Một là, đã xây dựng được khung lý thuyết về quản lý các cơ sở đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức (trong đó trường chính trị là một loại hình cơ sở đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức đặc thù của Việt Nam). Quản lý các trường chính trị là việc chủ thể quản lý sử dụng quyền lực nhà nước với công cụ và hình thức phù hợp để tác động đến các trường chính trị nhằm đạt mục tiêu trong hoạt động đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức. Nội dung quản lý các trường chính trị là toàn diện bao gồm từ việc định hướng hoạt động đến việc hỗ trợ và kiểm soát hoạt động để bảo đảm trường chính trị hoạt động trong một khuôn khổ cho phép. Hai là, đã phân tích, đánh giá thực trạng quản lý các trường chính trị ở Việt Nam hiện nay. Mặc dù những năm gần đây việc quản lý các trường chính trị ở Việt Nam đã có những thay đổi về quan điểm và phương pháp quản lý, làm thay đổi cách thức hoạt động của các trường chính trị. Tuy nhiên sự quản lý vẫn chưa tác động mạnh đến việc nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạt động của các trường chính trị, nhiều vấn đề đặt ra cần giải quyết trong việc quản lý các trường chính trị, chẳng hạn: Cơ sở pháp lý để quản lý chưa được hoàn thiện; việc quản lý chất lượng đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức chưa được chú trọng; hoạt động thanh tra, kiểm tra hoạt động chưa được tăng cường, v.v.. Tất cả đã ảnh hưởng không nhỏ đến chất lượng và hiệu quả hoạt động của các trường chính trị. Ba là, đã đề xuất được quan điểm và giải pháp nhằm đảm bảo quản lý các trường chính trị đạt hiệu lực, hiệu quả. Những quan điểm và giải pháp quản lý được đề xuất có căn cứ khoa học, trên cơ sở đánh giá thực tiễn khách quan. Để nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạt động của các trường chính trị cần thì có những giải pháp phù hợp, trong đó những giải pháp về quản lý có tác động mạnh mẽ nhất, nó không chỉ tác động trực tiếp đến cách thức, phương pháp, quá trình đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức, mà còn tác động đến chất lượng “sản phẩm đầu ra” của các trường chính trị. Có nhiều giải pháp để tăng cường sự quản lý đó, mỗi giải pháp giải quyết một hoặc một số nhiệm vụ nhất định, chúng bổ sung cho nhau nên cần thực hiện đồng bộ các giải pháp quản lý này.
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NỘI VỤ
HỌC VIỆN HÀNH CHÍNH QUỐC GIA
NGUYỄN VĂN VIÊN
QUẢN LÝ CÁC TRƯỜNG CHÍNH TRỊ TỈNH, THÀNH PHỐ TRỰC THUỘC TRUNG ƯƠNG Ở VIỆT NAM HIỆN NAY
LUẬN ÁN TIẾN SĨ QUẢN LÝ CÔNG
Trang 2
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NỘI VỤ
HỌC VIỆN HÀNH CHÍNH QUỐC GIA
NGUYỄN VĂN VIÊN
QUẢN LÝ CÁC TRƯỜNG CHÍNH TRỊ TỈNH, THÀNH PHỐ TRỰC THUỘC TRUNG ƯƠNG Ở VIỆT NAM HIỆN NAY
Chuyên ngành: Quản lý công
Mã số: 9 34 04 03
LUẬN ÁN TIẾN SĨ QUẢN LÝ CÔNG
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
1 PGS.TS Lê Thị Vân Hạnh
2 PGS.TS Lê Minh Quân
Trang 3
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan Luận án “Quản lý các trường chính trị tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương ở Việt Nam hiện nay” là công trình nghiên cứu
của riêng tác giả Một số vấn đề trong luận án có sự tham khảo nhưng không sao chép Các số liệu nêu trong luận án là trung thực, có nguồn gốc rõ ràng và được trích dẫn đầy đủ theo quy định
Nghiên cứu sinh
Nguyễn Văn Viên
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Sau thời gian học tập và nghiên cứu tại Học viện Hành chính quốc gia,
tôi đã hoàn thành luận án “Quản lý các trường chính trị tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương ở Việt Nam hiện nay” Tôi bày tỏ lòng biết ơn chân
thành và sâu sắc nhất tới 02 nhà khoa học hướng dẫn là PGS.TS Lê Thị Vân Hạnh và PGS.TS Lê Minh Quân Tôi gửi lời cảm ơn trân trọng tới Lãnh đạo
và thày cô giáo của Học viện Hành chính quốc gia, Ban Quản lý đào tạo Sau đại học, Khoa Quản lý nhà nước về xã hội đã tạo điều kiện thuận lợi, tận tình giúp đỡ, góp ý về chuyên môn trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu
Tôi gửi lời cảm ơn tới cán bộ, công chức Vụ Các trường chính trị, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh đã giúp đỡ và hỗ trợ trong quá trình tác giả thu thập số liệu Cảm ơn gia đình, bạn bè và các đồng nghiệp đã chia sẻ, động viên về tinh thần trong suốt quá trình tác giả nghiên cứu
Một lần nữa, tác giả trân trọng cảm ơn!
Tác giả luận án
Trang 5MỤC LỤC
LỜI CẢM ƠN ii
MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 5
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 6
4 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu 6
5 Giả thuyết khoa học và câu hỏi nghiên cứu 9
6 Những đóng góp mới của đề tài 10
7 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài 11
8 Cấu trúc của Luận án 12
Chương 1TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI 13
1.1 CÁC CÔNG TRÌNH LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI 13
1.1.1 Các công trình nghiên cứu về hoạt động đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức 13
1.1.2 Các công trình nghiên cứu về trường chính trị 17
1.1.3 Các công trình nghiên cứu về quản lý nhà nước đối với các cơ sở đào tạo, bồi dưỡng 23
1.2 ĐÁNH GIÁ VỀ CÁC CÔNG TRÌNH ĐÃ NGHIÊN CỨU CÓ LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI 28
1.2.1 Những nội dung có liên quan đã được nghiên cứu 28
1.2.2 Những nội dung cần được tiếp tục nghiên cứu 35
TIỂU KẾT CHƯƠNG 1 37
Chương 2CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ CÁC CƠ SỞ ĐÀO TẠO, BỒI DƯỠNG CÁN BỘ, CÔNG CHỨC 38
2.1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG VỀ CƠ SỞ ĐÀO TẠO, BỒI DƯỠNG CÁN BỘ, CÔNG CHỨC 38
Trang 62.1.1 Khái niệm cơ sở đào tạo, bồi dưỡng các bộ, công chức 38
2.1.2 Đặc điểm của cơ sở đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức 43
2.1.3 Vai trò của cơ sở đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức 48
2.1.4 Phân loại cơ sở đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức 51
2.2 QUẢN LÝ CÁC CƠ SỞ ĐÀO TẠO, BỒI DƯỠNG CÁN BỘ, CÔNG CHỨC 53
2.2.1 Khái niệm quản lý các cơ sở đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức 53
2.2.2 Sự cần thiết quản lý các cơ sở đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức 54 2.2.3 Nội dung quản lý các cơ sở đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức 58
2.2.4 Những yếu tố ảnh hưởng đến quản lý các cơ sở đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức 64
2.3 KINH NGHIỆM QUẢN LÝ CÁC CƠ SỞ ĐÀO TẠO, BỒI DƯỠNG CÁN BỘ, CÔNG CHỨC CỦA MỘT SỐ QUỐC GIA TRÊN THẾ GIỚI VÀ GIÁ TRỊ THAM KHẢO ĐỐI VỚI VIỆT NAM 70
2.3.1 Kinh nghiệm quản lý các cơ sở đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức của một số quốc gia trên thế giới 70
2.3.2 Một số giá trị tham khảo đối với Việt Nam 78
TIỂU KẾT CHƯƠNG 2 82
Chương 3THỰC TRẠNG QUẢN LÝ CÁC TRƯỜNG CHÍNH TRỊ Ở VIỆT NAM HIỆN NAY 83
3.1 TỔNG QUAN VỀ TRƯỜNG CHÍNH TRỊ - MỘT LOẠI HÌNH CƠ SỞ ĐÀO TẠO, BỒI DƯỠNG CÁN BỘ, CÔNG CHỨC ĐẶC THÙ CỦA VIỆT NAM 83
3.1.1 Trường chính trị trong hệ thống cơ sở đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức của Việt Nam 83
3.1.2 Sự ra đời và cơ sở chính trị, pháp lý của các trường chính trị 87
3.1.3 Tính đặc thù của trường chính trị so với các cơ sở đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức 91
Trang 73.1.4 Chức năng, nhiệm vụ và cơ cấu tổ chức của trường chính trị 94
3.1.5 Một số kết quả hoạt động của các trường chính trị 97
3.2 TÌNH HÌNH QUẢN LÝ CÁC TRƯỜNG CHÍNH TRỊ Ở VIỆT NAM HIỆN NAY 99
3.2.1 Định hướng đối với hoạt động của các trường chính trị 100
3.2.2 Hỗ trợ đối với hoạt động của các trường chính trị 105
3.2.3 Kiểm soát đối với hoạt động của các trường chính trị 126
3.3 ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG QUẢN LÝ CÁC TRƯỜNG CHÍNH TRỊ Ở VIỆT NAM HIỆN NAY 133
3.3.1 Kết quả quản lý các trường chính trị ở Việt Nam hiện nay 133
3.3.2 Một số vấn đề đặt ra trong việc quản lý các trường chính trị ở Việt Nam hiện nay 135
TIỂU KẾT CHƯƠNG 3 145
Chương 4QUAN ĐIỂM VÀ GIẢI PHÁP TĂNG CƯỜNG QUẢN LÝ CÁC TRƯỜNG CHÍNH TRỊ Ở VIỆT NAM HIỆN NAY 146
4.1 QUAN ĐIỂM TĂNG CƯỜNG QUẢN LÝ CÁC TRƯỜNG CHÍNH TRỊ Ở VIỆT NAM 146
4.1.1 Quản lý các trường chính trị phải trên cơ sở quy định của pháp luật 147 4.1.2 Quản lý các trường chính trị phải đảm bảo tính hệ thống, thống nhất chặt chẽ 149
4.1.3 Quản lý các trường chính trị phải kết hợp thực hiện cải cách hành chính 151
4.1.4 Quản lý các trường chính trị phải đảm bảo chất lượng, hiệu quả đào tạo, bồi dưỡng 153
4.2 GIẢI PHÁP TĂNG CƯỜNG QUẢN LÝ CÁC TRƯỜNG CHÍNH TRỊ Ở VIỆT NAM 156
4.2.1 Hoàn thiện quy định của pháp luật liên quan đến trường chính trị 156
4.2.2 Đổi mới mô hình tổ chức trường chính trị 160
Trang 84.2.3 Thay đổi phương thức quản lý đối với đội ngũ giảng viên trường chính
trị 168
4.2.4 Quản lý theo chuẩn đầu ra đối với hoạt động đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức 172
4.2.5 Xây dựng và thực hiện các tiêu chí đánh giá chất lượng trường chính trị 176
4.2.6 Tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra đối với hoạt động của các trường chính trị 184
TIỂU KẾT CHƯƠNG 4 187
KẾT LUẬN 189
DANH MỤC CÔNG TRÌNH CỦA TÁC GIẢ 191
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 193
PHỤ LỤC 205
Trang 9DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
1 CBCC Cán bộ, công chức
2 ĐTBD Đào tạo, bồi dưỡng
3 ĐTBD CBCC Đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức
4 HĐND Hội đồng nhân dân
Trang 10DANH MỤC CÁC BẢNG, BIỂU ĐỒ, SƠ ĐỒ
1 Sơ đồ 3.1 Hệ thống các cơ sở đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức của Việt Nam 86
2 Sơ đồ 3.2 Tổ chức bộ máy của trường chính trị 96
3 Biểu đồ 3.1 Trình độ chuyên môn của đội ngũ lãnh đạo trường chính trị 1155
4 Biểu đồ 3.2 Thành phần người đứng đầu trường chính trị 1155
5 Bảng 3.1 Trình độ của giảng viên các trường chính trị 1177
Trang 11đa số các nước trên thế giới thì TCT là một loại hình cơ sở ĐTBD CBCC đặc biệt, không phổ biến nhưng ở Việt Nam thì TCT lại là loại hình cơ sở ĐTBD CBCC phổ biến
Việc chọn đề tài “Quản lý các trường chính trị tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương ở Việt Nam hiện nay” xuất phát từ các lý do sau đây:
Một là, TCT là đơn vị sự nghiệp trực thuộc tỉnh ủy/thành ủy
Nhà nước là chủ thể quản lý xã hội, các cá nhân và tổ chức trong xã hội đều chịu sự quản lý của Nhà nước TCT là đơn vị sự nghiệp thực hiện chức năng cung ứng dịch vụ công về ĐTBD CBCC cho hệ thống chính trị ở địa phương, nên nhà nước cần phải quản lý chặt chẽ đối với các TCT nhằm đảo bảo chất lượng nguồn nhân lực công cung cấp cho cơ quan của nhà nước và các tổ chức trong hệ thống chính trị
Hai là, TCT có vị trí, vai trò quan trọng trong công tác ĐTBD CBCC
Đội ngũ CBCC có vị trí, vai trò quan trọng trong bộ máy hệ thống chính trị, trong đó có bộ máy hành chính nhà nước, họ không chỉ là yếu tố cấu thành mà còn là yếu tố mang tính quyết định Nền hành chính quốc gia phát triển hay lạc hậu là phụ thuộc rất nhiều vào chất lượng, năng lực của đội ngũ CBCC
Trang 12Hồ Chí Minh từng nói: cán bộ là gốc của mọi công việc, muôn việc thành công hay thất bại đều là do cán bộ tốt hay kém [42, tr.269]
Trong Chiến lược cán bộ thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước của Đảng Cộng sản Việt Nam cũng khẳng định: “Cán bộ là
nhân tố quyết định sự thành bại của cách mạng, gắn liền với vận mệnh của Đảng, của đất nước và chế độ”; “Xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức có phẩm chất và năng lực là yếu tố quyết định chất lượng của bộ máy nhà nước” [78]
Để có được năng lực, đạo đức, đáp ứng được yêu cầu thực thi nhiệm vụ thì CBCC không thể không trải qua quá trình học tập, rèn luyện ĐTBD là cách thức, con đường cơ bản để có được đội ngũ CBCC của Đảng và Nhà nước có đủ cả đức lẫn tài
ĐTBD CBCC là một vấn đề quan trọng trong sự nghiệp đổi mới của Đảng và Nhà nước, “Huấn luyện cán bộ cũng là cái gốc của Đảng” [42, tr.269] Theo quy định, bắt buộc CBCC phải trải qua các khóa ĐTBD nhất định, tùy theo vị trí công việc, cơ quan công tác mà CBCC sẽ được ĐTBD về nội dung gì, tại cơ sở ĐTBD CBCC ở trung ương hay địa phương
Nước ta hiện nay đang đẩy mạnh công cuộc cải cách hành chính, phân cấp, phân quyền trong quản lý, thay đổi phương thức quản lý đối với đội ngũ CBCC nhằm xây dựng nền hành chính năng động, hiệu quả Muốn vậy cần nâng cao năng lực thực thi công vụ của đội ngũ CBCC, điều này đặt ra yêu cầu đối với các cơ sở ĐTBD CBCC, bao gồm cả các TCT phải nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạt động của mình
Theo sự phân cấp, việc ĐTBD CBCC ở địa phương do TCT đảm nhận Thực tế cho thấy, hằng năm có một số lượng lớn CBCC của hệ thống chính trị địa phương được ĐTBD tại các TCT Do vậy, phẩm chất và năng lực thực thi nhiệm vụ của đội ngũ CBCC địa phương như thế nào là phụ thuộc vào chất lượng, hiệu quả ĐTBD của các TCT
Trang 13Tuy nhiên, “công tác ĐTBD của các TCT vẫn còn những hạn chế, chậm đổi mới; một số quy định của Quyết định số 184-QĐ/TW thực hiện chưa nghiêm, thiếu thống nhất; hoạt động nghiên cứu khoa học, tổng kết thực tiễn chưa được chú trọng; cơ sở vật chất của nhiều trường chưa đáp ứng được yêu cầu Nguyên nhân của những hạn chế nêu trên chủ yếu là do một số cấp
ủy, chính quyền chưa nhận thức đầy đủ vị trí, vai trò, chức năng, nhiệm vụ của TCT nên chưa quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo, đầu tư thỏa đáng các nguồn lực cho hoạt động của TCT” [93] Điều này cho thấy sự lãnh đạo của Đảng,
sự quản lý của Nhà nước đối với các TCT là yếu tố quan trọng tác động đến chất lượng và hiệu quả ĐTBD của các TCT
Ba là, công tác quản lý các TCT hiện nay còn nhiều bất cập, chồng
chéo, chưa hiệu lực, hiệu quả
- TCT có một quá trình chia tách, sáp nhập phức tạp Trước năm 1994, TCT có tiền thân là trường Đảng trực thuộc tỉnh uỷ/thành uỷ, độc lập với trường hành chính (hoặc trường quản lý nhà nước) trực thuộc UBND tỉnh/thành phố Từ năm 1994 đến tháng 11/2018, TCT là sự hợp nhất của trường đảng và trường hành chính (hoặc trường quản lý nhà nước) của tỉnh/thành phố, vừa trực thuộc tỉnh uỷ/thành uỷ vừa trực thuộc UBND tỉnh/thành phố Từ tháng 11/2018, TCT chỉ trực thuộc tỉnh uỷ/thành uỷ
Với quá trình chuyển đổi vị trí như vậy đã chứng tỏ sự thiếu ổn định trong nhận thức về cơ sở ĐTBD CBCC, do đó việc quản lý đối với các TCT cũng sẽ nảy sinh nhiều vấn đề
- TCT là cơ sở ĐTBD cho CBCC của hệ thống chính trị địa phương, trong đó lực lượng CBCC của Nhà nước chiếm tỷ lệ lớn, nhưng TCT lại là đơn vị sự nghiệp của tỉnh ủy/thành ủy Do đó, ủy ban nhân dân (UBND) tỉnh/thành phố không trực tiếp điều hành hoạt động của TCT, sự quản lý nhà nước (QLNN) của cơ quan chuyên môn đối với các TCT cũng rất lỏng lẻo,
mờ nhạt
Trang 14TCT là đơn vị sự nghiệp nhưng việc quản lý tổ chức bộ máy thuộc thẩm quyền của tỉnh ủy/thành ủy trên cơ sở quy định của Ban Bí thư Trung ương Đảng (Ban Tổ chức Trung ương là cơ quan chủ trì, tham mưu) Quản lý
về chương trình, nội dung ĐTBD của TCT do Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh thống nhất quản lý, tuy nhiên Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh không phải là cơ quan QLNN, mà là cơ quan của Đảng Quản lý về đội ngũ giảng viên của TCT là tỉnh ủy/thành ủy trên cơ sở quy định của Ban Tổ chức Trung ương và Bộ Nội vụ; ĐTBD giảng viên về chuyên môn, nghiệp vụ
và phương pháp giảng dạy do Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh đảm nhận Việc quản lý về tài chính thuộc thẩm quyền của UBND tỉnh/thành phố
- Việc quản lý các TCT hiện nay vẫn chủ yếu căn cứ vào văn bản chính trị do Đảng ban hành mà ít căn cứ vào văn bản pháp luật Điều này có thể chấp nhận trong bối cảnh trước đây, khi mà Nhà nước tập trung giải quyết những vấn đề hệ trọng khác nên thiếu các văn bản pháp luật Nhưng hiện nay, trong bối cảnh xây dựng nhà nước pháp quyền, QLNN phải trên cơ sở pháp luật thì việc quản lý TCT trên cơ sở văn bản chính trị là không phù hợp, không đảm bảo tính hiệu lực, hiệu quả QLNN
Bốn là, cơ sở lý luận cho việc quản lý các TCT còn rất hạn chế
Mặc dù TCT có vị trí, vai trò quan trọng, là cơ sở ĐTBD CBCC của địa phương nhưng chưa có nhiều công trình, đề tài khoa học nghiên cứu về TCT Trong số ít công trình nghiên cứu có liên quan đến TCT, hầu hết đều tiếp cận theo góc độ khoa học giáo dục (nghiên cứu TCT với tư cách là chủ thể tiến hành hoạt động ĐTBD), hoặc khoa học chính trị, chưa có công trình nào tiếp cận theo góc độ khoa học quản lý (nghiên cứu TCT với tư cách là khách thể hoặc đối tượng nghiên cứu về chủ đề quản lý, nghiên cứu về QLNN, chủ thể QLNN đối với các TCT) Đây là một khoảng trống lớn, vì thế thiếu cơ sở lý luận cho việc quản lý các TCT Để quản lý các TCT có hiệu lực, hiệu quả thì việc củng cố cơ sở lý luận là rất cần thiết
Trang 15Xuất phát từ những lý do trên, tác giả đã chọn vấn đề “Quản lý các trường chính trị tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương ở Việt Nam hiện nay” làm đề tài nghiên cứu cho luận án tiến sĩ chuyên ngành Quản lý công
2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
2.1 Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở nghiên cứu lý luận và thực tiễn về quản lý các TCT, luận án
đề xuất một số quan điểm và giải pháp nhằm tăng cường hiệu lực, hiệu quả hoạt động quản lý đối với các TCT ở Việt Nam hiện nay
2.2 Nhiệm vụ nghiên cứu đề tài
Một là, tổng quan về tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài luận án
để xác định những kết quả, những quan điểm, luận điểm đã được làm sáng tỏ
mà luận án có thể kế thừa, phát triển; những vấn đề liên quan còn đang tranh luận mà tác giả luận án có quan điểm riêng; những vấn đề liên quan còn "bỏ ngỏ" mà luận án có thể tham khảo để xác định vấn đề nghiên cứu
Hai là, nghiên cứu lý thuyết công cụ làm cơ sở lý luận cho toàn bộ
nghiên cứu của luận án, đó là lý thuyết về quản lý các cơ sở ĐTBD CBCC,
mà TCT là một loại hình cơ sở ĐTBD CBCC của Việt Nam Tiến hành luận giải các khái niệm có liên quan để đưa ra được khái niệm quản lý các cơ sở ĐTBD CBCC, sự cần thiết, nội dung quản lý và các yếu tố ảnh hưởng đến quản lý các cơ sở ĐTBD CBCC
Phân tích bài học kinh nghiệm của một số quốc gia trong việc quản lý các cơ sở ĐTBD CBCC để rút ra những giá trị tham khảo cho Việt Nam trong QLNN đối với các TCT
Ba là, trên cơ sở lý luận về quản lý các cơ sở ĐTBD CBCC, luận án
đánh giá, phân tích thực trạng và những vấn đề đặt ra trong quản lý các TCT ở Việt Nam hiện nay
Bốn là, đề xuất một số quan điểm, giải pháp tăng cường QLNN đối với
các TCT ở Việt Nam hiện nay và những năm tới
Trang 163 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu là hoạt động QLNN đối với các TCT ở Việt Nam
3.2 Phạm vi nghiên cứu
- Về nội dung: Luận án tập trung nghiên cứu lý luận và thực tiễn quản
lý các TCT
- Phạm vi không gian: Luận án nghiên cứu 63 TCT trên lãnh thổ Việt
Nam Mặc dù Hà Nội, Thành phố Hồ Chí Minh, Quảng Ninh gọi là trường đào tạo cán bộ nhưng bản chất là trường chính trị; chức năng, nhiệm vụ, tổ chức bộ máy của trường vẫn theo quy định của Ban Bí thư Trung ương về TCT
- Phạm vi thời gian: Luận án nghiên cứu từ năm 2008 (năm ban hành
Quyết định số 184-QĐ/TW ngày 03/9/2008 của Ban Bí thư Trung ương khóa
X “về chức năng, nhiệm vụ, tổ chức bộ máy của trường chính trị tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương”) đến nay và tầm nhìn cho những năm tiếp theo
4 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
4.1 Phương pháp luận
Đề tài nghiên cứu trên cơ sở phương pháp duy vật lịch sử và duy vật biện chứng của chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh Sự ra đời và phát triển các TCT của Việt Nam chịu ảnh hưởng của nhiều yếu tố như điều kiện kinh tế xã hội, thể chế chính trị, truyển thống văn hoá, v.v Do đó, khi nghiên cứu vấn đề quản lý các TCT phải đặt trong sự vận động phát triển của đất nước và của TCT, trong mối liên hệ với các vấn đề khác Tư duy lôgic, khách quan, toàn diện và lịch sử chính là phương pháp luận của luận án
4.2 Phương pháp nghiên cứu
Để nghiên cứu đề tài, tác giả sử dụng tổng hợp nhiều phương pháp nghiên cứu khác nhau:
Trang 17Một là, về nghiên cứu lý thuyết Tác giả sử dụng một số phương pháp
cơ bản sau:
- Phương pháp phân tích và phương pháp tổng hợp
Phân tích là nghiên cứu các tài liệu, lý luận khác nhau để tìm hiểu sâu hơn, kỹ hơn Tổng hợp là liên kết từng mặt, từng bộ phận thông tin đã được phân tích tạo ra một hệ thống lý thuyết mới đầy đủ và sâu sắc về đối tượng
Để có tài liệu nghiên cứu, tác giả đã thu thập, tìm kiếm các văn bản của Đảng và Nhà nước, các công trình khoa học liên quan về quản lý, về ĐTBD CBCC, cơ sở giáo dục đào tạo, cơ sở ĐTBD CBCC, v.v Các văn bản, tài liệu
từ nhiều nơi, nhiều nguồn khác nhau, cụ thể là thư viện của Học viện Hành chính Quốc gia, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, Thư viện Quốc gia Việt Nam, các thư viện điện tử, các trang thông tin điện tử (website), v.v
Mục đích nghiên cứu tài liệu là tìm hiểu lịch sử nghiên cứu, nắm bắt những nội dung các công trình đi trước để không lặp lại những nội dung đã nghiên cứu Nội dung phân tích có thể bao gồm: Phân tích nguồn, phân tích tác giả, phân tích nội dung và tổng hợp dữ liệu, thông tin, v.v Trên cơ sở nghiên cứu các tài liệu liên quan đến đề tài gắn với những điều kiện hoàn cảnh lịch sử cụ thể, tác giả phân tích, tổng hợp các thông tin có được để đưa
ra các luận cứ lý luận của vấn đề nghiên cứu
- Phương pháp hệ thống hóa
Sau khi phân tích và tổng hợp dữ liệu, thông tin liên quan đến đề tài, tác giả tiến hành phân loại, nghĩa là sắp xếp các dữ liệu, thông tin thành hệ thống theo từng vấn đề, từng đơn vị kiến thức như các vấn đề về quản lý đơn
vị sự nghiệp công, vấn đề kinh nghiệm ĐTBD CBCC của một số quốc gia, vấn đề xây dựng nội dung chương trình ĐTBD CBCC, cơ sở pháp lý của TCT, v.v nhờ đó phát hiện ra những điểm chung của từng vấn đề
Hệ thống hóa là sắp xếp những thông tin thu thập được liên quan đến quản lý các TCT thành một hệ thống với một kết cấu chặt chẽ (theo quan
Trang 18điểm hệ thống - cấu trúc của việc xây dựng một mô hình lý thuyết trong nghiên cứu khoa học) để từ đó xây dựng một lý thuyết mới hoàn chỉnh, giúp tác giả hiểu biết đối tượng được đầy đủ và sâu sắc hơn Hệ thống hóa việc quản lý các TCT theo về nội dung chương trình ĐTBD CBCC, về đội ngũ giảng viên, về tài chính, v.v
- Phương pháp lịch sử
Phương pháp này nghiên cứu đối tượng trong một quá trình lịch sử, từ quá khứ đến hiện tại, thậm chí dự báo trong tương lai Để nghiên cứu quản lý các TCT, tác giả tìm hiểu lịch sử hình thành của mỗi TCT, qua đó rút ra điểm chung về quá trình hình thành các TCT, hiểu được bản chất của TCT; tìm hiểu trong quá khứ, nhà nước quản lý các TCT như thế nào và bằng cách nào
Hai là, về nghiên cứu thực tiễn Tác giả sử dụng một số phương pháp
cơ bản sau:
- Phương pháp quan sát thực tế
Phương pháp quan sát thực tế được sử dụng nhiều khi tác giả về tham quan, làm việc tại TCT, cơ quan quản lý đối với TCT nhằm thu thập những số liệu, sự kiện cụ thể trong hoạt động của TCT Nhờ quan sát mà tác giả thu được những kết quả trực quan về TCT, ví dụ như về văn hóa tổ chức của TCT, tác phong làm việc của hiệu trưởng TCT, phương pháp sư phạm của giảng viên TCT, v.v
- Phương pháp chuyên gia
Đây là phương pháp sử dụng trí tuệ, khai thác ý kiến đánh giá của các chuyên gia có trình độ cao để xem xét, nhận định một vấn đề, một sự kiện khoa học để tìm ra giải pháp tối ưu cho vấn đề, sự kiện đó
Sử dụng phương pháp này, tác giả trực tiếp tham khảo ý kiến của chuyên gia có nhiều kinh nghiệm đang công tác trực tiếp thực hiện nhiệm vụ tham mưu quản lý và QLNN đối với TCT, tham mưu hoạt động của các TCT,
đó lãnh đạo hoặc chuyên viên Vụ Cán bộ, công chức, viên chức (Bộ Nội vụ);
Trang 19Vụ Điều lệ (Ban Tổ chức Trung ương); ban tổ chức tỉnh uỷ/thành uỷ Tham khảo ý kiến chuyên gia là người đứng đầu TCT thực hiện nhiệm vụ quản lý TCT; tham khảo ý kiến của người từng được ĐTBD tại TCT hiện đang giữ chức vụ tại địa phương
Để sử dụng có hiệu quả phương pháp chuyên gia, tác giả đã xây dựng được một bảng hỏi với hệ thống các tiêu chí cụ thể, tường minh (xem Phụ lục 2) Trên cơ sở các tiêu chí, trong quá trình trao đổi với chuyên gia, tác giả sẽ đánh dấu vào ô phù hợp với quan điểm của chuyên gia
Các ý kiến chuyên gia là những gợi mở để tác giả xem xét, đề xuất giải pháp quản lý các TCT
- Phương pháp khái quát hóa, trừu tượng hóa (tổng kết, khái quát thực tiễn) Đây là phương pháp kết hợp lý luận với thực tế, đem lý luận phân tích thực tế, từ phân tích thực tế lại rút ra lý luận cao hơn Với phương pháp này, tác giả đã xem xét lại những thành quả mà các TCT đạt được trong ĐTBD CBCC, nghiên cứu khoa học phục vụ ĐTBD, thành công của công tác quản lý nhà nước đối với các TCT trong quá khứ, hiện tại để rút ra những kết luận bổ ích phục vụ cho việc nghiên cứu của đề tài
Bên cạnh đó, tác giả nghiên cứu báo cáo tổng kết năm của các TCT, của một số đơn vị tham gia quản lý các TCT để làm rõ thực trạng hoạt động của TCT và thực trạng quản lý nhà nước đối với các TCT trong thời gian qua
Thông qua việc tổng kết thực tiễn, tác giả có những kết luận, những nhận định mang tính khái quát về kinh nghiệm quản lý các cơ sở ĐTBD CBCC, các yếu tố ảnh hưởng đến quản lý các cơ sở ĐTBD CBCC, về quy trình hình thành và chấm dứt hoạt động của TCT, v.v
5 Giả thuyết khoa học và câu hỏi nghiên cứu
5.1 Giả thuyết khoa học
TCT là đơn vị sự nghiệp trực thuộc tỉnh uỷ/thành uỷ, đặt dưới sự lãnh đạo trực tiếp và thường xuyên của ban thường vụ tỉnh uỷ/thành ủy TCT có
Trang 20chức năng tổ chức ĐTBD cán bộ lãnh đạo, quản lý của hệ thống chính trị cấp
cơ sở, cán bộ, công chức, viên chức ở địa phương; tham gia tổng kết thực tiễn, nghiên cứu khoa học về xây dựng Đảng, xây dựng hệ thống chính trị ở địa phương Tuy nhiên, chất lượng và hiệu quả hoạt động của các TCT còn thấp, đội ngũ CBCC do các trường ĐTBD chưa thực sự chuyên nghiệp, năng động, hiệu quả; các công trình khoa học do các trường nghiên cứu chưa thực
sự đi vào cuộc sống Chất lượng, hiệu quả ĐTBD CBCC của TCT chưa cao là
do công tác QLNN đối với TCT chưa được chú trọng, còn buông lỏng, chồng chéo giữa các cơ quan quản lý; công cụ và phương pháp quản lý còn yếu và thiếu Nếu việc QLNN đối với các TCT có hiệu lực, hiệu quả thì có thể nâng cao chất lượng, hiệu quả ĐTBD CBCC của các TCT
5.2 Câu hỏi nghiên cứu
Một là, TCT là cơ sở ĐTBD CBCC đặc thù của Việt Nam, tính đặc thù
thể hiện ở những điểm nào?
Hai là, vì sao nhà nước phải quản lý các TCT và quản lý những nội
dung gì?
Ba là, có thể vận dụng những kinh nghiệm nào của một số quốc gia về
quản lý cơ sở đào tạo công chức vào việc quản lý các TCT của Việt Nam?
Bốn là, thực trạng quản lý các TCT ở Việt Nam hiện nay như thế nào?
Đang đặt ra những vấn đề gì đặt ra cần giải quyết?
Năm là, cần thực hiện những quan điểm và giải pháp nào để nâng cao
hiệu lực, hiệu quả quản lý đối với các TCT?
6 Những đóng góp mới của đề tài
Luận án là công trình khoa học nghiên cứu chuyên sâu, toàn diện và có
hệ thống về lý luận và thực tiễn quản lý các TCT Kết quả nghiên cứu có những đóng góp mới sau:
Trang 216.1 Về mặt lý luận
- Cung cấp cơ sở lý luận về cơ sở ĐTBD CBCC, đó là: Khái niệm, đặc điểm và vai trò của cơ sở ĐTBD CBCC; chỉ ra được tính đặc thù của TCT ở Việt Nam so với các cơ sở ĐTBD CBCC khác của Việt Nam và thế giới
- Xây dựng được khung lý thuyết về quản lý các cơ sở ĐTBD CBCC: Khái niệm, sự cần thiết, nội dung và các yếu tố ảnh hưởng đến quản lý các cơ
sở ĐTBD CBCC, trong đó TCT của Việt Nam là một loại hình cơ sở ĐTBD CBCC
- Đóng góp được một số giá trị tham khảo trong việc quản lý các TCT
ở Việt Nam qua việc khái quát kinh nghiệm quản lý các cơ sở ĐTBD CBCC của một số nước trên thế giới
6.2 Về mặt thực tiễn
- Cung cấp một bức tranh toàn cảnh về thực trạng quản lý các TCT ở Việt Nam hiện nay bao gồm kết quả đạt được, những hạn chế yếu kém và những vấn đề đang đặt ra cần giải quyết
- Cung cấp những quan điểm và giải pháp nhằm QLNN có hiệu lực, hiệu quả đối với các TCT ở Việt Nam hiện nay
7 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
- Kết quả nghiên cứu của luận án có giá trị tham khảo đối với một số cơ quan trung ương hoặc địa phương trong việc chỉ đạo, điều hành TCT
Trang 22- Luận án có thể được sử dụng làm tài liệu tham khảo cho việc nghiên cứu, giảng dạy về quản lý công, chính sách công, hành chính công, v.v
8 Cấu trúc của Luận án
Ngoài các phần Mở đầu, Kết luận, Phụ lục và Danh mục tài liệu tham khảo, luận án được cấu trúc với 4 chương, 10 tiết:
Chương 1 Tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
Chương 2 Cơ sở lý luận về quản lý các cơ sở đào tạo, bồi dưỡng cán
Trang 23Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI
1.1 CÁC CÔNG TRÌNH LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI
1.1.1 Các công trình nghiên cứu về hoạt động đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức
ĐTBD CBCC là vấn đề được các nhà quản lý, các nhà khoa học quan tâm nghiên cứu, tìm hiểu từ nhiều khía cạnh khác nhau Số lượng các công trình nghiên cứu về ĐTBD CBCC rất đa dạng và phong phú
Một là, nhóm các công trình nghiên cứu về ĐTBD CBCC nói chung
Các nghiên cứu này trước hết nhận diện về bản chất, đặc điểm của ĐTBD CBCC Tác giả Lưu Kiếm Thanh (2012) cho rằng ĐTBD CBCC có sự khác biệt về đối tượng, mục tiêu, phương thức ĐTBD Việc ĐTBD CBCC một mặt là để chuẩn hoá, lấp đầy khoảng trống năng lực hiện tại đồng thời quá trình này phải là quá trình phát triển năng lực [49] Cùng cách tiếp cận này, Huỳnh Văn Thới (2011) thì quan niệm ĐTBD CBCC chỉ là cách làm, nâng cao năng lực của CBCC mới là mục đích [55] Lại Đức Vượng (2009) quan niệm hoạt động này có ba chức năng: là phương tiện truyền thụ, trau dồi kiến thức, kỹ năng; chức năng đánh giá và chức năng phát triển [72] Theo Trần Thị Thanh Thuỷ (2010), việc ĐTBD CBCC có ba mục tiêu cơ bản là nâng cao năng lực, phát triển cá nhân và giảm thời gian học tập [58]
Một số công trình nghiên cứu đánh giá thực trạng công tác ĐTBD CBCC và đặt ra yêu cầu cần đổi mới công tác này Có thể kể đến một số công trình: Bài báo “Đổi mới, nâng cao hiệu quả đào tạo cán bộ, công chức” của Ngô Thành Can đăng trên Tạp chí Quản lý nhà nước số 175 (8/2010); bài
“Đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức đáp ứng yêu cầu cải cách hành chính
ở Việt Nam hiện nay” của Phạm Thị Quỳnh Hoa đăng trên Tạp chí Quản lý nhà nước số 199 (8/2012); bài “Chú trọng chất lượng đào tạo, bồi dưỡng cán
Trang 24bộ lãnh đạo trong nền kinh tế thị trường” của Phạm Đức Chính đăng trên Tạp chí Quản lý nhà nước số 202(11/2012); bài “Đổi mới công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức, viên chức trong trình hình mới” của Đinh Văn Tiến
và Thái Vân Hà đăng trên Tạp chí Quản lý nhà nước Số 6/2013, v.v Các công trình đã đánh giá, phân tích thực trạng hoạt động ĐTBD CBCC ở Việt Nam hiện nay, đồng thời chỉ ra những bất cập trong hoạt động ĐTBD CBCC
và gợi ý một số giải pháp để nâng cao chất lượng hoạt động này
Bên cạnh đó, có một số công trình nghiên cứu về đổi mới phương thức ĐTBD CBCC Đó là đề tài “Hoàn thiện phương pháp sư phạm hành chính trong đào tạo - bồi dưỡng công chức” do Đinh Văn Tiến làm chủ nhiệm (1999); đề tài “Đổi mới phương thức và nâng cao chất lượng đào tạo đội ngũ cán bộ, công chức nhà nước đáp ứng yêu cầu hội nhập” do Bùi Đức Kháng làm chủ nhiệm (2007), v.v Các công trình này chỉ ra rằng cách ĐTBD CBCC như hiện nay là không phù hợp với thực tiễn, giảng viên cần thay đổi phương pháp của mình để thu hút học viên tham gia vào quá trình học tập trên lớp, truyền cho họ cảm hứng tự học, tự nghiên cứu
Cùng nghiên cứu sự đổi mới phương thức, nhưng một số nhà nghiên cứu đã tiếp cận phương thức đánh giá kết quả ĐTBD Một số công trình điển hình như: bài “Đổi mới phương pháp kiểm tra đánh giá kết quả học tập trong đào tạo bồi dưỡng cán bộ, công chức” của Nguyễn Thị Thu Vân (2009) đăng trên Tạp chí Quản lý nhà nước; bài “Trách nhiệm của cơ quan sử dụng lao động trong việc đánh giá các khoá đào tạo, bồi dưỡng” của Lê Thị Vân Hạnh đăng trên Tạp chí Tổ chức nhà nước, số 2/2009; bài “Về tiêu chí đánh giá chất lượng đào tạo cán bộ, công chức” của Nguyễn Hữu Hải đăng trên Tạp chí Tổ chức nhà nước, tháng 9/2008, v.v Những nhà nghiên cứu theo hướng này cho rằng việc kiểm tra, thi như hiện nay không thể đánh giá được năng lược người học Điểm số chỉ là những con số, nó không phản ánh chất lượng ĐTBD CBCC Do vậy, việc kiểm tra, đánh giá nên tập trung vào sự hiểu biết
Trang 25và vận dụng trong thực tiễn công tác của người học Muốn thế, cần phải xây dựng được các tiêu chí cụ thể, người đánh giá phải khách quan, công tâm, đặc biệt là sự vào cuộc của cơ quan, tổ chức cử người đi học tham gia đánh giá khóa ĐTBD CBCC
Có nhiều công trình nghiên cứu kinh nghiệm đào tạo công chức công
vụ ở các quốc gia trên thế giới, điển hình như bài viết “Mô hình tổ chức hệ thống đào tạo, bồi dưỡng công chức của các nước trên thế giới” của Nguyễn
Thị Thu Vân đăng trên Tạp chí Quản lý nhà nước, số 206 (3/2013); bài “Công
chức và đào tạo công chức ở nước Cộng hòa Pháp” của Ngô Thành Can đăng trên Tạp chí Tổ chức nhà nước, số 8/2008; bài “Đào tạo công chức chính quyền địa phương ở Nhật Bản và kinh nghiệm đối với Việt Nam” của Đoàn Kim Huy đăng trên Tạp chí Cộng sản điện tử (2017); bài “Kinh nghiệm trong công tác đào tạo công chức ở Anh” Nguyễn Thành Lợi đăng trên Tạp chí Cộng sản điện tử (2009), v.v Các tác giả sau khi trình bày tình hình ĐTBD CBCC của một số quốc gia điển hình trên thế giới, đã chỉ ra những kinh nghiệm mà Việt Nam có thể học tập để vận dụng vào thực tiễn trong nước Các công trình này tiếp cận khá toàn diện hoạt động ĐTBD CBCC, bao gồm nội dung, thời gian, đối tượng ĐTBD, giảng viên tham gia ĐTBD, v.v Tuy nhiên các tác giả chưa đề cập đến phương pháp, tiêu chí đánh giá chất lượng ĐTBD CBCC; cách thức quản lý của chính quyền đối với cơ sở ĐTBD CBCC
Hai là, nhóm các công trình nghiên cứu về đào tạo theo vị trí việc làm,
đào tạo theo chức danh
Do nền hành chính phát triển, nó đòi hỏi những CBCC những kỹ năng, phương pháp làm việc phù hợp nên triết lý đào tạo và phương thức đào tạo cũng phải thay đổi để ĐTBD được đội ngũ CBCC phù hợp Việc quản lý CBCC đang và sẽ chuyển từ quản lý công truyền thống sang quản lý theo vị trí việc làm, do vậy việc đào tạo theo vị trí việc làm, đào tạo theo chức danh là
Trang 26tất yếu Chính vì thế, thời gian gần đây ngày càng có nhiều công trình nghiên
cứu đề cập đến vấn đề đào tạo này
- Về theo vị trí việc làm, có thể kể đến một số công trình như: Đề tài
“Đào tạo, bồi dưỡng theo vị trí việc làm cho cán bộ, công chức, viên chức các tỉnh khu vực Tây Nguyên” do Bùi Huy Khiên làm chủ nhiệm (2015); Đề tài
“Cơ sở khoa học của việc đào tạo, bồi dưỡng theo vị trí việc làm đối với công chức ngành nội vụ” do Vũ Thanh Xuân làm chủ nhiệm (2013); “Đào tạo, bồi dưỡng theo vị trí việc làm - những khó khăn và kiến nghị” của Đặng Khắc Ánh đăng trên Tạp chí Quản lý nhà nước, số 193 (2/2012); bài “Đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức từ góc nhìn chuỗi kết quả và chỉ số đánh giá” của Đoàn Văn Dũng đăng trên Tạp chí Tổ chức nhà nước, số 7/2012; bài “Về triển khai công tác đào tạo, bồi dưỡng công chức theo vị trí việc làm” của Đặng Thị Mai Hương đăng trên Tạp chí Tổ chức nhà nước, số 12/2012, v.v
đã khẳng định việc đào tạo theo vị trí việc làm là xu hướng trong tương lai, đồng thời chỉ ra cơ sở lý luận và thực tiễn của đào tạo theo vị trí việc làm Việc ĐTBD CBCC theo vị trí việc làm là loại hình mang tính chất đào tạo nghề; ĐTBD cho những người có trình độ, có nhiều kinh nghiệm thực tiễn trong công tác Tuy nhiên, việc ĐTBD CBCC theo vị trí việc làm cần phải bảo đảm nguyên tắc: làm việc gì phải được học, được đào tạo, bồi dưỡng kiến thức nghiệp vụ, kỹ năng của việc làm ấy; nội dung chương trình đào tạo, bồi dưỡng theo vị trí việc làm chủ yếu là kỹ năng nghề nghiệp; phương pháp đào tạo, bồi dưỡng phải đa dạng, v.v
- Về đào tạo theo chức danh, có thể kể đến một số công trình: Đề tài
“Khảo sát, phân loại và xây dựng chương trình bồi dưỡng kiến thức hành
chính và quản lý nhà nước theo các chức danh thứ trưởng, phó chủ tịch ủy ban nhân dân cấp tỉnh” do Đinh Văn Mậu làm chủ nhiệm; Đề tài “Nghiên cứu các yêu cầu chung cho việc xây dựng chương trình đào tạo thư ký và trợ lý lãnh đạo” do Nguyễn Văn Hậu làm chủ nhiệm, v.v Các các giả đã đưa ra các
Trang 27khung chương trình ĐTBD Tuy nhiên, quy trình xây dựng khung chương trình đào tạo theo chức danh chưa được luận giải cụ thể
Đề tài “Nghiên cứu luận cứ khoa học và giải pháp thực hiện phân công, phân cấp đào tạo, bồi dưỡng theo chức danh cán bộ, công chức nhà nước” do Nguyễn Ngọc Vân làm chủ nhiệm (2005) đã chỉ rõ hoạt động phân công, phân cấp ĐTBD theo chức danh CBCC nhà nước là yếu tố bảo đảm tính khoa học của công tác ĐTBD và khẳng định tính khách quan phải thực hiện phân cấp [69] Thực tế cho thấy, công tác ĐTBD CBCC của cả hệ thống các cơ sở ĐTBD ở Việt Nam hiện nay mới chỉ tập trung vào các đối tượng CBCC theo tiêu chuẩn ngạch, còn việc ĐTBD theo chức danh rất ít Chính vì vậy, việc phân công, phân cấp ĐTBD theo chức danh cần được thực hiện để đảm bảo tính phân tầng kiến thức và tính chuyên sâu trong hoạt động ĐTBD CBCC
1.1.2 Các công trình nghiên cứu về trường chính trị
Nghiên cứu về TCT hoàn toàn là các công trình trong nước, khá đa dạng về loại hình, bao gồm: Sách, đề tài khoa học, luận án và bài viết trên tạp chí Tuy nhiên, chủ đề mà các công trình nghiên cứu về TCT đề cập chưa được phong phú, chủ yếu nói về mô hình TCT và phát triển đội ngũ nhân sự (nhân sự tập trung vào đội ngũ giảng viên)
Một là, các công trình đề cập về mô hình, sự phát triển của TCT
- Đề tài khoa học: “Cơ sở lý luận và thực tiễn xây dựng mô hình chuẩn trường chính trị tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương”, Nguyễn Văn Thắng
Trang 28hoạt động, cơ chế phối hợp và chất lượng đào tạo Coi đào tạo là một quá trình có nguyên liệu đầu vào, quá trình hoạt động, sản phẩm đầu ra, với mong muốn nâng cao chất lượng sản phẩm đầu ra, những người nghiên cứu tiếp cập
mô hình đánh giá cao vai trò của cơ sở ĐTBD Cơ sở ĐTBD được ví như
“khuôn mẫu” để tạo sản phẩm Khuôn mẫu càng chuẩn thì sản phẩm đầu ra càng có chất lượng
Trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế, đẩy mạnh cải cách hành chính, các TCT chịu sự tác động mạnh mẽ, muốn vươn lên, các TCT phải
“bung ra” Nhưng sự “bung ra” đó hoàn toàn tự phát, không theo trật tự nào, không trong phạm vi nào nên đã ảnh hưởng đến chất lượng ĐTBD CBCC của các TCT Do vậy, cần phải có mô hình chuẩn để các TCT phát triển trong khuôn mẫu đã được xây dựng
Bằng các phương pháp nghiên cứu định tính như phỏng vấn, khảo sát nhóm nghiên cứu đã thu thập số liệu, phân tích, tổng hợp và đánh giá khách quan thực trạng về TCT, về công tác ĐTBD của hệ thống TCT Với những lập luận chặt chẽ, nhóm nghiên cứu đã chứng minh sự sự cần thiết phải xây dựng mô hình TCT chuẩn và nhóm nghiên cứu đưa ra 12 tiêu chí để xây dựng
Với phương pháp tiếp cận hệ thống, tác giả đã phân tích đầy đủ các yếu
tố cấu thành cơ sở đào tạo bồi dưỡng chính trị cấp huyện, làm rõ được vị trí, vai trò của cơ sở đào tạo bồi dưỡng chính trị cấp huyện Đồng thời đã phân
Trang 29tích được mối quan hệ giữa cơ sở đào tạo bồi dưỡng chính trị cấp huyện với các cơ quan ở địa phương theo chiều ngang và chiều dọc
- Bài viết trên tạp chí:
+ “Phương hướng xây dựng trường chính trị tỉnh ngang tầm yêu cầu, nhiệm vụ mới”, Huỳnh Minh Đoàn (2007) [17]
Tác giả đã nhấn mạnh tầm quan trọng của TCT trong ĐTBD lý luận chính trị cho đội ngũ cán bộ của tỉnh Để nâng cao chất lượng ĐTBD, xứng đáng vị thế của TCT thì cần xác định được phương hướng xây dựng TCT ngang tầm yêu cầu, nhiệm vụ mới Muốn vậy, tác giả đề xuất một số giải pháp như: tăng cường công tác nghiên cứu khoa học, tổng kết thực tiễn góp phần phát triển lý luận, đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ trong tình hình mới; tập trung xây dựng trường, lớp khang trang, kiểu mẫu, xây dựng môi trường sư phạm chuẩn mực, tiêu biểu
+ “Đảm bảo tính hệ thống khi quy định chức năng, nhiệm vụ, tổ chức
bộ máy của trường chính trị tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương”, Nguyễn Minh Tuấn (2018) [65]
Nhằm góp ý cho Quy định về chức năng, nhiệm vụ, tổ chức bộ máy của TCT trước khi Ban Bí thư Trung ương ban hành, tác giả đã chỉ ra và phân tích
sự thiếu tính hệ thống đối với các cơ sở ĐTBD lý luận chính trị (học viện chính trị, trường chính trị, trung tâm bồi dưỡng chính trị) từ trung ương đến cấp huyện về: đối tượng ĐTBD lý luận chính trị, cơ quan chủ quản, biên chế
và bộ máy, mối quan hệ giữa cơ sở ĐTBD lý luận chính trị với các ban đảng,
cơ quan nội vụ, giáo dục cùng cấp Sự thiếu tính thống nhất như vậy đã gây lãng phí nguồn lực và chồng chéo trong hoạt động của các TCT
Khắc phục những hạn chế đó, trong quyết định mới về chức năng, nhiệm vụ, tổ chức bộ máy của TCT cần phân chia rõ đối tượng đào tạo của các cơ sở ĐTBD lý luận chính trị, theo đó hệ thống học viện chính trị không ĐTBD đối tượng của các TCT; TCT chỉ có 01 cơ quan chủ quản là tỉnh
Trang 30uỷ/thành uỷ, thay vì 02 cơ quan như hiện nay (tỉnh uỷ/thành uỷ và UBND tỉnh/thành phố)
Hai là, các công trình đề cập về phát triển đội ngũ nhân sự của TCT
+ “Xây dựng đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý của hệ thống trường chính trị cấp tỉnh hiện nay”, Nguyễn Văn Thắng và nhóm tác giả (2018) [53]
Các tác giả cho rằng con người là yếu tố trung tâm của tổ chức Để TCT thực hiện chức năng và nhiệm vụ ngày càng được mở rộng và nặng nề hơn, cần phải thực hiện nhiều giải pháp đồng bộ, trong đó có những giải pháp mang tính đột phá, then chốt Một trong những giải pháp mang tính đột phá, then chốt đó là xây dựng đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý vững mạnh làm
“bộ khung” cho TCT
Các tác giả chi rằng thực tế đội ngũ lãnh đạo, quản lý của các TCT có rất nhiều vấn đề đặt ra cần giải quyết: cơ cấu chưa hợp lý, trình độ chưa ngang tầm nhiệm vụ, lãnh đạo chủ chốt TCT chưa được quan tâm, v.v Với thực trạng đó, các tác giả đã đề xuất một số giải pháp cơ bản nhằm xây dựng đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý của hệ thống trường chính trị cấp tỉnh theo chủ trương của Đảng những năm gần đây, nhất là việc thực hiện Quy định số 09-QĐi/TW ngày 13/11/2018 của Ban Bí thư Trung ương Đảng khóa XII về
Trang 31chức năng, nhiệm vụ, tổ chức bộ máy của trường chính trị tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương
- Luận án tiến sĩ:
+ “Nâng cao năng lực tư duy lý luận cho cán bộ giảng dạy Mác-Lênin ở các trường chính trị tỉnh”, Nguyễn Đình Trãi (2001) [60]
Tác giả đã làm sáng tỏ phạm trù năng lực tư duy lý luận và vai trò của
nó đối với công tác giảng dạy lý luận Mác-Lênin ở TCT tỉnh Qua việc đánh giá thực trạng, tác giả đề xuất một số phương hướng, giải pháp cơ bản nhằm nâng cao năng lực tư duy lý luận cho đội ngũ cán bộ giảng dạy lý luận Mác-Lênin ở các TCT tỉnh Theo tác giả, để nâng cao năng lực tư duy lý luận cho cán bộ giảng dạy Mác-Lênin ở các TCT tỉnh thì đối với giảng viên cần học tập, trau dồi phương pháp tư duy biện chứng duy vật; đối với TCT phải từng bước chuẩn hóa đội ngũ cán bộ giảng dạy lý luận Mác-Lênin theo hướng kết hợp hài hòa giữa năng lực, trình độ chuyên môn với phẩm chất, đạo đức cách mạng; đối với cơ quan quản lý giảng viên cần tiếp tục đổi mới và hoàn thiện chính sách đối với cán bộ giảng dạy lý luận Mác-Lênin
+ “Phát triển đội ngũ giảng viên trường chính trị các tỉnh miền núi phía Bắc đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục lý luận chính trị”, Nguyễn Mạnh Hải (2015) [22]
Tác giả đi sâu nghiên cứu cơ sở lý luận về phát triển đội ngũ giảng viên TCT Từ đó đánh giá thực trạng phát triển đội ngũ giảng viên TCT các tỉnh miền núi phía Bắc Để phát triển đội ngũ giảng viên TCT các tỉnh miền núi phía Bắc đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục lý luận chín trị, tác giả đã đề cập
6 giải pháp: Xây dựng khung năng lực nghề nghiệp giảng viên; xây dựng quy hoạch phát triển đội ngũ giảng viên; đổi mới công tác tuyển dụng, quản lý, sử dụng đội ngũ giảng viên; ĐTBD, luân chuyển thực tế cơ sở nâng cao chất lượng đội ngũ giảng viên; thực hiện đánh giá giảng viên theo khung năng lực;
Trang 32hoàn thiện chế độ đãi ngộ, cơ chế quản lý, tạo môi trường làm việc thuận lợi thúc đẩy phát triển đội ngũ giảng viên
+ “Xây dựng đội ngũ giảng viên lý luận chính trị của các trường chính trị tỉnh, thành phố vùng Đồng bằng sông Cửu Long hiện nay”, Bùi Hải Dương (2017) [16]
Tác giả đã làm rõ khái niệm xây dựng đội ngũ giảng viên lý luận chính trị của các trường chính trị; xác định nội dung và yêu cầu xây dựng đội ngũ giảng viên lý luận chính trị của các trường chính trị tỉnh, thành phố hiện nay
Theo tác giả quá trình xây dựng đội ngũ giảng viên lý luận chính trị của các trường chính trị tỉnh, thành phố vùng Đồng bằng sông Cửu Long giai đoạn 2010 - 2016 đã đạt được những kết quả đạt được khá toàn diện Tuy nhiên, năng lực nghiên cứu thực tế, nghiên cứu khoa học của đội ngũ giảng viên vẫn còn nhiều bất cập
Trên cơ sở phân tích 4 mâu thuẫn đang tồn tại trong quá trình xây dựng đội ngũ giảng viên lý luận chính trị hiện nay, tác giả đã đề xuất và luận giải cơ
sở khoa học của 6 giải pháp xây dựng đội ngũ giảng viên lý luận chính trị của các TCT phù hợp với đặc thù vùng Đồng bằng sông Cửu Long trong thời gian tới
- Bài viết trên tạp chí:
+ “Vượt qua thách thức, trở ngại đối với giảng viên trường chính trị”, Nguyễn Văn Biết (2014) [5]
Theo tác giả, giảng viên của TCT gặp rất nhiều trở ngại trong quá trình giảng dạy và phát triển nghề nghiệp, bởi tính chất, vai trò của người giảng viên giảng dạy lý luận chính trị Thách thức, trở ngại mà đội ngũ giảng viên TCT phải khắc phục để vượt qua trước xu thế phát triển hiện nay được tác giả chỉ ra, đó là: công tác lý luận chưa theo kịp thực tiễn cuộc sống; sự vô hạn của tri thức trong thời đại bùng nổ thông tin; những giới hạn của chính giảng viên;
và những bất cập của môi trường làm việc
Trang 33Tác giả cho rằng đây là những thách thức, trở ngại bao gồm cả chủ quan và khách quan nên rất khó khăn để giảng viên các TCT vượt qua tất cả
+ “Nâng cao năng lực chuyên môn của đội ngũ giảng viên các trường chính trị”, Nguyễn Thị Châu (2015) [11]
Tác giả đánh giá cao vai trò của đội ngũ giảng viên các TCT, năng lực chuyên môn của giảng viên sẽ quyết định đến chất lượng ĐTBD Để giảng viên TCT nâng cao năng lực chuyên môn thì đội ngũ giảng viên phải ra sức rèn luyện, tu dưỡng; không ngừng nâng cao trình độ lý luận chính trị, chuyên môn, kiến thức thực tiễn; kỹ năng, nghiệp vụ sư phạm, ngoại ngữ, tin học
1.1.3 Các công trình nghiên cứu về quản lý nhà nước đối với các cơ
sở đào tạo, bồi dưỡng
Nghiên cứu về QLNN đối với các cơ sở đào tạo, bồi dưỡng, ngoài một
số công trình trong nước, có một số công trình ngoài nước Tuy nhiên, các công trình nghiên cứu về vấn đề này không nhiều và chỉ tập trung vào cơ sở giáo dục và đào tạo
Một là, các công trình trong nước
- Đề tài khoa học: “Một vài mô hình quản lý nhà nước đối với các trường đại học của một số nước trên thế giới”, Đặng Xuân Hải (2005) [24]
Tác giả trình bày cơ sở lý luận của vấn đề vai trò QLNN về giáo dục và đào tạo đối với các trường đại học Trên cơ sở đó, tác giả đã nghiên cứu một
số mô hình quản lý điển hình như: quản lý cơ sở giáo dục đại học trong các hệ thống dưới cơ chế quyền tự chủ và trách nhiệm xã hội; quản lý cơ sở giáo dục đại học trong các hệ thống mà cơ chế tự chủ còn thấp và nhà nước quản lý theo cơ chế giám sát chặt chẽ; quản lý cơ sở giáo dục đại học trong các hệ thống dưới cơ chế kiểm soát và kế hoạch tập trung Từ đó phân tích tổng hợp các mô hình quản lý và những đề xuất về khả năng vận dụng cho Việt Nam
- Luận án tiến sĩ:
Trang 34+ “Quản lý nhà nước theo hướng đảm bảo sự tự chủ, tự chịu trách nhiệm của các trường đại học ở Việt Nam”, Phan Huy Hùng (2009) [34]
Theo tác giả, “Quản lý của nhà nước về giáo dục đại học là việc nhà nước sử dụng quyền lực công để điều khiển hoạt động giáo dục đại học theo mục tiêu của mình” [34] Tự chủ là nhu cầu khách quan để tăng tính năng động, cạnh tranh và hiệu quả của trường đại học, đồng thời thúc đẩy việc tự quản, sự độc lập trong tư duy, tìm tòi chân lý và tính nghiêm túc trong khoa học Tự chủ phải đi đôi với tự chịu trách nhiệm, để ràng buộc theo định hướng của nhà nước
Trên cơ sở kinh nghiệm của một số nước trên thế giới về quản lý giáo dục đại học theo tính tự chủ, tự chịu trách nhiệm, tác giả đưa ra một số giá trị tham khảo cho Việt Nam
Tác giả đã chỉ ra phương thức quản lý các trường đại học là: các cơ quan quản lý hành chính nhà nước có thẩm quyền thực hiện vai trò giám sát các trường đại học thông qua các công cụ chính sách chặt chẽ, đầu tư và phân
bổ ngân sách nhà nước, xây dựng văn hóa chất lượng Song song đó, tăng cường chức năng kiểm soát và đánh giá nhằm bảo đảm sự trung thực và minh bạch của các trường trong cung cấp dịch vụ giáo dục đại học cũng như sử dụng nguồn lực công một cách hiệu quả Để đổi mới QLNN theo hướng đảm bảo tự chủ, tự chịu trách nhiệm của các trường, tác giả nhấn mạnh cần cải tổ
bộ máy quản lý; đổi mới QLNN về giáo dục đại học đối với chương trình đào tạo, tuyển sinh, văn bằng và giảng viên, tài chính
+ “Quản lý nhà nước đối với hệ thống trường phổ thông ngoài công lập vùng Tây Nguyên”, Trương Đình Chiến (2013) [12]
Tác giả đề xuất mô hình ánh sáng trắng để quản lý cơ sở cung cấp loại hình dịch vụ công này Theo tác giả, có 7 thành tố cơ bản tạo lập môi trường
và điều kiện hoạt động phù hợp cho hệ thống trường trường học: (1) Nhà nước, (2) Thị trường, (3) Sự tham gia của các lực lượng xã hội vào giáo dục,
Trang 35(4) Trường phổ thông ngoài công lập, (5) Nhà đầu tư, (6) Lực lượng nhân sự quản lý, (7) Môi trường địa chính trị và kinh tế - xã hội của địa phương Bảy thành tố này tương ứng 7 sắc cầu vồng, khi quy tụ vào một điểm, chúng hòa quyện vào nhau và chỉ còn màu sắc trắng
Trương Đình Chiến muốn chuyển tải thông tin rằng quản lý của Nhà nước đối với loại hình dịch vụ công này phải nhất quán và đồng nhất để mang lại hiệu quả quản lý
+ “Quản lý nhà nước đối với khu vực giáo dục đại học cao đẳng tư thục
ở Việt Nam”, Nguyễn Khánh Tường (2014) [68]
Tác giả đã xây dựng các nội dung cơ bản và kết hợp với kết quả khảo sát từ phía các nhà quản lý giáo dục để tạo cơ sở lý thuyết cho việc đánh giá công tác quản lý nhà nước đối với khu vực giáo dục đại học cao đẳng tư thục hiện nay Trên cơ sở đánh giá ba nhân tố tác động mạnh nhất đến công tác quản lý nhà nước đối với khu vực giáo dục đại học cao đẳng tư thục, tác giả
đã đề xuất được mô hình quản lý nhà nước đối với các trường đại học cao đẳng tư thục mang đặc thù của Việt Nam, có tham khảo mô hình của một số quốc gia phát triển trên thế giới
Tác giả cũng đã chỉ ra các vấn đề ở tầm vĩ mô ảnh hưởng đến hoạt động của các trường đại học cao đẳng tư thục như: tăng trưởng, chính sách cơ cấu giữa công và tư, chất lượng giáo dục đại học cao đẳng
Sau khi đánh giá những thành tựu, hạn chế và nguyên nhân của hạn chế trong quản lý nhà nước về giáo dục đại học cao đẳng tư thục hiện nay, tác giả
đề xuất những giải pháp hoàn thiện quản lý nhà nước về giáo dục đại học, cao đẳng tư thục trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa
+ “Quản lý nhà nước đối với các trường giáo dưỡng ở Việt Nam hiện nay”, Lê Đức Cảnh (2016) [10]
Tiếp cận từ góc độ quyền con người, quyền công dân, quyền trẻ em, bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em kết hợp với tiếp cận từ góc độ thực thi
Trang 36chế tài pháp luật hình sự và pháp luật hành chính, tác giả đã nghiên cứu một cách toàn diện các vấn đề lý luận về quản lý nhà nước đối với trường giáo dưỡng, một loại trường chuyên biệt có nhiệm vụ quản lý, giáo dục người chưa thành niên vi phạm pháp luật
Trên cơ sở phân tích về mặt khoa học, pháp lý, thực tiễn và chọn lọc tiếp thu quan điểm các công trình đã được công bố, tác giả đã đưa ra khái niệm trường giáo dưỡng, đặc điểm trường giáo dưỡng và xây dựng một khái niệm toàn diện về quản lý nhà nước đối với trường giáo dưỡng, đồng thời chỉ
ra, phân tích thấu đáo các đặc điểm quản lý nhà nước đối với các trường giáo dưỡng
Tác giả đã luận giải một cách có hệ thống sự cần thiết phải quản lý nhà nước đối với các trường giáo dưỡng, nội dung, chủ thể, những yếu tố tác động đến quản lý nhà nước đối với các trường giáo dưỡng; đúc rút kinh nghiệm của một số quốc gia trên thế giới về quản lý, giáo dục trẻ em vi phạm pháp luật và rút ra bài học kinh nghiệm có thể vận dụng cho Việt Nam
Sau khi phân tích, đánh giá một cách toàn diện, đầy đủ về thực trạng hoạt động quản lý nhà nước đối với các trường giáo dưỡng hiện nay, tác giả
đã chỉ ra những kết quả đã đạt được, những hạn chế, bất cập và nguyên nhân của hạn chế, bất cập trong quản lý nhà nước đối với các trường giáo dưỡng Trên cơ sở đó, tác giả đề xuất hệ thống các giải pháp nhằm tăng cường quản
lý nhà nước đối với trường giáo dưỡng trong giai đoạn hiện nay
Hai là, các công trình nghiên cứu ngoài nước
- Sách:
+ “Training for Public Administration and Management in Developing Countries” (tạm dịch: Đào tạo quản lý và hành chính công ở các nước đang phát triển), Paul Samuel (1983) [77]
Đào tạo cho hành chính công và quản lý ở các nước đang phát triển ngày càng mở rộng và đa dạng hóa Năm điều kiện tiên quyết được xác định
Trang 37là cần thiết để đảm bảo tính hiệu quả của đào tạo: Chính sách đào tạo và quản
lý của các tổ chức, hệ thống giáo dục, cổ phiếu của nhân viên được đào tạo,
chính sách và hệ thống nhân sự, các nền văn hóa hành chính của chính phủ
Mạng lưới các tổ chức đào tạo cho hành chính công và quản lý ở các nước đang phát triển có thể được chia thành bốn loại chính: Chính phủ sở hữu
và quản lý các tổ chức, các tổ chức tự quản, tổ chức trường đại học liên quan,
và các viện quản lý hoặc trường học
+ “Để nhà trường hoạt động hiệu quả: bằng chứng mới về cải cách trách nhiệm”, Barbara Bruns, Deon Filmer và Harry Anthony Partinos (2011) [4]
Các tác giả chỉ ra rằng Bộ giáo dục là người ủy thác, hiệu trưởng các trường là người nhận ủy thác Việc quản lý trong nhà trường là sự phân cấp thẩm quyền từ chính quyền đến các trường Trách nhiệm đối với các hoạt động của nhà trường, và thẩm quyền quyết định về các hoạt động này được phân cấp cho chính các trường Nhà nước trao quyền thông qua Hội đồng trường, Hội đồng trường quản lý là một hình thức phi tập trung hóa, nhằm giảm công việc của nhà nước, tạo động lực cho giảng viên, đồng thời nâng cao trách nhiệm giải trình
- Bài viết trên tạp chí: “Politics, Markets, and the Organization of Schools” (tạm dịch: Chính trị, thị trường và tổ chức của các trường học), John E.Chubb and Terry M.Moe (1998) [74]
Các tác giả đã cung cấp một phân tích so sánh giữa các trường công lập
và tư thục Các trường công lập và tư thục có đặc trưng rất khác nhau trong môi trường và tổ chức, trong đó các trường tư thục có nhiều ưu thế để hoạt động hiệu quả Các tác giả cho rằng sự khác biệt quan trọng giữa các trường công lập và tư thục trên các lĩnh vực chính trị và thị trường Lập luận này xuất phát từ quan điểm rằng bối cảnh môi trường có những tác động cho các tổ chức và hoạt động của tất cả các trường học, đặc biệt là những khác biệt cơ
Trang 38bản giữa khu vực công và khu vực tư, giữa công và trường tư Sự khác nhau xuất phát từ phương pháp kiểm soát xã hội: các các trường công là cấp dưới trong một hệ thống thứ bậc của nền chính trị dân chủ, trong khi đó các trường
tư chịu sự kiểm soát của thị trường
1.2 ĐÁNH GIÁ VỀ CÁC CÔNG TRÌNH ĐÃ NGHIÊN CỨU CÓ LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI
1.2.1 Những nội dung có liên quan đã được nghiên cứu
- Về các công trình nghiên cứu về ĐTBD CBCC
Một điều nhận thấy là các công trình nghiên cứu về ĐTBD CBCC rất
đa dạng và phong phú, tiếp cận từ nhiều góc độ khác nhau Các công trình nghiên cứu của các tác giả đã đề cập đến nhiều nội dung khác nhau của công tác ĐTBD CBCC; chiến lược ĐTBD, nâng cao hiệu quả ĐTBD CBCC, cơ sở khoa học của ĐTBD CBCC, v.v Các công trình này đã có những đóng góp nhiều về mặt lý luận và đề xuất nhiều giải pháp nâng cao chất lượng công tác ĐTBD CBCC, giúp nhận diện ngày càng đầy đủ hơn về ĐTBD CBCC, đặc biệt là hình thức đào tạo theo vị trí việc làm, theo chức danh đang ngày càng thể hiện những ưu thế của phương thức đào tạo này mà trọng tâm là gắn ĐTBD với thực thi công vụ
Mặc dù có nhiều công trình nghiên cứu về ĐTBD CBCC nhưng các công trình nghiên cứu này chưa khai thác ở góc độ quản lý để có chất lượng, hiệu quả ĐTBD CBCC
- Về các công trình nghiên cứu về TCT
+ Các nhà nghiên cứu tiếp cận chung về TCT đi vào tìm hiểu mô hình của TCT hoặc hướng phát triển của TCT Việc nghiên cứu TCT theo mô hình phát triển TCT đã khái quát được các yếu tố cấu thành TCT, đưa ra được các tiêu chí đánh giá TCT chuẩn, mối liên hệ giữa TCT với các cơ quan khác Tuy nhiên những nhà nghiên cứu theo cách tiếp cận này cũng chưa làm rõ được nội hàm TCT Với hệ thống 63 TCT trong cả nước, điều kiện và “cơ chế” mỗi
Trang 39tỉnh là khác nhau, hoạt động của mỗi trường có sự tự chủ nhất định, nếu xây dựng mô hình không chuẩn sẽ “bó” các trường trong khuôn khổ chật hẹp Hơn nữa, những nhà nghiên cứu theo cách tiếp cận này mới chỉ quan tâm đến việc xây dựng tiêu chí chuẩn, mà chưa đề cập đến sự quản lý đối với mô hình này, nghĩa là chưa đề cập chủ thể xây dựng mô hình chuẩn, công nhận đạt chuẩn và xử lý nếu không đạt chuẩn
Mặt khác, khi nghiên cứu về mô hình TCT, các nhà nghiên cứu xem xét
mô hình TCT dưới dạng “tĩnh”, do vậy việc quản lý các TCT theo mô hình là rất đơn giản, nhưng trên thực tế, hoạt động của các TCT luôn thay đổi, điều này dẫn đến việc quản lý các TCT sẽ như thế nào chưa được làm rõ Coi ĐTBD là một quá trình với các yếu tố đầu vào và đầu ra, nhưng các công trình nghiên cứu không đề cập đến chuẩn đầu vào và chuẩn đầu ra, như vậy các nhà nghiên cứu theo cách tiếp cận này cũng không đề cập đến việc quản
lý đầu vào và đầu ra
Bên cạnh đó, có tác giả (Đặng Thị Bích Liên trong luận án “Mô hình quản lý cơ sở đào tạo bồi dưỡng chính trị cấp huyện trong giai đoạn hiện nay”) lại xem xét cơ sở ĐTBD chính trị là một cơ sở giáo dục quốc dân Tuy nhiên, cùng là cơ sở thực hiện việc dạy học nhưng cơ sở ĐTBD chính trị cấp huyện là một loại hình cơ sở ĐTBD CBCC, có chức năng, nhiệm vụ hoàn toàn khác các cơ sở đào tạo của hệ thống quốc dân Tác giả cũng chưa làm rõ được khái niệm và nội dung của mô hình quản lý Mặc dù nghiên cứu mô hình quản lý nhưng tác giả lại tiếp cận từ góc độ quản lý giáo dục, đi vào nội dung và phương pháp ĐTBD, chưa thấy yếu tố của quản lý
Một số nhà nghiên cứu thì xem xét TCT trong tính hệ thống đối với các
cơ sở ĐTBD CBCC cùng tính chất, và mong muốn TCT phải thống nhất cách
tổ chức, hoạt động với các cơ sở ĐTBD CBCC cùng tính chất, phải nâng tầm cao hơn Tuy nhiên, do mức độ quan trọng khác nhau, quy mô khác nhau, chủ quản khác nhau, nguồn lực khác nhau, v.v nên việc xây dựng TCT ở một
Trang 40tầm cao hơn và thống nhất với các cơ sở ĐTBD CBCC cùng tính chất là điều khó khả thi
+ Các công trình tiếp cận đội ngũ giảng viên TCT
Quản lý con người không chỉ là khoa học, mà còn là nghệ thuật Cách tiếp cận nguồn lực con người nhấn mạnh nhu cầu xã hội, được quý trọng và tự thể hiện mình của người lao động Trên cơ sở lý thuyết quản lý trên cơ sở con người, các nhà nghiên cứu đội ngũ giảng viên của TCT khẳng định vai trò của đội ngũ giảng viên đối với các TCT, là lực lượng quyết định sự tồn tại và phát triển của các trường, là nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng ĐTBD Giảng dạy trong môi trường chính trị, giảng viên của TCT không chỉ đáp ứng được tiêu chuẩn của nhà giáo mà còn phải có tri thức chính trị, phải có năng lực tư duy
lý luận Mác-Lênin
Qua việc đánh giá thực trạng đội ngũ giảng viên các TCT, các nhà nghiên cứu đã đề xuất những giải pháp nhằm phát triển đội ngũ giảng viên TCT Theo các nhà nghiên cứu, để phát triển đội ngũ giảng viên trường chính trị cần tăng cường sự lãnh đạo, quản lý của Đảng, Nhà nước, cấp ủy đảng, chính quyền địa phương và nâng cao vai trò của TCT đối với xây dựng đội ngũ giảng viên lý luận chính trị; đẩy mạnh và nâng cao chất lượng ĐTBD đội ngũ giảng viên và cơ cấu lại đội ngũ theo hướng tinh gọn, chất lượng cao và hiệu quả công việc tốt (Bùi Hải Dương, 2017); cần xây dựng khung năng lực nghề nghiệp giảng viên; đổi mới công tác quản lý, sử dụng và đãi ngộ giảng viên; đào tạo, bồi dưỡng, luân chuyển giảng viên (Nguyễn Mạnh Hải, 2015) Tuy nhiên, các tác giả cũng đã chỉ ra những thách thức, trở ngại đối với việc xây dựng, phát triển đội ngũ giảng viên TCT
Mặc dù nghiên cứu về đội ngũ giảng viên TCT nhưng các công trình này đề tiếp cận giảng viên từ khía cạnh khoa học giáo dục, khoa học chính trị
về tư tưởng, năng lực chuyên môn Chưa có tác giả nào tiếp cận từ khoa học quản lý đối với đội ngũ giảng viên TCT Các biện pháp quản lý mà các nhà