Đề tài đã đề cập việc sử dụng các bộ tiêu chí, tiêu chuẩn của kiểm định chất lượng giáo dục và công nhận trường chuẩn quốc gia theo Thông tư 18 làm công cụ để quản lý trường học. Để thực hiện hiệu quả công tác quản nhà trường tiếp cận chuẩn, đề tài này đã đề cập tới 06 giải pháp, đó là: (1). Nâng cao nhận thức cho cán bộ, giáo viên, nhận viên, học sinh về ý nghĩa, tầm quan trọng của quản lý trường THPT Tân Thànhtỉnh Lạng Sơn tiếp cận chuẩn kiểm định chất lượng giáo dục (2). Bồi dưỡng năng lực cho cán bộ quản lý, giáo viên, nhân viên đáp ứng yêu cầu khi triển khai quản lý trường THPT Tân Thành tỉnh lạng Sơn tiếp cận chuẩn kiểm định chất lượng giáo dục (3). Cụ thể hóa hệ thống chuẩn kiểm định phù hợp với nhà trường để dễ dàng trong thu thập minh chứng (4). Tổ chức tự đánh giá theo chuẩn kiểm định (5). Tăng cường công tác kiểm tra, đánh giá hoạt động quản lý trường tiếp cận chuẩn kiểm định chất lượng giáo dục (6). Xây dựng kế hoạch cải tiến chất lượng theo chuẩn kiểm định chất lượng giáo dục
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC
HOÀNG VĂN LỤC
QUẢN LÝ TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG TÂN THÀNH -
TỈNH LẠNG SƠN TIẾP CẬN CHUẨN KIỂM ĐỊNH
CHẤT LƯỢNG GIÁO DỤC
LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ GIÁO DỤC
HÀ NỘI - 2019
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC
HOÀNG VĂN LỤC
QUẢN LÝ TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG TÂN THÀNH -
TỈNH LẠNG SƠN TIẾP CẬN CHUẨN KIỂM ĐỊNH
CHẤT LƯỢNG GIÁO DỤC
LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ GIÁO DỤC
Chuyên ngành: Quản lý giáo dục
Mã số: 8.140114
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS NGUYỄN THÀNH VINH
HÀ NỘI - 2019
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Sau hai năm được học tập dưới mái trường Đại học Giáo dục- Đại học Quốc gia Hà Nội, bản thân em đã học được rất nhiều điều bổ ích trong công tác quản lý nhà trường Em được truyền đạt kiến thức và tìm hiểu thực tế về công tác quản lý, các lý luận và kinh nghiệm quả lý của các nền giáo dục tiên tiến Các kiến thức được bản thân em tiếp nhận rất bài bản từ những thày cô giáo rất nhiệt huyết và rất vững vàng về lý luận Em xin trân trọng cảm ơn các thầy giáo, cô giáo trường Đại học Giáo dục- Đại học quốc gia Hà Nội đã trang
bị cho em những kiến thức, để cho bản thân em được vững vàng hơn trong công việc của mình sắp tới
Để hoàn thành nhiệm vụ học tập, nghiên cứu, ngoài sự nỗ lực học hỏi của bản thân còn có sự hướng dẫn tận tình của thầy cô giáo
Đặc biệt em xin chân thành cảm ơn thầy giáo PGS.TS Nguyễn Thành Vinh, người thầy đã hướng dẫn rất tận tình, trách nhiệm cao cho em trong suốt thời gian từ lập đề cương, tổ chức nghiên cứu và viết luận văn
Xin trân trọng cảm ơn tập thể Ban giám đốc Sở GD&ĐT Lạng Sơn, tập thể sư phạm, học sinh và phụ huynh trường THPT Tân Thành đã tạo điều kiên cho tôi trong suốt thời gian học tập, nghiên cứu vừa qua
Mặc dù đã rất nỗ lực và cố gắng, nhưng do vấn đề được đề cập còn khá mới mẻ nên luận văn chắc chắn không tránh khỏi những thiếu sót Em kính mong tiếp tục nhận được sự chỉ bảo, giúp đỡ của các thầy giáo, cô giáo và đồng nghiệp để luận văn được bổ sung và hoàn thiện hơn
Em xin trân trọng cảm ơn!
Hà Nội, ngày 05 tháng 08 năm 2019
Tác giả
Hoàng Văn Lục
Trang 4DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
STT Từ viết tắt Viết đầy đủ
1 GD&ĐT Giáo dục và đào tạo
2 KĐCLGD Kiểm định chất lượng giáo dục
Trang 5MỤC LỤC
Trang
Lời cảm ơn i
Danh mục các từ viết tắt ii
Danh mục các bảng vi
Danh mục các hình vii
MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ CƠ SỞ PHÁP LÝ CỦA QUẢN LÝ TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG TIẾP CẬN CHUẨN KIỂM ĐỊNH CHẤT LƯỢNG GIÁO DỤC 5
1.1 Tổng quan vấn đề nghiên cứu 5
1.2 Khái niệm cơ bản 12
1.2.1 Quản lý 12
1.2.2 Quản lý nhà trường 14
1.2.3 Kiểm định chất lượng giáo dục 15
1.2.4 Quản lý theo chuẩn kiểm định chất lượng 16
1.3 Chất lượng giáo dục phổ thông 17
1.3.1 Các quan niêm về chất lượng và chất lượng giáo dục 17
1.3.2 Hệ thống tiêu chuẩn chất lượng theo Thông tư 18 về kiểm định chất lượng và công nhận trường chuẩn quốc gia 22
1.4 Quản lý trường THPT tiếp cận chuẩn kiểm định chất lượng giáo dục 24
1.4.1 Hoạch định kế hoạch hay kế hoạch hóa 24
1.4.2 Công tác tổ chức của đơn vị 27
1.4.3 Hoạt động chỉ đạo hay điều hành thực hiên 28
1.4.4 Hoạt động kiểm tra, đánh giá 28
1.5 Đánh giá về các yếu tố ảnh hưởng đến công tác quản lý trường THPT tiếp cận chuẩn kiểm định chất lượng giáo dục 29
Trang 61.5.1 Các hệ thống chính sách 29
1.5.2 Nhận thức chung của cán bộ quản lý, giáo viên 30
1.5.3 Sự gắn kết giữa chuẩn kiểm định với thực tiễn tại các đơn vị 31
1.5.4 Năng lực của hiệu trưởng 31
Kết luận chương 1 32
CHƯƠNG 2: KHẢO SÁT THỰC TRẠNG VỀ CÔNG TÁC QUẢN LÝ TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG TÂN THÀNH TIẾP CẬN CHUẨN KIỂM ĐỊNH CHẤT LƯỢNG GIÁO DỤC 33
2.1 Đặc điểm trường THPT Tân Thành, Lạng Sơn 33
2.1.1 Đặc điểm địa phương tại nơi Trường THPT Tân Thành 33
2.1.2 Đặc điểm về cơ sở vật chất và thiết bị dạy học 34
2.1.3 Học sinh 34
2.1.4 Đội ngũ cán bộ quản lý, giáo viên, nhân viên của trường 34
2.1.5 Công tác quản lý cơ sở giáo dục 34
2.1.6 Phân tích về những điểm mạnh, hạn chế, cơ hội, thách thức 35
2.1.7 Kết quả đánh giá học sinh 37
2.1.8 Thực hiện các hoạt động giáo dục 37
2.2 Khảo sát thực trạng công tác quản lý trường THPT Tân Thành-tỉnh Lạng Sơn tiếp cận chuẩn kiểm định chất lượng giáo dục 38
2.2.1 Khảo sát qua nghiên cứu các kế hoạch và báo cáo tự đánh giá 39
2.2.2 Khảo sát bằng các phiếu hỏi 40
2.3 Đánh giá chung về công tác quản lý trường THPT Tân Thành- tỉnh Lạng Sơn tiếp cận chuẩn kiểm định chất lượng giáo dục 50
2.3.1 Những ưu điểm 50
2.3.2 Những tồn tại 50
Kết luận chương 2 53
CHƯƠNG 3: GIẢI PHÁP QUẢN LÝ TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG TÂN THÀNH - TỈNH LẠNG SƠN TIẾP CẬN CHUẨN KIỂM ĐỊNH CHẤT LƯỢNG GIÁO DỤC 54
Trang 73.1 Nguyên tắc lựa chọn các giải pháp 54
3.1.1 Phải đảm bảo mục tiêu của giáo dục của đơn vị 54
3.1.2 Đảm bảo tính thực tiễn 54
3.1.3 Đảm bảo tính khả thi 54
3.2 Giải pháp quản lý trường THPT Tân Thành-tỉnh Lạng Sơn tiếp cận chuẩn kiểm định chất lượng giáo dục 55
3.2.1 Nâng cao nhận thức cho cán bộ, giáo viên, nhận viên, học sinh về ý nghĩa, tầm quan trọng của quản lý trường THPT Tân Thành-tỉnh Lạng Sơn tiếp cận chuẩn kiểm định chất lượng giáo dục 55
3.2.2 Bồi dưỡng năng lực cho cán bộ quản lý, giáo viên, nhân viên đáp ứng yêu cầu khi triển khai quản lý trường THPT Tân Thành tỉnh lạng Sơn tiếp cận chuẩn kiểm định chất lượng giáo dục 57
3.2.3 Cụ thể hóa hệ thống chuẩn kiểm định phù hợp với nhà trường để dễ dàng trong thu thập minh chứng 58
3.2.4 Tổ chức tự đánh giá theo chuẩn kiểm định 84
3.2.5 Tăng cường công tác kiểm tra, đánh giá hoạt động quản lý trường tiếp cận chuẩn kiểm định chất lượng giáo dục 89
3.2.6 Xây dựng kế hoạch cải tiến chất lượng theo chuẩn kiểm định chất lượng giáo dục 91
3.3 Khảo sát về tính khả thi và về tính cấp thiết của các giải pháp 92
3.3.1 Nội dung khảo sát 92
3.3.2 Kết quả khảo sát 92
Kết luận chương 3 98
KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 99
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 102 PHỤ LỤC
Trang 8DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 2.1 Xếp loại học lực và hạnh kiểm 37
Bảng 2.2 Học sinh giỏi đạt giải cấp tỉnh 37
Bảng 2.3 Kết quả khảo sát thực trạng về công tác kế hoạch hóa 43
Bảng 2.4 Kết quả khảo sát thực trạng công tác tổ chức của đơn vị 46
Bảng 2.5 Kết quả khảo sát thực trạng công tác chỉ đạo thực hiện 47
Bảng 2.6 Kết quả khảo sát thực trạng công tác kiếm tra, đánh giá 49
Bảng 3.1 Phân công nhiệm vụ và yêu cầu các minh chứng 59
Bảng 3.2 Kết quả khảo sát về tính khả thi 92
Bảng 3.3 Kết quả khảo sát tính cấp thiết của đề tài 93
Trang 9DANH MỤC CÁC HÌNH
Hình 1.1 Phát triển của khoa học quản lý chất lượng 8
Hình 1.2 Mức độ phân loại 19
Hình 1.3 Sơ đồ mô hình CIMO 20
Hình 1.4 Sơ đồ thể hiện mô hình CIPO 21
Hình 3.1 Biểu đồ thể hiện tính khả thi của một số giải pháp 95
Hình 3.2 Biểu đồ thể hiện tính cần thiết của một số giải pháp 95
Trang 10Luật Giáo dục Việt Nam cũng đã nêu rõ, "mục tiêu giáo dục là đào tạo con người Việt Nam phát triển toàn diện, có đạo đức, tri thức, sức khỏe, thẩm mỹ và nghề nghiệp, trung thành với lý tưởng độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội "
Để đạt được mục tiêu giáo dục đề ra, trong giải pháp số 05 của Nghị quyết số 29-NQ/TW ngày 4 tháng 11 năm 2013 về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo nhấn mạnh "đổi mới căn bản công tác quản lý giáo dục, đào tạo, bảo đảm dân chủ, thống nhất; tăng quyền tự chủ và trách nhiệm xã hội của các cơ sở giáo dục, đào tạo; coi trọng quản lý chất lượng"
Ở các địa phương, giáo dục đào tạo luôn được coi là một trong các nhiệm vụ trong tâm, được thể hiên cụ thể trong nghị quyết của Đảng bộ, Hội đồng nhân dân và kế hoạch của Ủy ban nhân dân Trong các nhiệm vụ
về giáo dục đào tạo thì việc xây dựng trường chuẩn quốc gia luôn được coi
Trang 11trọng, được kiểm điểm thường xuyên và có sự đầu tư lớn về vất chất và công tác quản lý
Như vậy giáo dục đào tạo nói chung, xây dựng trường chuẩn nói riêng luôn được các cấp quan tâm, chỉ đạo quyết liệt, tuy nhiên thực tế hiện nay cơ bản mới chỉ dừng lại ở xây dựng mà chủ yếu là chuẩn hóa về cơ sở vật chất, còn áp dụng các tiêu chuẩn đối với việc kiểm định chất lượng giáo dục và công nhận đạt chuẩn quốc gia vào quản lí chất lượng giáo dục trong cơ sở giáo dục thì vẫn còn nhiều hạn chế
Với mong muốn là không dừng lại ở việc kiểm định chất lượng giáo dục và công nhận đạt chuẩn quốc gia, mà cần thiết đưa bộ tiêu chí, tiêu chuẩn của việc kiểm định chất lượng giáo dục và công nhận đạt chuẩn quốc gia vào quản lý hoạt động của nhà trường, do đó đề tài "quản lý trường trung học phổ thông Tân Thành-tỉnh Lạng Sơn tiếp cận chuẩn kiểm định chất lượng giáo dục" được lựa chọn làm luận văn tốt nghiệp với hy vong sẽ có được thêm một giải pháp quản lý hiện đại để quản lý nhà trường phổ thông
2 Mục đích nghiên cứu
Nghiên cứu lý luận về quản lý giáo dục, quản lý chất lượng, cơ sở pháp
lý hiên hành và thực tế tại đơn vị Trường trung học phổ thông Tân Hữu Lũng- Lạng Sơn để đưa ra giải pháp quản lý nhà trường theo bộ tiêu chuẩn của kiểm định chất lượng giáo dục
Thành-3 Đối tƣợng nghiên cứu và khách thể nghiên cứu của đề tài
3.1 Khách thể nghiên cứu là: các hoạt động quản lý trường trung học phổ
thông Tân Thành
3.2 Đối tượng nghiên cứu là
Nghiên cứu đưa các tiêu chuẩn, tiêu chí của kiểm định chất lượng giáo dục vào quản lý hoạt động giáo dục trong trường trường trung học phổ thông Tân Thành-Lạng Sơn
Trang 124 Câu hỏi nghiên cứu của đề tài
- Giải pháp nào để đưa các bộ tiêu chí, tiêu chuẩn của kiểm định chất lượng giáo dục trở thành một công cụ quản lý trường Trung học phổ thông?
- Quản lý trường Trung học phổ thông tiếp cận chuẩn kiểm định chất lượng giáo dục là một biện pháp quản lý hiệu quả, hiện đại và có thể thực hiện được ở các nhà trường?
5 Giả thuyết khoa học
Các bộ tiêu chí, tiêu chuẩn của kiểm định chất lượng giáo dục và công nhận trường chuẩn quốc gia theo Thông tư 18 là cơ sở để quản lý trường học Căn cứ các tiêu chí và yêu cầu cần đạt của các tiêu chí từ đó xây dựng kế hoạch quản lý nhà trường, xác định các bước thực hiện nhằm đạt được các yêu cầu của chuẩn và xác định minh chứng kèm theo Kế hoạch thực hiện quản lý tổng thể nhà trường, xác định các giai đoạn thực hiện, từng giai đoạn cần tạo lập được mục tiêu cụ thể và các minh chứng kèm theo, kết quả sản phẩm tạo thành chắc chắn sẽ tốt
6 Nhiệm vụ nghiên cứu
Để đạt được mục đích nghiên cứu đã đề ra của đề tài, nhiệm vụ nghiên cứu cần thực hiện:
- Về mặt lý luận: nghiên cứu làm rõ vai trò của công tác quản lý đối với cơ sở giáo dục Nghiên cứu bộ tiêu chuẩn của việc kiểm định chất lượng giáo dục và công nhận đạt chuẩn quốc gia Nghiên cứu lý thuyết về quản lý chất lượng nhà trường từ đó đưa ra các giải pháp thực hiên quản lý chất lượng nhà trường
- Về mặt thực tiễn: vận dụng thực tế tại đơn vị trường trung học các giải pháp quản lý chất lượng, đánh giá và so sánh kết quả thực hiện
7 Giới hạn nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu
- Sử dụng bộ tiêu chuẩn về việc kiểm định chất lượng giáo dục theo
Trang 13Thông tư 18/2018/TT-BGDĐT ngày 22/8/2018 của Bộ GD&ĐT, vào quản lý nhà trường
- Vận dụng thực hiện tại trường THPT Tân Thành- Lạng Sơn
8 Phương pháp nghiên cứu bao gồm
8.1 Nhóm nghiên cứu lý luận: thực hiện phân tích, tổng hợp, so sánh… các
tài liệu khoa học, các văn kiện của Đảng và pháp luật của Nhà nước, các văn bản quy định của ngành có liên quan đến hoạt động quản lý nhà trường, bộ tiêu chuẩn theo Thông tư 18, nghiên cứu việc xây dựng trường học đạt chuẩn quốc gia và quản lý chất lượng
8.2 Nhóm nghiên cứu thực tiễn: nghiên cứu thực trạng công tác quản lý, quản
lý chất lượng thực tiến tại đơn vị trường THPT Tân Thành, nghiên cứu đưa ra các giải pháp; vận dụng các giải pháp vào thực tế tại đơn vị trường trung học, thực hiện đánh giá và so sánh kết quả thực hiện
9 Những đóng góp của đề tài luận văn
Luận văn nhằm đề ra giải pháp quản lý nhà trường theo phương pháp quản lý chất lượng trên cơ sở bộ tiêu chuẩn việc kiểm định chất lượng giáo dục và công nhận đạt chuẩn quốc gia
10 Cấu trúc luận văn
Nội dung căn bảng gồm có 03 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận và cơ sở pháp lý của quản lý trường Trung
học phổ thông tiếp cận chuẩn kiểm định chất lượng giáo dục
Chương 2: Thực trạng về công tác quản lý trường THPT Tân Thành-
tỉnh lạng Sơn tiếp cận chuẩn kiểm định chất lượng giáo dục
Chương 3: Giải pháp quản lý Trường trung học phổ thông Tân Thành-
tỉnh Lạng Sơn tiếp cận chuẩn kiểm định chất lượng giáo dục
Trang 14CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ CƠ SỞ PHÁP LÝ CỦA QUẢN LÝ TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG
TIẾP CẬN CHUẨN KIỂM ĐỊNH CHẤT LƯỢNG GIÁO DỤC
1.1 Tổng quan vấn đề nghiên cứu
Hoạt động chính trong các nhà trường là hoạt động dạy và học, chất lượng của các hoạt động trên đánh giá chất lượng của các nhà trường Để đảm bảo quá trình trên đạt được mục tiêu đề ra thì các nhà trường rất cần thiết thực hiện hiệu quả công tác kiểm định chất lượng giáo dục, mà trong tâm là công tác tự đánh giá Qua công tác tự đánh giá, thực trạng của nhà trường được đối chiếu với chuẩn, biết được mực độ đảm bảo so với chuẩn, các nhà trường có
kế hoạch cải tiến chất lượng Hoạt động tự đánh giá tạo vai trò giám sát toàn
bộ quá trình tạo ra chất lượng của một cơ sở giáo dục Hoạt động kiểm định chất lượng khi được thực hiện sẽ đánh giá một cơ sở giáo dục phổ thông ở các nội dung bao gồm tổ chức bộ máy, cơ sở vật chất, các hoạt động giáo dục và các hoạt động đảm bảo cho quá trình dạy và học của nhà trường Công tác kiểm định chất lượng là hoạt động quả lý đảm bảo chất lương cho nhà trường
Quản lí chất lượng (Quality Management) là một phương thức quản lí hiện đại, được thể hiện rõ nét trong quản lý kinh doanh, quản lý sản xuất Trong quản lý hoạt động sản xuất nhận thức về chất lượng cho tất cả các thành viên của tổ chức đã xâm nhập và lan tỏa trong tất cả các quy trình tổ chức Quản lí chất lượng cũng đã được áp dụng trong quản lý giáo dục, bệnh viện và dịch vụ [13, tr 13]
Quản lý chất lượng được coi là bắt nguồn vào đầu thập niên 1920 của thế ký XX, khi đó lý thuyết xác suất thống kê lần đầu tiên được áp dụng để kiểm định chất lượng sản phẩm Cho đến nay, người ta thường chia các giai đoạn phát triển của quản lý chất lượng thành ba giai đoạn chính: kiểm tra chất lượng, đảm bảo chất lượng, và cải tiến liên tục
Trang 15Quá trình kiểm tra chất lượng về cơ bản là phát hiện và loại bỏ toàn bộ hay từng phần sản phẩm cuối cùng không đạt các chuẩn mực chất lượng, trong khi đó thì quá trình đảm bảo chất lượng tập trung phòng ngừa sự xuất hiện những sản phẩm kém chất lượng Cải tiến liên tục sẽ chú trọng vào việc thường xuyên nâng cao chất lượng
Trong các giai đoạn phát triển ban đầu của quản lí chất lượng, việc áp dụng lí thuyết thống kê toán học đóng một vai trò hết sức quan trọng Trong thập niên 1920, Shewhart W phát triển ứng dụng các phương pháp thống kê toán học vào quản lí chất lượng sản phẩm và các ngành nghề khác nhau Ông
đã thực hiện được các biểu đồ kiểm soát hiện đại đầu tiên và cho thấy được rằng trong quá trình sản xuất dẫn đến biến động trong chất lượng sản phẩm
Vì vậy, loại trừ các biến động trong quá trình thực hiện sẽ dẫn đến một tiêu chuẩn tốt của sản phẩm cuối cùng Tuy nhiên, phương pháp này không được phát triển mạnh ở Hoa Kì mà được “xuất khẩu” qua Nhật Bản
Khái niệm này đã được phát triển mạnh tại Nhật Bản trong những năm
40 của thế kỉ trước do những nhà quản lí người Mỹ, W Edwards Deming, Joseph Juran, Philip B Crosby và A Feigenbaum và họ cũng được biết đến như những nhà lí luận hàng đầu về quản lí chất lượng hay quản lí theo chuẩn Trọng tâm được mở rộng từ chất lượng của sản phẩm sang chất lượng của tất cả các yếu tố trong phạm vi một quy trình được coi như sự khởi đầu của quản lí chất lượng tổng thể Trong thập niên 40 của thế kỉ XX, các sản phẩm Nhật Bản sản xuất đã từng được coi như đồ rẻ tiền, đồ bắt chước, kém chất lượng Các nhà lãnh đạo quản lý lĩnh vực công nghiệp Nhật Bản nhận thấy được rằng vấn đề này quản lí của họ và đề ra mục tiêu cụ thể cho việc sản xuất ra sản phẩm cải tiến liên tục và có tính canh tân chất lượng cao Họ
đã mời một số chuyên gia hàng đầu về quản lí chất lượng quốc tế như Deming, Juran và Feigenbaum nhằm học hỏi hay chuyển giao cách làm để đạt được mục tiêu này
Trang 16Feigenbaum đã đưa ra định nghĩa nổi tiếng về quản lí chất lượng tổng thể đó là “Quản lí chất lượng tổng thể là một hệ thống hữu hiệu nhằm hội nhập những nỗ lực về phát triển chất lượng, duy trì chất lượng và cải tiến chất lượng của nhiều tổ nhóm trong một tổ chức để có thể tiếp thị, áp dụng khoa học kĩ thuật, sản xuất và cung ứng dịch vụ nhằm thỏa mãn nhu cầu của khách hàng một cách tinh tế nhất” [13, tr.14]
Deming đã tổng kết được rằng “Trong tương lai sẽ có hai loại doanh nghiệp – các doanh nghiệp triển khai chất lượng tổng thể và các doanh nghiệp phải đóng cửa” [13, tr.14]
Thực tế đã cho thấy trong những năm 1950 của thế kỷ trước vấn đề kiểm tra và quản lí chất lượng đã phát triển nhanh chóng và đã trở thành một giải pháp quản lý rất hiệu quả và phổ biến của Nhật Bản
Vào những năm 1970 đã ghi nhận quản lý chất lượng tổng thể trong các doanh nghiệp đã làm thay đổi cả nền kinh tế Nhật Bản Thông qua quá trình triển khai quản lý chất lượng trong các doanh nghiệp, người Nhật phát triển rất mạnh mẽ nề kinh tế và trở thành cường quốc kinh tế
Tuy được coi là bắt đầu được đề cập đến từ những năm 20 của thế kỷ
XX và được phát triển vào những năm 40 và 50 nhưng mãi đến sau này người
ta mới sử dụng thuật ngữ quản lý chất lượng tổng thể Có nhiều người cho rằng quản lí chất lượng tổng thể ban đầu được gọi là kiểm tra chất lượng tổng thể (Total Quality Control, viết tắt là TQC) Feigenbaum lần đầu tiên dùng quản lí chất lượng tổng thể vào năm 1951 trong cuốn sách: Kiểm tra chất lượng, nguyên tắc, thực tiễn và quản trị Thuật ngữ kiểm tra chất lượng tổng thể đã tồn tại cùng với thuật ngữ của người Nhật Bản “Kiểm tra chất lượng toàn công ty” mà Ishikawa sử dụng tại Hội nghị quốc tế đầu tiên về kiểm tra chất lượng tại Tokyo vào năm 1969 Sự khác biệt giữa hai thuật ngữ cũng không được rõ ràng mà đích của hai thuật ngữ là quản lý quá trình tạo ra chất lượng của sản phẩm chứ không phải quản lí hay phân loại sản phẩm cuối cùng theo chất lượng
Trang 17Một vài tác giả đã tổng kết và mô tả lịch sử nghiên cứu và phát triển của khoa học quản lí chất lượng trên thế giới của các giai đoạn như hình 2.1
Từ khi cuộc cách mạng công nghiệp diễn ra, một thời gian dài đánh giá chất lượng chủ yếu dựa vào kiểm soát chất lượng
Hình 1.1 Phát triển của khoa học quản lý chất lượng
(Nguồn: Nguyễn Đức Chính, Quản lý chất lượng trong giáo dục)
- Quá trình kiểm soát chất lượng
Kiểm soát chất lượng là một quá trình nhằm mục đích kiểm soát, kiểm định các tiêu chí đã đặt ra cho các sản phẩm, phát hiện ra các khuyết tật, loại
bỏ các sản phẩm cuối cùng không đạt chuẩn quy định, đề ra biện pháp để xử lí các sản phẩm đó như làm lại, hoặc chỉnh sửa nếu có thể
Như vậy trong quá trình sản xuất hay quá trình quản lí thì hoạt động kiểm soát chất lượng là một bước cuối cùng và thực hiện khi hoạt động sản xuất đã kết thúc Kết quả của kiểm soát chất lượng là đảm bảo độ tin cậy chất
Trang 18lượng của sản phẩm, nhưng không tạo ra chất lượng và cần phải chi phí lớn
về thời gian, nhân lực để kiểm soát từng sản phẩm cũng như hao tổn nguyên vật liệu cho các phế phẩm, do đó làm giảm sức cạnh tranh của các doanh nghiệp, nhà sản xuất, mặc dù người ta sử dụng phổ biến rộng rãi phương pháp này suốt một thời gian dài trong thế kỉ trước trước đó Như vậy quá trình này
về cơ bản không thay đổi được chất lượng sản phẩm khi đã hoàn thành rồi, về
cơ bản giải pháp này chỉ có tác dụng phân loại sản phẩm cuối cùng
- Hoạt động kiểm soát quá trình
Với tốc độ phát triển rất nhanh chóng về số lượng sản phẩm cũng như chất lượng của sản xuất công nghiệp đươc làm ra, kiểm tra chất lượng trở lên lãng phí cả về nhân lực, kinh phí và thời gian vì phải kiểm soát từng sản phẩm một, không thay đổi được chất lượng hay chỉ có tác dụng phân loại sản phẩm
Để khắc phục và đảm bảo phù hợp cho quá trình sản xuất hàng hóa, các nhà quản lí đã nghĩ đến biện pháp “phòng ngừa” thay cho “phát hiện” Với quan điểm chất lượng là cả quá trình và quá trình này cần được kiểm soát ở từng khâu chứ không phải kiểm soát kết quả cuối cùng Do vậy, “Kiểm soát quá trình” đã hình thành vào những năm 30 của thế kỉ trước với các tên tuổi như W.E.Deming, Joseph Juran, Elton Mayo và Water Shewhart đã nghiên cứu và cho ra đời các tầng bậc đầu tiên của mô hình này Kiểm soát quá trình là hoạt động quản lí với các hoạt động cụ thể nhằm mục đích là tạo ra sản phẩm có chất lượng, phòng ngừa các sản phẩm kém chất lượng ngay trong quá trình sản xuất qua từng công đoạn Đây có thể coi là một bước tiến mới ngoạn mục của việc thay đổi hình thái kiểm soát chất lượng Kiểm soát quá trình rõ ràng
là biện pháp ưu việt hơn là phát hiện sàng lọc các sản phẩm kém chất lượng
- Đảm bảo chất lượng hay Kiểm soát chất lượng tổng thể
Các nhà khoa học Feigenma, Juran đã phát triển các ý tưởng của Deming hình thành nên Kiểm soát chất lượng tổng thể Kiểm soát chất lượng tổng thể từ lâu đã được thực hiện ở các phân xưởng và một số lĩnh vực Điều
Trang 19đặc trưng nổi bật là Kiểm soát chất lượng tổng thể xâm nhập vào mọi khía cạnh của quá trình sản xuất
Denming, Juran và Ishikawa đã nghiên cứu và đã đạt được nhiều thành tựu và đã đưa ra luận điểm “hướng tới khách hàng” và mô hình Đảm bảo chất lượng được ra đời vào những năm 60 của thế kỉ trước và đã có kiểm chứng về tính ưu việt Đảm bảo chất lượng là hoạt động nhằm quảng bá, chứng minh và tạo niềm tin cho khách hàng về chất lượng của sản phẩm Nhiệm vụ sóng còn của nhà sản xuất là phải có được “Niềm tin của khách hàng đối với sản phẩm của mình” Còn về phía khách hàng có thể đặt niềm tin vào nhà sản xuất khi
họ có đủ những minh chứng cho thấy rằng chất lượng sản phẩm sản xuất ra sẽ được đảm bảo Đảm bảo chất lượng nhằm mục đích tạo chữ tín, niềm tin tuyệt đối cho khách hàng và làm cho quá trình sản xuất không ngừng phát triển, không ngừng hướng đến những tiêu chí ưu việt hơn về chất lượng bằng sự đảm bảo rằng các yêu cầu về chất lượng sẽ được thực hiện Đảm bảo chất lượng sản phẩm được thực hiện qua hoạt động kiểm định các điều kiện đảm bảo chất lượng trong sản xuất kinh doanh Do vậy mà ở một số nước người ta còn gọi đảm bảo chất lượng là Kiểm định chất lượng
Bước sang thập niên 70 của thế kỉ trước, thấu hiểu được sự phát triển kì diệu của khoa học kĩ thuật, P.Crosby đã đưa ra ý tưởng đầy thuyết phục về chất lượng, đó là phương pháp sản xuất ra sản phẩm “không lỗi” (Zero Defects) và cùng với Ohno đề xuất giải pháp “kịp thời” (Just in time) Hai ông
đã làm thay đổi phương thức quản lí cả dây chuyền sản xuất sang quản lí từng
vị trí lao động nhằm có giải pháp kịp thời hiệu chỉnh các sai sót Với những cải tổ đó, quản lí không lỗi (không sai sót) đã ra đời và được ứng dụng rộng rãi không chỉ trong sản xuất mà cả trong các ngành ngân hàng, tài chính và dịch vụ ở nhiều nước trên thế giới do những đặc trưng ưu việt của nó Quản lý
để chắc chắn có được các sản phẩm “không lỗi” là những hoạt động quản lý
Trang 20hướng tới việc sử dụng tối ưu hóa các nguồn lực để đạt được chất lượng tối đa
và nâng cao hiệu quả của sản xuất
- Hoạt động quản lí chất lượng tổng thể
Deming, Crosby, Ohno đã tổng kết những kinh nghiệm từ thực tiễn và
kế thừa các mô hình quản lí chất lượng đã phát triển học thuyết về quản lý chất lượng và khái quát mô hình TQM thanh mô hình có triết lí rõ ràng Mục đích của TQM là chất lượng không ngừng được nâng cao nhằm thỏa mãn nhu cầu ngày càng tăng của khách hàng
Vào những năm 40 của thế kỉ trước các nhà khoa học Juran, Ohno đã thực hiên nghiên cứu và đề xuất cải tiến liên tục hoặc cải tiến quá trình (Process Improvement) với cái tên là Kaizen (có nghĩa là cải tiến liên tục) Đặc điểm dễ thấy của cải tiến quá trình là mọi khâu của quá trình sản xuất đều thường xuyên được quan tâm cải tiến để không ngừng nâng cao chất lượng, nâng cao năng suất và tạo nên một quá trình sản xuất liên hoàn và hiệu quả
Với thực tế về toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế mạnh mẽ, để thuận lợi cho việc trao đổi hàng hóa và dịch vụ cũng như hợp tác, nhu cầu liên doanh trên phạm vi đa quốc gia người ta đã chuẩn hóa quản lý chất lượng trên phạm vi quốc
tế với bộ tiêu chuẩn ISO (International Organization for Standardization)
Như vậy, trong quá trình phát triển của khoa học về quản lí chất lượng, người ta đã chuyển từ quản lí chất lượng sản phẩm sang quản lí chất lượng của tổ chức, hệ thống làm ra các sản phẩm đó với quan điểm: Một tổ chức có chất lượng sẽ đảm bảo được sản phẩm của nó có chất lượng tốt Tuy nhiên về
cơ bản thì chất lượng của tổ chức chỉ đề cập đến các yêu cầu về quy trình làm
ra sản phẩm mà không thay thế được các quy định và tiêu chuẩn về sản phẩm
- Kiểm định chất lượng giáo dục
Kiểm định chất lượng giáo dục nhằm giúp cơ sở giáo dục xác định mức
độ đáp ứng mục tiêu giáo dục trong từng giai đoạn, để xây dựng kế hoạch cải tiến chất lượng giáo dục, từ đó nâng cao chất lượng các hoạt động giáo dục;
Trang 21thông báo công khai với các cơ quan quản lý nhà nước và xã hội về thực trạng chất lượng của cơ sở giáo dục; để cơ quan quản lý nhà nước đánh giá và công nhận cơ sở giáo dục đạt tiêu chuẩn chất lượng giáo dục
Quy trình kiểm định chất lượng giáo dục một cơ sở giáo dục gồm các bước: Cơ sở giáo dục tự đánh giá; Đăng ký đánh giá ngoài của cơ sở giáo dục; đánh giá ngoài đối với cơ sở giáo dục; công nhận cơ sở giáo dục đạt tiêu chuẩn chất lượng giáo dục và cấp giấy chứng nhận chất lượng giáo dục
Kiểm định chất lượng giáo dục là hoạt động nhằm đảm bảo chất lược giáo dục cho một cơ sở giáo dục Kiểm định chất lượng giáo dục đã có một quá trình phát triển khá lâu nhưng về cơ bản nó bắt nguồn từ những hoạt động quản lý chất lượng trong kinh doanh và sản xuất Quá trình phát triển của kiểm định chất lượng giáo dục được ghi nhận đã có sự phát triển khá lâu ở
Mỹ, nhưng ít được các nước trên thế giới quan tâm vì có thể mọi người cho rằng chất lượng trong giáo dục khó lượng hóa được và quản lý chất lượng chỉ dành riêng cho sản xuất kinh doanh
Kiểm định chất lượng giáo dục thực chất là quá trình quản lý chất lượng tổng thể, như vậy trong quá trình kiểm định chất lượng thì bước tự đánh giá của cơ sở giáo dục là quan trọng nhất và quyết định chất lượng của
nỗ lực của mỗi cá nhân mới được gắn kết lại để trở thành sức mạnh tổng thể của một tổ chức
Từ khi sinh ra con người đã phải gắn kết lại với nhau để chống chọi với
Trang 22thiên nhiên, để tổ chức sản xuất, săn bắn nhằm đảm bảo sự tồn tại của mỗi cá nhân trong công đồng Như vậy quản lý là một chức năng lao động xã hội, bắt nguồn từ tính chất xã hội của lao động
Theo Dương Hải Hưng và Trần Quốc Thành "Quản lý là sự tác động có
tổ chức, có hướng định của chủ thể quản lý tới đối tượng quản lý nhằm đạt mục tiêu của tổ chức đề ra" [18, tr.11]
Nhà quản lý thực hiện các hoạt động theo một quy trình nhất định, các hoạt động này có thể khác nhau tùy theo tổ chức, tùy theo chức năng nhiệm
vụ của mỗi tổ chức, tùy theo cấp bậc của nhà quản lý, tuy nhiên có một số nhiệm vụ cơ bản và phổ biến mà mọi nhà quản lý đều thực hiện, thường tập trung ở một số mảng chính được gọi là chức năng quản lý Ngày nay nhiều chuyên gia về quản lý cho rằng có bốn chức năng quản lý cơ bản bao gồm: Kế hoạch hóa – tổ chức – lãnh đạo – kiểm tra
Theo tài liệu tập huấn dự án SREM của Bộ GD&ĐT, Quản lý theo nghĩa rộng là bao gồm: [19, tr.21]
(1) Đề ra phương hướng, mục đích và mục tiêu;
(2) Lập kế hoạch tiến độ sẽ thực hiện hoặc mục tiêu cần đạt;
(3) Tổ chức các nguồn lực có sẵn (nhân lực, thời gian, vật lực) để có thể đạt được mục tiêu một cách kinh tế nhất theo đúng kế hoạch đề ra;
(4) Kiểm soát tiến trình thực hiện (ví dụ như đối chiếu kết quả đạt được với kế hoạch và thực hiên việc sửa sai khi cần thiết);
(5) Đề ra và nâng cao chuẩn của tổ chức
Theo GS.TS Nguyễn Thị Mỹ Lộc và TS Nguyễn Quốc Chí, quản lý là một quá trình thực hiện nhằm đạt đến mục tiêu của tổ chức bằng cách sử dụng các hoạt động (chức năng) kế hoạch hóa, tổ chức thực hiện, chỉ đạo (lãnh đạo)
và kiểm tra [7, tr.9]
Như vậy: Quản lý là sự tác động có tổ chức, có hướng định của chủ thể
quản lý tới đối tượng quản lý nhằm đạt mục tiêu của tổ chức đề ra bằng cách
Trang 23sử dụng các hoạt động (chức năng) kế hoạch hóa, tổ chức, chỉ đạo (lãnh đạo)
dự báo về kết quả thực hiện trên cơ sở kế hoạch và các yếu tố ảnh hưởng
- Tổ chức bao gồm tổ chức công việc và tổ chức con người Tổ chức công việc là sắp xếp công việc hợp lý theo một trật tự nhất định, phân chia công việc cụ thể và con người phụ trách thực hiên cụ thể Tiếp sau đó người quản lý phân công các công việc cho từng người, từng bộ phân cụ thể theo đúng chức năng, chức trách nhiệm vụ của mỗi cá nhân trong tổ chức
- Chỉ đạo hay điều hành là tác động đến con người bằng những mệnh lệnh, khuyến khích bằng những lợi ích, khen thưởng và cả việc kỷ luật nhằm làm cho mọi người thực hiện đúng kế hoạch và nhiệm vụ đã được phân công
- Kiểm tra là hoạt động thu thập thông tin ngược để kiểm soát hoạt động của mỗi cá nhân, tổ chức nhằm điều chỉnh kịp thời những sai sót để cuối cùng đạt được mục tiêu đề ra
1.2.2 Quản lý nhà trường
Hoạt động giáo dục là quá trình truyền đạt và lĩnh hội kinh nghiệm của loài người, nhờ có giáo dục mà các thế hệ nối tiếp nhau phát triển, tinh hoa văn hóa nhân loại được kế thừa, bổ sung và hoàn thiện Hoạt động giáo dục đỗi với loại học sinh cần có đặc trưng riêng, như học sinh khuyết tật và học sinh bình thường đã có sự khác biệt, trong số học sinh bình thường còn có học sinh phát triển năng khiếu theo hướng khác nhau như tư duy logic, hội họa,
âm nhạc hay thể thao
Quản lý giáo dục là hoạt động bao gồm có bốn chức năng quản lý cơ bản của quản lý đó là Kế hoạch hóa – Tổ chức – Lãnh đạo – Kiểm tra Tuy
Trang 24nhiên mục tiêu của giáo dục có tính đặc thù riêng đó là mục tiêu giáo dục được quy định trong Luật giáo dục và đặc thù của từng địa phương, từng lứa tuổi học sinh, tuy theo mức độ tư duy của mỗi học sinh, năng lực và năng khiếu được bộc lộ của mỗi học sinh Như vậy mục tiêu giáo dục không phải là một khái niệm đóng, như vây quản lý giáo dục muốn thành công cần có vận dụng sáng tạo các chức năng của quản lý
1.2.3 Kiểm định chất lượng giáo dục
Kiểm định chất lượng giáo dục cơ sở giáo dục phổ thông là hoạt động đánh giá (bao gồm tự đánh giá và đánh giá ngoài) để xác định mức độ cơ sở giáo dục phổ thông đáp ứng các tiêu chuẩn đánh giá chất lượng giáo dục và việc công nhận cơ sở giáo dục phổ thông đạt tiêu chuẩn chất lượng giáo dục của cơ quan quản lý nhà nước [5]
Tự đánh giá là quá trình trường trung học dựa trên các tiêu chuẩn đánh giá do Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành, tự xem xét, đánh giá thực trạng chất lượng các hoạt động giáo dục, cơ sở vật chất, các vấn đề liên quan khác của nhà trường để điều chỉnh các nguồn lực và quá trình thực hiện nhằm đạt tiêu chuẩn đánh giá trường trung học [5]
Đánh giá ngoài là quá trình khảo sát, đánh giá của cơ quan quản lý nhà nước đối với trường trung học để xác định mức đạt được tiêu chuẩn đánh giá theo quy định của Bộ Giáo dục và Đào tạo [5]
Mục tiêu của kiểm định chất lượng giáo dục nhằm xác định trường trung học đạt mức đáp ứng mục tiêu giáo dục trong từng giai đoạn; lập kế hoạch cải tiến chất lượng, duy trì và nâng cao chất lượng các hoạt động của nhà trường; thông báo công khai với các cơ quan quản lý nhà nước và xã hội về thực trạng chất lượng của trường trung học; để cơ quan quản lý nhà nước đánh giá, công nhận hoặc không công nhận trường đạt kiểm định chất lượng giáo dục.[5]
Trang 251.2.4 Quản lý theo chuẩn kiểm định chất lượng
Theo tổ chức quốc tế về tiêu chuẩn hóa cho rằng: “Quản lí chất lượng
là tập hợp các hoạt động có chức năng quản lí chung nhằm xác định chính sách chất lượng, mục đích chất lượng và thực hiện chúng bằng những phương tiện như lập kế hoạch, điều chỉnh chất lượng, bảo đảm chất lượng cải tiến chất lượng trong khuôn khổ một hệ thống chất lượng”
Theo TCVN 5914-1994: “Quản lí chất lượng toàn diện là cách quản lí một tổ chức tập trung vào chất lượng, dựa vào sự tham gia của tất cả các thành viên của nó, nhằm đạt được sự thành công lâu dài nhờ vào việc thỏa mãn khách hàng và đem lại lợi ích cho các thành viên của tổ chức đó và cho xã hội”
Như vậy, với mục đích khác nhau thì định nghĩa về quản lí chất lượng
có cách được đề cập riêng, tuy nhiên có điểm chung ở chỗ là hệ thống các quy trình nhằm đảm bảo chất lượng cho toàn hệ thống của tổ chức nhằm thỏa mãn nhu cầu thi trường, đạt năng suất cao, hiệu quả kinh tế Nhiều tác giả cho rằng quản lí chất lượng thực chất bao gồm các hoạt động sau: thiết lập chuẩn; đối chiếu thực trạng so với chuẩn và xây dựng các biện pháp nâng thực trạng ngang chuẩn
Hoạt động quản lý theo chuẩn kiểm định là hoạt động quản lý theo chuẩn đã được xác định trước, do vậy sẽ bao gồm các hoạt động:
- Hoạt động tự đánh giá bao gồm: Tổ chức nghiên cứu các tiêu chuẩn, tiêu chí, các chỉ số thể hiện trong quy định về chuẩn được Bộ GD&ĐT ban hành Việc nghiên cứu phải đạt được mục tiêu là chỉ rõ nội hàm từng chỉ số
và xác định được con đường để thực hiện đạt được chất lượng mà từng chỉ
số yêu cầu
- Đối chiếu thực trạng của đơn vị mình với chuẩn: căn cứ vào thực tế của đơn vị, các minh chứng có được trong quá trình quản lí theo chuẩn và chuẩn kiểm định để làm căn cứ đối chiếu
- Tổ chức viết báo cáo tự đánh giá
Trang 26Như vậy quản lý theo chuẩn kiểm định chất lượng là tập hợp các
hoạt động của chức năng quản lí nhằm xác định mục tiêu, cách thức thức thực hiện nhằm đạt được chất lượng bằng những phương tiện như lập kế hoạch, tổ chức thực hiện, quá trình kiểm soát phòng ngừa sai sót trong từng quá trình, đối chiếu với chuẩn trong từng quá trình và cải tiến chất lượng ngang bằng với chuẩn
1.3 Chất lƣợng giáo dục phổ thông
1.3.1 Các quan niêm về chất lượng và chất lượng giáo dục
1.3.1.1 Quan niêm về chất lượng
Chất lượng là một từ rất quen, khái niệm chất lượng thường xuyên được nhắc tới nhưng chất lượng là gì là một câu hỏi gần như khó có câu trả lời tuyệt đối, vì còn phụ thuộc vào loại sản phẩm đầu ra, yêu cầu khác nhau của khách hàng
Ở một cách nhìn nào đó ta có thể thấy chất lượng là mục tiêu cần đạt tới của hoạt động quản lý, là sự tìm tòi liên tục của con người trong tiến trình lịch sử nhân loại Chất lượng có thể nhận biết được nhưng rất khó xác định
Sallis (1996) lấy ví dụ về chất lượng từ một máy chiếu hắt và cho rằng
“chất lượng là khi nó phải làm được những điều cần làm và làm những gì người mua chờ đợi ở nó”
Như vậy một định nghĩa chính xác về chất lượng gần như là không thể và cũng không cần thiết do khái niệm này được dùng với nhiều nội hàm khác nhau
Một sản phẩm được chứng nhận là đảm bảo chất lượng, tuy nhiên người mua vẫn thích sản phẩm này hơn sản phẩm khác Điều này cho thấy chất lượng của nhà sản xuất đưa ra hay cơ quan kiểm định đưa ra và nhu cầu
sử dụng và thị hiếu của mỗi khách hàng sẽ không khớp nhau ở một số trường hợp nhất định
Chất lượng không thể là khái niệm tuyệt đối, có thể được hiểu theo nhiều cách như: [13, tr.20]
Trang 27- Chất lượng là sự xuất sắc (Quality as excellence);
- Chất lượng là sự đặc biệt
- Chất lượng là sự hoàn hảo (Quality as perfection);
- Chất lượng là đáng giá trị đồng tiền (Quality as value for money);
- Chất lượng là sự tuân thủ các tiêu chuẩn đã quy định
- Chất lượng là sự trùng khớp với mục tiêu
Nếu nhìn nhận ở góc độ tương đối thì chất lượng có thể được hiểu là tổng hòa những đặc trưng của sản phẩm hay dịch vụ tạo cho nó khả năng thỏa mãn nhu cầu đã nêu hoặc tiềm ẩn
1.3.1.2 Quan niêm về chất lượng giáo dục
Chất lượng đã không thể có khái niệm tuyệt đối, thì chất lượng giáo dục lại là một khái niệm rất khó có thể phát biểu tuyệt đối được vì chất lượng giáo dục tự nó đã chứa đựng yếu tố vô hình, không thể lượng hóa được và không phải lúc nào nó cũng thể hiện ra và nhiều yếu tố tiềm tàng
Như vậy khái niệm chất lượng giáo dục là vấn đề khó khăn gấp nhiều lần so với các lĩnh vực khác, giáo dục liên quan đến con người, tới sự tồn tại
và phát triển của xã hội loài người Sản phẩm của giáo dục không phải là loại sản phẩm hoàn chỉnh, đã được làm xong và ngay cả khi bạn đã tốt nghiệp thì
nó vẫn đang trong quá trình trưởng thành
Giáo dục là một hoạt động có hướng đích rõ ràng, như vậy chất lượng giáo dục đều hướng tới các mục đích rõ ràng sau đây: [13, tr.22]
- Sự xuất sắc trong giáo dục (Petes and Waterman, 1982)
- Giá trị gia tăng trong giáo dục (Feigenbaum, 1983)
- Trùng khớp của kết quả đàu ra của giáo dục với các mục tiêu, yêu cầu
đã hoạch định (Crosby, 1979; Gilmore, 1974)
- Không có sai sót trong quá trình giáo dục (Crosby, 1979)
- Đáp ứng hoặc một quá trình kì vọng của khách hàng trong giáo dục (Parasuraman, 1985)
Trang 28Về cấp độ của sản phẩm giáo dục, một số tác giả có phân cấp chất lượng giáo dục, mà Mukhopadhyay 1999 - Ấn Độ gọi là bảng phân loại trình
độ giáo dục (Taxonomy of educatedness) (xem hình 1.2)
Hình 1.2 Mức độ phân loại
(Nguồn: Nguyễn Đức Chính, Quản lý chất lượng trong giáo dục)
Như vậy có 04 mức đó là: được thông tin; có văn hóa; sự giải phóng; và
tự khẳng định
Mức độ được thông tin là mức độ thấp nhất của chất lượng giáo dục Thông qua quá trình giáo dục chính thức hoặc không chính thức, con người thu nhận các loại thông tin, xử lí và tổ chức lại thành kiến thức cho bản thân Vậy, mục tiêu đầu tiên của giáo dục là giúp người học thu thập, xử lí thông tin, tổ chức lại thành kiến thức ở một trình độ học vấn nhất định
Mức độ có văn hóa (Cultured) – Mức độ tiếp theo của chất lượng giáo dục Văn hóa là sự tích hợp giữa phẩm chất cá nhân được phát triển đầy đủ với hệ giá trị của xã hội Văn hóa là sự thể hiện của một cá thể trong cách ứng
xử với bản thân, với người khác, với những sự vật, hiện tượng diễn ra trong
Trang 29cuộc sống Văn hóa là tổng hòa những gì có trong một con người, bao gồm trình độ học vấn, thái độ, niềm tin…và được thể hiện thông qua hành vi trong mối quan hệ với xã hội, với thiên nhiên và bản thân
Mức độ sự giải phóng (Emancipation) – Mức cao hơn trong chất lượng của giáo dục Khi con người vượt qua được chính bản thân mình, thoát khỏi mọi ràng buộc của định kiến,làm chủ được bản thân trước những thay đổi to lớn của cuộc sống Đây chính là con người đã tự giải phóng mình khỏi sự sợ hãi trước những điều bất ngờ có thể xảy ra bất kì lúc nào trong cuộc sống
Mức độ tự khẳng định (Self-actualization) – Mức cao nhất trong chất lượng giáo dục Khi con người đạt tới sự phát triển toàn diện, khơi dậy mọi tiềm năng vượt qua mọi thử thách để tự khẳng định mình
1.3.1.3 Chất lượng giáo dục phổ thông
Tổng kết kinh nghiệm giáo dục của nhiều nước trên thế giới theo UNESCO cho thấy có chín yếu tố tạo nên chất lượng của một hệ thống giáo dục và mười yếu tố cấu thành chất lượng của một cơ sở giáo dục
- Chín yếu tố cấu thành chất lượng của hệ thống đó là: trẻ em khuyết tật, giới tính, xung đột, nghèo đói, lao động trẻ em, trẻ em không được đi học, trẻ mồ côi và dễ tổn thương, dân tộc thiểu số, địa lí
- Bốn bộ phận cấu thành hệ thống đó, bao gồm: các yếu tố đầu vào (iput), các yếu tố quản lí (management), các yếu tố kết quả đầu ra (outcome) Đây là 4 thành phần này tạo nên chất lượng của hệ thống giáo dục (CIMO) [13, tr.30]
Hình 1.3 Sơ đồ mô hình CIMO
(Nguồn: Nguyễn Đức Chính, Quản lý chất lượng trong giáo dục)
Trang 30- Chất lượng của một cơ sở giáo dục được xác định bởi 10 yếu tố sau: Người học khỏe mạnh; Giáo viên thạo; Chương trình giáo dục thích; Trang thiết bị, phương tiện, đồ dùng giảng dạy và học tập thân thiện với người sử dụng; Môi trường học tập đảm bảo; hệ thống đánh giá thích hợp; Hệ thống quản lí giáo dục được mọi người tham gia; Tôn trọng và thu hút được cộng đồng; Các thiết chế, chương trình giáo dục có nguồn lực thích hợp
Có thể sắp xếp các yếu tố này trong ba thành phần cơ bản của một nhà trường trong một bối cảnh cụ thể theo sơ đồ sau (CIPO): [13, tr31]
Hình 1.4 Sơ đồ thể hiện mô hình CIPO
(Nguồn: Nguyễn Đức Chính, Quản lý chất lượng trong giáo dục)
Chất lượng giáo dục phổ thông Việt Nam trong bối cảnh mới có quy định chất lượng qua bộ tiêu chí kiểm định chất lượng giáo dục và công nhận trường chuẩn quốc giá
Ngày 22/08/2018, Bộ Giáo dục và Đào tạo có Thông tư số BGDĐT ban hành Quy định về kiểm định chất lượng giáo dục và công nhân trường chuẩn quốc gia đối với trường trung học cơ sở, trường trung học phổ thông và trường phổ thông có nhiều cấp học Bộ tiêu chuẩn đánh giá chất lượng giáo dục trường trung học có 5 tiêu chuẩn và 28 tiêu chí, với 04 mức độ
Trang 3118/2018/TT-đánh giá Năm tiêu chuẩn nêu trong Thông tư 18 là tương ứng với 5 lĩnh vực đảm bảo chất lượng của một trường hoạt động đảm bảo cho quá trình dạy học
và giáo dục của nhà trường phổ thông trong giai đoạn hiện tại Mỗi tiêu chuẩn được cụ thể hóa thành một số tiêu chí, mỗi tiêu chí lại được cụ thể hóa thành các chỉ số Trong một nhà trường nếu 36 tiêu chí với các chỉ số tương ứng của
5 tiêu chuẩn trên được tổ chức thực hiện bằng các quy trình chuẩn bị tiến tới chuẩn, đầy đủ, với các minh chứng hợp lệ thì nhà trường đó được xem là có
hệ thống quản lí chất lượng, và hệ thống đó đã được vận hành, tức là đã tuân thủ đầy đủ các chuẩn quy định, và kết quả là toàn bộ sản phẩm của hệ thống đều đạt chất lượng
Vấn đề là người hiệu trưởng phải có khả năng tổ chức để mọi thành viên trong trường từ hiệu trưởng, giáo viên, nhân viên và từng học sinh biết
và thực hiện tất cả những công việc cần làm để đạt từng chỉ số, tiêu chí, tiêu chuẩn… Và điều quan trọng hơn là mỗi thành viên trong trường luôn thường trực ý thức tuân thủ các chuẩn đó trong công việc hằng ngày của mình
Như vậy chất lượng của giáo dục phổ thông nói chung, của nhà trường trung học nói riêng có thể đạt được nếu có sự trùng khớp với mục tiêu Mục tiêu của mỗi nhà trường có đặc trưng riêng, trường lớp, ở trung tập huyện, thành phố thường quan tâm tỷ lệ học sinh giỏi, tỷ lệ đỗ đại học hay điểm trung bình thi THPT quốc gia, trường nhỏ ở vùng sâu có thể chỉ là duy trì sĩ
Trang 32theo từng tiêu chuẩn, tiêu chí và mức độ đạt được theo từng mức độ 1, 2, 3 và
4 Nội dung bao gồm:
(1) Tiêu chuẩn 1: Tổ chức và quản lý nhà trường, gồm có 10 tiêu chí
- Phương hướng, chiến lược xây dựng và phát triển nhà trường
- Hội đồng trường và các hội đồng khác
- Tổ chức Đảng Cộng sản Việt Nam, các đoàn thể và tổ chức khác trong nhà trường
- Hiệu trưởng, phó hiệu trưởng, tổ chuyên môn và tổ văn phòng
- Lớp học
- Quản lý hành chính, tài chính và tài sản
- Quản lý cán bộ, giáo viên và nhân viên
- Quản lý các hoạt động giáo dục
- Thực hiện quy chế dân chủ cơ sở
- Đảm bảo an ninh trật tự, an toàn trường học
(2) Tiêu chuẩn 2: Cán bộ quản lý, giáo viên, nhân viên và học sinh,
gồm có 04 tiêu chí
- Đối với hiệu trưởng, phó hiệu trưởng
- Đối với giáo viên
- Đối với nhân viên
- Đối với học sinh
(3) Tiêu chuẩn 3: Cơ sở vật chất và thiết bị dạy học, gồm có 06 tiêu chí
- Khuôn viên, khu sân chơi, bãi tập
Trang 33(4) Tiêu chuẩn 4: Quan hệ giữa nhà trường, gia đình và xã hội gồm có
02 tiêu chí
- Ban đại diện cha mẹ học sinh
- Công tác tham mưu cấp ủy đảng, chính quyền và phối hợp với các tổ chức, cá nhân của nhà trường
(5) Tiêu chuẩn 5: Hoạt động giáo dục và kết quả giáo dục, gồm có 06
tiêu chí
- Thực hiện Chương trình giáo dục phổ thông
- Tổ chức hoạt động giáo dục cho học sinh có hoàn cảnh khó khăn, học sinh có năng khiếu, học sinh gặp khó khăn trong học tập và rèn luyện
- Thực hiện nội dung giáo dục địa phương theo quy định
- Các hoạt động trải nghiệm và hướng nghiệp
- Hình thành, phát triển các kỹ năng sống cho học sinh
- Kết quả giáo dục
1.4 Quản lý trường THPT tiếp cận chuẩn kiểm định chất lượng giáo dục
Để quả lý hiệu quả trường trung học phổ thông tiếp cận chuẩn kiểm định chất lượng giáo dục thì nhà quản lý trước tiên phải bám vào các chức năng quản lý, từ đó thực hiện công tác quản lý theo chuẩn Nội dung cần thực hiện gồm có:
1.4.1 Hoạch định kế hoạch hay kế hoạch hóa
Hoạch định kế hoạch là một chức năng cơ bản và mở đầu trong số các chức năng của quản lý Việc kế hoạch hóa sẽ gắn liền với xác định mục tiêu chiến lược và việc xác định các bước đi cụ thể của tổ chức nhằm đạt được mục tiêu trong tương lai với chi phí thấp, chất lượng đảm bảo
Khi thực hiện quản lý cơ sở giáo dục theo chuẩn kiểm định, nhà quản
lý cần rất chú ý tới các loại kế hoạch sau:
- Kế hoạch chiến lược: việc xây dựng kế hoạch chiến lược hay điều chính kế hoạch chiến lược cho phù hợp với quy trình quản lý mới phải
Trang 34được thực hiện trước tiên Nội dung cơ bản của một kế hoạch chiến lược gồm có xác định sứ mệnh, tầm nhìn và các giá trị cốt lõi; phân tích bối cảnh và thục trạng của nhà trường; mục tiêu và các giải pháp chiến lược; các chương trình hành động chiến lược; tổ chức thực hiện, giám sát, đánh giá việc thực hiện kế hoạch
Khi xây dựng kế hoạch chiến lược cần chú ý có một số công việc rất khó, trong đó có việc xác định sứ mạng của nhà trường, đó là tuyên bố ngắn gọn nhưng phải rõ ràng, dễ hiểu và tính bao quát cao Một sứ mạng của một trường vùng cao, biên giới chắc chắn khác với trường ở đồng bằng hay giữa thủ đô Tuyên bố sứ mạng sẽ quyết định việc phân bổ các nguồn lực của đơn
vị và hình thức phát triển và định hướng tương lai của nhà trường
Việc phân tích bối cảnh cần xem xét ở góc độ vĩ mô như môi trường gồm có kinh tế, chính trị, công nghệ, xã hội; những biến động lớn của môi trường và mức độ ảnh hưởng đến nhà trường
Căn cứ vào kế hoạch chiến lược, nhà trường tiến hành điều chỉnh đề án
vị trí việc làm cho phù hợp, từ đó quản lý phù hợp hơn
- Kế hoạch năm học: kế hoạch chiến lược cần được thực hiện cụ thể trong từng năm học, do vậy kế hoạch năm học cần rõ ràng, chi tiết đến từng tuần, từng tháng cụ thể, xác định rõ mục tiêu cần đạt cho từng nội dung công việc và giai đoạn cụ thể Trong bản kế hoạch cần thể hiện rõ:
Hội đồng tự đánh giá, phân công nhiệm vụ từng thành viên bao gồm Ban chỉ đạo, các thành viên thực hiện, các nhóm thư ký
Tổ chức phân tích nội hàm các tiêu chí, các chỉ số, từ đó xác định được yêu cầu cần đạt của mỗi chỉ số Căn cứ vào yêu cầu của mỗi chỉ số, đơn vị tiến hành xây dựng kế hoạch để thực hiện đạt được chất lượng theo yêu cầu của từng chỉ số và yêu cầu về minh chứng trong từng quá trình thực hiện nhằm đạt được yêu cầu đề ra
Xây dựng kế hoạch thực hiện và minh chứng cho từng quá trình thực
Trang 35hiện Việc xây dựng kế hoạch này cần giao cho các nhóm thực hiện xây dựng
và trao đổi nghiêm túc trước khi được Hiệu trưởng phê duyệt, kế hoạch này là rất quan trọng vì làm căn cứ căn bản để xây dựng kế hoạch kiểm tra, giám sát theo từng quá trình thực hiện
Để nghiên cứu từng tiêu chuẩn với các tiêu chí, chỉ số tương ứng ta cần thực hiện theo các bước sau:
Bước 1:
Gọi tên được đầy đủ các công việc cần làm để tạo minh chứng nhằm đạt được từng chỉ số, tiêu chí
Gọi tên được sản phẩm cần có của từng công việc
Xác định được những yêu cầu cần có của từng sản phẩm
Xác định người (tổ chức) thực hiện các công việc đó
Bước 2:
Tổ chức thảo luận về các công việc cần làm trong cơ quan, tổ chức, xác định ai làm, làm gì, những sản phẩm cần có, yêu cầu của từng sản phẩm Trong quá trình thảo luận có thể thêm bớt, sửa đổi các nội dung và cuối cùng
đi tới đồng thuận về những công việc cần làm và yêu cầu của sản phẩm
Bước 3:
Viết hướng dẫn quy trình thực hiện từng công việc Điều đó sẽ giúp nhà quản lý xác định được những việc cần làm và làm như thế nào để đạt được các tiêu chí, các tiêu chuẩn
Bước 4:
Tổ chức hướng dẫn, tập huấn, hỗ trợ để mọi thành viên trong cơ quan,
tổ chức thực hiện hết phần việc được giao Trong quá trình này người lãnh đạo cần chú trọng động viên, khích lệ, giúp đỡ mọi người hoàn thành công việc đúng hạn Đến đây nguyên tắc thứ hai được thực hiện: “Làm đúng những
gì đã viết” Quá trình giúp đỡ, hỗ trợ mọi người thực hiện các công việc chính
là quá trình quản lý chất lượng, mọi người chủ động làm ra các sản phẩm (minh chứng), sẵn sàng phục vụ cho tự đánh giá và kiểm định
Trang 36Bước 5:
Tập huấn và Tổ chức thực hiện để cho mỗi người viết báo cáo tự đánh giá công việc của mình được phân công Đây là nguyên tắc thứ ba là “Viết lại những gì đã làm theo đúng những gì đã viết” Hoạt động này sẽ được tiến hành một cách dễ dàng vì ai làm việc gì sẽ viết lại những gì họ đã làm theo hướng dẫn có các minh chứng đã được lưu trữ từ trước đó
Bước 5 là tự đánh giá hệ thống quản lý chất lượng đã được xây dựng và kết quả của sự vận hành hệ thống đó trong cơ quan, tổ chức (không phải đánh
giá chất lượng cơ quan, tổ chức)
- Kế hoạch cá nhân: Trên cơ sở kế hoạch nhà trường, kế hoạch tổ bộ môn, các cá nhân xây dựng kế hoạch năm học cho riêng mình Kế hoạch này cần đảm bảo theo các nội dung của bộ môn được quy định trong kế hoạch như nội dung chương trình, phương pháp giảng dạy, các nội dung tích hợp, liên môn, trải nghiệm, ngoại kháo Trong mỗi quá trình cần xác định được các minh chứng là gì, yêu cầu cần đạt của công việc đề ra là gì
1.4.2 Công tác tổ chức của đơn vị
Công tác tổ chức gồm có 02 nội dung là tổ chức công việc và tổ chức con người
Trang 37Tổ chức công việc thực chất là công tác sắp xếp công việc theo một trật
tự nhất định, phân chia công việc theo từng phần cụ thể và trách nhiệm thực hiện cho từng bộ phận, từng con người cụ thể Việc phân công phải rõ ràng, không để một người làm quá nhiều mà người khác không làm hoặc làm rất ít việc, nội dung phân công cần bám vào vị trí việc làm tương ứng, phù hợp với đặc thù bộ môn và chức danh trong đơn vị
Sau khi tổ chức công việc và phân công con người thực hiện cụ thể, người quản lý cần liên kết họ lại theo một mục tiêu thống nhất của nhà trường Mỗi cá nhân hay bộ phận hoàn thành nội dung công việc theo một thời gian và yêu cầu chất lượng theo kế hoạch đã được thống nhất trước
1.4.3 Hoạt động chỉ đạo hay điều hành thực hiên
Hoạt động điều hành của nhà quản lý nhằm tác động đến người thực hiên kế hoạch thêm mệnh lệnh và những khuyến khích về lợi ích, đảm bảo người thực hiện nhiệm vụ theo đúng kế hoạch và đảm bảo tiến độ và chất lượng công việc đề ra
Khi đã có kế hoạch và tổ chức thực hiện, nhà quản lý căn cứ vào tiến độ thực hiện thực tế và thơi điểm cần hoàn thành để ra lệnh, đôn độc thực hiện nhằm đảm bảo mục tiêu đề ra và đảm bảo yêu cầu chung về thời gian thực hiện
Trong công tác điều hành của nhà quản lý, cần phải có nhật ký nhằm ghi chép lại những tiến độ thực hiện, những phát sinh trong quá trình thực hiện từ đó kịp thời điều đỉnh mục tiêu, giải pháp cho phù hợp, đồng thời nhật
ký cũng là giải pháp nhắc nhở nhà quản lý phải chú ý đến tiến độ và chất lượng công việc của quá trình thực hiện
1.4.4 Hoạt động kiểm tra, đánh giá
Đánh giá là quá trình thu thập và xử lý thông tin một cách có hệ thống nhằm xác định mục tiêu đã và đang đạt được ở mực độ nào hoặc đánh giá là quá trình tu thập và xử lý thông tin mọt cách có hệ thống để đưa ra các quyết định [12, tr.37]
Trang 38Hoạt động kiểm tra, đánh giá trong quá trình thực hiện quản lý trường theo chuẩn cần chú ý công tác kiểm tra quá trình thực hiện Mỗi quá trình thực hiện cần được kiểm tra, đánh giá mức độ hoàn thành, chất lượng công việc theo mục tiêu Việc kiểm tra, đánh giá quá trình thực hiện là hình thức hữu hiệu để phòng ngừa những sai hoảng về chất lượng Từ việc kiểm tra đánh giá này có thể đánh giá được việc thực hiện kế hoạch và yêu cầu điều chỉnh mục tiêu, quy trình thực hiện hay giải pháp bổ sung nhằm đạt được mục tiêu chất lượng cuối cùng
Hoạt động kiểm tra nội bộ của các cơ sở giáo dục được Bộ GD&ĐT,
Sở GD&ĐT chỉ đạo thực hiện hành năm theo các chuyên đề được quy định
cụ thể Công tác kiểm tra giám sát quá trình quản lý theo chuẩn kiểm định phải được coi là nội dung quan trọng trong kế hoạch kiểm tra nội bộ các hoạt động giáo dục của nhà trường Kế hoạch kiểm tra phải được bám sát với kế hoạch quản lý chất lượng theo chuẩn của nhà trường, từ đó xác định thời điểm, nội dung kiểm tra cho phù hợp và tăng tính pháp lý của các hoạt động kiểm tra, đánh giá
1.5 Đánh giá về các yếu tố ảnh hưởng đến công tác quản lý trường THPT tiếp cận chuẩn kiểm định chất lượng giáo dục
Qua nghiên cứu các tài liệu tổng kết công tác kiểm định chất lượng tại
Sở GD&ĐT Lạng Sơn, qua nghiên cứu thực tế các đơn vị và thực tế tại trường THPT Tân Thành, cho thấy những yếu tố ảnh hưởng đến công tác quản lý trường trung học phổ thông tiếp cận chuẩn kiểm định chất lượng giáo dục gồm những yếu tố cơ bản sau:
1.5.1 Các hệ thống chính sách
Hệ thống chính sách không có sự phân định rõ ràng giữa đơn vị thực hiện tốt công tác quản lý theo chuẩn và đơn vị thực hiện không tốt Không phân định rõ giữa trường đạt mức 1, 2 hay 4 về đánh giá ngoài theo chuẩn
Trang 39Hiện tại các cơ sở giáo dục công lập đều không tự chủ được vấn đề tài chính, toàn bộ khoản chi thường xuyên đều theo ngân sách cấp hàng năm theo số lượng lao động trong biên chế hiện tại của đơn vị Như vậy không rõ về chính sách tài chính cho các cơ sở đạt mức khác nhau về kiểm định chất lượng và cũng không có khuyến khích rõ nét cho các cơ sở thực hiện quản lý theo chuẩn
Hiên tại các cơ sở giáo dục công lập không được tự chủ về đội ngũ giáo viên, cụ thể không được chủ động tuyển dụng, khi được giao người thì cũng không dễ gì loại được họ nếu học làm việc không được tốt Như vậy cái "biên chế suốt đời" đã kìm hãm rất đáng kể chất lượng giáo dục ở mỗi cơ sở và kìm hãm đáng kể việc triển khai công tác quản lý nhà trường theo chuẩn kiểm định Một yếu tố quan trong, quyết định sự thành công của công tác quản lý nhà trường theo chuẩn kiểm định không ai khác đó chính là đội ngũ cán bộ, giáo viên, vì họ là người thực hiện trực tiếp, thì yếu tố này lại là trở ngại cho công tác quản lý theo chuẩn
1.5.2 Nhận thức chung của cán bộ quản lý, giáo viên
Về cơ bản cho thấy công tác kiểm định không đem lại lợi ích, chỉ làm cho giáo viên, cơ sở giáo dục có thêm nhiều loại kế hoạch, thêm nhiều loại hồ
sơ như vậy là thêm việc cho cơ sở, còn chất lượng thì không tương đương với công sức bỏ ra
Có tình trạng làm đối phó, xây dựng kế hoạch theo những gì mình dễ dàng đạt được, không có sự kiên quyết
Về cơ bản thì cán bộ, giáo viên hiểu biết còn khá mơ hồ về công tác quản lý nhà trường tiếp cận theo chuẩn kiểm định Từ đó thật khó để thay đổi thói quen của một con người và thật khó nếu thay đổi theo cách làm khá mới
mẻ như quản lý theo chuẩn Nếu thay đổi cách làm mà nhiều việc hơn, lương không đổi, làm không tốt cũng không ai đuổi được mình thì thật sự khó, khi
đó nếu cố sẽ dẫn tới làm đối phó
Trang 401.5.3 Sự gắn kết giữa chuẩn kiểm định với thực tiễn tại các đơn vị
Chương trình giáo dục hiện tại còn khá nặng, kiến thức còn hàn lâm, nội dung chương trình chưa có độ mở Như vậy việc dạy học theo hướng phát triển năng lực, rèn luyện kỹ năng hay tích hợp, liên môn sẽ gặp rất nhiều khó khăn Khí đó các nhà trường muốn xây dựng lại chương trình cho phù hợp thì
số tiết sẽ tăng lên khi đó ngân sách sẽ không đảm bảo, bên cạnh đó năng lực giáo viên cơ bản còn chưa đáp ứng được tốt yêu cầu xây dựng chương trình
Về các tiêu chuẩn về cơ sở vật chất, đội ngũ cơ bản phụ thuộc cấp trên,
do vậy các nhà trường không được địa phương, ngành giáo dục ủng hộ thì rất khó đạt được các tiêu chí này
1.5.4 Năng lực của hiệu trưởng
Vai trò rất quan trong trong công tác quản lý nhà trường theo chuẩn là hiệu trường, người hiệu trưởng còn có sự hiểu biết chưa đầy đủ thì rất khó có thể triển khai được, không có quyết tâm để triển khai
Hiệu trưởng hiểu biết không đầy đủ thì việc xây dựng kế hoạch, tổ chức thực hiện sẽ có tính đối phó, không rõ việc, không rõ người và không rõ mục tiêu thực hiện để làm gì
Như vậy năng lực của hiệu trưởng sẽ quyết định công tác quản lý nhà trường tiếp cận chuẩn có được thực hiện đầy đủ hay không, thực hiện có khoa học hay không và kết quả thực hiện có đạt được mục tiêu là tăng chất lượng của nhà trường hay không