* Đẳng thức về giá trị gia tăng có tính đến yếu tố môi trường đối với một ngành kinh tế, được thể hiện như sau: EVAi = Oi - IIi - CCi - ECi = NVAi - ECi Trong đó: EVAi: Giá trị gia tăng
Trang 1ĐỀ TÀI KHOA HỌC SỐ: 2.2.11-CS06
NGHIÊN CỨU KHẢ NĂNG TÍNH TOÁN CHỈ TIÊU GDP XANH Ở
VIỆT NAM
1 Cấp đề tài : Cơ sở
2 Thời gian nghiên cứu : 2006
3 Đơn vị chủ trì : Viện Khoa học Thống kê
4 Đơn vị quản lý : Viện Khoa học Thống kê
5 Chủ nhiệm đề tài : CN Đinh Thị Thúy Phương
6 Những người phối hợp nghiên cứu:
CN Phạm Thị Ngọc Yến;
CN Vũ Văn Tuấn;
CN Nguyễn Thị Hương;
CN Tăng Thanh Hoà
7 Điểm đánh giá nghiệm thu đề tài: 9,05 / Xếp loại: Giỏi
Trang 2PHẦN I NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ PHƯƠNG PHÁP TÍNH
CHỈ TIÊU GDP XANH
1 Khái niệm GDP xanh
GDP xanh là phần còn lại của GDP thuần sau khi đã khấu trừ chi phí về tiêu dùng tài nguyên và mất mát về môi trường do các hoạt động kinh tế
Chỉ tiêu GDP xanh ra đời với mục đích chính để đánh giá chi phí của thiệt hại môi trường với tiêu thụ và sử dụng các nguồn tài nguyên thiên nhiên đến GDP thuần Như vậy chỉ tiêu GDP xanh sẽ phản ánh được thực chất phát
triển kinh tế của một đất nước trên cả ba mặt: kinh tế, xã hội và môi trường
Chỉ tiêu này không những phản ánh tăng trưởng về số lượng mà còn phản ánh
cả chất lượng tăng trưởng, đây là điều quan tâm của mọi quốc gia trên thế giới
2 Phương pháp tính chỉ tiêu GDP xanh
Việc tính toán chỉ tiêu GDP xanh hay nói cụ thể hơn là hạch toán môi trường trong tài khoản quốc gia, đây chính là bước hoàn thiện tài khoản quốc gia của Liên hợp quốc, do vậy phương pháp tính chỉ tiêu GDP xanh được xem xét trên cơ sở của phương pháp tính chỉ tiêu GDP trong hệ thống tài khoản quốc gia Theo thống kê Liên hợp quốc, tính chỉ tiêu GDP xanh có thể xuất phát từ bảng I/O hoặc theo cách hạch toán môi trường
2.1 Phương pháp tính GDP trong Hệ thống Tài khoản Quốc gia
Trong Hệ thống tài khoản quốc gia, các tài khoản chủ yếu được tính toán/hạch toán dựa theo đẳng thức sau (4)
:
* Đẳng thức về nguồn - sử dụng, được thể hiện như sau:
O + M = IC + C + CF + X Trong đó:
O: Giá trị sản phẩm vật chất và dịch vụ sản xuất ra;
Trang 3* Đẳng thức về gia tăng đối với một ngành kinh tế, được thể hiện như sau:
NVAi = Oi - IIi - CCi Trong đó:
NVAi: Giá trị gia tăng thuần ngành i;
Oi: Giá trị sản phẩm vật chất, dịch vụ ngành i sản xuất ra;
IIi: Chi phí trung gian của ngành i;
CCi: Tiêu dùng tài sản cố định của ngành i;
* Đẳng thức về sản phẩm trong nước, được thể hiện như sau:
GDP = C + CF + (X - M) Trong đó:
GDP: Tổng sản phẩm trong nước;
C: Tiêu dùng cuối cùng;
CF: Tổng tích luỹ tài sản;
M: Nhập khẩu hàng hoá và dịch vụ;
X: Xuất khẩu hàng hoá và dịch vụ
2.2 Phương pháp tính GDP xanh trong SEEA (5)
Trong SEEA, các đẳng thức nói trên được điều chỉnh tương ứng, gắn với chi phí do những tổn thất và do sự xuống cấp môi trường mà các hoạt động kinh tế - xã hội gây ra Theo đó, đẳng thức nguồn và sử dụng được điều chỉnh bằng việc dựa vào đó đại lượng IC - vừa là chi phí môi trường, nhưng đồng thời cũng chính là sự tổn thất và sự xuống cấp môi trường do hoạt động kinh
tế gây ra Còn hai chỉ tiêu: VA và GDP sẽ được điều chỉnh tương ứng thành các chỉ tiêu VA có tính tới môi trường (EVA) và GDP có tính tới môi trường (EDP) hoặc GDP xanh
Ứng với ba đẳng thức trên, tính toán/hạch toán gộp môi trường vào các tài khoản kinh tế tương ứng với hệ thống SEEA được biểu thị như sau:
* Đẳng thức về nguồn - sử dụng, được thể hiện như sau:
O + M = (IC + ECc) + C + (CF - ECt) + X
(5)
Nguồn: UNEP, “Integrated Environmental and Economic Accounting: An Operation Manual”, Handbook for National Accounting, United Nations, 2000, tr 39
Trang 4X: Xuất khẩu hàng hoá và dịch vụ
* Đẳng thức về giá trị gia tăng (có tính đến yếu tố môi trường) đối với một ngành kinh tế, được thể hiện như sau:
EVAi = Oi - IIi - CCi - ECi = NVAi - ECi Trong đó:
EVAi: Giá trị gia tăng thuần có yếu tố môi trường của ngành i;
Oi: Giá trị sản phẩm vật chất, dịch vụ ngành i sản xuất ra;
IIi: Chi phí trung gian của ngành i;
CCi: Tiêu dùng tài sản cố định của ngành i;
ECi: Chi phí do tổn thất và xuống cấp môi trường của ngành i gây ra NVAi Giá trị gia tăng thuần của ngành i
* Đẳng thức về sản phẩm trong nước có tính đến yếu tố môi trường, được thể hiện như sau:
M X EC CC CF C EC NDP EC
EVA: Tổng VA thuần có yếu tố môi trường
ECh: Chi phí xử lý ô nhiễm môi trường do tiêu dùng cuối cùng của hộ gia đình gây ra;
NDP: Tổng sản phẩm trong nước thuần;
EC: Chi phí bảo vệ môi trường và giá trị tổn thất, xuống cấp tài nguyên môi trường;
CF: Tích luỹ tài sản;
Trang 5CC: Tiêu dùng tài sản (Khấu hao tài sản)
Trong SEEA, các tài khoản liên quan tới môi trường được gắn kết với tài khoản kinh tế như trình bày trong 3 đẳng thức trên Theo đó đã có hai khoản được bổ sung vào SNA truyền thống dưới dạng hiện vật và giá trị, đó là:
Thứ nhất, đó là sự tiêu hao tài sản môi trường do hoạt động kinh tế gây
ra, thể hiện ở “tiêu dùng vốn tài nguyên thiên nhiên”, bao gồm các loại tài nguyên như nước, đất, rừng, v.v Đây là những loại tài sản thường không được thể hiện trong tài sản kinh tế của SNA;
Thứ hai, đó là những chi phí môi trường mà các ngành kinh tế và hộ gia
đình đã chi trả cho việc sử dụng các tài sản môi trường trong quá trình sản xuất, làm cho các tài sản đó cạn kiệt, xuống cấp Những khoản chi phí này thể hiện ở “chi phí môi trường của ngành kinh tế (ECi)” và “chi phí môi trường của hộ gia đình (ECh)” Trên cơ sở hai khoản mục đó, một số chỉ tiêu kinh tế được điều chỉnh lại như: “tổng tích luỹ tài sản (CF)” được chuyển thành “Tổng tích luỹ tài sản có gắn với môi trường (ECF)”; “Giá trị gia tăng thuần (NVA)” được chuyển thành “Giá trị gia tăng thuần có tính tới môi trường (EVA)”; và “Tổng sản phẩm trong nước thuần (GDP)” chuyển thành
“Tổng sản phẩm trong nước thuần có tính tới môi trường (GDP xanh)” Xuất phát từ phương pháp hạch toán GDP xanh trong SEEA, phương pháp tính chỉ tiêu GDP xanh được thực hiện theo ba phương pháp:
Phương pháp sản xuất: GDP xanh bằng (=) Tổng giá trị gia tăng thuần
có tính đến yếu tố môi trường của các ngành kinh tế trừ (-) chi phí xử lý ô nhiễm môi trường do tiêu dùng cuối cùng của hộ gia đình gây ra
Phương pháp thu nhập: GDP xanh bằng (=) Tổng sản phẩm trong nước
thuần (NDP) trừ (-) chi phí bảo vệ môi trường và giá trị tổn thất, xuống cấp tài nguyên môi trường NDP tính được bằng GDP trừ (-) khấu hao tài sản
Phương pháp tiêu dùng: GDP xanh bằng (=) Tiêu dùng cuối cùng cộng (+) tích luỹ tài sản, trừ (-) khấu hao tài sản, trừ (-) chi phí bảo vệ môi trường
và giá trị tổn thất, xuống cấp tài nguyên môi trường, cộng (+) chênh lệch
xuất khẩu và nhập khẩu hàng hoá, dịch vụ
2.3 Một số điểm khác biệt giữa tính toán GDP trong SNA và SEEA
Thông qua phương pháp tính toán/hạch toán GDP trong SNA và tính toán/hạch toán GDP trong SEEA, đề tài thấy có một số vấn đề khác biệt như sau:
- Tính toán/hạch toán GDP trong SNA chưa thể hiện đầy đủ những chi phí liên quan tới bảo vệ môi trường cũng như chưa phản ánh hết sự xuống
Trang 6cấp, suy thoái nguồn tài nguyên thiên nhiên do các hoạt động kinh tế - đời sống của con người gây ra (theo Salah Serafy và Ernst Lutz, 1989 tr 24) Một trong những nhược điểm của hạch toán GDP trong SNA truyền thống đó là: Chưa thể hiện đầy đủ các khoản chi phí có liên quan tới bảo vệ môi trường và suy thoái tài nguyên, cụ thể như sau:
Thứ nhất, trong các tài khoản của SNA truyền thống không thể hiện
riêng biệt các khoản chi để bảo vệ môi trường hoặc để giảm bớt sự xuống cấp của môi trường Ví dụ: Những chi phí mà nhà máy phải bỏ ra để mua thiết bị kiểm soát hoặc xử lý ô nhiễm; chi phí mà người sử dụng phải bỏ ra để mua thiết bị lọc khí thải lắp vào xe ô tô; chi phí phải bỏ ra để phục hồi lại những tài sản đã mất đi do lũ lụt gây ra (6)
, cho đến nay đều được hạch toán gộp chung lại với những khoản chi khác trong hệ thống kế toán doanh nghiệp hoặc được hạch toán vào tài khoản thu nhập của quốc gia (7) Song vấn đề ở chỗ những chi phí này không được hạch toán riêng biệt để từ đó, những chủ thể đã gây ra tác động tới môi trường có thể thấy được mức độ chi phí mà họ phải bỏ ra để bù đắp tổn hại cho môi trường như thế nào? Chính vì vậy, các chi phí này dường như không tác động tới hành vi thân thiện với môi trường của các nhà sản xuất cũng như của những nhà hoạch định chính sách (vì đã bị
ẩn lẫn với các khoản mục chi khác)
Thứ hai, môi trường cung cấp cho con người nhiều loại sản phẩm, trong
đó có nhiều loại sản phẩm tuy có giá trị, nhưng lại không được trao đổi mua bán trên thị trường hoặc chỉ được mua với giá thấp (ví dụ như nguồn tài nguyên nước, v.v ), do vậy nhiều trường hợp, giá trị của những loại sản phẩm đó không được biểu thị trong giá sản phẩm (do bị bỏ qua) hoặc không thể tách riêng biệt từ giá của sản phẩm được đem bán trên thị trường
Thứ ba, trong thực tế môi trường cung cấp nhiều loại dịch vụ cho đời
sống con người (như rừng có tác dụng bảo vệ lưu vực sông, điều hoà khí hậu;
hệ sinh thái có tác dụng lọc chất ô nhiễm trong nước và không khí, v.v ) Tuy nhiên những loại dịch vụ này không được tính trong SNA, mà cụ thể là giá trị sản phẩm dịch vụ phục vụ cho tiêu dùng cuối cùng của dân cư Một trong những lý do của sự bỏ qua này là trong nhiều trường hợp, người ta không thể định giá các sản phẩm và dịch vụ của môi trường bằng giá thị trường
Thứ tư, GDP trong SNA tính cả phần khấu hao tài sản cố định (máy
móc, thiết bị) vào tài khoản khấu hao Trong khi đó, phần trữ lượng tài
(6)
Nguyên nhân sâu xa là do tài nguyên rừng bị con người tàn phá
(7) Vấn đề hạch toán môi trường trong tài khoản quốc gia, Tr 30
Trang 7nguyên bị mất đi do bị khai thác và do được sử dụng trong quá trình sản xuất lại được tính vào tài khoản thu nhập Theo các nhà môi trường, nguồn tài nguyên cũng phải được coi là một loại tài sản Do đó, sự suy giảm trữ lượng nguồn tài nguyên trong quá trình sản xuất cũng phải được tính vào tài khoản khấu hao giống như các tài sản cố định khác
- Tính toán/hạch toán GDP trong SEEA (hay GDP xanh) về cơ bản dựa trên sự hạch toán GDP trong SNA, tuy nhiên hạch toán GDP trong SEEA đã trừ phần khấu hao tài sản cố định đồng thời có sự bổ sung thêm những thông tin về tài sản môi trường dưới dạng hiện vật và giá trị, về quá trình sử dụng tài sản đó vào sản xuất, tiêu dùng của hộ dân cư và xã hội, hay nói một cách khác hạch toán GDP trong SEEA (hay GDP xanh) đã thể hiện khá đầy đủ những chi phí liên quan tới bảo vệ môi trường cũng như phản ánh sự xuống cấp, suy thoái nguồn tài nguyên thiên nhiên do các hoạt động kinh tế - đời sống của con người gây ra
Tuy nhiên để tính toán đầy đủ bằng giá trị các tài khoản môi trường và việc ước tính chỉ tiêu GDP xanh không chỉ phụ thuộc vào giá trị các tài sản được sản xuất ra mà còn phụ thuộc vào giá trị của các tài sản tự nhiên không
do sản xuất tạo ra Liên hợp quốc đã giới thiệu ba phương pháp định giá môi trường trong hệ thống SEEA (8)
đó là: Định giá nguồn tài nguyên theo giá thị
trường; Định giá việc bảo vệ, phục hồi tài sản môi trường; Định giá dịch vụ môi trường theo phương pháp ngẫu nhiên
2.3.1 Định giá nguồn tài nguyên thiên nhiên theo giá thị trường
Phương pháp định giá nguồn tài nguyên theo giá thị trường được sử dụng để tính mức khấu hao tài nguyên Qua đó có thể tính được những thay đổi về giá trị của nguồn tài nguyên đã được ghi trong mục “sự thay đổi về lượng khác” trong tài khoản tài sản của SNA Sự thay đổi này bao gồm: khấu hao tài nguyên; sự cạn kiệt nguồn tài nguyên do khai thác và sự xuống cấp chất lượng tài nguyên do ô nhiễm môi trường gây ra (được tính bằng giá thị trường của trữ lượng tài nguyên đó) Trong SEEA, giá thị trường của khấu hao tài nguyên, sự cạn kiệt và sự xuống cấp chất lượng tài nguyên được chuyển từ tài khoản mục “sự thay đổi về lượng khác” trong tài khoản Tài sản sang tài khoản Sản xuất
Trên thực tế, có thể sử dụng giá thị trường để xác định giá trị của nguồn tài nguyên Trong trường hợp như vậy, có thể áp dụng một số phương pháp tính sau:
(8) Handbook on “Intergrated Environmental and Economic Accounting - An Operational Manual”, 2000
Trang 8Tính giá trị hiện tại thuần (net present value - NPV) của trữ lượng tài nguyên: Bằng cách lấy giá thị trường của hàng hoá, dịch vụ (dự kiến) mà
nguồn tài nguyên có thể cung cấp, trừ (-) chi phí (dự kiến) phải bỏ ra để khai
thác nguồn tài nguyên đó sẽ được phần thu hồi tịnh, rồi từ đó chuyển thành giá hiện tại bằng cách sử dụng tỷ lệ chiết khấu
Tuy nhiên khó khăn của việc áp dụng phương pháp này là khó có thể tính giá hiện tại của trữ lượng tài nguyên nào đó, nếu như tài nguyên này do nhiều ngành kinh tế khác nhau đồng thời cùng khai thác sử dụng Trong trường hợp như vậy đòi hỏi phải có thông tin về chi phí và khai thác tài nguyên của mỗi ngành kinh tế Để có được thông tin chi tiết như vậy là rất phức tạp Hơn nữa việc áp dụng tỷ lệ chiết khấu là bao nhiêu để tính NPV của trữ lượng nguồn tài nguyên cũng là một vấn đề đang còn tranh cãi Nếu
áp dụng các tỷ lệ chiết khấu khác nhau thì sẽ cho kết quả giá trị hiện hành của các tài nguyên khác nhau
- Tính giá tịnh (net price) của tài nguyên: Phương pháp này bỏ qua sự
giảm sút giá trị của tài nguyên do bị xuống cấp theo thời gian Đơn giá tịnh
của một đơn vị tài nguyên được tính bằng giá thị trường thực tế của nó trừ (-) chi phí khai thác một đơn vị tài nguyên Giá trị của nguồn tài nguyên sau đó
được tính bằng khối lượng của nguồn tài nguyên nhân (x) với đơn giá một đơn vị tài nguyên
- Xác định tương đối giá trị xuống cấp, cạn kiệt nguồn tài nguyên,
được tính đơn giản bằng hiệu giá trị của trữ lượng tài nguyên (theo cách tính
trình bày ở trên) vào đầu kỳ trừ (-) giá trị trữ lượng tài nguyên vào cuối kỳ
xem xét Ngoài ra, có thể thay thế cách tính này qua cách tính tổng thu nhập nhận được từ việc khai thác nguồn tài nguyên trong thời kỳ xem xét
2.3.2 Định giá việc bảo vệ, phục hồi tài sản môi trường
Phương pháp tính giá trị tài nguyên môi trường bằng giá trị thị trường nêu trên chỉ được áp dụng đối với những loại tài nguyên có thể tính được giá trị kinh tế của nó Nói cách khác, nó chỉ được áp dụng đối với những loại tài nguyên có thể giao dịch được trên thị trường (như các loại khoáng sản, một
số loại đất đai, v.v ) trong khi đó đối với một số loại tài nguyên khác (chẳng hạn như nước, không khí, đất hoang, đa dạng sinh học, v.v ) thì không thể
áp dụng cách tính trực tiếp giá trị của chúng theo giá thị trường vì những tài nguyên này ít được đem ra thị trường mua bán Để tính được sự thay đổi về giá trị của những loại tài nguyên môi trường này, người ta có thể sử dụng cách tính chi phí để duy trì, bảo toàn nguồn tài nguyên thay thế cho cách tính dựa vào giá thị trường nói trên
Trang 9Chi phí để bảo vệ, phục hồi tài nguyên môi trường là chi phí lẽ ra phải
bỏ ra trong một thời kỳ nhất định để tránh sự xuống cấp hay tránh những tác động tiêu cực có thể xảy ra cho môi trường do hoạt động kinh tế gây ra Giá trị tổn thất về môi trường do các hoạt động kinh tế gây ra, nó không chỉ xảy
ra trong hiện tại (trong thời kỳ xem xét) mà nó còn có khả năng ảnh hưởng đến tương lai Nói cách khác, đây là tổng thể của những tổn thất về khả năng cung ứng của môi trường do các hoạt động kinh tế hiện tại có thể gây ra (vào thời điểm hiện tại hay trong tương lai) Với cách tiếp cận như vậy thì giá trị kinh tế của những tổn thất môi trường đã xảy ra trong giai đoạn hiện tại mới chỉ phản ánh một phần các tác động của môi trường đến đời sống kinh tế - xã hội trong hiện tại mà chưa phản ánh khả năng ảnh hưởng đến tương lai
Trong trường hợp các hoạt động kinh tế không gây tác động xấu tới chất lượng môi trường thì chi phí duy tu, bảo toàn chất lượng môi trường được coi
như bằng 0 Ví dụ như: Tốc độ khai thác rừng và nguồn hải sản bằng hoặc
nhỏ hơn tốc độ tái tạo tự nhiên của các loại tài nguyên đó; hay nguồn nước tự nhiên đủ thoả mãn nhu cầu của hoạt động kinh tế, sinh hoạt mà không làm xấu đi chất lượng nước; hay môi trường tự nhiên có đủ khả năng hấp thụ lượng chất ô nhiễm thải ra từ hoạt động kinh tế, sinh hoạt, v.v
Chi phí bảo vệ, phục hồi chất lượng môi trường cũng đã phần nào được tính và đưa vào “tổng tích luỹ tài sản” (CF) là một bộ phận hợp thành GDP theo phương pháp sử dụng cuối cùng trong SNA truyền thống Tuy nhiên, trong hệ thống SEEA đã khuyến nghị nên loại ra từ GDP hay tổng VA những chi phí mà các khu vực kinh tế phải bỏ ra để duy trì và bảo đảm chất lượng môi trường theo tiêu chuẩn quy định
2.3.3 Định giá dịch vụ môi trường theo phương pháp ngẫu nhiên
Định giá dịch vụ môi trường theo phương pháp ngẫu nhiên liên quan tới việc đưa ra các tình huống giả định để hỏi một nhóm đối tượng có liên quan xem họ sẵn sàng chi trả bao nhiêu tiền để được hưởng thụ một loại dịch vụ môi trường nào đó Trong một số trường hợp khác, các đối tượng có liên quan được hỏi xem họ sẵn sàng chi trả bao nhiêu tiền bồi thường để chấp nhận không hưởng thụ dịch vụ môi trường Phương pháp này được thực hiện dưới dạng các cuộc phỏng vấn trực tiếp các đối tượng có liên quan hay trả lời của họ qua các phiếu hỏi
Trong SEEA, định giá theo phương pháp ngẫu nhiên thường được áp dụng khi phải xác định giá trị của các dịch vụ môi trường hay mức độ thiệt hại, tổn thất đối với môi trường Chẳng hạn, để tính mức độ tổn hại của sự cố
Trang 10môi trường nào đó, người ta sử dụng phương pháp ngẫu nhiên để xác định không chỉ những tổn thất về kinh tế mà cả những tổn thất về sức khoẻ của những người được hỏi Trong trường hợp này câu hỏi sẽ đặt ra là “Bạn chấp nhận bao nhiêu tiền để bù đắp những tổn hại về vật chất và sức khoẻ do sự cố môi trường gây ra?”, tiếp đó sẽ đưa ra một số mức kinh phí và hình thức thanh toán được đưa ra để người được hỏi lựa chọn sao cho phù hợp với sự đánh giá của cá nhân được phỏng vấn
Nhìn chung phương pháp ngẫu nhiên rất khó đo được một cách chính xác giá trị thực của dịch vụ môi trường cũng như về mức độ tổn hại (theo giá trị) đối với môi trường Đặc biệt, rất khó có thể đảm bảo độ chính xác của phương pháp khi được sử dụng để xác định giá trị của các tổn hại môi trường
có thể xảy ra trong tương lai
Trên thực tế, việc áp dụng các phương pháp nêu trên để xác định giá trị tài nguyên và mức độ tổn hại của môi trường do các hoạt động kinh tế - xã hội gây ra là không hề đơn giản, giá trị các sản phẩm và lao động có thể xác định được khi đưa ra thị trường và giá trị của chúng được phản ánh qua giá thị trường Nhưng còn yếu tố môi trường thì sẽ phản ánh như thế nào? vì khi
nó không đưa vào thị trường Do vậy theo một số chuyên gia kinh tế đã
khuyến nghị nên thay Chi phí tiêu dùng tài nguyên và mất mát về môi trường
do các hoạt động kinh tế bằng chi phí của những hoạt động chống ô nhiễm
Chi phí môi trường hay chi phí của những hoạt động chống ô nhiễm của một
dự án cụ thể là chỉ tiêu có thể ước tính được theo giá thị trường hay chi phí thực tế một dự án đã chi ra để chống ô nhiễm môi trường
3 Phương pháp tính GDP xanh xuất phát từ mô hình I/O mở rộng
Mô hình I/O được mở rộng và sử dụng các công cụ để phân tích các vấn
đề ô nhiễm môi trường Xuất phát từ mô hình I/O rút gọn được thể hiện đó là quan hệ của các số lớn phản ánh các quan hệ giữa các ngành trong nền kinh
tế của quá trình sản xuất và sử dụng sản phẩm trong nước và sản phẩm nhập khẩu theo một hệ thống hàm tuyến tính Hàm này thể hiện mối quan hệ về công nghệ sản xuất và sử dụng sản phẩm trong một thời kỳ nhất định Mô hình I/O sẽ thể hiện một cách khái quát cấu trúc bởi các ngành theo cột và được coi là các ngành sản xuất; các ngành theo dòng được coi là các ngành
sử dụng (theo sơ đồ số 1)
Trang 11Sơ đồ số 1 Mô hình I/O
(Final demand - FD)
Tổng sử dụng (Gross output) Các ngành
sản phẩm
Tiêu dùng trung gian (Intermediate consumption - IC); Ô1
Y Ô2
- Ô1 Tiêu dùng trung gian: Thể hiện chi phí trung gian của các ngành,
bao gồm các ngành sản xuất ra sản phẩm vật chất và các ngành sản xuất ra sản phẩm dịch vụ; phần tử aij của ma trận A thể hiện ở Ô1 phản ánh ngành j
sử dụng sản phẩm i làm chi phí trung gian trong quá trình sản xuất ra sản phẩm j
- Ô2 Sử dụng cuối cùng: Thể hiện những sản phẩm vật chất và sản
phẩm dịch vụ được sử dụng cho nhu cầu cuối cùng, bao gồm được sử dụng cho: tiêu dùng cuối cùng, tích luỹ tài sản, xuất khẩu và nhập khẩu
- Ô3 Tổng giá trị tăng thêm: Bao gồm các khoản thu nhập của người lao động; thuế sản xuất; thặng dư sản xuất và khấu hao tài sản cố định
Quan hệ hàm số cơ bản của mô hình I/O có dạng:
AX + Y = X (1)
Hoặc X = (I - A)1
Y Trong đó:
A là hệ số chi phí trung gian trực tiếp;
X là véc tơ giá trị sản xuất;
Y là véc tơ sử dụng cuối cùng
Tuy nhiên theo sơ đồ số 1 (Mô hình I/O) đơn giản chưa thấy thể hiện rõ nét sự thay đổi tổng sử dụng (GO) của mỗi ngành sản phẩm hay tổng chi phí của mỗi ngành sản xuất sẽ ảnh hưởng như thế nào đến vấn đề môi trường Do
Trang 12vậy để xác định mức độ ảnh hưởng đến môi trường do các hoạt động sản xuất gây ra bằng cách thông qua sự mở rộng của mô hình I/O hay nói cách khác xác định tính GDP xanh thông qua mô hình I/O mở rộng
Trong mô hình I/O mở rộng thừa nhận có 2 loại hình hoạt động, đó là: (1) Tất cả các hoạt động kinh tế
(2) Hoạt động chống chất thải gây ô nhiễm môi trường (gồm chất thải đầu vào và chất thải đầu ra) của các hoạt động kinh tế
GDP xanh = GDP - Chi phí của những hoạt động chống ô nhiễm
Mô hình I/O mở rộng dựa trên cơ sở n ngành (loại trừ các hoạt động chống lại chất thải gây ô nhiễm môi trường); m là số loại chất thải gây ô nhiễm môi trường, được xác định theo các véc tơ và ma trận như sau:
A1: là hệ số chi phí trung gian trực tiếp ma trận cấp (n x n) của n ngành kinh tế, các chi phí sản xuất từ các hoạt động kinh tế (đo lường bằng đơn vị tiền tệ) so với đơn vị giá trị sản xuất của các hoạt động kinh tế
X1: là véc tơ giá trị sản xuất cấp (n x 1) của các hoạt động kinh tế, (đo lường bằng đơn vị tiền tệ)
Y1: là véc tơ sử dụng sản phẩm cuối cùng cấp (n x 1) từ các hoạt động kinh tế, (đo lường bằng đơn vị tiền tệ)
Xg: là véc tơ giá trị sản xuất cấp (m x 1) của các hoạt động chống lại chất thải gây ô nhiễm môi trường do các ngành kinh tế tạo ra, (đo lường bằng đơn vị vật chất)
g1: là ma trận hệ số các chất thải gây ô nhiễm môi trường trực tiếp từ các hoạt động kinh tế, ma trận cấp (m x n), với m là số loại chất thải gây ô nhiễm môi trường và n là số ngành sản phẩm được nghiên cứu trong mô hình, phần
tử của ma trận phản ánh khối lượng chất thải (đơn vị tính là vật chất) trên 1 đơn vị sản phẩm (đơn vị tính là tiền tệ) được tạo ra trong quá trình sản xuất ra sản phẩm đó;
g2: là ma trận hệ số các chất thải gây ô nhiễm môi trường trực tiếp từ các hoạt động chống lại chất thải gây ô nhiễm môi trường, ma trận cấp (m x n), m
là số loại chất thải gây ô nhiễm môi trường, phần tử của ma trận phản ánh khối lượng chất thải gây ô nhiễm môi trường (đơn vị tính vật chất) trên 1 đơn
vị khối lượng chất thải gây ô nhiễm môi trường được xử lý (đơn vị tính là vật chất) được tạo ra từ các hoạt động chống lại chất thải gây ô nhiễm;
Trang 13g3: là ma trận hệ số các chất thải trực tiếp gây ô nhiễm môi trường từ tiêu dùng cuối cùng hộ gia đình, ma trận cấp (m x n), m là số loại các chất thải gây ô nhiễm môi trường (đơn vị tính vật chất), phần tử của ma trận phản ánh khi hộ gia đình tiêu dùng sản phẩm j thì sẽ tạo ra chất thải loại i
H: là ma trận hệ số chi phí trung gian trực tiếp của các hoạt động chống lại chất thải gây ô nhiễm môi trường, ma trận cấp (n x m), phần tử của ma trận thể hiện hoạt động chống lại chất thải loại j thì cần phải sử dụng sản phẩm i làm chi phí trung gian
Yg: là véc tơ thể hiện các chất thải gây ô nhiễm môi trường không được
xử lý, cấp của véc tơ là (1 x m)
Xác định các véc tơ của chất thải gây ô nhiễm môi trường tạo ra trong các hoạt động kinh tế và các véc tơ của chất thải gây ô nhiễm môi trường từ các hoạt động chống lại chất thải gây ô nhiễm môi trường, vận dụng từ mô hình I/O được thể hiện như sau:
X1 = AX1 + HXg + Y1 (2)
Xg = g1X1 + g2Xg + g3Y1 - Yg (3)
+ Công thức (2) dựa trên quan hệ hệ thống I/O, nó chỉ ra việc sử dụng
giá trị sản phẩm của các hoạt động kinh tế, trong đó:
- AX1: là chi phí sản xuất đầu vào được sử dụng trong quá trình sản xuất
ra sản phẩm của các hoạt động kinh tế;
- HXg: là chi phí đầu vào của hoạt động xử lý các chất thải gây ô nhiễm môi trường;
- Xg: là số lượng chất thải gây ô nhiễm môi trường được xử lý;
- H: là ma trận hệ số chi phí trung gian trực tiếp của các hoạt động chống lại chất thải gây ô nhiễm môi trường;
- Y1: là sản phẩm của các hoạt động kinh tế nó được sử dụng cho tiêu dùng cuối cùng, giả sử không có sử dụng cuối cùng nào khác
+ Công thức (3) chỉ ra tổng số khối lượng chất thải gây ô nhiễm môi
trường Xg đượcxử lý Nó tương đương với khối lượng chất thải gây ô nhiễm môi trường do các ngành kinh tế tạo ra (ví dụ: g1X1), các chất gây ô nhiễm
môi trường được tạo ra bởi đầu ra của các hoạt động xử lý các chất thải gây ô
nhiễm môi trường (ví dụ các chất thải gây ô nhiễm môi trường được tạo ra từ