tố của CQĐT Nếu trong trường hợp phát hiện có dấu hiệu

Trang 27

của tội phạm nhưng CQĐT đã ra quyết định không khởi tố thì VKS sẽ hủy bỏquyết định đó của CQĐT và ra quyết định khởi tố Khi vụ án đã được khởi tốcũng đồng nghĩa với quyền kiểm sát hoạt động điều tra của VKS được phátđộng, VKS sẽ thực hiện quyền kiểm sát của mình trong suốt quá trình điều tracủa CQĐT để bảo đảm nguyên tắc pháp chế xã hội chủ nghĩa Như vậy, có thểthấy, nếu VKS làm tốt chức năng kiểm sát hoạt động tư pháp của mình thì chứcnăng THQCT của VKS cũng sẽ được bảo đảm đúng pháp luật Ngược lại, nếulàm không tốt chức năng kiểm sát hoạt động tư pháp thì việc THQCT của VKS

có thể sẽ vi phạm pháp luật (và có thể dẫn đên hậu quả là: quyết định của VKScấp dưới vi phạm pháp luật sẽ bị VKS cấp trên hủy bỏ) và đối với nhữngtrường hợp đó thì vụ án sẽ bị đình chỉ, VKS có thể sẽ phải bồi thường thiệt hạicho bị can, bị cáo nếu có thiệt hại xảy ra, đồng thời sẽ làm giảm sự tin tưởngcủa nhân dân vào năng lực của đội ngũ cán bộ, công chức trong ngành tư pháp

Trong quá trình tiến hành tố tụng đối vớivụ án hình sự, VKS không tách rờicác hoạt động thực hiệnchức năng THQCT với các hoạt động thực hiệnchức năng kiểm sát việc tuân theo pháp luật để thực hiện độc lập mà luôn gắn kết một cách chặt chẽ Có như thế, VKS mới có thểthực hiện chủ trương của Ngành là “Tăng cường trách nhiệm công tố trong hoạt động điều tra, gắn công tố với hoạt động điều tra” đem lại kết quả tốt, bảo đảm mọi hành vi và người phạm tội được phát hiện, khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử và thi hành án kịp thời, bảo đảm đúng người,đúng tội, đúng pháp luật, không bỏ lọt tội phạm và người phạm tội, không gây ra oan, sai

Mối quan hệ chặt chẽ này được thể hiện trong suốt quá trình tố tụnghình sự từ khi khởi tố vụ án hình sự cho đến giai đoạn điều tra, truy tố, xét xử

và thi hành án

Như vậy, có thể thấy THQCT và kiểm sát việc tuân theo pháp luật là

Trang 28

hai chức năng cơ bản và quan trọng nhất của VKS mà giữa chúng có mốiquan hệ hỗ trợ cho nhau, không thể tách rời nhau trong suốt quá trình giảiquyết vụ án, nếu vi phạm chức năng này sẽ ảnh hưởng chức năng khác vàngược lại.

1.2 Khái niệm- Đặc điểm tội phạm cố ý gây thương tích hoặc gây

tổn hại cho sức khỏe của người khác

vậy có thể hiểu, “Tội cố ý gây thương tích, gây tổn hại cho sức khỏe của

người khác là hành vi tác động trái pháp luật đến thângườithểcủakh́c gây

thiệt hại về sức khỏe cho người khác dưới dạng thương tích hoặc tổn hại

sức khỏe trong các trường hợp luật [25,địnhtr.96-97] Tội cố ý gây thương tíchhoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác được quy định tại Điều 134,nằm trong nhóm các tội phạm xâm phạm tính mạng, sức khỏe, nhân phẩm,danh dự của con người của BLHS hiện hành Cũng như các tội phạm khácthuộc chương này, Tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏecủa người khác xâm phạm đến quyền bất khả xâm phạm về thân thể và quyềnđược bảo vệ về sức khỏe của con người Tội này lần đầu tiên được quy địnhtại Sắc luật số 03/SL ngày 15/3/1976 của Hội đồng Chánh phủ cách mạng lâmthời cộng hòa miền Nam Việt Nam

1.2.2 Đặc điểm

Giống như tất cả các tội phạm khác, tội cố ý gây thương tích hoặc gây

Trang 29

tổn hại cho sức khỏe của người khác có đầy đủ 04 yếu tố cấu thành tội phạm:

Thứ nhất, khách thể của tội phạm cố ý gây thương tích là một trongnhững khách thể quan trọng nhất được Luật hình sự bảo vệ Khách thể của tộiphạm này là quyền được tôn trọng và bảo vệ về sức khỏe của công dân, kháchthể trực tiếp của tội phạm này là sức khỏe của người khác, là người đangsống, đang tồn tại độc lập trong thế giới khách quan với tư cách là một thựcthể tự nhiên và xã hội Một người đang sống, đang tồn tại được xác lập bắtđầu kể từ khi sinh ra cho đến khi ngừng thở, tim ngừng hoạt động (cái chết vềmặt sinh học) chứ không phải cái chết về mặt pháp lý Một người nào đó nếu

đã bị Tòa án tuyên bố là đã chết nhưng thực tế họ vẫn còn sống thì hành vinào xâm phạm đến sức khỏe của người này vẫn coi là tội phạm, vì nó đã xâmphạm đến quan hệ xã hội được Luật hình sự bảo vệ thuộc khách thể của tộinày Đối tượng tác động của tội phạm này là một con người cụ thể, có quyềnđược pháp luật tôn trọng và bảo vệ về sức khỏe khỏi sự xâm hại của tội phạm

Thứ hai, hành vi khách quan Hành vi khách quan của tội này là nhữnghành vi có khả năng gây ra thương tích nhất định làm tổn hại cho sức khỏecủa người khác bằng cách tác động vào cơ thể họ Hành vi phạm tội có thểđược thực hiện dưới dạng hành động phạm tội, nghĩa là người phạm tội làmmột việc bị pháp luật nghiêm cấm không được làm nhằm làm biến đổi tìnhtrạng bình thường cho sức khỏe của người khác như đấm, đá bằng tay, chânhoặc dùng các loại hung khí như dao, gậy, … để gây ra thương tích

Hậu quả của tội phạm này đòi hỏi là thương tích do hành vi phạm tộigây ra, bởi vì hành vi của con người là có ý thức và có ý chí cho nên nó luônluôn là phương tiện để đạt tới một kết quả nhất định Hậu quả chính là sự thiệthại gây ra cho khách thể và chỉ những thiệt hại quan trọng nhất do tội phạmtrực tiếp gây ra đặc trưng của tội phạm ấy mới là hậu quả thuộc mặt kháchquan của tội phạm, ví dụ như gây tổn thương cho một số bộ phận hoặc toàn

Trang 30

bộ cơ thể, hoặc gây tổn hại hay làm mất chức năng của một bộ phận nào đótrong cơ thể con người như: Gây mù mắt, điếc tai, mất một phần chân tay, …Dấu hiệu bắt buộc về mặt hậu quả của tội phạm này là hành vi phạm tội đã đểlại thương tích cho nạn nhân với tỷ lệ % thương tật theo luật định Cơ sở đểxác định nạn nhân bị thương tích cũng như tỷ lệ thương tích cụ thể là kết luậncủa Hội đồng giám định pháp y do cơ quan tiến hành tố tụng trưng cầu Hành

vi gây thương tích cho người khác bao giờ cũng được thực hiện trong mộtkhoảng thời gian, địa điểm, hoàn cảnh nhất định và bằng những thủ đoạn,phương tiện, công cụ nhất định

Mối quan hệ nhân quả giữa hành vi nguy hiểm cho xã hội với hậu quảnguy hiểm cho xã hội đối với hành vi đó: Hậu quả nguy hiểm cho xã hội chỉxảy ra khi có hành vi nguy hiểm cho xã hội, do chính hành vi đó gây ra Hậuquả nguy hiểm phải là sự tất yếu của hành vi nguy hiểm cho xã hội gây ra.Hành vi nguy hiểm cho xã hội buộc phải là nguyên nhân trực tiếp gây ra hậuquả

Thứ ba, về mặt chủ quan Tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại chosức khỏe của người khác được người phạm tội thực hiện với lỗi cố ý, có thể là

cố ý trực tiếp hoặc cố ý gián tiếp Người thực hiện hành vi phạm tội ý thứcđược tính chất nguy hiểm cho xã hội của hành vi mà mình thực hiện, biếtđược hậu quả do hành vi của mình thực hiện có thể gây thương tích hoặc gâytổn hại sức khỏe cho người khác Người phạm tội mong muốn hoặc tuy khôngmong muốn nhưng đã để mặc cho hậu quả xảy ra (người bị tác động bịthương tích hoặc tổn hại sức khỏe) Động cơ và mục đích phạm tội khôngphải là dấu hiệu bắt buộc trong cấu thành tội phạm này Tuy nhiên, trong một

số trường hợp, việc chứng minh động cơ, mục đích của người phạm tội có ýnghĩa trong việc định khung hình phạt như vì lý do công vụ của nạn nhân,

Trang 31

Thứ tư, chủ thể của tội phạm Chủ thể của tội cố ý gây thương tích hoặcgây tổn hại cho sức khỏe của người khác là con người cụ thể Người này phảithỏa mãn đầy đủ 02 điều kiện là có năng lực trách nhiệm hình sự và đạt độtuổi luật định Tuổi chịu trách nhiệm hình sự đối với tội cố ý gây thương tíchhoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác là từ đủ 14 tuổi trở lên.

1.3 Quy định của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 về thực hành quyền công tố trong các giai đoạn tố tụng

1.3.1 Giai đoạn thực hành quyền công tố, kiểm sát việc tiếp nhận, giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố

THQCT trong giai đoạn tiếp nhận, giải quyết tố giác, tin báo về tộiphạm và kiến nghị khởi tố là hoạt động của VKS ND nhằm mục đích xác địnhdấu hiệu tội phạm để xem xét việc khởi tố hoặc không khởi tố vụ án hình sự.Điều 12 Luật Tổ chức VKSND năm 2014 quy định nhiệm vụ quyền hạn củaVKS khi THQCT trong giai đoạn tiếp nhận, giải quyết tố giác, tin báo về tộiphạm và kiến nghị khởi tố như sau:

“Phê chuẩn, không phê chuẩn việc giữ người trong trường hợp khẩncấp, gia hạn tạm giữ và các biện pháp khác hạn chế quyền con người, quyềncông dân trong việc giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởitố” [18, tr.18-19]

CQĐT, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điềutra được áp dụng các biện pháp ngăn chặn bắt người bị giữ trong trường hợpkhẩn cấp, gia hạn tạm giữ và các biện pháp cưỡng chế khác như khám người,khám chỗ ở, chỗ làm việc, địa điểm; thu giữ thư tín, điện tín, nhằm giúp choviệc tiếp nhận, giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố củaCQĐT được thực hiện hiệu quả khi phát hiện các dấu hiệu tội phạm và ngườiphạm tội Khi THQCT trong giai đoạn này, VKS có các nhiệm vụ quyền hạnsau:

Trang 32

Một là, phê chuẩn, không phê chuẩn việc giữ người trong trường hợp

khẩn cấp Việc giữ người trong trường hợp khẩn cấp phải có lệnh của thủtrưởng, phó thủ trưởng CQĐT các cấp hoặc người có thẩm quyền của các cơquan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra Trong mọitrường hợp, việc giữ người trong trường hợp khẩn cấp phải được báo ngaycho VKS cùng cấp bằng văn bản kèm theo tài liệu liên quan để VKS xét phêchuẩn “Trường hợp cần thiết, Kiểm sát viên phải trực tiếp gặp, hỏi người bịgiữ trong trường hợp khẩn cấp trước khi xem xét quyết định phê chuẩn hoặcquyết định không phê chuẩn lệnh bắt người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp”[14, 104] Thời hạn để VKS ra quyết định phê chuẩn hay không phê chuẩn là

12 giờ kể từ khi nhận được đề nghị xét phê chuẩn và tài liệu liên quan đếnviệc bắt người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp “Trường hợpVKS quyếtđịnh không phê chuẩn lệnh bắt người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp thìngười đã ra lệnh giữ người trong trường hợp khẩn cấp, CQĐT đã nhận người

bị giữ trong trường hợp khẩn cấp phải trả tự do ngay cho người bị giữ” [14,tr.105]

Hai là, VKS phê chuẩn hoặc không phê chuẩn gia hạn tạm giữ và các

biện pháp khác hạn chế quyền con người, quyền công dân trong việc giảiquyết tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố

Nhiệm vụ, quyền hạn của VKS khi THQCT trong việc gia hạn tạm giữđược quy định cụ thể tại khoản 2 Điều 118 BLTTHS Theo đó, “trong trường hợpcần thiết, người ra quyết định tạm giữ có thể gia hạn tạm giữ nhưng không quá

03 ngày Trường hợp đặc biệt, người ra quyết định tạm giữ có thể gia hạn tạmgiữ lần thứ hai nhưng không quá 03 ngày Mọi trường hợp gia hạn tạm giữ đềuphải được VKS cùng cấp hoặc VKS có thẩm quyền phê chuẩn Trong thời hạn 12giờ, kể từ khi nhận hồ sơ đề nghị gia hạn tạm giữ, VKS phải ra quyết định phêchuẩn hoặc quyết định không phê chuẩn” [14, tr.111]

Trang 33

Việc áp dụng các biện pháp khác hạn chế quyền con người, quyền côngdân như việc khám người, chỗ ở, chỗ làm việc, địa điểm chỉ được tiến hànhkhi có căn cứ để nhận định trong người, chỗ ở, chỗ làm việc, địa điểm củamột người có công cụ, phương tiện phạm tội, đồ vật, tài sản do phạm tội mà

có hoặc đồ vật, tài liệu khác có liên quan đến vụ án; việc khám chỗ ở, chỗ làmviệc, địa điểm cũng được tiến hành khi cần phát hiện người đang bị truy nã;khi cần phải thu thập tài liệu, đồ vật liên quan đến vụ án thì có thể khám thưtín, điện tín, bưu kiện, bưu phẩm phải có Lệnh khám xét, thu giữ của thủtrưởng, phó thủ trưởng CQĐT các cấp và phải được VKS cùng cấp phê chuẩntrước khi thi hành Tuy nhiên, theo quy định tại khoản 2 Điều 193 BLTTHSthì trong trường hợp khẩn cấp, những người được quy định tại Khoản 2 Điều

110 BLTTHS có quyền ra lệnh khám xét Trong thời hạn 24 giờ, kể từ khikhám xét xong, người ra lệnh khám xét phải thông báo bằng văn bản choVKS cùng cấp hoặc VKS có thẩm quyền THQCT và kiểm sát điều tra

“Hủy bỏ quyết định tạm giữ, các quyết định tố tụng khác trái pháp luậtcủa cơ quan có thẩm quyền trong việc giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm

và kiến nghị khởi tố” [18, tr.19]

Những người có quyền ra lệnh giữ người trong trường hợp khẩn cấpquy định tại Khoản 2 Điều 110 BLTTHS năm 2015 có quyền ra quyết địnhtạm giữ “Người thi hành quyết định tạm giữ phải thông báo, giải thích quyền

và nghĩa vụ của người bị tạm giữ quy định tại Điều 59 của BLTTHS” [14, tr.110] Trong thời hạn 12 giờ kể từ khi ra quyết định tạm giữ, người ra quyếtđịnh tạm giữ phải gửi quyết định đó kèm theo tài liệu liên quan cho VKS cùngcấp hoặc VKS có thẩm quyền VKS có trách nhiệm nghiên cứu quyết định và

hồ sơ, nếu xét thấy việc tạm giữ không có căn cứ hoặc không cần thiết thìphải ra quyết định hủy bỏ quyết định tạm giữ Trên cơ sở quyết định đó, người

đã ra quyết định tạm giữ phải trả tự do ngay cho người bị tạm giữ

Trang 34

Theo quy định tại Thông tư liên tịch của VKSND tối cao, Bộ công an

và Bộ quốc phòng số 05/2005/TTLT - VKS TC -BCA - BQP ngày 07/9/2005

về quan hệ phối hợp giữa CQĐT và VKS trong việc thực hiện một số quyđịnh của BLTTHS năm 2003 thì đối với các quyết định của Phó Thủ trưởngCQĐT, BLTTHS quy định phải có sự phê chuẩn của VKS nhưng chưa gửisang VKS mà phát hiện không có căn cứ và trái pháp luật thì Thủ trưởngCQĐT ra quyết định thay đổi hoặc huỷ bỏ Nếu các quyết định này đã gửisang VKS , nhưng VKS chưa quyết định việc phê chuẩn thì thủ trưởng CQĐT

có văn bản đề nghị VKS để rút các quyết định này và ra quyết định thay đổihoặc huỷ bỏ; nếu không đồng ý thì VKS quyết định việc thay đổi hoặc huỷ bỏtheo quy định tại khoản 4 Điều 165 BLTTHS Đối với các quyết định của PhóThủ trưởng CQĐT sau khi được VKS phê chuẩn mới phát hiện là không cócăn cứ và trái pháp luật thì Thủ trưởng CQĐT kiến nghị Viện trưởng VKScùng cấp hoặc VKS cấp trên trực tiếp ra quyết định thay đổi hoặc huỷ bỏ.Ngay sau khi ra quyết định thay đổi hoặc huỷ bỏ các quyết định của Phó thủtrưởng CQĐT thì VKS phải gửi cho CQĐT để thực hiện

Trong quá trình THQCT trong giai đoạn này, khi cần thiết, VKS cóquyền “đề ra yêu cầu kiểm tra, xác minh và yêu cầu cơ quan có thẩm quyềngiải quyết tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố thực hiện” [18,tr.19]

Trong hoạt động thực hiện các nhiệm vụ, quyền hạn khi THQCT trongviệc giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố, khi thấy cầnthiết, VKS có thể đề ra những yêu cầu xác minh để làm sáng tỏ vụ việc và yêucầu cơ quan có thẩm quyền giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm và kiếnnghị khởi tố, kiểm tra, xác minh kịp thời, đúng quy định của pháp luật Thông

tư liên tịch số 06/2013/TTLT-BCA-BQP-BTC-BNN&PTNT-VKS NDTCngày 02 tháng 8 năm 2013 hướng dẫn thi hành quy định của BLTTHS về tiếp

Trang 35

nhận, giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố đã quy định

cụ thể về trách nhiệm và chế độ thông tin, báo cáo việc tiếp nhận, giải quyết

tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố của VKS các cấp

VKS có quyền “trực tiếp giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm và kiếnnghị khởi tố trong trường hợp phát hiện có vi phạm pháp luật nghiêm trọnghoặc có dấu hiệu bỏ lọt tội phạm mà VKSND đã yêu cầu nhưng không đượckhắc phục” [18, tr.19]

VKS trực tiếp giải quyết tố giác, tin báo tội phạm và kiến nghị khởi tốtrong trường hợp phát hiện có hành vi vi phạm pháp luật nghiêm trọng hoặc

có dấu hiệu bỏ lọt tội phạm mà VKS đã yêu cầu, kiến nghị nhưng không đượckhắc phục nhằm hạn chế tình trạng vi phạm của các cơ quan có thẩm quyềnđiều tra như bức cung, mớm cung, nhục hình dẫn đến có dấu hiệu oan sai, dễ

bị bỏ lọt tội phạm Trong những trường hợp này, VKS thực hiện việc trực tiếpgiải quyết tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố nhằm xem xét việckhởi tố vụ án có đúng với quy định của pháp luật hay không Qua kiếm sátviệc khởi tố vụ án hình sự, nếu phát hiện việc khởi tố vụ án không có căn cứthì VKS ra các quyết định hủy bỏ quyết định khởi tố vụ án của CQĐT hoặcyêu cầu CQĐT khởi tố vụ án nếu thấy có dấu hiệu bỏ lọt tội phạm; nếu CQĐTkhông khởi tố, VKS có thể chủ động khởi tố vụ án hình sự đó

Ngoài ra, VKS có quyền “thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn khác đểTHQCT theo quy định của BLTTHS nhằm chống bỏ lọt tội phạm, chống làmoan người vô tội” [18, tr.19]

1.3.2 Giai đoạn điều tra vụ án

Hoạt động của VKS trong vụ án hình sự có mục đích đảm bảo mọihành vi phạm tội đều phải được khởi tố, điều tra và xử lý kịp thời, không đểlọt tội phạm và người phạm tội, không làm oan người vô tội, việc truy cứutrách nhiệm hình sự người phạm tội phải có căn cứ và đúng pháp luật Nhiệm

Trang 36

vụ, quyền hạn của VKS ND khi THQCT trong giai đoạn điều tra đối với vụ ánhình sự được quy định tại Điều 14 Luật tổ chức VKS ND và cụ thể hóa tạiĐiều 165 BLTTHS Bao gồm:

-“Yêu cầu CQĐT, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạtđộng điều tra khởi tố hoặc thay đổi, bổ sung quyết định khởi tố vụ án hình sự,khởi tố bị can; Phê chuẩn hoặc hủy bỏ quyết định khởi tố, quyết định thay đổihoặc bổ sung quyết định khởi tố bị can không có căn cứ và trái pháp luật;Khởi tố, thay đổi, bổ sung quyết định khởi tố vụ án hình sự, khởi tố bị cantrong các trường hợp do Bộ luật TTHS quy định; Phê chuẩn, không phê chuẩnlệnh bắt người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp, gia hạn tạm giữ, việc tạmgiam, bảo lĩnh, đặt tiền để bảo đảm, khám xét, thuữgi,tạm giữ đồ vật, thư tín,điện tín, bưu kiện, bưu phẩm, áp dụng biện pháp điều tra tố tụng đặc biệt Phêchuẩn, không phê chuẩn các quyết định tố tụng khác không có căn cứ và tráipháp luật của CQĐT, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt độngđiều tra theo quy định của Bộ luật TTHS Hủy bỏ các quyết định tố tụng

không có căn cứ và trái pháp luật của CQĐT, cơ quan được giao nhiệm vụtiến hành một số hoạt động điều tra Trường hợp không phê chuẩn hoặc hủy

bỏ thì trong quyết định không phê chuẩn hoặc hủy bỏ phải nêu rõ lý do; Quyếtđịnh áp dụng, thay đổi, hủy bỏ biện pháp ngăn chặn, biện pháp cưỡng chếtheo quy định của Bộ luật này; Đề ra yêu cầu điều tra và yêu cầu CQĐT, cơquan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra tiến hành điềutra để làm rõ tội phạm, người phạm tội Yêu cầu CQĐT truy nã bị can, ápdụng biện pháp điều tra tố tụng đặc biệt; Trực tiếp tiến hành một số hoạt độngđiều tra trong trường hợp để kiểm tra, bổ sung tài liệu, chứng cứ khi xét phêchuẩn lệnh, quyết định của CQĐT, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một

số hoạt động điều tra hoặc trường hợp phát hiện có dấu hiệu oan, sai, bỏ lọttội phạm, vi phạm pháp luật mà VKS đã yêu cầu bằng văn bản nhưng không

Trang 37

được khắc phục hoặc trường hợp để kiểm tra, bổ sung tài liệu, chứng cứ khiquyết định việc truy tố; Khởi tố vụ án hình sự khi phát hiện hành vi của người

có thẩm quyền trong việc giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghịkhởi tố và trong việc khởi tố, điều tra có dấu hiệu tội phạm; yêu cầu CQĐTkhởi tố vụ án hình sự khi phát hiện hành vi của người có thẩm quyền trongviệc giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố và trong việckhởi tố, điều tra có dấu hiệu tội phạm; Quyết định việc gia hạn thời hạn điềutra, thời hạn tạm giam Quyết định chuyển vụ án, áp dụng thủ tục rút gọn, ápdụng biện pháp bắt buộc chữa bệnh, ban hành quyết định hủy bỏ quyết địnhtách, nhập vụ án Ngoài ra, VKS còn thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn kháctrong việc THQCT theo quy định của BLTTHS” [14, tr.156-158]

1.3.3 Giai đoạn truy tố

BLTTHS năm 2015 không có điều luật riêng biệt quy định về công tácTHQCT trong giai đoạn truy tố Tuy nhiên, theo quy định tại Điều 16 Luật Tổchức VKS ND năm 2014 thì nhiệm vụ, quyền hạn của VKS khi THQCT tronggiai đoạn truy tố bao gồm:

“Quyết định áp dụng, thay đổi, hủy bỏ biện pháp bắt, tạm giữ, tạmgiam, các biện pháp khác hạn chế quyền con người, quyền công dân theo quyđịnh của luật; yêu cầu CQĐT truy nã bị can” [18, tr.24-25] Điều này đượchiểu là, khi có căn cứ và xét thấy cần thiết, VKS có quyền quyết định áp dụngmột trong số các biện pháp ngăn chặn như bắt bị can để tạm giam, cấm đikhỏi nơi cư trú, bảo lãnh, đặt tiền để bảo đảm… VKS có nhiệm vụ, quyền hạnphê chuẩn các quyết định của CQĐT trong việc áp dụng các biện pháp ngănchặn như bắt khẩn cấp, gia hạn tạm giữ, bắt bị can để tạm giam, tạm giam, đặttiền hoặc tài sản có giá trị để đảm bảo Đối với những biện pháp ngăn chặn doVKS quyết định áp dụng hoặc phê chuẩn thì VKS có quyền hủy bỏ hoặc thay

Trang 38

đổi khi xét thấy không cần thiết hoặc có khả năng thay thế bằng một biệnpháp ngăn chặn khác.

“Yêu cầu cơ quan, tổ chức, cá nhân cung cấp tài liệu liên quan đến vụ

án trong trường hợp cần thiết” [18, tr 25]

Trong trường hợp cần thiết, VKS có quyền trực tiếp tiến hành một sốhoạt động điều tra nhằm mụ đích kiểm tra tính xác thực, bổ sung tài liệu,chứng cứ để cân nhắc, quyết định việc truy tố VKS cũng trực tiếp tiến hànhmột số hoạt động điều tra khi Tòa án yêu cầu điều tra bổ sung mà VKS xétthấy không cần phải trả hồ sơ cho CQĐT

VKS có quyền “quyết định khởi tố, thay đổi, bổ sung quyết định khởi

tố vụ án, khởi tố bị can trong trường hợp phát hiện vụ án còn có hành vi phạmtội, người phạm tội khác chưa được khởi tố, điều tra và trả hồ sơ cho CQĐT

để điều tra bổ sung” [18, tr.25].Việc khởi tố vụ án hình sự được thực hiện khiphát hiện có dấu hiệu tội phạm VKS chỉ ra quyết định khởi tố vụ án, khởi tố

bị can trong một số trường hợp cần thiết theo luật định Ví dụ như trường hợpsau khi nhận hồ sơ và bản kết luận điều tra mà VKS phát hiện có người khác

đã thực hiện hành vi phạm tội trong vụ án nhưng chưa bị khởi tố thì VKS cóthể ra quyết định khởi tố bị can và trả hồ sơ cho CQĐT để điều tra bổ sung.Bên cạnh quyền tự thực hiện, VKS cũng có quyền yêu cầu CQĐT ra quyếtđịnh thay đổi hoặc bổ sung quyết định khởi tố vụ án, nếu có căn cứ xác địnhtội phạm đã khởi tố không đúng với hành vi phạm tội xảy ra hoặc còn một sốtội phạm khác chưa bị khởi tố Nếu CQĐT không thực hiện thì VKS sẽ cóquyền trực tiếp ra quyết định thay đổi hoặc bổ sung quyết định khởi tố vụ án

và trả hồ sơ cho CQĐT để tiến hành điều tra VKS có quyền yêu cầu CQĐT raquyết định thay đổi hoặc bổ sung quyết định khởi tố bị can, nếu có căn cứ xácđịnh hành vi phạm tội của bị can không phạm vào tội đã bị khởi tố hoặc còn

có hành vi phạm tội khác chưa bị khởi tố trường hợp đã yêu cầu mà

Trang 39

CQĐT không thực hiện thì VKS trực tiếp ra quyết định thay đổi hoặc bổ sungquyết định khởi tố bị can và gửi cho CQĐT để tiếp tục tiến hành điều tra.

“Quyết định việc tách, nhập vụ án, chuyển vụ án để truy tố theo thẩmquyền, áp dụng thủ tục rút gọn, áp dụng biện pháp bắt buộc chữa bệnh

Quyết định gia hạn, không gia hạn thời hạn truy tố, thời hạn áp dụngcác biện pháp ngăn chặn

Quyết định truy tố, không truy tố bị can.” [18, tr.25] Khi việc điều tra

vụ án kết thúc, CQĐT chuyển bản kết luận điều tra đề nghị truy tố cùng hồ sơ

vụ án cho VKS Sau khi nghiên cứu, nếu xác định có đủ căn cứ để truy cứutrách nhiệm hình sự người đã thực hiện hành vi phạm tội thì VKS quyết địnhtruy tố bị can ra trước Tòa án bằng bản cáo trạng (hoặc quyết định truy tố nếu

vụ án được tiến hành theo thủ tục rút gọn), đồng thời chuyển toàn bộ hồ sơ vụ

án cùng bản cáo trạng sang Tòa án để thực hiện việc xét xử

VKS có quyền ra quyết định đình chỉ, tạm đình chỉ vụ án, quyết địnhđình chỉ, tạm đình chỉ vụ án đối với bị can và quyết định phục hồi vụ án, bịcan Trường hợp xác định được có một trong những căn cứ quy định tạiKhoản 1 Điều 247 BLTTHS thì VKS ra quyết định tạm đình chỉ vụ án; trườnghợp xác định được có một trong những căn cứ quy định tại Khoản 2 Điều 155

và Điều 157 BLTTHS thì VKS ra quyết định đình chỉ vụ án; Khi có căn cứquy định tại Điều 249 BLTTHS thì VKS ra quyết định phục hồi vụ án

VKS còn có quyền thực hiện những nhiệm vụ, quyền hạn khác để quyếtđịnh việc truy tố theo quy định của BLTTHS

Tiểu kết chương 1

Trong chương này, luận văn đã nghiên cứu và phân tích về khái niệm,phạm vi, đặc điểm của THQCT, làm rõ mối quan hệ giữa THQCT với kiểmsát hoạt động tư pháp Qua đó có thể hiểu THQCT là hoạt động của VKS NDtrong tố tụng hình sự để thực hiện việc buộc tội của Nhà nước đối với người

Trang 40

phạm tội Hoạt động này được thực hiện ngay từ giai đoạn tiếp nhận, giảiquyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố và trong suốt quá trìnhkhởi tố, điều tra, truy tố, xét xử vụ án hình sự Bên cạnh đó, luận văn cũng đãlàm rõ khái niệm và các đặc điểm của tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổnhại cho sức khỏe của người khác trên cơ sở quy định của BLHS hiện hành.Trong phạm vi chương này, luận văn cũng đã nêu và phân tích quy định củaBLTTHS 2015 về THQCT trong các giai đoạn tố tụng bao gồm: Giai đoạntiếp nhận, giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm; giai đoạn điều tra; giai đoạntruy tố và giai đoạn xét xử sơ thẩm.

Các khái niệm cũng như quy định của pháp luật được phân tích ởchương 1 là cơ sở để đánh giá thực trạng công tác THQCT đối với các vụ án

cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác trên địabàn quận 9 thành phố Hồ Chí Minh được nêu ở chương 2

Ngày đăng: 02/12/2019, 07:39

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w