Phân loại chi phí theo cách ứng xử và ứng dụng cách phân loại này trong thực tế tại Công ty TNHH KMV (Việt Nam) nhằm giúp Công ty phân loại chi phí cho hợp lý, tránh các chi phí lãng phí, không đáng có, đồng thời áp dụng để định giá bán cho sản phẩm từ đó đưa ra một số giải pháp, kiến nghị nhằm giúp Công ty hoạt động đạt hiệu quả tốt hơn trong thời gian sắp tới
Trang 1PHÂN LOẠI CHI PHÍ THEO CÁCH ỨNG XỬ VÀ ỨNG DỤNG CÁCH PHÂN LOẠI NÀY TRONG TỔ CHỨC VÀ ĐIỀU HÀNH HOẠT ĐỘNG TẠI CÔNG TY TNHH KMV (VIỆT NAM )
Trần Nguyễn Duyên Trinh (*)
TÓM TẮT
Phân loại chi phí theo cách ứng xử và ứng dụng cách phân loại này trong thực tế tại Công ty TNHH KMV (Việt Nam) nhằm giúp Công ty phân loại chi phí cho hợp lý, tránh các chi phí lãng phí, không đáng có, đồng thời áp dụng để định giá bán cho sản phẩm từ đó đưa
ra một số giải pháp, kiến nghị nhằm giúp Công ty hoạt động đạt hiệu quả tốt hơn trong thời gian sắp tới.
1 THỰC TRẠNG PHÂN LOẠI CHI
PHÍ THEO CÁCH ỨNG XỬ TẠI
CÔNG TY TNHH KMV (VIỆT NAM)
HIỆN NAY:
1.1 Chi phí bất biến :
Chi phí bất biến hay còn gọi là định phí
đó là các khoản chi phí thường không thay
đổi trong phạm vi giới hạn của quy mô
hoạt động, nhưng chi phí trung bình của
một đơn vị hoạt động thì thay đổi tỷ lệ
nghịch với mức biến động của mức hoạt
động Chi phí cố định không thay đổi về
tổng số trong phạm vi phù hợp của mức độ
hoạt động, nhưng nếu mức độ hoạt động
tăng vượt quá phạm vi phù hợp đó thì chi
phí khấu hao máy móc thiết bị sản xuất sẽ
tăng vì phải đầu tư thêm máy móc thiết bị
sản xuất [1]
Qua khảo sát thực tế tại Công ty
TNHH KMV (Việt Nam) có thể kể ra một
số chi phí bất biến như sau: Chi phí khấu hao tài sản cố định, Chi phí thuê đất, Chi phí quản lý cơ sở hạ tầng, Chi phí bảo vệ, Chi phí bảo hiểm nhà xưởng, tài sản, Bên cạnh đó còn có các khoản chi phí cố định có tính chất ngắn hạn và trong một số trường hợp cần thiết Công ty có thể tiết giảm Tùy vào tình hình sản xuất, mỗi năm Công ty đều có kế hoạch cho loại chi phí này, có thể kể ra các loại chi phí này như sau: Chi phí điện thoại, fax, kết nối internet, Chi phí tiếp khách, công tác phí, Chi phí nghiên cứu, đào tạo nghiệp vụ, Chi phí thuê bồn chứa gas, hoá chất, Chi phí thuê xe đưa rước cán bộ công nhân viên,
xe công tác, Chi phí thuê phòng ở cho chuyên gia người nước ngoài
Tổng chi phí bất biến phát sinh 6 tháng đầu năm 2008 tại Công ty TNHH KMV (Việt Nam) là : 10.540.955.704 đồng Chi tiết như sau :
Trang 1
Trang 2CHI PHÍ BẤT BIẾN SỐ TIỀN CHI PHÍ BẤT BIẾN SỐ TIỀN
Chi phí điện thoại, fax, kết nối internet 56.834.093 Chi phí đóng BHXH, BHYT 111.864.676 Chi phí tiếp khách, công tác phí 231.382.420 Chi phí đồng phục, đồ bảo hộ 4.575.481
Bảng1: Chi phí bất biến 6 tháng đầu năm 2008 tại Công ty TNHH KMV (Việt Nam) [2]
1.2 Chi phí khả biến :
Chi phí khả biến là các chi phí thay đổi
về tổng số tỷ lệ với sự thay đổi của mức độ
hoạt động Tuy nhiên có loại chi phí khả
biến tỷ lệ thuận trực tiếp với biến động của
mức hoạt động như chi phí nguyên vật liệu
trực tiếp, chi phí lao động trực tiếp
nhưng có chi phí khả biến chỉ thay đổi khi
mức hoạt động thay đổi nhiều và rõ ràng
như chi phí lao động gián tiếp, chi phí bảo
dưỡng máy móc thiết bị Biến phí rất đa
dạng, tuỳ thuộc vào từng loại hình sản
xuất- kinh doanh, từng phạm vi, mức độ
hoạt động, quy trình sản xuất của từng
doanh nghiệp.[3]
Tại Công ty TNHH KMV (Việt Nam)
có lĩnh vực sản xuất- kinh doanh là khung
đế của xe nâng, xe cơ giới và máy công
nghiệp Do yêu cầu của sản phẩm, các yếu
tố đầu vào cho quá trình sản xuất là rất lớn,
bao gồm các chi phí như : chi phí nguyên
vật liệu chính, chí phí nhiên liệu, chi phí
vật liệu phụ, chi phí công cụ dụng cụ, tiền
lương công nhân trực tiếp sản xuất, chi phí đóng BHXH, BHYT
Qua tìm hiểu thực tế tổng biến phí sản xuất 6 tháng đầu năm tại Công ty TNHH KMV (Việt Nam) là :
28.907.383.979 đồng.
1.3 Chi phí hỗn hợp :
Là loại chi phí mà bản thân nó gồm cả các yếu tố của Chi phí bất biết và chi phí khả biến Yếu tố bất biến của chi phí hỗn hợp thường phản ánh chi phí căn bản, tối thiểu để duy trì và luôn luôn ở tình trạng sẵn sàng phục vụ Yếu tố khả biến thường phản ánh chi phí thực tế hoặc chi phí sử dụng quá định mức [4]
Trang 2
Trang 3Một số chi phí hỗn hợp có thể kể ra
là chi phí điện thoại, Fax, chi phí tiền điện
dùng thắp sáng văn phòng và điện phục vụ
phân xưởng sản xuất, chi phí bảo dưỡng
máy móc thiết bị dùng để giữ cho máy
móc luôn ở tình trạng sẵn sàng hoạt động
và chi phí bảo dưỡng máy móc khi tăng ca,
sản lượng sản xuất tăng )
Hiện nay, Công ty đã dùng phương
pháp bình phương bé nhất để phân loại chi
phí hỗn hợp thành yếu tố khản biến và bất biến, điển hình là chi phí bảo dưỡng máy móc thiết bị và chi phí điện tiêu thụ, nhưng
do các nhà quản lý thấy phần yếu tố bất biến trong hai loại chi phí này không đáng kể và do đã đi vào sản xuất liên tục theo kế hoạch đã đề ra nên phòng kế toán tính chi phí này như là chi phí khả biến và tính cho từng sản phẩm trong biến phí sản xuất chung
1.4 Báo cáo kết quả kinh doanh theo số dư đảm phí :
BÁO CÁO KẾT QUẢ KINH DOANH TỪ NGÀY 01/01/2008 ĐẾN 30/06/2008
(Theo số dư đảm phí)
Doanh thu thuần 33.354.232.074 100%
Biến phí sản xuất kinh doanh 19.473.331.264 58,38%
Định phí sản xuất kinh doanh 10.540.955.704
Lợi nhuận sản xuất kinh doanh 3.339.945.106
Bảng 2: Báo cáo kết quả kinh doanh theo số dư đảm phí [5]
Trang 3
Trang 4Qua báo cáo kết quả hoạt động sản
xuất kinh doanh theo số dư đảm phí chúng ta
tính được những chỉ tiêu sau :
Tỷ lệ số dư đảm phí là : 41,62%
Doanh thu hoà vốn : 25.328.722.368
(đồng)
Doanh thu an toàn : 8.025.509.706
(đồng)
Đòn bẩy hoạt động là : 4,16
1.5 Về việc định giá bán của sản phẩm:
Giá cả của sản phẩm hoặc dịch vụ phải cao hơn chi phí biến đổi để sản xuất và bán sản phẩm hoặc dịch vụ đó Tất cả những đơn đặt hàng sẽ góp phần thanh toán các khoản chi phí cố định và tạo ra lợi nhuận Trong trường hợp không thể định giá cao hơn, ví dụ như nếu muốn có thêm một khách hàng mới -người rất quan tâm tới giá cả thì có thể đưa ra mức giá thấp hơn giá thông thường nhưng ít nhất là phải bằng chi phí biến đổi [6]
Phiếu định giá được lập theo mẫu sau :
Đơn vị tính : đồng Việt Nam
PHIẾU ĐỊNH GIÁ SẢN PHẨM Loại sản phẩm : Linh kiện PC200-8 LH
Chi phí nền
- Biến phí nguyên vật liệu trực tiếp 1.460.825
- Biến phí nhân công trực tiếp 75.497
- Biến phí sản xuất chung 64.857
- Biến phí bán hàng và quản lý 36.905
Cộng 1.638.084
Giá trị tăng thêm 1.198.416
Giá bán 2.836.500
Bảng 3: Phiếu định giá sản phẩm [7]
2 VẤN ĐỀ ĐẶT RA VỀ PHÂN LOẠI CHI
PHÍ THEO CÁCH ỨNG XỬ TẠI CÔNG
TY TNHH KMV (VIỆT NAM) HIỆN
NAY:
Trang 5 Bộ máy kế toán của công ty tuy ít nhân
sự nhưng cung cấp thông tin tốt tuy nhiên
việc phân loại chi phí theo cách ứng xử chưa
được quan tâm đúng mực
Chi phí hỗn hợp phát sinh thường bị bỏ
qua tính chất của nó và được đưa hết vào chi
phí khả biến
Tại Cty việc ứng dụng việc phân loại
chi phí theo cách ứng xử chủ yếu để phân tích
điểm hòa vốn và lựa chọn các phương án kinh
doanh
Việc tổ chức công tác kế toán quản trị
tại công ty chưa được quan tâm đúng mức
3 GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ :
Cần chú trọng việc phân loại chi phí
theo cách ứng xử chi tiết hơn nữa
Công ty cần quan tâm việc phân loại
chi phí hỗn hợp va đưa vào chi phí theo đúng
yếu tố khả biến và bất biến để xác định giá
bán được chính xác
Công ty cần xem xét lại định mức
phân bổ định phí cho hợp lý hơn trong thời
gian tới khi đã ổn định sản xuất
Để quản trị chi phí tốt, công ty nên tổ
chức các bộ phận thành các trung tâm chi phí,
là trung tâm mà trong đó người quản lý chỉ
chịu trách nhiệm về chi phí
Tiến hành phân tích và đưa ra một cơ
cấu chi phí và nguồn vốn huy động tối ưu cho
công ty trong từng thời kỳ
Kiểm soát việc sử dụng cả các tài sản trong công ty, tránh tình trạng sử dụng lãng phí, sai mục đích
Lập định mức chi phí cụ thể, thu thập thông tin về chi phí thực tế, phân tích biến động giá cả trên thị trường theo định kỳ
Công ty cần vận dụng phân tích mối quan hệ giữa chi phí - khối lượng - lợi nhuận vào việc lựa chọn các phương án kinh doanh, lựa chọn mặt hàng, dây chuyền sản xuất
Cần chú trọng việc phân loại chi phí theo cách ứng xử và ứng dụng phân loại chi phí theo cách ứng xử để xác định giá bán
Cần tiến hành tổ chức tốt công tác Kế toán quản trị bằng cách đào tạo nguồn nhân lực, nhanh chóng phát triển và kiện toàn hệ thống xử lý thông tin
4 KẾT QUẢ ĐẠT ĐƯỢC CỦA ĐỀ TÀI :
Một khi chi phí sản xuất kinh doanh được chia thành yếu tố khả biến và bất biến, người quản lý sẽ vận dụng cách ứng xử của chi phí này để lập ra một báo cáo kết quả kinh doanh và chính dạng báo cáo này sẽ được sử dụng rộng rãi như một kế hoạch nội bộ và một công cụ để ra quyết định Khi có báo cáo kết quả kinh doanh dạng số dư đảm phí sẽ giúp rất nhiều cho các nhà quản lý trong việc nhận biết mối quan hệ chi phí- khối lượng- lợi nhuận, tạo điều kiện tốt hơn trong việc hoạch định chi phí, khối lượng sản phẩm tiêu thụ, doanh thu để đạt được lợi nhuận mong muốn hoặc hoạch định cơ cấu chi phí thích hợp
Trang 6trong môi trường kinh doanh Do đó ta có thể
hiểu sâu thêm được về phân tích hòa vốn
cũng như giải quyết mối quan hệ chi phí, khối
lượng, lợi nhuận
Việc phân loại chi theo cách ứng xử là
một trong những cách phân loại cung cấp
nhiều thông tin hữu ích cho nhà quản trị, qua
đó sẽ giúp nhà quản trị đưa ra những quyết
định trong ngắn hạn hoặc dài hạn Tại Công
ty TNHH KMV (Việt Nam) đã ứng dụng cách
phân loại này trong việc phân tích điểm hoà
vốn, đồng thời áp dụng cách phân loại này trong phân tích mối quan hệ chi phí - khối lượng - lợi nhuận là một việc làm thiết thực đối với mỗi công ty bởi vì nó giúp cho nhà quản lý thấy được sự liên quan giữa 3 yếu tố quyết định sự thành công của công ty mình Từ khối lượng bán ra và các chi phí tương ứng công ty sẽ xác định được lợi nhuận Và để tối đa hoá lợi nhuận, một vấn đề quan trọng nằm trong tầm tay của doanh nghiệp là phải kiểm soát chi phí Muốn vậy, Công ty phải nắm rõ kết cấu chi phí của mình, biết được ưu và nhược điểm của nó để có những biện pháp thích hợp trong việc kiểm soát và cắt giảm chi phí Mặt khác, Công ty sẽ dựa trên mô hình chi phí - khối lượng - lợi nhuận để đề ra những chiến lược kinh doanh hiệu quả
Tài liệu tham khảo
[1] Bộ môn Kế toán quản trị – Phân tích
hoạt động kinh doanh, Khoa Kế toán - Kiểm
toán, Trường Đại Học Kinh Tế Tp.HCM -“
Giáo trình Kế toán Quản Trị”, NXB Thống
Kê, 2006
[2] Phòng kế toán, Công ty TNHH KMV
(Việt Nam) – “Bảng kê chi phí theo trung tâm
chi phí theo trung tâm chi phí”, 6 tháng đầu
năm 2008
[3] , [4] Bộ môn Kế toán quản trị – Phân
tích hoạt động kinh doanh, Khoa Kế toán
-Kiểm toán, Trường Đại Học Kinh Tế
Tp.HCM -“ Giáo trình Kế toán Quản Trị”,
NXB Thống Kê, 2006 [5] Phòng kế toán, Công ty TNHH KMV
(Việt Nam)- “ Báo cáo tài chính”, 6 tháng
đầu năm 2008
[6] http://saga.vn/default.aspx- “Chiến
lược kinh doanh”
[7] Phòng kế toán, Công ty TNHH KMV
(Việt Nam)- “Bảng định giá sản phẩm”, 2008
Trang 7
-(*) Sinh viên Lớp 04KT5- Niên khóa
2004-2008 – Khoa Tài chính – Kế toán –Trường
ĐH Lạc Hồng – Số 10, Huỳnh Văn Nghệ, Phường Bửu Long, Tp Biên Hòa, Tỉnh Đồng Nai – ĐT: 61)3.951050, FAX: (84-61)3.952397