Các loại chứng khoán cổ điển phổ biến hơn và đóng vai trò quan trọng trong thị trường chứng khoán nói riêng và nền kinh tế nói chung, trong đó cổ phiếu đang có một sức hút lớn đối với cá
Trang 1KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
PHÁT HÀNH TRÁI PHIẾU DOANH NGHIỆP THEO QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VIỆT NAM
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC CÔNG NGHỆ TP HỒ CHÍ MINH
Trang 2KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
PHÁT HÀNH TRÁI PHIẾU DOANH NGHIỆP THEO QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VIỆT NAM
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC CÔNG NGHỆ TP HỒ CHÍ MINH
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Em xin cảm ơn Quý Thầy Cô Khoa Luật - Trường đại học Công nghệ Thành phố Hồ Chí Minh (HUTECH) đã dạy dỗ bằng tất cả tâm huyết, kiến thức của mình cho sinh viên trong thời gian học tập tại trường
Em xin gửi lời cảm ơn sâu sắc nhất tới Thầy Đoàn Trọng Chỉnh đã tận tâm hướng dẫn, giúp đỡ em trong suốt khoảng thời gian học tập, thực tập và làm khóa luận Nếu không có sự hướng dẫn tận tâm của thầy, em nghĩ rằng mình không thể hoàn thiện bài Khóa luận tốt nghiệp này một cách hoàn chỉnh được Một lần nữa em xin chân thành cảm ơn Thầy
Khóa luận tốt nghiệp cũng là những bước nghiên cứu đầu tiên của em về thực tiễn và các kiến thức pháp luật liên quan đến đề tài Mà kiến thức của em vẫn còn nhiều hạn chế, vì thế bài khóa luận chắc chắn không tránh khỏi những sai sót,
em rất mong nhận được những đóng góp quý giá từ Quý Thầy, Cô để bài Khóa luận tốt nghiệp được hoàn thiện hơn
Sau cùng, em xin kính chúc Ban giám hiệu nhà trường, Quý Thầy, Cô trong Khoa Luật dồi dào sức khỏe và tiếp tục gặt hái những thành công mới trong công việc
Sinh viên (ký tên, ghi đầy đủ họ tên)
KHỔNG MINH CƯỜNG
Trang 4LỜI CAM ĐOAN
Tôi tên: KHỔNG MINH CƯỜNG, MSSV: 1511270940
Tôi xin cam đoan các số liệu, thông tin sử dụng trong bài Khoá luận tốt
nghiệp này được thu thập từ nguồn tài liệu khoa học chuyên ngành (có trích dẫn đầy đủ và theo đúng quy định);
Nội dung trong khoá luận KHÔNG SAO CHÉP từ các nguồn tài liệu khác
Nếu sai sót tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm theo quy định của nhà trường
và pháp luật
Sinh viên (ký tên, ghi đầy đủ họ tên)
KHỔNG MINH CƯỜNG
Trang 5MỤC LỤC
PHẦN MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Mục tiêu nghiên cứu của đề tài 2
3 Phạm vi, đối tượng nghiên cứu của đề tài 3
4 Tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài 3
5 Phương pháp nghiên cứu 4
6 Kết cấu của khóa luận 5
Chương 1: KHÁI QUÁT CHUNG VỀ PHÁT HÀNH TRÁI PHIẾU DOANH NGHIỆP 6
1.1 Lịch sử hình thành trái phiếu doanh nghiệp 6
1.1.1 Giai đoạn trước năm 1994 6
1.1.2 Giai đoạn từ năm 1994 đến năm 2006 7
1.1.3 Giai đoạn từ năm 2006 đến nay 8
1.2 Khái niệm và đặc điểm về phát hành trái phiếu doanh nghiệp 11
1.2.1 Khái niệm phát hành trái phiếu doanh nghiệp 11
1.2.2 Đặc điểm phát hành trái phiếu doanh nghiệp 13
1.3 Mục đích, vai trò và ý nghĩa của phát hành trái phiếu doanh nghiệp 16 1.3.1 Mục đích phát hành trái phiếu doanh nghiệp 16
1.3.2 Vai trò phát hành trái phiếu doanh nghiệp 17
1.3.3 Ý nghĩa phát hành trái phiếu doanh nghiệp 19
Chương 2: QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VỀ PHÁT HÀNH TRÁI PHIẾU DOANH NGHIỆP 21
2.1 Chủ thể phát hành trái phiếu doanh nghiệp và phương thức phát hành trái phiếu doanh nghiệp 21
2.1.1 Chủ thể phát hành trái phiếu doanh nghiệp 21
2.1.3 Phương thức phát hành trái phiếu doanh nghiệp 23
2.2 Nguyên tắc, điều kiện và phương án phát hành trái phiếu doanh nghiệp 25
Trang 62.2.1 Nguyên tắc phát hành trái phiếu doanh nghiệp 25
2.2.2 Điều kiện phát hành trái phiếu doanh nghiệp 27
2.2.3 Phương án phát hành trái phiếu doanh nghiệp 32
2.3 Trình tự, thủ tục phát hành trái phiếu doanh nghiệp 35
2.3.1 Trình tự, thủ tục phát hành trái phiếu doanh nghiệp cho một đợt phát hành 35
2.3.2 Trình tự, thủ tục phát hành trái phiếu doanh nghiệp cho nhiều đợt phát hành 40
CHƯƠNG 3: THỰC HIỆN PHÁP LUẬT VỀ PHÁT HÀNH TRÁI PHIẾU DOANH NGHIỆP VÀ KIẾN NGHỊ HOÀN THIỆN 42
3.1 Thực tiễn thực hiện pháp luật về phát hành trái phiếu doanh nghiệp 42
3.1.1 Kết quả đạt được khi thực hiện pháp luật về phát hành trái phiếu doanh nghiệp 50
3.1.2 Hạn chế, bất cập còn tồn tại khi thực hiện pháp luật về phát hành trái phiếu doanh nghiệp 54
3.2 Kiến nghị thực hiện pháp luật về phát hành trái phiếu doanh nghiệp 56
3.2.1 Phát huy kết quả đạt được khi thực hiện pháp luật về phát hành trái phiếu doanh nghiệp 56
3.2.2 Giải pháp khắc phục hạn chế, bất cập còn tồn tại về phát hành trái phiếu doanh nghiệp 57
KẾT LUẬN 59
TÀI LIỆU THAM KHẢO 60
Trang 7PHẦN MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Đất nước ta đang trong giai đoạn hội nhập và phát triển, nhu cầu đăng ký thành lập doanh nghiệp và huy động vốn cho các doanh nghiệp tăng cao Để nâng cao khả năng huy động vốn cho các doanh nghiệp, sự phát triển của thị trường chứng khoán là rất cần thiết cho các doanh nghiệp là công ty cổ phần và công ty trách nhiệm hữu hạn Các loại hàng hóa của thị trường chứng khoán được biết tới ở Việt Nam bao gồm: chứng khoán cổ điển và chứng khoán phái sinh Các loại chứng khoán cổ điển phổ biến hơn và đóng vai trò quan trọng trong thị trường chứng khoán nói riêng và nền kinh tế nói chung, trong đó cổ phiếu đang có một sức hút lớn đối với các nhà đầu tư trong và ngoài nước trên cả thị trường sơ cấp và thị trường thứ cấp, trong khi các hoạt động liên quan đến trái phiếu trên thị trường còn
im ắng, xa lạ đối với các nhà tư trong nước, mặc dù đối với các nhà đầu tư nước ngoài và với các ngân hàng thương mại, trái phiếu doanh nghiệp là loại hàng hóa không thể thiếu trong hoạt động đầu tư và là loại hàng hóa ít mang lại rủi ro
Để đáp ứng cho nhu cầu phát triển của đất nước, đặc biệt là sự phát triển vượt bậc về kinh tế ở Việt Nam trong 2 năm gần đây, yêu cầu về một thị trường chứng khoán phát triển hoàn thiện hơn, đa dạng về hàng hóa nhưng vẫn phải đảm bảo sự an toàn cho các nhà đầu tư, pháp luật quy định về trái phiếu doanh nghiệp vốn là loại chứng khoán an toàn nhất trong các loại chứng khoán phải được hoàn thiện hơn nữa Vì thế, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 163/2018/NĐ-CP quy định về phát hành trái phiếu doanh nghiệp có hiệu lực vào ngày 01/02/2019 để thay thế cho Nghị định số 90/2011/NĐ-CP với nhiều quy định mới trong phát hành trái phiếu doanh nghiệp Nghị định này đã “nới lỏng” điều kiện phát hành và phải lưu
ký trái phiếu, kèm theo các quy định liên quan đến hồ sơ phát hành trái phiếu đã được hoàn thiện theo hướng rõ ràng, thuận tiện hơn cho các doanh nghiệp trong các hoạt động liên quan đến trái phiếu Đồng thời doanh nghiệp phát hành trái phiếu phải tăng tính công khai, minh bạch qua việc công bố thông tin đầy đủ, nhằm tăng tính an toàn cho nhà đầu tư Nghị định số 163/2018/NĐ-CP trở thành một yếu tố quan trọng nhằm thúc đẩy thị trường trái phiếu doanh nghiệp nói riêng và thị trường chứng khoán nói chung
Mặc dù đã có những sự thay đổi tích cực trong quy định về phát hành trái phiếu doanh nghiệp, song việc phát hành trái phiếu của doanh nghiệp còn gặp rất
Trang 8nhiều khó khăn khiến cho các doanh nghiệp có xu hướng lựa chọn phát hành cổ phiếu thay vì trái phiếu, hoặc huy động vốn từ các hình thức khác và các nhà đầu tư vẫn không quá “mặn mà” với trái phiếu Vì vậy, những vướng mắc này đặt ra yêu cầu phải tiếp tục nghiên cứu và hoàn thiện hơn trong các quy định pháp luật về phát hành trái phiếu của doanh nghiệp, tạo môi trường pháp lý đầy đủ hơn, an toàn hơn, phá bỏ dần những khó khăn, vướng mắc của doanh nghiệp trong phát hành trái phiếu
Từ những lý do nêu trên, người viết lựa chọn đề tài “Phát hành trái phiếu doanh nghiệp theo quy định của pháp luật Việt Nam” làm đề tài và nội dung nghiên cứu cho khóa luận tốt nghiệp nhằm nghiên cứu một cách tổng quan và đầy đủ về các quy định pháp luật xung quanh nội dung phát hành trái phiếu doanh nghiệp Đồng thời đánh giá được thực trạng phát hành trái phiếu doanh nghiệp tại Việt Nam qua thực tiễn thực hiện pháp luật phát hành trái phiếu doanh nghiệp để từ đó đưa ra được những kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật phát hành trái phiếu doanh nghiệp
2 Mục tiêu nghiên cứu của đề tài
Khóa luận tốt nghiệp hướng tới việc làm rõ cơ sở lý luận về phát hành trái phiếu của doanh nghiệp theo quy định của pháp luật Việt Nam, phân tích các quy định pháp luật hiện hành điều chỉnh về phát hành trái phiếu của doanh nghiệp và thực tiễn thực hiện các quy định này Song song đó, khóa luận còn phân tích mối quan hệ giữa quy định pháp luật và thực tiễn trong phát hành trái phiếu của doanh nghiệp, để thấy được những ưu điểm và những vấn đề còn tồn tại trong phát hành trái phiếu của loại hình doanh nghiệp này Qua đó đưa ra những kiến nghị pháp luật nhằm hoàn thiện hơn những quy định về phát hành trái phiếu của doanh nghiệp
Khóa luận tốt nghiệp phân tích các quy định pháp luật mới trong phát hành trái phiếu doanh nghiệp Cùng với việc phân tích các quy định pháp luật mới, khóa luận còn so sánh những điểm tiến bộ, hạn chế về mặt quy định so với những văn bản cũ, từ đó có những phân tích nhằm làm rõ những quy định xung quanh hoạt động phát hành trái phiếu doanh nghiệp
Hơn thế nữa, từ việc thu thập, phân tích số liệu liên quan đến trái phiếu doanh nghiệp Khóa luận tốt nghiệp đánh giá được phần nào việc thực hiện pháp luật phát hành trái phiếu doanh nghiệp của các chủ thể thực hiện
Trang 9Ngoài ra, khóa luận tốt nghiệp còn phân tích một số quy định khác liên quan đến trái phiếu doanh nghiệp như các quy định chung về chứng khoán, quyền lợi của chủ sở hữu trái phiếu (chủ nợ), hoạt động niêm yết trái phiếu,… Từ đó có cái nhìn tổng quan hơn về pháp luật về trái phiếu doanh nghiệp cũng như pháp luật chứng khoán
3 Phạm vi, đối tượng nghiên cứu của đề tài
Phát hành trái phiếu của doanh nghiệp là một hoạt động được quy định trong nhiều văn bản pháp luật có liên quan, do vậy nội dung nghiên cứu tương đối rộng, bao hàm nhiều vấn đề Tuy nhiên trong khuôn khổ bài khóa luận, người viết tập trung vào các vấn đề khái quát, lý luận về doanh nghiệp và phát hành trái phiếu của doanh nghiệp và xem xét tình hình thực hiện các quy định về phát hành trái phiếu doanh nghiệp trên thực tế
Phạm vi nghiên cứu của đề tài nằm tập trung chủ yếu trong phát hành trái phiếu doanh nghiệp theo quy định của pháp luật Việt Nam hiện hành Trong đó, khóa luận tập trung chủ yếu vào hoạt động phát hành trái phiếu riêng lẻ của doanh nghiệp, vì pháp luật về phát hành trái phiếu doanh nghiệp riêng lẻ vừa được thay đổi theo quy định mới là Nghị định số 163/2018/NĐ-CP có hiệu lực vào ngày 01 tháng 02 năm 2019 với nhiều nội dung đã thay đổi so với quy định cũ Vậy nên, bài khóa luận sẽ tập trung phân tích nhiều quy định pháp luật về phát hành trái phiếu doanh nghiệp, và thực tiễn thực hiện pháp luật phát hành trái phiếu doanh nghiệp trên hai địa phương có Sở giao dịch chứng khoán là Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh trong khoảng thời gian từ năm 2017 đến nay (khoảng thời gian giao thoa giữa hai nghị định quy định về phát hành trái phiếu doanh nghiệp)
4 Tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
Phát hành trái phiếu doanh nghiệp đã được không ít luận văn, sách báo, khóa luận nghiên cứu về vấn đề này, trong đó:
Luận văn thạc sĩ Luật học của Nguyễn Thị Huế (2013) – Khoa Luật Đại học
Quốc gia Hà Nội: “Pháp luật phát hành trái phiếu của Ngân hàng thương mại ở Việt Nam” Luận văn đã làm rõ được phát hành trái phiếu riêng lẻ của Ngân hàng
thương mại
Trang 10Luận văn thạc sĩ Luật học của Trần Thanh Ngọc (2015) – Khoa Luật Đại học
Quốc Gia Hà Nội: “Pháp luật về phát hành trái phiếu của công ty cổ phần đại chúng tại Việt Nam” Luận văn nghiên cứu về đề tài Pháp luật về phát hành trái
phiếu đối với chủ thể hẹp là công ty cổ phần đại chúng
Luận văn thạc sĩ Kinh tế có nội dung về phát triển thị trường trái phiếu thuộc
Đại học Kinh tế thành phố Hồ Chí Minh: “Phát triển thị trường trái phiếu doanh nghiệp tại Việt Nam” của Đặng Tấn Tài (2009), “Phát triển thị trường trái phiếu giai đoạn 2008 – 2020” của Phạm Thị Anh Thư (2008), “Phát triển thị trường trái phiếu Việt Nam” của Nguyễn Việt Trung (2009) Các luận văn này đã có nêu về
phát hành trái phiếu doanh nghiệp trong một nội dung của luận văn, đặc biệt đã có một số giải pháp nhằm hoàn thiện quy định về phát hành trái phiếu doanh nghiệp
Giáo trình Luật Chứng khoán của TS Nguyễn Văn Tuyến chủ biên (2011) – Nhà xuất bản Giáo dục Giáo trình có nhiều nội dung đề cập đến phát hành trái phiếu doanh nghiệp, trong đó đề cập đến nội dung chung về hoạt động phát hành chứng khoán
Các nghiên cứu trên đều đã phân tích, làm rõ về phát hành trái phiếu doanh nghiệp Tuy nhiên ở thời điểm hiện tại, phát hành trái phiếu doanh nghiệp đã có văn bản mới ban hành là Nghị định số 163/2018/NĐ-CP quy định về Phát hành trái phiếu doanh nghiệp thay thế cho Nghị định số 90/2011/NĐ-CP và Nghị định số 52/2006/NĐ-CP, mà vốn các bài nghiên cứu tập trung chủ yếu vào hai nghị định đã hết hiệu lực Vì vậy hiện nay vẫn chưa có một bài nghiên cứu nào về Nghị định số 163/2018/NĐ-CP bởi vì Nghị định còn quá mới và chỉ mới có hiệu lực từ tháng 02 năm 2019, trong đó một số đề xuất và giải pháp mà các luận văn thạc sĩ trên đến thời điểm hiện tại đã không còn phù hợp với quy định và vấn đề tồn tại hiện nay của phát hành trái phiếu doanh nghiệp
5 Phương pháp nghiên cứu
Để thực hiện bài viết, người viết sử dụng một số phương pháp để làm sáng tỏ
về mặt khoa học, lý luận và thực tiễn của đề tài trong từng nội dung cụ thể, với các phương pháp:
Trang 11Phương pháp phân tích: phương pháp này nhằm làm rõ hơn những quy định
của pháp luật về phát hành trái phiếu doanh nghiệp theo từng vấn đề một các đầy đủ
và toàn diện
Phương pháp tổng hợp: trên cơ sở phân tích các quy định của pháp luật về
phát hành trái phiếu doanh nghiệp, người viết tổng hợp để nhìn nhận và đánh giá vấn đề một cách khái quát nhất những nội dung có tính bản chất và đi đến kết luận
Phương pháp so sánh: nhằm so sánh những điểm tương đồng và khác biệt
của pháp luật và thực tiễn về phát hành trái phiếu doanh nghiệp qua các thời kỳ, từ
đó đánh giá và rút ra những điểm khác biệt mang tính chất của vấn đề
Phương pháp lịch sử: từ lịch sử phát triển của thị trường trái phiếu doanh
nghiệp và những kết quả đạt được từ việc thực hiện pháp luật phát hành trái phiếu doanh nghiệp trong quá khứ, người viết đánh giá tiềm năng, sự phát triển của thị trường trái phiếu, từ đó rút ra bài học và kinh nghiệm để phát triển thị trường trái phiếu doanh nghiệp
Phương pháp thống kê số liệu: từ số liệu thu thập từ trang thông tin của Ủy
ban Chứng khoán Nhà nước, Sở giao dịch chứng khoán Hà Nội, Sở giao dịch chứng khoán thành phố Hồ Chí Minh và một số nguồn thứ cấp, người viết thống kê, phân tích và đưa ra nhận định, lập luận từ kết quả thu thập
6 Kết cấu của khóa luận
Ngoài Phần mở đầu, Kết luận và Tài liệu tham khảo, kết cấu của khóa luận gồm 03 chương:
Chương 1: Khái quát chung về phát hành trái phiếu doanh nghiệp;
Chương 2: Quy định của pháp luật về phát hành trái phiếu doanh nghiệp; Chương 3: Thực hiện pháp luật về phát hành trái phiếu doanh nghiệp và kiến nghị hoàn thiện
Trang 12Chương 1: KHÁI QUÁT CHUNG VỀ PHÁT HÀNH TRÁI PHIẾU
DOANH NGHIỆP 1.1 Lịch sử hình thành trái phiếu doanh nghiệp
Trên thế giới, thị trường chứng khoán phát triển từ rất sớm Vào thể kỷ XV, các chủ ngân hàng thuộc Venice bắt đầu kinh doanh công trái nhà nước Từ đây, thị trường trái phiếu với những đặc tính riêng, xuất hiện và được phân ra nhằm phù hợp
và tiện lợi cho hoạt động giao dịch Sau đó, chứng khoán có tầm quan trọng quốc gia lần đầu tiên được phát hành tại Antwerp vào thế kỷ XVI, hoạt động giao dịch chứng khoán bấy giờ chỉ là các hoạt động mua bán trái phiếu của Chính phủ các nước phương Tây sau khi bị tổn thất do tham gia chiến tranh.1
Tại Việt Nam, quá trình hình thành của thị trường trái phiếu có những bước hình thành và phát triển đặc biệt hơn so với thế giới Thị trường trái phiếu Việt Nam xuất hiện dựa trên ý chí của Nhà nước nhằm chuẩn bị cho quá trình thu hút vốn cho nền kinh tế trong phát triển kinh tế để đi lên xã hội chủ nghĩa Vì thế, lịch sử hình thành và phát triển của thị trường trái phiếu doanh nghiệp cùng với phát hành trái phiếu doanh nghiệp cũng có những điểm khác Lịch sử hình thành trái phiếu doanh nghiệp có thể tạm chia làm 03 giai đoạn nhằm phù hợp với quy định của pháp luật
về phát hành trái phiếu doanh nghiệp: Giai đoan trước năm 1994, giai đoạn từ năm
1994 đến năm 2006 và Giai đoạn từ năm 2006 đến nay
1.1.1 Giai đoạn trước năm 1994
Trước năm 1994, ở nước ta gần như không có định nghĩa về “thị trường chứng khoán” Trong giai đoạn này, chỉ có duy nhất một loại chứng khoán được phát hành trong nước đó là trái phiếu Chính phủ Nhiều loại trái phiếu Chính phủ được phát hành từ khoảng thời gian Việt Nam chiến đấu chống lại thực dân Pháp và
1 Phan Phương Nam (2017), Tài liệu học tập Luật Chứng khoán và Kinh doanh bảo hiểm, Trường Đại học
Công nghệ thành phố Hồ Chí Minh, Thành phố Hồ Chí Minh, tr 3-4
Trang 13hướng xã hội chủ nghĩa Cơ cấu kinh tế nhiều thành phần với các hình thức tổ chức sản xuất, kinh doanh đa dạng dựa trên chế độ sở hữu toàn dân, sở hữu tập thể, sở hữu tư nhân, trong đó sở hữu toàn dân và sở hữu tập thể làm nền tảng”, và quy định cụ thể hơn tại Điều 21 Chương II Hiến pháp 1992 quy định “Kinh tế cá thể, kinh tế tư bản tư nhân được lựa chọn hình thức tổ chức sản xuất, kinh doanh, được thành lập doanh nghiệp không bị hạn chế về quy mô hoạt động trong những ngành, nghề có lợi cho quốc kế dân sinh Kinh tế gia đình được khuyến khích phát triển”
Đây có thể coi là bước chuyển mình đầy mạnh mẽ trong nền kinh tế của Việt Nam,
mà trong đó được lựa chọn hình thức tổ chức, thành lập doanh nghiệp có nghĩa là sẽ xuất hiện hai loại hình doanh nghiệp có sức ảnh hưởng trực tiếp đến thị trường chứng khoán và hoạt động phát hành chứng khoán là công ty trách nhiệm hữu hạn
và công ty cổ phần
Trong giai đoạn 1992 – 1994, mặc dù Hiến pháp đã gián tiếp cho phép các thành lập doanh nghiệp có nguồn vốn tư nhân, nhưng pháp luật quy định về việc huy động vốn thông qua hoạt động phát hành trái phiếu vẫn chưa có, mà các doanh nghiệp không thể cứ thế thành lập mà không được huy động vốn Điều này đặt ra yêu cầu cấp bách về ban hành các quy định pháp luật về phát hành chứng khoán nói chung và trái phiếu nói riêng
1.1.2 Giai đoạn từ năm 1994 đến năm 2006
Năm 1994 là năm đánh dấu cho sự ra đời của hoạt động phát hành trái phiếu doanh nghiệp Ngày 17 tháng 9 năm 1994, Chính phủ chính thức ban hành Nghị định của Chính phủ số 120-CP ngày 17 tháng 9 năm 1994 ban hành quy chế tạm thời về việc phát hành trái phiếu, cổ phiếu doanh nghiệp nhà nước và Nghị định này
có hiệu lực từ ngày 01 tháng 10 năm 1994 Vậy là từ lúc Hiến pháp 1992 cho phép phát triển kinh tế với nhiều thành phần, thì mãi đến năm 1994 mới có quy định về phát hành trái phiếu
Có thể nhận thấy từ chính tên gọi của Nghị định số 120-CP, đó là “quy chế tạm thời” và “việc phát hành trái phiếu, cổ phiếu doanh nghiệp nhà nước”, hai cụm
từ này đã thể hiện được phần nào nội dung và mục đích ban hành Nghị định số
120-CP năm 1994, trong đó nổi bật đối tượng được quy định phát hành bấy giờ chỉ có doanh nghiệp nhà nước Đây có thể là bước đi cẩn thận, “chậm mà chắc” mà Chính phủ đưa ra nhằm thử nghiệm những quy định đầu tiên về chứng khoán Vì thị trường chứng khoán lúc này đối với Việt Nam còn xa lạ, và chúng ta vẫn chưa có
Trang 14kinh nghiệm trong việc quản lý các doanh nghiệp có nguồn vốn tư nhân Đồng thời Nhà nước quản lý các doanh nghiệp nhà nước sẽ dễ hơn các doanh nghiệp có nguồn vốn tư nhân Lúc này, các doanh nghiệp nhà nước đóng vai trò là hình mẫu cho việc phát hành trái phiếu Những doanh nghiệp đi đầu bao gồm: Nhà máy Xi măng Anh Sơn và Công ty Xi măng Hoàng Thạch, Công ty Thép Miền Nam (ba doanh nghiệp đầu tiên phát hành trái phiếu tính từ thời điểm Nghị định số 120-CP có hiệu lực đến năm 1997)
Bên cạnh những thành công ban đầu trong việc phát hành trái phiếu trong nước để huy động vốn, việc huy động vốn từ việc phát hành trái phiếu ra thị trường quốc tế cũng được cụ thể hóa trong Nghị định số 23-CP do Chính phủ ban hành vào năm 1995 Tuy nhiên thực tế rằng chưa có doanh nghiệp nhà nước nào có thể phát hành trái phiếu theo Nghị định này Nguyên nhân chính là vì thời điểm bấy giờ, Việt Nam có định mức tín nhiệm rất thấp trên thị trường quốc tế nên mức bù rủi ro đối với trái phiếu ở Việt Nam rất cao, dẫn đến chi phí phát hành vượt quá khả năng của các doanh nghiệp trong nước
Giai đoạn 1994 – 2006 với những bước đi thăm dò này còn chứng khiến những sự đột phá cho thị trường chứng khoán, với việc công ty chứng khoán đầu tiên là Công ty cổ phần Chứng khoán Bảo Việt được thành lập vào năm 1999 Đặc biệt là việc đi vào hoạt động của Trung tâm giao dịch chứng khoán thành phố Hồ Chí Minh vào năm 2000 và Trung tâm giao dịch chứng khoán Hà Nội vào năm
2005 là những chất xúc tác mang tính quyết định cho sự phát triển mạnh mẽ của thị trường trái phiếu doanh nghiệp nói riêng thị trường chứng khoán nói chung
1.1.3 Giai đoạn từ năm 2006 đến nay
Giai đoạn từ năm 2006 đến nay đối với phát hành trái phiếu doanh nghiệp gồm có ba giai đoạn nhỏ: 2006 – 2011, 2011 – 2018, 2018 đến nay Năm 2006 là năm quan trọng cho cả thị trường chứng khoán và thị trường trái phiếu doanh nghiệp Ngày 29 tháng 6 năm 2006, Quốc hội thông qua Luật Chứng khoán số 70/2006/QH11 và có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 01 năm 2007 Đây là bước tiến quan trọng, lần đầu tiên tại nước ta chứng khoán được quy định trong một luật riêng Cùng với đó, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 52/2006/NĐ-CP vào ngày
19 tháng 5 năm 2006 quy định về Phát hành trái phiếu doanh nghiệp có hiệu lực kể
từ ngày 01 tháng 7 năm 2006, Nghị định này thay thế cho Nghị định số 120-CP năm
1994 Đến thời điểm này, trái phiếu doanh nghiệp và phát hành trái phiếu doanh
Trang 15nghiệp được quy định rất cụ thể trong cả luật và nghị định riêng Những quy định chi tiết, chặt chẽ hơn rất nhiều quy định của Nghị định số 120-CP năm 1994, đồng thời mở rộng chủ thể phát hành trái phiếu doanh nghiệp hơn, không còn chỉ nằm trong các doanh nghiệp nhà nước nữa
Trong năm 2007, ngoài những gương mặt cũ trong phát hành trái phiếu doanh nghiệp, các ngân hàng thương mại và các công ty cổ phần lớn cũng bắt đầu tham gia vào thị trường trái phiếu: BIDV, Ngân hàng Thương mại cổ phần Sài Gòn (SCB), Ngân hàng Thương mại cổ phần Á Châu, Techcombank Một số doanh nghiệp dù mới thành lập nhưng cũng huy động vốn thông qua phát hành trái phiếu như: Công ty cổ phần Vincom phát hành 1.000 tỷ đồng, Công ty cổ phần Địa ốc Sài Gòn Thương tín (Sacomreal) phát hành 1.000 tỷ đồng, Công ty cổ phần Thủy sản Minh Phú phát hành 500 tỷ đồng.2
Đến năm 2009, thị trường trái phiếu doanh nghiệp Việt Nam đã đánh dấu một bước phát triển mới, lần đầu tiên một doanh nghiệp Việt Nam phát hành trái phiếu ra thị trường quốc tế, là Công ty cổ phần Vincom phát hành thành công 100 triệu USD trái phiếu chuyển đổi quốc tế vào giữa tháng 11 năm 2009 và được niêm yết trái phiếu trên Sàn giao dịch chứng khoán Singapore Đây thực sự là một cột mốc quan trọng, bởi vì từ khi pháp luật quy định lần đầu tiên về phát hành trái phiếu
ra thị trường quốc tế năm 1995, phải đến năm 2009 mới có một doanh nghiệp tại Việt Nam làm được điều này Thông qua đó thể hiện sự tín nhiệm của thị trường quốc tế đối với Việt Nam, tạo tiền đề và kinh nghiệm phát hành cho các doanh nghiệp tại Việt Nam Đến năm 2010, thị trường trái phiếu doanh nghiệp tiếp tục thành công trong phát hành, tổng giá trị trong năm đạt 47.000 tỷ đồng, tăng 76% so với năm 2009 Trong đó, trái phiếu của các doanh nghiệp sản xuất, thương mại và bất động sản chiếm 55%; các ngân hàng thương mại chiếm khoảng 45% tỷ trọng.3
Đến năm 2010, Quốc hội ban hành Luật số 62/2010/QH12 Luật Sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Chứng khoán ngày 24 tháng 11 năm 2010 và có hiệu lực vào ngày 01 tháng 7 năm 2011 để phù hợp với sự phát triển chóng mặt của thị trường chứng khoán và để đối phó với khủng hoảng kinh tế lúc bấy giờ Tuy nhiên thị trường trái phiếu doanh nghiệp lại tỏ ra lép vế hẳn so với cổ phiếu và trái phiếu
2 TS Trần Anh Tú (2008), “Thực trạng thị trường trái phiếu doanh nghiệp Việt Nam hiện nay”, Tạp chí kinh
tế và phát triển, tr 22 – tr 26
3 Nguyễn Thị Huế (2013), Pháp luật phát hành trái phiếu của Ngân hàng thương mại ở Việt Nam, Luận văn
thạc sĩ Luật học, Khoa Luật – Đại học Quốc gia Hà Nội, Hà Nội
Trang 16Chính phủ Năm 2011, Chính phủ phải tiếp tục hoàn thiện pháp luật về phát hành trái phiếu doanh nghiệp bằng việc ban hành Nghị định số 90/2011/NĐ-CP Nghị định về Phát hành trái phiếu doanh nghiệp có hiệu lực từ ngày 01 tháng 12 năm
2011 Nghị định số 90/2011/NĐ-CP nới lỏng nhiều điều kiện khắt khe trong phát hành trái phiếu trong Nghị định số 52/2006/NĐ-CP với mục đích quan trọng nhất là nhằm phát triển cả thị trường sơ cấp và thứ cấp của trái phiếu doanh nghiệp
Trong những năm gần đây, đặc biệt là trong hai năm 2017 và năm 2018, số lượng doanh nghiệp phát hành trái phiếu có xu hướng giảm về số lượng, chỉ còn lại những công ty hoặc những tập đoàn lớn, tên tuổi và đã từng phát hành trái phiếu Năm 2017 các doanh nghiệp tham gia phát hành trái phiếu: Công ty cổ phần Tập đoàn Đầu tư Địa ốc Nova phát hành 10.000.000 trái phiếu với mệnh giá 100.000 đồng với mỗi trái phiếu, lãi suất 10,9% với kỳ hạn 02 năm; Công ty cổ phần Tập đoàn Masan phát hành 30.000.000 trái phiếu với mệnh giá 100.000 đồng mỗi trái phiếu, lãi suất 9% trong kỳ hạn 02 năm; Tập đoàn VINGROUP – Công ty cổ phần phát hành 2 đợt trái phiếu trong năm 2017 với tổng số lượng là 36.000.000 trái phiếu, mệnh giá 100.000 đồng với kỳ hạn 02 năm; Công ty cổ phần Đầu tư Hạ tầng
Kỹ thuật thành phố Hồ Chí Minh 5.000.000 trái phiếu trong hai đợt, mỗi đợt với lãi suất khác nhau là 10,5% và 8%, kỳ hạn 02 năm Qua năm 2018, ba doanh nghiệp phát hành trái phiếu nổi bật được niêm yết trên Sở giao dịch chứng khoán thành phố
Hồ Chí Minh là Công ty cổ phần Vinhomes, Công ty cổ phần Giáo dục Thành Thành Công, Tổng Công ty Phát triển đô thị Kinh Bắc – Công ty cổ phần và Công
ty cổ phần Đầu tư và phát triển Đô thị Sài Đồng với số lượng trái phiếu lớn và lãi suất cao, trong đó Công ty cổ phần Đầu tư và phát triển đô thị Sài Đồng phát hành trái phiếu với kỳ hạn lên đến 30 năm.4
Năm 2018 còn được coi là năm bùng nổ đầu tư trái phiếu doanh nghiệp, khi
mà giá trị giao dịch trái phiếu đạt đến 36.588 tỷ đồng trong năm 2018 Các tổ chức ngân hàng và các công ty chứng khoán trở thành những kênh phân phối hiệu quả, thị trường trái phiếu thứ cấp trở nên sôi động, đặc biệt là sự quan tâm của các nhà đầu tư trái phiếu là các ngân hàng thương mại.5 Đây là một trong những điều kiện quan trọng để thị trường trái phiếu phát triển bền vững, không còn phụ thuộc nhiều vào các yếu tố khách quan đến thị trường trái phiếu
Trang 17Tính đến thời điểm 2018, thị trường trái phiếu tại Việt Nam đã phát triển toàn diện kể cả phát hành trái phiếu trong nước, phát hành trái phiếu ra thị trường quốc tế, thị trường trái phiếu thứ cấp cũng phát triển, cả doanh nghiệp phát hành và nhà đầu tư trái phiếu đều đã có những kiến thức và kinh nghiệm nhất định trong phát hành, hoạt động đầu tư, định mức tín nhiệm của Việt Nam trên thị trường quốc
tế cũng cải thiện đáng kể Nghị định số 163/2018/NĐ-CP được ban hành vào ngày
04 tháng 12 năm 2018 và có hiệu lực vào ngày 01 tháng 02 năm 2019 trở thành một bước đi mới và kịp thời của Chính phủ trong hoàn cảnh thị trường trái phiếu doanh nghiệp Việt Nam đã đạt được những thành công ban đầu nhằm ủng hộ và tiếp tục cải thiện thị trường trái phiếu doanh nghiệp nói chung và phát hành trái phiếu doanh nghiệp nói riêng phát triển tương xứng với tiềm năng của thị trường này
1.2 Khái niệm và đặc điểm về phát hành trái phiếu doanh nghiệp
Trái phiếu doanh nghiệp, cũng như trái phiếu đều mang những khái niệm và đặc điểm chung Trong đó, những khái niệm và đặc điểm mang tính bản chất chính
là những điểm khác biệt cơ bản nhất để phân biệt trái phiếu doanh nghiệp với các loại trái phiếu khác và chứng khoán nói chung
Trong trái phiếu doanh nghiệp cũng được chia thành nhiều loại trái phiếu tương ứng với mục đích phát hành, đặc điểm trái phiếu Vì vậy khái niệm và đặc điểm của trái phiếu là những nội dung cơ bản nhất nhưng rất quan trọng đối với trái phiếu doanh nghiệp và phát hành trái phiếu doanh nghiệp
1.2.1 Khái niệm phát hành trái phiếu doanh nghiệp
Chứng khoán là bằng chứng xác nhận quyền và lợi ích hợp pháp của người
sở hữu đối với tài sản hoặc phần vốn của tổ chức phát hành “Chứng khoán được thể hiện dưới hình thức chứng chỉ, bút toán ghi sổ hoặc giữ liệu điện tử, bao gồm các loại sau đây:
- Cổ phiếu, trái phiếu, chứng chỉ quỹ;
- Quyền mua cổ phần, chứng quyền, quyền chọn mua, quyền chọn bán, hợp đồng tương lại, nhóm chứng khoán hoặc chỉ số chứng khoán;
- Hợp đồng góp vốn đầu tư;
Trang 18- Các loại chứng khoán khác do Bộ Tài chính quy định.”6
Trong đó, trái phiếu là loại chứng khoán xác nhận quyền và lợi ích hợp pháp của người sở hữu đối với một phần vốn nợ của tổ chức phát hành Khác với hầu hết các loại chứng khoán cổ điển khác, trái phiếu không xác nhận quyền và lợi ích hợp pháp đối với phần vốn góp của tổ chức phát hành Cũng vì trái phiếu là chứng khoán nợ, tổ chức phát hành và nhà đầu tư sở hữu trái phiếu đều phát sinh những quyền và lợi ích theo hướng chủ nợ - con nợ
Trái phiếu phát hành kèm theo chứng quyền là loại trái phiếu được công ty
cổ phần phát hành kèm theo chứng quyền Trong đó chứng quyền là loại chứng khoán phái sinh cho phép nhà đầu tư sở hữu chứng khoán được quyền mua một số
cổ phiếu phổ thông nhất định theo điều kiện, điều khoản đã được xác định trước
Trái phiếu chuyển đổi là loại trái phiếu do công ty cổ phần phát hành, có thể chuyển đổi thành cổ phiếu phổ thông của doanh nghiệp phát hành theo điều kiện, điều khoản đã được xác định trong phương án phát hành trái phiếu.7
Trái phiếu doanh nghiệp là loại chứng khoán có kỳ hạn từ 01 năm trở lên do doanh nghiệp phát hành, xác nhận nghĩa vụ trả nợ gốc, lãi và các nghĩa vụ khác (nếu có) của doanh nghiệp đối với nhà đầu tư sở hữu trái phiếu So với phần giải thích từ ngữ về trái phiếu doanh nghiệp của Nghị định số 90/2011/NĐ-CP do Chính phủ ban hành ngày 14 tháng 10 năm 2011, thì Nghị định số 163/2018/NĐ-CP do Chính phủ ban hành ngày 04 tháng 12 năm 2018 quy định về phát hành trái phiếu doanh nghiệp nêu rõ kỳ hạn của trái phiếu doanh nghiệp trong phần giải thích từ ngữ, điều này làm tăng thêm sự chi tiết cho khái niệm của trái phiếu Ngoài ra, Nghị định số 163/2018/NĐ-CP đã thay thế cụm từ “người sở hữu trái phiếu” bằng “nhà đầu tư sở hữu trái phiếu” (Nghị định số 163/2018/NĐ-CP thay thế cho Nghị định số 90/2011/NĐ-CP)
Phát hành chứng khoán là hoạt động chào bán chứng khoán để thu hút vốn, nhằm thỏa mãn nhu cầu về vốn của chủ thể phát hành.8 Phát hành chứng khoán là một cách thức rất phổ biến để doanh nghiệp huy động vốn chủ sở hữu hoặc vốn nợ
6 Khoản 1 Điều 6 Luật Chứng khoán năm 2006 được sửa đổi, bổ sung bởi Luật Sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Chứng khoán 2010 do Quốc hội ban hành quy định về Giải thích từ ngữ
7 Khoản 4 Điều 4 Nghị định số 163/2018/NĐ-CP do Chính phủ ban hành ngày 04 tháng 12 năm 2018 quy
định về phát hành trái phiếu doanh nghiệp
8 Nguyễn Văn Tuyến, Lê Đình Vinh, Nguyễn Thị Ánh Vân, Nguyễn Đức Ngọc, Phạm Nguyệt Thảo (2011),
Giáo trình Luật Chứng khoán, Nhà xuất bản Giáo Dục Việt Nam, Hà Nội
Trang 19Cùng với phát hành chứng khoán, còn có những thuật ngữ liên quan như chào bán chứng khoán ra công chúng, chào bán chứng khoán riêng lẻ
Chào bán chứng khoán ra công chúng là việc chào bán chứng khoán chứng khoán, mà theo quy định của Luật Chứng khoán hiện hành, thì chào bán chứng khoán ra công chúng được thể hiện qua một trong ba hình thức sau khi chào bán: Thông qua phương tiện thông tin đại chúng, kể cả Internet; Chào bán chứng khoán cho từ một trăm nhà đầu tư trở lên, không kể nhà đầu tư chứng khoán chuyên nghiệp Chào bán cho một số lượng nhà đầu tư không xác định.9
Chào bán chứng khoán riêng lẻ là việc tổ chức chào bán chứng khoán cho dưới một trăm nhà đầu tư, không kể nhà đầu tư chứng khoán chuyên nghiệp và không sử dụng phương tiện thông tin đại chúng hoặc Internet.10
Phát hành trái phiếu doanh nghiệp là việc doanh nghiệp (công ty cổ phần và công ty trách nhiệm hữu hạn) đưa trái phiếu ra thị trường bằng khả năng của mình hoặc qua các tổ chức trung gian Phát hành trái phiếu của doanh nghiệp là một hình thức huy động vốn bằng việc phát hành chứng khoán nợ, thông qua việc phát hành trái phiếu mà chủ thể phát hành là con nợ và nhà đầu tư sở hữu trái phiếu là chủ nợ Khái niệm này của phát hành trái phiếu doanh nghiệp đã khái quát được phần nào đặc điểm của phát hành trái phiếu doanh nghiệp
1.2.2 Đặc điểm phát hành trái phiếu doanh nghiệp
Trái phiếu doanh nghiệp có đôi nét tương đồng về đặc điểm so với trái phiếu Chính phủ và trái phiếu chính quyền địa phương, song những đặc điểm này chủ yếu xuất phát từ bản chất của trái phiếu, trong đó hai nội dung chủ yếu là trái phiếu là chứng khoán nợ và mục đích phát hành để huy động vốn Tuy nhiên, trái phiếu doanh nghiệp có nhiều đặc điểm riêng cũng xuất phát từ những đặc điểm chung của một loại chứng khoán nợ nhưng có nhiều điểm khác biệt về chủ thể phát hành, quyền lợi của nhà đầu tư sở hữu trái phiếu, mục đích phát hành, cụ thể:
Trái phiếu là chứng khoán nợ hay một loại giấy ghi nợ, thể hiện quyền lợi của chủ nợ hay nhà đầu tư sở hữu trái phiếu đối với tổ chức phát hành Nhà đầu tư
Trang 20sở hữu trái phiếu được hưởng lãi không phụ thuộc vào kết quả sản xuất kinh doanh của tổ chức phát hành Căn cứ vào mức độ uy tín của tổ chức phát hành trái phiếu, hiệu quả của dự án đầu tư và tình hình tài chính – tiền tệ, doanh nghiệp phát hành trái phiếu quyết định lãi suất cho từng đợt phát hành Lãi suất của trái phiếu có thể được xác định cố định cho cả kỳ hạn hoặc thả nổi trên thị trường
Tiền lãi được trả cho nhà đầu tư sở hữu trái phiếu được khấu trừ khi tính thu nhập chịu thuế của công ty nếu đáp ứng các quy định tại Điều 9 Luật Thuế Thu nhập doanh nghiệp hiện hành.11
Trái phiếu thể hiện mối quan hệ giữa chủ nợ với con nợ, giữa tổ chức phát hành và nhà đầu tư trái phiếu Phát hành trái phiếu là đi vay còn nhà đầu tư trái phiếu là chủ nợ, vì vậy nhà đầu tư sở hữu trái phiếu không được tham gia vào hoạt động của doanh nghiệp, mà có các quyền lợi và nghĩa vụ được quy định trong Luật Phá sản 2014, đặc biệt là khi công ty bị phá sản, nhà đầu tư sở hữu trái phiếu được
ưu tiên trả trước cổ đông
Ngoài các đặc điểm chung của trái phiếu doanh nghiệp, công ty cổ phần có quyền phát hành trái phiếu chuyển đổi và trái phiếu kèm theo chứng quyền Trái phiếu chuyển đổi là loại trái phiếu có thể chuyển đổi thành cổ phiếu phổ thông của doanh nghiệp phát hành Trái phiếu kèm theo chứng quyền là loại trái phiếu phát hành kèm theo chứng quyền cho phép nhà đầu tư sở hữu trái phiếu được quyền mua một số cổ phiếu phổ thông nhất định Vì hai loại trái phiếu này đều phát sinh các quyền liên quan đến cổ phiếu của nhà đầu tư sở hữu trái phiếu đối với tổ chức phát hành, nên chỉ có công ty cổ phần mới có quyền phát hành hai loại trái phiếu này Trái phiếu doanh nghiệp có thể chia thành nhiều loại khác nhau tùy thuộc vào căn
cứ phân chia, bao gồm các căn cứ vào chủ thể phát hành trái phiếu, việc đảm bảo khả năng chi trả của trái phiếu, cách ghi lãi suất trên trái phiếu, tính mua lại hay không của trái phiếu và khả năng chuyển đổi của trái phiếu
Dựa vào việc đảm bảo khả năng chi trả của trái phiếu thì trái phiếu chia thành: trái phiếu có bảo đảm; trái phiếu không có bảo đảm
11 Điều 9 Luật Thuế thu nhập doanh nghiệp 2013 sửa đổi, bổ sung bởi Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của các luật về thuế 2014 quy định về Các khoản chi được trừ và không được trừ khi xác định thu nhập chịu thuế
Trang 21Dựa vào cách ghi lãi suất trên trái phiếu thì trái phiếu chia thành: trái phiếu lãi suất thả nổi; trái phiếu có lãi suất cố định; hoặc kết hợp giữa lãi suất cố định và thả nổi
Dựa vào khả năng chuyển đổi của trái phiếu thì chia thành: trái phiếu có khả năng chuyên đổi; trái phiếu không chuyển đổi
Tuy nhiên, các loại hình trái phiếu được quy định trong pháp luật Việt Nam lại được chia thành:
Trái phiếu không chuyển đổi: Là trái phiếu có bảo đảm hoặc trái phiếu không
có bảo đảm, trái phiếu kèm theo chứng quyền hoặc trái phiếu không kèm theo chứng quyền.12 Công ty trách nhiệm hữu hạn và công ty cổ phần đều có quyền phát hành trái phiếu không chuyển đổi, riêng với công ty cổ phần có quyền phát hành trái phiếu không chuyển đổi kèm theo chứng quyền Theo đó trái phiếu không chuyển đổi không có khả năng chuyển đổi thành cổ phiếu
Trái phiếu chuyển đổi: là loại trái phiếu do công ty cổ phần phát hành, có thể chuyển đổi thành cổ phiếu phổ thông của doanh nghiệp phát hành theo điều kiện, điều khoản đã được xác định trong phương án phát hành trái phiếu.13 Khi doanh nghiệp phát hành trái phiếu chuyển đổi, trái phiếu chuyển đổi cũng giống như một loại trái phiếu thông thường, tuy nhiên mức lãi suất thường thấp hơn do trái phiếu
có thể chuyển đổi thành cổ phiếu, bản thân khả năng chuyển đổi đã hấp dẫn nhà đầu
tư, nhà đầu tư sẽ được hưởng lợi từ việc tăng giá của cổ phiếu được chuyển đổi Đến thời hạn chuyển đổi, nhà đầu tư không muốn chuyển đổi thì trái phiếu chuyển đổi sẽ được xử lý như trái phiếu thông thường (được hoàn trả cả gốc và lãi ghi trên trái phiếu) Nếu công ty cổ phần làm ăn kém hiệu quả, trái phiếu không có khả năng chuyển đổi, nhà đầu tư sẽ chỉ nhận được khoản lợi tức từ trái phiếu
Việc phát hành trái phiếu chuyển đổi đối với công ty cổ phần mang lại những
ưu điểm như: chi phí phát hành và lãi suất phải trả thấp hơn so với phát hành trái phiếu thông thường và lãi suất từ ngân hàng, điều này cũng đồng nghĩa với việc giảm rủi ro đối với tổ chức phát hành; tăng vốn cổ phần của công ty trong thời gian tương lai nếu hoạt động đầu tư kinh doanh của công ty có hiệu quả; công ty cổ phần
12 Điểm a khoản 1 Điều 6 Nghị định số 163/2018/NĐ-CP do Chính phủ ban hành ngày 04 tháng 12 năm 2018
quy định về phát hành trái phiếu doanh nghiệp
13 Khoản 4 Điều 4 Nghị định số 163/2018/NĐ-CP do Chính phủ ban hành ngày 04 tháng 12 năm 2018 quy
định về phát hành trái phiếu doanh nghiệp
Trang 22có thể chủ động hơn trong việc kiểm soát giá cổ phiếu, số lượng cổ phiếu trên thị trường, tình hình về số lượng cổ đông; hấp dẫn các nhà đầu tư mua trái phiếu và làm cho thị trường trái phiếu thứ cấp sôi động
Tuy nhiên, việc phát hành trái phiếu chuyển đổi cũng có những nhược điểm như: việc thay đổi số lượng cổ đông của công ty cổ phần có thể thay đổi việc kiểm soát công ty, vốn chủ sở hữu bị “pha loãng” do tăng số cổ phiếu lưu hành và cổ đông, cũng làm cho mỗi cổ phần sẽ có tỉ lệ sở hữu trong công ty thấp hơn, đòi hỏi công ty cổ phần phải có sự tính toán cẩn thận; việc lãi suất thấp của trái phiếu chuyển đổi, cũng như thời điểm trái phiếu chuyển đổi sang cổ phiếu cũng làm giảm chi phí trả lãi, tức là làm tăng thu nhập chịu thuế của công ty, công ty sẽ phải trả thuế nhiều hơn Và những nhược điểm mà trái phiếu chuyển đổi mang lại cũng là những ưu điểm của việc phát hành trái phiếu không chuyển đổi
1.3 Mục đích, vai trò và ý nghĩa của phát hành trái phiếu doanh nghiệp
Hầu hết mọi hoạt động đều có mục đích, vai trò và ý nghĩa Đặc biệt là với phát hành trái phiếu doanh nghiệp, vì hoạt động này liên quan trực tiếp đến sự tồn vong và phát triển của doanh nghiệp, rộng hơn nữa là với nền kinh tế và sự phát triển chung của đất nước
Trong đó, mục đích phát hành trái phiếu là nội dung vô cùng quan trọng và được quy định cụ thể trong nghị định, vì mục đích phát hành trái phiếu là yếu tố ban đầu nhưng rất quan trọng, ảnh hưởng đến sự thành công của đợt phát hành
1.3.1 Mục đích phát hành trái phiếu doanh nghiệp
Phát hành chứng khoán nói chung đều có một số mục đích nhất định Trong
đó, mục đích huy động vốn nhằm thực hiện các chương trình, dự án đầu tư của doanh nghiệp và tăng quy mô vốn của doanh nghiệp là hai mục đích chính đối với phát hành chứng khoán Tuy nhiên, đối với phát hành cổ phiếu và một số loại chứng khoán khác có mục đích phát hành đặc thù như kiếm lợi nhuận từ các khoản đầu tư,
mở rộng quy mô, danh tiếng của doanh nghiệp,… Trong trái phiếu, mặc dù đều là chứng khoán nợ, nhưng mục đích phát hành trái phiếu doanh nghiệp và mục đích phát hành trái phiếu Chính phủ, trái phiếu chính quyền địa phương lại khác nhau Trái phiếu Chính phủ và trái phiếu chính quyền địa phương phát hành nhằm mục
Trang 23đích cân đối ngân sách, tài trợ cho các dự án xây dựng cơ sở hạ tầng và được đảm bảo bằng ngân sách quốc gia hoặc ngân sách địa phương
Mục đích phát hành trái phiếu doanh nghiệp là một trong những nội dung cực kì quan trọng đối với phát hành trái phiếu doanh nghiệp Thậm chí, mục đích phát hành trái phiếu là nội dung quan trọng trong điều kiện phát hành trái phiếu, phương án phát hành trái phiếu, công bố thông tin trước đợt phát hành trái phiếu và
là trách nhiệm mà doanh nghiệp phải phân bổ, quản lý, sử dụng vốn Mục đích phát hành trái phiếu doanh nghiệp được quy định cụ thể trong Điều 3 Nghị định số 90/2011/NĐ-CP đã hết hiệu lực và không được quy định cụ thể trong Nghị định số 163/2018/NĐ-CP đang có hiệu lực Theo Nghị định số 90/2011/NĐ-CP, mục đích phát hành trái phiếu với ba nội dung chính: Thực hiện các chương trình, dự án đầu
tư của doanh nghiệp, tăng quy mô vốn hoạt động của doanh nghiệp, cơ cấu lại các khoản nợ của doanh nghiệp
Trong hai mục đích đầu tiên của phát hành trái phiếu doanh nghiệp, thực hiện các chương trình, dự án đầu tư của doanh nghiệp và tăng quy mô vốn hoạt động của doanh nghiệp là những đặc điểm chung của mục đích phát hành chứng khoán Tại mục đích cơ cấu lại các khoản nợ của doanh nghiệp, đây là mục đích đặc thù của trái phiếu doanh nghiệp và cũng là mục đích rất quan trọng của phát hành trái phiếu doanh nghiệp và được quy định chi tiết hơn trong Nghị định số 163/2018/NĐ-CP Mục đích cơ cấu lại nợ được thực hiện khi doanh nghiệp phát hành mua lại trái phiếu trước hạn quy định tại Điều 7 Nghị định số 163/2018/NĐ-
CP
1.3.2 Vai trò phát hành trái phiếu doanh nghiệp
Nhu cầu về vốn của doanh nghiệp là rất lớn, đặc biệt là trong thời kỳ bùng nổ
về khởi nghiệp, yêu cầu về đa dạng hóa các hình thức huy động vốn và nguồn vốn càng được đặt ra Với kỳ hạn thanh toán dài mà áp lực trả nợ thấp, nhà đầu tư sở hữu trái phiếu không phát sinh vai trò sở hữu vốn và tài sản của doanh nghiệp, đồng thời chủ thể phát hành trái phiếu được chủ động trong vấn đề xác định lãi suất cũng như kỳ hạn trả nợ cùng những ưu điểm khác khiến cho trái phiếu Trái phiếu doanh nghiệp vì thế mà giữ một vai trò quan trọng không chỉ cho doanh nghiệp phát hành,
mà còn cho cả nền kinh tế và các nhà đầu tư
Trang 24Đối với nền kinh tế: Phát hành trái phiếu của doanh nghiệp là một trong
những kênh huy động vốn có khả năng thu hút nguồn vốn nhàn rỗi trong nhân dân sang những chủ thể thật sự cần vốn, vốn được sử dụng vào các hoạt động đầu tư, sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp, từ đó góp phần thúc đẩy sự phát triển của nền kinh tế
Phát hành trái phiếu góp phần đa dạng hóa các công cụ tài chính Bên cạnh
cổ phiếu với mức độ rủi ro cao, trái phiếu được xem là kênh đầu tư an toàn và hiệu quả cao trong đầu tư trung và dài hạn
Đối với doanh nghiệp: Việc phát hành trái phiếu giúp cho doanh nghiệp có
được một nguồn vốn ổn định, lâu dài mà lãi suất thấp hơn so với việc vay vốn ngắn hạn tại ngân hàng Nguồn vốn huy động từ việc phát hành trái phiếu không bị bó buộc quá nhiều bởi quy mô đầu tư, mà doanh nghiệp chỉ cần có những điều kiện cơ bản như phương án sử dụng vốn, tính khả thi của phương án và đảm bảo khả năng thanh toán lãi và gốc cho nhà đầu tư
Doanh nghiệp phát hành trái phiếu hoàn toàn chủ động trong việc quyết định
kỳ hạn, lãi suất, nhu cầu vốn, khả năng kinh doanh của từng đợt phát hành cũng như các hoạt động sử dụng vốn
Trái phiếu mang tính ổn định và ít mang rủi ro hơn cổ phiếu, việc trả lãi suất cho nhà đầu tư không phụ thuộc vào tình hình sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp, khi doanh nghiệp bị phá sản thì nhà đầu tư sẽ được ưu tiên thanh toán trước
cổ đông Điều này sẽ thu hút những nhà đầu tư tham gia vào thị trường trái phiếu
Hơn thế, đối với các công ty cổ phần, việc huy động vốn từ việc phát hành chứng khoán là hoạt động diễn ra rất phổ biến Nhưng khi các công ty cổ phần phát hành cổ phiếu, đồng nghĩa với việc công ty cổ phần sẽ mở rộng quyền sở hữu công
ty cho các cổ đông, đồng thời phải trả cổ tức theo hiệu quả kinh doanh cho các nhà đầu tư Vì thế, trong một số trường hợp nhất định, các công ty cổ phần không muốn phát hành cổ phiếu, thì phát hành trái phiếu trở thành sự lựa chọn tối ưu (trừ trái phiếu chuyển đổi, trái phiếu phát hành kèm chứng quyền)
Đối với nhà đầu tư: tuy trái phiếu không mang lại lợi nhuận cao cho nhà đầu
tư như cổ phiếu, nhưng trái phiếu ít mang lại rủi ro hơn Có nhiều loại trái phiếu
Trang 25khác nhau, vì vậy nhà đầu tư có thể lựa chọn cho mình phương án đầu tư phù hợp nhất
Trái phiếu thường có thời hạn nhất định, khi hết thời hạn được ghi trên trái phiếu thì nhà đầu tư sẽ được thanh toán cả gốc và lãi Thu nhập từ trái phiếu là tiền lãi và đây là khoản thu nhập cố định không phụ thuộc vào tình hình sản xuất của tổ chức phát hành trái phiếu Khi bị phá sản thì nhà đầu tư được ưu tiên thanh toán nợ
và trình tự thủ tục thực hiện theo quy định của Luật Phá sản 2014
Ngoài ra, đối với “trái phiếu doanh nghiệp xanh”, một thuật ngữ mới trong thị trường trái phiếu Việt Nam còn thể hiện vai trò và trách nhiệm của doanh nghiệp trong hoạt động bảo vệ môi trường Loại trái phiếu đặc biệt này nhằm để đáp ứng cho hoạt động bảo vệ môi trường mà các hoạt động này thường không được các doanh nghiệp quan tâm do chi phí cao, khả năng thu hồi vốn thấp Trước đây, doanh nghiệp muốn thực hiện các dự án bảo vệ môi trường thường rất khó tìm kênh huy động vốn phù hợp Trái phiếu xanh không chỉ giúp các doanh nghiệp phát hành trái phiếu có thể huy động vốn vào các dự án bảo vệ môi trường, hoạt động có thể nói là mang lại ý nghĩa cộng đồng hơn là giúp doanh nghiệp huy động vốn để sản xuất và kinh doanh Đồng thời, việc quy định về trái phiếu xanh cũng đòi hỏi doanh nghiệp phải có những dự án cụ thể cho hoạt động sử dụng vốn huy động được để bảo vệ môi trường, điều này cũng làm tăng trách nhiệm và sự quan tâm của doanh nghiệp,
vì ngoài phải tuân thủ các quy định về phát hành trái phiếu, doanh nghiệp còn phải làm sao để thu hút nhà đầu tư
1.3.3 Ý nghĩa phát hành trái phiếu doanh nghiệp
Phát hành chứng khoán, cũng như phát hành trái phiếu doanh nghiệp mang lại ý nghĩa quan trọng không chỉ với nền kinh tế, mà còn mang lại ý nghĩa rất quan trọng trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước để tiến lên chủ nghĩa
xã hội Pháp luật về chứng khoán và phát hành chứng khoán ra đời là một trong
những yếu tố cực kỳ quan trọng từ để giúp chủ trương “phát triển nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần theo cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước, theo định hướng xã hội chủ nghĩa”14 được thực hiện
Phát hành chứng khoán, phát hành trái phiếu doanh nghiệp và pháp luật quy định về hoạt động phát hành mang lại ý nghĩa sống còn cho doanh nghiệp Hầu hết
14 Hiến pháp nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam năm 1992
Trang 26doanh nghiệp hoạt động kinh doanh luôn có nhu cầu về vốn, doanh nghiệp càng lớn thì nhu cầu huy động vốn càng lớn Đa dạng hóa hình thức huy động vốn, trong đó phát hành chứng khoán, phát hành trái phiếu luôn được các doanh nghiệp đặc biệt quan tâm vì dễ huy động được nguồn vốn nhàn rỗi trong nhân dân hơn nhiều các hình thức huy động vốn khác
Đồng thời, pháp luật về phát hành chứng khoán, phát hành trái phiếu cũng đang được thay đổi dần cho phù hợp với nhu cầu, mục đích và mong muốn của các doanh nghiệp Điều này có ý nghĩa rất lớn trong thời đại mở cửa, và đặc biệt ý nghĩa với các doanh nghiệp mới thành lập, còn non trẻ trong khi đất nước đang trong giai đoạn phát triển công nghiệp 4.0 và hoạt động khởi nghiệp bùng nổ mạnh mẽ trong thời gian gần đây Trong các loại chứng khoán và phát hành chứng khoán, mặc dù các doanh nghiệp, nhà đầu tư chứng khoán không quan tâm đến trái phiếu doanh nghiệp nhiều như với cổ phiếu và trái phiếu Chính phủ Nhưng trái phiếu doanh nghiệp lại rất được Nhà nước quan tâm và luôn là một bài toán hóc búa trong việc phát triển trái phiếu doanh nghiệp Chính phủ rất ưu tiên thay đổi các quy định của trái phiếu doanh nghiệp, chỉ trong khoảng 13 năm, từ năm 2006 đến năm 2019, Chính phủ đã ban hành đến 3 nghị định thay thế nhau để quy định về phát hành trái phiếu doanh nghiệp, bao gồm Nghị định số 52/2006/NĐ-CP, Nghị định số 90/2011/NĐ-CP, Nghị định số 163/2018/NĐ-CP Mà qua mỗi nghị định, quy định pháp luật về phát hành trái phiếu doanh nghiệp lại được nới lỏng, cải cách, bổ sung cho phù hợp với mục đích, vai trò, ý nghĩa và thực trạng phát hành trái phiếu của các doanh nghiệp đã cho thấy ý nghĩa và tầm quan trọng của phát hành trái phiếu doanh nghiệp đối với sự nghiệp phát triển đất nước
Trang 27Chương 2: QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VỀ PHÁT HÀNH
TRÁI PHIẾU DOANH NGHIỆP
2.1 Chủ thể phát hành trái phiếu doanh nghiệp và phương thức phát hành trái phiếu doanh nghiệp
Chủ thể phát hành trái phiếu khá rộng, thậm chí từ chủ thể phát hành còn giúp phân biệt được các loại trái phiếu khác nhau: trái phiếu Chính phủ, trái phiếu chính quyền địa phương và trái phiếu doanh nghiệp Trên thị trường trái phiếu Việt Nam, trái phiếu Chính phủ đóng vai trò rất quan trọng trong thị trường trái phiếu và
cả thị trường chứng khoán Vì vậy chủ thể phát hành trái phiếu là một nội dung rất quan trọng, thậm chí có tác động rất lớn để nhà đầu tư trái phiếu “chọn mặt gửi vàng”
Chủ thể phát hành trái phiếu là công ty trách nhiệm hữu hạn và công ty cổ phần được thành lập và hoạt động theo quy định của pháp luật Việt Nam Tuy nhiên, không phải mọi doanh nghiệp đều có quyền phát hành trái phiếu Một số doanh nghiệp do không đáp ứng được điều kiện phát hành, nhưng cũng có loại doanh nghiệp, vì đặc thù ngành nghề kinh doanh mà chỉ được phát hành cổ phiếu, không được phát hành trái phiếu
2.1.1 Chủ thể phát hành trái phiếu doanh nghiệp
* Công ty trách nhiệm hữu hạn
Công ty trách nhiệm hữu hạn bao gồm công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên và công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên Trong Luật Doanh nghiệp 2014, công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên và công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên không có khái niệm về công ty này, mà chỉ nêu
ra các đặc điểm cơ bản của công ty trách nhiệm hữu hạn Trong đó là quy định về thành viên, chế độ chịu trách nhiệm hữu hạn, đối với công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên thì có thêm nội dung chuyển nhượng vốn góp
Tại khoản 3 Điều 47, khoản 3 Điều 73 Luật Doanh nghiệp 2014 kèm theo quy định tại Điểm a khoản 1 Điều 10 Nghị định số 163/2018/NĐ-CP, có thể thấy công ty trách nhiệm hữu hạn không được quyền phát hành cổ phiếu mà chỉ được phát hành trái phiếu Quy định này phù hợp với đặc điểm của công ty trách nhiệm hữu hạn về số lượng thành viên góp vốn, cũng là một trong các đặc điểm cơ bản
Trang 28nhất để phân biệt công ty trách nhiệm hữu hạn và công ty cổ phần Trong đó, công
ty trách nhiệm hữu hạn chỉ được phát hành trái phiếu thông thường, tức là trái phiếu không chuyển đổi và trái phiếu không kèm theo chứng quyền Điều này phù hợp với quy định công ty trách nhiệm hữu hạn không được phát hành cổ phiếu, vì trái phiếu chuyển đổi và trái phiếu kèm theo chứng quyền đều có thể làm phát sinh cổ phiếu
và các vấn đề liên quan cho doanh nghiệp
Trong phát hành trái phiếu của công ty trách nhiệm hữu hạn, có không ít những doanh nghiệp là doanh nghiệp nhà nước tham gia và còn là một nhân tố rất quan trọng trong phát hành trái phiếu doanh nghiệp và thị trường trái phiếu doanh nghiệp Theo quy định mới của Luật Doanh nghiệp 2014, doanh nghiệp nhà nước là doanh nghiệp do Nhà nước nhắm giữ 100% vốn điều lệ, điều đó đồng nghĩa với việc doanh nghiệp nhà nước chỉ có thể là công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên, từ đây các doanh nghiệp nhà nước không còn nhiều sự lựa chọn để huy động vốn Để phát hành trái phiếu, doanh nghiệp nhà nước phải thực hiện nhiều thủ tục hơn so với doanh nghiệp thông thường vì còn chịu sự điều chỉnh của Luật Quản lý,
sử dụng vốn Nhà nước đầu tư vào sản xuất, kinh doanh tại doanh nghiệp 2014
Công ty cổ phần được quyền phát hành trái phiếu Thậm chí, khác với công
ty trách nhiệm hữu hạn, phát hành trái phiếu của công ty cổ phần còn được quy định thành điều khoản riêng biệt trong Luật Doanh nghiệp 2014 Theo đó, tại khoản 1
Điều 127 Luật Doanh nghiệp 2014 có quy định: “Công ty cổ phần có quyền phát hành trái phiếu, trái phiếu chuyển đổi và các loại trái phiếu khác theo quy định của pháp luật và Điều lệ công ty” Quy định về điều kiện phát hành trái phiếu đối với
doanh nghiệp phát hành phải thanh toán đầy đủ cả gốc và lãi trái phiếu đã phát hành trong 03 năm liên tiếp trước đợt phát hành trái phiếu (thực ra quy định này trong Nghị định số 163/2018/NĐ-CP là quy định chung cho cả công ty trách nhiệm hữu hạn và công ty cổ phần) và thẩm quyền quyết định của Hội đồng quản trị trong phát hành trái phiếu
Trang 29Trong thị trường chứng khoán và phát hành chứng khoán, mặc dù công ty cổ phần ưa thích phát hành cổ phiếu hơn phát hành trái phiếu Tuy nhiên trong thời gian gần đây, rất nhiều công ty cổ phần lớn lại ưa chuộng phát hành trái phiếu và có sức ảnh hưởng không nhỏ đến thị trường trái phiếu Nội dung này sẽ được làm rõ hơn tại Chương 3 của khóa luận
Phát hành trái phiếu của công ty cổ phần còn đáng lưu ý về một loại công ty
cổ phần là công ty đại chúng Mặc dù công ty đại chúng là công ty cổ phần được phát sinh từ phát hành cổ phiếu ra công chúng (Chào bán cổ phiếu ra công chúng;
Có cổ phiếu được niêm yết trên Sở giao dịch chứng khoán hoặc Trung tâm giao dịch chứng khoán; Được ít nhất một trăm nhà đầu tư sở hữu, không kể nhà đầu tư chứng khoán chuyên nghiệp và có vốn điều lệ đã góp từ mười tỷ đồng Việt Nam trở lên), tuy nhiên phát hành trái phiếu của công ty đại chúng cũng phát sinh một số thủ tục riêng, trong đó có quy định về thẩm quyền quyết định phát hành trái phiếu, hạn chế sự chuyển nhượng trái phiếu và quy định về các đợt chào bán trái phiếu chuyển đổi riêng lẻ phải cách nhau ít nhất 6 tháng
Ngoài ra, không phải mọi công ty cổ phần đáp ứng đủ các điều kiện phát hành trái phiếu thì đều được phát hành Quy định đặc biệt về loại công ty cổ phần nhưng không được phát hành trái phiếu là đối với công ty đầu tư chứng khoán Theo đó, công ty đầu tư chứng khoán được tổ chức dưới hình thức công ty cổ phần, tuy nhiên chỉ được phát hành cổ phiếu mà không được phát hành trái phiếu Điều này xuất phát từ bản chất công ty đầu tư chứng khoán là một dạng của quỹ đầu tư chứng khoán, do vậy công ty chỉ được phép huy động vốn chủ sở hữu để kinh doanh chứng khoán chứ không được quyền huy động vốn nợ
2.1.3 Phương thức phát hành trái phiếu doanh nghiệp
Đối với trái phiếu doanh nghiệp, có 04 phương thức phát hành trái phiếu là đấu thầu phát hành trái phiếu, bảo lãnh phát hành trái phiếu, đại lý phát hành trái phiếu và bán trực tiếp cho nhà đầu tư Các phương thức này được quy định rõ ràng hơn trong Nghị định số 90/2011/NĐ-CP đã hết hiệu lực, trong Nghị định số 163/2018/NĐ-CP chỉ còn nội dung liệt kê các phương thức này, trong đó:
Đấu thầu phát hành trái phiếu là phương thức phát hành mà doanh nghiệp phát hành lựa chọn các tổ chức đủ điều kiện trúng thầu mua trái phiếu đáp ứng yêu
Trang 30cầu của doanh nghiệp phát hành.15 Phương thức đấu thầu phát hành trái phiếu ít được các doanh nghiệp lựa chọn, phương thức này được sử dụng phổ biến hơn đối với phát hành trái phiếu Chính phủ và trái phiếu Chính quyền địa phương Hoạt động đấu thầu phát hành trái phiếu nhìn chung có trình tự thủ tục phức tạp mà lại kém an toàn, tiện lợi hơn bảo lãnh phát hành trái phiếu và đại lý phát hành trái phiếu, nên các doanh nghiệp không lựa chọn phương thức này Vì vậy, phương thức đấu thầu trái phiếu Chính phủ luôn được quy định cụ thể trong các văn bản pháp luật, mà mới đây nhất là Luật Quản lý nợ công năm 2017, Thông tư số 111/2018/TT-BTC ngày 15 tháng 11 năm 2018 Thông tư Hướng dẫn phát hành và thanh toán công cụ nợ của Chính phủ tại thị trường trong nước do Bộ Tài chính ban hành, trong khi phương thức đấu thầu trái phiếu doanh nghiệp lại chỉ được quy định chung chung trong Nghị định số 163/2018/NĐ-CP
Bảo lãnh phát hành trái phiếu là phương thức phát hành trái phiếu mà doanh nghiệp phát hành bán trái phiếu thông qua tổ chức bảo lãnh phát hành.16 Các hoạt động bảo lãnh phát hành trái phiếu bao gồm việc cam kết với tổ chức phát hành thực hiện các thủ tục trước khi chào bán trái phiếu, nhận mua một phần hoặc toàn
bộ trái phiếu của tổ chức phát hành để bán lại hoặc mua số trái phiếu còn lại chưa được phân phối hết của tổ chức phát hành hoặc hỗ trợ tổ chức phát hành phân phối trái phiếu ra công chúng Bảo lãnh phát hành trái phiếu là hoạt động được nhiều doanh nghiệp lựa chọn khi phát hành trái phiếu Trong phương thức bảo lãnh phát hành trái phiếu, thì trái phiếu được Chính phủ bảo lãnh có những quy định khác so với trái phiếu bảo lãnh thông thường vì còn áp dụng theo quy định của Luật Quản
lý, sử dụng vốn Nhà nước đầu tư vào sản xuất, kinh doanh tại doanh nghiệp 2014 và Luật Quản lý nợ công 2017
Đại lý phát hành trái phiếu là phương thức phát hành trái phiếu mà doanh nghiệp phát hành ủy thác cho một tổ chức khác thực hiện bán trái phiếu cho các đối tượng mua trái phiếu.17 Vì đặc điểm trên của phương thức đại lý phát hành trái phiếu, các doanh nghiệp lần đầu phát hành trái phiếu thường lựa chọn phương thức này
15 Khoản 6 Điều 2 Nghị định số 90/2011/NĐ-CP do Chính phủ ban hành ngày 14 tháng 10 năm 2011 quy
định về Phát hành trái phiếu doanh nghiệp
16 Khoản 5 Điều 2 Nghị định số 90/2011/NĐ-CP do Chính phủ ban hành ngày 14 tháng 10 năm 2011 quy
định về Phát hành trái phiếu doanh nghiệp
17 Khoản 7 Điều 2 Nghị định số 90/2011/NĐ-CP do Chính phủ ban hành ngày 14 tháng 10 năm 2011 quy
định về Phát hành trái phiếu doanh nghiệp
Trang 31Bán trực tiếp cho nhà đầu tư là phương thức phát hành trái phiếu mà bên phát hành trái phiếu bán trực tiếp cho nhà đầu tư trái phiếu Phương thức này có thể coi
là phương thức không cần qua tổ chức trung gian, và trái phiếu được nhà đầu tư mua trực tiếp Trong Nghị định số 90/2011/NĐ-CP, bán trực tiếp cho nhà đầu tư chỉ được áp dụng đối với doanh nghiệp phát hành là tổ chức tín dụng, Nghị định số 163/2018/NĐ-CP đã bỏ quy định này, mở rộng phương thức bán trực tiếp cho các chủ thể khác Điều này sẽ là một trong những thay đổi lớn nhằm giúp cho phát hành trái phiếu doanh nghiệp và thị trường trái phiếu doanh nghiệp có những bước phát triển về số lượng
2.2 Nguyên tắc, điều kiện và phương án phát hành trái phiếu doanh nghiệp
Phát hành trái phiếu doanh nghiệp luôn phải đi kèm với nguyên tắc phát hành, điều kiện phát hành và phương án phát hành trái phiếu doanh nghiệp Những nội dung này luôn được chú ý và quy định từ những văn bản pháp luật đầu tiên là Nghị định số 52/2006/NĐ-CP cho đến tận văn bản mới nhất là Nghị định số 163/2018/NĐ-CP Trong đó, nhiều nội dung về điều kiện phát hành trái phiếu doanh nghiệp đã được thay đổi, còn nguyên tắc phát hành trái phiếu và phương án phát hành trái phiếu là hai nội dung mang tính tổng quát, vì vậy ít được sửa đổi qua các giai đoạn
Đặc biệt, trong quy định mới về nguyên tắc phát hành trái phiếu doanh nghiệp, điều kiện phát hành trái phiếu doanh nghiệp và phương án phát hành trái phiếu doanh nghiệp đã có thêm những nội dung xoay quanh “trái phiếu doanh nghiệp xanh” Đây là điểm rất đáng quan tâm và sẽ phát sinh thêm một số nguyên tắc, điều kiện và phương án phát hành mới
2.2.1 Nguyên tắc phát hành trái phiếu doanh nghiệp
Trái phiếu doanh nghiệp cũng như trái phiếu và chứng khoán nói chung đều phải căn cứ vào nguyên tắc hoạt động chứng khoán và thị trường chứng khoán, đó
là Tôn trọng quyền tự do mua, bán, kinh doanh và dịch vụ chứng khoán của tổ chức,
cá nhân; Công bằng, công khai, minh bạch; Bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của nhà đầu tư; Tự chịu trách nhiệm về rủi ro; Tuân thủ quy định của pháp luật Những nguyên tắc chung này được quy định tại Điều 4 Luật Chứng khoán 2006 sửa đổi, bổ sung 2010 và là kim chỉ nam cho mọi hoạt động liên quan đến chứng khoán, kể cả hoạt động phát hành của trái phiếu
Trang 32Phát triển từ những nguyên tắc chung của hoạt động chứng khoán và thị trường chứng khoán, phát hành trái phiếu doanh nghiệp cũng được quy định trong nghị định riêng với nhiều đặc điểm tương đồng và đặc thù đối với trái phiếu Theo
đó, doanh nghiệp phát hành trái phiếu theo nguyên tắc tự vay, tự trả, tự chịu trách nhiệm về hiệu quả sử dụng vốn và đảm bảo khả năng trả nợ.18 Doanh nghiệp phát hành trái phiếu để thực hiện các chương trình, dự án đầu tư, để tăng quy mô vốn hoạt động hoặc để cơ cấu lại các khoản nợ của doanh nghiệp Mục đích phát hành trái phiếu phải được doanh nghiệp nêu cụ thể tại phương án phát hành trái phiếu và công bố thông tin cho nhà đầu tư đăng ký mua trái phiếu Điều này có nghĩa là phát hành trái phiếu doanh nghiệp được thực hiện phải đảm bảo tính công khai, minh bạch, công bằng, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nhà đầu tư Không chỉ trong phát hành trái phiếu, việc sử dụng vốn huy động được từ doanh nghiệp phải đảm bảo đúng mục đích theo phương án phát hành và nội dung công bố thông tin cho nhà đầu tư
Điểm mới đáng quan tâm tại Nghị định số 163/2018/NĐ-CP, đó là Nghị định này đã bãi bỏ quy định doanh nghiệp muốn phát hành phải duy trì mức vốn chủ sở hữu tối thiểu là 20% tổng mức đầu tư của chương trình, dự án Đồng thời, việc phát hành để cơ cấu lại nợ của doanh nghiệp theo quy định của Nghị định số 163/2018/NĐ-CP được cho là nới lỏng hơn quy định về cơ cấu lại nợ trong Nghị định số 90/2011/NĐ-CP, đó là Nghị định số 163/2018/NĐ-CP đã bỏ đi nguyên tắc không phát hành trái phiếu ra thị trường quốc tế để cơ cấu lại nợ bằng Đồng Việt Nam.19 Những nguyên tắc phát hành và sử dụng vốn mới theo Nghị định số 163/2018/NĐ-CP rõ ràng đã thể hiện sự khuyến khích của Chính phủ đối với trái phiếu và thị trường trái phiếu
Quy định mới về nguyên tắc phát hành đối với trái phiếu xanh (theo khoản 3
Điều 4 Nghị định số 163/2018/NĐ-CP: “Trái phiếu doanh nghiệp xanh là trái phiếu doanh nghiệp được phát hành để đầu tư cho các dự án bảo vệ môi trường theo quy định của Luật Bảo vệ môi trường”) được quy định kèm theo sự xuất hiện
của trái phiếu xanh theo Nghị định số 163/2018/NĐ-CP, theo đó ngoài những nguyên tắc phát hành và sử dụng vốn giống với trái phiếu thông thường, nguồn vốn
từ phát hành trái phiếu được hạch toán, quản lý theo dõi riêng và giải ngân cho các
18 Khoản 1 Điều 5 Nghị định số 163/2018/NĐ-CP do Chính phủ ban hành ngày 04 tháng 12 năm 2018 quy
định về phát hành trái phiếu doanh nghiệp
19 Khoản 3 Điều 4 Nghị định số 90/2011/NĐ-CP do Chính phủ ban hành ngày 14 tháng 10 năm 2011 quy
định về Phát hành trái phiếu doanh nghiệp
Trang 33dự án bảo vệ môi trường theo phương án phát hành đã được cấp có thẩm quyền phê duyệt.20
2.2.2 Điều kiện phát hành trái phiếu doanh nghiệp
Điều kiện phát hành trái phiếu doanh nghiệp cũng được phát triển từ điều kiện chào bán chứng khoán theo quy định của Luật Chứng khoán 2006 sửa đổi, bổ sung 2010 Trong đó, điều kiện chào bán chứng khoán riêng lẻ của tổ chức phát hành không phải công ty đại chúng được quy định trong Luật Doanh nghiệp và các quy định liên quan Điều kiện chào bán chứng khoán riêng lẻ của công ty đại chúng được quy định ngay trong Điều 10a Luật Chứng khoán 2006 sửa đổi, bổ sung 2010, bao gồm: Có quyết định của Đại hội đồng cổ đông hoặc Hội đồng quản trị thông qua phương án chào bán, sử dụng vốn, xác định rõ đối tượng và số lượng nhà đầu tư; Điều kiện về hạn chế chuyển nhượng; Thời gian giữa các đợt chào bán chứng khoán riêng lẻ phải cách nhau ít nhất sáu tháng Từ đây, có thể thấy các công ty đại chúng muốn phát hành trái phiếu riêng lẻ phải đáp ứng được các điều kiện của Điều 10a Luật Chứng khoán hiện hành và điều kiện được quy định trong Nghị định số 163/2018/NĐ-CP Đối với điều kiện phát hành chứng khoán ra công chúng, mỗi loại chứng khoán cổ điển sẽ phát sinh những điều kiện khác nhau và không còn
“chung” điều kiện như phát hành riêng lẻ
Đối với trái phiếu doanh nghiệp, điều kiện và điều khoản cơ bản của trái phiếu là những nội dung được lưu ý đầu tiên trong các quy định về điều kiện phát hành Tại Điều 6 Nghị định số 163/2018/NĐ-CP quy định về điều kiện, điều khoản
cơ bản của trái phiếu của trái phiếu doanh nghiệp, bao gồm:
Kỳ hạn trái phiếu: do doanh nghiệp phát hành quyết định đối với từng đợt phát hành căn cứ vào nhu cầu sử dụng vốn của doanh nghiệp và tình hình thị trường
Khối lượng phát hành: do doanh nghiệp phát hành quyết định đối với từng đợt căn cứ vào nhu cầu sử dụng vốn và khả năng huy động của thị trường trong từng thời kỳ
20 Khoản 4 Điều 5 Nghị định số 163/2018/NĐ-CP do Chính phủ ban hành ngày 04 tháng 12 năm 2018 quy
định về phát hành trái phiếu doanh nghiệp
Trang 34Đồng tiền phát hành và thanh toán trái phiếu: Đối với trái phiếu phát hành tại thị trường trong nước, đồng tiền phát hành là đồng Việt Nam; Đối với trái phiếu phát hành ra thị trường quốc tế, đồng tiền phát hành thực hiện theo quy định tại thị trường phát hành; Đồng tiền sử dụng để thanh toán gốc, lãi trái phiếu cùng loại với đồng tiền phát hành
Mệnh giá trái phiếu: Trái phiếu phát hành tại thị trường trong nước, mệnh giá
là 100.000 đồng Việt Nam hoặc bội số của 100.000 đồng Việt Nam; mệnh giá của trái phiếu phát hành ra thị trường quốc tế thực hiện theo quy định tại thị trường phát hành
Lãi suất danh nghĩa trái phiếu: Lãi suất danh nghĩa trái phiếu có thể xác định theo một trong các phương thức; lãi suất cố định cho cả kỳ hạn trái phiếu; lãi suất thả nổi; hoặc kết hợp giữa lãi suất cố định và thả nổi Trường hợp lãi suất danh nghĩa là lãi suất thả nổi, doanh nghiệp phát hành phải nêu cụ thể cơ sở tham chiếu
để xác định lãi suất danh nghĩa tại phương án phát hành và công bố thông tin cho nhà đầu tư mua trái phiếu về cơ sở tham chiếu để sử dụng Doanh nghiệp quyết định lãi suất danh nghĩa cho từng đợt phát hành phù hợp với tình hình tài chính và khả năng thanh toán nợ Lãi suất trái phiếu do tổ chức tín dụng phát hành ngoài việc tuân thủ quy định tại Nghị định số 163/2018/NĐ-CP phải phù hợp với quy định về lãi suất của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam
Loại hình trái phiếu: Trái phiếu không chuyển đổi là trái phiếu có bảo đảm hoặc trái phiếu không có bảo đảm, trái phiếu kèm theo chứng quyền hoặc trái phiếu không kèm theo chứng quyền Trái phiếu chuyển đổi là trái phiếu có bảo đảm hoặc trái phiếu không có bảo đảm, trái phiếu kèm theo chứng quyền và trái phiếu không kèm theo chứng quyền
Giao dịch trái phiếu: trái phiếu của doanh nghiệp bị hạn chế giao dịch trong phạm vi dưới 100 nhà đầu tư, không kể nhà đầu tư chứng khoán chuyên nghiệp trong vòng 01 năm kể từ ngày hoàn thành đợt phát hành, trừ trường hợp theo quyết định của Tòa án hoặc thừa kế theo quy định của pháp luật Sau thời gian trên, trái phiếu được giao dịch không hạn chế về số lượng nhà đầu tư, trừ trường hợp công ty phát hành có quyết định khác