Có thể kể đến một số công trình đề cập đến ở những khía cạnh khác nhau của khóa luận, bao gồm: Trương Mộc Lâm và Lưu Nguyên Khánh 2001 trong tác phẩm “Một số điều cần biết về pháp lý tro
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC CÔNG NGHỆ TP HỒ CHÍ MINH
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
PHÁP LUẬT VỀ KINH DOANH BẢO HIỂM NHÂN THỌ Ở VIỆT NAM
Trang 2KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
PHÁP LUẬT VỀ KINH DOANH BẢO HIỂM NHÂN THỌ Ở VIỆT NAM
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC CÔNG NGHỆ TP HỒ CHÍ MINH
Trang 3Vì kiến thức bản thân còn hạn chế, trong quá trình hoàn thiện khóa luận tốt nghiệp này em không tránh khỏi những sai sót, kính mong nhận được những ý kiến đóng góp từ quý thầy, cô khoa Luật trường Hutech
Em xin chân thành cảm ơn!
Sinh viên
Trần Nguyễn Ngọc Bạch
Trang 4
LỜI CAM ĐOAN
Tôi tên: Trần Nguyễn Ngọc Bạch, MSSV: 1511270919
Tôi xin cam đoan các số liệu, thông tin sử dụng trong bài Khoá luận tốt nghiệp này được thu thập từ nguồn tài liệu khoa học chuyên ngành (có trích dẫn đầy đủ và theo đúng qui định);
Nội dung trong khoá luận KHÔNG SAO CHÉP từ các nguồn tài liệu khác
Nếu sai sót tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm theo qui định của nhà trường
và pháp luật
Sinh viên
Trần Nguyễn Ngọc Bạch
Trang 5DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT TRONG KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT TIẾNG VIỆT
IAIS :
International Association of Insurance Supervisors (Hiệp hội quốc tế các cơ quan giám sát bảo hiểm) ICP :
Insurance Core Principles (Các nguyên tắc cốt lõi của bảo hiểm) NAIC :
The National Association of Insurance Commissioners (Hiệp hội quốc gia các Ủy ban bảo hiểm Hoa Kỳ) WTO :
World Trade Organization (Tổ chức Thương mại Thế giới)
Trang 6MỤC LỤC
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Mục tiêu nghiên cứu đề tài 2
3 Phạm vi và đối tượng nghiên cứu của đề tài 2
4 Tổng quan tình hình nghiên cứu 3
5 Phương pháp nghiên cứu 4
6 Kết cấu của đề tài 4
Chương 1: KHÁI QUÁT VỀ KINH DOANH BẢO HIỂM NHÂN THỌ VÀ PHÁP LUẬT KINH DOANH BẢO HIỂM NHÂN THỌ 5
1.1 Khái quát về BHNT, sản phẩm BHNT và hoạt động kinh doanh BHNT 5
1.1.1 Bảo hiểm nhân thọ 5
1.1.2 Sản phẩm bảo hiểm nhân thọ 8
1.1.3 Hoạt động kinh doanh bảo hiểm nhân thọ 11
1.2 Khái quát về pháp luật kinh doanh bảo hiểm nhân thọ 12
1.2.1 Khái niệm pháp luật kinh doanh bảo hiểm nhân thọ 12
1.2.2 Nguyên tắc của pháp luật kinh doanh bảo hiểm nhân thọ 12
1.2.3 Các yếu tố cấu thành luật kinh doanh bảo hiểm nhân thọ 13
KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 15
Chương 2: THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VỀ KINH DOANH BẢO HIỂM NHÂN THỌ Ở VIỆT NAM 16
2.1 Thực trạng quy định về doanh nghiệp kinh doanh bảo hiểm nhân thọ 16
Trang 72.1.1 Quy định về cấp phép hoạt động và cơ cấu tổ chức, bộ máy quản lý doanh
nghiệp bảo hiểm nhân thọ 16
2.1.2 Quy định về hoạt động cung ứng dịch vụ bảo hiểm nhân thọ và hoạt động đầu tư của doanh nghiệp bảo hiểm nhân thọ 18
2.1.3 Quy định về khả năng thanh toán của doanh nghiệp bảo hiểm 26
2.2 Thực trạng quy định về hợp đồng bảo hiểm nhân thọ 29
2.2.1 Quy định về chủ thể tham gia bảo hiểm 29
2.2.2 Quy định về nội dung của hợp đồng bảo hiểm nhân thọ 31
2.2.3 Quy định về hình thức của hợp đồng bảo hiểm nhân thọ 33
2.3 Thực trạng quy định về giám sát đối với hoạt động kinh doanh BHNT 35
2.3.1 Quy định về nghĩa vụ minh bạch thông tin 35
2.3.2 Quy định về thẩm quyền giám sát kinh doanh bảo hiểm nhân thọ 37
2.3.3 Quy định về nội dung giám sát và phương thức giám sát đối với hoạt động kinh doanh bảo hiểm nhân thọ 38
KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 39
Chương 3: NHỮNG BẤT CẬP VÀ KIẾN NGHỊ HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VỀ KINH DOANH BHNT Ở VIỆT NAM 40
3.1 Bất cập trong quy định pháp luật hiện hành về kinh doanh BHNT 40
3.1.1 Bất cập về doanh nghiệp kinh doanh bảo hiểm nhân thọ 40
3.1.2 Bất cập về hợp đồng bảo hiểm nhân thọ 44
3.1.3 Bất cập về giám sát đối với hoạt động kinh doanh bảo hiểm nhân thọ 47
3.2 Kiến nghị hoàn thiện pháp luật về kinh doanh bảo hiểm nhân thọ 50
Trang 83.2.1 Hoàn thiện các quy định về doanh nghiệp kinh doanh bảo hiểm nhân
thọ 50
3.2.2 Hoàn thiện các quy định về hợp đồng bảo hiểm nhân thọ 53
3.2.3 Hoàn thiện các quy định về giám sát đối với hoạt động kinh doanh bảo hiểm nhân thọ 54
KẾT LUẬN CHƯƠNG 3 57
KẾT LUẬN 58
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 59
PHỤ LỤC I 1
PHỤ LỤC II 8
PHỤ LỤC III 10
Trang 9PHẦN MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Tổ chức Y tế thế giới (WHO) vừa công bố tình hình ung thư hiệu chỉnh theo độ
tuổi tại 185 quốc gia và vùng lãnh thổ 2018, theo đó: “… Việt Nam xếp vị trí 19 châu
Á và thứ 5 tại khu vực Đông Nam Á”1 Tại Hội nghị tổng kết năm 2018 và triển khai
kế hoạch năm 2019 của Bộ GTVT diễn ra ngày 11/1, Thứ trưởng Lê Đình Thọ thay
mặt Bộ GTVT báo cáo công tác đảm bảo trật tự an toàn giao thông năm 2018, theo
đó: “…Về tình hình tai nạn giao thông (TNGT), cả nước để xảy ra 18.736 vụ tai nạn
giao thông, làm chết 8.248 người, bị thương 14.802 người”2 Ngày 3/10/2018, Cục
Cảnh sát Phòng cháy chữa cháy và Cứu nạn cứu hộ Bộ Công an cho biết: “… trong
9 tháng đầu năm 2018, cả nước xảy ra gần 3.000 vụ cháy, làm chết 73 người, bị
thương 163 người; thiệt hại về tài sản 1.590 tỷ đồng…”3
Từ những số liệu thống kê dẫn chứng như trên, ta thấy rằng rủi ro về bệnh tật nói
chung bệnh ung thư nói riêng; tai nạn nói chung tai nạn giao thông và tai nạn cháy nổ
nói riêng, đã và đang là những rủi ro dẫn đến tỷ lệ tử vong đáng báo động của người
dân Việt Nam Có thể nói, những rủi ro kể trên đang trở thành những nỗi ám ảnh hằng
ngày, hằng giờ, mà mỗi người dân Việt không biết khi nào nó sẽ ập đến với mình và
kéo theo các hậu quả tài chính hết sức to lớn Khi đối mặt với nguy cơ bản thân có
thể gặp các rủi ro bất kỳ thời điểm nào, có nhiều người chọn cách trốn ránh rủi ro,
một số người chọn cách phòng tránh rủi ro, một số khác lại chọn cách tự gánh chịu
rủi ro, nhưng cách phòng tránh rủi ro hiệu quả nhất đó là “chuyển giao rủi ro” Đây
là hình thức thông qua hoạt động của các tổ chức bảo hiểm, rủi ro khi xảy ra cho một
số ít các thành viên thì hậu quả của nó (trước hết là mặt tài chính) sẽ được chia nhỏ,
chuyển cho số đông thành viên của cộng đồng cùng gánh chịu; hoặc rủi ro phát sinh
đột ngột vào một thời điểm nào đó, thì hậu quả tài chính sẽ được dàn mỏng cho tất cả
một quảng thời gian dài Chính vậy, Kinh doanh BHNT đang ngày càng trở thành
1 Bộ Y tế (2018), Điểm tin y tế ngày 24/9/2018, Cổng thông tin điện tử Bộ Y tế, nguồn:
https://www.moh.gov.vn/diem-tin-y-te/-/asset_publisher/sqTagDPp4aRX/content/-iem-tin-y-te-ngay-24-9-2018, down load ngày 13/3/2019
2 Thành Chung (2019), Năm 2018, toàn quốc có 8.248 người chết vì tai nạn giao thông, Báo Nghệ An điện
tử, nguồn:
https://baonghean.vn/nam-2018-toan-quoc-co-8248-nguoi-chet-vi-tai-nan-giao-thong-229373.html, down load ngày 13/3/2019
3 Phương Sơn (2018), Gần 3.000 vụ cháy khiến 73 người chết trong 9 tháng đầu năm, Báo điện tử
VNExpress, nguồn:
Trang 10https://vnexpress.net/thoi-su/gan-3-000-vu-chay-khien-73-nguoi-chet-trong-9-thang-dau-một loại hình kinh doanh - dịch vụ phổ biến trong cộng đồng Người dân càng ngày càng quan tâm tìm hiểu và có nhu cầu sử dụng loại hình dịch vụ này
Trên thực tế, kinh doanh BHNT là một công việc đầy ý nghĩa nhân văn, chia sẻ rủi ro và mang tính phòng vệ Bên cạnh đó, nó còn là được xem là một kênh đầu tư hiệu quả đối với nền kinh tế với số vốn hàng nghìn tỷ đô-la Mỹ trên toàn thế giới
Tuy từ Nghị định 100-CP ngày 18/12/1993, thị trường BHNT ở Việt Nam chính thức được ghi nhận về mặt pháp lý Nhưng các quy định về hoạt động kinh doanh bảo hiểm như thiết kế, phân phối sản phẩm BHNT, hoạt động đầu tư, còn nhiều hạn chế Trong khi đó, yêu cầu hoàn thiện pháp luật kinh doanh BHNT để hội nhập thị trường quốc tế đang ngày càng cấp bách Có rất nhiều các chuẩn mực, thông lệ quốc
tế đã được hình thành và áp dụng ở nhiều quốc gia, nhưng chưa được ghi nhận trong pháp luật kinh doanh BHNT ở Việt Nam, đặc biệt là những khuyến nghị và hướng dẫn của IAIS, mà Việt Nam đã là thành viên
Chính vì vậy, người viết đã lựa chọn đề tài “Pháp luật về kinh doanh bảo hiểm
nhân thọ ở Việt Nam” làm Khóa luận tốt nghiệp của mình
2 Mục tiêu nghiên cứu đề tài
Mục tiêu nghiên cứu của Khóa luận tốt nghiệp là góp phần tạo ra cơ sở lý luận và đưa ra những giải pháp, kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật về kinh doanh BHNT
Để từ đó, khóa luận sẽ là tài liệu tham khảo về pháp luật kinh doanh BHNT
3 Phạm vi và đối tượng nghiên cứu của đề tài
Đối tượng nghiên cứu của Khóa luận tốt nghiệp bao gồm:
- Hệ thống quy định pháp luật điều chỉnh hoạt động kinh doanh BHNT bao gồm: Luật kinh doanh bảo hiểm, các văn bản hướng dẫn thi hành Luật Kinh doanh bảo hiểm và các văn bản pháp luật khác có liên quan như Luật Doanh nghiệp, Bộ luật Dân sự, Luật Thương mại, Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng
- Các quan điểm khoa học đã được các người viết cá nhân và các tổ chức công
bố trong các công trình nghiên cứu về kinh doanh bảo hiểm nói chung và kinh doanh BHNT nói riêng
Phạm vi nghiên cứu của Khóa luận tốt nghiệp bao gồm:
Trang 11Những nghiên cứu của Khóa luận tốt nghiệp tập trung vào hệ thống các quy định pháp luật điều chỉnh hoạt động kinh doanh BHNT
4 Tổng quan tình hình nghiên cứu
Đề tài “Pháp luật về kinh doanh bảo hiểm nhân thọ ở Việt Nam” tuy không phải
là mới nhưng còn nhiều khía cạch cần khai thác Có thể kể đến một số công trình đề cập đến ở những khía cạnh khác nhau của khóa luận, bao gồm: Trương Mộc Lâm và
Lưu Nguyên Khánh (2001) trong tác phẩm “Một số điều cần biết về pháp lý trong
kinh doanh bảo hiểm”4; Nguyễn Thị Hải Đường (2006) trong công trình “Một số giải
pháp phát triển thị trường bảo hiểm nhân thọ ở Việt Nam”5; Nguyễn Văn Định (2008)
trong “Giáo trình Bảo hiểm”6; David Bland (1993) trong “Bảo hiểm: Nguyên tắc và
Thực hành”7; Nguyễn Văn Định (2009) trong “Giáo trình Quản trị kinh doanh bảo
hiểm”8; Võ Trí Thành & Lê Xuân Sang (2013) trong “Giám sát hệ thống tài chính:
Chỉ tiêu và mô hình định lượng”9; Cục Quản lý, giám sát bảo hiểm (2012) trong bài
“Đánh giá thực tiễn hoạt động giám sát các tập đoàn, doanh nghiệp cung cấp các
dịch vụ tài chính có kinh doanh bảo hiểm tại Việt Nam”10, Trần Thế Anh (2018) trong
“Pháp luật về bảo hiểm nhân thọ tại Việt Nam”11
○ Người viết có thể đánh giá như sau: khái niệm sản phẩm BHNT vẫn chưa được định nghĩa dưới góc độ đặc trưng riêng để làm nên sự khác biệt giữa nó với các dịch
vụ thương mại khác; đối với thực trạng quy định về DNBHNT, các tác giả thường phân tích từng nội dung dưới các khía cạnh chuyên ngành kinh tế học, chưa phân tích
cụ thể dưới góc độ luật học để từ đó đưa ra các kiến nghị hoàn thiện pháp luật; hoạt động giám sát trong kinh doanh BHNT còn chưa đi sâu và đánh giá các quy định
4 Trương Mộc Lâm và Lưu Nguyên Khánh (2001), Một số điều cần biết về pháp lý trong kinh doanh bảo hiểm, Nxb Thống kê, Hà Nội
5 Nguyễn Thị Hải Đường (2006), Một số giải pháp phát triển thị trường bảo hiểm nhân thọ ở Việt Nam, Luận
án Tiến sỹ kinh tế, Trường ĐH Kinh tế quốc dân, Hà Nội
6 Nguyễn Văn Định (2008), Giáo trình Bảo hiểm, Nxb Đại học Kinh tế Quốc dân, Hà Nội
7 David Bland (1998), Bảo hiểm: Nguyên tắc và Thực hành, Nxb Tài chính, Hà Nội
8 Nguyễn Văn Định (2009), Giáo trình Quản trị kinh doanh bảo hiểm, Nxb Đại học Kinh tế quốc dân, Hà
toàn cầu, số 3, Hà Nội
11 Trần Thế Anh (2018), Pháp luật về bảo hiểm nhân thọ tại Việt Nam, Khóa luận tốt nghiệp Cử nhân Luật,
Trang 12pháp luật về yêu cầu minh bạch thông tin, thẩm quyền giám sát, nội dung giám sát và phương thức giám sát
○ Những công trình kể trên ít nhiều có đề cập đến kinh doanh BHNT Tuy nhiên, như người viết đã phân tích, các đề tài nghiên cứu này vẫn chưa đi sâu vào khai thác
và làm rõ một số vấn đề Từ đó, khóa luận tốt nghiệp sẽ giải quyết những vấn đề sâu sắc như sau: xây dựng: khái niệm BHNT làm nổi bật bản chất pháp lý và những đặc trưng của nó, khái niệm sản phẩm BHNT, khái niệm kinh doanh BHNT; phân tích thực trạng hoạt động kinh doanh BHNT thông qua các quy định của pháp luật (bao gồm các quy định về DNBHNT, về HĐBHNT và về giám sát kinh doanh BHNT); đề xuất các kiến nghị hoàn thiện pháp luật về: địa vị pháp lý của DNBH, các quy định
về HĐBHNT và quy định về giám sát hoạt động kinh doanh bảo hiểm
5 Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp nghiên cứu bao gồm: Khóa luận tốt nghiệp được tiếp cận theo phương pháp phân tích luật viết, phương pháp liệt kê và phương pháp so sánh luật học Trong đó, phương pháp phân tích luật viết là: một hoạt động của những người nghiên cứu và thực hành pháp luật nhằm làm sáng tỏ luật, làm rõ các quy tắc mà người làm luật muốn thiết lập và bảo đảm tính chính xác của việc áp dụng luật trong thực tiễn Còn phương pháp liệt kê là: phương pháp sắp xếp nối tiếp hàng loạt, từ hay cụm từ cùng loại để diễn được đầy đủ hơn, sâu sắc hơn những khía cạnh khác nhau của một vấn đề Phương pháp so sánh luật học là: phương pháp nghiên cứu so sánh các quy phạm pháp luật khác nhau nhằm tìm ra sự tương đồng và khác biệt của chúng
6 Kết cấu của đề tài
Ngoài phần Mở đầu và Kết luận, Khóa luận tốt nghiệp có 3 chương, cụ thể như sau:
- Chương 1: Khái quát về kinh doanh bảo hiểm nhân thọ và pháp luật kinh doanh bảo hiểm nhân thọ
- Chương 2: Thực trạng pháp luật về kinh doanh bảo hiểm nhân thọ ở Việt Nam
- Chương 3: Những bất cập và kiến nghị hoàn thiện pháp luật về kinh doanh bảo hiểm nhân thọ ở Việt Nam
Trang 13Chương 1: KHÁI QUÁT VỀ KINH DOANH BẢO HIỂM NHÂN THỌ
VÀ PHÁP LUẬT KINH DOANH BẢO HIỂM NHÂN THỌ
1.1 Khái quát về BHNT, sản phẩm BHNT và hoạt động kinh doanh BHNT
1.1.1 Bảo hiểm nhân thọ
∆ Sự hình thành của bảo hiểm nhân thọ
○ Lịch sử ra đời bảo hiểm nhân thọ
Vào thế kỷ thứ VI, ở La Mã phát triển hình thức BHNT sơ khai một cách độc lập khi người dân, đặc biệt là các thợ thủ công, đã tổ chức ra mô hình phường hội gọi là
“xã hội từ thiện” (benevolent societies) để trả chi phí tang lễ của các thành viên và chăm sóc cho gia đình của người này khi họ chết, đổi lại họ phải nộp lệ phí khi tham gia sinh hoạt chung12
Hình thức bảo hiểm nhân thọ đầu tiên ra đời năm 1583 ở Luân đôn, người được bảo hiểm là William Gybbon Như vậy, bảo hiểm nhân thọ có phôi thai từ rất sớm, nhưng lại không có điều kiện phát triển ở một số nước do thiếu cơ sở kỹ thuật ngẫu nhiên Cho đến năm 1654, Blaise Pascal, nhà toán học người Pháp, là người đầu tiên phát minh ra máy tính và đồng hương của ông là nhà toán học Pierre de Fermat đã phát hiện ra cách tính xác suất (từ đó cho phép hiểu và đo lường được mức độ rủi ro), thì
sự phát triển của bảo hiểm nhân thọ mới trở thành một tất yếu khách quan13
Năm 1759, công ty bảo hiểm nhân thọ đầu tiên ra đời ở châu Mỹ nhưng chỉ bán các hợp đồng bảo hiểm cho các con chiên trong nhà thờ của họ Năm 1762, ở Anh thành lập công ty bảo hiểm nhân thọ có tên là Equitable of London Đây là công ty đầu tiên bán các hợp đồng bảo hiểm rộng rãi cho nhân dân và áp dụng nguyên tắc phí bảo hiểm không đổi trong suốt thời gian bảo hiểm Năm 1860 bắt đầu xuất hiện hệ thống mạng lưới đại lý bán bảo hiểm nhân thọ Còn tại Châu Á, công ty BHNT có tên là Oriental Life Insurance Company được thành lập ở Calcutta (Ấn Độ) vào năm 1818
12 Mike Elman (2011), History of Life Insurance, nguồn:
www.onedollarglobeinsurance.com/article/History-of-Life-Insurance, down load ngày 13/3/2019
13 Andrew Beattie (2018), The History of Insurance, nguồn:
Trang 14www.investopedia.com/articles/08/history-of-được xem là sớm nhất Công ty này mang quốc tịch nước Anh và có khách hàng là người Châu Âu, vì lúc này Ấn Độ là thuộc địa của nước Anh14.
Cho đến nay bảo hiểm nhân thọ đã phát triển rất mạnh mẽ và đa dạng Từ những sản phẩm BHNT cơ bản là Bảo hiểm sinh mạng có thời hạn (Bảo hiểm tử kỳ), Bảo hiểm trọn đời, Bảo hiểm nhân thọ hỗn hợp, Bảo hiểm trợ cấp hưu trí, cho đến các sản phẩm bổ trợ (phạm vi bảo hiểm là tai nạn, bệnh tật, ốm đau,… xảy ra trong thời hạn bảo hiểm của hợp đồng chính)15
○ Lịch sử ra đời bảo hiểm nhân thọ tại Việt Nam:
Trước năm 1954, ở miền Bắc, những người làm việc cho Pháp đã được bảo hiểm
và một số gia đình đã được hưởng quyền lợi bảo hiểm của các hợp đồng bảo hiểm nhân thọ này Các hợp đồng bảo hiểm này đều do các công ty bảo hiểm của Pháp trực tiếp thực hiện
Trong những năm 1970 - 1971 ở miền Nam công ty Hưng Việt bảo hiểm đã triển khai một số loại hình bảo hiểm như “An sinh giáo dục”, “Bảo hiểm trường sinh” (Bảo hiểm nhân thọ trọn đời), “Bảo hiểm tử kỳ thời hạn 5 - 10 - 20 năm”, nhưng công ty này chỉ hoạt động từ một đến hai năm nên các nghiệp vụ bảo hiểm không được biết đến rộng rãi
Tháng 1 năm 1994, Tổng công ty bảo hiểm Việt Nam mới chính thức trình Bộ Tài chính dự án thành lập công ty Bảo hiểm nhân thọ Về mặt pháp lý, thị trường BHNT chính thức được tái lập ở Việt Nam cách đây 25 năm, bởi sự ra đời Nghị định 100/CP ngày 18/12/1993 của Chính phủ về kinh doanh bảo hiểm Nghị định này là một cột mốc quan trọng,chấm dứt tình trạng độc quyền của nhà nước trong lĩnh vực bảo hiểm
ở Việt Nam, đánh dấu thị trường bảo hiểm chuyển mình theo cơ chế kinh tế thị trường Nhưng trên thực tế, hoạt động kinh doanh BHNT chỉ thực sự được triển khai theo quyết định số 568/QĐ/TCCB ngày 22/6/1996củaBộ Tài chính cho phép thành lập
14 Tapen Sinha (2005), An Analysis of the Evolution of Insurance in India, nguồn:
http://papers.ssrn.com/sol3/papers.cfm?abstract_id=706141, down load ngày 13/3/2019, trang 6
15 Đỗ Tiến Dũng (2013), Lịch sử ra đời và phát triển của bảo hiểm nhân thọ, nguồn:
https://voer.edu.vn/c/ly-luan-chung-ve-bao-hiem-nhan-tho/e822c1b6, down load ngày 13/3/2019
Trang 15công ty bảo hiểm nhân thọ trực thuộc Bảo Việt Sự kiện này đánh dấu một bước ngoặt mới trong sự phát triển của ngành bảo hiểm Việt Nam16
∆ Khái niệm bảo hiểm nhân thọ:
Tuy đã xuất hiện từ khá lâu, nhưng hiện nay quan niệm về BHNT vẫn không có sự thống nhất Khái niệm BHNT có nhiều cách tiếp cận khác nhau trong các tài liệu khoa học và trong hệ thống pháp luật ở các quốc gia trên thế giới
Dưới giác độ kinh tế học, Nguyễn Văn Định (2008) cho rằng: “BHNT là quá trình bảo hiểm các rủi ro liên quan đến sinh mạng, cuộc sống và tuổi thọ của con người”17 Dưới khía cạnh luật học, theo Bryan A.Garner (1999) thì BHNT được định nghĩa là một thỏa thuận giữa một DNBH (hoặc giữa các DNBH đồng bảo hiểm) để trả một số tiền quy định cho người thụ hưởng được chỉ định về cái chết của người được bảo hiểm18
Nhiều quốc gia cũng định nghĩa BHNT trong các văn bản pháp luật của mình Lấy
ví dụ Luật Công ty bảo hiểm của New Zealand năm 1994 có đưa ra định nghĩa về BHNT là “bảo hiểm bằng việc trả tiền cho cái chết của người tham gia bảo hiểm (không loại trừ là do tai nạn hoặc có nguyên nhân bệnh tật hoặc đau ốm) hoặc do bất
kỳ một sự cố ngẫu nhiên nào đó có tác động làm kết thúc hoặc duy trì cuộc sống của người đó; và kể cả một thỏa thuận pháp lý quy định việc trả phí bảo hiểm theo thời hạn phụ thuộc vào sự kết thúc hoặc tiếp tục sống của người được bảo hiểm cũng như đảm bảo một khoản trợ cấp định kỳ phụ thuộc vào cuộc sống tiếp tục của người đó”19
Ở Việt Nam, tại Đ3 K12 Luật Kinh doanh bảo hiểm năm 2000 (sửa đổi, bổ sung năm 2010), định nghĩa BHNT như sau: “BHNT là loại nghiệp vụ bảo hiểm cho trường hợp người được bảo hiểm sống hoặc chết”
Từ những định nghĩa trên, ta có thể thấy việc định nghĩa BHNT là không dễ dàng
và có rất nhiều cách hiểu khác nhau Hai nguyên nhân chủ yếu dẫn đến tình trạng này
là do: ở từng quốc gia có các đặc điểm kinh tế xã hội khác nhau dẫn đến chính sách
16 Công ty TNHH một thành viên Bảo hiểm nhân thọ Bảo Việt (2009), Lịch sử ra đời ngành bảo hiểm, nguồn:
su-ra-doi-nganh-bao-hiem-/201/3456/MediaCenterDetail/, down load ngày 13/3/2019
http://www.baoviet.com.vn/baohiem/Kien-thuc-Bao-hiem/Kien-thuc-chung-ve-bao-hiem-phi-nhan-tho/Lich-17 Nguyễn Văn Định (2008), Giáo trình Bảo hiểm, Nxb Đại học Kinh tế Quốc dân, Hà Nội, trang 432
18 Bryan A.Garner (1999), Black’s Law Dictionary, West Publishing Co., USA, trang 806
19 New Zealand (1994), Insurance Companies (Ratings and Inspections) Act 1994, nguồn:
http://www.legislation.govt.nz/act/public/1994/0117/latest/096be8ed80822609.pdf, down load ngày
Trang 16phát triển thị trường BHNT khác nhau; do cách tiếp cận dưới giác độ khác nhau (kinh
tế, pháp lý hay nghiệp vụ quản lý nhà nước) mà dẫn đến những định nghĩa khác nhau
Theo quan điểm của của người viết, dưới góc độ khoa học pháp lý, có thể đưa ra khái niệm BHNT như sau: BHNT làmột loại hình nghiệp vụ bảo hiểm thương mại mang hình thái là sự cam kết của DNBH với điều kiện bên mua bảo hiểm đóng phí bảo hiểm theo thỏa thuận; nếu người được bảo hiểm sống hoặc chết trong một thời gian nhất định, thương tật toàn bộ vĩnh viễn hoặc xảy ra mộtsự kiện bảo hiểm nào đó theo thỏa thuận thì DNBH sẽ phải trả một khoản tiền xác định cho người thụ hưởng (các người thụ hưởng); có gắn liền hoặc không gắn liền với quyền lợi đầu tư từ số phí bảo hiểm mà DNBH đã nhận
1.1.2 Sản phẩm bảo hiểm nhân thọ
∆ Khái niệm và đặc trưng của sản phẩm bảo hiểm nhân thọ
○ Khái niệm sản phẩm bảo hiểm nhân thọ
Trước khi đưa ra khái niệm về sản phẩm BHNT ta phải hiểu khái niệm về sản phẩm Sản phẩm được hiểu là cái mà con người có thể tạo ra nhằm phục vụ lại cho cuộc sống của con người Như vậy, có thể đưa ra định nghĩa về sản phẩm BHNT như sau: Sản phẩm BHNT là một loại dịch vụ thương mại được thỏa thuận trong HĐBHNT Loại dịch vụ thương mại này được thể hiện thông qua các nghiệp vụ BHNT mà DNBH cung ứng cho bên mua bảo hiểm và những chủ thể liên quan (bao gồm: người được bảo hiểm và người thụ hưởng)
○ Đặc trưng của sản phẩm bảo hiểm nhân thọ
Để tiến hành kinh doanh một sản phẩm, một ngành nghề, một lĩnh vực nào đó thì trước hết chúng ta phải nắm được tính năng và tác dụng của nó Khác với các sản phẩm khác, sản phẩm bảo hiểm nhân thọ có đặc trưng riêng:
- Bảo hiểm là một loại sản phẩm đặc biệt Bởi sản phẩm bảo hiểm là một dịch vụ đặc biệt Điều này được thể hiện rõ qua các đặc trưng cụ thể sau: là sản phẩm không định hình, không biểu hiện dưới một hình thái vật chất cụ thể mà thông qua những cam kết của DNBH đối với người tham gia bảo hiểm; là sản phẩm có hiệu quả về xê dịch; là sản phẩm “của chu trình sản xuất kinh doanh đảo ngược” - doanh thu có trước chi phí chủ yếu; là sản phẩm dễ bắt chước
Trang 17- Sản phẩm BHNT cũng như các sản phẩm bảo hiểm khác, thể hiện ra là một dịch
vụ nhưng có tính tài sản
- Chi phí không chắc chắn cho từng sản phẩm cũng như đối với từng khách hàng
- Sản phẩm BHNT thường được cung cấp với thời hạn tương đối dài
- Cơ sở kỹ thuật cơ bản của sản phẩm BHNT là quy luật về số đông, bảng tỷ lệ tử vong, lãi suất kỹ thuật và phí bình quân
- Sản phẩm BHNT thường có tính đa mục đích (DNBH cung cấp nhiều loại sản phẩm BHNT cho các đối tượng khách hàng khác nhau) vàđược thể hiện thông qua HĐBHNT
- DNBHNT được quyền nhận phí bảo hiểm trước khi chấp nhận bảo hiểm
∆ Phân loại sản phẩm bảo hiểm nhân thọ
Theo nghiệp vụ BHNT, sản phẩm BHNT có 3 loại chủ yếu là bảo hiểm sinh kỳ,
bảo hiểm tử kỳ và bảo hiểm hỗn hợp
- Bảo hiểm sinh kỳ là loại hình sản phẩm BHNT mà DNBH cam kết trả một khoản tiền nhất định (một lần hoặc định kỳ)cho trường hợp sống của người được bảo hiểm với điều kiện là bên mua bảo hiểm đóng phí bảo hiểm
- Bảo hiểm tử kỳ là loại hình sản phẩm BHNT mà DNBH chỉ phải trả tiền bảo hiểm nếu người được bảo hiểm chết trong thời gian bảo hiểm nên nghĩa vụ này là không chắc chắn Vì thế, bảo hiểm tử kỳthường nghiêng về yếu tố bảo vệ hơn là tiết kiệm
- Bảo hiểm hỗn hợp là loại hình sản phẩm BHNT mà DNBH cam kết trả một khoản tiền nhất định (một lần hoặc định kỳ) khi xảy ra sự kiện bảo hiểm là người được bảo hiểm sống đến thời điểm hết thời hạn bảo hiểm hoặc chết trong thời hạn bảo hiểm, với điều kiện là bên mua bảo hiểm đóng phí bảo hiểm theo thỏa thuận Bảo hiểm hỗn hợp là sản phẩm được ưa chuộng nhất hiện nay vì tính đa mục đích của nó DNBH chắc chắn sẽ phải trả tiền bảo hiểm tùy thuộc vào sự kiện bảo hiểm nào xảy ra trước
Theo số lượng người được bảo hiểm trong HĐBHNT, sản phẩm BHNT bao gồm
bảo hiểm cá nhân và bảo hiểm nhóm
Trang 18- Bảo hiểm cá nhân là sản phẩm BHNT mà chỉ có một cá nhân là người được bảo hiểm
- Bảo hiểm nhóm là sản phẩm BHNT trong đó một nhóm cá nhân là những người được bảo hiểm Những người được bảo hiểm trong bảo hiểm nhóm thường có mối quan hệ với nhau về mặt lợi ích, hoặc cùng có quan hệ với bên mua bảo hiểm (ví dụ: công ty du lịch mua bảo hiểm cho khách hàng trong các chuyến du lịch)
Theo sự kết hợp giữa BHNT và các dịch vụ ủy thác đầu tư do DNBH cung cấp
thì sản phẩm BHNT có hai loại là sản phẩm BHNT thuần túy và sản phẩm bảo hiểm BHNT liên kết đầu tư
- Sản phẩm BHNT thuần túy là sản phẩm bảo hiểm có đầy đủ các thuộc tính của BHNT, không kèm theo các quyền lợi riêng về đầu tư Tuy nhiên sản phẩm BHNT thuần túy cũng có thể gia tăng quyền lợi bổ sung bằng các sản phẩm bổ trợ (đây là loại sản phẩm được DNBHNT bán kèm sản phẩm BHNT thuần túy nhằm nâng cao các tính năng bảo vệ cho sản phẩm BHNT thuần túy, khách hàng được quyền lựa chọn mua hoặc không mua loại sản phẩm này)
- Sản phẩm BHNT liên kết đầu tư là sản phẩm BHNT mà ngoài những quyền lợi bảo hiểm giống như sản phẩm BHNT thuần túy, bên mua bảo hiểm còn được tham gia vào quỹ đầu tư của DNBH và được chia lãi đầu tư từ quỹ này Về nguyên tắc, phí bảo hiểm trong các sản phẩm bảo hiểm liên kết đầu tư được tách bạch giữa phần phí dành cho bảo hiểm và phần phí dành cho đầu tư
Theo thời điểm và mức độ cam kết trách nhiệm bảo hiểm thì BHNT được phân
loại thành bảo hiểm chính thức và bảo hiểm tạm thời
- Bảo hiểm chính thức là sản phẩm BHNT dưới dạng một HĐBHNT có hiệu lực giữa bên mua bảo hiểm và DNBH
- Bảo hiểm tạm thời là sản phẩm BHNT mà DNBH cung cấp cho bên mua bảo hiểm trong khoảng thời gian từ khi bên mua bảo hiểm ký vào HĐBHNT, đã nộp phí bảo hiểm cho đến khi DNBH chính thức chấp nhận bảo hiểm Hiệu lực của sản phẩm BHNT tạm thời chấm dứt ngay khi DNBH chấp nhận bảo hiểm bằng cách ký vào HĐBHNT, tức là chuyển sang sản phẩm bảo hiểm chính thức
Trang 191.1.3 Hoạt động kinh doanh bảo hiểm nhân thọ
∆ Khái niệm và các đặc trưng cơ bản của hoạt động kinh doanh BHNT
○ Khái niệm hoạt động kinh doanh BHNT
Kinh doanh BHNT là hoạt động mà DNBH cung cấp dịch vụ BHNT thông qua các sản phẩm bảo hiểm cho bên mua bảo hiểm, các chủ thể có liên quan (bao gồm: người được bảo hiểm, người thụ hưởng) và tiến hành đầu tư từ nguồn phí bảo hiểm, nguồn vốn khác để đảm bảo quyền lợi đã cam kết trong HĐBHNT theo quy định của pháp luật
○ Các đặc trưng cơ bản của hoạt động kinh doanh BHNT
- Hoạt động kinh doanh bảo hiểm luôn nhằm mục đích thu lợi nhuận
- Đối tượng kinh doanh bảo hiểm là một lời cam kết gắn liền với yếu tố rủi ro
- Chu trình kinh doanh bảo hiểm là một chu trình đảo ngược - sản phẩm bảo hiểm được bán ra trước khi doanh thu phát sinh, sau đó mới phát sinh chi phí
- Bảo hiểm vừa mang tính bồi hoàn vừa không mang tính bồi hoàn
- Do tính bất ngờ của rủi ro bảo hiểm cả không gian, thời gian và quy mô nên DNBH phải xây dựng các quỹ dự phòng để thực hiện cam kết của mình trước bên tham gia bảo hiểm Quỹ này được sử dụng để tham gia đầu tư tuy nhiên phải bảo đảm tính thanh khoản cao
- Số tiền bồi thường bảo hiểm trong một hợp đồng nếu có thường rất lớn, lớn hơn nhiều lần số phí mà người tham gia bảo hiểm đã đóng (Do lợi ích các bên có xung đột trực diện thường xảy ra tranh chấp trong thực hiện hợp đồng) Vì thế có thể dẫn đến các trường hợp trục lợi bảo hiểm
- Hoạt động cung ứng dịch vụ BHNT là nghiệp vụ chính, cơ bản của kinh doanh BHNT, còn hoạt động đầu tư là nghiệp vụ phái sinh
- Hoạt động kinh doanh bảo hiểm là hoạt động kinh doanh có điều kiện đặt dưới sự quản lý nhà nước của Bộ Tài chính
Trang 201.2 Khái quát về pháp luật kinh doanh bảo hiểm nhân thọ
1.2.1 Khái niệm pháp luật kinh doanh bảo hiểm nhân thọ
Pháp luật kinh doanh bảo hiểm nhân thọ là tổng hợp các quy phạm pháp luật điều chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh trong: việc định hình tư cách chủ thể của DNBHNT; hoạt động cung cấp dịch vụ BHNT (thông qua các sản phẩm bảo hiểm) của DNBH và hoạt động đầu tư từ nguồn phí bảo hiểm, nguồn vốn khác (để đảm bảo quyền lợi đã cam kết trong HĐBHNT theo quy định của pháp luật); hoạt động giám sát của cơ quan có thẩm quyền với DNBHNT
1.2.2 Nguyên tắc của pháp luật kinh doanh bảo hiểm nhân thọ
- Chỉ bảo hiểm cho rủi ro không lường trước Bảo hiểm nhân thọ chỉ bảo hiểm khi
có sự kiện rủi ro xảy ra bất ngờ, ngẫu nhiên, ngoài ý muốn với người được bảo hiểm
chứ không bảo hiểm cho những rủi ro chắc chắn sẽ xảy ra hoặc đã xảy ra
- Số đông bù số ít Bảo hiểm nhân thọ dựa vào số đông người tham gia để san sẻ, bù
đắp sự thiếu hụt tài chính cho những ai không may gặp rủi ro và khắc phục dần trong nhiều năm Chính nguyên tắc này thể hiện tính nhân đạo, nhân văn cao cả của bảo
hiểm nhân thọ
- Nguyên tắc trung thực Vì liên quan đến thân thể, tính mạng và sức khỏe con người
nên tính trung thực rất quan trọng trong bảo hiểm nhân thọ Việc khách hàng cung cấp thông tin, tình trạng sức khỏe là những yếu tố quan trọng để thẩm định xem khách hàng có đủ điều kiện tham gia hay không Bên cạnh đó, việc này còn là cơ sở cho việc giải quyết quyền lợi bảo hiểm về sau (Điều 20Luật Kinh doanh bảo hiểm năm
2000 (sửa đổi, bổ sung năm 2010))
- Nguyên tắc khoán Người được bảo hiểm sẽ nhận được số tiền khoán, đúng mức
mà họ đã thỏa thuận trước trên hợp đồng bảo hiểm nhân thọ với DNBH (tùy thuộc vào sự phù hợp với nhu cầu cũng như khả năng đóng phí) Chính vì thế, người mua bảo hiểm có thể cùng một lúc ký nhiều hợp đồng bảo hiểm cho một đối tượng bảo hiểm và không bị hạn chế số tiền bảo hiểm
- Nguyên tắc quyền lợi có thể được bảo hiểm Quyền lợi có thể được bảo hiểm là lợi
ích hoặc quyền lợi liên quan đến, gắn liền với, hay phụ thuộc vào sự an toàn hay không an toàn của đối tượng bảo hiểm Nguyên tắc này chỉ ra rằng người mua bảo
Trang 21hiểm phải có lợi ích bảo hiểm Quyền lợi có thể được bảo hiểm là quyền, nghĩa vụ nuôi dưỡng, cấp dưỡng đối với đối tượng được bảo hiểm (Điều 3 Khoản 9 Luật Kinh doanh bảo hiểm năm 2000 (sửa đổi, bổ sung năm 2010))
- Nguyên tắc nguyên nhân gần Nguyên nhân gần là nguyên nhân chủ động, hữu
hiệu và chi phối sự việc dẫn đến tổn thất cho đối tượng được bảo hiểm Nguyên nhân gần không nhất thiết phải là nguyên nhân đầu tiên hay nguyên nhân cuối cùng Nó là nguyên nhân chi phối, nguyên nhân chủ động gây ra tổn thất Nếu có những tác động của một số nguyên nhân, nguyên nhân gần sẽ là nguyên nhân chi phối hoặc nguyên nhân mạnh nhất gây ra hậu quả dẫn tới tổn thất
- Nguyên tắc bảo vệ người tham gia bảo hiểm Đây là một trong những nguyên tắc
rất quan trọng cần được tuân thủ Sở dĩ người tham gia bảo hiểm luôn là chủ thể được chú ý bảo vệ vì những lý do cơ bản sau đây: HĐBHNT rất phức tạp, gồm nhiều nội dung và thuật ngữ có tính chuyên môn cao; HĐBHNT là hợp đồng mẫu và thườngcó thời hạn bảo hiểm rất dài (thường là từ 5 năm trở lên); quyền lợi của người tham gia bảo hiểm lệ thuộc vào DNBH có thể dẫn đến hành vi không công bằng khi thực hiện hợp đồng của DNBH (ví dụ như những đòi hỏi quá mức trong các thủ tục khai báo); việc bảo vệ người tham gia bảo hiểm nhằm duy trì niềm tin của công chúng đối với BHNT
1.2.3 Các yếu tố cấu thành luật kinh doanh bảo hiểm nhân thọ
Để phân tíchcác yếu tố cấu thành luật kinh doanh BHNT, cách thuận lợi nhất là xuất phát từ các quan hệ xã hội cơ bản có thể phát sinh từ hoạt động kinh doanh BHNT Với cách tiếp cận trên đây, pháp luật kinh doanh BHNT cần điều chỉnh những nhóm quan hệ xã hội sau:
- Nhóm quan hệ xã hội định hình tư cách chủ thể của DNBHNT Bộ phận pháp luật này nhằm xác định địa vị pháp lý của DNBH với những quyền và nghĩa vụ phù hợp với chức năng của nó trong mối tương quan với các chủ thể khác của nền kinh tế Bộ phận pháp luật này thông thường bao gồm những quy định về việc thành lập và hoạt động của DNBH, những quy định về cơ cấu, tổ chức cùng với những quyền và nghĩa
vụ của DNBH khi hoạt động, trong đó quyền và nghĩa vụ khi thực hiện hoạt động kinh doanh BHNT là những quy định quan trọng, đặc trưng nhất
Trang 22- Nhóm quan hệ xã hội giữa DNBHNT với người tham gia bảo hiểm Do sản phẩm BHNT là dịch vụ, nên khác với sản phẩm hàng hóa, HĐBHNT cần phải mô tả rõ về nội dung dịch vụ đó với những quyền và nghĩa vụ của các bên tham gia hợp đồng Chính vì vậy, pháp luật điều chỉnh đối với HĐBHNT luôn được coi là một bộ phận pháp luật quan trọng đối với hoạt động kinh doanh BHNT
- Nhóm quan hệ xã hội giữa cơ quan có thẩm quyền giám sát với DNBH trong hoạt động giám sát DNBH với tư cách là một chủ thể kinh doanh phải chịu sự giám sát của cơ quan quản lý nhà nước và các chủ thể khác có thẩm quyền Mối quan hệ này chủ yếu là quan hệ pháp luật hành chính, dựa trên nguyên tắc mệnh lệnh giữa một bên là chủ thể quản lý và một bên là chủ thể chịu quản lý Những quy định của bộ phận pháp luật này xác định những quyền hạn của cơ quan quản lý nhà nước và các chủ thể khác có thẩm quyền trong hoạt động giám sát Đồng thời, nó cũng xác định những nghĩa vụ mà DNBH cần phải tuân thủ và thực hiện để đảm bảo sự minh bạch, công bằng trên thị trường bảo hiểm tự do cạnh tranh và đảm bảo nguyên tắc bảo vệ người tham gia bảo hiểm
Trang 232 Kinh doanh BHNT là hoạt động mà DNBH cung cấp dịch vụ BHNT thông qua các sản phẩm bảo hiểm cho bên mua bảo hiểm, các chủ thể có liên quan (bao gồm: người được bảo hiểm, người thụ hưởng) và tiến hành đầu tư từ nguồn phí bảo hiểm, nguồn vốn khác để đảm bảo quyền lợi đã cam kết trong HĐBHNT theo quy định của pháp luật
3 Pháp luật kinh doanh bảo hiểm nhân thọ là tổng hợp các quy phạm pháp luật điều chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh trong: việc định hình tư cách chủ thể của DNBHNT; hoạt động cung cấp dịch vụ BHNT (thông qua các sản phẩm bảo hiểm) của DNBH và hoạt động đầu tư từ nguồn phí bảo hiểm, nguồn vốn khác (để đảm bảo quyền lợi đã cam kết trong HĐBHNT theo quy định của pháp luật); hoạt động giám sát của cơ quan có thẩm quyền với DNBHNT
4 Pháp luật về kinh doanh BHNT có bảy nguyên tắc cơ bản là: nguyên tắc chỉ bảo hiểm cho rủi ro không lường trước; nguyên tắc số đông bù số ít; nguyên tắc trung thực; nguyên tắc khoán; nguyên tắc quyền lợi có thể được bảo hiểm; nguyên tắc nguyên nhân gần; nguyên tắc bảo vệ người tham gia bảo hiểm
5 Cấu trúc pháp luật kinh doanh BHNT được xem xét dựa trên những quan hệ
xã hội đặc thù phát sinh từ hoạt động kinh doanh BHNT Theo đó, các bộ phận pháp luật cơ bản bao gồm các nhóm quy định đặc thù sau: nhóm các quy định xác định địa
vị pháp lý của DNBH; nhóm các quy định về HĐBHNT; nhóm các quy định về giám sát kinh doanh BHNT
Trang 24Chương 2: THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VỀ KINH DOANH BẢO HIỂM NHÂN THỌ Ở VIỆT NAM
2.1 Thực trạng quy định về doanh nghiệp kinh doanh bảo hiểm nhân thọ
2.1.1 Quy định về cấp phép hoạt động và cơ cấu tổ chức, bộ máy quản lý doanh nghiệp bảo hiểm nhân thọ
► Quy định về cấp phép hoạt động đối với doanh nghiệp bảo hiểm
TheoĐiều 60 Khoản 2 Luật Kinh doanh bảo hiểm năm 2000 (sửa đổi, bổ sung năm 2010): “… lĩnh vực kinh doanh BHNT chỉ được thực hiện thông qua việc thành lập DNBH tại Việt Nam DNBH nước ngoài không được thành lập chi nhánh để kinh doanh BHNT” Nhưng, doanh nghiệp nước ngoài kinh doanh bảo hiểm phi nhân thọ thì có thể (theo Điều 8 Khoản 1 Nghị định 73/2016/NĐ-CP)
DNBH được thành lập và hoạt động khi thỏa mãn những điều kiện theo quy định của pháp luật và phải được Bộ Tài chính cấp phép Những điều kiện mà DNBH phải thỏa mãn bao gồm: “yêu cầu về vốn pháp định phù hợp, về người quản trị và điều hành phải đủ tiêu chuẩn và cơ sở vật chất, trang thiết bị phải đáp ứng được để đảm bảo hoạt động ngay sau khi được cấp phép” (theo Điều 63 Luật Kinh doanh bảo hiểm năm 2000 (sửa đổi, bổ sung năm 2010) và Điều 6 Nghị định 73/2016/NĐ-CP)
Mô hình DNBH bao gồm các loại hình: “công ty cổ phần bảo hiểm, công ty trách nhiệm hữu hạn bảo hiểm, hợp tác xã bảo hiểm, tổ chức bảo hiểm tương hỗ” (theo Điều 59 Luật Kinh doanh bảo hiểm năm 2000 (sửa đổi, bổ sung năm 2010)) Ta có thể thấy, ngoài mô hình doanh nghiệp thuần túy (công ty cổ phần, công ty trách nhiệm hữu hạn, hợp tác xã), pháp luật Việt Nam khuyến khích các quỹ bảo hiểm tương hỗ phát triển để đảm bảo an sinh xã hội cho cộng đồng Tổ chức bảo hiểm tương hỗ là
“tổ chức có tư cách pháp nhân được thành lập để kinh doanh bảo hiểm nhằm tương trợ, giúp đỡ lẫn nhau giữa các thành viên, thành viên tổ chức này vừa là chủ sở hữu vừa là bên mua bảo hiểm” (theo Điều 70 Luật Kinh doanh bảo hiểm năm 2000 (sửa đổi, bổ sung năm 2010)) Để hạn chế việc khép kín trong hoạt động của DNBH cũng như đảm bảo năng lực của các chủ thể tham gia thành lập DNBH, Luật Kinh doanh bảo hiểm và các văn bản hướng dẫn đã quy định khá chi tiết những điều kiện đối với những chủ thể sáng lập, trong đó nổi bật là quy định về điều kiện và giới hạn góp vốn đối với tổ chức và cá nhân, đồng thời quy định phải sử dụng vốn của chính mình để
Trang 25góp vốn mà không được phép vay hoặc nhận ủy thác từ chủ thể khác (theo Điều 6 Khoản 1 Nghị định 73/2016/NĐ-CP) Riêng đối với DNBH nước ngoài đầu tư vào Việt Nam, Nghị định 73/2016/NĐ-CP vẫn có yêu cầu riêng, trong đó nổi bật là những yêu cầu về “năng lực tài chính (tổng tài sản tối thiểu tương đương 02 tỷ đô la Mỹ), kinh nghiệm hoạt động ít nhất 10 năm và đặc biệt là chỉ được tiến hành tại Việt Nam nghiệp vụ bảo hiểm đang thực hiện tại nước ngoài, nơi có trụ sở chính của DNBH đó” (theo Điểm a, Khoản 1, Điều 7 Nghị định 73/2016/NĐ-CP)
Đối với nghiệp vụ bảo hiểm được phép kinh doanh, các doanh nghiệp kinh doanh BHNT “không được bán các sản phẩm bảo hiểm phi nhân thọ một cách độc lập, mà chỉ được bán loại sản phẩm này để bổ trợ, gia tăng yếu tố bảo hiểm cho sản phẩm BHNT đã được cung cấp” và ngược lại (theo Điều 60 Khoản 2 Luật Kinh doanh bảo hiểm năm 2000 (sửa đổi, bổ sung năm 2010))
► Quy định về cơ cấu tổ chức và bộ máy quản lý doanh nghiệp bảo hiểm
DNBH có cơ cấu tổ chức bao gồm: “trụ sở chính, chi nhánh, phòng giao dịch và
có thể có văn phòng đại diện” (theo Điều 24 Khoản 1 Nghị định 73/2016/NĐ-CP) Cũng theo Nghị định 73/2016/NĐ-CP, việc mở Chi nhánh hoặc Văn phòng đại diện của DNBH phải được “sự chấp thuận của Bộ Tài chính, sau khi đáp ứng được những điều kiện như vốn điều lệ, khả năng quản lý, giám sát, ” (theo Điều 19 Khoản 1 và Khoản 5 Nghị định 73/2016/NĐ-CP)
Về bộ máy quản lý DNBH bao gồm các chức danh như: “Chủ tịch Hội đồng quản trị (Chủ tịch Hội đồng thành viên, Chủ tịch công ty); Tổng Giám đốc (Giám đốc); Phó Tổng Giám đốc (Phó Giám đốc); thành viên Hội đồng quản trị (Hội đồng thành viên); Trưởng Ban kiểm soát; Trưởng Ban kiểm toán nội bộ; kiểm soát viên (đối với trường hợp doanh nghiệp không thành lập Ban kiểm soát); Trưởng bộ phận kiểm soát nội bộ, kiểm toán nội bộ; kế toán trưởng; Giám đốc chi nhánh; Trưởng văn phòng đại diện; người đứng đầu các bộ phận nghiệp vụ; chuyên gia tính toán” (theo Điều 25 Khoản 1 Nghị định 73/2016/NĐ-CP)
Có thể khái lược những yêu cầu từ Điều 26 đến Điều 30 Nghị định
73/2016/NĐ-CP đưa ra đối với các chức danh quản trị, điều hành như sau:
+ Một là, người quản lý phải không thuộc các đối tượng bị cấm quản lý doanh
nghiệp theo quy định của Luật Doanh nghiệp và không vi phạm pháp luật, đặc biệt
Trang 26là trong lĩnh vực kinh doanh bảo hiểm (ví dụ: không bị xử lý vi phạm hành chính về
kinh doanh bảo hiểm với tư cách là người đại diện của DNBH)
+ Hai là, người quản lý phải là người có năng lực chuyên môn và kinh nghiệm
trong lĩnh vực kinh doanh bảo hiểm Các chức danh quản lý đều phải có bằng đại học
hoặc trên đại học và phải có thời gian công tác tối thiểu 3 năm trong lĩnh vực tương ứng được bổ nhiệm Yêu cầu này nhằm đảm bảo cho người quản lý có đủ khả năng thực hiện tốt công việc ở vị trí tương ứng
+ Ba là, người quản lý đều phải cư trú tại Việt Nam trong thời gian đương
nhiệm Quy định này nhằm đảm bảo người quản lý có điều kiện thực hiện việc điều
hành, quản lý, cũng như đảm bảo khả năng giám sát của cơ quan nhà nước có thẩm quyền
+ Bốn là, đối với chức danh thành viên Hội đồng quản trị (Hội đồng thành
viên), chức danh Tổng Giám đốc (Giám đốc) còn có yêu cầu về việc không được đảm nhiệm một số chức vụ quản lý ở DNBH khác tại Việt Nam Quy định này nhằm đảm
bảo hạn chế những lợi ích đan xen giữa các DNBH, cũng như đảm bảo về quỹ thời gian để người quản lý thực hiện trách nhiệm của mình
Một chức danh quản lý hết sức đặc thù chỉ có ở DNBH theo thông lệ quốc tế là chuyên gia tính toán (actuary) Theo Điểm d Khoản 2 Điều 25 Nghị định 73/2016/NĐ-CP, DNBH phải có chuyên gia tính toán để giữ trách nhiệm “đảm bảo
an toàn tài chính; chịu trách nhiệm xây dựng quy tắc, điều khoản và tính toán phí bảo hiểm của các sản phẩm BHNT;…” cho DNBH Để đáp ứng được những nhiệm vụ trên đây, ngoài những tiêu chuẩn chung với các chức danh quản trị, điều hành quy định tại Điều 26 Nghị định 73/2016/NĐ-CP, thì Bộ Tài chính còn quy định chuyên gia tính toán phải đáp ứng thêm các tiêu chuẩn riêng được quy định cụ thể tại Điều
31 Nghị định 73/2016/NĐ-CP
2.1.2 Quy định về hoạt động cung ứng dịch vụ bảo hiểm nhân thọ và hoạt động đầu tư của doanh nghiệp bảo hiểm nhân thọ
► Quy định về hoạt động cung ứng dịch vụ bảo hiểm nhân thọ
○ Theo Luật Kinh doanh bảo hiểm, các nghiệp vụ mà sản phẩm BHNT được phép cung cấp bao gồm: “bảo hiểm trọn đời, bảo hiểm sinh kỳ, bảo hiểm tử kỳ, bảo hiểm hỗn hợp, bảo hiểm trả tiền định kỳ, bảo hiểm liên kết đầu tư và bảo hiểm hưu trí”
Trang 27(theo Điều 7 Khoản 1Luật Kinh doanh bảo hiểm năm 2000 (sửa đổi, bổ sung năm 2010)) Như vậy, ta có thể thấy, các sản phẩm BHNT tại thị trường bảo hiểm Việt Nam khá đa dạng nhằm đáp ứng nhu cầu của những đối tượng khách hàng khác nhau.
○ Sản phẩm BHNT phải đảm bảo được thiết kế đúng với chính sách của nhà nước
và trước khi triển khai phải được Bộ Tài chính phê chuẩn Các nguyên tắc khi xây dựng sản phẩm BHNT gồm: “phải đảm bảo tuân thủ pháp luật; phù hợp với thông lệ, chuẩn mực đạo đức, văn hoá và phong tục, tập quán của Việt Nam; ngôn ngữ sử dụng trong quy tắc, điều khoản bảo hiểm phải chính xác,…” (Điều 39 Khoản 3 và Khoản
5 Nghị định 73/2016/NĐ-CP) Nội dung và thủ tục phê chuẩn sản phẩm bảo hiểm được quy định cụ thể tại Điều 40 Khoản 1 Nghị định 73/2016/NĐ-CP và Điều 6 thông
tư 50/2017/TT-BTC.Nghị định 73/2016/NĐ-CP cũng nhấn mạnh: “DNBH cần phải thực hiện đúng quy tắc, điều khoản, biểu phí đã được phê chuẩn hoặc đăng ký với Bộ Tài chính Trường hợp có thay đổi, phải được Bộ Tài chính phê chuẩn hoặc đăng ký với Bộ Tài chính trước khi thực hiện nội dung đó vào thực tế” (Điều 39 Khoản 6 Nghị định 73/2016/NĐ-CP) Quy định về phê chuẩn sản phẩm BHNT tại Việt Nam là cần thiết trong bối cảnh thị trường bảo hiểm còn non trẻ rất cần có sự quản lý và giám sát của cơ quan nhà nước có thẩm quyền
○ Phân phối sản phẩm BHNT (cung ứng dịch vụ bảo hiểm nhân thọ) là cách thức
mà thông qua đó HĐBHNT được ký kết và thực hiện Hệ thống phân phối là sự kết hợp mạng lưới giữa nhiều tổ chức, cá nhân mà trong đó DNBH có vai trò chủ chốt để đưa sản phẩm BHNT đến với người tiêu dùng Trên thế giới cũng như tại Việt Nam hiện nay, DNBH kinh doanh sản phẩm BHNT thường có các kênh phân phối cơ bản
là phân phối trực tiếp và phân phối qua trung gian
+ Phân phối trực tiếp thường được thiết lập bằng việc DNBH trực tiếp đưa ra các chương trình quảng bá sản phẩm, đồng thời chào bán sản phẩm qua các phương tiện thông tin đại chúng như báo chí, internet Sau đó, khách hàng phản hồi bằng cách tiếp xúc với nhân viên của DNBH và ký kết hợp đồng Thực tiễn cho thấy, kênh phân phối này rất ít hiệu quả khi mà thị trường BHNT có sự cạnh tranh cao như hiện nay Mặc dù có nhiều ưu điểm như chi phí thấp và đáng tin cậy hơn, nhưng do mức độ phục vụ thường không sát với điều kiện và nhu cầu của khách hàng (nhân viên chỉ làm việc vào giờ hành chính, khách hàng tự túc phương tiện đi lại,…) nên thường không được khách hàng ưa chuộng Do đó, tỷ lệ doanh thu thông qua kênh này trên
Trang 28+ Phân phối qua trung gian từ lâu đã là kênh phân phối chủ đạo của các doanh nghiệp kinh doanh BHNT Theo đó, HĐBHNT được ký kết với sự thu xếp của một chủ thể thứ ba trên cơ sở chủ thể trung gian này được DNBH trả một khoản phí nhất định (gọi là hoa hồng bảo hiểm) Hiện nay, chủ thể trung gian này chủ yếu là đại lý bảo hiểm và tổ chức môi giới
○ Ở Việt Nam, pháp luật có quy định tương đối mở đối với hoạt động phân phối sản phẩm BHNT, theo đó DNBH có thể phân phối thông qua “kênh bán trực tiếp, thông qua kênh đại lý hoặc môi giới bảo hiểm, thông qua đấu thầu, thông qua giao dịch điện tử và các hình thức khác phù hợp với quy định của pháp luật” (theo Điều
38 Khoản 1 Nghị định 73/2016/NĐ-CP)
+ Đại lý bảo hiểm có thể là cá nhân hoặc tổ chức, trong khi đó môi giới bảo hiểm phải được thành lập dưới hình thức doanh nghiệp nhưng đều phải tuân thủ các điều kiện của pháp luật mà chủ yếu là điều kiện về năng lực và chuyên môn nghiệp vụ (theo Điều 84, Điều 86 và Điều 89 Luật Kinh doanh bảo hiểm năm 2000 (sửa đổi, bổ sung năm 2010)) Đại lý bảo hiểm phải được “đào tạo tại các cơ sở đào tạo đảm bảo chất lượng, theo những yêu cầu của pháp luật về chương trình đào tạo và dưới sự giám sát của Bộ Tài chính” (Điều 87 và Điều 89 Nghị định 73/2016/NĐ-CP) Đối với đại lý bảo hiểm là tổ chức thì “tất cả những cá nhân có khả năng đại diện cho tổ chức đại lý đều phải thỏa mãn điều kiện giống như đại lý là cá nhân” (Điều 86 Khoản
2 Luật Kinh doanh bảo hiểm năm 2000 (sửa đổi, bổ sung năm 2010)) Kênh phân phối qua đại lý có ưu điểmhơn kênh trực tiếp nhờhết sức linh hoạt (có thể co giãn về thời gian và sẵn sàng gặp khách hàng tại nơi khách hàng đề nghị) Kênh này cũng tiết kiệm chi phí cho DNBH, vì thu nhập của đại lý chủ yếu là hoa hồng có được từ các HĐBHNT đã ký
+ Đối với doanh nghiệp môi giới bảo hiểm, pháp luật quy định chủ thể này phải do
Bộ Tài chính cấp giấy phép thành lập và hoạt động và có mức vốn pháp định là: “4
tỷ đồng Việt Nam nếu kinh doanh môi giới bảo hiểm gốc hoặc môi giới tái bảo hiểm;
8 tỷ đồng Việt Nam nếu kinh doanh môi giới bảo hiểm gốc và môi giới tái bảo hiểm” (theo Điều 10 Khoản 6 Nghị định 73/2016/NĐ-CP và Điều 93 Luật Kinh doanh bảo hiểm năm 2000 (sửa đổi, bổ sung năm 2010)) Như vậy, ta có thể thấy, đại lý bảo hiểm và môi giới bảo hiểm có một số điểm tương đồng như: đều là trung gian, thực hiện việc thu xếp hợp đồng Bảo hiểm; đều có hưởng hoa hồng; đều phải được đào tạo
Trang 29chuyên sâu về nghiệp vụ, tư vấn khách hàng Tuy nhiên, không chỉ có những điểm tương đồng trên, hai chủ thể này còn có các điểm khác biệt20
► Quy định về hoạt động đầu tư của doanh nghiệp bảo hiểm
Hoạt động đầu tư vốn của DNBH phải bảo đảm nguyên tắc: an toàn, hiệu quả và đáp ứng được yêu cầu chi trả thường xuyên cho các cam kết theo HĐBH Để đảm bảo nguyên tắc này, DNBH chỉ được thực hiện hoạt động đầu tư ở những nội dung như: “mua trái phiếu Chính phủ; mua cổ phiếu, trái phiếu doanh nghiệp; kinh doanh bất động sản; góp vốn vào các doanh nghiệp khác; cho vay theo quy định của Luật Các tổ chức tín dụng; và gửi tiền tại các tổ chức tín dụng” (theo Điều 98 Khoản 2 Luật Kinh doanh bảo hiểm năm 2000 (sửa đổi, bổ sung năm 2010)) Đồng thời phải tuân thủ giới hạn về đầu tư như sau:
- Thứ nhất, pháp luật quy định nguồn vốn đầu tư bao gồm hai loại chủ yếu là
nguồn vốn nhàn rỗi từ dự phòng nghiệp vụ và nguồn vốn chủ sở hữu (theo Điều
59 Khoản 1 Nghị định 73/2016/NĐ-CP)
+ Trong đó, Dự phòng nghiệp vụ là “số tiền DNBHNT phải trích lập dự phòng cho từng hợp đồng bảo hiểm nhân thọ tương ứng với trách nhiệm của doanh nghiệp bảo hiểm” (theo Điều 54 Khoản 1 Nghị định 73/2016/NĐ-CP) Nguồn vốn nhàn rỗi từ dự phòng nghiệp vụ của DNBH là “tổng dự phòng nghiệp vụ bảo hiểm trừ các khoản tiền dùng để trả tiền bảo hiểm thường xuyên trong kỳ” (theo Điều 61 Khoản 1 Nghị định 73/2016/NĐ-CP) Đối với nguồn vốn này, về bản chất là trách nhiệm của DNBH đối với khách hàng nhưng tạm thời chưa sử dụng nên được phép đầu tư vì hai mục đích: làm gia tăng lợi nhuận cho DNBH; tăng cường khả năng chi trả và gia tăng lợi ích cho người tham gia bảo hiểm Bên cạnh đó, để đảm bảo khả năng chi trả bình thường, khoản tiền dùng để trả tiền bảo hiểm thường xuyên trong kỳ đối với DNBHNT “không thấp hơn 5% tổng dự phòng nghiệp vụ bảo hiểm và phải được gửi tại các tổ chức tín dụng hoạt động tại Việt Nam” (theo Điều 61 Khoản 3 Nghị định 73/2016/NĐ-CP) Đồng thời, việc đầu tư vốn nhàn rỗi từ dự phòng nghiệp vụ bảo hiểm của DNBHNT được thực hiện trực tiếp bởi DNBHNT hoặc thông qua ủy thác đầu tư và chỉ được thực hiện tại Việt Nam trong các lĩnh vực được quy định tạiĐiều
62 Khoản 2 Nghị định 73/2016/NĐ-CP
20 Bảng so sánh đại lý bảo hiểm và doanh nghiệp mô giới bảo hiểm được đính kèm ở phần phụ lục I của khóa
Trang 30+ Còn đối với nguồn vốn chủ sở hữu, để hiểu nguồn vốn chủ sở hữu thì ta phải hiểu khái niệm vốn điều lệ Vốn điều lệ của doanh nghiệp bảo hiểm là “tổng số tiền do các thành viên đã góp hoặc cam kết góp khi thành lập công ty trách nhiệm hữu hạn, là tổng giá trị mệnh giá cổ phần đã bán hoặc được đăng ký mua khi thành lập công ty
cổ phần và được ghi vào điều lệ của doanh nghiệp bảo hiểm” (theo Điều 49 Khoản 1 Nghị định 73/2016/NĐ-CP) Vốn chủ sở hữu là các nguồn vốn thuộc sở hữu của các thành viên trong công ty trách nhiệm hữu hạn hoặc các cổ đông trong các công ty cổ phần Sự khác biệt cơ bản giữa vốn điều lệ và vốn chủ sở hữu là: vốn điều lệ chỉ là con số có tính chất đăng ký pháp lý và vốn chủ sở hữu sẽ thay đổi qua quá trình vận hành của DN, các khoản lãi và lỗ có thể làm tăng hoặc giảm phần lãi giữ lại, khiến cho vốn chủ sở hữu biến động Vốn chủ sở hữu của DNBHNT phải bảo đảm duy trì không thấp hơn mức vốn pháp định (vốn điều lệ) quy định tại Điều 10 Nghị định 73/2016/NĐ-CP và bảo đảm biên khả năng thanh toán của doanh nghiệp bảo hiểm cao hơn biên khả năng thanh toán tối thiểu trong suốt quá trình hoạt động “Hàng quý, căn cứ vào báo cáo tài chính, doanh nghiệp bảo hiểm phải đánh giá lại nguồn vốn chủ
sở hữu” (theo Điều 50 Nghị định 73/2016/NĐ-CP) Việc đầu tư từ nguồn vốn chủ sở hữu bằng với “vốn pháp định hoặc biên khả năng thanh toán tối thiểu, tùy theo số nào lớn hơn” (theo Điều 60 Khoản 1 Nghị định 73/2016/NĐ-CP) Đồng thời, việc đầu tư vốn chủ sở hữu của DNBHNT cũng được thực hiện “trực tiếp bởi DNBHNT hoặc thông qua ủy thác đầu tư giống như việc đầu tư vốn nhàn rỗi từ dự phòng nghiệp vụ bảo hiểm của DNBHNT” (theo Điểm b, Khoản 1, Điều 60 và Khoản 2 Điều 62 Nghị định 73/2016/NĐ-CP)
- Thứ hai, pháp luật quy định về giới hạn đầu tư đối với từng loại hình đầu tư
+“DNBHNT được mua không hạn chế trái phiếu Chính phủ, tín phiếu kho bạc, trái phiếu kho bạc, Đối với hoạt động đầu tư cổ phiếu, trái phiếu doanh nghiệp, chứng chỉ quỹ không có bảo lãnh thì chỉ được thực hiện tối đa bằng 50% vốn nhàn rỗi từ dự phòng nghiệp vụ Bên cạnh đó, DNBH chỉ được phép đầu tư chứng chỉ quỹ của các quỹ đầu tư mà danh mục tài sản đầu tư thuộc các lĩnh vực DNBH được phép đầu tư theo Điều 98 Luật kinh doanh bảo hiểm năm 2000 (sửa đổi, bổ sung năm 2010) Đối với hoạt động góp vốn vào các doanh nghiệp khác thì chỉ được thực hiện tối đa 20% vốn nhàn rỗi từ dự phòng nghiệp vụ bảo hiểm Đối với hoạt động kinh doanh bất động sản thì chỉ được đầu tư tối đa 20% vốn nhàn rỗi từ dự phòng nghiệp vụ Đối với hoạt động gửi tiền tại các tổ chức tín dụng thì được thực hiện không hạn chế” (theo Điều
62 Khoản 2 và Khoản 4 Nghị định 73/2016/NĐ-CP) Quy định này cũng được áp
Trang 31dụng đối với nguồn vốn chủ sở hữu dành để đầu tư Các hạn mức này đối với DNBHNT là cao hơn so với DNBH phi nhân thọ Điều này xuất phát từ bản chất hoạt động kinh doanh BHNT thường có nguồn dự phòng nghiệp vụ lớn và ổn định do HĐBHNT có thời hạn dài
+ Ngoài ra bảo đảm an toàn tài chính, Nghị định 73/2016/NĐ-CP quy định các nguyên tắc doanh nghiệp bảo hiểm phải bảo đảm trong hoạt động đầu tư bao gồm:
“tuân thủ quy định pháp luật, tự chịu trách nhiệm về hoạt động đầu tư, bảo đảm tính
an toàn, hiệu quả và thanh khoản;…” (theo Điều 59 Khoản 2 Nghị định CP)
73/2016/NĐ Thứ ba, pháp luật quy định về hoạt động đầu tư ra nước ngoài của DNBH
+ Pháp luật hiện hành quy định DNBH có quyền sử dụng nguồn vốn chủ sở hữu để đầu tư ra nước ngoài và chỉ được phép thực hiện các hình thức đầu tư như: “thành lập DNBH, chi nhánh DNBH ở nước ngoài và các hình thức khác theo quy định của pháp luật” (theo Điều 60 Khoản 3 Nghị định 73/2016/NĐ-CP) Tuy nhiên, DNBH đầu tư
ra nước ngoài phải “tuân thủ theo quy định pháp luật về kinh doanh bảo hiểm, pháp luật về đầu tư ra nước ngoài, pháp luật về quản lý ngoại hối, được Bộ Tài chính chấp thuận và thực hiện dưới tên của doanh nghiệp đó” (theo Điều 60 Khoản 4 Nghị định 73/2016/NĐ-CP) Thủ tục đề nghị chấp thuận thực hiện hoặc điều chỉnh, chấm dứt hoạt động đầu tư ra nước ngoài được quy định cụ thể tại Điều 60 Khoản 5 Nghị định 73/2016/NĐ-CP
► Quy định về hoạt động tái bảo hiểm
○ Về khái niệm, tái bảo hiểm là một hình thức bảo hiểm lại những rủi ro đã được bảo hiểm Nói cách khác, tái bảo hiểm là bảo hiểm cho người bảo hiểm (DNBH).Trong tái bảo hiểm việc ký hợp đồng bảo hiểm được diễn ra như sau: DNBH gốc đứng ra ký hợp đồng bảo hiểm với người tham gia và sau đó phân chia trách nhiệm cho các doanh nghiệp nhận tái bảo hiểm theo sự thỏa thuận giữa DNBH gốc và các doanh nghiệp nhận tái bảo hiểm
○ Vậy khi nào DNBH sẽ thực hiện hoạt động nhượng tái bảo hiểm? Có ba trường hợp DNBH nhượng tái bảo hiểm, trong đó có một trường hợp là bắt buộc, cụ thể là: + Trường hợp 1: chính DNBH gốc chủ động thực hiện nhượng tái bảo hiểm cho các doanh nghiệp nhận tái bảo hiểm Có nhiều lý do để DNBH gốc chủ động nhượng tái
Trang 32bảo hiểm, nhưng lý do quan trọng nhất để DNBH gốc đưa ra quyết định này là vì ổn định kinh doanh cho DNBH gốc và tạo điều kiện cho các doanh nghiệp này có thể nhận bảo hiểm cho những rủi ro vượt quá khả năng tài chính của mình
+ Trường hợp 2: DNBH nhượng tái bảo hiểm theo chỉ định của người được bảo hiểm (theo Điều 42 Khoản 3 Nghị định 73/2016/NĐ-CP)
+ Trường hợp 3: Khi có nguy cơ mất khả năng thanh toán, DNBH phải chủ động thực hiện ngay các biện pháp tự khôi phục khả năng thanh toán đồng thời báo cáo Bộ Tài chính về thực trạng tài chính, nguyên nhân dẫn đến nguy cơ mất khả năng thanh toán
và phương án khôi phục khả năng thanh toán Trong trường hợp DNBH không tự khôi phục được khả năng thanh toán thì Bộ Tài chính có quyền yêu cầu DNBH thực hiện khôi phục khả năng thanh toán bằng nhiều biện pháp và tái bảo hiểm là một trong những biện pháp đó (theo Điểm b, Khoản 2, Điều 67 Nghị định 73/2016/NĐ-CP) – trường hợp bắt buộc
○ Doanh nghiệp bảo hiểm, chi nhánh nước ngoài có thể chuyển một phần nhưng không được nhượng toàn bộ trách nhiệm đã nhận bảo hiểm trong một hợp đồng bảo hiểm cho một hoặc nhiều doanh nghiệp bảo hiểm trong và ngoài nước, chi nhánh nước ngoài khác “Mức trách nhiệm giữ lại tối đa trên mỗi rủi ro hoặc trên mỗi tổn thất riêng lẻ không quá 10% vốn chủ sở hữu Trường hợp doanh nghiệp bảo hiểm, chi nhánh nước ngoài nhượng tái bảo hiểm theo chỉ định của người được bảo hiểm,
tỷ lệ tái bảo hiểm chỉ định tối đa là 90% mức trách nhiệm bảo hiểm” (Điều 42 Khoản
1, Khoản 2, Khoản 3 và Khoản 4 Nghị định 73/2016/NĐ-CP) Bộ Tài chính hướng dẫn mức giữ lại đối với doanh nghiệp bảo hiểm, doanh nghiệp tái bảo hiểm, chi nhánh nước ngoài tại Điều 10 Thông tư 50/2017/TT-BTC Mặc khác, doanh nghiệp nhận tái bảo hiểm có thể nhận bảo hiểm lại một phần hay toàn bộ trách nhiệm mà doanh nghiệp bảo hiểm khác đã nhận bảo hiểm (Điều 61 Khoản 2 Luật Kinh doanh bảo hiểm năm
2000 (sửa đổi, bổ sung năm 2010)) Tuy nhiên, theo quy định của Khoản 2 Điều 42 Nghị định 73/2016/NĐ-CP thì: “mức trách nhiệm giữ lại tối đa trên mỗi rủi ro hoặc trên mỗi tổn thất riêng lẻ không quá 10% vốn chủ sở hữu” Vậy trường hợp nào doanh nghiệp nhận tái bảo hiểm được nhận bảo hiểm lại toàn bộ trách nhiệm mà doanh nghiệp bảo hiểm khác đã nhận bảo hiểm, khi mà các DNBH gốc chỉ được nhượng tối
đa 90% mức trách nhiệm bảo hiểm Đó là trường hợp DNBH nhượng tái bảo hiểm là DNBH nước ngoài, trong trường hợp này doanh nghiệp nhận tái bảo hiểm có thể nhận bảo hiểm lại toàn bộ trách nhiệm mà DNBH nước ngoài này đã nhận bảo hiểm
Trang 33○ Trách nhiệm của các chủ thể trong trường hợp tái bảo hiểm: “doanh nghiệp bảo hiểm chịu trách nhiệm duy nhất đối với bên mua bảo hiểm theo hợp đồng bảo hiểm,
kể cả trong trường hợp tái bảo hiểm những trách nhiệm đã nhận bảo hiểm; doanh nghiệp nhận tái bảo hiểm không được yêu cầu bên mua bảo hiểm trực tiếp đóng phí bảo hiểm cho mình, trừ trường hợp có thỏa thuận khác trong hợp đồng bảo hiểm; bên mua bảo hiểm không được yêu cầu doanh nghiệp nhận tái bảo hiểm trả tiền bảo hiểm hoặc bồi thường cho mình, trừ trường hợp có thỏa thuận khác trong hợp đồng bảo hiểm” (Điều 27 Luật Kinh doanh bảo hiểm năm 2000 (sửa đổi, bổ sung năm 2010)) Như vậy trong tái bảo hiểm, khi tổn thất xảy ra, trước hết DNBH gốc đứng ra bồi thường cho người được bảo hiểm, sau đó mới đòi lại doanh nghiệp nhận tái bảo hiểm
Ở đây người được bảo hiểm không có quan hệ trực tiếp với doanh nghiệp nhận tái bảo hiểm
► Quy định về chuyển giao HĐBH
○ Việc chuyển giao toàn bộ hợp đồng bảo hiểm của một hoặc một số nghiệp vụ bảo hiểm giữa các doanh nghiệp bảo hiểm được thực hiện trong những trường hợp sau đây: “doanh nghiệp bảo hiểm có nguy cơ mất khả năng thanh toán; doanh nghiệp bảo hiểm chia, tách, hợp nhất, sáp nhập, giải thể; theo thỏa thuận giữa các doanh nghiệp bảo hiểm” (Điều 74 Luật Kinh doanh bảo hiểm năm 2000 (sửa đổi, bổ sung năm 2010))
○ Việc chuyển giao hợp đồng bảo hiểm được thực hiện theo các điều kiện sau đây:
“doanh nghiệp bảo hiểm nhận chuyển giao đang kinh doanh nghiệp vụ bảo hiểm được chuyển giao; các quyền và nghĩa vụ theo hợp đồng bảo hiểm được chuyển giao không thay đổi cho đến khi hết thời hạn hợp đồng bảo hiểm; việc chuyển giao hợp đồng bảo hiểm phải kèm theo việc chuyển giao các quỹ và dự phòng nghiệp vụ liên quan đến toàn bộ hợp đồng bảo hiểm được chuyển giao” (Điều 75 Luật Kinh doanh bảo hiểm năm 2000 (sửa đổi, bổ sung năm 2010))
○ Thủ tục chuyển giao hợp đồng bảo hiểm được quy định tại Điều 76 Luật Kinh doanh bảo hiểm năm 2000 (sửa đổi, bổ sung năm 2010)
○ Kể từ ngày nhận chuyển giao, doanh nghiệp nhận chuyển giao có trách nhiệm:
“thực hiện các nghĩa vụ của hợp đồng bảo hiểm được chuyển giao theo đúng các điều khoản đã ký kết giữa doanh nghiệp chuyển giao và bên mua bảo hiểm, kể cả trách nhiệm giải quyết các sự kiện bảo hiểm đã xảy ra nhưng chưa báo cáo; doanh nghiệp
Trang 34nhận chuyển giao có quyền tiếp nhận tài sản liên quan tới các quỹ, dự phòng nghiệp
vụ của hợp đồng bảo hiểm được chuyển giao và sử dụng tài sản đó để thực hiện nghĩa
vụ theo hợp đồng bảo hiểm được chuyển giao” (Điều 48 Khoản 7 Nghị định 73/2016/NĐ-CP)
○ Sự khác biệt giữa tái bảo hiểm và chuyển giao hợp đồng bảo hiểm21
2.1.3 Quy định về khả năng thanh toán của doanh nghiệp bảo hiểm
Việc góp vốn của các tổ chức, cá nhân được Nghị định 73/2016/NĐ-CP quy định khá chặt chẽ mà nổi bật là yêu cầu về nguồn gốc vốn góp và giới hạn góp vốn Theo đó: “tổ chức, cá nhân chỉ được sử dụng nguồn vốn của chính mình để góp, không được sử dụng vốn vay hay vốn ủy thác; tổ chức tham gia góp vốn từ 10% vốn điều lệ trở lên phải hoạt động kinh doanh có lãi trong 03 năm liền kề trước năm nộp hồ sơ đề nghị cấp Giấy phép và không có lỗ lũy kế đến thời điểm nộp hồ sơ đề nghị cấp Giấy phép; tổ chức tham gia góp vốn hoạt động trong ngành nghề kinh doanh có yêu cầu vốn pháp định phải bảo đảm vốn chủ sở hữu trừ đi vốn pháp định tối thiểu bằng số vốn dự kiến góp; trường hợp tổ chức tham gia góp vốn là doanh nghiệp bảo hiểm, doanh nghiệp môi giới bảo hiểm, ngân hàng thương mại, công ty tài chính, công ty chứng khoán thì các tổ chức này phải bảo đảm duy trì và đáp ứng các điều kiện an toàn tài chính và được cơ quan có thẩm quyền chấp thuận cho phép tham gia góp vốn theo quy định pháp luật chuyên ngành” (theo Điều 6 Khoản 1 Nghị định 73/2016/NĐ-CP) Trường hợp có thay đổi vốn điều lệ, DNBH phải được sự chấp thuận của Bộ Tài
21 Bảng so sánh sự khác biệt giữa tái bảo hiểm và chuyển giao hợp đồng bảo hiểm được đính kèm ở phần phụ lục II của khóa luận tốt nghiệp này
Trang 35chính Thủ tục thay đổi vốn điều lệ được quy định cụ thể tại Điều 18 Nghị định 73/2016/NĐ-CP
► Quy định về trích lập dự phòng nghiệp vụ
Doanh nghiệp bảo hiểm nhân thọ, doanh nghiệp tái bảo hiểm kinh doanh tái bảo hiểm nhân thọ phải lập các loại dự phòng nghiệp vụ bảo hiểm tương ứng với từng loại hình sản phẩm triển khai và phải được chuyên gia tính toán của doanh nghiệp xác nhận (theo Điều 18 Khoản 1 Thông tư 50/2017/TT-BTC) DNBHNT phải trích lập các loại dự phòng nghiệp vụ bao gồm: “dự phòng toán học, dự phòng bồi thường,
dự phòng phí chưa được hưởng, dự phòng chia lãi, dự phòng bảo đảm lãi suất cam kết và dự phòng đảm bảo cân đối” (theo Điều 54 Khoản 2 Nghị định 73/2016/NĐ-CP) Dự phòng toán học: “là dự phòng được sử dụng để trả tiền bảo hiểm đối với những trách nhiệm đã cam kết khi xảy ra sự kiện bảo hiểm” (theo Điểm a, Khoản 2, Điều 54 Nghị định 73/2016/NĐ-CP) Dự phòng phí chưa được hưởng: “là dự phòng được sử dụng để trả tiền bảo hiểm sẽ phát sinh trong thời gian còn hiệu lực của hợp đồng bảo hiểm trong năm tiếp theo” (theo Điểm b, Khoản 2, Điều 54 Nghị định 73/2016/NĐ-CP) Dự phòng bồi thường: “là dự phòng được sử dụng để trả tiền cho các sự kiện bảo hiểm đã xảy ra chưa khiếu nại hoặc đã khiếu nại nhưng đến cuối năm tài chính chưa được giải quyết” (theo Điểm c, Khoản 2, Điều 54 Nghị định 73/2016/NĐ-CP) và được chia làm 2 loại (theo Điều 18, Khoản 3, Điểm 3.3 Thông
tư 50/2017/TT-BTC) Dự phòng chia lãi: “là dự phòng được sử dụng để trả lãi mà doanh nghiệp bảo hiểm đã thỏa thuận với bên mua bảo hiểm trong hợp đồng bảo hiểm” (theo Điểm d, Khoản 2, Điều 54 Nghị định 73/2016/NĐ-CP) Dự phòng bảo đảm cân đối: “là dự phòng được sử dụng để trả tiền bảo hiểm khi xảy ra sự kiện bảo hiểm do có biến động lớn về tỷ lệ rủi ro, lãi suất kỹ thuật (theo Điểm e, Khoản 2, Điều
54 Nghị định 73/2016/NĐ-CP) Dự phòng bảo đảm lãi suất cam kết: “là dự phòng được sử dụng để bảo đảm mức lãi suất cam kết của doanh nghiệp đối với khách hàng theo thỏa thuận tại hợp đồng bảo hiểm” (theo Điểm đ, Khoản 2, Điều 54 Nghị định 73/2016/NĐ-CP)
Do mỗi loại dự phòng lại có nhiều phương pháp tính khác nhau, nên về nguyên tắc, Bộ Tài chính cho phép các DNBH chủ động lựa chọn phương pháp trích lập nhưng phải được Bộ Tài chính phê chuẩn trước khi thực hiện và không được thay đổi phương pháp trích lập trong năm tài chính (theo Điều 58 Khoản 1 Nghị định 73/2016/NĐ-CP và Điều 18 Khoản 2 Thông tư 50/2017/TT-BTC)
Trang 36► Quy định về biên khả năng thanh toán
- DNBH phải luôn duy trì khả năng thanh toán trong suốt quá trình hoạt động nhằm đảm bảo đáp ứng những nghĩa vụ tài chính của mình Khả năng thanh toán của DNBH được xác định bằng biên khả năng thanh toán tối thiểu mà DNBH phải đáp ứng DNBH được coi là có đủ khả năng thanh toán khi “đã trích lập đầy đủ dự phòng nghiệp vụ theo quy định và có biên khả năng thanh toán không thấp hơn biên khả năng thanh toán tối thiểu” (theo Điều 63 Nghị định 73/2016/NĐ-CP)
- Biên khả năng thanh toán tối thiểu được hiểu là phần chênh lệch giữa giá trị tài sản
và các khoản nợ phải trả của DNBH tại thời điểm tính biên khả năng thanh toán, trong
đó các tài sản phải đảm bảo tính thanh khoản và một số tài sản phải giảm trừ giá trị
để đảm bảo tương xứng với rủi ro thanh khoản (theo Điều 20 Khoản 1 Thông tư 50/2017/TT-BTC và Điều 65 Nghị định 73/2016/NĐ-CP) Đối với DNBHNT, việc xác định biên khả năng thanh toán được quy định tại Điều 64 Khoản 2 Nghị định 73/2016/NĐ-CP
► Quy định về Quỹ bảo vệ người được bảo hiểm
Một bước tiến quan trọng của Luật Kinh doanh bảo hiểm năm 2000 sau khi được Quốc hội sửa đổi, bổ sung vào năm 2010 là việc quy định về Quỹ Bảo vệ người được bảo hiểm (Quỹ BVNĐBH) Qũy này để bảo vệ quyền lợi của người được bảo hiểm trong trường hợp DNBH phá sản hoặc mất khả năng thanh toán với nguồn tài chính được trích lập theo tỷ lệ phần trăm trên phí bảo hiểm áp dụng đối với tất cả HĐBH (theo Điều 97 Khoản 3 Luật Kinh doanh bảo hiểm năm 2000 (sửa đổi, bổ sung năm 2010)) Hiện nay, Quỹ BVNĐBH được quy định cụ thể trong Thông tư 101/2013/TT-BTC và Nghị định 73/2016/NĐ-CP Theo các văn bản này thì Quỹ BVNĐBH được
sử dụng để: “trả tiền bảo hiểm, giá trị hoàn lại; trả tiền bồi thường bảo hiểm; hoàn phí bảo hiểm theo quy định tại HĐBH theo đề nghị của DNBH, chi nhánh DNBH phi nhân thọ nước ngoài mất khả năng thanh toán hoặc bị phá sản” (theo Điều 105 Khoản
3 Nghị định 73/2016/NĐ-CP)
Theo quy định hiện hành thì Quỹ BVNĐBH được quản lý tập trung tại Bộ Tài chính và được hạch toán, quản lý, theo dõi riêng đối với từng loại hình bảo hiểm nhân thọ và bảo hiểm phi nhân thọ, bảo hiểm sức khỏe (theo Điều 104 Nghị định 73/2016/NĐ-CP) “Quỹ BVNĐBH có tư cách pháp nhân, có tài khoản và con dấu riêng Mức trích nộp Quỹ BVNĐBH của DNBH sẽ do Bộ Tài chính công bố hàng
Trang 37năm nhưng tối đa không vượt quá 0,3% tổng doanh thu phí bảo hiểm giữ lại của các HĐBH gốc Đối với DNBHNT, việc trích nộp được thực hiện cho đến khi quy mô của Quỹ BVNĐBH đạt 3% tổng tài sản đối với doanh nghiệp kinh doanh BHNT Bộ Tài chính theo dõi việc trích nộp Quỹ BVNĐBH của các DNBH, chi nhánh nước ngoài; quản lý và sử dụng Quỹ BVNĐBH bảo đảm an toàn vốn và đúng mục đích theo quy định pháp luật” (Điều 103 Nghị định 73/2016/NĐ-CP) Việc chi trả tiền từ Quỹ BVNĐBH thực hiện theo các nguyên tắc tại Điều 106 Khoản 2 và Điều 107 Nghị định 73/2016/NĐ-CP
► Quỹ dự trữ bắt buộc
Ngoài ra pháp luật hiện hành còn quy định DNBH phải lập quỹ dự trữ bắt buộc để
bổ sung vốn điều lệ và bảo đảm khả năng thanh toán (theo Điều 97 Khoản 1 Luật Kinh doanh bảo hiểm năm 2000 (sửa đổi, bổ sung năm 2010)) “Quỹ dự trữ bắt buộc được DNBH trích hàng năm theo tỷ lệ 5% lợi nhuận sau thuế và tối đa bằng 10% vốn điều lệ” (theo Điều 77 Nghị định 73/2016/NĐ-CP) Quy định tương tự cũng có ở nhiều quốc gia, ví dụ như tại Vương quốc Anh, DNBH phải đáp ứng các yêu cầu Quỹ
dự trữ ở mức tối thiểu là 3 triệu bảng Anh22
2.2 Thực trạng quy định về hợp đồng bảo hiểm nhân thọ
2.2.1 Quy định về chủ thể tham gia bảo hiểm
Ngoài DNBH thì những chủ thể có quyền và nghĩa vụ liên quan đến HĐBHNT chính là người tham gia bảo hiểm bao gồm: bên mua bảo hiểm, người được bảo hiểm
và người thụ hưởng
∆ Bên mua bảo hiểm là: chủ thể đứng tên trong HĐBHNT và là người có nghĩa vụ nộp phí bảo hiểm Bên mua bảo hiểm có thể đồng thời là người được bảo hiểm và người thụ hưởng, nhưng cũng có thể là các chủ thể riêng biệt (theo Điều 3 Khoản 6 Luật Kinh doanh bảo hiểm năm 2000 (sửa đổi, bổ sung năm 2010)) Chính vì vậy, Bên mua bảo hiểm có nghĩa vụ khai báo đúng tuổi của người được bảo hiểm, nếu không thực hiện nghĩa vụ này DNBH có quyền đình chỉ thực hiện HĐBHNT (theo Điều 34 Khoản 1, Điều 19 Khoản 2 Luật Kinh doanh bảo hiểm năm 2000 (sửa đổi,
bổ sung năm 2010)) Bên mua bảo hiểm thường là cá nhân nhưng cũng không ngoại
22 France (2008), Insurance Code, nguồn: http://www.legifrance.gouv.fr/content/download/1961/
Trang 38lệ bên mua bảo hiểm là tổ chức, miễn là thoả mãn các điều kiện đối với bên mua bảo hiểm theo quy định của pháp luật Các điều kiện này bao gồm:
- Bên mua bảo hiểm phải có năng lực hành vi dân sự đầy đủ Điều kiện này đảm bảo cho bên mua bảo hiểm là người thực sự có thể kiểm soát được hành vi giao kết
và thực hiện hợp đồng Theo quy định của Bộ Luật Dân sự, được coi là có năng lực hành vi dân sự đầy đủ khi bên mua bảo hiểm đủ 18 tuổi, không mắc các bệnh làm mất hoặc hạn chế khả năng nhận thức (theo Điều 117 Khoản 1, Điều 19 và Điều 20
Bộ luật Dân sự 2015)
- Bên mua bảo hiểm phải có quyền lợi có thể được bảo hiểm Luật Kinh doanh bảo hiểm chỉ rõ những người mà bên mua bảo hiểm có quyền lợi có thể được bảo hiểm, theo đó, bên mua bảo hiểm chỉ có thể mua bảo hiểm cho những người sau đây: “bản thân bên mua bảo hiểm; vợ, chồng, con, cha, mẹ hợp pháp của bên mua bảo hiểm; anh, chị, em ruột; người có quan hệ nuôi dưỡng và cấp dưỡng; người khác, nếu bên mua bảo hiểm có quyền lợi có thể được bảo hiểm” (theo Điều 31 Khoản 2 Luật Kinh doanh bảo hiểm năm 2000 (sửa đổi, bổ sung năm 2010))
- Bên mua bảo hiểm phải được sự chấp thuận của người được bảo hiểm trong trường hợp bảo hiểm chết Đối với bảo hiểm tử kỳ và bảo hiểm hỗn hợp, nếu người được bảo hiểm không đồng thời là bên mua bảo hiểm thì HĐBHNT chỉ được giao kết nếu có
sự đồng ý của người được bảo hiểm (theo Điều 38 Khoản 1 Luật Kinh doanh bảo hiểm năm 2000 (sửa đổi, bổ sung năm 2010)) Điều kiện này được đặt ra nhằm loại
bỏ tình trạng người thụ hưởng muốn trục lợi bất chính, có thể gây ra các rủi ro đạo đức Bên cạnh đó, pháp luật cấm giao kết HĐBHNT trong trường hợp chết mà người được bảo hiểm là những người không có năng lực hành vi dân sự Còn đối với những người chưa có năng lực hành vi dân sự đầy đủ, pháp luật yêu cầu phải có sự đồng ý bằng văn bản của cha mẹ hoặc là người giám hộ hợp pháp (theo Điều 38 Khoản 1 Luật Kinh doanh bảo hiểm năm 2000 (sửa đổi, bổ sung năm 2010))
∆ Người được bảo hiểm là: cá nhân có tuổi thọ, tính mạng là đối tượng bảo hiểm Người được bảo hiểm có thể đồng thời là bên mua bảo hiểm (theo Điều 3 Khoản 7 Luật Kinh doanh bảo hiểm năm 2000 (sửa đổi, bổ sung năm 2010))
∆ Người thụ hưởng là: tổ chức, cá nhân được bên mua bảo hiểm chỉ định để nhận tiền bảo hiểm Khác với người được bảo hiểm, HĐBHNT không nhất thiết phải chỉ định
rõ người thụ hưởng Nếu trong hợp đồng không thoả thuận về người thụ hưởng, thì
Trang 39số tiền bảo hiểm được trả sẽ là tài sản của người được bảo hiểm (theo Điều 3 Khoản
8 và Điều 12 Khoản 1 Luật Kinh doanh bảo hiểm năm 2000 (sửa đổi, bổ sung năm 2010))
2.2.2 Quy định về nội dung của hợp đồng bảo hiểm nhân thọ
Luật Kinh doanh bảo hiểm hiện hành không quy định riêng về nội dung của HĐBHNT mà chỉ quy định những nội dung cần phải có của HĐBH nói chung, nhưng cũng không quy định chi tiết đối với tất cả các nội dung mà nhiều vấn đề được bỏ ngỏ
để các bên tự thỏa thuận Thông qua các quy định của Luật Kinh doanh bảo hiểm, có thể nhận thấy HĐBHNT bao gồm những nội dung cơ bản sau (theo Điều 13 Luật Kinh doanh bảo hiểm năm 2000 (sửa đổi, bổ sung năm 2010)):
- Tên, địa chỉ của DNBH; bên mua bảo hiểm; người được bảo hiểm và người thụ hưởng
- Đối tượng bảo hiểm: đối tượng bảo hiểm là tuổi thọ, tính mạng, sức khỏe và tai nạn của người được bảo hiểm
- Số tiền bảo hiểm: là số tiền mà DNBH sẽ trả khi xảy ra sự kiện bảo hiểm
- Phạm vi bảo hiểm, điều kiện bảo hiểm: đây là các điều khoản xác định phạm vi bảo hiểm của DNBH (ví dụ: phạm vi các loại rủi ro), các điều kiện đối với đối tượng bảo hiểm và các điều khoản liên quan khác
- Điều khoản loại trừ trách nhiệm bảo hiểm: đây là điều khoản quan trọng nhằm loại trừ trách nhiệm trả tiền bảo hiểm của DNBH khi xảy ra sự kiện bảo hiểm Theo quy định hiện hành, DNBH sẽ không trả tiền bảo hiểm trong trường hợp: “người được bảo hiểm chết do tự tử trong thời hạn hai năm, khi người được bảo hiểm chết hoặc bị thương tật vĩnh viễn do lỗi cố ý của bên mua bảo hiểm hoặc lỗi cố ý của người thụ hưởng và trong trường hợp người được bảo hiểm chết do bị thi hành án tử hình; DNBH có quyền thỏa thuận những trường hợp loại trừ khác” (theo Điều 16 Luật Kinh doanh bảo hiểm năm 2000 (sửa đổi, bổ sung năm 2010)) Vì thoả thuận này có thể ảnh hưởng đến quyền lợi của bên mua bảo hiểm hoặc người thụ hưởng, nên pháp luật
có những quy định nhằm giới hạn phạm vi loại trừ trách nhiệm bảo hiểm của DNBH Theo đó, nếu bên mua bảo hiểm “vi phạm pháp luật do vô ý hoặc có lý do chính đáng trong việc chậm thông báo về việc xảy ra sự kiện bảo hiểm thì DNBH không được coi đó là lý do để loại trừ trách nhiệm bảo hiểm” (theo Điều 39 Khoản 1 Luật Kinh
Trang 40doanh bảo hiểm năm 2000 (sửa đổi, bổ sung năm 2010)) Các quy định về những trường hợp loại trừ trách nhiệm bảo hiểm theo pháp luật Việt Nam cũng tương tự như các quốc gia khác Tuy nhiên, cũng có quốc gia không chấp nhận người được bảo hiểm tự tử là sự kiện bảo hiểm, trừ trường hợp người được bảo hiểm mắc bệnh tâm thần23
- Thời hạn bảo hiểm: thời hạn bảo hiểm là khoảng thời gian DNBH thực hiện trách nhiệm bảo hiểm Trách nhiệm bảo hiểm của DNBH bắt đầu kể từ khi “HĐBHNT đã được giao kết và bên mua bảo hiểm đã nộp phí bảo hiểm (trừ trường hợp DNBH chấp nhận cho bên mua bảo hiểm nợ phí bảo hiểm) hoặc có bằng chứng về việc hợp đồng bảo hiểm đã được giao kết và bên mua bảo hiểm đã đóng đủ phí bảo hiểm” (theo Điều
15 Luật Kinh doanh bảo hiểm năm 2000 (sửa đổi, bổ sung năm 2010)) Thời hạn bảo hiểm do các bên tự thoả thuận
- Mức phí bảo hiểm (là số tiền mà bên mua bảo hiểm phải nộp cho DNBH theo thoả thuận) và phương thức đóng phí bảo hiểm
- Thời hạn, phương thức trả tiền bảo hiểm Thời hạn trả tiền bảo hiểm là khoảng thời gian DNBH thực hiện trách nhiệm trả tiền bảo hiểm cho người thụ hưởng Trong trường hợp không có thỏa thuận về thời hạn thì “doanh nghiệp bảo hiểm phải trả tiền bảo hiểm trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được đầy đủ hồ sơ hợp lệ về yêu cầu trả tiền bảo hiểm” (theo Điều 29 Luật Kinh doanh bảo hiểm năm 2000 (sửa đổi,
bổ sung năm 2010)) Phương thức trả tiền bảo hiểm là cách thức DNBH trả tiền bảo hiểm như: trả một lần khi xảy ra sự kiện bảo hiểm; trả định kỳ trong thời hạn bảo hiểm hoặc sau khi xảy ra sự kiện bảo hiểm, trả trọn đời cho người được bảo hiểm khi hết thời hạn bảo hiểm
- Ngày, tháng, năm giao kết hợp đồng
Bên cạnh những nội dung cơ bản trên đây, sản phẩm BHNT thường có thêm một
số nội dung như: thời gian cân nhắc, thỏa thuận miễn truy xét, thỏa thuận từ bỏ thu phí, Những nội dung này hiện nay tuy ít được pháp luật quy định cụ thể, nhưng theo thông lệ quốc tế thì rất phổ biến và cũng thường được DNBH đưa vào điều khoản bảo hiểm24
23 Bộ Tài chính (1999), Luật bảo hiểm một số nước, NXB Tài chính, Hà Nội, trang 377
24 Nội dung này được đính kèm ở phần phụ lục III của khóa luận tốt nghiệp này