1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

giao trinh xu ly anh ky thuat so kho tài liệu bách khoa

174 90 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 174
Dung lượng 8,12 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Dưới đây là sơ đồ so sánh công nghệ truyền thống analog và các công nghệ kỹ thuật số digital: Phần Digital Phần Analog Chuyển đổi Analog - Digital Máy quét Chuyển đổi Digital - Analog Bả

Trang 1

Giấo trịnh

XÛÃ LYÁ ẪNH KYÄ THUÊÅT SƯË

BIÊN SOẠN : NGUYỄN MẠNH HUY

2006

Trang 2

Múê ăíìu

A Sú lûúơc quaâ trònh phaât triïín

B Sú lûúơc vïì caâc thiïịt bõ lûu trûô vađ caâc ắnh daơng file thöng duơng

1 Caâc thiïịt bõ lûu trûô

2 Caâc ắnh daơng file thöng duơng

Trang 3

Chûúng 1 : Múã àêìu

A SƠ LƯỢC QUÁ TRÌNH PHÁT TRIỂN

Các máy quét màu đã xuất hiện vào năm 1937 và trở thành sảnphẩm thương mại vào thập niên 1950 Tuy nhiên nó đã phát triển

mạnh vào đầu thập niên 1970 khi công nghệ kỹ thuật số và nguồn tia

laser được đưa vào ứng dụng Ngày nay tách màu điện tử gần như là

phương pháp chủ yếu dùng để phục chế màu

Sau khi giới thiệu máy phục chế màu quang cơ đầu tiên vào thậpniên 1890, công nghệ này vẫn được tiếp tục sử dụng trong kỹ thuật

phục chế màu mãi đến thập niên 1930 Vào thập niên 1930 công ty

Eastman Kodak đứng đầu là Alexander Murray đã phát triển một số

phương pháp có ảnh hưởng cho công nghệ chế bản phim sau này

Năm 1934 cuốn sách "Phương pháp bản che phục chế màu cho công

nghệ in" được xuất bản, và năm 1937 Murray cùng Richard S More

được cấp bằng sáng chế đầu tiên về tách màu điện tử

Lý thuyết quét của Murray và More dựa trên nguyên tắc "ống

-xoay" (Rotating - Drum) Một bài mẫu màu trong suốt được gắn lên

một ống trong suốt và được quét theo từng dòng bởi một đầu quét

được kết nối với nguồn sáng và bộ phận quang học Đầu quét được di

chuyển song song với trục ống gắn bài mẫu và quét toàn bộ bài mẫu

theo dạng xoắn ốc Tia sáng đi vào đầu quét được tách làm 3 thành

phần đi qua 3 kính lọc Red, Green, Blue Sau khi được chuyển thành

tín hiệu điện, các thông tin hình ảnh này được hiệu chỉnh cường độ

Trang 4

Chûúng 1 : Múã àêìu

để chiếu lên phim được gắn trên một ống khác có cùng trục quay với

ống gắn bài mẫu Kỹ thuật sửa màu điện tử cho máy quét Murray và

More đã được hoàn chỉnh do công của Vincent Hall vào năm 1941

Vào ngày 21/1/1937 (năm ngày sau khi Murray và More đăng ký

phát minh), Arthur C Hardy, giáo sư của Viện Kỹ thuật Massaschusetts

và Công ty Interchemical Corp., đã đăng ký phát minh máy quét màu

Phát minh của Hardy thực sự là phát minh đầu tiên cho máy tách màu

điện tử Máy quét của Công ty Interchemical sử dụng một bàn chuyển

động qua lại kết hợp với 4 rãnh, nghĩa là nó đã sử dụng phương pháp

quét phẳng (Flatbed) Ba trong số bốn rãnh có gắn phim tách màu từ

máy chụp quang cơ, rãnh thứ tư gắn bản phim chưa lộ sáng Nguồn

sáng chiếu qua các bản tách âm bản theo từng dòng và sau đó được

chuyển thành tín hiệu điện Các tín hiệu điện này được đưa vào mạch

sửa màu và sẽ điều khiển quá trình chiếu sáng lên bản tách màu dương

bản (bản phim chưa lộ sáng).

Nguyên lý đọc ghi của máy quét dạng ống-xoay

Trang 5

Chûúng 1 : Múã àêìu

Phòng thí nghiệm Springdale đã hợp tác với các nhà khoa học củaEastman Kodak cải tiến khâu sửa màu và một bo mạch khác của

máy quét nhằm đưa vào phục vụ thương mại Vào tháng 8 năm 1950,

sáu máy quét đã được lắp đặt và 60% hình ảnh tách màu của tạp chí

Life đã được phục chế từ hai trong số sáu máy này Máy quét nổi tiếng

lúc bấy giờ là máy Time-Springdale, sau này có tên là P.D.I do Công

ty Printing mua lại và phát triển

Máy quét Interchemical đã tỏ ra quá chậm trong công việc phụcchế Phương pháp quét theo từng điểm và dựa vào chuyển động qua

lại của bàn quét tỏ ra không có hữu hiệu bằng nguyên lý quay của

máy quét Kodak, do đó nguyên lý ống-xoay cho hầu hết các máy quét

sản xuất với mục đích thương mại, ít nhất là cho đến những năm đầu

thập niên 1980

Vào năm 1950 Công ty Radio Corporation of America (RCA) mua

lại và phát triển máy quét Interchemical RCA đã thay thế một công

nghệ quan trọng đó là sử dụng ống tia âm cực (Cathode-ray Tube (CRT))

để quét đọc và ghi RCA cũng đã đưa vào một máy tính để giải quyết

vấn đề sai biệt cho 4 bản tách màu trong phương trình Neugebauer

Giai đoạn từ năm 1950-1968 Máy quét hàng đầu thế giới là máy

Drum máy quét của P.D.I với độ thu phóng rộng từ 34% - 300%, ghi

phim dạng âm bản hoặc dương bản, sử dụng kỹ thuật UCR (Undercolor

removal), ghi 4 màu cùng một lúc Cạnh tranh với P.D.I vào đầu thập

niên 1950 là các máy quét của các công ty Acme, Belin và

Hunter-A Bản tách neg hay pos

B Bộ phận lưu trữ dữ liệu

C Bộ phận điều khiển nguồn sáng

D Nguồn chiếu sáng Nguyên lý chuyển động qua lại

của máy quét Interchemical

Trang 6

Chûúng 1 : Múã àêìu

Penrose Năm 1960 máy quét Scan-A-Color được sản xuất, nó cho

phép tách màu cả bài mẫu phản xạ và bài mẫu thấu minh

Công ty Crosfield Electronics của Anh đã tham gia vào thị trường

máy quét vào năm 1957 Máy Scanatron của họ giống y như máy

Colorgraph của công ty Hunter-Penrose Crosfield đã giải quyết vấn

đề chậm chạm của máy quét bằng cách sử dụng chùm tia âm cực

(CRT) cho cả đầu ghi và đầu đọc Scanatron là máy quét đầu tiên ghi

phim được ở dạng nửa tông Scanatron đã ngừng sản xuất từ giữa những

năm 1960

Công ty Dainipon Screen của Nhật tham gia vào thị trường máy

quét vào năm 1965 với một máy quét tương tự như Scanagraph Vào

thời điểm này các máy quét đều có những đặc điểm tương tự như

nhau: cho phép quét các bài mẫu phản xạ cũng như thấu minh, cho ra

các bản tách màu riêng rẽ, các bản tách thường là các dương hay âm

bản có tông liên tục Các bo mạch sửa màu, phục chế tầng thứ, UCR

và bản che không nét (Unsharp masking) của các máy quét này có

khả năng cho chất lượng phim cao

Giai đoạn từ năm 1969-1981 Vào năm 1969 Crosfield đã giới

thiệu máy Magnascan 450 tại Hội chợ Thương mại tại Milan (Ý) Máy

quét này có độ thu phóng lớn nhờ việc ứng dụng Kỹ thuật số (Digital

Techniques) Các tín hiệu xuất được chuyển dưới dạng digital thay vì

analog như trước đây và được "đọc ra" chậm hay nhanh hơn tùy theo

độ thu phóng Magnascan còn cho phép tạo các bản tách màu dạng

tram bằng cách sử dụng bản tram công tắc quấn ép sát chung quanh

tấm phim chưa lộ sáng

Máy quét đầu tiên của

Murray và Morse

Trang 7

Chûúng 1 : Múã àêìu

Hell cũng giới thiệu một máy quét giống như Magnascan là máyChromagraph DC 300 vào năm 1970 Đây là máy được ưa chuộng

nhất trong thời gian này Đã có 1.600 máy được bán cho đến khi nó

ngưng sản xuất vào năm 1981

Vào năm 1971 P.D.I giới thiệu một phát minh quan trọng đó là:

Kỹ thuật tạo điểm nữa tông điện tử (Electronic halttone-dot

genera-tion) Hình dạng điểm, vị trí, tần số tram, góc xoay tram đều có thể

được hiệu chỉnh bằng máy tính và hệ thống gương Tia laser đã được

sử dụng làm nguồn sáng P.D.I đã công nhận rằng hệ thống tạo tram

dạng điểm cho độ phân giải hình ảnh cao hơn kỹ thuật tạo tram truyền

thống

Hell cũng giới thiệu kỹ thuật tạo điểm bằng cách sử dụng Split laserbeam mà mãi đến ngày nay đa số máy quét đều sử dụng Ưu điểm lớn

nhất của việc sử dụng tia laser để tạo điểm là do nó có cường độ sáng

mạnh nên có thể sử dụng phim rẻ tiền có độ nhạy sáng yếu hơn và tốc

độ ghi nhanh hơn

Việc chuyển từ các máy quét màu sang các hệ thống ghi điện tử đãbắt đầu từ năm 1977 với máy Magnascan 570, nó có khả năng định vị

một cách độc lập hình ảnh trên tờ phim Hell giới thiệu Chromaskop

với màn hình điều khiển được kết nối trực tiếp Khả năng ghi dữ liệu

hình ảnh quét sang đĩa từ để xử lý trên máy tính hoặc xuất sang một

máy khác đã được nghiên cứu và phát triển

Vào năm 1979 Hãng Scitex đã giới thiệu máy ghi phim điện tửScitex Response 300 và hệ thống tạo trang Scitex nhận mọi dữ liệu số

Máy quét Chromagraph DC 300

Trang 8

Chûúng 1 : Múã àêìu

từ bất kỳ máy quét nào, đưa vào máy tính xử lý và sau đó ghi lên phim

qua thiết bị ghi phim dạng trống (Rotaty-drum) sử dụng tia laser Ưu

điểm của hệ thống ghi phim là nó không chỉ cho phép sửa màu, phục

chế tầng thứ, tái tạo độ sắc nét, UCR mà nó còn cho phép người sử

dụng có thể tút sửa hình, tạo trang, sao chép

Giai đoạn từ năm 1982 - 1995 Trong giai đoạn này chủ yếu cải

tiến phần cứng máy quét dạng phẳng với phát minh quét dòng (linear

photodiode arrays).

Công ty Eikonik Corporation (bây giờ là một thành viên của Công

ty Eastman Kodak) của Mỹ đã giới thiệu máy Designmaster 8000 vào

năm 1982 sử dụng dạng quét theo từng dòng để nhận dữ liệu hình ảnh

Hình ảnh được nhận bởi một chuỗi gồm 2.048 phần tử qua một gương

Một bản phẳng dùng đặt bài mẫu được di chuyển ba lần, mỗi lần cho

một kênh màu R, G, B qua các kính lọc tách màu Các máy quét của

các hãng khác như Scitex, Crosfield, Hell cũng đã ứng dụng nguyên

tắc quét dòng như là một thiết bị Charge-coupled devices (CCDs).

Với CCD máy quét phẳng đã cải tiến được tốc độ của nó rất nhiều

Một vài CCDs hiện nay có đến 7.000 phần tử

Hệ thống chế bản của Scitex

Trang 9

Chûúng 1 : Múã àêìu

Năm 1982 tại Hội chợ Triển lãm DRUPA, Scitex đã giới thiệu hệthống Raystar có thể ghi lên phim cả chữ và hình ảnh bằng kỹ thuật

Rater Imaging Bộ phận tạo tram (Raster Imaging Processing (RIP))

xuất hiện, ban đầu là RIP cứng - tức là một thiết bị phần cứng được

gắn liền với máy ghi phim Do tốc độ tính toán chậm các hãng đã

nghiên cứu và tung ra các RIP mềm - là các phần mềm được chạy

trên một máy vi tính được kết nối với máy ghi phim - nổi tiếng nhất

là các RIP mềm của Halerquin và Adobe Ưu điểm của RIP mềm là

tốc độ tính toán nhanh và dễ nâng cấp, sửa chữa

Đến cuối thập niên 1980 và đầu thập niên 1990 các sản phẩmthương mại của máy ghi bản được tung ra thị trường sau hơn chục

năm nghiên cứu, tuy nhiên loại bản sử dụng cũng chỉ là bản

photo-polymer với độ bền bản và chất lượng thấp Khoảng giữa thập niên

1990, bản nhiệt (thermal) và các máy ghi bản nhiệt bắt đầu xuất

hiện và đã nhanh chóng chiếm lĩnh thị trường ghi bản do ưu điểm

vượt trội về độ bền bản (từ 200 - 300 ngàn lượt in / bản kẽm, nếu có

nung, độ bền bản có thể lên đến cả triệu lượt in) Đi đầu trong công

nghệ này là các hãng Heidelberg, Agfa, DIC Cũng trong khoảng

thời gian này, basysPrint - một hãng nhỏ của Đức - giới thiệu phát

minh của mình - máy ghi bản trên các loại kẽm PS truyền thống và

cũng nhanh chóng đạt được sự hoàn thiện để cạnh tranh trong thị

trường máy ghi bản nhờ ưu thế về giá kẽm rẻ Những năm đầu của

thập niên 2000, công nghệ ghi bản chứng kiến sự ra đời của một kỹ

thuật mới là công nghệ ghi kẽm Violet, sử dụng ánh sáng tím ở vùng

ánh sáng khả kiến Loại bản Violet cũng có ưu điểm như kẽm nhiệt

là độ bền bản cao, nhưng cả hai loại bản này khá đắt tiền cho nên

chúng còn chưa phù hợp cho các xí nghiệp in có tiềm lực kinh tế yếu

Máy tách màu Dainipon Screen SG-888

Trang 10

Chûúng 1 : Múã àêìu

B SƠ LƯỢC VỀ CÁC THIẾT BỊ LƯU TRỮ VÀ MỘT SỐ ĐỊNH DẠNG FILE

THÔNG DỤNG

1 Các thiết bị lưu trữ

Trong chế bản, khả năng lưu trữ cũng là một trong những công việcrất quan trọng Các kỹ thuật mới cho việc lưu trữ dữ liệu đã phát triển

rất nhanh trong thời gian gần đây với sự ra đời của các thiết bị lưu trữ

đa dạng, hiện đại, tiện lợi và có dung lượng ngày càng lớn Ngày nay

các đĩa cứng trong các máy tính đã có dung lượng lớn hơn rất nhiều so

với cách đây 5, 10 năm, và các thiết bị sao lưu dữ liệu bằng đĩa mềm

hầu như đã không còn thông dụng nữa, thay vào đó là các thiết bị lưu

trữ bằng các đĩa cứng, CD, các đĩa USB

Thiết bị lưu trữ ngày càng lớn cũng đã giúp gia tăng sự tiện lợitrong lĩnh vực chế bản vì ngày nay số lượng các ấn phẩm 4 màu ngày

càng nhiều và các ấn phẩm cũng đã được thiết kế với nhiều hình ảnh

hơn trước Để đơn giản chúng ta có thể hình dung, một catalogue có

60 trang với nhiều hình ảnh màu có độ phân giải phù hợp cho in ấn,

dung lượng có thể lên đến 600Mb, một dung lượng rất lớn so với các

thiết bị lưu trữ cách đây 10 năm

Phân loại các thiết bị lưu trữ

Ngày nay, các thiết bị lưu trữ được phân loại tuỳ thuộc vào các tiêuchuẩn khác nhau Trước tiên đó là tiêu chuẩn ổn định và không ổn

định

Các bộ nhớ ổn định (vĩnh cữu) phù hợp cho việc lưu trữ dữ liệu lâu

dài và an toàn cũng được phân loại tùy thuộc vào:

- Phương pháp ghi:

+ Bộ nhớ từ (đĩa cứng, đĩa mềm, đĩa tháo lắp được).

+ Hệ thống ổ quang-từ (đĩa MO)

+ Hệ thống xử lý quang học như CD, DVD

Trang 11

Chûúng 1 : Múã àêìu

- Thiết kế:

+ Các đĩa xoay như đĩa cứng, đĩa mềm, đĩa tháo lắp được, CD,

DVD hoặc đĩa MO

+ Các đĩa từ trong các định dạng khác

+ Các hệ thống lưu trữ không có các phần di chuyển như FlashCard,

RAM

CD và DVD (ROM, R, RW):

CD-ROM cơ bản được thiết kế để sắp xếp lưu trữ một dung

lượng lớn của dữ liệu (ví dụ như nhạc) với một giá thành thấp Nó

đã trở thành một phương tiện lưu trữ khá thông dụng với dung lượng

thông thường là 650 MB Gần đây, các thiết bị lưu trữ với những kỹ

thuật mới như DVD-ROM đã phần nào che lấp CD-ROM DVD có

khả năng lưu trữ từ 4,7 GB đến 17 GB DVD-ROM rất phù hợp cho

việc lưu trữ phần mềm, multimedia, cơ sở dữ liệu (database) hoặc

cho phim ảnh DVD đã được thiết kế tăng khả năng lưu trữ nhờ sử

dụng kỹ thuật 2 lớp (dual-layer): hai lớp bộ nhớ ở trên và dưới bộ

nhớ với một lớp trung gian bán phản xạ ở giữa Khi đọc dữ liệu, tia

laser sẽ "nhảy" ra sau hoặc tới trước giữa hai lớp bộ nhớ này

CD-recordable, còn gọi là CD-R (hoặc DVD-R) là một dạng

đĩa quang 51/4" chỉ có khả năng ghi với thời gian truy xuất nhanh

Sau khi ghi vào "lớp trống" trong một ổ đĩa đặc biệt, dữ liệu đã ghi

có thể được đọc trong một ổ đĩa CD-ROM bình thường

CD-RW (CD-rewritable), rất uyển chuyển khi cho phép ghi,

xóa dữ liệu được Nó có thể ghi, xóa lên được tới 1.000 lần Khi ghi,

lớp phủ kết tinh (crystalline coating) của CD-RW sẽ chuyển sang

cấu trúc vô định hình trong quá trình xử lý nhiệt-quang Hoạt động

này làm biến đổi chức năng nội tại của lớp ghi Cường độ ánh sáng

(sáng hoặc tối) chuyển lớp phản xạ thành dạng số hóa 1 hoặc 0.

Bộ nhớ có thể thay đổi được (Exchangeable Memory)

Bộ nhớ có thể thay đổi được dựa trên các lớp từ và có thể ghi,

xóa được

Đĩa SyQuest (SyQuest Disk), do hãng SyQuest sản xuất, có dung

lượng từ 44MB đến 1,5GB Trước đây SyQuest là dạng đĩa từ được

sử dụng khá thông dụng trong chế bản in, nó được dùng chép và

mang dữ liệu từ các trung tâm thiết kế đến nhà in để chế bản phim

hoặc ghi bản

Catridge dữ liệu (Data Catridges), từ thập niên 70, dạng lưu trữ

đĩa từ này đã khẳng định vị trí hàng đầu trong việc sao lưu dữ liệu

Chúng thường được dùng sao lưu các dữ liệu từ các ổ cứng máy tính

hoặc ổ mạng Catridge có hai kích thước 51/4" và 31/2", nó có thể là

dạng đĩa được cấu trúc có sẵn trong máy PC hoặc là dạng rời bên

ngoài Tốc độ truy xuất của dạng đĩa này nhanh hơn đĩa mềm, nhưng

chậm hơn đĩa cứng

Trang 12

Chûúng 1 : Múã àêìu

Ngày nay, dữ liệu sao lưu ngày càng trở nên quan trọng hơn Đểcó thể đáp ứng các yêu cầu cho việc lưu trữ dữ liệu một cách tự

động, các nhà sản xuất đã phát triển các loại thư viện đĩa từ Các

catridge đơn có khả năng lưu trữ đến 32GB Việc truyền dữ liệu có

thể đạt đến 180MB/phút tương thích với các hệ điều hành Netware,

Unix, Windows NT Streamer rất phù hợp cho việc sao lưu dữ liệu,

lưu trữ và quản lý bộ nhớ trên server

Băng dữ liệu (Data Tapes), có hai loại: loại 4mm và 8mm Loại

4mm có dung lượng 4GB, loại 8mm có dung lượng 5GB Loại thiết

bị lưu trữ này có thể được sử dụng trong thư viện, nơi có lượng dữ

liệu rất lớn và cần sao lưu tự động vào băng từ

SuperDisk, ZIP, JAZ, đây là các thiết bị lưu trữ có dung lượng

trung bình Đĩa SuperDisk có dung lượng lưu trữ 120MB trong dạng

đĩa truyền thống 31/2" Đĩa ZIP của hãng Iomega có dung lượng lưu

trữ 100 hoặc 250MB Đĩa ZIP có thời gian truy xuất dữ liệu ngắn

hơn đĩa SuperDisk Đĩa JAZ cũng của hãng Iomega, có kích thước

31/2", có dung lượng lưu trữ lên đến 2GB

Đĩa quang-từ (Magneto-Optical disk - CD-MO), các thiết bị lưu

trữ dạng quang-từ, gọi tắt là MOs trước đây được sử dụng khá thông

dụng Khả năng lưu trữ 640MB cho loại đĩa 31/2" và 2,6GB cho đĩa

51/4" Ngày nay khả năng lưu trữ đã được nâng lên 2,6GB cho loại

đĩa 31/2" và 10,4GB cho đĩa 51/4" Tốc độ truy xuất dữ liệu của các

loại đĩa MO là 4MB/s

Các đĩa MO sử dụng nguồn tia laser để ghi dữ liệu trên các lớptừ Khi ghi, tia laser đốt nóng một vùng hẹp của lớp này lên đến

nhiệt độ khoảng 1500C Chỉ có cách này mới sắp xếp các phần tử từ

thay đổi từ trường Trong quá trình đọc dữ liệu, ánh sáng tia laser

được phân cực tuỳ thuộc vào sự sắp xếp của các phần tử từ Việc thu

nhận điện tử sẽ được chuyển hóa thành các tín hiệu dạng nhị phân

Ổ cứng (Hard Disk Drives), ngày nay khả năng lưu trữ của các ổ

cứng đã ngày càng nâng cao, hiện nay đã có các loại đĩa cứng có thể

lưu trữ đến 80GB hoặc 120GB

2 Các định dạng file thông dụng

TIFF (Tags Image File Format), là định dạng file cổ điển, định

dạng dữ liệu dựa trên các pixel Nó được hãng Aldus (nay thuộc hãng

Adobe) và Micorsoft đưa ra Các thông số cơ bản của hình ảnh, như độ

phân giải chẳng hạn, được lưu trong các "thẻ đoạn" (tags) tiêu chuẩn.

Các thẻ đoạn "riêng" cũng có thể được định nghĩa Các nội dung của

chúng chỉ có thể được đọc bởi các chương trình ứng dụng đặc biệt Do

các thẻ đoạn được định nghĩa một cách tự do nên TIFF là một định

dạng file dữ liệu uyển chuyển, mạnh mẽ và thực tế đã trở thành một

tiêu chuẩn công nghiệp Nó dựa trên phương pháp nén

"Lempel-Ziv-Welch" (LZW) đơn giản và không gây mất mát dữ liệu.

Trang 13

Chûúng 1 : Múã àêìu

EPS (Encapsulated Postscript), là một định dạng file dùng lưu trữ

các file đồ họa dựa trên dạng outline Các chương trình đồ họa thường

tạo các cấu trúc dữ liệu nội, các dữ liệu này có thể chuyển trực tiếp

thành dữ liệu EPS cho việc xử lý sau này Do xuất phát trực tiếp từ

dạng Postscript, EPS có thể được dùng để chuyển dịch hoặc liên kết

các dữ liệu outline và pixel Cho việc mã hóa các đối tượng đồ họa,

phần lớn các file EPS thực hiện việc mã hóa dựa trên tiêu chuẩn

out-line, điều này có nghĩa là file EPS chứa các thông tin không thay đổi

được

EPS là một định dạng file đặc biệt của ngôn ngữ mô tả trang

Post-script Bên trong nó cấu trúc như dạng Postscript, nhưng nó có thể

được nhập vào một chương trình ứng dụng khác như là một tài liệu Để

tránh việc biên dịch toàn bộ dữ liệu Postscript để hình dung nội dung

của file (điều này chỉ yêu cầu khi biên dịch trên RIP), một hình ảnh

"Preview" với độ phân giải thấp sẽ được thêm vào trong phần header

trong quá trình tạo file Khi file được đặt vào một trang nào đó chẳng

hạn, hình ảnh preview sẽ được hiển thị Một file EPS có thể chứa vừa

dữ liệu outline, vừa dữ liệu bitmap Giống như các file Postscript, các

file EPS không thể hiệu chỉnh nếu không được biên dịch toàn bộ bởi

RIP Chúng có thể được định vị, xoay, thu phóng, nhưng nội dung thì

không thay đổi

JFIF (JPEG File Interchange Format - JPEG), là định dạng file

được dùng trong những trường hợp đặc biệt cho việc thiết lập những dữ

liệu lớn, tối ưu hóa chu trình làm việc trong chế bản in (ví dụ như cho

in báo), và cho các giải pháp về internet Giải pháp nén dữ liệu được

phát triển bởi Nhóm Joint Photographic Expert Group (JPEG) bao

gồm việc liên kết nhiều phương pháp nén khác nhau Việc nén dữ liệu

JPEG dựa trên một dạng riêng biệt Phương pháp này sẽ gây mất dữ

liệu nhưng có thể lưu trữ với một tỉ lệ nén rất cao (đến 1:100), tùy

thuộc vào các thông số được chọn Tuy nhiên việc mất dữ liệu nhiều

hay ít sẽ tùy thuộc vào nội dung của hình ảnh Không thể tiên đoán

trước chính xác độ mất dữ liệu là bao nhiêu Định dạng JPEG được xác

định cho cả hai hệ màu RGB và CMYK, nhưng không chấp nhận hệ

màu CIELAB

Postscript, hiện giờ ngôn ngữ mô tả trang Postscript vẫn còn đóng

vai trò chính trong hệ thống xuất bản số Postscript là một trình biên

dịch dựa trên ngôn ngữ lập trình được phát triển bởi hãng Adobe (do

John Warnock và Charles Geschke phát minh) Postscript được dùng

để mô tả sự xuất hiện của một trang tài liệu và chuyển dịch nó đến

một hệ thống xuất Postscript có thể mã hóa tất cả các phần tử của một

tài liệu bao gồm văn bản, các đối tượng đồ họa và hình ảnh Từ khi

được tung ra thị trường vào năm 1985, Postscript đã trở thành một tiêu

Trang 14

Chûúng 1 : Múã àêìu

chuẩn quan trọng nhất cho việc điều khiển hệ thống ghi và in điện tử,

do sự uyển chuyển cao trong cấu trúc dữ liệu nội

Sau khi phiên bản đầu tiên ra đời, Postscript Level 1, ngôn ngữ mô

tả trang đã được tiếp tục phát triển Một cải tiến chính làm nên ngôn

ngữ Postscript Level 2 là việc nhúng thuật toán tạo tram "Accurate

Screening" Hiện nay, ngôn ngữ mới nhất là ngôn ngữ Postscript Level

3 bao gồm những cải tiến đã được chờ đợi từ lâu như hệ thống quản trị

màu và biên dịch các file PDF Postscript gần như là một ngôn ngữ vô

hình đối với người sử dụng Nói chung nó được khởi tạo trong driver

của máy tính, chuyển dịch đến thiết bị trên mạng và biên dịch bởi

trình biên dịch (RIP) theo ngôn ngữ của thiết bị xuất Độc lập với thiết

bị là thuộc tính nổi bật của ngôn ngữ mô tả trang này được bảo đảm

bởi cấu trúc dữ liệu nội (vector hay đường cong bezier).

Postscript bao gồm cả hai thành phần độc lập và xác định với thiết

bị Phần xác định thiết bị được tạo trong driver được gọi là file

"Post-script Printer De"Post-scription" (PPD - File mô tả máy in) Một PPD chứa

tất cả các thuộc tính riêng rẻ của hệ thống máy ghi hoặc máy in Nếu

không có file PPD riêng rẻ nào được chọn, một mã Postscript chung sẽ

được tạo

Font "Adobe Type 1" là một thuộc tính quan trọng khác của ngôn

ngữ Postscript Giống như các thành phần khác của ngôn ngữ

Post-script, font Type 1 cũng độc lập với thiết bị và có thể sử dụng trên

nhiều thiết bị xuất khác nhau và nó có thể được tái tạo với độ phân

giải cao nhất của thiết bị

Một biến thể khác của file Postscript là định dạng "Desktop Color

Separation" (DCS) Nếu một màu của một file Postscript đã tách màu

rồi được gởi đến máy ghi, điều này sẽ bao hàm rằng toàn bộ file phải

được gởi đến máy ghi, bao gồm tất cả các bảng tách màu Trong trường

hợp một số lượng lớn dữ liệu của một file CMYK có độ phân giải cao,

nó sẽ hữu dụng hơn việc gởi (trên mạng) chỉ một phần file sẽ được ghi

đến máy ghi Điều này sẽ giảm kích thước file gởi trên mạng 25% so

với kích thước file gốc Trong định dạng file DCS, bảng tách 4 màu

được lưu riêng biệt trong 4 file khác nhau bao gồm trong một file

Postscript Ngoài ra, file thứ năm có độ phân giải thấp chưa tách màu

được sử dụng cho mục đích preview Với định dạng file DCS, việc sử

dụng file Postscript đã tách màu rồi (pre-separated Postscript) đang

trở nên ngày càng thông dụng

PDF (Portable Document Format), cũng là một định dạng file dạng

Postscript Đây là định dạng file cơ bản được sử dụng để mô tả tài

liệu Trong khi Postscript cấu thành một ngôn ngữ lập trình hoàn hảo

như BASIC, FORTRAN mà những nhà lập trình có thể viết các chương

trình ứng dụng, thì định dạng file PDF là một định dạng dữ liệu, giống

Trang 15

Chûúng 1 : Múã àêìu

như EPS hoặc bất cứ định dạng dữ liệu outline nào khác PDF gần như

dựa trên nguyên gốc hình ảnh của ngôn ngữ Postscript và cũng phù hợp

cho việc mô tả trang tài liệu PDF cũng có thể bao gồm các thông tin

phụ thêm tùy thuộc vào trang tài liệu, ví dụ như các liên kết nội dung

đến các phần khác của tài liệu PDF tốt hơn định dạng file EPS trên

nhiều khía cạnh Nó có thể bao gồm cả font chữ, các đối tượng đồ họa,

cấu trúc in, các phím đặc biệt cho việc tìm kiếm và các chức năng

index, "Job tickets", các liên kết tương tác lẫn nhau (hyperlink), video

clip và nhiều thứ khác nữa Trái ngược với Postscript, một tài liệu

PDF sẽ lưu trữ mỗi trang tài liệu một cách riêng biệt Điều này có

nghĩa là file không cần biên dịch hoàn toàn khi in hoặc hiển thị nội

dung trang

Một file PDF thật sự là một file Postscript đã được biên dịch trên

RIP và đã được phân chia thành các đối tượng riêng biệt một cách rõ

ràng Các đối tượng này có thể được miêu tả dưới dạng tram, không

đơn giản như mã ASCII trong file Postscript Khi đã diễn dịch thành

file PDF, chúng gần như đã bảo đảm cho việc in hoặc ghi Ngoài ra,

người sử dụng có thể hiển thị và kiểm tra file trước khi xuất chúng

sang máy in hoặc máy ghi

Trang 16

Cöng nghïå xûã lyá aãnh

kyä thuêåt söë trong ngaânh in

A Cöng nghïå chïë baãn trong chu trònh in

B Sú àöì cöng nghïå theo phûúng phaáp tûúng tûå (analog)

C Caác sú àöì cöng nghïå theo phûúng phaáp söë (digital)

Trang 17

Chûúng 2 : Cưng nghïå xûã lyá ẫnh kyä thuêåt sưë trong ngânh in

A CÔNG ĐOẠN CHẾ BẢN TRONG CHU TRÌNH IN

Chế bản bao gồm các công đoạn từ khâu nhập dữ liệu (văn bản,

hình ảnh), khâu xử lý hình ảnh, dàn trang - thiết kế đến các công đoạn

làm phim, bình bản và cuối cùng tạo ra bản in (master for printing).

Tuy nhiên ngày nay, do đặc thù cũng như tính chất một số công việc

trở nên chuyên nghiệp hơn nên có lúc người ta tách phần nhập dữ liệu

(văn bản, hình ảnh), xử lý hình ảnh, dàn trang - thiết kế thành công

đoạn tạo mẫu và khâu còn lại là công đoạn chế bản Sơ đồ dưới đây

cho chúng ta thấy một cái nhìn tổng quát về vai trò của công đoạn chế

bản trong chu trình in

Quá trình thành phẩm

Quá trình in

Quá trình Làm bản

Quá trình phục chế FILMTạo mẫu

TẠO MẪU CHẾ BẢN IN THÀNH PHẨM

Chế bản trong quá trình in

Trước đây chế bản là một chu trình thủ công gọi là công nghệ truyền

thống (conventional) nó sử dụng những thiết bị truyền thống như máy

chụp phim quang cơ, máy tách màu điện tử, máy phơi bản Ngày nay,

Trang 18

Chûúng 2 : Cưng nghïå xûã lyá ẫnh kyä thuêåt sưë trong ngânh in

công nghệ này đang dần dần được thay thế bởi các công nghệ

Com-puter to Technology như: ComCom-puter to Film, ComCom-puter to Plate,

Computer to Press cho phép ghi dữ liệu trực tiếp từ máy tính ra phim

hoặc ra thẳng bản in Dưới đây là sơ đồ so sánh công nghệ truyền

thống (analog) và các công nghệ kỹ thuật số (digital):

Phần Digital Phần Analog

Chuyển đổi Analog - Digital

Máy quét

Chuyển đổi Digital - Analog

Bản viết tay,

đánh máy

Nhập văn bản

Sắp chữ dàn trang

File ảnh Bài mẫu ảnh

Xử lý hình ảnh

Hình ảnh được tạo từ máy tính

Bình bản điện tử Bình bản thủ công

Tờ in (bông)

File văn bản

Máy in laser Phim

Phim

Phim toàn trang Chụp quang cơ

Bản in (trục in)

Máy ghi phim

Máy ghi phim

Máy ghi phim

Sơ đồ analog và digital

Sắp chữ dàn trang Máy chụp ảnh

kỹ thuật số

Trang 19

Chûúng 2 : Cưng nghïå xûã lyá ẫnh kyä thuêåt sưë trong ngânh in

Chế bản truyền thống

Kiểm tra (Preflight)

Chụp phim quang cơ

Bản phim tách màu

Kiểm tra Bình bản thủ công Ép công tắc

Phơi bản Hiện bản

Computer to Film

Bản in

Computer to Plate

Trang đơn (kỹ thuật số)

Kiểm tra (Preflight)

B SƠ ĐỒ CÔNG NGHỆ THEO PHƯƠNG PHÁP TƯƠNG TỰ (ANALOG)

Phơi bản

Bản in

Máy in

Trang 20

Chûúng 2 : Cưng nghïå xûã lyá ẫnh kyä thuêåt sưë trong ngânh in

C SƠ ĐỒ CÔNG NGHỆ THEO PHƯƠNG PHÁP KỸ THUẬT SỐ (DIGITAL)

Các sơ đồ công nghệ kỹ thuật số (Computer to technology)

(1) Computer to Film (2) Computer to Plate (3) Computer to Print (4) Computer to Press

(1)

(2)

(3)

(4)

Trang 21

Chûúng 2 : Cưng nghïå xûã lyá ẫnh kyä thuêåt sưë trong ngânh in

Ghi bản Phơi bản

Ghi lên

(print per print)

RIP Bitmap Đặc tính kỹ thuật của thiết bị xuất

In thử

Ghi bản trực tiếp (DI) (với master)

Computer to Print (không có master)

File dữ liệu Postscript (hình ảnh, văn bản, đối tượng đồ họa)

s e r P o t e t u m o C e

t a l P o t e t u m o

với master có thể ghi lại

Hình ảnh Văn bản

Bài mẫu

(maquette)

File dữ liệu (vd: định dạng Postscript)

RIP và hệ thống in

Hình ảnh đồ họa

Quét ảnh

Tách màu Xử lý hình ảnh Xử lý văn bản Thiết kế

Bình trang Dàn trang

Trang 22

Chûúng 2 : Cưng nghïå xûã lyá ẫnh kyä thuêåt sưë trong ngânh in

Máy ghi phim

RIP

Phim đã bình

Dữ liệu kỹ thuật số

Phơi bản Computer to Film

2 5 4 3

7 0 1

Văn bản, đối tượng đồ họa, hình ảnh

Dàn trang Bình bản

Phim

Máy hiện phim

Chu trình làm việc với

Computer to Film

2 15 14 3

11 10 7

Kiểm tra bản

Chu trình làm việc với

Computer to Plate

Trang 23

Chûúng 2 : Cöng nghïå xûã lyá aãnh kyä thuêåt söë trong ngaânh in

Chu trình Postscript

Chu trình PDF (Portable Description File)

Trang 24

Chûúng 2 : Cöng nghïå xûã lyá aãnh kyä thuêåt söë trong ngaânh in

Chu trình PPF (Print Production Format)

Chu trình JDF (Job Definition File)

Trang 25

Cêëu taåo vaâ nguyïn lyá

hoaåt àöång caác thiïët bõ nhêåp

A Maáy queát (Scanner)

B Maáy chuåp aãnh kyä thuêåt söë (Digital Camera)

C Baân phñm (Keyboard)

Trang 26

Chûúng 3: Cêëu tẩo vâ nguyïn lyá hoẩt àưång cuãa cấc thiïët bõ nhêåp

A MÁY QUÉT (MÁY QUÉT)

Hiện nay có hai phương pháp quét ảnh đó

là: dạng trống xoay (rotaty drum) và dạng

phẳng (flatbed) Từ nhiều năm, máy quét

dạng trống đã là sự lựa chọn chủ yếu trong

thiết kế đồ họa, tuy nhiên ngày nay máy quét

dạng phẳng cũng ngày càng được ưa chuộng

không chỉ vì sự đa dạng của chúng mà trên

hết còn do chất lượng quét của chúng đã ngày

càng được cải thiện tốt hơn Các máy quét

dạng phẳng ngày nay không chỉ quét đuợc khổ

A4 mà một số máy quét cao cấp đã được thiết

kế để quét được khổ A3 Các máy quét dạng

trống cũng đã có những bước cải tiến quan

trọng như được thiết kế dạng đứng giúp tiết

kiệm đuợc mặt bằng phù hợp với những cơ sở

có diện tích làm việc nhỏ Cả hai dạng đều

có thêm một chức năng rất quan trọng cho

công nghệ ghi bản trực tiếp (Computer to

Plate - CTP) đó là chức năng Copy dot dùng

tái số hóa hình ảnh từ các bản phim đã tách

màu rồi Do đó máy quét ngày nay rất đa

dạng tùy theo thiết kế và đặc tính kỹ thuật

của chúng như các máy quét dạng trống với

các trống được thiết kế đứng nằm hoặc

nghiêng, hay là các máy quét dạng phẳng với Các dạng máy quét

ngày nay

Trang 27

Chûúng 3: Cêëu tẩo vâ nguyïn lyá hoẩt àưång cuãa cấc thiïët bõ nhêåp

các loại để bàn rẻ tiền hoặc các loại

cao cấp dạng XY Trong công nghiệp

in việc lựa chọn một máy quét phù

hợp không chỉ căn cứ vào chất lượng

quét mà còn vào các tính năng đa

dạng của chúng nữa Ngoài khả năng

chính có thể quét được các bài mẫu

phản xạ và thấu minh, các máy quét

còn phải có khoảng rộng mật độ ít

nhất 3,5 (đặc biệt cần thiết để phục

chế vùng tối của các bài mẫu slide).

Phần mềm quét ảnh được thiết kế

mạnh mẽ và dễ sử dụng như là có

nhiều chức năng chỉnh sửa, cho phép

chuyển các âm bản sang dương bản

hoặc chức năng chuyển trực tiếp từ

hệ màu RGB sang CMYK cũng là

những điều cần đáng quan tâm trong sự lựa chọn

Chức năng copydot của một số máy quét cao cấp là một chức năng đặc

biệt phù hợp cho việc tái số hóa các bản phim đã tách màu rồi bằng cách quét

các điểm tram ở dạng nét (bitmap) với độ phân giải cao thích hợp

Bảng dưới đây sẽ mô tả một số dạng máy quét và các tính năng của

Quét silde 35mm Tái số hóa phim tách màu Nhận dạng ký tự (OCR)

Phản xạ Thấu minh Màu Tông liên tục Đen trắng Nét Tờ in Mềm, dễ uốn Cứng

Ba chiều Khổ > A3

Máy quét dạng trống (kiểu nghiêng)

Trang 28

Chûúng 3: Cêëu tẩo vâ nguyïn lyá hoẩt àưång cuãa cấc thiïët bõ nhêåp

Chúng ta sẽ lần lượt khảo sát cấu tạo và nguyên lý hoạt động của hai loại

máy quét này

1 MÁY QUÉT DẠNG TRỐNG XOAY:

Phương pháp dạng trống xoay là nguyên lý quét ảnh lâu đời nhất

Máy đầu tiên được thiết kế theo phương pháp này xuất hiện năm

1937 ứng dụng phát minh của Murray và Morse Trước khi các máy

ghi phim ra đời, các máy quét dạng trống, ngoài chức năng quét ảnh

chúng còn là các máy ghi phim Ngày nay, chúng chỉ làm đúng chức

năng của mình là quét ảnh và chúng có thể hoạt động độc lập hoặc là

thiết bị nhập của một hệ thống xử lý ảnh điện tử (EIP system -

Elec-tronic Image Processing).

a Cấu tạo:

Cấu tạo máy Quét dạng trống xoay bao gồm các bộ phận chính

như: trục mang bài, đầu đọc tín hiệu và bộ phận xử lý tín hiệu

Trục mang bài mẫu được thiết kế rỗng ở giữa và trong suốt, có kích

thước tùy từng máy khác nhau và được gắn trên một mô-tơ quay Đầu

đọc được di chuyển trên vít xoắn và chuyển động theo phương song

song với trục của ống mang bài mẫu khi ống xoay Sự chuyển động kết

hợp này tạo ra quá trình thu nhận tín hiệu của đầu đọc theo hình xoắn

ốc quanh trống

b Nguyên lý hoạt động:

Gương bán phản xạ (tách tia)

Kính lọc Màn trập Ống nhân quang

Trang 29

Chûúng 3: Cêëu tẩo vâ nguyïn lyá hoẩt àưång cuãa cấc thiïët bõ nhêåp

Ánh sáng trước tiên đi qua hệ thống quang học và đi đến bài mẫu,

tùy từng loại bài mẫu mà đầu đọc được thiết kế phù hợp để thu nhận

ánh sáng phản xạ hay xuyên qua bài mẫu Các tín hiệu ánh sáng này

được phân tích thành ba thành phần màu cơ bản của ánh sáng RGB

tương ứng với ba thành phần màu cơ bản của vật thể CMY qua ba kính

lọc (Filter) Ngoài ra còn có một kênh màu đen qua một kính lọc đặc

biệt Sau đó ánh sáng đi qua bộ phận phóng đại quang học

(Photomul-tiplier) để khuếch đại tín hiệu, bộ phận ADC (Analog to Digital

Con-verter) để số hóa dữ liệu và sau cùng tín hiệu được chuyển đến bộ phận

xử lý

Yêu cầu của sự quét hình từng điểm là quá trình quay của trục

mang bài mẫu kết hợp với sự di chuyển của đầu đọc phải bảo đảm tạo

ra đường xoắn ốc đủ khít để thu nhận đầy đủ thông tin hình ảnh, bảo

đảm độ trung thực của hình ảnh quét

Thông thường bước quét được điều khiển bởi các mô tơ phụ Các

mô tơ này điều khiển tốc độ quay của ống và tốc độ di chuyển của đầu

quét một cách độc lập Tùy theo độ thu phóng, máy tính sẽ cung cấp

các tín hiệu điện cho một bộ phận điều khiển và bộ phận này điều

khiển tốc độ quay của các mô tơ phụ Tốc độ của các máy quét thông

thường hiện nay có thể đạt đến tốc độ 1.200 vòng/phút

c Nguyên tắc hoạt động của ống nhân quang (Photomultiplier):

Sau khi dòng tín hiệu ánh sáng đi qua bộ phận kính lọc sẽ đi qua

ống nhân quang, các photon ánh sáng sẽ đập vào điện cực đầu tiên của

ống làm phát sinh ra một hay nhiều điện tử tùy theo độ mạnh yếu của

tín hiệu ánh sáng Điện cực này được bố trí sao cho nó có thể hướng

các điện tử mới được phát ra tới đập vào một điện cực khác đối xứng

với nó, và mỗi điện tử đến đập vào điện cực thứ hai này lại kéo theo

một hay nhiều điện tử bức ra khỏi điện cực (tùy theo cấu tạo của ống

nhân quang mà một điện tử đập vào có thể kéo theo một hay nhiều điện

tử khác) Như vậy sau khi bức ra khỏi điện cực thứ hai này chùm tia

điện tử sẽ lớn hơn chùm tia vào và chùm tia này lại được bố trí cho

chúng hướng vào điện cực thứ ba Và cứ như thế chúng ta thấy các

điện tử được nhân dần dần cho đến điện cực cuối cùng thì các điện tử

này được thu hồi tại lưới anode Vậy một tín hiệu ánh sáng ban đầu

sau khi qua ống nhân quang sẽ được chuyển thành tín hiệu điện và

được khuyếch đại lên nhiều lần

Trang 30

Chûúng 3: Cêëu tẩo vâ nguyïn lyá hoẩt àưång cuãa cấc thiïët bõ nhêåp

Về nguyên tắc, phải sử dụng ba ống nhân quang để nhận ba tín hiệuRed, Green và Blue Tuy nhiên máy quét Royal Zenith chỉ sử dụng có

một ống nhân quang để nhận cả ba tín hiệu Trong trường hợp này, ống

gắn bài mẫu phải quay ba lần với đầu đọc không di chuyển Bốn tín

hiệu sau khi qua ống nhân quang sẽ được đem đi xử lý tiếp, các tín

hiệu này không được xử lý riêng rẻ mà sẽ được xử lý tương ứng với

nhau ngay cả trong trường hợp chỉ quét một màu

d Bộ phận chuyển đổi dạng tín hiệu ADC (Analog to Digital Converter)

Bộ phận ADC (Analog to Digital Converter) chuyển đổi tín hiệu

dạng liên tục (analog) sang tín hiệu dạng số (digital) sau khi nhận

dòng ánh sáng từ ống nhân quang và cho ra những đường dữ liệu dạng

số hóa đặc trưng cho mật độ bài mẫu Số xung nhịp chuyển đổi tùy

theo tần số lấy tín hiệu sẽ cho ra số pixel tương ứng Mỗi xung nhịp

cho ra tín hiệu khác nhau Tín hiệu đưa ra chia thành nhiều cách khác

nhau tùy thuộc số nhị phân được lấy Phải chọn độ lớn chỉ số chấp nhận

được để lưu trữ thông tin của mỗi pixel, thông thường chỉ số này bằng

8 và mỗi pixel sẽ có 256 trạng thái biểu diễn mật độ từ 0% đến 100%

ADC đóng vai trò quan trọng của chất lượng tín hiệu được số hóa,những dữ liệu để thể hiện hình ảnh trên màn hình Nó chuyển đổi

những tín hiệu liên tục từ ống nhân quang dạng analog sang dạng số

đại diện cho giá trị về màu sắc, mức độ sáng của hình ảnh Số màu sắc

và độ phân giải của một máy quét phụ thuộc vào độ nhạy của ADC

e Khả năng sử dụng hiện nay:

Gần đây các máy quét tròn đã được thiết kế với kích thước nhỏ phùhợp để có thể đặt trên bàn như các máy quét phẳng và có thể kết nối

tới các trạm làm việc (workstation) là các máy PC hoặc Macintosh

cũng như có thể lưu trữ dữ liệu được quét vào các đĩa từ Các máy này

vẫn có chất lượng giống như loại quét lớn trước đây Các máy hiện nay

có thiết kế bộ phận tính toán chất lượng cao để phục chế hình ảnh đen

trắng hay hình ảnh màu trung thực với hình ảnh mẫu, máy quét dạng

Sơ đồ cấu tạo ống nhân quang

(Photomultiplier)

Trang 31

Chûúng 3: Cêëu tẩo vâ nguyïn lyá hoẩt àưång cuãa cấc thiïët bõ nhêåp

trống có tốc độ quay lớn (từ 300 đến 1.350 vòng/phút) quanh một bộ

phận thu nhận tín hiệu với một nguồn sáng cố định, sau đó thu nhận

ánh sáng và chuyển tới kính lọc R, G, B và dòng ánh sáng chia thành

ba thành phần để chuyển tới bộ phận ADC

Các máy quét tròn sử dụng số bit lớn có khả năng phục chế mật độlớn, tốc độ quay của trục lớn có thể tập trung nguồn sáng mạnh trên

hình ảnh và có thể thay đổi mức độ tập trung của chùm tia sáng để

thay đổi hệ số độ phân giải, thu nhận chính xác toàn bộ tông hình ảnh

và không bị ảnh hưởng của những điểm lân cận Kỹ thuật phân tích lần

lượt từng điểm của máy quét tròn dễ dàng thu phóng hình ảnh Độ

phân giải quang học cao có thể cho ra khả năng phóng lớn bài mẫu

kích thước nhỏ nhiều lần mà không bị mất chi tiết hay làm giảm chất

lượng Nhiều máy quét có khả năng quét theo nhóm các hình ảnh được

đặt sẵn và lưu các hình ảnh thành file riêng hay một số máy khác cho

phép đưa bài mẫu khác lên trục thứ hai trong khi trục kia đang được

quét

Cuối cùng các máy quét dạng trống cũng có thể làm việc trên các

hàm cân chỉnh màu với kỹ thuật UCR (Under Color Removal), GCR

(Gray Color Removal) và chuyển hệ màu RGB thành CMYK Các

phần mềm cung cấp cho các máy quét chất lượng cao cung cấp nhiều

hàm chỉnh sửa tự động và đặt các thông số cho hình ảnh được số hóa và

có thể lưu các thông số cài đặt cho các dạng mẫu giống nhau

Các máy quét dạng trống để bàn được điều khiển từ máy PC hoặcmáy Macintosh thường không có hệ thống nút điều khiển thay vào đó

là phần mềm điều khiển và chỉnh sửa màu cài đặt ngay trên

một bàn phẳng để đặt bài mẫu và di chuyển dưới nguồn sáng cố định và

Sơ đồ cấu tạo

máy quét phẳng

Trang 32

Chûúng 3: Cêëu tẩo vâ nguyïn lyá hoẩt àưång cuãa cấc thiïët bõ nhêåp

gương phản xạ Gương điều khiển ánh sáng

phản xạ từ bài mẫu xuyên qua thấu kính chiếu

vào CCD Bàn đặt mẫu có thể di chuyển qua

lại ba lần để ghi tín hiệu màu R, G và B cho

quá trình xử lý sau này Để có chất lượng

hình ảnh cao hơn, một vài máy quét phẳng

có thể quét qua hình nhiều lần, mỗi lần quét

một phần hình ảnh CCD có kích thước từ 1

-2 inch (khoảng -2,5cm đến 5cm) Những mô

tơ di chuyển bàn đặt mẫu qua lại theo đường

thẳng, một số máy có mô tơ phụ di chuyển

cả hai phương ngang và dọc Sự di chuyển

của bàn đặt mẫu rất chậm khoảng 3cm trong

một phút và tốc độ sẽ chậm hơn nếu được

phóng lớn

b Tiến trình phân tích hình ảnh trên máy tách

màu dạng phẳng:

Khác với máy quét dạng tròn, máy tách

màu dạng phẳng không phân tích hình ảnh

theo từng điểm mà nó phân tích hình ảnh

theo từng hàng một, do đặc điểm này nên

đầu đọc của máy quét phẳng cũng phải được

bố trí sao cho phù hợp với nguyên tắc trên

Hiện nay trên máy quét dạng phẳng người

ta thường dùng một thiết bị ghi nhận tín hiệu

hình ảnh theo từng hàng gọi là CCD

c Cấu tạo của CCD:

CCD (Charge-coupled device) là một

thiết bị dùng biến đổi ánh sáng thành tín

hiệu điện để tiếp tục xử lý, CCD về mặt

nguyên tắc làm việc cũng giống như ống

nhân quang nhưng có khác về cấu tạo và CCD ghi nhận tín hiệu theo

từng hàng chứ không theo từng điểm như ống nhân quang

CCD thực chất là một thiết bị bán dẫn, một phần của CCD là một

mảng các điện cực và phần còn lại là tinh thể silicon Hình dạng CCD

phụ thuộc vào kiểu của máy quét Các phần tử nhạy sáng hợp thành

CCD được sắp trong cùng một hàng đối với máy quét di chuyển qua

bài mẫu ba lần, hay được sắp xếp thành ba hàng đối với máy quét di

chuyển qua bài mẫu một lần Sự sắp xếp này cho phép bộ phận đọc thu

nhận hết thông tin theo chiều rộng của bài mẫu dưới dạng tín hiệu

analog và ghi thành từng dòng Mỗi lần CCD đọc một dòng trên hình

ảnh mẫu nó sẽ chuyển những thông tin này đến bộ phận chuyển đổi

máy quét phẳng

Trang 33

Chûúng 3: Cêëu tẩo vâ nguyïn lyá hoẩt àưång cuãa cấc thiïët bõ nhêåp

ADC để chuyển tín hiệu thành dữ liệu số nhị phân và CCD sẽ tiếp tục

thu nhận tín hiệu ở dòng kế

Nếu một photon của ánh sáng đến đập vào một điện cực thì nó sẽ

cặp đôi với một điện tử trong mạng tinh thể silicon tạo nên một khe hở

trên cấu trúc tinh thể silicon và cho điện đi qua Các điện tử này sẽ

được dẫn theo các kênh riêng biệt để đem đi xử lý Tùy theo cấu tạo

của CCD mà một hay nhiều điện cực sẽ chịu trách nhiệm xử lý một

pixel trên bài mẫu, tùy theo độ mạnh yếu của ánh sáng đến từ bài mẫu

mà điện tử đi qua CCD nhiều hay ít và sẽ được dẫn đi xử lý theo nhiều

kênh khác nhau, tổ hợp của các điện tử thu nhận được sau khi ánh sáng

từ một điểm trên bài mẫu tới đập vào mạng lưới điện cực của CCD sẽ

tương ứng với một giá trị mật độ của CCD

Trở ngại chủ yếu của CCD trong việc ghi nhận tín hiệu theo từng

hàng là bị giới hạn bởi kích thước của điện cực dùng để ghi nhận tín

hiệu của hình ảnh, mỗi điện cực rộng khoảng 5 micron (tức khoảng 1/

25 sợi tóc người) Những CCD được chế tạo đầu tiên có khoảng 2.048

đến 4.096 điện cực, hiện nay đã có những CCD chứa khoảng 7.000

điện cực Nếu trong một CCD có nhiều điện cực hơn thì khả năng ghi

nhận tín hiệu hình ảnh sẽ tốt hơn vì khi đó CCD có khả năng phân tích

hình ảnh ở độ phân giải cao hơn và sẽ phát hiện nhạy hơn những thay

đổi mật độ của tín hiệu hình ảnh Nhưng nếu có nhiều điện cực thì lại

khó khăn cho việc chế tạo vì thông thường một CCD dài khoảng 1 - 2

inch nên muốn bố trí một số lớn điện cực trên CCD thì yêu cầu điện

cực phải nhỏ hơn nữa Độ phân giải hình ảnh được ghi nhận có thể thay

Sơ đồ dẫn dữ liệu của CCD

Trang 34

Chûúng 3: Cêëu tẩo vâ nguyïn lyá hoẩt àưång cuãa cấc thiïët bõ nhêåp

đổi được do việc điều chỉnh "tiêu cự" để CCD ghi nhận tín hiệu trong

khoảng diện tích lớn hơn hay nhỏ hơn và như vậy nếu muốn độ phân

giải cao hơn thì một bài mẫu ta có thể quét nhiều lần Chẳng hạn một

CCD có 2.048 điện cực được điều chỉnh để thu nhận tín hiệu trong một

hàng rộng 35mm thì ghi nhận được sự thay đổi về tín hiệu hình ảnh và

độ phân giải tốt hơn là thu nhận theo chiều rộng 4 - 5 inch (khoảng 10

- 12.5cm)

d Quá trình xử lý tín hiệu dùng kỹ thuật CCD:

Tín hiệu ánh sáng sau khi qua CCD đã được chuyển đổi thành tín

hiệu điện đại diện bởi các điện tử đi qua mạng tinh thể silicon, các

điện tử này sẽ được dẫn theo các kênh riêng biệt để đem đi xử lý

Kênh dẫn điện tử qua CCD là một hệ thống điện tử bao gồm một

vùng có năng lượng điện thấp hay còn gọi là vùng well (biểu diễn

bằng vùng sáng trong hình vẽ), và vùng có năng lương điện cao hơn

Trong một kênh dẫn ta thấy cứ hai vùng có năng lượng điện cao lại có

một vùng có năng lượng điện thấp Cứ hai vùng đen và một vùng sáng

gọi là một pixel Cuối kênh dẫn sẽ có thanh ghi xuất dữ liệu chặn lại,

thanh ghi có nhiệm vụ lấy điện tử được truyền trong kênh dẫn và đem

đến bộ phận máy tính xử lý việc tạo tram tương ứng với giá trị điện tử

đó hay được lưu lại trên bộ nhớ của máy tính

Các điện tử sau khi qua các điện cực và tinh thể silicon sẽ được dẫn

theo các kênh riêng biệt và không thể chạy từ kênh này qua kênh khác

vì đã có kênh chặn (đường đen dày) tại hai bên hông của kênh Các

điện tử sẽ được lưu lại trên vùng well của kênh dẫn gần đó nhất vì

vùng có năng lượng điện cao không chứa điện tử

Quá trình dẫn điện tử diễn ra trong kênh dẫn như sau: sau khi lượng

tử ánh sáng (photon) phóng thích một điện tử, điện tử này sẽ nhanh

chóng "nhảy" vào vùng well gần đó nhất, lúc đó vùng có năng lượng

điện cao (vùng đen) ngay sát thanh ghi sẽ được hạ xuống thấp hơn cho

bằng mức well, vùng đen kế tiếp sẽ lên chiếm chỗ và cứ như vậy vùng

well dẫn điện sẽ được nâng lên một đoạn và tiếp theo hai quá trình C

và D các điện tử sẽ chuyển lên hai dãy đầu của pixel và đưa lên thanh

ghi Các ô của thanh ghi điện tử là các ô trắng, việc bố trí thanh ghi

tương ứng với cấu tạo của các vùng dẫn trong kênh dẫn (hai vùng đen

rồi tới một vùng trắng) có tác dụng sau hai quá trình chuyển mức điện

thế lại có một ô trắng nằm chính giữa kênh dẫn, và lúc này vùng well

mang điện tử cũng vừa tới được sát thanh ghi và vùng well sẽ đưa điện

tử lên vùng trắng của thanh ghi Sau khi các điện tử đã nạp lên vùng

trắng của thanh ghi (D) thì việc dẫn điện tử trong kênh dẫn tạm thời

ngưng lại để thanh ghi xuất dữ liệu ra ngoài Thanh ghi sẽ chuyển

động từ phải qua trái và mang các điện tử ra ngoài (E,F) Sau khi kết

Trang 35

Chûúng 3: Cêëu tẩo vâ nguyïn lyá hoẩt àưång cuãa cấc thiïët bõ nhêåp

thúc quá trình vận chuyển điện tử ra ngoài, chu kỳ dẫn các điện tử lên

thanh ghi được lặp lại và lúc này các thanh ghi tạm thời dừng lại

Các điện tử sau khi được thanh ghi dẫn ra ngoài sẽ được đo đạc và

chuyển tín hiệu tới bộ phận máy tính để xử lý và cho lệnh để quét hạt

tram tương ứng với giá trị của tín hiệu đó

e Khả năng sử dụng hiện hay:

Cho đến những năm gần đây các máy quét phẳng vẫn còn tách màu

với chất lượng thấp, kỹ thuật CCD chưa hoàn chỉnh Nhưng hiện nay

các máy loại này đã được phát triển và cải tiến rất nhiều với độ phân

giải quang học cao, độ rộng mật độ lớn và cho ra nhiều dạng file ảnh

phù hợp với nhiều chương trình, do đó máy quét phẳng đã được sử

dụng rộng rãi hơn Máy quét phẳng rất đa dạng với những khả năng

khác nhau

- Các máy quét phẳng chất lượng thấp:

Các máy này chỉ phù hợp để phân tích hình ảnh với độ phângiải thấp, không yêu cầu chất lượng cao, với số bit sử dụng là 24

bit cho ba màu RGB và độ phân giải từ 300 - 600 dpi, chỉ sử

dụng cho bài mẫu phản xạ

- Các máy quét chất lượng trung bình:

Các máy này có thể cho ra hình ảnh chất lượng cao hơn, với độphân giải từ 300 - 1.800 dpi với số bit là 30 bit cho ba kênh màu

RGB, và có độ rộng mật độ lớn, có thể bài mẫu phản xạ lẫn bài

mẫu thấu minh và các dạng mẫu khác Một số máy quét này có

phần mềm chỉnh sửa hình ảnh trong quá trình prescan để cho ra

chất lượng cao hơn so với việc chỉnh sửa trên các phần mềm xử lý

sau này Ngoài ra máy có thể thực hiện việc quét theo nhóm

nhiều bài mẫu đặt sẵn để cho năng suất cao hơn

- Các máy quét chất lượng cao:

Các máy này đượcthiết kế với chất lượng

hình ảnh theo ý muốn như:

mật độ, số màu, quá trình

xử lý tự động và chỉnh sửa

màu Có trang bị các bộ

phận phần cứng để phục

vụ việc quét hình ảnh theo

nhóm và có thể cạnh tranh

với máy quét dạng trống,

đáp ứng đầy đủ yêu cầu về

chất lượng hình ảnh và

tốc độ nhanh

Máy quét dạng XY

Trang 36

Chûúng 3: Cêëu tẩo vâ nguyïn lyá hoẩt àưång cuãa cấc thiïët bõ nhêåp

Bộ phận CCD trong các máy này có thể cho ra độ phân giảicao, độ rộng mật độ bảo đảm, khả năng kết hợp với phần mềm đểchỉnh sửa hình ảnh, tăng độ nét, sửa màu và những kỹ thuật đặcbiệt khác để cho ra hình ảnh đạt chất lượng tốt nhất

f Các dạng máy quét phẳng:

Ngày nay, máy quét phẳng thường được thiết kế theo 2 dạng: X và

XY

- Máy quét dạng X: thông thường máy quét dạng này được thiết kế

với bàn đặt bài mẫu đứng yên còn hệ thống quang học bao gồm cả

CCD sẽ di chuyển dọc theo chiều dọc của vùng quét CCD sẽ phụ

trách toàn bộ bề ngang của vùng quét tối đa, do đó đối với các bài

mẫu có kích thước nhỏ hơn kích thước vùng quét tối đa, chỉ một

phần CCD sẽ thu nhận tín hiệu, như vậy, độ phân giải của CCD sẽ

không được tận dụng tối đa

Thông thường dạng này được thiết kế cho các máy quét chấtlượng thấp hoặc trung bình Ưu điểm của dạng máy này là nhỏ gọn

và rẻ tiền

- Máy quét dạng XY: đối với dạng máy này, thông thường bàn đặt bài

mẫu sẽ di chuyển, CCD thì đứng yên còn hệ thống quang học có thể

di chuyển tùy theo kích thước của bài mẫu để thu nhỏ hoặc mở rộng

vùng quét, do đó độ phân giải của CCD được tận dụng tối đa làm cho

hình ảnh quét trở nên sắc nét và màu sắc trung thực hơn Các máy

quét chất lượng cao thường được thiết kế ở dạng này Nhược điểm

của các máy dạng này là thường có kích thước lớn và đắt tiền

3 SỐ HÓA VÀ TÁI SỐ HÓA HÌNH ẢNH:

Máy quét ngày nay đóng một vai trò trung tâm trong quá trình xử lý

kỹ thuật số của công đoạn chế bản Các máy quét hiện đại thường có

thêm chức năng tái số hóa hình ảnh (còn gọi là chức năng copydot) nó có

một vai trò đặc biệt quan trọng trong chu trình công nghệ ghi bản

(Com-puter to Plate) nếu như chúng ta cần chuyển những bản phim đã tách

màu rồi sang dạng số hóa Có ba loại kỹ thuật tái số hóa tùy theo dạng

bản phim cung cấp, đó là:

- Copy dot: tương tự như chế độ quét bitmap Ở chế độ quét này bài

mẫu được quét với độ thu phóng 100% và với độ phân giải rất cao,

thường bằng với độ phân giải của bản phim đang quét

- Descreening: chế độ quét này được chọn khi chúng ta muốn chỉnh

sửa nội dung hay màu sắc của hình ảnh được tái số hóa Tuy nhiên

chúng ta cần lưu ý đến các văn bản hoặc đối tượng đồ họa, chúng sẽ

không còn giữ được viền cạnh sắc nét như bản gốc

- Mix mode: là chế độ quét được tổng hợp từ hai kỹ thuật quét trên.

Thông thường các bản tách màu Cyan, Magenta, Yellow được quét

Trang 37

Chûúng 3: Cêëu tẩo vâ nguyïn lyá hoẩt àưång cuãa cấc thiïët bõ nhêåp

ở chế độ descreening, còn màu Black sẽ được quét ở chế độ copy

dot để giữ được đường viền sắc nét của văn bản

Cả hai dạng máy quét dạng phẳng và dạng trống ngày nay đều

có chức năng tái số hóa hình ảnh (copydot)

4 CÁC ĐẶC TÍNH QUAN TRỌNG CỦA MÁY QUÉT:

a Độ rộng mật độ:

Mỗi máy quét thường có giới hạn khác nhau trong khả năng thu

nhận được điểm sáng nhất và điểm tối nhất trên bài mẫu Hiệu số giữa

điểm có mật độ lớn nhất (điểm tối) và điểm có mật độ nhỏ nhất (điểm

sáng) trên bài mẫu được gọi là độ rộng mật độ của máy Độ rộng mật

độ là yếu tố quan trọng trong quá trình phục chế vì nó ảnh huởng đến

chất lượng của hình ảnh quét Độ rộng mật độ càng lớn hình ảnh phục

chế không bị mất nhiều chi tiết ở vùng tối Khi tách màu các bài mẫu

có khoảng rộng mật độ lớn như các bài mẫu slide (mật độ có thể lớn

hơn 4.0) nhưng nếu khoảng mật độ của máy quét quá hẹp chỉ có khả

năng phục chế hình ảnh có khoảng rộng mật độ tối đa là 3.0 chẳng hạn

thì phần mật độ còn lại sẽ bị mất, dãy mật độ hình ảnh bị thu hẹp và

đường tầng thứ phục chế không thể đạt chất lượng cao, hình ảnh không

trung thực

Trong máy quét, độ rộng mật độ phụ thuộc vào nhiều yếu tố như:

nguồn sáng, bộ phận quang học, bộ phận thu nhận và chuyển đổi tín

hiệu ánh sáng Máy quét dạng trống độ nhạy của ống nhân quang ảnh

hưởng lớn nhất đến độ rộng mật độ vì các điểm có mật độ lớn dòng

phản xạ ánh sáng tới ống nhân quang yếu có thể không làm bức xạ các

điện tử, do đó bộ phận thu nhận không thu nhận được tín hiệu này và

hình ảnh phục chế sẽ mất thông tin này Đối với quét phẳng dùng kỹ

thuật CCD mức độ nhạy sáng của CCD sẽ ảnh hưởng lớn đến độ rộng

mật độ

Khi giá trị mật độ của máy quét hay của bài mẫu tăng, thì mức độ

ánh sáng có thể thu nhận (đối với máy quét) và bị chặn hay hấp thụ

(đối với bài mẫu) tăng Khoảng mật độ của bộ phận thu nhận rộng hơn

có thể thu nhận nhiều chi tiết và đặc biệt là vùng tối của hình ảnh, nơi

thường gặp nhiều khó khăn khi phân tích các chi tiết hình ảnh chính

xác vì năng lượng ánh sáng để phản xạ hay xuyên qua các chi tiết ở

vùng này rất nhỏ

Thường các máy quét dạng trống có khoảng rộng mật độ lớn hơn

các máy quét dạng phẳng Và bài mẫu thấu minh thường có mật độ

cao hơn bài mẫu phản xạ Các bài mẫu dương bản thường bị nén tông

ở phần tối, trong khi các ảnh âm bản thường bị nén tông ở phần sáng

Không có một bộ phận thu nhận nào có thể bù đắp sự nén tông một

cách hoàn chỉnh vì vậy độ rộng mật độ lớn của máy quét có thể làm

Trang 38

Chûúng 3: Cêëu tẩo vâ nguyïn lyá hoẩt àưång cuãa cấc thiïët bõ nhêåp

giảm đi việc nén tông này Do đó để phục chế hình ảnh đạt chất lượng

cao phải lựa chọn bộ phận thu nhận có mật độ tối đa (D max ) sao cho

đảm bảo phục chế đầy đủ tông màu nhất

b Độ phân giải của máy quét:

Khi tách màu bài mẫu được phân tích theo từng điểm và ghi lại

thông tin về hình ảnh tại điểm đó như màu sắc, mật độ của hình ảnh,

mỗi điểm có địa chỉ hàng cột riêng để lưu giữ thông tin và số điểm được

lưu giữ thông tin trong một đơn vị chiều dài (thường là inch hay cm)

gọi là độ phân giải khi quét, số điểm này càng nhiều sẽ chứa càng nhiều

thông tin trong 1 inch (hay 1cm) và cho ra độ phân giải lớn Vậy độ

phân giải cao sẽ phân tích chính xác bài mẫu, thể hiện đầy đủ sự thay

đổi mật độ của hình ảnh

Tuy nhiên không phải lúc nào chúng ta cũng quét với độ phân giải

tối đa, độ phân giải của máy quét sẽ ảnh hưởng đến độ thu phóng tối

đa của nó Ví dụ một máy quét có độ phân giải 6000 dpi, nếu quét một

hình ảnh với độ phân giải 300 dpi thì độ thu phóng tối đa có thể quét

được là 6000 dpi / 300 dpi = 2000% Điều đó giải thích tại sao các máy

quét ảnh slide thông thường cần phải có độ phân giải cao

c Số bit sử dụng để số hóa hình ảnh:

Trong quá trình số hóa, hình ảnh được phục chế bằng các điểm nhỏ

hay pixel Các thông tin về trạng thái hình ảnh khi số hóa trong mỗi

pixel được lưu trữ bằng sự thể hiện các giá trị khác nhau của các bit

Số màu hay số mức độ xám của máy quét có thể thu nhận cho mỗi

pixel phụ thuộc vào số bit và số màu dùng để phục chế

Quét 1 bit hay quét nét cho ra tất cả tông trong bài mẫu chỉ ở hai

trạng thái hoặc đen hoặc trắng

Quét 8 bit cho hình trắng đen chuyển tông số hóa 256 mức độ xám

khác nhau

Quét màu 24 bit sẽ số hóa 8 bit cho mỗi kênh ba màu R, G, B trong

hệ màu RGB và cho ra tất cả 16,7 triệu màu

Số bit để số hóa hình ảnh tăng sẽ làm số chi tiết mà máy quét có thể

thu nhận tăng, 24 bit cho ba kênh màu là tiêu chuẩn cho việc tách màu

và xử lý ảnh, 256 thang độ xám cho mỗi kênh màu và là tiêu chuẩn để

số hóa bằng postscript cho việc xuất bản có thể phục chế

Các máy quét phẳng rẻ tiền khi thu nhận tín hiệu bị ảnh hưởng bởi

các hình ảnh xung quanh làm cho dãy màu đang đọc không được chính

xác Các CCD sử dụng trong máy quét phẳng chất lượng cao có hệ số

phóng đại tín hiệu cao và truyền dữ liệu đến ADC

Hầu hết hình ảnh số hóa với số bit thấp là kết quả của việc số hóa

hình ảnh dùng CCD chất lượng thấp làm hình ảnh không mịn và không

chuyển đổi liên tục giữa các mức độ xám Các nhà chế tạo máy quét

Trang 39

Chûúng 3: Cêëu tẩo vâ nguyïn lyá hoẩt àưång cuãa cấc thiïët bõ nhêåp

rất quan tâm vấn đề này như việc tạo ra các máy với số bit lớn hơn

(10-16 bit chẳng hạn)

Khi lưu hình ảnh chúng ta phải lưu ít nhất là 8 bit để có thể tiến

hành xử lý màu sau khi qua bộ phận chuyển đổi ADC Số màu tiêu

chuẩn trong các phần mềm xử lý ảnh phổ biến là 24 bit nhưng Adobe

Photoshop thường dùng số màu nhiều hơn

Một số máy quét chất lượng trung bình và cao có thể cho 24 bit

trong file ảnh nhưng khi dùng số bit lớn cũng không tự động làm cho

tông màu rộng hơn

Một máy quét với hệ số độ phân giải cao và có thể dùng số lượng

màu là 30 bit Trong thực tế để phục chế màu tốt phải có số bit sử dụng

đến 12 bit trong một kênh màu Chú ý khi sử dụng số bit lớn sẽ cho ra

nhiều trạng thái màu nhưng kích thước file lớn và quá trình xử lý, lưu

trữ lâu

Hầu hết các máy có thể tách màu nhiều dạng bài mẫu như hình đen

trắng, hình màu 24 bit RGB và hình CMYK Kiểu quét cho biết số bit

hay số màu trong quá trình phân tích màu hình ảnh và mỗi kiểu sẽ có

kích thước file cho bài mẫu được quét

- Hình bitmap mỗi pixel chỉ có một bit nên kích thước file được nén lại

- Hình đen trắng cho ra tất cả tông của màu sắc trong bản mẫu là 256

mức độ, mỗi pixel gồm 8 bit để thể hiện thông tin, kích thước file lớn

hơn 8 lần ở dạng bitmap

- Hình 24 bit số hóa bài mẫu 8 bit trong một kênh và kích thước file lớn

hơn 24 lần đối với hình đen trắng

- Hình nhiều màu với số bit từ 12-16 bit trong một kênh file sẽ lớn hơn 36

đến 48 lần so với hình trắng đen

- Hình màu CMYK dạng 32 bit có kích thước file sẽ lớn hơn 1/3 kích

thước file hình RGB

Các máy quét lưu dạng CMYK thực tế chúng tách màu dạng RGB

và sau đó chuyển sang CMYK

d Khả năng tác động của phần mềm điều khiển máy quét:

Trong quá trình tách màu các bộ phận quét có thể phân tích hình

chưa đảm bảo hoàn thiện để xuất ra Để tạo ra quá trình tách màu

hoàn chỉnh, phù hợp yêu cầu và đảm bảo năng suất cao máy cần trang

bị thêm các phần mềm điều khiển quá trình quét

Khi tiến hành prescan các phần mềm điều khiển cho phép xác

định và chỉnh các thông số để số hóa hình ảnh như:

- Xác định loại mẫu được số hóa để bố trí nguồn sáng phù hợp, đối với

mẫu phản xạ phải chỉnh máy để chọn mật độ đế giấy bằng 0 do đế

giấy thường có độ đen nào đó và không phản xạ ánh sáng hoàn toàn

làm ảnh hưởng đến việc thu nhận thông tin hình ảnh

Trang 40

Chûúng 3: Cêëu tẩo vâ nguyïn lyá hoẩt àưång cuãa cấc thiïët bõ nhêåp

Xác định điểm đen nhất và điểm trắng nhất để tính khoảng rộng

mật độ của bài mẫu, chọn giá trị tông tối nhất và sáng nhất trong

bài mẫu vẫn còn thể hiện chi tiết hình ảnh

Đối với đa số trường hợp hình ảnh xuất ra cho việc in thường

phải luôn đặt lại điểm sáng nhất và tối nhất của mẫu trong quá

trình quét Nên nhớ việc chọn các điểm sáng và tối nhất của bài

mẫu sẽ ảnh hưởng đến độ tương phản và sự nén tông của hình ảnh

được tách màu

- Dạng file hình ảnh được số hóa:

Dạng file hình ảnh được xác định thông tin có thể lưu trữ trong

file và thông tin có thể được chỉnh sửa bằng các phần mềm ứng dụng

và được chuyển đổi dữ liệu với các bộ phận khác trong quá trình sản

xuất Do đó việc chọn lựa dạng file để lưu hình ảnh phụ thuộc vào

nhiều yếu tố, các chương trình sẽ sử dụng để chỉnh sửa hình ảnh Số

đĩa lưu trữ và hình ảnh có cần chuyển đổi file với các bộ phận khác

trong suốt quá trình xử lý, các yêu cầu về việc xuất

Thông thường một file ảnh phải được truyền tới nhiều bộ phận

khác nhau từ lúc lưu lần đầu tiên đến lúc xuất ra Dạng file được

lưu phải được nhiều bộ phận khác đọc và chỉnh sửa được như chương

trình xử lý ảnh, sau khi xử lý có thể lưu ở dạng khác để dàn trang

cho đến khi hình ảnh được xuất ra

e Khả năng tách màu trên các dạng bài mẫu:

* Các dạng bài mẫu:

Các dạng bài mẫu để sử dụng phục chế hình ảnh rất đa dạng có cấu

tạo và tính chất khác nhau, do đó máy tách màu phải có khả năng phân

tích được nhiều dạng để đáp ứng nhu cầu như: bài mẫu thấu minh, mẫu

phản xạ, âm bản, dương bản, hay ấn phẩm đã in

Ứng với từng loại bài mẫu máy phải được thiết kế có bộ phận thu

nhận tín hiệu phù hợp

- Để quét dạng mẫu trong suốt hay phản xạ máy phải bố trí nguồn

sáng kết hợp với bộ phận thu nhận ánh sáng phù hợp để nhận được

ánh sáng xuyên qua hay phản xạ từ mẫu

- Để quét bài mẫu đã được in ta phải kết hợp chức năng khử moiré

để không bị ảnh hưởng của nền trame cũ của bài mẫu, nếu chúng

ta in lại mà không xóa nềm trame cũ sẽ không tránh khỏi hiện

tượng moiré trên ấn phẩm vì nền trame sẽ gây nhiễu do việc in

chồng lên nhau với những góc trame khác nhau Do đó máy quét

phải có bộ phận xóa nền trame cũ trong quá trình xử lý trước khi

nó ảnh hưởng đến việc số hóa hình ảnh

* Kích thước mẫu tách màu:

Kích thước lớn nhất của bài mẫu có thể số hóa hay dùng hình ảnh

được phân tích của máy trên các máy quét khác nhau từ khổ A4 đến

Ngày đăng: 29/11/2019, 17:56

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w