1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nghiên cứu phân tích vai trò của phụ nữ Việt Nam trong một số hoạt động kinh tế xã hội qua số liệu thống kê

16 122 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 16
Dung lượng 426,13 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trong thời đại công nghiệp hoá và hiện đại hóa phụ nữ Việt Nam tham gia đông đảo vào các lĩnh vực khoa học kỹ thuật, văn hoá, chính trị, kinh tế, xã hội và ngày càng thể hiện được vị thế

Trang 1

ĐỀ TÀI KHOA HỌC SỐ: 07-CS-2005

NGHIÊN CỨU PHÂN TÍCH VAI TRÕ CỦA PHỤ NỮ VIỆT NAM TRONG MỘT SỐ HOẠT ĐỘNG KINH TẾ XÃ HỘI QUA SỐ LIỆU

THỐNG KÊ

2 Thời gian nghiên cứu : Năm 2005

3 Đơn vị chủ trì : Viện Khoa học Thống kê

6 Những người phối hợp nghiên cứu:

CN Vũ Thị Mai

CN Phan Thị Ngọc Trâm

CN Trần Thị Thanh Hương

Trang 2

309

PHẦN I NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG

I PHỤ NỮ VIỆT NAM TRONG SỰ PHÁT TRIỂN XÃ HỘI

Lịch sử phát triển của phụ nữ Việt Nam gắn liền với lịch sử phát triển của dân tộc Trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và Đế quốc Mỹ của dân tộc ta, phụ nữ có mặt trên khắp các mặt trận, ở tiền tuyến cũng như hậu phương Thời kỳ chống Mỹ cứu nước đã xuất hiện những người phụ nữ Việt Nam anh hùng, anh hùng trong sản xuất, anh hùng trong chiến đấu Trong thời đại công nghiệp hoá và hiện đại hóa phụ nữ Việt Nam tham gia đông đảo vào các lĩnh vực khoa học kỹ thuật, văn hoá, chính trị, kinh tế, xã hội và ngày càng thể hiện được vị thế của giới mình trong sự bình đẳng với nam giới

Thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hóa, phụ nữ là lực lượng lao động to lớn làm việc trong tất cả các ngành, các lĩnh vực Phụ nữ Việt nam đã thích ứng nhanh với cơ chế mới, chủ động tiếp cận ngành nghề mới, bồi dưỡng kỹ năng lao động, kiến thức, năng lực quản lý, áp dụng khoa học kỹ thuật, công nghệ tiên tiến vào sản xuất

Số cán bộ công chức nữ tham gia quản lý nhà nước trong hệ thống chính quyền các cấp hiện nay nhiều hơn so với trước: Một Phó chủ tịch nước, ba bộ trưởng, 26 thứ trưởng và tương đương, 2 chủ tịch uỷ ban nhân dân, 22 phó chủ tịch uỷ ban nhân dân tỉnh

Theo kỷ yếu Hội nghị đánh giá giữa kỳ thực hiện Kế hoạch hành động

vì sự tiến bộ của phụ nữ Việt Nam đến năm 2005 Trong 17 bộ/ngành là thành viên của Uỷ ban quốc gia vì sự tiến bộ của phụ nữ thì có 4 bộ/ ngành có cán

bộ nữ là bộ trưởng hoặc tương đương, 4 bộ/ngành có cán bộ nữ là thứ trưởng hoặc tương đương, còn 7 trong số 17 bộ/ngành chưa có lãnh đạo chủ chốt Hai mươi bộ/ngành khác chỉ có 2 bộ trưởng, 2 thứ trưởng là nữ, 16 bộ/ngành còn lại chưa có cán bộ chủ chốt là nữ

Tỷ lệ nữ đại biểu quốc hội của nước ta cao so với nhiều nước trên thế giới và đứng đầu trong khu vực châu Á Số đại biểu nữ trong hội đồng nhân

Trang 3

dân các cấp qua các khoá đều tăng Khóa 1999-2004, số nữ là đại biểu hội đồng nhân dân cấp tỉnh chiếm 22,5%, cấp huyện chiếm 20,7%, cấp xã chiếm 17%20

Tỷ lệ cán bộ nữ trong các cấp uỷ từ Trung ương đến cơ sở chiếm khoảng 10-11% Tỷ lệ nữ cán bộ công chức ở vị trí chủ chốt như bí thư, phó bí thư,

uỷ viên thường vụ các cấp chỉ khoảng 3-8%

Với tỷ lệ nữ chiếm 70% lực lượng lao động trong ngành, cán bộ nữ ngành giáo dục đã dần khẳng định vị trí của mình trong xã hội

Trong 5 năm qua tỷ lệ nữ có học hàm giáo sư tăng từ 3,5% lên 4,3%, phó giáo sư tăng từ 5,9% lên 7,0%, tiến sĩ khoa học và tiến sĩ tăng từ 12,1% lên 14,9%

Trong hoạt động nghiên cứu khoa học phụ nữ Việt nam giữ vai trò quan trọng có 6,3% cán bộ phụ trách là nữ, 10% đề tài nghiên cứu khoa học cấp nhà nước do phụ nữ làm chủ nhiệm21 Các cán bộ khoa học nữ đã có nhiều công trình nghiên cứu ứng dụng thành tựu khoa học công nghệ hiện đại vào quá trình sản xuất, chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá, góp phần làm thay đổi công nghệ sản xuất, chăm sóc sức khoẻ,

sử dụng năng lượng mới, bảo vệ môi trường…

Trong lĩnh vực văn hoá thể thao nhiều nữ vận động viên đã vượt khó khăn, miệt mài luyện tập đạt nhiều huy chương, lập nhiều kỷ lục tại các kỳ thi đấu thể thao quốc gia và đã đạt thành tích cao trong các cuộc thi quốc tế

Không chỉ giữ vai trò quan trọng trong phát triển kinh tế, chính trị, xã hội, trong thời đại ngày nay, phụ nữ còn có vai trò quan trọng là người duy trì

và phát triển những giá trị văn hoá gia đình, giữ gìn bản sắc dân tộc, giữ vai trò chủ yếu trong tổ chức cuộc sống gia đình, chăm sóc, nuôi dạy con

Chính vì vai trò quan trọng của phụ nữ Việt Nam mà trong nhiều năm qua, Đảng và Nhà đã xây dựng những chiến lược, chính sách tạo điều kiện cho phụ nữ Việt Nam phát huy được vai trò và khả năng của mình

20 Nguồn: Báo cáo vai trò phụ nữ tham gia quản lý nhà nước ngày 2 tháng 3 năm 2004

21

Bài phát biểu của Bà Hà Thị Khiết: “Vai trò của phụ nữ Việt Nam thế kỷ 21”.

Trang 4

311

II THỰC HIỆN KẾ HOẠCH HÀNH ĐỘNG QUỐC GIA VÌ SỰ TIẾN BỘ CỦA PHỤ NỮ

Ngày 21 tháng 1 năm 2002 Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 19/2002/QĐ-TTg phê duyệt Chiến lược hành động quốc gia vì sự tiến

bộ của phụ nữ Việt Nam đến năm 2010 Uỷ ban quốc gia vì sự tiến bộ của phụ nữ Việt Nam đã phối hợp với các bộ, ngành hữu quan xây dựng Kế hoạch hành động vì sự tiến bộ của phụ nữ đến năm 2005 với mục tiêu tổng quát là: ổn định và cải thiện đời sống vật chất và tinh thần của phụ nữ Tạo mọi điều kiện để thực hiện có hiệu quả các quyền cơ bản và phát huy vai trò của phụ nữ trong mọi lĩnh vực của đời sống văn hoá, chính trị, xã hội”

Theo Báo cáo quốc gia lần thứ 5 và 6 về tình hình thực hiện công ước Liên hợp quốc về xoá bỏ mọi hình thức phân biệt đối xử đối với phụ nữ thì đã

có 40/40 bộ/ngành ở trung ương và 64/64 tỉnh thành phố trực thuộc trung ương phê duyệt và triển khai thực hiện Kế hoạch hành động quốc gia vì sự tiến bộ của phụ nữ đến năm 2005 của Ngành hoặc địa phương mình

Chương trình hành động quốc gia vì sự tiến bộ của phụ nữ gồm có 5 mục tiêu22, cụ thể là:

- Thực hiện các quyền bình đẳng của phụ nữ trong lĩnh vực việc làm;

- Thực hiện các quyền bình đẳng của phụ nữ trong lĩnh vực giáo dục và đào tạo;

- Thực hiện quyền bình đẳng của phụ nữ trong lĩnh vực chăm sóc sức khoẻ;

- Nâng cao chất lượng và hiệu quả của phụ nữ trên các lĩnh vực chính trị, kinh tế, văn hoá, xã hội để tăng số phụ nữ được giới thiệu và bầu tham gia lãnh đạo các cấp, các ngành;

- Tăng cường năng lực hoạt động vì sự tiến bộ của phụ nữ

Trong từng mục tiêu đều có các chỉ tiêu và các biện pháp thực hiện cụ thể Trong phần nội dung đề tài có tóm tắt kết quả thực hiện các mục tiêu Chương trình hành động quốc gia vì sự tiến bộ của phụ nữ

22 Các mục tiêu cụ thể xem phần Phụ lục Báo cáo Tổng hợp kết quả nghiên cứu

Trang 5

Kết quả đánh giá thực hiện Kế hoạch hành động quốc gia vì sự tiến bộ của phụ nữ được tổng hợp trên cơ sở báo cáo của các bộ/ban/ngành và các đoàn thể tổ chức chính trị xã hội mà nền tảng của nó là số liệu tổng kết các chương trình hành động và số liệu thống kê được phân loại theo giới Vậy thực trạng số liệu thống kê ở nước ta ra sao

PHẦN II VAI TRÒ CỦA PHỤ NỮ VIỆT NAM QUA PHÂN TÍCH SỐ LIỆU THỐNG KÊ

A THỐNG KÊ GIỚI

Để tiện cho việc phân tích thực trạng số liệu thống kê giới ở nước ta Ở đây chúng tôi sẽ điểm qua tình hình thống kê giới trên thế giới trên cơ sở Báo cáo đánh giá về thống kê giới của Liên Hợp Quốc của các quốc gia và khu vực cho thời kỳ 1975-2003

I Thống kê giới trên thế giới

Hội nghị tổng kết 10 năm thực hiện cương lĩnh Bắc Kinh tổ chức từ ngày 28/2-11/3/2005 tại NewYork, Mỹ đã xác định việc thiếu số liệu thống kê được phân theo giới là một thách thức trong quá trình thực hiện các mục tiêu bình đẳng giới

Báo cáo đánh giá về thống kê giới 2005 của Liên Hợp Quốc thời kỳ 1975-2003 cho thấy số liệu thống kê được phân theo giới tập trung vào các lĩnh vực: dân số, y tế, giáo dục và việc làm Báo cáo cũng có đề cập đến về tình hình thống kê hiện nay liên quan đến các lĩnh vực mới hơn như tình trạng bạo lực chống lại phụ nữ, nghèo đói, ra quyết định và quyền con người Phạm vi thống kê giới của chính phủ tập trung giải quyết các vấn đề liên quan đến giới ở các quốc gia rất khác nhau Báo cáo đánh giá sự tiến bộ, tìm

ra sự thiếu hụt về số liệu thống kê giới và lập kế hoạch để cải thiện việc thu thập và công bố thống kê về giới cho mục tiêu hoạch định chính sách, lập kế hoạch và đánh giá chương trình

Việc đánh giá về năng lực thống kê của các quốc gia về sản xuất các chỉ tiêu của Mục tiêu phát triển thiên niên kỷ phân được phân theo giới ở cấp quốc gia, và cũng giúp cho việc hỗ trợ về kỹ thuật Các chuyên gia thống kê

Trang 6

313

giới có thể sử dụng báo cáo để làm công cụ hỗ trợ tích cực cho việc hoàn thiện thống kê giới23

Số lượng các chỉ tiêu thống kê giới có sự thay đổi lớn theo các khu vực địa lý khác nhau Châu Âu - khu vực được đánh giá có nhiều chỉ tiêu thống

kê giới nhất và ngược lại với châu Âu, châu Phi là khu vực hạn chế về số liệu thống kê giới hơn cả

Số liệu thống kê giới thường chỉ được thu thập và báo cáo trên cơ sở thống kê chính thức, các hình thức khác như giáo dục tư, các trường học của các tổ chức tôn giáo… chưa được quan tâm Đây là tình trạng phổ biến đối với các nước và các khu vực chưa phát triển

Báo cáo về thống kê giới đánh giá mặt hạn chế của thống kê giới giữa các khu vực và các nước qua 3 nhân tố: Thứ nhất là không có năng lực thống

kê phù hợp; Thứ hai là thiếu thông tin cơ bản phân theo giới ; và thứ ba là Thiếu các khái niệm và phương pháp phù hợp Báo cáo về thống kê giới đã đưa tra các chiến lược và chương trình hành động tập trung vào các hoạt động:

Tăng cường hệ thống thông tin thống kê quốc gia

Tập trung vào các thông tin chủ đạo về giới trong mọi lĩnh vực liên quan đến sản xuất số liệu thống kê

Phát triển và hoàn thiện các khái niệm và phương pháp thống kê giới ở các quốc gia và khu vực

Những thông tin trên chứng tỏ việc thiếu các thông tin, số liệu thống kê giới là một tình trạng phổ biến trên thế giới, đặc biệt là ở các khu vực và các nước chậm phát triển Các nước và các khu vực chậm phát triển số liệu thống

kê giới rất hạn chế, không chỉ thiếu các chỉ tiêu thống kê giới chủ yếu mà còn chưa có những khái niệm và phương pháp thống kê giới đúng và đầy đủ

II Thực trạng số liệu thống kê giới ở Việt Nam

Theo danh mục Hệ thống các chỉ số trong cơ sở dữ liệu VietInfo 4.0 (1990-2003) thì thiếu số liệu nhiều chỉ tiêu thống kê phân theo giới Theo các

23 The World‟s Women 2005: Progress in Statistics (Pg vii, ix)

Trang 7

Mục tiêu phát triển của Việt Nam thì còn thiếu nhiều chỉ tiêu ví dụ như các chỉ tiêu: Tỷ lệ phụ nữ là lãnh đạo trong các bộ, ngành, cơ quan trung ương;

Tỷ lệ phụ nữ là chủ doanh nghiệp; và Tỷ lệ hộ gia đình được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất có cả tên vợ và tên chồng

Trong báo cáo tổng hợp tình hình thực hiện các mục tiêu, chỉ tiêu của

Kế hoạch hành động quốc gia vì sự tiến bộ của phụ nữ cho thấy còn một số chỉ tiêu chưa có số liệu

Trong thực tế nhiều cuộc điều tra kinh tế xã hội do Tổng cục Thống kê

và các bộ/ngành khác thực hiện đã quan tâm đến việc thu thập thông tin theo giới, tuy nhiên còn ở mức độ khác nhau Đáng lưu ý là việc khai thác tổng hợp và xử lý thông tin dưới góc độ giới chưa được quan tâm, nên hiệu quả phân tích số liệu giới còn hạn chế

Như vậy có thể nhận định rằng hệ thống thông tin, chỉ tiêu thống kê về giới ở nước ta đã được quan tâm, tuy nhiên còn nhỏ lẻ và thiếu hệ thống Trong Báo cáo phát triển con người của Liên Hợp Quốc công bố năm

2005 thì chỉ số GEM - Chỉ số tổng hợp biểu hiện vai trò của phụ nữ trong đời sống kinh tế và chính trị không có số liệu của Việt nam (do thiếu dữ liệu), điều này cũng đã chứng tỏ phần nào số liệu thống kê giới của nước ta chưa có khả năng phục vụ cho việc nghiên cứu, so sánh quốc tế

Theo quyết định số 305/2005/QĐ-TTg ngày 24/11/2005 của Thủ tướng chính phủ thì trong Hệ thống chỉ tiêu thống kê quốc gia có 8 nhóm chỉ tiêu thống kê liên quan đến thống kê giới, đó là: Các chỉ tiêu thống kê về Dân số; Các chỉ tiêu thống kê về lao động việc làm; Các chỉ tiêu thống kê về Khoa học công nghệ; Các chỉ tiêu thống kê về giáo dục đào tạo; Các chỉ tiêu thống

kê về y tế và chăm sóc sức khoẻ; Các chỉ tiêu thống kê về văn hoá, thông tin, thể thao; Các chỉ tiêu thống kê về trật tự an toàn xã hội và tư pháp; Các chỉ tiêu thống kê về tiến bộ phụ nữ

Theo quan điểm của PGS.TS Nguyễn Trọng Điều, Thứ trưởng Bộ Nội

vụ thì để hoạch định chính sách cán bộ nói chung và cán bộ nữ nói riêng một cách khoa học khách quan, cần sử dụng các nghiên cứu, đánh giá về giới dưới góc độ tâm lý, xã hội học cũng như các phân tích thấu đáo về các yêu cầu

Trang 8

315

chính trị-xã hội, các nhân tố thực tiễn tác động từ nhiều phía đến quá trình phát triển của phụ nữ, có sự so sánh, cân bằng với nam giới trong các hoạt động xã hội Do vậy phải có những thông tin, số liệu thống kê về giới phù hợp, chính xác, kịp thời Ở đây vai trò của thống kê giới cần được quan tâm, đặc biệt trong việc nâng cao nhận thức lồng ghép thống kê giới trong thống

kê của các bộ/ban/ngành

B PHÂN TÍCH VAI TRÕ CỦA PHỤ NỮ VIỆT NAM QUA SỐ LIỆU THỐNG KÊ

I Vai trò của phụ nữ qua số liệu thống kê về Lao động, việc làm

1 Về lao động

Về lực lượng lao động

Theo số liệu điều tra lao động việc làm của Bộ Lao động - Thương binh

và Xã hội 1996-2003, cơ cấu lực lượng lao động chia theo giới tính của nước

ta là xấp xỉ nhau Riêng số liệu lao động nữ của khu vực thành thị năm 2003 thấp hơn nam khoảng 5% (47,47% so với 52,53%)

Tỷ lệ nữ tham gia hoạt động kinh tế ở nước ta vẫn được duy trì ở mức cao qua các năm Năm 2003, tỷ lệ tham gia hoạt động kinh tế của nữ là 68,5% và nam là 75,8% Sự chênh lệch về tỷ lệ tham gia hoạt động kinh tế giữa nam và nữ trong thời kỳ 2000 - 2003 rất ít thay đổi, mức chênh lệch chỉ khoảng trên dưới 7%

Nam giới thường chiếm tỷ lệ cao hơn trong những lĩnh vực có thu nhập

và địa vị xã hội cao, trong khi đó nữ giới thường tập trung ở những nghề có tiền công thấp, tay nghề và kỹ năng lao động không đòi hỏi quá nhiều

Về trình độ học vấn

Tỷ lệ không biết chữ chung cho cả hai giới đã giảm từ 5,72% năm 1996 xuống còn 4,24% năm 2003 (giảm 1,48%), với tỷ lệ không biết chữ của lực lượng lao động nam giảm 1,1% và của nữ giảm 1,78% Tỷ lệ tốt nghiệp cấp III của lực lượng lao động nam tăng từ 15,55% năm 1996 tăng lên 19,93%

Trang 9

năm 2003, và các tỷ lệ tương ứng của lực lượng lao động nữ là 12,05% và 16,75%

Về trình độ chuyên môn

Năm 2003 tỷ lệ lao động có trình độ chuyên môn của lực lượng lao động nam và nữ đều đã tăng lên so với năm 1996 Tỷ lệ lực lượng lao động nam có chuyên môn kỹ thuật năm 1996 là 14,79%, năm 2003 tăng lên 24,90% (tăng khoảng 10%) cao hơn tỷ lệ của lực lượng lao động nữ Tỷ lệ tăng của lực lượng lao động nữ có trình độ chuyên môn là khoảng 7% cho thời kỳ

1996-2003 (từ 9,88% lên 17,41%)

2 Việc làm

Tình hình có việc làm

Năm 2003 số lao động nam có việc làm chiếm tỷ lệ lớn hơn so với nữ ở

cả khu vực thành thị và nông thôn Mức chênh lệch về tỷ lệ việc làm giữa nam và nữ ở thành thị (5,7%) lớn hơn so với ở nông thôn (1,4%) Năm 2003

tỷ lệ dân số nữ từ 15 tuổi trở lên có việc làm thường xuyên có giảm khoảng

1% so với năm 2002

Nghề nghiệp

Số liệu cho thấy có sự khác biệt rất rõ ràng về giới trong từng nhóm nghề Chỉ có 19% tỷ lệ lao động nữ tham gia lãnh đạo, các nghề đòi hỏi trình

độ tay nghề hay đào tạo bậc cao nữ giới cũng chiếm tỷ lệ 41,5%, chuyên môn kỹ thuật bậc trung chiếm 58,5% Nữ chiếm tỷ lệ cao nhất (68,7%) trong nhóm nghề dịch vụ cá nhân, bảo vệ và bán hàng

Ngoài những ngành nghề truyền thống tập trung nhiều phụ nữ như y tế (58%), giáo dục (69,8%), khách sạn nhà hàng (69,1%)… thì một số ngành nghề được coi là thế mạnh của nam giới cũng đã có tỷ lệ phụ nữ tham gia cao như tài chính tín dụng (49%), công nghiệp chế biến (50,7%) và khoa học công nghệ (46,7%)

Tình hình thất nghiệp

Tỷ lệ thất nghiệp nữ năm 1998 là 2,08% đến năm 2003 là 2,63% Và

cũng dễ dàng nhận thấy có sự khác biệt về tỷ lệ thất nghiệp của nữ giữa 2 khu

Trang 10

317

vực thành thị và nông thôn, ở khu vực thành thị tỷ lệ thất nghiệp của nữ cao hơn nhiều so với nông thôn (năm 2003 các mức tỷ lệ thất nghiệp nữ cho khu vực thành thị và nông thôn tương ứng là 6,93% và 1,31%)

II Vai trò của phụ nữ qua số liệu thống kê về giáo dục, đào tạo

Tỷ lệ biết chữ

Mức độ chênh lệch về tỷ lệ biết chữ giữa nam và nữ không đáng kể ở vùng Đồng bằng sông Hồng Số liệu đã chứng tỏ những kết quả đáng tự hào của nước ta về giáo dục và bình đẳng giới trong giáo dục Từ mức chênh lệch tới 24,86% và 27,96% tương ứng với khu vực Tây Bắc và Tây Nguyên, trong 8 năm mức chênh lệch đã giảm xuống chỉ còn 4,43% và 5,51%

Tỷ lệ biết chữ của nước ta tương đối cao, đạt tỷ lệ 92,13% năm 2002 Trong đó vùng Đồng Bằng Sông Hồng có tỷ lệ biết chữ lớn cao nhất ở cả nam và nữ, với tỷ lệ tương ứng là 98,33 % và 93,39% Tây Bắc là khu vực

có tỷ lệ biết chữ thấp nhất ở cả nam và nữ, tương ứng là 88,75 % và 71,32 % Khu vực thành thị có tỷ lệ biết chữ cao hơn và chênh lệch về giới thấp hơn so với khu vực nông thôn Ở tất cả các vùng và khu vực thì tỷ lệ biết chữ của nam đều cao hơn so với nữ, tuy nhiên mức chênh lệch giữa nam và nữ tương đối thấp

Tỷ lệ đi học

Năm học 2003-2004 tỷ lệ đi học là 102,6% ở nữ và 107,4% ở nam Ở bậc trung học phổ thông, tỷ lệ đi học đã giảm xuống rất nhiều so với bậc tiểu học và bậc trung học cơ sở, năm học 2003-2004 chỉ còn 45,2% nữ và 45,7% nam Tuy nhiên so với những năm học trước thì tỷ lệ đi học đã tăng lên và khoảng chênh lệch về tỷ lệ này giữa nam và nữ ngày càng được thu hẹp

Tỷ lệ em gái nhập học đúng độ tuổi ở bậc tiểu học trong nhóm 20% hộ nghèo nhất ở nước ta chỉ đạt 83,8%, của em trai là 89,1% Tỷ lệ này ở nhóm 20% hộ giàu nhất đạt tới 98,8% đối với trẻ em trai và 96,8% với trẻ em gái Như vậy sự chênh lệch về tỷ lệ nhập học đúng tuổi bậc tiểu học chênh lệch về giới là 5,3% với các hộ gia đình nghèo và 2,0% với các hộ gia đình giàu

Sinh viên cao đẳng đại học

Ngày đăng: 30/11/2019, 20:29

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w