Phương hướng dạy học Toán Tiếng Anh ở Việt Nam theo cách tiếp cận CLIL là đúng đắn và phù hợp. Thiết kế các giáo án chủ đề đoạn thẳng lớp 6 theo hướng tiếp cận CLIL. Kết quả nghiên cứu luận án này có thể vận dụng vào thực tiễn ở Việt Nam.
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC
ĐOÀN THỊ HÀ
DẠY HỌC TOÁN TIẾNG ANH CHỦ ĐỀ ĐOẠN THẲNG CHO HỌC SINH
LỚP 6 THEO CÁCH TIẾP CẬN CLIL
LUẬN VĂN THẠC SĨ SƯ PHẠM TOÁN HỌC
HÀ NỘI – 2019
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC
ĐOÀN THỊ HÀ
DẠY HỌC TOÁN TIẾNG ANH CHỦ ĐỀ ĐOẠN THẲNG CHO HỌC SINH
LỚP 6 THEO CÁCH TIẾP CẬN CLIL
LUẬN VĂN THẠC SĨ SƯ PHẠM TOÁN HỌC
Mã số: 8.14.01.11
Người hướng dẫn khoa học: TS Vũ Đình Phượng
HÀ NỘI – 2019
Trang 3LỜI CẢM N
Lời đầu tiên trong luận văn này, tác giả xin chân thành cảm ơn các thầy giáo,
cô giáo và toàn thể cán bộ công nhân viên của trường Đại học Giáo Dục- Đại học Quốc Gia Hà Nội đã tận tình giảng dạy, hướng dẫn giúp đỡ và tạo mọi điều kiện thuận lợi cho tác giả trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu tại trường
Đặc biệt, tác giả xin tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới TS Vũ Đình Phượng, người
đã trực tiếp hướng dẫn và tận tình chỉ bảo giúp đỡ tác giả trong suốt quá trình nghiên cứu, thực nghiệm đề tài
Tác giả cũng xin chân thành cảm ơn gia đình, bạn bè, đồng nghiệp đã luôn động viên, bên cạnh giúp đỡ tác giả hoàn thành bài luận văn này
Trong quá trình hoàn chỉnh luận văn, mặc dù đã cố gắng song do trình độ, hiểu biết còn hạn chế nên luận văn khó tránh khỏi những sai sót Kính mong sự góp
ý, chỉ bảo của các thầy, cô giáo, bạn bè và đồng nghiệp
Xin trân trọng cảm ơn!
Hà Nội, tháng 6 năm 2019 Tác giả
Đoàn Thị Hà
Trang 5DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 1.1 Các mô hình CLIL 6
Bảng 1.2 Xác định ngôn ngữ trong dạy học môn khoa học bằng tiếng Anh 8
Bảng 1.3 Ví dụ về câu hỏi tư duy 13
Bảng 1.4 Nội dung giảng dạy hình học lớp 6 24
Bảng 2.1 Table of Cognitive skills 55
Bảng 3.1 Bảng quan sát thống kê học tập trong 1 tiết học lớp 6G1-Newton 88
Bảng 3.2 Bảng đánh giá kết quả bài kiểm tra 90 phút của HS sau khi được dạy thực nghiệm 89
Trang 6DANH MỤC CÁC HÌNH
Hình 1.1 Độ dài đoạn thẳng trong SGK Toán 6 của Việt Nam 28
Hình 1.2 Đơn vị độ dài đoạn thẳng trong sách nước ngoài 28
Hình 1.3 Hình vẽ của Tia trong SGK Toán 6 Việt Nam 29
Hình 1.4 Hình vẽ của Tia trong SGK nước ngoài 29
Hình 1.5 Bảng khảo sát GV dạy TTA trường THCS- THPT Newton 35
Hình 2.1 Hình ảnh trung điểm trong thực tế 45
Hình 3.1 GV giới thiệu bài và dẫn dắt vào bài mới 81
Hình 3.2 HS đọc hiểu và trả lời câu hỏi của GV 81
Hình 3.3 HS lên bảng làm bài tập vận dụng 82
Hình 3.4 Từng HS sẽ đọc lại các từ chuyên ngành TTA trong bài học 82
Hình 3.5 Một HS lên đọc mẫu các từ vựng sau đó cả lớp sẽ đồng thanh đọc theo
sau khi GV đã hướng dẫn cách đọc 83
Hình 3.6 HS giải bài toán thực tế cắt bánh Pizza 83
Hình 3.7 HS tham gia chơi game Slap blackboard cuối bài học 84
Trang 7MỤC LỤC
LỜI CẢM N i
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT ii
DANH MỤC CÁC BẢNG iii
DANH MỤC CÁC HÌNH iv
MỤC LỤC v
MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Mục đích nghiên cứu 2
3 Nhiệm vụ nghiên cứu 2
4 Giả thuyết khoa học 2
5 Phương pháp nghiên cứu 2
6 Khách thể và đối tượng nghiên cứu 2
7 C u trúc luận văn 2
CHƯ NG 1 C SỞ L LUẬN VÀ THỰC TI N 4
1.1 Giới thiệu về CLIL 4
1.1.1 Khái niệm và mô hình về CLIL 5
1.1.2 Nội dung và ngôn ngữ trong dạy học môn Toán Tiếng Anh theo cách tiếp cận CLIL 6
1.1.3 Những thách thức và giải pháp khi dạy học theo cách tiếp cận CLIL 9
1.1.4 Tổ chức dạy học Toán Tiếng Anh theo cách tiếp cận CLIL 11
1.2 Bốn chữ C của CLIL 13
1.2.1 Tìm hiểu bốn chữ C của CLIL 13
1.2.2 Vận dụng bốn chữ C của CLIL vào dạy học Toán Tiếng Anh 23
1.3 Chương trình hình học Toán lớp 6 tổng quan 24
1.3.1 Chương trình hình học Toán lớp 6 ở Việt Nam 24
1.3.2 Một số điểm khác nhau về nội dung hình học của Việt Nam và nước ngoài 27
1.4 Thực trạng dạy học Toán Tiếng Anh hiện nay ở Việt Nam 30
Trang 81.4.1 Thực tiễn dạy và học môn TTA tại Việt Nam trong thời gian qua 30
1.4.2 Khảo sát thực trạng 34
Tiểu kết chương 1 36
CHƯ NG 2 DẠY HỌC TOÁN TIẾNG ANH CHỦ ĐỀ ĐOẠN THẲNG CHO HỌC SINH LỚP 6 THEO CÁCH TIẾP CẬN CLIL 37
2.1 C u trúc kế hoạch bài học chủ đề “Đoạn thẳng” theo CLIL 37
2.2 Áp dụng CLIL vào việc giảng dạy chủ đề “Đoạn thẳng” lớp 6 44
2.2.1 Nội dung (Content) 44
2.2.2 Giao tiếp (Communication) 50
2.2.3 Nhận thức (Cognition) 55
2.2.4 Văn hoá (Culture) 57
2.3 Xây dựng các giáo án Toán trong chủ đề “Đoạn thẳng” lớp 6 theo cách tiếp cận CLIL 58
Tiểu kết chương 2 79
CHƯ NG 3 THỰC NGHI M SƯ PHẠM 80
3.1 Mục đích và nhiệm vụ thực nghiệm 80
Mục đ ch thực nghiệm 80
2 Nhiệm vụ thực nghiệm 80
Nội dung thực nghiệm 80
3.2 Tổ chức thực nghiệm 80
3.3 Đánh giá kết quả thực nghiệm 87
KẾT LUẬN 90
TÀI LI U THAM KHẢO 91 PHỤ LỤC
Trang 9MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Ở bậc THCS môn Toán có vai trò r t quan trọng Hiện nay theo xu hướng hội nhập quốc tế có r t nhiều trường học quốc tế được mở ra, nhiều cuộc thi qua mạng bằng Tiếng Anh được tổ chức trong đó có các cuộc thi về Toán học Mục đích của việc dạy Toán Tiếng Anh (TTA) giúp các con có khả năng đọc hiểu được các kiến thức TTA, trình bày bài giải TTA, nâng cao khả năng tư duy logic, khả năng lập luận, suy nghĩ đa chiều, giúp các con được tiếp cận với các chương trình Toán tiên tiến Từ đó các con sẽ cảm th y hứng thú và yêu thích học Toán hơn, cảm th y Toán gần gũi và thiết thực trong cuộc sống Xa hơn để các em học sinh có thể đi du học tại nhiều quốc gia, hay tham gia các kỳ thi tầm cỡ quốc tế thì việc dạy các môn học bằng tiếng Anh càng trở lên cần thiết
Nhu cầu dạy và học môn TTA đã đu ợc thể hi n thông qua Quyết định số 1400/QĐ-TTg ngày 30 tháng 9 na m 2008 của Thủ tu ớng Chính Phủ về vi c phê duy t Đề án “Dạy và học ngoại ngữ trong h thống giáo dục quốc dân giai đoạn
2008 - 2020” Mọ t trong những mục tiêu của Đề án này là: “ Đào tạo đu ợc các GV
có thể dạy môn chuyên ngành bằng tiếng Anh Dạy môn Toán và mọ t số môn Khoa học bằng tiếng Anh ở mọ t số tru ờng THPT và dạy mọ t phần các môn học ở
na m cuối Đại học bằng tiếng Anh” đã đu ợc Đảng và Nhà nu ớc coi là nhi m vụ trọng tâm
Tuy nhiên việc giảng dạy và học môn TTA hiện nay ở nước ta còn gặp nhiều khó khăn như: chương trình dạy học chưa thống nh t; đội ngũ giáo viên cũng như học sinh chưa đáp ứng được trình độ ngoại ngữ; công tác kiểm tra đánh giá còn nhiều b t cập,… Qua việc dạy và tìm hiểu các phương pháp tôi nhận th y việc dạy học TTA qua tiếp cận của CLIL (Content and Language Integrated Learning) đem lại nhiều hiệu quả cao
Chủ đề đoạn thẳng là một trong những chủ đề hay trong chương trình Toán lớp
6 Ở đó có sự giống và khác nhau giữa Toán học trong nước và quốc tế
Trang 10Vì những lí do đó, tác giả chọn đề tài nghiên cứu của luận văn là: “Dạy học Toán Tiếng Anh chủ đề đoạn thẳng cho học sinh lớp 6 theo cách tiếp cận CLIL”
2 Mục đ ch nghi n c u
Mục đích nghiên cứu của luận văn là áp dụng phương pháp CLIL vào dạy học Toán Tiếng Anh chủ đề đoạn thẳng lớp 6 Qua đó, góp phần nâng cao ch t lượng dạy và học môn Toán Tiếng Anh cho học sinh trường THCS
3 Nhi vụ nghi n c u
- Tổng hợp cơ sở lý luận và thực ti n về việc dạy học chủ đề đoạn thẳng
bằng tiếng Anh cho học sinh lớp 6 theo cách tiếp cận của CLIL
- Thiết kế các giáo án trong chủ đề đoạn thẳng bằng tiếng Anh cho học sinh lớp 6 theo cách tiếp cận của CLIL
4 Giả thu t khoa học
Nếu áp dụng cách dạy học chủ đề “Đoạn thẳng” bằng tiếng Anh cho học sinh lớp 6 theo tiếp cận của CLIL sẽ giúp học sinh nâng cao năng lực sử dụng tiếng Anh
để học Toán, tăng hứng thú, phát huy tính tích cực của học sinh trong học tập
5 Phư ng ph p nghi n c u
- Phương pháp nghiên cứu l luận: Nghiên cứu những tài liệu về phương pháp dạy
học môn toán, giáo dục học, tâm lý học, sách giáo khoa, sách bài tập,các bài báo, tạp chí có liên quan đến dạy học bằng tiếng Anh theo cách tiếp cận của CLIL
- Phương pháp điều tra quan sát: Quan sát, trò chuyện với học sinh để biết được
rèn luyện và phát k năng, qua đó đưa ra các nhận x t, đánh giá
- Phương pháp thực nghiệm sư phạm: Dạy học môn Toán Tiếng Anh cho học sinh
lớp 6 theo cách tiếp cận của CLIL
6 Kh ch thể và đối tượng nghi n c u
6.1 Khách thể nghiên cứu
Học sinh lớp 6 trường Phổ Thông Quốc Tế Newton
6.2 Đối tượng nghiên cứu
Quá trình dạy học chủ đề Toán Tiếng Anh lớp 6 theo tiếp cận của CLIL
7 C u tr c uận v n
Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo và phụ lục, luận văn gồm có
Trang 113 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận và thực ti n
Chương 2: Dạy học Toán Tiếng Anh chủ đề “Đoạn thẳng” cho học sinh lớp 6 theo cách tiếp cận CLIL
Chương 3: Thực nghiệm sư phạm
Trang 12CHƯ NG 1 C SỞ L LUẬN VÀ THỰC TI N
1.1 Giới thi u về CLIL
Có nhiều cách tiếp cận về dạy học môn Toán Tiếng Anh như dạy học ngoại ngữ chuyên ngành Toán, dạy học song ngữ, dạy học tích hợp nội dung và ngôn ngữ, Phần mở đầu này sẽ tập trung giới thiệu về một cách tiếp cận dạy học môn TTA đó là dạy học tích hợp nội dung và ngôn ngữ (CLIL) Dạy học theo cách tiếp cận CLIL có những đặc điểm sau:
- Vừa trang bị kiến thức văn hoá, vừa trang bị ngôn ngữ cho HS
- HS được phát triển k năng giao tiếp liên văn hoá trong giờ học
- HS được tiếp xúc nhiều hơn với ngôn ngữ chuyên ngành
- Tăng động lực và sự tự tin cho HS trong cả nội dung được dạy và ngoại ngữ [15]
Các khái niệm ban đầu của CLIL đã được sử dụng để chỉ định các môn học dạy học cho sinh viên thông qua một ngôn ngữ nước ngoài Theo Marsh: Sự khởi động CLIL tại châu Âu trong những năm 1994 mang theo cả tính ch t chính trị và dạy học; cụm từ CLIL đã được sử dụng hầu hết để chỉ các nền dạy học có sự tích hợp về nội dung và ngôn ngữ (Marsh, 2010) [30] Phần lớn các cách tiếp cận được bàn luận trong sách này đã được hoàn thiện ở các trường trung học và chỉ một số ít quốc gia như Áo, Phần Lan, Hungary và Tây Ban Nha hoàn thiện ở c p học sớm hơn (Kovács 2014, tr 51) [26] Thập niên cuối của thế kỉ XX đã chứng kiến sự phát triển mạnh trong những nghiên cứu về CLIL, mặc dù đã có sự tập trung hơn về
v n đề ngoại ngữ thay vì các yếu tố phi ngoại ngữ trong CLIL (Marsh, 2010, tr 5) [30] Nhờ vào nghiên cứu đa ngành thực hiện bởi nhóm các nhà ngôn ngữ học, nhà dạy học, nhà tâm lí học, thần kinh học, … kiểu dạy học hai mục tiêu đã dần dần được củng cố (Coyle và cộng sự, 2010 [19]; Mehisto và cộng sự, 2008 [31])
Các phần sau của chương sẽ giới thiệu rõ hơn cách tiếp cận dạy học CLIL
Trang 131.1.1 Khái niệm và mô hình về CLIL
CLIL (viết tắt Content and Language Integrated Learning) hay Dạy học t ch hợp nội dung và ngôn ngữ, có thể hiểu theo nhiều cách khác nhau Sau đây là một
vài định nghĩa trong số đó
văn hoá; chuẩn bị
cho việc quốc tế
là học tập kiến thức, môn chuyên ngành cùng với học tập một ngoại ngữ
(Van de Craen, 2006)
“chiếc ô” được sử dụng để nói về các tình huống giáo dục song ngữ
(Gajo, 2007)
Một định hướng giáo dục để dạy và học các môn học thông qua một ngôn ngữ không phải tiếng m đẻ (TKT: CLIL Handbook)
Như vậy, có thể hiểu CLIL là một định hướng hoặc phương pháp dạy học trong đó tích hợp việc dạy nội dung của chương trình học với việc dạy một ngôn ngữ không phải tiếng m đẻ (Bentley, 2010 [15]; Đào Thị Hoàng Hoa, 2014 [8])
Theo (Bentley, 2010) , các giáo viên CLIL có thể là giáo viên môn chuyên ngành, giáo viên ngoại ngữ, giáo viên tiểu học hay trợ giảng Những giáo viên khác nhau đối mặt với các thử thách không giống nhau Giáo viên ngoại ngữ cần học thêm về kiến thức chuyên môn còn giáo viên môn chuyên ngành cần học thêm về ngoại ngữ cho môn học của họ Đôi khi có sự hợp tác giữa giáo viên ngoại ngữ và giáo viên bộ môn Khi sử dụng CLIL cả người dạy và người học thu được r t nhiều lợi ích Người học sẽ biết thêm những khái niệm mới được định nghĩa trong ngôn ngữ nước ngoài Từ đó họ sẽ phát triển được k năng giao tiếp, cộng đồng, tư duy Người dạy cũng được củng cố thêm về từ vựng và mở mang kiến thức hơn [15]
Trang 14Mô hình CLIL thường được dùng để chỉ một loạt những tình huống và mô hình dạy học khác nhau Ba mô hình CLIL có thể có: CLIL mềm, CLIL cứng, và CLIL theo mô- đun
Đầu tiên về mô hình CLIL mềm: Dạy các chủ đề môn chuyên như là một
phần của khoá học ngoại ngữ, tức là ngôn ngữ chủ đạo
Mô hình CLIL cứng: Dạy các chương trình tích hợp một phần, nghĩa là gần
một nửa chương trình học được dạy bằng ngoại ngữ, tức là môn chuyên chủ đạo
Mô hình CLIL theo mô- đun: Các môn học như khoa học hay nghệ thuật
được dạy trong một số giờ học nh t định bằng tiếng nước ngoài [15] [8]
Bảng 1.1 sẽ trình bày rõ hơn về so sánh ba mô hình nói trên
45 phút 1 tuần
Một số chủ đề môn chuyên được dạy suốt khoá học ngoại ngữ Môn chuyên
chủ đạo (mô- đun)
15 giờ suốt một học kỳ
Chọn những phần của chương trình môn chuyên để dạy bằng ngoại
ngữ
Môn chuyên chủ đạo (tích hợp một phần)
Khoảng 50%
chương trình học
Khoảng một nửa chương trình học được dạy bằng ngoại ngữ Nội dung học có thể là những gì đã được dạy bằng ngôn ngữ thứ nh t hoặc là một nội dung hoàn toàn
Trang 15chuyên môn Người dạy có thể so sánh khái niệm và tính ch t giữa các v n đề Toán học của trong và ngoài nước Từ đó người học sẽ mở mang thêm kiến thức về môn Toán
Cả hai nội dung môn học và tiếng Anh được khám phá trong một bài học CLIL Một bài học không được xa cách tiếp cận nhân văn, giao tiếp, và từ vựng trong giảng dạy tiếng Anh, và nhằm mục đích hướng dẫn xử lý ngôn ngữ và hỗ trợ phát triển ngôn ngữ bằng đọc hoặc nghe những văn bản và c u trúc tiếng nói và chữ viết.[13] Đối với GV cần chú ý các đặc điểm sau:
- Tích hợp ngôn ngữ và k năng, và các k năng tiếp thu hiệu quả
- Bài học thường dựa vào việc đọc sách hoặc nghe các văn bản, đoạn
- Trọng tâm ngôn ngữ trong bài học không xem x t phân loại c u trúc
- Ngôn ngữ là chức năng và quyết định bởi bối cảnh của đối tượng.[13]
- Ngôn ngữ được tiếp cận từ vựng hơn là ngữ pháp
- Các loại nhiệm vụ cần dựa trên phong cách người học
Ngôn ngữ theo cách tiếp cận CLIL, Toán học đã được coi là lĩnh vực có nhu cầu ngôn ngữ tối thiểu Mặc dù vậy, nhưng để giải quyết v n đề của Toán học các
HS phải có k năng trong việc sử dụng ít nh t các căn bản ngôn ngữ của Toán học Các ngôn ngữ của Toán học bao gồm từ vựng chuyên ngành và bình luận kết quả
Nó cũng có thể kết hợp từ vựng hàng ngày, những từ đó sẽ mang nghĩa khác nhau
trong Toán học Ví dụ như từ function trong Toán học là hàm số, còn ngoài đời
sống nghĩa là chức năng, nhiệm vụ [9]
Việc sử dụng ngôn ngữ Toán học ở các nước khác nhau cũng có điểm khác nhau Ví dụ, d u phẩy được dùng để ngăn cách phần thập phân của các số, trong khi nước khác dùng d u ch m Những điểm khác nhau y đòi hỏi người học phải tích cực học tập, tích lu kinh nghiệm Ngoài ra người học còn gặp khó khăn trong giải quyết v n đề Toán học và trình bày bài bằng tiếng Anh Để giải quyết khó khăn trên cần đòi hỏi sự cố gắng từ hai phía người dạy và người học GV sử dụng các phương pháp, k thuật dạy học, có nền tảng về ngữ pháp tiếng Anh tốt, và từ vựng chuyên ngành tốt HS cũng cần trau dồi cho mình kiến thức về từ vựng chuyên ngành và
c u trúc câu trong tiếng Anh
Trang 16Khi học môn học qua tiếng Anh, mỗi đề tài học tập của môn khoa học bắt buộc sử dụng tiếng Anh học thuật, HS có nhu cầu tìm hiểu và trình bày các v n đề thuộc môn học cần đến biết cả ngôn ngữ trình bày khoa học và cả tiếng Anh giao tiếp Hai loại ngôn ngữ này được gọi là ngôn ngữ nội dung- bắt buộc (Content-obligatory language) và ngôn ngữ nội dung – tương thích (Content – compatible language)
+ Ngôn ngữ nội dung – bắt buộc (Content-obligatory language) [23]
Mỗi môn học bắt buộc sử dụng ngôn ngữ riêng liên quan đến nội dung khoa học, cụ thể là từ vựng, thuật ngữ, c u trúc ngữ pháp cần đến để:
- Học các chủ đề trong chương trình môn học
- Tiếp thu và trình bày kiến thức chủ đề
- Thực hiện các nhiệm vụ trong lớp học
+ Ngôn ngữ nội dung – tương thích (Content – compatible language)
Ngôn ngữ nội dung – tương thích là ngôn ngữ được sử dụng trong giao tiếp hàng ngày mà học sinh có thể học trong các lớp tiếng Anh thông thường, những ngôn ngữ này giúp học sinh tìm hiểu và trình bày đầy đủ hơn nội dung môn khoa học.[13]
Ví dụ, GV Toán có thể xác định các ngôn ngữ sau đây để tìm hiểu về đồ thị tuyến tính
Bảng 2 Xác định ngôn ngữ trong dạy học môn khoa học bằng tiếng Anh
Ngôn ngữ nội dung - bắt buộc
Content-obligatory language
Ngôn ngữ nội dung – tương thích
Content – compatible language
đồ thị tuyến tính, đồ thị không tuyến tính
linear graph, non-linear graph
Trang 17hệ trục toạ độ x, y
the x and y axes
tìm toạ độ điểm thuộc đồ thị
plot the coordinates on the graph
(giải thích) nghĩa là
(explaining) this means
(Nguồn: ESOL Examinations, 2010, [23])
1.1.3 Những thách thức và giải pháp khi dạy học theo cách tiếp cận CLIL
Theo cuốn “Teaching Maths through English- a CLIL approach” của trường Đại học Cambridge có viết r t rõ về những thách thức và giải pháp khi dạy học TTA theo cách tiếp cận CLIL [23]
- Thách thức và giải pháp dành cho giáo viên
Giáo viên bộ môn cần cảm th y tự tin về trình độ tiếng Anh của mình, đặc biệt nếu họ không sử dụng tiếng Anh thường xuyên Ví dụ, trong môn Toán GV bộ môn cần phải:
+ Có thể trình bày và giải thích các khái niệm trong lĩnh vực chủ đề của họ một cách rõ ràng và chính xác
+ Kiểm tra phát âm từ vựng cụ thể theo chủ đề có thể trông giống với các từ khác trong tiếng Anhnhưng có cách phát âm khác nhau
+ Có thể sử dụng ngôn ngữ lớp học thích hợp để đặt câu hỏi, di n giải, làm rõ, khuyến khích và quản lý các lớp học bằng tiếng Anh
Giáo viên bộ môn có thể sử dụng từ điển trực tuyến có chức năng âm thanh
để nghe từ vựng toán học phát âm Ví dụ: Từ điển trường Cambridge với CD-ROM
GV bộ môn cũng có thể sử dụng sách tham khảo ngữ pháp để thực hành các câu phức tạp
GV ngoại ngữ có thể được yêu cầu dạy các môn học trong CLIL Họ cần cảm th y tự tin về kiến thức môn học và các k năng chủ đề liên quan đến chủ đề
đó Ví dụ trong môn Toán, GV ngoại ngữ cần phải:
+ Biết cách giải thích các ý tưởng và các bước làm trong bài toán theo những cách khác nhau sẽ giúp người học hiểu sâu hơn
+ Sẵn sàng trả lời người học câu hỏi về chủ đề có thể xa lạ với họ
Trang 18+ Mở rộng kiến thức về từ vựng Toán học và phát âm của nó
GV ngoại ngữ có thể đọc về chủ đề ngoại khóa, khái niệm và k năng của môn học, trực tuyến hoặc bằng sách tiếng Anh GV đánh d u lại các từ vựng theo chủ đề và ghi lại nó trong các lĩnh vực chủ đề, ví dụ: đối xứng, hình 2 chiều, hình 3 chiều
Nếu có thể, cả GV bộ môn và GV ngoại ngữ hãy cùng nhau lập kế hoạch cho các chủ đề ngoại khóa để cả hai cùng có lợi từ lĩnh vực, chuyên môn của nhau [23]
- Thách thức và giải pháp dành cho học sinh
Hầu hết HS cần hỗ trợ đáng kể trong hai năm đầu tiên của việc học tiếp cận CLIL HS sẽ có nhiều nhóm đối tượng khác nhau; một số cần hỗ trợ để hiểu các khái niệm chủ đề, trong khi một số cần hỗ trợ nhiều hơn để truyền đạt ý tưởng về các khái niệm chủ đề
GV cần lập kế hoạch cho các hoạt động mở rộng để phát triển tính tự chủ và
k năng tư duy bậc cao trong lĩnh vực chủ đề của học sinh Hiện nay công nghệ thông tin và truyền thông có thể r t hữu ích cho các hoạt động học tập trực tuyến như webquest và tìm hiểu thực tế
- Thiếu tài liệu
Một trong những mối quan tâm phổ biến nh t của giáo viên CLIL là họ có thể tìm tài liệu phù hợp cho lớp học của mình hay không? Ngày càng nhiều, các nhà
xu t bản đang sản xu t tài liệu về các môn học bằng Tiếng Anh GV có thể sử dụng tài liệu bằng sách Tiếng Anh và tự dịch sang tiếng Việt, hoặc dùng sách của nhà
xu t bản đã dịch sẵn Ví dụ, hiện nay môn Toán có thêm bộ sách Toán Song Ngữ Anh- Việt phục vụ cho học sinh c p THCS-THPT Tuy nhiên, để tìm được một cuốn sách phù hợp không phải d dàng
- Kiểm tra, đánh giá
Cách kiểm tra, đánh giá CLIL vẫn còn nhiều tranh cãi GV không chắc chắn liệu họ nên đánh giá nội dung, ngôn ngữ hoặc cả hai Các khu vực khác nhau, các trường khác nhau và các GV khác nhau đánh giá theo nhiều cách khác nhau Điều quan trọng là có sự đánh giá về hình thức cũng như tổng kết trong các môn học CLIL và sự nh t quán trong cách đánh giá của người học đối với các môn học ở mỗi
Trang 19trường HS, phụ huynh và các đồng nghiệp khác cần biết những gì người học đang được đánh giá và cách họ được đánh giá
1.1.4 Tổ chức dạy học Toán Tiếng Anh theo cách tiếp cận CLIL
Dạy và học Toán Tiếng Anh là một trường hợp cụ thể của CLIL với môn học
là Toán và ngôn ngữ học là Tiếng Anh Hiện nay tại Việt Nam có hai hình thức dạy Toán Tiếng Anh: dạy hoàn toàn bằng tiếng Anh và dạy song ngữ (kết hợp cả tiếng Anh và tiếng Việt) Hình thức dạy song ngữ phổ biến hơn, đã được triển khai tại một số trường học quốc tế và ngoài công lập
Việc dạy học các môn học bằng ngôn ngữ thứ hai (không phải tiếng m đẻ)
đã được nhiều nước nghiên cứu Trường Đại học Cambridge nghiên cứu phương pháp để dạy các nội dung của môn khoa học thông qua các phương tiện ngôn ngữ không phải tiếng m đẻ Thông qua các khoá học CLIL học viên có được kiến thức
và sự hiểu biết về chuyên ngành trong khi đồng thời học tập và sử dụng ngôn ngữ thứ hai
Toán học là môn học có ngôn ngữ rõ ràng, trong sáng và tương đối đơn giản
HS không cần m t nhiều thời gian mà vẫn có đủ vốn từ để theo học Học Toán là học cách tư duy, học toán tiếng Anh là học cách tư duy trực tiếp bằng tiếng Anh Tổ chức dạy học Toán Tiếng Anh theo cách tiếp cận CLIL cần đáp ứng được bốn chữ
C trong định hướng đó
Vậy giáo viên Toán Tiếng Anh làm thế nào có thể lập một kế hoạch bài dạy theo cách tiếp cận CLIL? Trong tài liệu “Teaching Maths through English- a CLIL approach” của trường Đại học Cambridge trình bày về việc lập kế hoạch bài dạy theo cách tiếp cận CLIL
Trước tiên, GV cần xem x t kết quả học tập của từng bài học và từng khóa học HS sẽ biết và hiểu gì về Toán học? HS sẽ có thể làm gì khi kết thúc bài học hoặc khóa học mà các em không biết lúc đầu? Những k năng nào HS sẽ thành thạo
và thái độ nào về hợp tác học sinh sẽ phát triển? Kết quả học tập tập trung vào HS, vào những gì người học có thể đạt được thay vì vào những gì GV đang dạy [23]
Ví dụ, trong Toán học:
Trang 20Học sinh sẽ biết Học sinh có thể Học sinh sẽ tự nhận biết
được
chiều dài của bán kính
bằng một nửa chiều dài
gọi tên các thành phần khác nhau của hình tròn
ứng dụng của các công thức Toán học vào cuộc sống hàng ngày
Ví dụ: tính khoảng cách một chiếc xe đạp đi được
Về nội dung môn học, HS cần học ngôn ngữ theo chủ đề nhiều hơn một lần,
vì vậy xem lại một khái niệm mới giúp hiểu sâu hơn Ví dụ, mean, median và mode thường bị nhầm lẫn vì các từ tương tự nhau Do đó, GV cần trình bày cho HS các nhiệm vụ khác nhau đòi hỏi sử dụng các khái niệm giống nhau để xem x t lại việc học Trong khi lập kế hoạch dạy học, GV cũng cần lưu ý b t kỳ khó khăn nào mà
HS có thể gặp phải với việc học nội dung và ngôn ngữ tích hợp
Về giao tiếp, các hoạt động giao tiếp nên được tích hợp trong giờ học Toán Tiếng Anh, thay vì để đến cuối bài học.Vì CLIL thúc đẩy học tập tương tác, GV cần lập kế hoạch cho các hoạt động làm việc theo nhóm để HS có thể giao tiếp nâng cao vốn từ vựng theo chủ đề Các hoạt động giao tiếp có thể là:
• Giao tiếp thời gian ngắn, ví dụ: GV nói với HS có 3 phút để làm việc với một bạn trong một cặp để đặt tên cho các góc trên bảng sau đó ước tính kích thước của chúng
• Giao tiếp thời gian lâu hơn, ví dụ: GV nói với HS có 10 phút để làm việc với các bạn khác trong lớp để vẽ bốn góc b t kỳ, đặt tên cho góc và sau đó kiểm tra
số đo từng góc bằng cách sử dụng thước đo độ Cuối cùng, các HS cùng nói với nhau về hình vẽ của mỗi bạn chính xác hay không
Về k năng tư duy và học tập cũng cần được lên kế hoạch HS có chuyển từ
k năng tư duy bậc th p sang k năng tư duy bậc cao trong bài học không? GV bộ môn cần lập kế hoạch cho các loại câu hỏi họ sẽ hỏi để phát triển cả hai loại tư duy Bảng dưới đây cung c p một số ví dụ:
Trang 21Bảng 3 V dụ về câu hỏi tư duy
Câu hỏi tư duy
trong các câu sau,
vì sao?
-Một tam giác có 2 góc tù
-Một tứ giác có 4 góc nhọn
để phát triển k năng lý luận và phân tích
(Nguồn: ESOL Examinations, 2010 [23])
Giáo viên CLIL cần lập kế hoạch làm thế nào để hỗ trợ người học phát triển các k năng học tập như quan sát chi tiết, ghi chú, tóm tắt và lập kế hoạch cách thực hiện các nhiệm vụ giải quyết v n đề Trong t t cả các bài giảng, GV cần tìm tài liệu
và đánh giá chúng để đảm bảo nội dung và ngôn ngữ phù hợp với HS ở từng lớp
Cách tiếp cận CLIL thúc đẩy liên môn với các môn học khác trong chương trình giảng dạy, vì vậy GV nên có kế hoạch bao gồm các tài liệu tham khảo để học nội dung tương tự trong các môn học khác Ví dụ, nếu HS đang học đo lường trong Toán học, sẽ r t hữu ích nếu GV tìm hiểu xem HS đang nghiên cứu đo nhiệt độ trong địa lý hay đo khối lượng trong khoa học Sau đó, GV có thể củng cố việc học
về đo lường được trình bày trong các lĩnh vực chủ đề khác
1.2 Bốn chữ C của CLIL
1.2.1 Tìm hiểu bốn chữ C của CLIL
CLIL được mô tả bao gồm 4 chữ C thành phần: nội dung (content), giao tiếp (communication), tư duy (cognition) và văn hoá (culture) [19] Việc tích hợp giữa nội dung, giao tiếp, tư duy và văn hoá là một cách hữu hiệu để biểu đạt mục tiêu và kết quả dạy học Chữ C thứ tư đôi lúc được hiểu là công dân (citizenship) hay cộng đồng (community) Bốn chữ C được kết nối chặt chẽ với nhau Cụ thể 4C là:
Trang 221.2.1.1 Nội dung (Content):
Các môn học thường được dạy trong CLIL bao gồm giáo dục công dân, địa
lý, lịch sử, tin học, văn học, giáo dục thể ch t, toán học, âm nhạc, và các môn khoa học Một số chương trình CLIL phát triển sự liên môn giữa các môn học khác nhau Đối với môn Toán các nội dung có thể được dạy là: hàm số, c p số cộng, c p số nhân hay giải phương trình hai ẩn (Bentley, 2010 [15]; Chu Thu Hoàn, 2018 [9])
Giáo viên cần có bước đệm gợi ý (scaffolding) cho HS Bước đệm gợi ý (scaffolding) là các bước GV hướng dẫn HS để HS có thể hiểu được nội dung bài mới và phát triển những k năng mới Sau đó, HS có thể áp dụng những kiến thức mới trong nhiều trường hợp khác nhau mà không cần sự hỗ trợ của GV gợi ý bước đệm Trong Toán học việc tạo bước đệm gợi ý có thể là cách chia nhỏ bài toán theo
c p độ từ d đến khó [15]
Một khía cạnh quan trọng của bước đệm gợi ý là tạm thời Khi khả năng của người học tăng lên, việc gợi ý được cung c p bởi giáo viên sẽ bị rút dần dần Cuối cùng, người học có thể hoàn thành nhiệm vụ hoặc nắm vững các khái niệm một cách độc lập Do đó, mục tiêu của GV khi sử dụng chiến lược dạy học này là để HS trở thành một người học và người giải quyết v n đề độc lập và tự điều chỉnh Khi kiến thức và năng lực học tập của người học tăng lên, GV giảm dần các hỗ trợ cho
HS Một số ví dụ về bước đệm gợi ý:
-Tạo sự quan tâm về v n đề cần giải quyết
- Chia nhiệm vụ trong các bước nhỏ
- Cung c p những gì cần thiết trước, trong và sau khi hỗ trợ
- Sử dụng hình ảnh và đồ vật thật để minh hoạ
- Phân công nhiệm vụ cụ thể
- Sử dụng ngân hàng từ, từ mới, bảng c u trúc câu,…
- Cung c p thông tin phản hồi [15]
Giáo viên cần xây dựng những gợi ý dựa trên những gì HS đã biết về chủ đề này và xây dựng dựa trên ngôn ngữ mà HS đã biết Sau đó, GV cần hỗ trợ HS để đạt được bước tiếp theo trong việc hiểu nội dung môn học trước khi các em có thể
tự làm được Cần nhiều bước đệm gợi ý hơn khi HS phải hiểu các môn học mới và
Trang 23chưa quen Bước đệm gợi ý cũng là cần thiết để tạo ra sự tương tác và hợp tác trong lớp học GV có thể đặt các câu hỏi để người học có thể làm việc cùng nhau để chuẩn bị HS bàn bạc, trao đổi, giải thích, so sánh hoặc mô tả trước khi trình bày ý tưởng của mình trước lớp
Trong dạy học TTA các k năng nghe, nói, đọc viết r t quan trọng, bởi HS phải nghe, hiểu được ngôn ngữ Tiếng Anh K năng tiếp thu, k năng tiếp nhận
(receptive skills) còn được gọi là k năng đọc và nghe thường tương phản với k năng sản xu t (productive skills) hay nói và viết HS có xu hướng phát triển k năng
tiếp thu trước và sau đó có được năng lực sản xu t Hai k năng trên có quan hệ với nhau, đều đóng vai trò hỗ trợ với việc phát triển các k năng khác Ví dụ, k năng đọc có thể là một yếu tố hỗ trợ cho sự phát triển của k năng viết, trong khi nghe có thể cải thiện khả năng nói trôi chảy
+ Bước đệm gợi ý kỹ năng nghe và đọc
- Khuyến khích HS dự đoán những gì họ có thể nghe hoặc đọc
- Dạy trước hoặc khơi gợi nội dung từ vựng mới
- Yêu cầu HS gạch chân những ý chính ở c p độ từ và câu
+ Bước đệm gợi ý kỹ năng nói và viết
- Nói về những gì sẽ được nói hoặc viết
- Cung c p những bài mẫu luyện k năng nghe và đọc trước khi nói và viết
- Giúp học sinh chú ý đến các chữ, câu từ sẽ sử dụng nhiều trong khi làm bài
- Sử dụng những sơ đồ, gợi ý để HS hiểu v n đề
- Khuyến khích việc cộng tác làm việc nhóm, từ đó HS có thể gợi ý cho nhau những
ý tưởng
- Giúp HS nghĩ về những gì sẽ nói hoặc viết, và tại sao nói và viết về v n đề đó
+ Bước đệm gợi ý cho cả bốn kỹ năng: nghe, nói, đọc, viết
- Nhắc lại kiến thức đã học trước đây của môn học
- Nói cho HS biết về v n đề gì họ sẽ nghe, nói, đọc, viết
- Cung c p những câu hỏi cho HS để tránh sự hiểu lầm, sai lệch
- Có thời gian để HS có thể hỏi những câu hỏi về bài học
- Giúp HS tạo sự liên kết bài học mới với những gì đã học trước đó
Trang 24- Khuyến khích tương tác giữa bốn k năng nghe, nói, đọc, viết Trong các giờ học, mọi hoạt động giữa GV và HS đều có sự tương tác của cả 4 k năng
- Nói phản hồi liên tục về mức độ tiến bộ của HS
- Đưa ra phản hồi liên tục về việc HS đã làm tốt nhiệm vụ được giao
- Khuyến khích học sinh suy nghĩ về những gì đã làm được [15]
Trong dạy học, GV cần có thời gian cho HS củng cố lại kiến thức đã được học Đặc biệt khi dạy học theo cách tiếp cận CLIL, HS tiếp thu kiến thức mới với ngôn ngữ khác tiếng m đẻ nên việc củng cố lại kiến thức càng trở lên quan trọng Theo Bentley (2010), củng cố kiến thức không chỉ đơn giản là xem lại nội dung kiến thức vào ngày hôm sau, vào tuần sau HS nên chủ động trong kiến thức, những
gì đã học trước đây để có thể cải thiện các k năng GV nên giao cho HS nhiều nhiệm vụ học tập khác nhau để có thể học đi học lại kiến thức đã học
Khi GV nhận th y HS của mình có nhiều đối tượng khác nhau trong lớp học thì GV cần phải phân hoá kiến thức, bài tập cho phù hợp với từng đối tượng học sinh Việc phân hoá r t quan trọng trong CLIL vì các k năng về ngôn ngữ của HS khác với k năng về môn học Một số HS có thể là học sinh xu t sắc về môn Toán nhưng khi tìm đọc các v n đề TTA lại r t khó khăn Một số HS khác học ngoại ngữ
r t tốt nhưng để hiểu những bài học, v n đề khoa học, Toán, bằng ngôn ngữ không phải tiếng m đẻ cũng gặp nhiều trở ngại [15]
- Củng cố kiến thức
Trước những v n đề trên thì GV cần phải làm gì để củng cố kiến thức cho
HS của mình? GV cần quan sát HS để nhìn ra những khó khăn khi HS gặp những khó khăn khi gặp những v n đề mới Những khó khăn có thể do HS bị hổng kiến thức môn học, khả năng học ngoại ngữ chưa tốt hoặc chúng không hiểu nội dung bài học Khi GV nhận th y một nhóm HS không hiểu bài thì nhiệm vụ của GV là nhắc nhở HS chú ý đến những điều quan trọng trong bài học, dùng những ví dụ để
HS có thể d hình dung kiến thức lý thuyết thuần tuý Khi th y HS làm bài sai, GV cần giải thích tại sao câu trả lời đó lại không đúng Thậm chí GV sẽ giảng lại, chứng minh lại bài một lần, hoặc nhiều lần cho HS
Trang 25Để có thể hiểu tốt về bài học, HS cần nhắc lại, ôn tập lại các kiến thức đã được học trước khi sang bài mới Khi bắt đầu một bài học, sẽ r t tốt nếu như GV cho HS nhắc lại, kiểm tra lại các kiến thức đã học ở bài trước HS có thể lên bảng kiểm tra miệng, hay GV phát phiếu bài tập nhỏ để HS kiểm tra viết Khi kết thúc bài học, GV sẽ tổng kết lại những gì đã học trong tiết học qua sơ đồ tư duy, qua những gạch đầu dòng, Đặc biệt trong môn TTA, HS cần được củng cố, nhắc lại các từ vựng vừa được học Nhiều HS hiểu được tầm quan trọng của việc nhắc lại kiến thức, nhưng thực tế các em thường không dành thời gian để làm việc đó Vì thế
GV sẽ là người định hướng, giúp HS củng cố, nhắc lại kiến thức Phần tổng kết kiến thức GV có thể tích hợp chơi trò chơi hoặc để HS có thuyết trình lại
GV nên giao bài tập về nhà cho HS sau khi bài học kết thúc Bài tập về nhà
có thể là những phiếu học tập hay đơn giản chỉ là học thuộc công thức, từ vựng, hay chuẩn bị kiến thức cho bài tiếp theo HS có thể làm bài tập về nhà trên lớp, dành thời gian ở nhà để tổng hợp, nhắc lại kiến thức Bài tập về nhà có thể được cho trong phiếu bài tập hoặc bài tập trong sách, giáo trình của HS
- Phân hoá kiến thức
Vì có nhiều đối tượng HS có học lực khác nhau trong lớp nên việc phân hoá kiến thức càng trở lên quan trọng Vậy, chúng ta có thể làm gì trong một bài học CLIL
để đảm bảo các bài học của chúng ta có sự phân hoá?
Theo Bentley, GV có thể điều chỉnh nội dung chương trình giảng dạy, ngôn ngữ để trình bày kiến thức môn học GV có thể sử dụng nhiều cách để phân loại HS khác nhau
Việc phân hoá là một trong những chiến lược cần thiết và hiệu quả nh t trong lớp học CLIL GV cần đặt mục tiêu ngắn hạn có thể đạt được và đánh giá hiệu quả của việc phân hoá mà mình đã đưa ra
Trên trang clilmedia.com chia sẻ một số cách để GV có thể phân hoá Điều
đầu tiên GV có thể làm trong t t cả các bài học của mình là nhắc lại kiến thức cũ, có thể thông qua hình thức kiểm tra bài cũ Đây thường là một loạt các câu hỏi liên quan đến các bài học trước Những câu hỏi này có thể là về lý thuyết hoặc về ứng dụng (tính toán) Để phân hoá tốt được đối tượng HS, sau khi GV thảo luận xong về
Trang 26các bài tập này và kiểm tra xem có bao nhiêu người đã đúng, GV sẽ cung c p cho
họ một loạt bài tập để làm tiếp theo, dựa trên mức độ HS đã làm trong suốt phần bài tập được giao Ví dụ: nếu một HS đạt điểm 10 trên 10, em có thể tiếp tục thực hiện các bài tập khó hơn
Khi trình độ giữa các HS cách biệt nhau r t lớn, GV cần có sự phân hoá trong quá trình giảng dạy Việc phân hoá thông qua các mã màu có thể làm cho HS học tốt hơn và hứng thú hơn, nhóm HS học k m sẽ không tự ti hoặc ngược lại Ví dụ, GV
có thể quyết định mã màu cho từng HS: xanh dương, vàng và xanh lục Những màu sắc đó là: độc lập, cần một số trợ giúp, nhận hầu hết sự giúp đỡ Trong quá trình giảng dạy, các HS có các vai trò khác nhau tùy thuộc vào màu sắc của họ Ví dụ trong tiết học GV sẽ chia lớp làm 3 nhóm: nhóm màu xanh dương, nhóm màu vàng
và nhóm xanh lục Nhóm màu xanh dương chỉ được ph p nghe khi họ cảm th y cần thiết, nếu không họ sẽ được ph p làm bài tập về nhà ngay trên lớp (khác với hai nhóm còn lại) Nhóm màu vàng phải nghe hướng dẫn, nhưng sau đó họ phải làm việc cùng nhau để tìm ra câu trả lời là gì nếu gặp phải khó khăn Nhóm xanh lục có thể yêu cầu GV giúp đỡ và nhận được mức độ ưu tiên cao hơn các nhóm khác Với mỗi nhóm GV có thể ra các bài tập ở mức độ khó d khác nhau
Những HS độc lập và muốn làm việc theo tốc độ và trình độ của riêng họ có thể làm r t tốt Những HS cần giúp đỡ nhiều hơn cũng nhận được nhiều điều bổ ích
Vì vậy, GV không chỉ giúp HS tận dụng tối đa hướng dẫn, còn có động lực học tốt hơn vì HS biết GV sẽ đối xử dựa trên khả năng của HS
Ý tưởng cuối cùng cho sự phân hoá là cung c p thử thách mọi lúc mọi nơi Điều này có thể ở dạng mục tiêu bài học hoặc cuối bài học, và cho ph p HS thử và tìm ra nó, hoặc bằng cách thiết lập một bài tập thử thách vào những thời điểm khác trong bài học Khi có những thử thách, HS sẽ cố gắng hết mình để vượt qua Sẽ hiệu quả hơn nếu GV kết hợp việc trao thưởng cho HS nào vượt qua những thử thách đó Việc làm đó cũng giúp việc phân hoá HS r t tốt Ví dụ, trong tiết học về trung điểm của đoạn thẳng khi tham gia trò chơi, GV sẽ đưa ra thử thách cho HS phải nhớ được các từ vựng ngay sau khi buổi học kết thúc Nếu không vượt qua thử thách sẽ phải
ch p từ vựng nhiều lần khi về nhà
Trang 271.2.1.2 Giao tiếp (Communication):
Người học không chỉ học được nội dung môn học (môn Toán) thông qua một ngoại ngữ (Tiếng Anh), mà HS còn phải giao tiếp, trao đổi những v n đề thuộc nội dung môn học thông qua ngoại ngữ đó Người học cần phải sử dụng ngoại ngữ dành cho môn chuyên ngành ở cả dạng nói và dạng viết CLIL hướng đến việc tăng cường STT (student talking time- thời gian học sinh nói) và giảm TTT (teacher talking time-thời gian giáo viên nói) Chúng ta cũng nên khuyến khích sự tự đánh giá, và các phản hồi theo nhóm, của bạn học Khi người học sử dụng ngoại ngữ để học nội dung môn chuyên ngành, khi đó họ đã thực hiện việc tích hợp kiến thức môn chuyên ngành và các k năng ngoại ngữ „Bằng cách sử dụng ngoại ngữ để học nội dung, việc giao tiếp trở nên có ý nghĩa vì ngoại ngữ là một công cụ để giao tiếp, không phải là mục đích cuối cùng‟ (Pe`rez-Vidal, 2009) Ví dụ, trong lớp dạy học môn TTA HS sử dụng ngoại ngữ để thảo luận theo nhóm giải một bài hình học theo nhiều cách khác nhau [9]
Theo Bentley (2010), HS cần phát triển k năng giao tiếp trong giờ học CLIL HS cần di n di n đạt, giải thích về suy nghĩ, cảm nhận của mình cả bằng văn bản cũng như bằng miệng Vì vậy k năng giao tiếp r t quan trọng để di n đạt ý tưởng về môn học và giúp HS trao đổi, làm việc tốt với nhau hơn [15]
Để phát triển khả năng giao tiếp khi áp dụng phương pháp CLIL HS cần hiểu
rõ được chức năng giao tiếp (mục đích của việc nói và viết) từ các môn học khác nhau Trong khi giao tiếp các v n đề thường liên quan đến việc đưa ra các ví dụ, mô
tả một quá trình, đưa ra quan điểm cá nhân, giải thích lý do lựa chọn quan điểm đó,
GV cần có kế hoạch tổ chức các hoạt động giúp HS phát triển k năng giao tiếp Các hoạt động đó có thể ngoài giờ học, với các lớp khác trong trường và với
địa phương Điều đó r t quan trọng để tăng thời gian HS được nói (student talking time STT) và giảm thời gian GV nói trên lớp (teaching talking time TTT) và đặc biệt
sẽ giúp HS tiến bộ hơn nhiều
Trang 28Trước khi bắt đầu hoặc kết thúc bài học GV nên cho HS tìm hiểu và nói về những gì HS đã biết về chủ đề, nội dung sẽ tìm hiểu và điều HS muốn biết liên quan
tới chủ đề này GV có thể sử dụng các câu hỏi mở nhiều hơn các câu hỏi đóng
Những cách làm sẽ khuyến khích giao tiếp được tốt hơn từ phía HS đó là:
+ cùng nhau làm việc trong suốt quá trình thảo luận
+ trở thành đối tác phản hồi và đưa ra phản hồi bằng cách sử dụng các tiêu chí mà
+ chuẩn bị tốt poster, hoặc Powerpoint để thuyết trình
+ tích cực tham gia những buổi tranh luận, hùng biện
+ có phản hồi khi kết thúc bài học
Trước khi bắt đầu làm hoạt động giao tiếp, GV cần:
+ làm rõ mục đích và kết quả sẽ thu được cho HS
+ xác định quy tắc, thời gian di n ra hoạt động giao tiếp
+ chỉ định rõ vai trò của các nhóm
Sau khi kết thúc hoạt động giao tiếp GV cần đưa ra những phản ánh: Chúng
ta đã làm như thế nào? Chúng ta có thể cải thiện như thế nào? [15]
Trang 29so sánh đối chiếu Trong khi dạy học, GV nên viết kèm phiên âm ngay cạnh từ vựng, có thể chèn luôn cách phát âm trực tiếp vào slide trình chiếu Sau đó GV đọc
to rõ ràng và chú ý đến trọng âm của từ GV yêu cầu cả lớp đọc đồng thanh và gọi từng HS kiểm tra cách đọc HS sau khi được hướng dẫn phát âm sẽ đọc cùng các bạn ngồi cạnh Hai HS có thể làm nhóm với nhau, từ đó k năng giao tiếp sẽ được cải thiện
Khi giao tiếp với HS, GV nên nói rõ ràng và chậm hơn so với nói trong giao tiếp thông thường GV nên sử dụng ngôn ngữ tối giản, những câu đơn giản và ngắn gọn nh t, để HS d nghe, d hiểu Ngoài ra, GV cần tránh sử dụng biệt ngữ, tiếng lóng, và sử dụng thường xuyên các từ khoá của bài học để HS có thể ghi nhớ tốt Trong khi giảng bài cho HS, GV nên đưa ra những mẫu câu, c u trúc câu sẽ sử dụng nhiều trong bài học
Tuỳ theo từng đối tượng của mỗi lớp mà GV sẽ đưa ra những câu hỏi, yêu cầu phù hợp GV đưa ra những c u trúc câu và lỗi sai thường gặp khi trình bày bài giải GV thường xuyên nhắc lại những c u trúc câu quan trọng cho HS hoặc có thể đặt câu hỏi để HS cả lớp cùng trả lời Việc làm y sẽ giúp các em tự tin hơn, hứng thú hơn trong khi nói mà không sợ mình nói sai [15]
Ngoài ra, GV cần thường xuyên cập nhật, bổ sung kiến thức mới cho việc dạy học; liên kết với GV Toán để bổ sung thêm kiến thức chuyên sâu hơn về mặt Toán học
- Nhớ, hiểu và vạ n dụng đu ợc các cách di n đạt và mẫu câu thu ờng dùng cho từng
nọ i dung để sử dụng trong quá trình dạy học TTA Sau đó sẽ hu ớng dẫn để HS hiểu
và vạ n dụng đu ợc vào các bài tu o ng tự Vi c trình bày bài toán thuần túy Toán học trong quá trình dạy học TTA không quá khó kha n Tuy nhiên, nếu gạ p các bài toán
Trang 30có tính thực tế, GV cũng cần cố gắng luy n viết các chủ đề liên quan đến bài toán
đó để giúp HS kĩ na ng viết, trình bày bằng tiếng Anh loại bài này
Không chỉ cần rèn luy n cho HS từng kĩ na ng riêng lẻ, mà còn cần đu a ra các hoạt động phối hợp nhiều kĩ na ng ngôn ngữ nhằm giúp HS phát triển đu ợc na ng lực ngôn ngữ mọ t cách đầy đủ nh t [9]
1.2.1.3 Nhận thức (Cognition):
CLIL thúc đẩy các k năng tư duy hay kĩ năng nhận thức, và điều này tạo ra
sự thử thách đối với người học Trong lớp học, yêu cầu người học cần k năng tư duy gì đang trong các bài học? Các k năng tư duy của người học cần được phát triển để từ đó họ có thể học tốt các nội dung môn chuyên ngành Các k năng đó bao gồm k năng lập luận, tư duy sáng tạo, tư duy phản biện và đánh giá „Việc dạy học CLIL tốt được dẫn đường bởi tư duy‟ [31] Người học cũng cần dạy thứ ngôn ngữ học cần để bộc lộ suy nghĩ và quan điểm Ví dụ trong lớp học môn TTA, HS sử dụng tiếng Anh để đọc, hiểu các từ chuyên ngành và hiểu đề bài, từ đó so sánh sự giống và khác nhau giữa tiếng Anh chuyên ngành và Tiếng Anh giao tiếp
Theo (Bentley, 2010), k năng tư duy, nhận thức là quá trình mà bộ não của chúng ta sử dụng khi suy nghĩ và học về v n đề nào đó K năng này phát triển từ
độ tuổi còn r t trẻ HS tiến bộ từ việc xử lý thông tin hoặc k năng tư duy cụ thể
(concrete thinking) như xác định và tổ chức thông tin (các câu hỏi cái gì, khi nào, ở đâu, ai, bao nhiêu, ) đến các suy nghĩ trừu tượng (abstract thinking)
K năng nhận thức có thể được chia thành k năng tư duy bậc th p (Lower Order Thinking: LOTS) và tư duy bậc cao (Higher Order Thinking: HOTS) [15]
Trang 31Các k năng nhận thức của HS phải được phát triển thông qua các nhiệm vụ
và thách thức phù hợp với từng đối tượng HS Trong lớp học CLIL:
+ HS được hưởng nhiều lợi ích từ một lớp học giàu ngôn ngữ sẽ giúp các em suy nghĩ và học tốt
(báo cáo được dán trên tường liên quan đến chủ đề CLIL, bảng đa phương tiện, v.v.)
+ HS cần thời gian chờ đợi để dừng lại, suy nghĩ và xử lý các khái niệm mới và ngôn ngữ nói riêng trong quá trình bài học di n ra
+ Nhu cầu nhận thức cần thiết cho HS phải được lựa chọn và đánh giá chặt chẽ để chúng phù hợp với trình độ và năng lực của HS, không quá d cũng không quá khó
1.2.1.4 Văn hoá (Culture) (đôi khi còn là cộng đồng (Community) hoặc Công
Ví dụ, người học có thể vận dụng k năng về đồng dạng trong hình học để tính chiều cao của tháp Eiffel ở Pháp
1.2.2 Vận dụng bốn chữ C của CLIL vào dạy học Toán Tiếng Anh
Cách tư duy 4C của Coyle trong CLIL giúp lập kế hoạch và tổ chức dạy học môn Toán Tiếng Anh r t hiệu quả
- Nội dung (Content): Trong Toán Tiếng Anh có sự liên môn giữa các môn học, để mang đến nội dung môn học phong phú hơn
Ví dụ, đối với môn Toán học các nội dung, công thức có thể thể hiện qua các bài hát bằng tiếng Anh
Trang 32Khi dạy về quy tắc cộng số nguyên lớp 6, giáo viên có thể sử dụng bài hát “Adding Integers”:
“Same signs add and keep
Different signs subtract
Use the sign of the bigger number
Then you will be exact!”
- Giao tiếp (Communication):
Ví dụ, trong lớp CLIL Toán Tiếng Anh, học sinh sử dụng ngoại ngữ để thảo luận theo nhóm các bước tìm ước chung lớn nh t của hai hay nhiều số
- Nhận thức (Cognition): yêu cầu người học cần k năng tư duy gì đang trong các bài học
Ví dụ, trong lớp học CLIL Toán Tiếng Anh, học sinh sử dụng ngoại ngữ để
so sánh và đối chiếu, phân tích những điểm giống và khác nhau về cách tìm ước chung lớn nh t và bội chung nhỏ nh t
- Văn hoá (Culture): CLIL cũng chú trọng đến văn hoá, ý thức công dân, ứng xử trong cộng đồng khi học các bài học Người học cũng biết thêm về các nền văn hoá giữa các nước khác nhau
Ví dụ, trong lớp học CLIL Toán Tiếng Anh, người học sẽ được biết thêm định nghĩa về đoạn thẳng của các nước khác nhau, đơn vị đo độ dài của đoạn thẳng của các nước khác cũng khác nhau,
1.3 Chư ng trình hình học To n ớp 6 tổng quan
1.3.1 Chương trình hình học Toán lớp 6 ở Việt Nam
Hiện nay các trường học c p THCS ở Việt Nam đang sử dụng khung chương trình cho ở bảng sau để dạy phần hình học lớp 6 [4]
Bảng 4 Nội dung giảng dạy hình học lớp 6
NỘI DUNG GIẢNG DẠY HÌNH HỌC LỚP 6
Trang 33d Đường thẳng đi qua hai điểm
e Đường thẳng trùng nhau Đường thẳng cắt nhau
II – Bài tập vận dụng
Bài 2 Tia
I – Kiến thức cần nhớ và ví dụ
1 Định nghĩa tia
2 Hai tia đối nhau
3 Hai tia trùng nhau
cộng đoạn thẳng (2 buổi)
I – Nhắc lại kiến thức
II – Bài tập rèn luyện
Trang 34Bài 6 Trung điểm của đoạn thẳng
I – Kiến thức cần nhớ và ví dụ
1 Định nghĩa trung điểm của đoạn thẳng
2 Cách vẽ trung điểm của đoạn thẳng
3 Các cách chứng minh trung điểm của đoạn thẳng
II – Bài tập vận dụng Bài 7 Luyện tập về trung
điểm của đoạn thẳng
I – Nhắc lại kiến thức
II – Bài tập rèn luyện
Bài 8 Luyện tập chung
I – Nhắc lại kiến thức trọng tâm của cả chủ đề
I – Kiến thức cần nhớ và ví dụ
1 Tính ch t cộng số đo hai góc
2 Hai góc kề nhau, phụ nhau, bù nhau
II – Bài tập vận dụng Bài 4 Luyện tập về cộng
số đo hai góc (2 buổi)
I – Nhắc lại kiến thức
II – Bài tập rèn luyện
Trang 35Bài 5 Tia phân giác của góc
I – Kiến thức cần nhớ và ví dụ
1 Định nghĩa tia phân giác của góc
2 Các phương pháp chứng minh tia phân giác của góc
II – Bài tập vận dụng Bài 6 Luyện tập chung
(2 buổi)
I – Nhắc lại kiến thức về góc, cộng góc, tia phân giác
I – Nhắc lại kiến thức trọng tâm của chủ
đề
II – Bài tập rèn luyện
1.3.2 Một số điểm khác nhau về nội dung hình học của Việt Nam và nước ngoài
Tại nhiều nước, hệ thống giáo dục không sử dụng cố định một bộ sách mà có nhiều lựa chọn, cũng vì thế mà chương trình học có thể khác nhau Cụ thể, tại M ,
cả nước không dùng chung một bộ sách Mỗi bang có những đầu sách xu t bản riêng, phù hợp với học sinh bang đó Ở từng môn, GV lại chọn một cuốn phù hợp làm tài liệu giảng dạy chính thức, đồng thời bổ sung kiến thức từ các sách khác để
HS tham khảo Còn ở Việt Nam, hầu hết các trường công lập đều sử dụng chung một bộ sách do nhà xu t bản giáo dục sản xu t Hệ thống các trường ngoài công lập thì tuỳ từng trường sẽ sử dụng bộ sách khác nhau, đặc biệt các trường quốc tế Ví dụ
Trang 36như trường THCS- THPT Newton có ba hệ đào tạo học sinh: hệ bán quốc tế (sử dụng bộ sách giáo khoa chung và một số sách hệ M ), hệ quốc tế GWIS (sử dụng sách của M ), hệ CAMBRIDGE (sử dụng sách riêng của hệ CAMBRIDGE)
+ Sự khác nhau về ký hiệu, đơn vị,
Nhìn chung chương trình học Toán hình học nói chung đều cung c p cho học sinh các khái niệm, tính ch t, cách vẽ hình và ứng dụng phần hình học đó vào đời sống, Ví dụ, khi dạy về đoạn thẳng người học sẽ nắm được định nghĩa, tính ch t, cách vẽ đoạn thẳng Tuy nhiên mỗi quốc gia sẽ có quy ước khác nhau về đơn vị đo
độ dài đoạn thẳng Chẳng hạn như Việt Nam sẽ dùng đơn vị m, dm, cm, mm, còn các sách nước ngoài có thể thêm các đơn vị đo lường khác như mile, inch, yards,
Hình 1 Độ dài đoạn thẳng trong SGK Toán 6 của Việt Nam
(Nguồn: SGK Toán 6 tập của NXB giáo dục Việt Nam[4]) Hình 2 Đơn vị độ dài đoạn thẳng trong sách nước ngoài
(Nguồn: Math Connects course 1, Glencoe McGraw-Hill- sách hệ Quốc Tế
của trường Newton)
Hầu hết các ký hiệu hình học của Việt Nam và nước ngoài đều giống nhau Tuy nhiên, các ký hiệu về hình học cũng có phần khác nhau giữa sách nước ngoài
Trang 37và Việt Nam Ví dụ về hình vẽ tia ở Việt Nam không có mũi tên nhưng sách nước ngoài có mũi tên phía sau, đường thẳng sách nước ngoài cũng có mũi tên hai đầu còn Việt Nam thì không có
Hình 3 Hình vẽ của Tia trong SGK Toán 6 Việt Nam
(Nguồn: SGK Toán 6 tập của NXB giáo dục Việt Nam [4]) Hình 4 Hình vẽ của Tia trong SGK nước ngoài
(Nguồn: Mathematics 2B, Macmillan)
Dù có những điểm khác nhau nhưng về mặt nội dung cũng gần như nhau Ví
dụ, khi dạy về “Tia” ở chương trình hình học lớp 6 giáo viên có thể tìm hiểu bài
“Rays” ở các sách nước ngoài để tham khảo và giảng dạy môn TTA cho HS
+ Sự khác nhau về chương trình học theo độ tuổi
Chương trình hình học của Việt Nam thường có chung một khung nội dung giảng dạy do Bộ Giáo Dục quy định cho từng khối lớp Chương trình bên nước ngoài sẽ có nhiều điểm khác nhau giữa các khu vực Do đó nội dung hình học ở độ tuổi này ở Việt Nam được học nhưng ở nước ngoài sẽ học ở độ tuổi khác Ví dụ, ở Việt Nam chương trình hình học 6 mới bắt đầu tìm hiểu về tia, thì ở một số sách nước ngoài phần bài học về tia đã được học từ lớp 3, 4 hoặc lớp 5
+ Sự khác nhau về các sử dụng câu từ
Trang 38Ở Việt Nam, trong quá trình dạy học Toáng bằng Tiếng Việt, HS nói và viết một số cụm từ khi dịch sang TTA sẽ không được dịch như thông thường Ví dụ “Ta gọi điểm M là trung điểm của đoạn thẳng AB” Lẽ thường câu trên sẽ được viết lại bằng Tiếng Anh là: “We call M is the midpoint of line segment AB” Thực tế trong dạy học TTA ta sẽ dùng là: “Let M be the midpoint of line segment AB.”
+ Sự khác nhau về cách trình bày
Trong cách trình bày nọ i dung hình học, ở môn Toán bằng tiếng Vi t ta thu ờng áp dụng luôn các tính ch t, định lý mà không cần nêu lại nọ i dung tính ch t, định lý đó Ngu ợc lại trong MTBTA, thu ờng trình bày rõ ho n nọ i dung tính ch t, định lý trong từng bu ớc áp dụng vào giải toán hình học [9]
Tại Việt Nam hiện nay đã xu t hiện một số dạng trường học có dạy học môn TTA, như: trường THPT Chuyên Ngoại Ngữ- Đại học Quốc gia Hà Nội; trường THPT Chu Văn An Hà Nội; trường THPT Hà Nội – Amsterdam; trường THPT Thực Nghiệm Hà Nội; trường THCS- THPT Newton, THPT Nguy n Siêu
Tuy nhiên, vẫn còn những b t cập, những khó khăn, đặc biệt là đối với công tác bồi dưỡng đội ngũ giáo viên dạy các môn TTA GV chuyên ngành không được tốt tiếng Anh, còn giáo viên tiếng Anh thì không nắm vững kiến thức chuyên ngành [13]
Các trường đại học đào tạo về TTA r t ít, từ năm 2013 trường đại học Sư Phạm Hà Nội mới bắt đầu mở các lớp chuyên ngành đào tạo bằng Tiếng Anh Trường đại học Khoa Học Tự Nhiên-ĐHQGHN đào tạo lớp cử nhân Toán tài năng, tiên tiến bằng Tiếng Anh nhưng đến hết năm 2015 đã dừng việc dạy bằng Tiếng
Trang 39Anh Do vậy nguồn giáo viên được đào tạo chính quy hết sức hiếm Các trường về sau này cử giáo viên chuyên môn đi đào tạo Tiếng Anh thêm nhưng hiệu quả đem lại không thực sự cao
Một thực tế là nhiều học sinh có khả năng tiếng Anh tốt, đặc biệt học sinh ở
Hà Nội; các học sinh có tư duy tốt nên khả năng tiếp thu môn học bằng tiếng Anh khá tốt Nhiều học sinh học ngoại ngữ nhiều năm ở các lớp học dưới nên kiến thức của các em về môn học lẫn ngoại ngữ đều r t phong phú Trước thực tế này, nhiều
GV tỏ ra e ngại khi trình bày bài giảng với các HS
Về chương trình môn học Toán ở Việt Nam còn nặng về tính toán trong khi nhiều kiến thức lý thuyết nên việc đảm bảo vừa nâng cao chương trình vừa thêm phần tiếng Anh là khó với HS Hơn nữa, các v n đề chuyên môn khó nếu sử dụng tiếng Anh để giảng dạy thì HS không thể hiểu được
Tình hình học tập như hiện nay, khi HS luôn phải đảm bảo các kỳ thi quan trọng như thi vào THPT, thi đại học kiến thức đã khá nặng thì việc dạy học chuyên môn bằng tiếng Anh là khó khăn
Mặt khác, với nhiều phụ huynh, nếu con không đi học nước ngoài hoặc chỉ
có nhu cầu thi vào các trường học ở Việt Nam thì việc học TTA không phải nhu cầu của họ Mặc dù qua môn TTA sẽ giúp tăng cường năng lực sử dụng tiếng Anh của
GV và học sinh, đồng thời phục vụ cho việc tiếp cận với chương trình và cách học tiên tiến, làm tiền đề để phát triển tiềm lực khoa học sau này của HS
Chính vì vậy, việc dạy học Toán Tiếng Anh cần phải làm cho phù hợp và
nh t thiết phải tính đến hiệu quả, không thể làm l y được, làm cho có
Hiện nay có nhiều trong tâm mở ra các lớp đào tạo giáo viên dạy Toán Tiếng Anh Từ tháng 09 tháng 6 năm 2018 đến 14 tháng 7năm 2018 trung tâm UberMath
đã cải tiến và thiết kế khoá đào tạo giáo viên dành riêng cho các giáo viên dạy Toán Tiếng Anh Mục tiêu của khoá học: phát triển phương pháp giảng dạy “K năng thế
kỷ 21” môn Toán Tiếng Anh; bổ sung các thuật ngữ và từ vựng liên quan đến môn toán; cung c p phương pháp giảng dạy chuyên đề Toán tư duy, Toán luyện thi quốc
tế Kết thúc khoá học giáo viên sẽ có kinh nghiệm giảng dạy Toán Tiếng Anh theo chuẩn chương trình quốc tế; nhận chứng nhận đào tạo; thực hành giảng dạy hàng
Trang 40tuần song song với các buổi lý thuyết; được tham gia thực tập ở môi trường quốc tế; được tư v n và định hướng lộ trình trở thành giáo viên Toán Tiếng Anh giỏi Trước
đó năm 2015, Hội đồng Anh tại Việt Nam cũng tổ chức khoá học phương pháp giảng dạy môn chuyên ngành bằng Tiếng Anh (ATE) lần đầu tiên tại Việt Nam Khoá học giúp giáo viên cải thiện k năng Tiếng Anh và phương pháp về giảng dạy, về phát âm, k năng trình bày, sử dụng liên từ (discourse makers) và cụm từ ra
d u hiệu (signpost language), cũng như về phương pháp giảng dạy như quản lý lớp học.[13]
Để sử dụng hi u quả CLIL, đọ i ngũ GV phải là những ngu ời đạt ch t lu ợng
và có khả na ng giải quyết những v n đề liên quan đến cả ngôn ngữ và nọ i dung kiến thức Vì thế, mọ t trong những thách thức lớn nh t chính là GV có khả na ng áp dụng các phu o ng pháp dạy học dành cho mô hình này đu ợc hay không Có thể th y đu ợc rằng lu ợng GV đạt tiêu chuẩn để sử dụng mô hình CLIL vào dạy học là không nhiều Ho n nữa, trình đọ của GV và cách họ tiến hành dạy học cũng trở nên quan trọng trong các lớp học CLIL (Coyle và cọ ng sự, 2010) [19] Điều này cho chúng ta
th y rằng nhi m vụ lớn đầu tiên trong vi c triển khai CLIL phải bắt nguồn là đào tạo và phát triển đọ i ngũ GV, ho n nữa cách tốt nh t là bắt đầu từ đọ i ngũ GV mới
Vi c đào tạo GV cũng sẽ giúp các HS có thể quản lí nhân sự tốt ho n, giữ lại đu ợc các GV hi n tại thay vì phải liên tục tìm kiếm GV mới
Mỗi GV sẽ đu ợc phân bổ cùng mọ t ngu ời quản lí bọ môn trong suốt quá trình làm vi c tại tru ờng Điều này giúp cho GV nhạ n đu ợc và tiếp thu những kiến thức chuyên môn nhiều ho n Mehisto, Marsh và Frigols (2008) gợi ý rằng các GV phụ trách cả bọ môn lẫn ngoại ngữ có thể hợp tác và tham gia giải quyết các v n đề
họ gạ p phải cùng với lớp học của mình Để có thể hiểu đu ợc những yếu tố mà các
GV chạm phải khi luy n tạ p trong h thống này, mọ t nhóm các GV ngẫu nhiên
đu ợc phỏng v n với những câu hỏi đã định sẵn Kết quả chỉ ra rằng các GV đều cho rằng vi c dạy học của họ có thể đu ợc cải thi n nếu họ có thể phát triển ho n tiếng Anh của mình, mọ t mối ba n khoa n cũng đã đu ợc chỉ ra ở các nghiên cứu của Butler (2005, p 236), ủng họ cho nhạ n định rằng vi c thiếu đi kiến thức chuyên môn của