Những nhân tố ảnh hưởng đến chuyển đổi các chỉ tiêu kinh tế thuộc TKQG giữa các năm gốc với nhau Để so sánh các chỉ tiêu giá trị giữa các năm gốc với nhau, cần phải quan tâm và giải quy
Trang 1ĐỀ TÀI KHOA HỌC SỐ: 2.1.7-TC06
NGHIÊN CỨU ĐỔI NĂM GỐC SO SÁNH 1994 SANG NĂM GỐC
SO SÁNH 2005 CỦA MỘT SỐ CHỈ TIÊU THUỘC THỐNG KÊ
TÀI KHOẢN QUỐC GIA
1 Cấp đề tài : Tổng cục
2 Thời gian nghiên cứu : 2006
3 Đơn vị chủ trì : Vụ Hệ thống tài khoản quốc gia
4 Đơn vị quản lý : Viện Khoa học Thống kê
5 Chủ nhiệm đề tài : CN Bùi Bá Cường
6 Những người phối hợp nghiên cứu:
CN Nguyễn Thị Mai Hạnh CN Nguyễn Văn Minh
PGS TS Nguyễn Sinh Cúc CN Vũ Văn Tuấn
8 Điểm đánh giá nghiệm thu đề tài: 8,51 / Xếp loại: Khá
Trang 2PHẦN I PHƯƠNG PHÁP LUẬN TÍNH CHUYỂN MỘT SỐ CHỈ TIÊU THUỘC THỐNG KÊ TÀI KHOẢN QUỐC GIA TỪ GIÁ THỰC TẾ VỀ GIÁ SO SÁNH NĂM GỐC VÀ TỪ MỘT NĂM GỐC SANG MỘT NĂM GỐC KHÁC
1 Những nhân tố ảnh hưởng đến chuyển đổi các chỉ tiêu kinh tế thuộc TKQG giữa các năm gốc với nhau
Để so sánh các chỉ tiêu giá trị giữa các năm gốc với nhau, cần phải quan tâm và giải quyết các vấn đề giữa các năm gốc sau:
- Biến động về ngành kinh tế, ngành sản phẩm và loại hình kinh tế
- Thay đổi về phương pháp tính và nguồn số liệu để tính các chỉ tiêu giá trị
- Biến động về giá cả và biên soạn chỉ số giá
a Biến động về ngành kinh tế, ngành sản phẩm và loại hình kinh tế
Biến động về ngành kinh tế, ngành sản phẩm và loại hình kinh tế là những thay đổi liên quan đến thay đổi các bảng phân ngành kinh tế, phân ngành sản phẩm và loại hình kinh tế
b Thay đổi phương pháp đánh giá đối với từng chỉ tiêu giá trị cụ thể, tức là thay đổi phương pháp hạch toán, phương pháp tính đi liền với thay đổi với đơn vị thu thập số liệu
- Đối với các chỉ tiêu tính theo giá thực tế khi thay đổi nguyên tắc tính đối với các chỉ tiêu giá trị sẽ cho tốc độ tăng trưởng hoặc cơ cấu ngành sản phẩm khác nhau, thể hiện ở các thay đổi:
+ Tính chỉ tiêu giá trị sản xuất theo giá nào: giá cơ bản, giá sản xuất hay giá sử dụng cuối cùng?
+ Thông tin để tính giá trị sản xuất từ tiêu thụ sản phẩm, theo chi phí tạo
ra sản phẩm, tính trực tiếp từ khối lượng sản xuất nhân (x) với đơn giá bình quân của sản phẩm, hay tính từ phân tích luồng sản phẩm?
+ Tính giá trị sản xuất theo đơn vị cơ sở, theo doanh nghiệp hay theo một ngành kinh tế?
+ Tính giá trị sản xuất theo nguyên tắc “chuyển giao quyền sở hữu” hay nguyên tắc “thực thanh, thực chi” Tính giá trị sản xuất cho loại sản phẩm hàng hoá (có bán trên thị trường) hay sản phẩm phi thị trường?
- Đối với các chỉ tiêu tính theo giá so sánh:
Trang 3Áp dụng phương pháp nào trong 3 phương pháp sau:
+ Phương pháp giảm phát
+ Phương pháp chỉ số khối lượng
+ Phương pháp xác định giá trị trực tiếp từ giá và lượng của từng loại sản phẩm
Áp dụng phương pháp khác nhau sẽ cho kết quả khác nhau
c Biến động về giá cả và biên soạn chỉ số giá
Sự biến động về giá cả và áp dụng phương pháp tính chỉ số giá phụ thuộc vào:
+ Mức độ chi tiết, đầy đủ trong lập danh mục về khối lượng và đơn giá của từng nhóm sảm phẩm giữa các năm gốc
+ Áp dụng phương pháp (công thức) để tính chỉ số giá giữa các năm gốc + Mức độ chi tiết và phạm vi trong xây dựng quyền số dùng để tính chỉ
số giá giữa các năm gốc
+ Thay đổi chất lượng sản phẩm sản xuất trong từng thời kỳ áp dụng năm gốc phản ánh qua khối lượng sản phẩm của từng thời kỳ được đề cập và được xử lý đến đâu?
+ Mức độ chi tiết, đầy đủ của hệ thống chỉ số giá: chỉ số giá sản xuất (PPI), chỉ số giá tiêu dùng (CPI), chỉ số giá đầu vào, chỉ số giá xuất nhập khẩu, …?
Để có thể so sánh chuỗi số liệu giá trị theo thời gian về cùng một năm gốc, cần hạn chế hoặc loại bỏ những ảnh hưởng của những nhân tố đã nêu ở trên, tức là:
- Phải đưa về cùng một phân loại mà năm 2005 đang sử dụng
- Phương pháp tính từng chỉ tiêu giá trị theo giá thực tế, theo giá so sánh
ở các thời kỳ có năm gốc khác nhau phải áp dụng cùng nguyên tắc và phương pháp, tức là nguyên tắc và phương pháp đo lường của năm 2005
- Áp dụng cùng một phương pháp để loại trừ sự biến động về giá cả
2 Lý luận chung để chuyển đổi giá năm gốc và chuyển giá thực tế về giá so sánh
Căn cứ để chuyển đổi năm gốc so sánh xét về mặt kinh tế, do có sự thay đổi nhiều về cơ cấu kinh tế của năm hiện hành so với năm được chọn làm gốc Theo thời gian, do phát triển kinh tế, các sản phẩm sản xuất ra, do yêu cầu của sử dụng luôn biến động, giá cả các sản phẩm của năm hiện hành
Trang 4quá chênh lệch so với giá cả của năm gốc, cơ cấu giá trị sản xuất của các ngành kinh tế, của các sản phẩm dùng làm quyền số để tính chỉ số giá của năm được chọn làm gốc có nhiều biến động, năm hiện hành càng xa với năm gốc đã chọn nếu tiếp tục dùng năm gốc sẽ không phản ánh đúng thực chất phát triển của nền kinh tế Đối với một đất nước, khi công tác kế hoạch hoá
có vai trò cực kỳ quan trọng để hoạch định chính sách trong điều hành và quản lý nền kinh tế thì năm được chọn làm gốc để thay cho năm gốc cũ thường là năm có nền kinh tế ổn định và là năm đầu của một kỳ kế hoạch trung và dài hạn
Nếu nền kinh tế phát triển ổn định, thông thường khoảng 10 đến 15 năm
sẽ thay đổi năm gốc so sánh Song đối với một đất nước đang phát triển và nhất là đất nước chuyển đổi (từ nền kinh tế kế hoạch hoá tập trung sang nền
kinh tế thị trường), thông thường 5 đến 10 năm phải thay đổi năm gốc so sánh
2.1 Chuyển đổi giá năm gốc
Khi nói đến giá là nói đến giá của sản phẩm, như vậy ý niệm về giá tương ứng với giá trị sản xuất; điều này rất quan trọng khi tính toán giá của một nhóm sản phẩm, vì khi tính giá theo nhóm sản phẩm phải cần đến giá trị sản xuất để làm quyền số, do đó khi đề cập đến giá của một nhóm mặt hàng nào đó có nghĩa đã là giá bình quân gia quyền theo giá của các mặt hàng chi tiết hơn, khi các nhóm sản phẩm càng được gộp lớn thì giá của nhóm sản phẩm gộp càng xa với giá của hàng hoá chi tiết trong đó
Tương tự như vậy, chỉ số giá là chỉ số giá của sản phẩm hoặc nhóm sản phẩm, chỉ số giá có thể là chỉ số giá của năm sau so với năm trước hoặc của một năm so với một năm cố định nào đó (thường được gọi là năm gốc), có thể dễ dàng nhận thấy chỉ số giá của một năm nào đó so với năm gốc là chỉ số giá bình quân của nhiều hoặc rất nhiều loại hàng hoá khác nhau nằm trong nhóm sản phẩm đang được khảo sát về giá Trong một nền kinh tế đặc biệt đối với những nước đang phát triển các sản phẩm luôn luôn thay đổi, một số sản phẩm mới xuất hiện và một số sản phẩm khác mất đi, nên năm khảo sát
mà quá xa năm gốc sẽ không thể tính được chỉ số giá của năm khảo sát so với năm gốc do quyền số các mặt hàng (mới xuất hiện hoặc mất đi) thay đổi; đấy
là lý do chủ yếu dẫn đến việc phải thay đổi năm gốc
2.2 Chuyển giá thực tế về giá so sánh
Để tính được tốc độ tăng trưởng về giá trị sản xuất (GO) và GDP cần phải tính được GO và GDP theo giá so sánh - điều này có nghĩa cần loại trừ
Trang 5biến động của yếu tố giá cả qua các năm Qua đó có thể nhận thấy việc chọn năm gốc là rất quan trọng
Việc tính chuyển chỉ tiêu GDP về giá năm gốc (GDP theo giá so sánh) cần phải được tiến hành qua những tính toán trung gian và phương pháp cơ bản được cả thế giới áp dụng là sử dụng bảng I/O (Input - Output table) hoặc bảng Nguồn và sử dụng (Supply and Use tables - S.U.T) của năm gốc để tính chuyển GDP của các năm sau đó về năm có bảng S.U.T Như vậy một vấn đề rất quan trọng là năm gốc phải là năm có bảng S.U.T hoăc bảng I/O
Giá trị sản xuất của ngành sản phẩm nào đó theo giá thực tế chia cho chỉ
số giá của nhóm ngành tương ứng là giá trị sản xuất của ngành sản phẩm đó theo giá so sánh năm gốc, vì vậy một vấn đề rất quan trọng cần xác định giá của giá trị sản xuất Giá trị sản xuất có thể xác định theo 3 loại giá: giá sử dụng cuối cùng, giá người sản xuất và giá cơ bản Như vậy cần xác định giá
gì của giá trị sản xuất để áp dụng các chỉ số giá tương ứng?
Hiện nay ở Việt Nam, chỉ tiêu GDP theo giá so sánh được tính theo hai phương pháp: phương pháp sản xuất và phương pháp sử dụng cuối cùng Theo phương pháp sản xuất GDP được tính bằng tổng giá trị tăng thêm của các ngành kinh tế cộng với thuế nhập khẩu hàng hóa và dịch vụ Việc tính toán này được thực hiện một cách khoa học trong mối quan hệ tổng thể về cung, cầu hàng hóa và các ảnh hưởng của sự tác động kinh tế liên ngành dựa trên những điều kiện nhất định Điều kiện quan trọng để thực hiện được phương pháp xác định chỉ tiêu GDP theo giá so sánh trong mối quan hệ liên ngành này là cần phải có bảng Nguồn và Sử dụng (bảng S.U.T) và một hệ thống chỉ số giá tương ứng Chỉ tiêu GDP theo giá so sánh được ước tính dựa vào bảng SUT cho phép phản ánh được đúng đắn tốc độ tăng trưởng không chỉ trên toàn bộ nền kinh tế mà còn cho thấy những đóng góp vào tăng trưởng kinh tế của từng ngành kinh tế cụ thể Đồng thời, cùng với việc sử dụng bảng SUT và một số chỉ số giá phù hợp có thể kiểm tra, đánh giá được kết quả tính toán chỉ tiêu GDP theo phương pháp sản xuất qua việc so sánh kết quả tính toán chỉ tiêu này theo phương pháp sử dụng cuối cùng (hoặc phương pháp phân phối)
3 Phương pháp tính chuyển GDP từ giá thực tế về giá so sánh
3.1 Giới thiệu về bảng nguồn và sử dụng (S.U.T)
Cấu trúc tổng quát của hệ thống này như sau:
Trang 6- Bảng nguồn, theo dòng mô tả chi tiết nguồn sản phẩm do sản xuất
trong nước và nhập khẩu tạo nên, theo cột mô tả các sản phẩm được sản xuất
ra trong mỗi ngành
- Bảng sử dụng mô tả chi tiết luồng sản phẩm được sử dụng trong quá
trình sản xuất theo ngành kinh tế như: cho tiêu dùng trung gian, cho tích luỹ tài sản, cho tiêu dùng cuối cùng và cho xuất khẩu (theo dòng) Bảng sử dụng cũng mô tả tài khoản sản xuất và tài khoản tạo thu nhập (theo cột)
Trong sơ đồ 1, tổng theo cột bằng tổng theo dòng Sau đây là cấu tạo chi tiết bảng nguồn và sử dụng:
Nhập khẩu (giá cif)
Tổng nguồn (giá
cơ bản)
Thuế sản phẩm
Phí lưu thông
Tổng nguồn theo giá SDCC
Trang 7(2) Như vậy tổng giá trị của từng sản phẩm được sản xuất ra trong nước và tổng giá trị sản xuất của từng ngành kinh tế (theo giá cơ bản) được tính theo công thức (1) và (2)
- Từ kết quả điều tra về hàng hoá nhập khẩu xác định được các phần tử của cột B
- Các phần tử của cột C “Tổng nguồn theo giá cơ bản” sẽ được tính toán theo công thức sau:
Ci = Ai + Bi (i 1 ,n)
- Thuế sản phẩm ở cột D hàm ý bao gồm thuế đối với sản phẩm trong nước và thuế nhập khẩu Số liệu này thu thập từ Vụ Chính sách Thuế - Bộ Tài chính
- Số liệu về phí lưu thông ở cột E lấy từ tổng hợp và xử lý kết quả điều tra
- Tổng nguồn theo giá sử dụng cuối cùng bao gồm cả phí lưu thông và thuế hàng hoá nên các giá trị của cột tổng nguồn theo giá sử dụng cuối cùng được tính theo công thức:
Trang 8Tiêu dùng trung gian Nhu cầu cuối cùng
Tổng nguồn theo giá SDCC
Tổng sử dụng cho
sx
Xuất khẩu (giá Fob)
Xij là lượng sản phẩm i dùng cho tiêu dùng trung gian của ngành kinh tế j
- Xij xác định được từ việc xử lý kết quả biểu điều tra “kết quả sản xuất”
và biểu “chi phí sản xuất” của ngành kinh tế
- Tổng giá trị sản phẩm dùng cho sản xuất (Hi) được xác định theo công thức:
Các giá trị Li ở cột L là tổng sử dụng sản phẩm theo giá sử dụng cuối cùng Sau khi bảng nguồn và bảng sử dụng đã được lập ta luôn có mối quan hệ sau: Ei = Li
3.2 Các ứng dụng của bảng nguồn và sử dụng
a Ứng dụng để lập bảng IO: Bảng nguồn và sử dụng được ứng dụng như một bước trung gian trong quá trình lập bảng IO
Trang 9b Một ứng dụng rất quan trọng trong việc lập bảng nguồn và sử dụng
đó là để cân đối và xác minh lại các chỉ tiêu kinh tế vĩ mô như GDP (theo 3 loại giá), tiêu dùng, tích luỹ và xuất, nhập khẩu Một trong những chỉ tiêu này được ước tính không chính xác sẽ dẫn đến rất khó khăn trong cân đối nguồn
và sử dụng (cân đối SUT)
c Tỷ lệ giá trị tăng thêm so với giá trị sản xuất của các ngành có thể được sử dụng để ước tính giá trị tăng thêm hàng năm và hàng quí và từ đó tính được GDP
d Ứng dụng để tính chuyển giá trị sản xuất theo ngành kinh tế về giá trị sản xuất theo ngành sản phẩm Giá trị sản xuất thông thường được các Vụ thống kê chuyên ngành tính theo ngành kinh tế, do đó việc sử dụng bảng nguồn để tính chuyển giá trị sản xuất từ ngành kinh tế sang ngành sản phẩm
là rất hữu ích cho việc tính chuyển đổi giá
e Ứng dụng trong việc tính chuyển GDP về giá so sánh: ứng dụng này được hầu hết các nước trên thế giới áp dụng
PHẦN II THỰC TRẠNG VỀ VIỆC CHUYỂN ĐỔI NĂM GỐC SO SÁNH VÀ TÍNH THEO GIÁ SO SÁNH ĐỐI VỚI MỘT SỐ CHỈ TIÊU TRONG THỐNG KÊ
TÀI KHOẢN QUỐC GIA
I Sơ lược về bảng giá cố định và chọn các năm gốc so sánh đối với một
số chỉ tiêu trong thống kê TKQG
1 Năm gốc so sánh và bảng giá cố định
Từ khi thành lập ngành Thống kê đến nay, ở Việt Nam đã áp dụng hai phương pháp hạch toán kinh tế quốc gia để phản ánh quá trình tái sản xuất xã hội, đó là hệ thống bảng kinh tế quốc dân (MPS) và Hệ thống tài khoản quốc gia (SNA) và đã 6 lần thay đổi năm gốc so sánh đối với một số chỉ tiêu kinh
tế tổng hợp của hai phương pháp kể trên, đó là các năm gốc 1958, 1961,
1970, 1982, 1989 và 1994 Cho đến năm 1994, năm được chọn làm gốc để so sánh trong công tác thống kê Việt Nam là năm lập bảng giá cố định Bảng giá
cố định đầu tiên của Việt Nam là bảng giá cố định 1958, bảng giá cố định hiện nay đang còn áp dụng là bảng giá cố định 1994
Cho đến nay, về cơ bản các chỉ tiêu kinh tế tổng hợp thuộc MPS và SNA tính theo giá so sánh bằng “phương pháp xác định trực tiếp từ giá và lượng của từng loại sản phẩm”, tức là chỉ tiêu giá trị sản xuất theo giá so sánh được tính
Trang 10bằng cách lấy khối lượng sản phẩm của năm cần tính nhân (x) với đơn giá sản phẩm của năm gốc Đây cũng là căn cứ cơ bản để lập bảng giá cố định
+ Giá bình quân và giá riêng biệt: đối với loại sản phẩm có nhiều qui cách, chủng loại khác nhau và đã xây dựng mức giá cụ thể cho từng qui cách, chủng loại thì cũng phải xây dựng mức giá bình quân cho toàn bộ sản phẩm
đó Mức giá bình quân dùng để tính giá cố định của toàn bộ sản phẩm chỉ biết
số lượng chung của toàn bộ sản phẩm mà không biết số lượng của từng qui cách, chủng loại sản phẩm
2 Bảng giá cố định năm 1994
II Thực trạng tính các chỉ tiêu kinh tế tổng hợp của hệ thống tài khoản quốc gia theo giá so sánh năm 1994
1 Tính chỉ tiêu giá trị sản xuất theo giá so sánh
Cho đến nay khi tính chỉ tiêu giá trị sản xuất theo giá so sánh của từng ngành kinh tế được chia làm hai khối:
a Khối áp dụng bảng giá cố định
Mặc dù bảng giá cố định năm 1994 không chỉ lập cho các sản phẩm nông, lâm nghiệp, thủy sản, công nghiệp mà còn lập cho các sản phẩm của ngành xây dựng, khách sạn nhà hàng, vận tải, bưu điện và y tế, song trong thực tế bảng giá cố định năm 1994 chỉ được áp dụng để tính chỉ tiêu giá trị sản xuất các ngành nông nghiệp, lâm nghiệp, thủy sản, công nghiệp khai thác, công nghiệp chế biến, sản xuất điện, ga và cung cấp nước bằng “phương pháp xác định giá trị trực tiếp từ giá và lượng của từng loại sản phẩm”
GOt,o = ∑ qti poi
Trong đó: GO t,o = Giá trị sản xuất của năm t theo giá năm gốc
Poi = Giá năm gốc của nhóm sản phẩm i
Trang 11qti = Khối lượng của nhóm sản phẩm i của năm t
b Khối áp dụng chỉ số giá
Cho đến nay, phương pháp giảm phát dùng để tính giá trị sản xuất theo giá
so sánh riêng rẽ cho từng ngành như ngành xây dựng và 14 ngành dịch vụ còn lại, bằng cách lấy giá trị sản xuất theo giá thực tế của năm cần tính chia cho chỉ
số giá phù hợp (PPI, CPI, chỉ số giá bán vật tư, chỉ số giá xuất, nhập khẩu):
GOt,o = GOtt / Itp,o
Trong đó:
GOt,o = Giá trị sản xuất năm t theo giá so sánh
GOtt = Giá trị sản xuất năm t theo giá thực tế
Itp,o = Chỉ số giá của năm t so với năm gốc
2 Tính chỉ tiêu GDP theo giá so sánh
Trang 12Từ công thức trên, có 2 phương pháp tính chuyển Giá trị tăng thêm của các ngành về giá so sánh: phương pháp giảm phát 1 lần (giảm phát đơn) và phương pháp giảm phát 2 lần (giảm phát kép)
Việc áp dụng phương pháp giảm phát 1 lần hay phương pháp giảm phát
2 lần phụ thuộc vào nguồn thông tin để tính cho từng ngành cụ thể
Tính chuyển Giá trị sản xuất theo giá thực tế về giá so sánh:
Giá trị sản xuất năm báo
cáo theo giá so sánh =
Giá trị sản xuất năm báo cáo theo giá thực tế Chỉ số giá bán của người sản xuất hoặc chỉ
số giá tiêu dùng năm báo cáo so với năm gốc
- Tính chuyển Chi phí trung gian theo giá thực tế về giá so sánh
Chi phí trung gian
năm báo cáo theo
giá so sánh
= Chi phí trung gian năm báo cáo theo giá thực tế Chỉ số giá nguyên, vật liệu, nhiên liệu, động lực, dịch vụ bình quân năm báo cáo so với năm gốc
- Tính chuyển Giá trị tăng thêm theo giá thực tế về giá so sánh
Giá trị tăng thêm
năm báo cáo theo
giá so sánh
=
Giá trị sản xuất năm báo cáo theo giá so sánh
-
Chi phí trung gian năm báo cáo theo giá so sánh
- Tính chuyển Thuế nhập khẩu theo giá thực tế về giá so sánh qua 2 bước:
Dùng chỉ số giá nhập khẩu tính chuyển trị giá hàng nhập khẩu theo giá thực tế về giá so sánh
Sau đó tính theo công thức:
x
Thuế nhập khẩu năm báo cáo theo giá thực tế Trị giá hàng nhập khẩu theo giá thực tế
và lưu động)
+
Xuất khẩu hàng hoá
và dịch vụ
-
Nhập khẩu hàng hoá và dịch vụ
Trang 13GDP theo giá so sánh được tính bằng cách tính chuyển từng nhân tố từ giá thực tế về giá so sánh Cụ thể như sau:
Tiêu dùng cuối cùng
theo giá so sánh =
Tiêu dùng cuối cùng theo giá thực tế Chỉ số giá tiêu dùng bình quân năm báo cáo so với năm gốc
Tiêu dùng cuối cùng theo giá thực tế được tính theo các nhóm hàng chi tiết; chỉ số giá tiêu dùng cũng được tính cho các nhóm hàng tương ứng
Chỉ số giá xuất khẩu theo
USD và:
Tổng trị giá xuất khẩu tính theo USD được tính chi tiết theo các nhóm hàng hoá và dịch vụ, chỉ số giá cũng được tính cho các nhóm tương ứng
III Ưu nhược điểm của việc tính các chỉ tiêu kinh tế tổng hợp thuộc hệ thống tài khoản quốc gia hiện nay
1 Đối với khối áp dụng bảng giá cố định 1994
a Ưu điểm
- Bảng giá cố định 1994 là “cẩm nang” của phương pháp xác định giá trị
trực tiếp từ lượng và giá cho từng loại sản phẩm Phương pháp này phù hợp