1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Phạm vi áp dụng công ước vienna 1980 về hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế

72 158 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 72
Dung lượng 864,42 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nhưng dựa trên cơ sở tại Điều 430 Bộ luật Dân sự Việt Nam năm 2015 quy định về hợp đồng mua bán tài sản và khoản 8 Điều 3 quy định về mua bán hàng hóa, có thể rút ra được khái niệm hợp đ

Trang 1

KHOÁ LUẬN TỐT NGHIỆP

PHẠM VI ÁP DỤNG CÔNG ƯỚC

VIENNA 1980 VỀ HỢP ĐỒNG MUA BÁN

HÀNG HÓA QUỐC TẾ

Ngành: LUẬT KINH TẾ

Giảng viên hướng dẫn:ThS NGUYỄN CHÍ THẮNG

Trang 2

LỜI CẢM ƠN

Để hoàn thành bài Khóa luận tốt nghiệp này trước hết em xin gửi đến quýthầy, cô giáo trong khoa Luật kinh tế, Trường Đại học Công nghệ Tp Hồ Chí Minh (HUTECH) lời cảm ơn chân thành.

Đặc biệt, em xin cảm ơn thầyThS Nguyễn Chí Thắng đã nhiệt tình, tận

tâm hướng dẫn, giúp đỡ em sửa chữa và hòa thành bài Khóa luận tốt nghiệpnày

Cuối cùng em cùng không quên gửi lời cảm ơn đến những người thân,quý thầy cô, bạn bè,…luôn bên cạnh trợ giúp, tạo điều kiện, ủng hộ, sẻ chia,chỉ dạy để em có thể hoàn thành được khóa học cũng như chuyên đề Khóaluận này

Trong quá trình nghiên cứu, cũng như là trong quá trình làm bài Khóaluận tốt nghiệp, khó tránh khỏi sai sót, rất mong các thầy, cô bỏ qua Em rấtmong nhận được ý kiến đóng góp thầy, cô để em học thêm được nhiều kinhnghiệm

Sinh viên

Trần Thị Thanh Vân

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi tên: Trần Thị Thanh Vân, MSSV: 1511270168

Tôi xin cam đoan các số liệu, thông tin sử dụng trong bài Khoá luận tốt

nghiệp này được thu thập từ nguồn tài liệu khoa học chuyên ngành (có trích dẫn đầy đủ và theo đúng qui định);

Nội dung trong khoá luậnKHÔNG SAO CHÉP từ các nguồn tài liệu khác.

Nếu sai sót tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm theo qui định của nhà trường

và pháp luật

Sinh viên

Trần Thị Thanh Vân

Trang 4

DANH MỤC VIẾT TẮT

and Trade ArbitrationCommission

Ủy ban Trọng tài thươngmại Trung Quốc

CISG, Công ước

Progressive Agreement for

Trans-PacificPartnership – CPTPP

Hiệp định Đối tác Toàndiện và Tiến bộ xuyênThái Bình Dương

Community

Cộng đồng Kinh tế châu

Âu

Commerce

Phòng thương mại Quốc

tếINCOTERMS

commercial contracts

Những nguyên tắc Hợpđồng Thương mại Quốc

tế

nhất Hoa Kỳ

Trang 5

UCP 500 Uniform Customs and Practice

for Documentary Credits

Quy tắc và thực hànhthống nhất về tín dụngchứng từ hay Tập quán

và thông lệ thống nhất

về tín dụng chứng từ lầnsửa đổi thứ 500 năm

1993

On International Trade Law

Ủy ban Liên Hiệp Quốc

về Luật Thương mạiQuốc tếUNIDROIT The International Institute for

the Unification of Private Law

Viện Thống nhất Tưpháp Quốc tế

Trang 6

MỤC LỤC

PHẦN MỞ ĐẦU 1

1 Lý do chọn đề tài 1

2 Mục tiêu nghiên cứu của đề tài 1

3 Phạm vi, đối tượng nghiên cứu của đề tài 2

4 Tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài 2

5 Phương pháp nghiên cứu 3

6 Kết cấu của khoá luận 3

CHƯƠNG I: TỔNG QUAN VỀ PHẠM VI ÁP DỤNG CÔNG ƯỚC VIENNA 1980 4

1.1 Khái niệm và đặc điểm về hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế 4

1.1.1 Khái niệm về hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế 4

1.1.2 Đặc điểm về hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế 8

1.2 Tổng quan về Công ước Vienna 1980 và căn cứ áp dụng Công ước Vienna 1980 14

1.2.1 Tổng quan về Công ước Vienna 1980 14

1.2.2 Căn cứ áp dụng Công ước Vienna 1980 17

1.2.2.1 Căn cứ theo địa điểm kinh doanh 17

1.2.2.2 Căn cứ theo đối tượng hợp đồng 23

1.2.2.3 Căn cứ về nội dung hợp đồng 27

1.3 Các vấn đề Công ước Vienna 1980 không điều chỉnh 29

KẾT LUẬN CHƯƠNG I 32

CHƯƠNG II: THỰC TIỄN ÁP DỤNG CÔNG ƯỚC VIENNA 1980 33

2.1 Thực tiễn áp dụng Công ước Vienna 1980 tại một số quốc gia và tại Việt Nam 33

2.1.1 Thực tiễn áp dụng Công ước Vienna 1980 tại một số Quốc gia 34

2.1.1.1 Thực tiễn áp dụng Công ước Vienna 1980 tại Trung Quốc 34 2.1.1.2 Thực tiễn áp dụng Công ước Vienna 1980 tại Nhật Bản 39

2.1.1.3 Thực tiễn áp dụng Công ước Vienna 1980 tại Hoa Kỳ 41

2.1.1.4 Thực tiễn áp dụng Công ước Vienna 1980 tại Pháp 46

2.1.2 Thực tiễn áp dụng Công ước Vienna 1980 tại Việt Nam 49

2.2 Thực tiễn về việc loại trừ phạm vi áp dụng Công ước Vienna 1980 52

2.3 Bài học kinh nghiệm cho việc áp dụng Công ước Vienna 1980 57

KẾT LUẬN CHƯƠNG II 60

KẾT LUẬN CHUNG 61

DANH MỤC THAM KHẢO 62

Trang 7

PHẦN MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Hiện nay, Việt Nam đang có nền kinh tế đang phát triển Đang trên đườngtham gia, hội nhập quốc tế như Tổ chức thương mại thế giới (WTO), Hiệp hội cácquốc gia Đông Nam Á (ASEAN), Hội nghị thượng đỉnh (APEC), Hiệp định Đối táctoàn diện và Tiến bộ xuyên Thái Bình Dương (CPTPP),…Bên cạnh đó Việt Namcũng ký kết nhiều hiệp định thương mại với các nước lớn như Hoa Kỳ, Anh, NhậtBản, Trung Quốc,…

Với nền kinh tế thị trường như hiện nay, mặt hàng xuất nhập khẩu ngày càngđược phát triển và mở rộng Cho dù là thương vụ lớn hay nhỏ hợp đồng cũng khôngthể thiếu trong các vụ giao dịch giữa các chủ thể với nhau Trong đó hợp đồng muabán hàng hóa quốc tế ngày càng gia tăng có giá trị lớn Nhưng với hệ thống phápluật nước ta chưa thể đáp ứng được với các giao dịch, hợp đồng này xảy ra TheoTrung tâm Trọng tài quốc tế Việt Nam - VIAC tranh chấp trong hợp đồng mua bánhàng hóa quốc tế chiếm 80% trong tổng số các tranh chấp quốc tế Trong đó CISGđiều chỉnh ba phần tư lượng hàng hóa toàn cầu.1 CISG có lẽ là nỗ lực hài hòa phápluật trong lĩnh vực thương mại hàng hóa thành công nhất trong lịch sử Theo mộtthống kê, có ít nhất 3000 vụ tranh chấp về hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tếtrong đó Tòa án và Trọng tài áp dụng CISG để giải quyết Như vậy, CISG lúc này làrất cần thiết và quan trọng

Công ước Vienna 1980 về hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế của Liên hợpquốc (CISG), được thông qua năm 1980, là một mô hình hữu ích cho các nước đangnổi lên đang xem xét việc ban hành luật hợp đồng và mua bán hiện đại Công ướcnày áp dụng đối với các hợp đồng mua bán giữa người mua và người bán có địađiểm kinh doanh tại các nước là thành viên của công ước, song công ước có sự nhấtquán trong việc nhấn mạnh yếu tố tự do hợp đồng, theo đó các bên có quyền quyđịnh khác Công ước Vienna 1980 được soạn thảo bởi nhóm làm việc gồm các luật

sư từ khắp các khu vực trên thế giới dưới sự bảo trợ của Uỷ ban Luật Thương mạiQuốc tế của Liên Hợp quốc (UNCITRAL)

1 VCCI, Báo cáo nghiên cứu: Đề xuất Việt Nam gia nhập Công ước Vienna 1980 về hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế, 2010.

Trang 8

Ngày 18/12/2015 vừa qua, Việt Nam đã chính thức phê duyệt việc gia nhậpCông ước Vienna 1980 về Hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế của Liên hợp quốc(CISG) để trở thành viên thứ 84 của Công ước này Việc gia nhập CISG đã đánhdấu một mốc mới trong quá trình tham gia vào các điều ước quốc tế đa phương vềthương mại, tăng cường mức độ hội nhập của Việt Nam, góp phần hoàn thiện hệthống pháp luật Việt Nam về mua bán hàng hóa quốc tế và cho các doanh nghiệpViệt Nam một khung pháp lý hiện đại, công bằng và an toàn để thực hiện hợp đồngmua bán hàng hóa quốc tế.2

Khi CISG có hiệu lực ở Việt Nam, câu hỏi phổ biến được đặt ra là khi nàothì CISG được áp dụng và khi nào thì Luật Thương mại Việt Nam áp dụng Phạm vi

áp dụng của CISG là cơ sở để các chủ thể biết mình có thể lựa chọn CISG điềuchỉnh hợp đồng hay không và mình có thể áp dụng CISG vô trong hợp đồng haygiải quyết các tranh chấp phát sinh Việc tìm hiểu phạm vi áp dụng trong Công ướcVienna 1980 là rất cần thiết, vì Việt Nam là thành viên mới của Công ước này cònnhiều điều còn bỡ ngỡ với Công ước này Bên cạnh đó phạm vi áp dụng là quy địnhđầu tiên các chủ thể cần biết để biết mà áp dụng các quy định khác trong CISG Nênviệc tìm hiểu các quy định xung quanh phạm vi áp dụng trong CISG là rất cần thiết.Chính vì nhận thấy, xác định được tầm quan trọng cũng như sự cần thiết nên người

viết đã chọn đề tài “Phạm vi áp dụng của Công ước Vienna 1980 về hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế” để làm đề tài khóa luận tốt nghiệp.

2 Mục tiêu nghiên cứu của đề tài

Mục tiêu nghiên cứu của đề tài khóa luận tốt nghiệp nhằm giúp người đọchiểu rõ hơn về phạm vi áp dụng Công ước Vienna 1980 thông qua các căn cứ ápdụng như căn cứ địa điểm kinh doanh, căn cứ theo đối tượng hợp đồng, căn cứ theonội dung hợp đồng

Bên cạnh đó, đề tài cũng nếu được khái niệm và đặc điểm của hợp đồng muabán hàng hóa quốc tế, các trường hợp loại trừ phạm vi áp dụng,…Đồng thời phântích một số vụ kiện xảy ra trên thực tế giúp người đọc hiểu rõ hơn từ đó liên hệ với

2 Việt Nam chính thức trở thành thành viên thứ 84 của CISG, nguồn:

https://cisgvn.wordpress.com/2015/12/31/viet-nam-chinh-thuc-tro-thanh-thanh-vien-thu-84-cua-cisg/ , download ngày: 10/05/2019.

Trang 9

thực tiễn Pháp luật Việt Nam và rút ra được bài học kinh nghiệm đối với việc ápdụng Công ước Vienna 1980.

3 Phạm vi, đối tượng nghiên cứu của đề tài

Phạm vi nghiên cứu của đề tài

Về nội dung nghiên cứu: Đề tài khóa luận tập trung nghiên cứu về phạm vi

áp dụng, phạm vi không áp dụng, trường hợp loại trừ phạm vi áp dụng và thựctiễn về phạm vi áp dung Công ước Vienna 1980 tại các nước

Về không gian nghiên cứu, đề tài nghiên cứu về phạm vi áp dụng CISGcủa các nước thành viên của Công ước Vienna 1980, các nước áp dụng Côngước Vienna 1980 và Việt Nam

Đối tượng nghiên cứu của đề tài

Đối tượng nghiên cứu của đề tài các quy định về phạm vi áp dụng Côngước Vienna 1980 về Hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế

4 Tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài

Trong những năm gần đây, kể từ khi Việt Nam gia nhập Công ước Vienna

1980 thì Công ước Vienna 1980 mới được bắt đầu biết đến và sử dụng rộng rãi tạiViệt Nam Chủ đề về phạm vi áp dụng của Công ước Vienna 1980 tại Việt Namkhông phải là đề tài mới lạ, nhiều tác giả đã tìm hiểu, nghiên cứu về đề tài này như

Báo cáo “Phạm vi áp dụng và không áp dụng của Công ước Vienna 1980 về hợp đồng mua bán hàng hoá quốc tế” của Tiến sĩ Nông Quốc Bình, bài viết này đề cập

đến phạm vi áp dụng và phạm vi không áp dụng của Công ước Vienna 1980

Đặc biệt là “Báo cáo nghiên cứu khả năng gia nhập Công ước Vienna 1980 của Việt Nam” của Bộ Công Thương, báo cáo này đề cập đến vấn đề như: Nội dung

cơ bản của Công ước, Những nội dung cơ bản của Công ước (Phạm vi áp dụng,Quy định chung, Ký kết hợp đồng, …)

Các bài viết trên đều đề cập đến chủ đề là phạm vi áp dụng của Công ướcnhưng chưa có bài viết nào làm rõ được phạm vi áp dụng của Công ước là như thếnào, các căn cứ áp dụng Công ước Vienna 1980 cụ thể ra sao Khác với các bài

Trang 10

nghiên cứu trên, bài viết “Phạm vi áp dụng của Công ước Vienna 1980 về hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế” đề cập về các căn cứ áp dụng của Công ước Vienna

1980 về hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế như địa điểm kinh doanh, đối tượnghợp đồng, nội dung hợp đồng hay những vấn đề mà Công ước này không điều chỉnh

mà các bài nghiên cứu chưa đề cập đến

5 Phương pháp nghiên cứu

Để làm rõ phạm vi áp dụng của Công ước Vienna 1980 về hợp đồng mua bánhàng hóa quốc tế người viết áp dụng một số phương pháp nghiên cứu sau:

Phương pháp phân tích, tổng hợp: Tập trung phân tích khái niệm, ý nghĩa của

các quy định xoay quanh phạm vi áp dụng trong CISG

Phương pháp so sánh: So sánh áp dụng CISG trong các Cơ quan giải quyết

tranh chấp ở các nước với nhau Các khái niệm trong CISG và pháp luật Việt Namnhư khái niệm về hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế, địa điểm kinh doanh,…

Phương pháp liệt kê, thống kê: Bài khóa luận sử dụng phương pháp liệt kê,

thống kê để liệt kê các vụ kiện, điều luật nhằm giúp người đọc hiểu rõ hơn về nộidung của khóa luận

6 Kết cấu của khoá luận

Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, kết cấu của khóaluận gồm 2 chương:

Chương 1: Tổng quan về phạm vi áp dụng Công ước Vienna 1980

Chương 2: Thực tiễn áp dụng Công ước Vienna 1980

Trang 11

CHƯƠNG I: TỔNG QUAN VỀ PHẠM VI ÁP DỤNG CÔNG ƯỚC

VIENNA 19801.1 Khái niệm và đặc điểm về hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế

1.1.1 Khái niệm về hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế

Hoạt động thương mại quốc tế được thực hiện trong nhiều lĩnh vực khácnhau như thương mại hàng hóa, thương mại liên quan đến quyền sở hữu trí tuệ,thương mại trong lĩnh vực đầu tư…Trong đó các giao dịch trong lĩnh vực thươngmại hàng hóa luôn diễn ra sôi động nhất, giữ vị trí trung tâm trong các giao dịchthương mại quốc tế

Các giao dịch trong lĩnh vực thương mại hàng hóa quốc tế được thực hiệnchủ yếu thông qua các hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế Tuy nhiên, trong khoahọc pháp lý hiện nay chưa có một khái niệm thống nhất về hợp đồng mua bán hànghóa quốc tế hay nói chính xác hơn là chưa có một cách xác định thống nhất tínhquốc tế của hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế, mà chỉ nêu lên một số khái niệmhay một số cách xác định yếu tố quốc tế của loại hợp đồng này

Hợp đồng là một thuật ngữ đã xuất hiện từ lâu và có nhiều khái niệm về hợpđồng Theo như trong từ điển Tiếng Việt, hợp đồng là sự thỏa thuận, giao ước giữahai hay nhiều bên quy định quyền lợi, nghĩa vụ của các bên tham gia, thường đượcviết thành văn bản.3 Còn theo như từ điển chuyên ngành pháp lý, hợp đồng là một

sự thỏa thuận với các Điều khoản cụ thể giữa hai hoặc nhiều nước hoặc tổ chứctrong đó có một hay nhiều lời hứa sẽ làm điều gì đó để đổi lấy một lợi ích có giátrị.4

Bộ Luật Thương mại mẫu hay còn gọi là Bộ Luật Thương mại thống nhất

của Hoa Kỳ (Uniform Commercial Code – UCC) định nghĩa: “Hợp đồng, để phân biệt với “thoả thuận”, có nghĩa là tổng nghĩa vụ pháp lý mà kết quả từ thoả thuận của các bên được quy định bởi (UCC) cũng như bổ sung bởi bất kì luật áp dụng khác”.5 Còn theo quan niệm của hệ thống pháp luật Common Law thì “Về bản chất, hợp đồng là thoả thuận ràng buộc về mặt pháp lý giữa hai bên hoặc nhiều bên hoặc

3 Viện ngôn ngữ học, Từ điển Tiếng Việt (Từ điển Hoàng Phê, năm 2003), Nxb Đà Nẵng, trang 466.

4 Xem chi tiết tại, nguồn: https://legal-dictionary.thefreedictionary.com/contract , download ngày: 15/05/2019.

5 Nguyễn Ngọc Bích (2002), Buôn bán với M , Nxb Trẻ, Thành phố Hồ Chí Minh.

Trang 12

(như một số định nghĩa đã đặt ra) một tập hợp các lời hứa ràng buộc về mặt pháp

lý được thực hiện bởi một bên hoặc nhiều bên”.6

Từ những phân tích, lập luận ở trên có thể rút ra được khái niệm, hợp đồng là

sử thỏa thuận mang tính ràng buộc pháp lý giữa các bên, khi hợp đồng được giaokết thì các bên có các quyền và nghĩa vụ, thực hiện những thỏa thuận đã nêu tronghợp đồng và được pháp luật công nhận

Hợp đồng mua bán hàng hóa cơ bản có bản chất chung của hợp đồng là sựthỏa thuận giữa các bên về việc xác lập, thay đổi hoặc chấm dứt quyền, nghĩa vụdân sự.7 Pháp luật Việt Nam đến hiện nay chưa có một khái niệm hay một địnhnghĩa nào cụ thể về hợp đồng mua bán hàng hóa Nhưng dựa trên cơ sở tại Điều 430

Bộ luật Dân sự Việt Nam năm 2015 quy định về hợp đồng mua bán tài sản và khoản

8 Điều 3 quy định về mua bán hàng hóa, có thể rút ra được khái niệm hợp đồng muabán hàng hóa như sau: Hợp đồng mua bán hàng hóa là sự thỏa thuận giữa các bên,theo đó bên bán có nghĩa vụ giao hàng hóa cho bên mua và nhận tiền, theo đó bênbán có nghĩa vụ giao hàng hóa cho bên mua và nhận tiền, còn bên mua có nghĩa vụnhận hàng hóa và trả tiền cho bên bán.8 Như vậy, hợp đồng mua bán hàng hóatrong thương mại được hiểu theo nghĩa rộng thì là một dạng cụ thể của hợp đồngmua bán tài sản trong pháp luật dân sự

Khái niệm “mua bán hàng hóa quốc tế” theo pháp luật Việt Nam Theo Luật

Thương mại Việt Nam năm 2005 quy định về mua bán hàng hóa được quy định tạiChương II, trong đó có những điều luật quy định riêng về mua bán hàng hóa quốc tế

và không có điều luật nào xác định cụ thể chính xác về khái niệm, phạm vi của hợpđồng mua bán hàng hóa quốc tế Theo tại khoản 2 Điều 3 Luật Thương mại Việt

Nam năm 2005 quy định về khái niệm “Hàng hóa bao gồm tất cả các loại động sản,

kể cả động sản hình thành trong tương lai; Những vật gắn liền với đất đai” Và tại khoản 8 Điều 3 Luật Thương mại Việt Nam năm 2005 quy định: “Mua bán hàng

6 Phạm Quang Huy (2014), “Bình luận về hợp đồng chuyển nhượng bất động sản hình thành trong tương lai”, Tạp chí nghiên cứu lập pháp, số 06 (262), kì 2 tháng 3/2014.

7 Xem Điều 385 Bộ luật Dân sự 2015.

8 Đỗ Minh Anh (2016), Vấn đề sửa đổi khái niệm mua bán hàng hóa quốc tế trong Luật Thương mại để gia nhập công ước của Liên hợp quốc về hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế, nguồn:

https://cisgvn.wordpress.com/2016/01/13/van-de-sua-doi-khai-niem-mua-ban-hang-hoa-quoc-te-trong-luat-th uong-mai-de-gia-nhap-cong-uoc-cua-lien-hop-quoc-ve-hop-dong-mua-ban-hang-hoa-quoc-te ,download ngày 15/05/2019.

Trang 13

hoá là hoạt động thương mại, theo đó bên bán có nghĩa vụ giao hàng, chuyển quyền

sở hữu hàng hóa cho bên mua và nhận thanh toán; bên mua có nghĩa vụ thanh toán cho bên bán, nhận hàng và quyền sở hữu hàng hoá theo thỏa thuận” Có thể thấy,

quan hệ mua bán hàng hóa được xác lập và thực hiện thông qua hình thức pháp lý làhợp đồng mua bán hàng hóa

Pháp luật Việt Nam cũng không có quy định nào về khái niệm hợp đồng muabán hàng hóa quốc tế hoặc có yếu tố quốc tế, nước ngoài của hợp đồng mua bánhàng hóa Trong đó, tại Điều 27 Luật Thương mại Việt Nam năm 2005 chỉ quy định

về mua bán hàng hóa quốc tế như sau: “Mua bán hàng hoá quốc tế được thực hiện dưới các hình thức xuất khẩu, nhập khẩu, tạm nhập, tái xuất, tạm xuất, tái nhập và chuyển khẩu Mua bán hàng hoá quốc tế phải được thực hiện trên cơ sở hợp đồng bằng văn bản hoặc bằng hình thức khác có giá trị pháp lý tương đương” Có thể

thấy theo như Luật Thương mại Việt Nam 2005 thì có thể suy luận rằng hợp đồngmua bán hàng hóa quốc tế là văn bản thỏa thuận giữa các cá nhân, tổ chức trongviệc xuất khẩu, nhập khẩu, tạm nhập, tái xuất, tạm xuất, tái nhập và chuyển khẩuhàng hóa Hai hay nhiều bên trở lên tham gia giao dịch mua bán hàng hóa quốc tế làmột giao dịch dân sự9 hoặc giao kết hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế là mộthợp đồng dân sự, có thể là cá nhân, tổ chức Việt Nam hoặc cá nhân, tổ chức nướcngoài Có nơi cứ trú hoặc trụ sở ở Việt Nam hoặc nước ngoài

Mặt khác, theo như khái niệm “mua bán hàng hóa quốc tế” với tư cách là

hoạt động thương mại hoặc quan hệ thương mại theo khoản 1 Điều 27 Luật Thương

mại 2005 có phạm vi hẹp hơn so với “mua bán hàng hóa có yếu tố nước ngoài” xuất phát từ khái niệm “quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài” theo khoản 2 Điều

663 Bộ luật Dân sự 2015.10 Căn cứ quy định về quan hệ dân sự có yếu tố nướcngoài theo khoản 2 Điều 663 Bộ luật Dân sự 2015, thì có thể xác định các dấu hiệu

của quan hệ mua bán hàng hóa là “có yếu tố nước ngoài” như sau: Ít nhất một trong

các bên tham gia mua bán hàng hóa là cơ quan, tổ chức, cá nhân nước ngoài; Các

9 Xem thêm tại Điều 116 Bộ luật Dân sự 2015

10 Khoản 2 Điều 663 Bộ luật Dân sự 2015: “Quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài là quan hệ dân sự thuộc một trong các trường hợp sau đây:

a) Có ít nhất một trong các bên tham gia là cá nhân, pháp nhân nước ngoài;

b) Các bên tham gia đều là công dân Việt Nam, pháp nhân Việt Nam nhưng việc xác lập, thay đổi, thực hiện hoặc chấm dứt quan hệ đó xảy ra tại nước ngoài;

c) Các bên tham gia đều là công dân Việt Nam, pháp nhân Việt Nam nhưng đối tượng của quan hệ dân sự đó

ở nước ngoài”.

Trang 14

bên tham gia là công dân, tổ chức Việt Nam nhưng căn cứ để xác lập, thay đổi,chấm dứt quan hệ mua bán hàng hóa; Hàng hóa - đối tượng mua bán ở nước ngoài.

Trong khi đó, “mua bán hàng hóa quốc tế” theo Luật Thương mại Việt Nam

2005 chỉ căn cứ duy nhất là hàng hóa vận chuyển qua biên giới Từ đó có thể thấy

khái niệm “mua bán hàng hóa quốc tế” của Luật Thương mại Việt Nam 2005 chưa thống nhất được với “yếu tố nước ngoài” của Bộ luật Dân sự 2015 Vì vậy pháp luật Việt Nam vẫn chưa có được một định nghĩa cụ thể về “hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế”.

Công ước Vienna 1980 của Liên Hợp Quốc về Hợp đồng Mua bán Hàng hóaQuốc tế không quy định về khái niệm hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế nhưngĐiều 1.1 CISG đã gián tiếp xác định tiêu chuẩn khẳng định tính chất quốc tế củahợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế là địa điểm kinh doanh tại các quốc gia khácnhau.11 Như vậy theo quy định tại Điều 1 của Công ước này thì yếu tố quốc tế củahợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế không phụ thuộc vào địa điểm ký kết hợp đồng

và cũng không phụ thuộc vào việc hàng hóa có dịch chuyển qua biên giới haykhông Qua đó có thể thấy rõ sự khác biệt giữa khái niệm mua bán hàng hóa quốc tếtheo Luật Thương mại Việt Nam 2005 và Công ước Vienna 1980

Tiêu chí về tính quốc tế của hợp đồng mua bán hàng hóa theo CISG có khácbiệt so với pháp luật Việt Nam Luật Thương mại Việt Nam 1997 dựa vào tiêu chíquốc tịch của các thương nhân khi định nghĩa về hợp đồng mua bán hàng hóa vớithương nhân nước ngoài quy định ở Điều 80.12 Trong khi đó, Điều 1.3 CISG nói rõ

là Công ước không xem xét đến yếu tố quốc tịch của các bên khi xác định phạm vi

áp dụng Công ước Nhận thấy sự hạn chế trong quy định của Luật Thương mại năm

1997, Luật Thương mại 2005 Điều 27 thì quy định mua bán hàng hóa được xác địnhtheo phương pháp liệt kê: xuất khẩu, nhập khẩu, tạm nhập, tái xuất, tạm xuất táinhập và chuyển khẩu Tiêu chí để xác định hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tếtheo quy định này là sự chuyển dịch hàng hóa qua biên giới hải quan Trong khi đóCISG không quy định tiêu chí phải có sự chuyển dịch hàng hóa qua biên giới màchỉ cần các bên có địa điểm kinh doanh ở các quốc gia khác nhau Cho nên, có thể

11 Xem thêm tại Điều 1 Công ước Vienna 1980 về Hợp đồng Mua bán Hàng hóa Quốc tế.

12 Điều 80 Luật Thương mại Việt Nam 1997: “ Hợp đồng mua bán hàng hoá với thương nhân nước ngoài là

hợp đồng mua bán hàng hoá được ký kết giữa một bên là thương nhân Việt Nam với một bên là thương nhân nước ngoài”.

Trang 15

thấy sự không thống nhất về nội hàm khái niệm hợp đồng mua bán hàng hóa quốc

tế sẽ gây ra khó khăn và những cách hiểu khác nhau trong quá trình áp dụng cácquy phạm pháp luật điều chỉnh vấn đề mua bán hàng hóa quốc tế cho thương nhânViệt Nam hay các nước khác có nền pháp luật tương tự Việt Nam

Công ước Vienna 1980 về hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế, Công ước LaHaye 1964 về mua bán hàng hóa quốc tế,13 Công ước Ottawa năm 1988 về thuê tàichính quốc tế và về bao thanh toán quốc tế chỉ sử dụng một tiêu chí duy nhất là địađiểm địa điểm kinh doanh của các bên để xác định tính quốc tế của hợp đồngthương mại quốc tế (trong đó có hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế) Tất cả cáccông ước nói trên, quy định rằng hợp đồng thương mại quốc tế là hợp đồng được kýkết giữa các bên có địa điểm kinh doanh nằm trên lãnh thổ của các quốc gia khácnhau, nếu như các quốc gia này tham gia công ước hay luật của quốc gia tham giacông ước được áp dụng phù hợp với những quy phạm của luật tư pháp quốc tế

Như vậy, ngay cả CISG 1980 cũng như các nguồn luật khác, cũng không đưa

ra được một khái niệm cụ thể hay thống nhất về khái niệm hợp đồng mua bán hànghóa quốc tế Qua những phân tích trên có thể rút ra được khái niệm của hợp đồngmua bán hàng hóa quốc tế là hợp đồng mang yếu tố quốc tế, được ký kết giữa cácbên có địa điểm kinh doanh nằm trên lãnh thổ của các quốc gia khác nhau

1.1.2 Đặc điểm về hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế

Hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế trước hết đó là một hợp đồng, vì vậy nómang đầy đủ bản chất và đặc trưng của tất cả các loại hợp đồng nói chung Ngoài ra,

do hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế là hợp đồng được ký kết giữa các bên có địađiểm kinh doanh tại các quốc gia khác nhau, nghĩa là có yếu tố nước ngoài tham gia,

vì vậy nó sẽ có những điểm khác biệt nhất định so với hợp đồng mua bán hàng hóathông thường không có yếu tố nước ngoài Vấn đề đặc điểm của hợp đồng nóichung hay hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế nói riêng rất ít khi được bàn luận vànghiên cứu đến trong các tài liệu nghiên cứu Điều đó không có nghĩa là việc luậngiải các đặc điểm hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế là không quan trọng, màngược lại việc phân tích k vấn đề này sẽ cho phép chúng ta có cái nhìn thật cụ thể,

13 Xem chi tiết tại khoản 1 Điều 1 Công ước La Haye 1964

Trang 16

hiểu rõ được bản chất về hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế, trên cơ sở đó sẽ tạođiều kiện cho việc phân tích những vấn đề khác.

Xuất phát từ những đặc trưng đặc điểm của hợp đồng mua bán hàng hóathông thường, cùng với sự tham gia của yếu tố nước ngoài trong hợp đồng mua bánhàng hóa quốc tế Có thể đưa ra những đặc điểm cơ bản của hợp đồng mua bánhàng hóa quốc tế như sau:

Thứ nhất, về chủ thể của hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế Chủ thể củahợp đồng mua bán hàng hoá quốc tế là các bên, người bán và người mua, có địađiểm kinh doanh đặt ở các nước khác nhau Về phương diện pháp lý, các điều ước,tập quán quốc tế điều chỉnh về hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế hầu như không

đề cập đến chủ thể của hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế Có thể thấy điều này lýgiải pháp luật điều chỉnh về chủ thể sẽ do pháp luật của quốc gia được áp dụng đốivới bên ký quyết định Từ đó, dẫn đến một hệ quả là pháp luật của các quốc giakhác nhau sẽ có những quy định không giống nhau về thẩm quyền được ký kết hợpđồng mua bán hàng hóa quốc tế.14

Chủ thể của hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế chủ yếu là thương nhân.Trong Luật Thương mại Việt Nam 2005 thương nhân bao gồm tổ chức kinh tế đượcthành lập hợp pháp, cá nhân hoạt động thương mại một cách độc lập, thường xuyên,

có đăng ký kinh doanh, có quyền hoạt động thương mại trong các ngành nghề, tạicác địa bàn, dưới các hình thức và theo các phương thức mà pháp luật không cấm.15Theo như nghĩa thông thường thì thương nhân được hiểu là người trực tiếp thựchiện, tham gia vào hoạt động kinh doanh thương mại Mỗi quốc gia đều có nhữngquy định pháp luật khác nhau về điều kiện trở thành thương nhân cho từng đốitượng cụ thể Đối với cá nhân những điều kiện hưởng tư cách thương nhân trongpháp Luật Thương mại quốc gia thường bao gồm điều kiện thân nhân như độ tuổi,năng lực hành vi, điều kiện tư pháp và nghề nghiệp.16

14 Luật sư Đặng Bá K (2014), Hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế, Nguồn:

http://www.luatyenxuan.com/tong-quan-ve-hop-dong-mua-ban-hang-hoa-quoc-te.html , download ngày: 20/05/2019.

15 Khoản 1 và khoản 2, Điều 6 Luật Thương mại Việt Nam 2005.

16 PGS.TS Mai Hồng Quỳ - ThS Trần Việt Dũng (2005), Luật Thương mại Quốc Tế, Nhà xuất bản Đại học quốc gia TP.Hồ Chí Minh, tr 19.

Trang 17

Thứ hai, về đối tượng của hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế Hàng hóa làđối tượng của hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế tức là hàng có thể chuyển quabiên giới của một nước Hàng hóa muốn là đối tượng của hợp đồng mua bán hànghóa quốc tế phải thỏa mãn các quy định pháp luật về điều kiện hàng hóa được phépmua bán, trao đổi theo pháp luật của các nước bên mua và bên bán Pháp luật củacác quốc gia có những quy định khác nhau về quy định hàng hóa được phép trao đổimua bán, từ đó dẫn tới bất cận là hàng hóa theo nước này thì được phép thực hiệnhoạt động mua bán trao đổi hàng hóa nhưng theo quy định của nước khác thì lạicấm trao đổi mua bán hàng hóa Như vậy, chỉ có hàng hóa nào mà đều được phápluật của các bên ký kết hợp đồng quy định là được phép trao đổi mua bán hàng hóathì mới trở thành đối tượng của hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế.

Khái niệm về hàng hóa được ghi nhận trong pháp luật các quốc gia mặc dù

có sự khác biệt nhưng đều có chung xu hướng mở rộng đối tượng là hàng hóa đượcphép lưu thông thương mại Theo tại khoản 2 Điều 3 Luật Thương mại Việt Nam

năm 2005 quy định về khái niệm “Hàng hóa bao gồm tất cả các loại động sản, kể

cả động sản hình thành trong tương lai; Những vật gắn liền với đất đai”, còn theo

Công ước Vienna 1980 về hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế không quy địnhnhững điều kiện cụ thể về hàng hóa Tuy nhiên thông qua các bình luận pháp lý và

vụ việc cụ thể trên thực tế, đối tượng được coi là “hàng hóa” theo CISG phải là các

tài sản hữu hình17 và có thể di chuyển được.18 Vậy, với khái niệm này thì hàng hóa

là đối tượng của hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế có thể là hàng hóa hiện đangtồn tại hoặc hàng hóa sẽ có trong tương lai, hàng hóa là động sản được phép lưuthông thương mại

Thứ ba, về hình thức của hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế Dựa trênnguyên tắc tự do, bình đẳng các bên tham gia ký kết hợp đồng có quyền tự do lựachọn hình thức thể hiện ý chí thích hợp Điều này chứng tỏ không nhất thiết phảiđược bày tỏ dưới một hình thức nhất định, nó có thể được biểu lộ bằng lời nói, bằngvăn bản, bằng hành vi, cử chỉ cụ thể hay thâm chí là sự im lặng Nhưng cần có sựthiếp lập sự an toàn pháp lý trong quan hệ hợp đồng cũng như để bảo toàn chứng cứ

và bảo vệ trật tự pháp luật Có những trường hợp hợp đồng giao kết phải tuân thủ

17 Peter Schlechtriem (2005), Requirements of Application and Sphere of Applicability of the CISG, Victoria University of Wellington Law Review, p.781-794.

18 Judith L Holdsworth, Practical Applications of the United Nations Convention on Contracts for the International Sale of Goods ("CISG").

Trang 18

hình thức theo như pháp luật quy định, nếu không các bên phải chịu những hậu quảbất lợi nhất định như hợp đồng vô hiệu,…Như vậy hình thức hợp đồng được hiểukhông chỉ là phương hướng ghi nhận sự biểu lộ ý chí dưới dạng lời nói, văn bản,hành vi, cử chỉ cụ thể mà còn là những thủ tục mà pháp luật quy định bắt buộc cácbên giao kết hợp đồng tuân thủ trong một số trường hợp nhất định.19

Hình thức của hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế cũng được quy định khácnhau trong pháp luật các quốc gia hay trong các Công ước quốc tế Theo quy địnhcủa Công ước Vienna 1980 thì công nhận nguyên tắc tự do về hình thức hợp đồng,nghĩa là một hợp đồng mua bán hàng hóa không nhất thiết phải bằng văn bản mà cóthể được thành lập bằng lời nói, bằng hành vi và có thể được chứng minh bằng mọicách, kể cả bằng nhân chứng.20 Vấn đề này cũng được quy định tương tự trong Bộnguyên tắc của UNIDROIT về hợp đồng thương mại quốc tế.21 Tại một số nước,luật quốc gia quy định về hình thức văn bản của hợp đồng mua bán hàng hóa quốc

tế Đối với các quốc gia này, CISG cho phép Quốc gia thành viên tiến hành bảo lưu

về hình thức hợp đồng.22 Bảo lưu về hình thức của hợp đồng được các quốc giatham gia tuyên bố bảo lưu theo Điều 96 CISG, một số nước thực hiện bảo lưu nàynhư: Argentina, Armenia, Belarus, Chile, Estonia, Hungary… Theo pháp luật ViệtNam, hợp đồng mua bán hàng hoá được thể hiện bằng lời nói, bằng văn bản hoặcđược xác lập bằng hành vi cụ thể.23 Riêng đối với hợp đồng mua bán hàng hóaquốc tế theo khoản 2 Điều 27 Luật Thương mại 2005 chỉ công nhận theo hình thứcvăn bản hoặc bằng hình thức khác có giá trị pháp lý tương đương Cụ thể khi gianhập CISG, Việt Nam đã bảo lưu hình thức của hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tếtheo Điều 96 CISG, theo đó chỉ công nhận hình thức duy nhất của hợp đồng muabán hàng hóa quốc tế là bằng văn bản Điều này có nghĩa là các hợp đồng mua bánhàng hóa quốc tế giữa doanh nghiệp Việt Nam và doanh nghiệp các Quốc gia thànhviên CISG vẫn phải được xác lập dưới hình thức văn bản

19 TS Nguyễn Ngọc Khánh (2007), Chế định hợp đồng trong bộ luật dân sự Việt Nam, NXB Tư pháp, Hà Nội, tr 174-176.

20 Xem chi tiết Điều 11 Công ước Vienna 1980 về hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế.

21 Điều 1,2 Bộ nguyên tắc UNIDROIT 2004 về hợp đồng thương mại quốc tế quy định: “Bộ Nguyên tắc UNIDROIT không bắt buộc hợp đồng, tuyên bố hay bất kỳ một hành vi nào khác phải được giao kết hay chứng minh bằng một hình thức đặc biệt Chúng có thể được chứng minh bằng bất kì cách thức nào, kể cả bằng nhân chứng”.

22 Xem chi tiết tại Điều 96 Công ước Vienna 1980 về hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế.

23 Xem chi tiết tại khoản 1 Điều 24 Luật Thương mại Việt Nam 2005.

Trang 19

Mặc dù trong các văn bản pháp lý quốc tế cũng như trong quy định pháp luậtcủa từng quốc gia hầu như không yêu cầu hình thức của hợp đồng mua bán hànghóa quốc tế cần phải được lập thành văn bản; Tuy nhiên, xuất phát từ sự tham giacủa yếu tố nước ngoài trong hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế, đến sự quy địnhkhác nhau về hình thức hợp đồng, đến sự bất đồng ngôn ngữ giữa các bên tham gia

ký kết hợp đồng và nhiều vấn đề khác Thì hình thức ký kết bằng văn bản hoặc hìnhthức khác có giá trị tương đương các bên tham gia ký kết hợp đồng vẫn nên chọn đểtránh được các hậu quả pháp lý, những rủi ro và tranh chấp không đáng có

Thứ tư, pháp luật điều chỉnh hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế Luật ápdụng cho hợp đồng mua bán hàng hoá quốc tế mang tính chất đa dạng và phức tạp.Điều này có nghĩa là hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế có thể phải chịu sự điềuchỉnh không phải chỉ của luật pháp nước đó mà cả của luật nước ngoài (luật nướcngười bán, luật nước người mua hoặc luật của bất kỳ một nước thứ ba nào), thậmchí phải chịu sự điều chỉnh của điều ước quốc tế, tập quán thương mại quốc tế hoặc

cả án lệ (tiền lệ pháp) để điều chỉnh hợp đồng mua bán hàng hoá quốc tế Việc địađiểm kinh doanh của các bên trong hợp đồng thương mại quốc tế nằm trên vùnglãnh thổ của các quốc gia khác nhau không chỉ có các bên nằm trên lãnh thổ của cácnước khác nhau mà còn có nghĩa là các bên liên quan đến các hệ thống pháp luậtkhác nhau.24 Xuất phát từ chủ quyền của các quốc gia trong công pháp quốc tế, khimột quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài liên quan đến bao nhiêu quốc gia thì vềnguyên tắc có bấy nhiêu hệ thống pháp luật đều có thể được áp dụng để điều chỉnhquan hệ đó Trong khi đó mỗi một quốc gia đều có một hệ thống pháp luật riêng củamình và hệ thống pháp luật đó khác nhau Từ đó dẫn đến tình trạng xung đột phápluật trong luật điều chỉnh hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế Xung độ pháp luậtxảy ra khi hai hay nhiều hệ thống pháp luật đồng thời đều có thể áp dụng để điềuchỉnh một quan hệ pháp luật hay nhiều quan hệ pháp luật khác Như vậy, hợp đồngmua bán hàng hóa quốc tế có thể được điều chỉnh bởi pháp luật của các quốc giakhác nhau

Bên cạnh đó, hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế có thể được điều chỉnh bởiđiều ước quốc tế, các tập quán thương mại quốc tế và các đạo luật mẫu về hợp đồngthương mại quốc tế Cụ thể như tập quán quốc tế về thương mại là những thói quen,phong tục về thương mại được nhiều nước áp dụng và áp dụng một cách thường

24 PGS.TS Nguyễn Văn Luyện – TS Lê Thị Bích Thọ - TS Dương Anh Sơn (2004), Hợp đồng thương mại quốc tế, Nhà xuát bản Công an nhân dân, tr 30.

Trang 20

xuyên với nội dung rõ ràng để dựa vào đó các bên xác định quyền và nghĩa vụ vớinhau Như tập quán thương mại quốc tế chung: là các tập quán thương mại đượcnhiều nước công nhận và được áp dụng ở nhiều nơi, nhiều khu vực trên thế giới Vídụ: INCOTERMS 2010 về các điều kiện thương mại quốc tế do Phòng thương mạiquốc tế tập hợp và soạn thảo được rất nhiều quốc gia trên thế giới thừa nhận và ápdụng trong hoạt động mua bán hàng hoá quốc tế Hay UCP 500 do ICC25 ban hànhđưa ra các quy tắc để thực hành thống nhất về thư tín dụng cũng được nhiều quốcgia trên thế giới áp dụng vào hoạt động thanh toán quốc tế.26 Tập quán quốc tế vềthương mại chỉ có giá trị bổ sung cho hợp đồng Vì vậy, những vấn đề gì hợp đồng

đã quy định thì tập quán quốc tế không có giá trị, hay nói cách khác, hợp đồng muabán hàng hóa có giá trị pháp lý cao hơn so với tập quán thương mại quốc tế Khi ápdụng, cần chú ý là do tập quán quốc tế về thương mại có nhiều loại nên để tránh sựnhầm lẫn hoặc hiểu không thống nhất về một tập quán nào đó, cần phải quy định cụthể tập quán đó trong hợp đồng Tuy nhiên điều cần nhấn mạnh ở đây là mỗi quan

hệ thì chỉ có thể áp dụng một hệ thống pháp luật để điều chỉnh Vấn đề cần phải giảiquyết là chọn một trong các hệ thống pháp luật để áp dụng điều chỉnh quan hệ đó

Dựa trên nguyên tắc quyền tự do ý chí trong quan hệ hợp đồng, các bên kýkết hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế có thể chọn hệ thống pháp luật để điềuchỉnh hợp đồng của mình Việc lựa chọn luật điều chỉnh phải thỏa mãn các điềukiện chọn luật và trong một số trường hợp quyền chọn luật bị hạn chế bởi quy địnhcủa pháp luật và trong một số trường hợp quyền chọn luật bị hạn chế bởi quy địnhcủa pháp luật quốc gia khi nó liên quan đến các vấn đề bị hạn chế Trong trườnghợp các bên không chọn được pháp luật điều chỉnh cho hợp đồng thì các quy tắccủa tự pháp quốc tế được áp dụng để chọn ra hệ thống pháp luật điều chỉnh hợpđồng khi cần thiết

25 UCP500 hay UCP 500 là thuật ngữ viết tắt của cụm từ tiếng Anh: Uniform Customs and Practice for Documentary Credits do Phòng thương mại quốc tế (ICC) phát hành năm 1993 bản sửa đổi lần thứ 500 Nó được dịch ra tiếng Việt là Quy tắc và thực hành thống nhất về tín dụng chứng từ hay Tập quán và thông lệ thống nhất về tín dụng chứng từ lần sửa đổi thứ 500 năm 1993 Nó gồm 49 điều, được chia thành 7 phần (từ

A tới G) và đề cập tới các vấn đề có liên quan đến tín dụng chứng từ mà từ năm 1993 cho đến hiện nay (thời điểm năm 2005) vẫn đang được áp dụng trong thanh toán quốc tế các chứng từ thương mại.

http://luathopdong.vn/dac-diem-cua-hop-dong-mua-ban-hang-hoa-quoc-te/n1369.html , download ngày: 20/05/2019.

Trang 21

Hợp đồng mua bán hàng hoá quốc tế, dù được giao kết hoàn chỉnh, chi tiếtđến đâu, bản thân nó cũng không thể dự kiến, chứa đựng tất cả những vấn đề,những tình huống có thể phát sinh trong thực tế Do đó, cần phải bổ sung cho hợpđồng mua bán hàng hoá quốc tế một cơ sở pháp lý cụ thể bằng cách lựa chọn luật ápdụng cho hợp đồng đó Vì hợp đồng mua bán có tính chất quốc tế nên luật điềuchỉnh hợp đồng này cũng có thể là luật người người bán, cũng có khi là luật nướcngười mua, Nếu luật áp dụng là luật nước người mua thì luật này là luật nướcngoài đối với người bán Người bán phải có sự hiểu biết về nó, trong đó ít ra ngườibán phải hiểu rõ được luật này có bảo vệ quyền lợi cho người bán hay không Vàngược lại, đối với người mua cũng vậy Như vậy, không chỉ người bán và ngườimua cần có sự hiểu biết để lựa chọn, để tuân thủ luật áp dụng mà ngay cả cơ quangiải quyết tranh chấp (Tòa án hoặc Trọng tài) cũng phải nghiên cứu vấn đề luật ápdụng cho hợp đồng đó thì mới có thể làm tốt được chức năng, nhiệm vụ của mình.27

1.2 Tổng quan về Công ước Vienna 1980 và căn cứ áp dụng Công ước Vienna 1980

1.2.1 Tổng quan về Công ước Vienna 1980

Công ước Vienna 1980 của Liên Hợp Quốc về hợp đồng mua bán hàng hóaquốc tế (viết tắt theo tiếng Anh là CISG - Convention on Contracts for theInternational Sale of Goods) được soạn thảo bởi Ủy ban của Liên Hợp Quốc vềLuật Thương mại quốc tế (UNCITRAL) trong một nỗ lực hướng tới việc thống nhấtnguồn luật áp dụng cho hợp đồng mua bán hàng hoá quốc tế

Trên thực tế, nỗ lực thống nhất nguồn luật áp dụng cho hợp đồng mua bánhàng hóa quốc tế đã được khởi xướng từ những năm 30 của thế kỷ 20 bởiUNIDROIT (Viện nghiên cứu quốc tế về thống nhất luật tư) UNIDROIT đã cho rađời của hai Công ước La Haye28 năm 1964: một Công ước có tên là “Luật thống nhất về thiết lập hợp đồng mua bán quốc tế các động sản hữu hình”, Công ước thứ hai là về “Luật thống nhất cho mua bán quốc tế các động sản hữu hình”.29 Công

27 Đặc điểm của hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế, luật hợp đồng, Nguồn:

http://luathopdong.vn/dac-diem-cua-hop-dong-mua-ban-hang-hoa-quoc-te/n1369.html , download ngày: 20/05/2019.

28 Tên tiếng Anh là Hague Conventions.

29 Hai công ước này đã được 7 quốc gia phê chuẩn : Đức, Bỉ, Gambie, Ý, Hà Lan, Vương Quốc Anh, Saint Martin và Ixraien Hiện nay, các quốc gia này khi gia nhập Công ước Vienna 1980 đều đã tuyên bố từ bỏ hai công ước nói trên.

Trang 22

ước thứ nhất điều chỉnh việc hình thành hợp đồng (chào hàng, chấp nhận chàohàng) Công ước thứ hai đề cập đến quyền và nghĩa vụ của người bán, người mua

và các biện pháp được áp dụng khi một hay các bên vi phạm hợp đồng Tuy vậy, haiCông ước La Haye năm 1964 trên thực tế rất ít được áp dụng Lý do là vì hai Côngước này do một thiết chế tư (UNIDROIT) soạn thảo nên không gây được ảnh hưởngrộng rãi trên thế giới Hơn nữa, chỉ có những quốc gia Châu Âu (theo hệ thống luậtCivil Law) tham gia vào việc soạn thảo hai Công ước và vì vậy, chúng hầu như chỉđược biết đến và được áp dụng tại các quốc gia này

Năm 1968, UNCITRAL đã khởi xướng việc soạn thảo một Công ước thốngnhất về pháp luật nội dung áp dụng cho hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế nhằmthay thế cho hai Công ước La Haye năm 1964 Được soạn thảo dựa trên các điềukhoản của hai Công ước La Haye, song Công ước Vienna 1980 có những điểm đổimới và hoàn thiện cơ bản Công ước này được thông qua tại Vienna (Áo) ngày 11tháng 04 năm 1980 tại Hội nghị của Ủy ban của Liên hợp quốc về Luật Thương mạiquốc tế với sự có mặt của đại diện của khoảng 60 quốc gia và 8 tổ chức quốc tế.CISG có hiệu lực từ ngày 01/01/1988.30

Cho đến nay, CISG đã trở thành một trong các công ước quốc tế về thươngmại được phê chuẩn và áp dụng rộng rãi nhất Với 85 Quốc gia thành viên31 (tínhđến ngày 15/06/2019), ước tính Công ước này điều chỉnh các giao dịch chiếm đếnhai phần ba thương mại hàng hóa thế giới.32 Trong danh sách 85 Quốc gia thànhviên của Công ước Vienna 1980, có sự góp mặt của các quốc gia thuộc các hệ thốngpháp luật khác nhau, các quốc gia phát triển cũng như các quốc gia đang phát triển,các quốc gia tư bản chủ nghĩa cũng như các quốc gia theo đường lối xã hội chủnghĩa trên mọi châu lục Hầu hết các cường quốc về kinh tế trên thế giới (Hoa Kỳ,Pháp, Đức, Canada, Australia, Nhật Bản…) đều đã tham gia CISG Sự thành côngcủa Công ước Vienna 1980 được khẳng định trong thực tiễn với hơn 2500 vụ kiện

30 Bộ Công thương Việt Nam (2011), Báo cáo nghiên cứu khả năng Việt Nam gia nhập Công ước Vienna

1980 về hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế, tr 3.

31 Danh sách các Quốc gia thành viên của Công ước Vienna 1980 (2011), Nguồn:

https://cisgvn.wordpress.com/2011/01/18/danh-sach-cac-qu%E1%BB%91c-gia-thanh-vien/ , download ngày: 20/05/2019

32 International Trade Centre (UNCTAD/WTO) & Ministry of Trade of Vietnam (2007), Report on key multilateral treaties affecting trade not ratified by Vietnam- A cost/benefit analysis, March 2007, tr.27

Trang 23

có liên quan33 (tức là các phán quyết, quyết định giải quyết các tranh chấp hợpđồng sử dụng hoặc dựa trên các quy định của CISG) Điểm cần nhấn mạnh là 2500

vụ kiện này không chỉ phát sinh tại các Quốc gia thành viên Tại các quốc gia chưaphải là thành viên, Công ước vẫn được áp dụng, hoặc do các bên trong hợp đồng lựachọn Công ước Vienna 1980 như là luật áp dụng cho hợp đồng, hoặc do các Tòa án,Trọng tài dẫn chiếu đến để giải quyết tranh chấp.34

Công ước Vienna 1980 gồm 101 Điều, được chia làm 4 phần với các nộidung chính sau:

Phần 1: Phạm vi áp dụng và các quy định chung Phần này nêu lên các quyđịnh áp dụng của CISG, các nguyên tắc trong việc áp dụng CISG, nguyên tắc diễngiải các tuyên bố, hành vi và xử sự của các bên, nguyên tắc tự do về hình thức củahợp đồng Công ước cũng nhấn mạnh đến giá trị của tập quán trong các giao dịchmua bán hàng hóa quốc tế

Phần 2: Xác lập hợp đồng (trình tự, thủ tục ký kết hợp đồng) Trong phần này,Công ước đã quy định khá chi tiết, đầy đủ các vấn đề pháp lý đặt ra trong quá trìnhgiao kết hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế Định nghĩa chào hàng, nêu rõ đặc

điểm của chào hàng và phân biệt chào hàng với các “lời mời chào hàng” Hay

những vấn đề như hiệu lực của chào hàng, thu hồi và hủy bỏ chào hàng Ngoài ra,Công ước còn có quy định về thu hồi chấp nhận chào hàng, thời điểm hợp đồng cóhiệu lực

Phần 3: Mua bán hàng hóa Nội dung của phần này là các vấn đề pháp lýtrong quá trình thực hiện hợp đồng Phần này được chia thành 5 Chương với nhữngnội dung cơ bản như sau: Chương I: Những quy định chung, Chương II: Nghĩa vụcủa người bán, Chương III: Nghĩa vụ của người mua, Chương IV: Chuyển rủi ro,Chương V: Các điều khoản chung về nghĩa vụ của người bán và người mua

Phần 4: Các quy định cuối cùng Phần này quy định về các thủ tục để cácquốc gia ký kết, phê chuẩn, gia nhập Công ước, các bảo lưu có thể áp dụng, thời

33 Tính từ thời điểm Công ước này có hiệu lực (ngày 1/1/1988) cho đến nay (cập nhật ngày 28/03/2010) Nguồn: www.cisg.law.pace.edu, dowload ngày:

34 Theo các cơ sở dữ liệu về vụ kiện áp dụng CISG, đã có một vụ kiện trong đó Tòa án Việt Nam áp dụng CISG để giải quyết tranh chấp về hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế.

Trang 24

điểm Công ước có hiệu lực và một số vấn đề khác mang tính chất thủ tục khi thamgia hay từ bỏ Công ước này.

1.2.2 Căn cứ áp dụng Công ước Vienna 1980

Công ước Vienna 1980 là văn bản hài hòa hóa pháp luật nhằm thống nhấtcác quy phạm được áp dụng để điều chỉnh các hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế,

dù các bên của hợp đồng ở quốc gia nào Cho đến thời điểm hiện tại, CISG là mộttrong các điều ước quốc tế thành công nhất trong lĩnh vực thương mại quốc tế.Công ước này áp dụng cho các hợp đồng mua bán hàng hóa giữa các bên có địađiểm kinh doanh tại các Quốc gia khác nhau: Khi hai Quốc gia này là các Quốc giathành viên của Công ước hoặc Khi các quy tắc tư pháp quốc tế dẫn chiếu đến việc

áp dụng luật của một Quốc gia thành viên Công ước Do đó, đây là những điều cầntìm hiểu: Hợp đồng gia công có phải là hợp đồng mua bán hàng hóa hay không(Điều 3 CISG); Các bên tham gia hợp đồng có địa điểm kinh doanh ở các quốc giakhác nhau hay không (Điều 1 CISG); Khi nào Công ước được áp dụng theo Điều1.1.a hay Điều 1.1.b CISG Nếu Công ước được áp dụng theo quy định tại Điều1.1.a CISG, thì có bất kỳ sự đối chiếu nào đã được thực hiện bởi Quốc gia thànhviên có liên quan hay không (Điều 92 - Điều 96 CISG) Hay các bên có thể loại trừviệc áp dụng Công ước hay không (Điều 6) Và hiệu lực của CISG đã có thể ápdụng hay chưa (Điều 100) Ngay cả khi CISG được áp dụng cho hợp đồng thì CISGcũng không điều chỉnh tất cả các vấn đề của hợp đồng đó Các vấn đề như tính hiệulực của hợp đồng hoặc vấn đề về quyền sở hữu các hàng hóa đã bán nằm ngoàiphạm vi CISG (Điều 4) Như vậy, những vấn đề nêu trên sẽ được đề cập sau đây:

1.2.2.1 Căn cứ theo địa điểm kinh doanh

Căn cứ đầu tiên xác định phạm vi áp dụng CISG là căn cứ theo địa điểm kinhdoanh Theo căn cứ này CISG được áp dụng theo hai trường hợp35 được quy địnhtại Điều 1.1.a CISG quy định Công ước được áp dụng đối với những hợp đồng muabán hàng hóa giữa các bên có địa điểm kinh doanh ở các nước khác nhau và nhữngnước này là thành viên Công ước Dấu hiệu “lãnh thổ” của các bên ký kết (chứkhông phải dấu hiệu về quốc tịch hay các dấu hiệu khác) được dùng để xác địnhtính quốc tế của hợp đồng Điều 1 CISG liên quan chủ yếu đến tính quốc tế của hợp

35 Xem chi tiết tại Điều 1 Công ước Vienna 1980 về hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế.

Trang 25

đồng Tính quốc tế của việc ký kết hợp đồng mua bán hàng hóa không liên quan gìđến quốc tịch của các bên ký kết.36 Mặc dù thực tế, tại Điều 1.2 CISG quy định

rằng “tính chất dân sự hay thương mại của hợp đồng không được xét tới khi xác định phạm vi áp dụng của Công ước này”, đặc tính thương mại của hợp đồng thực

tế là một điều kiện tiên quyết cơ bản cho việc áp dụng CISG Như được giải thíchdưới đây, Công ước không được áp dụng cho các hợp đồng mua bán hàng hóa vìmục đích tiêu dùng, mà chỉ áp dụng cho các hợp đồng thương mại Một hợp đồngđược coi là thương mại miễn là nó không nhằm mục đích đáp ứng cho như cầu cánhân Vì vậy, Công ước áp dụng cho cả cá nhân (không chỉ là thương nhân) muahàng hóa cho mục đích hoạt động doanh nghiệp ngành nghề của họ

Công ước Vienna 1980 không định nghĩa khái niệm “địa điểm kinh doanh” Tuy nhiên, Điều 10 CISG đề cập đến khái niệm này: “nếu một bên có hơn một địa điểm kinh doanh thì địa điểm kinh doanh được tính đến sẽ có mỗi liên hệ chặt chẽ nhất đối với hợp đồng và đối với việc thực hiện hợp đồng đó, có tính tới những tình huống mà các bên điều biết hoặc đều dự đoán được vào bất kỳ lúc nào trước hoặc vào thời điểm giao kết hợp đồng” Như vậy, khi chủ thể của hợp đồng mua bán

hàng hoá quốc tế có nhiều địa điểm kinh doanh thì Công ước Vienna 1980 sẽ ápdụng nếu địa điểm kinh doanh đó có quan hệ gần gũi nhất với hợp đồng được đặt tạiquốc gia là thành viên của Công ước Vienna 1980 Trong trường hợp các bên không

có địa điểm kinh doanh thì sẽ lấy nơi cư trú thường xuyên của họ làm cơ sở xácđịnh Theo đó, nếu nơi cư trú thường xuyên của các chủ thể nằm trên lãnh thổ củanước là thành viên Công ước Vienna 1980 thì Công ước sẽ được áp dụng Với nộidung quy định trên đây, có thể thấy trong trường hợp nếu một bên hoặc cả hai bêntrong quan hệ hợp đồng mua bán hàng hoá quốc tế không có địa điểm kinh doanhhoặc không có nơi cư trú thường xuyên ở Quốc gia thành viên Công ước Vienna

1980 thì Công ước sẽ không áp dụng.37

Giả sử rằng tất cả các yêu cầu khác đều được đáp ứng theo Điều 1.1.a, nếuhai bên tham gia ký kết hợp đồng có trụ sở tại hai Quốc gia thành viên của CISG,thì CISG sẽ được tự động áp dụng (nghĩa là không có quy định nào của tư phápquốc tế điều chỉnh).38 Đây là trường hợp áp dụng ngay cả khi các bên tham gia ký

36 Xem chi tiết vụ kiện Oberster Gerichtshof, Austria, 2 Ob 191/98x, Oct.15, 1998, Nguồn:

http://cisgw3.law.pace.edu/cases/981015a3.html , download ngày: 20/05/2019.

37 John O Honnold, UNIFORM LAW FOR INTERNATIONAL SALES.

38 Xem chi tiết tại Điều 10 Công ước Vienna 1980 về hợp dồng mua bán hàng hóa quốc tế.

Trang 26

kết hợp đồng không biết về phạm vi áp dụng của CISG Trong trường hợp này cácbên phải có địa điểm kinh doanh đặt tại Quốc gia thành viên CISG Theo Điều 99CISG, một quốc gia trở thành thành viên của Công ước Vienna 1980 sau khi mộtQuốc gia phê chuẩn, chấp nhận hay chuẩn y Công ước này và thời hạn 12 tháng kể

từ khi gửi văn bản phê chuẩn, chấp thuận, hay chuẩn y Cũng cần được lưu ý theoĐiều 100 CISG thì Công ước này áp dụng cho việc ký kết các hợp đồng trongnhững trường hợp khi một đề nghị ký kết hợp đồng được làm vào ngày Công ướcbắt đầu có hiệu lực hoặc sau ngày đó đối với các Quốc gia thành viên và Công ướcnày chỉ áp dụng cho các hợp đồng được ký kết vào đúng ngày hoặc sau ngày Côngước bắt đầu có hiệu lực đối với các Quốc gia thành viên nói tại Điều 1.1.a CISGhoặc đối với Quốc gia thành viên Một quốc gia có thể đã phê chuẩn, chấp nhận haychuẩn y Công ước này và không phải là Quốc gia thành viên

Địa điểm kinh doanh được đặt tại Quốc gia đối chiếu theo Điều 92 hoặc Điều93.1 CISG Theo Điều 92 CISG, một quốc gia có thể tuyên bố không bị ràng buộcbởi phần thứ hai, hay phần thứ ba của Công ước này; Hậu quả của viện dẫn chiếunày là quốc gia này sẽ không được coi là Quốc gia thành viên của CISG Tuy nhiênđiều đó không nhất thiết có nghĩa là CISG không được áp dụng theo Điều 1.1.bCISG.39 Theo điều 93 CISG thì nếu một Quốc gia thành viên mà bao gồm hai haynhiều đơn vị lãnh thổ, trong đó theo hiến pháp của quốc gia các hệ thống pháp luậtkhác nhau được áp dụng cho các vấn đề là đối tượng điều chỉnh của Công ước nàythì quốc gia đó có thể tuyên bố rằng Công ước này sẽ áp dụng cho tất cả các đơn vịlãnh thổ hay chỉ cho một hay nhiều đơn vị và có thể bất cứ lúc nào sửa đổi tuyên bố

đó bằng một tuyên bố khác Hậu quả là một bên tham gia ký kết có địa điểm kinhdoanh nằm trong lãnh thổ không được áp dụng Công ước của Quốc gia thành viên

Vì vậy, việc xác định rõ địa điểm kinh doanh của các bên tham gia ký kết theo Điều1.1.a CISG cần được rõ ràng xem lúc ký kết quốc gia đó có phải là thành viên haykhông, Công ước Vienna 1980 có hiệu lực đối với quốc gia đó hay chưa và địa điểmkinh doanh có nằm trong lãnh thổ không được áp dụng Công ước này của Quốc giathành viên hay không

Nếu như theo Điều 1.1.a CISG không thể áp dụng khi có một bên tham gia

ký kết không phải là Quốc gia thành viên, thì CISG có thể được áp dụng như theođiều 1.1.b CISG khi các quy tắc tư pháp quốc tế dẫn chiếu đến việc áp dụng luật của

39 Xem chi tiết vụ kiện ICC Arbitration Case No 7585 of 1992 (Foamed board machinery), Nguồn:

http://cisgw3.law.pace.edu/cases/927585i1.html , download ngày: 20/06/2019.

Trang 27

một Quốc gia thành viên Các quy tắc của tư pháp quốc tế có thể hoàn toàn là cácquy tắc nội địa hoặc một bộ quy tắc được ban hành theo các công cụ quốc tế nhưCông ước Hague 1955 về Luật áp dụng cho Hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế vàCông ước Rome 1980 của EEC về Luật áp dụng đối với các nghĩa vụ theo hợp đồng.Điều 1.1.b CISG có liên quan ngay lập tức đến nếu các quy tắc của tư pháp quốc tếdẫn chiếu đến việc áp dụng luật của Quốc gia thành viên và không thực hiện dẫnchiếu theo Điều 95 CISG.

Nếu các quy tắc của tư pháp quốc tế của hợp đồng mua bán hàng hóa dẫnchiếu đến việc áp dụng luật của Quốc gia thành viên Công ước thì CISG được ápdụng cho tranh chấp trong hợp đồng Nhưng nếu các quy tắc tư pháp quốc tế củaQuốc gia tham gia ký kết hợp đồng dẫn chiếu đến theo Điều 95 CISG, thì hợp đồng

có được áp dụng CISG hay không? Nếu xảy ra tranh chấp thì, khi Tư pháp quốc tếcủa một nước (thông thường là nước có Tòa án đang giải quyết tranh chấp) đốichiếu áp dụng luật Quốc gia thành viên không bảo lưu theo Điều 95 CISG thì CISGđược áp dụng cho tranh chấp đó Các bên lựa chọn luật áp dụng cho hợp đồng làluật của một nước thành viên CISG, bởi vì quy tắc các bên trong hợp đồng được tự

do lựa chọn luật áp dụng là nguyên tắc thông dụng và cốt lõi của Tư pháp quốc tế

về hợp đồng Trường hợp CISG áp dụng gián tiếp, việc giải thích gặp khó khăn hơnhẳn trường hợp đầu tiên Khi một bên hoặc cả hai bên không phải là thành viên củacông ước, CISG vẫn có khả năng được áp dụng nhờ vào trường hợp thứ hai này Vídụ: Vào ngày 01/01/2018, Người bán (Việt Nam) bán một lô cà phê cho người mua(Indonesia) Tranh chấp phát sinh và người mua kiện người bán ra Tòa án thành phố

Hồ Chí Minh Tòa án Thành phố Hồ Chí Minh giải quyết tranh chấp sẽ sử dụng Tưpháp quốc tế Việt Nam Quy phạm xung đột cho hợp đồng hiện hành là Điều 683

Bộ luật Dân sự 2015 Theo điểm a khoản 2 Điều 683 Bộ luật Dân sự 2015, nếu cácbên không thỏa thuận luật áp dụng thì luật của nước có mối liên hệ mật thiết nhấtvới hợp đồng là luật của nước nơi người bán cư trú nếu là cá nhân hoặc nơi thànhlập nếu là pháp nhân (đối với hợp đồng mua bán hàng hóa) Nơi có mối liên hệmật thiết nhất với hợp đồng là Việt Nam Như vậy, quy tắc xung đột hợp đồng của

Tư pháp quốc tế Việt Nam dẫn chiếu đến luật Việt Nam, mà Việt Nam là một Quốcgia thành viên công ước CISG nên CISG được áp dụng thay cho luật quốc gia ViệtNam (kết quả áp dụng Điều 1.1.b CISG) Qua ví dụ trên ta thấy rõ hơn ý nghĩa của

“các nguyên tắc Tư pháp quốc tế” diễn tả trong Điều 1.1.b CISG, và lưu ý rằng đó

là các quy tắc xung đột của quốc gia có Tòa án giải quyết vụ việc Còn đối vớiTrọng tài quốc tế, vì Trọng tài nhìn chung ít bị ràng buộc với Tư pháp quốc tế của

Trang 28

một quốc gia nhất định, nên các quy tắc xung đột được chọn có thể là quy tắc thôngdụng hoặc theo một quốc gia nào đó mà Trọng tài thấy phù hợp, thông thường làcủa quốc gia nơi xét xử Trọng tài Đặc biệt nếu nếu các bên trong hợp đồng muabán có thỏa thuận chọn luật của một nước thành viên Công ước nhưng quốc gia nàybảo lưu Điều 1.1.b CISG theo quy định tại Điều 95 CISG Khi đó luật quốc gia này

sẽ áp dụng hay CISG Thực tế có một số quốc gia có bảo lưu như vậy vì họ khôngmuốn CISG thay thế luật nội địa của họ trong những hợp đồng có một bên có trụ sở

ở quốc gia không phải là thành viên Công ước Trong trường hợp các bên chọn luậtcác nước này thì CISG sẽ không áp dụng ưu tiên so với luật quốc gia Nói cách khác,đây là thêm một trường hợp loại trừ áp dụng Công ước

Vậy văn phòng đại diện có được xem là “địa điểm kinh doanh” theo Điều

1.1.b CISG hay không? Tại điều khoản này quy định về các trường hợp áp dụngCISG ngay cả khi một bên hoặc cả hai bên trong hợp đồng không có địa điểm kinhdoanh tại các Quốc gia thành viên Đây là trường hợp áp dụng “gián tiếp” Công ước

vậy Văn phòng đại diện có được xem là “địa điểm kinh doanh” theo CISG hay

không nó phụ thuộc vào phán quyết của Tòa án về việc dẫn chiếu luật? Ví dụ nhưmột hợp đồng lựa chọn pháp luật Việt Nam để giải quyết tranh chấp và Việt Nam làQuốc gia thành viên của Công ước thì CISG sẽ là luật điều chỉnh hợp đồng đó

Nhưng vì CISG không có một khái niệm cụ thể về “địa điểm kinh doanh” nên Tòa

án giải quyết tranh chấp có thể dựa theo pháp luật Việt Nam đã được các bên lựachọn để định nghĩa về khái niệm này Theo pháp luật Việt Nam, quy định tại khoản

2 Điều 45 Luật Doanh nghiệp 2014 thì: “Văn phòng đại diện là đơn vị phụ thuộc của doanh nghiệp, có nhiệm vụ đại diện theo ủy quyền cho lợi ích của doanh nghiệp

và bảo vệ các lợi ích đó” Ngoài ra, theo khoản 6 Điều 3 Luật Thương mại 2005 thì

“Văn phòng đại diện của thương nhân nước ngoài tại Việt Nam là đơn vị phụ thuộc của thương nhân nước ngoài, được thành lập theo quy định của pháp luật Việt Nam

để tìm hiểu thị trường và thực hiện một số hoạt động xúc tiến thương mại mà pháp luật Việt Nam cho phép” Theo đó, văn phòng đại diện là đơn vị phụ thuộc của

doanh nghiệp có nhiệm vụ đại diện theo uỷ quyền cho lợi ích của doanh nghiệp vàbảo vệ lợi ích đó nên văn phòng đại diện không có chức năng kinh doanh Như vậy,theo pháp luật Việt Nam thì Văn phòng đại diện không được xem là địa điểm kinhdoanh

Trang 29

Hay trong vụ kiện, Floor tiles 40 giữa một nhà sản xuất gạch lát sàn của Đức

đã kiện một công ty tại Tây Ban Nha Hợp đồng được ký kết giữa Văn phòng đạidiện của người bán tại Tây Ban Nha với người mua Tòa án cho rằng đây là mộthợp đồng quốc tế theo CISG, Tòa án không xem Văn phòng đại diện của người bán

là một “địa điểm kinh doanh” vì mặt pháp lý nó không có quyền rằng buộc với

người mua Vì vậy Tòa án coi đây là tranh chấp giữa người bán là Đức và ngườimua là Tây Ban Nha Như vậy, dựa vào bản chất có thể thấy Văn phòng đại diện

không được xem là “địa điểm kinh doanh”.

Trong khi đó, Điều 1.3 CISG quy định: “Quốc tịch của các bên, quy chế dân

sự hoặc thương mại của họ, tính chất dân sự hay thương mại của hợp đồng không được xét tới khi xác định phạm vi áp dụng của Công ước này” Công ước không

xem xét đến yếu tố quốc tịch của các bên khi xác định phạm vi áp dụng Công ước

Ví dụ: Hợp đồng mua bán hàng hóa được ký kết giữa thương nhân quốc tịch ViệtNam và thương nhân Trung Quốc có địa điểm kinh doanh tại Việt Nam thì khôngđược áp dụng Công ước Vienna 1980 vì CISG không xem xét yếu tố quốc tịch khi

xác định phạm vi áp dung Cụ thể trong vụ kiện “Smoke detection units” giữa

nguyên đơn là Úc có địa điểm kinh doanh tại Hoa Kỳ và bị đơn là Hoa Kỳ, Tòa ánđưa ra phán quyết rằng hợp đồng không thuộc phạm vi áp dụng của CISG do haibên có cùng địa điểm kinh doanh tại một quốc gia.41 Như vậy, Công ước Vienna

1980 chỉ áp dụng trong phạm vi địa điểm kinh doanh tại các Quốc gia khác nhau vàkhông xét tới yếu tố quốc tịch

Ngoài ra còn trường hợp đặc biệt, các bên tham gia ký kết áp dụng CISG vàohợp đồng của mình nhưng không theo quy định theo Điều 1.1.a hay Điều 1.1.bCISG, đó là các bên tự thỏa thuận lựa chọn CISG làm luật điều chỉnh của mình Ví

dụ, trong vụ kiện Condensate crude oil mix, giữa người bán Hà Lan (nguyên đơn)

và người mua là Anh (bị đơn) về hợp đồng mua bán hàng hóa là hỗn hợp dầu thôngưng tụ Vào thời điểm giao kết hợp đồng chỉ có Hà Lan là Quốc gia thành viênCông ước Vienna 1980, Anh thì không phải Trong hợp đồng ký kết, có điều khoảnhai bên tham gia ký kết thỏa thuận chọn CISG làm luật điều chỉnh hợp đồng

40 Xem chi tiết vụ kiện Germany 28 February 2000 Appellate Court Stuttgart (Floor tiles case), Nguồn:

http://cisgw3.law.pace.edu/cases/000228g1.html , download ngày: 20/06/2019.

41 Xem chi tiết vụ kiện United States 28 February 2005 Superior Court of Massachusetts (Vision Systems, Inc v EMC Corporation) , Nguồn: http://cisgw3.law.pace.edu/cases/050228u1.html ,download ngày: 20/05/2019.

Trang 30

Hay trong trường hợp các bên tham gia ký kết đều không phải là Quốc giathành viên Công ước Vienna 1980 và các bên không thỏa thuận chọn luật điềuchỉnh Thì khi có xảy ra tranh chấp, Tòa án sẽ dựa vào các xung đột, quy tắc tư pháp

để chọn CISG làm luật áp dụng Điển hình là dựa vào Công ước Rome 1980 vàcông ước Hague 1955 để dẫn chiếu đến luật áp dụng là CISG Ví dụ, trong vụ kiện

“Shirts” 42 giữa người bán là Đức (nguyên đơn) và người mua Hà Lan (bị đơn).Vào thời điểm ký kết chỉ có người bán là Quốc gia thành viên Công ước và không

có thỏa thuận chọn luật điều chỉnh Tòa giải quyết tranh chấp là Tòa phúc thẩm ởĐức đã dựa theo Điều 4.1 của Công ước Rome 1980 Luật áp dụng đối với nghĩa vụ

theo hợp đồng, nếu không có sự lựa chọn luật cho hợp đồng thì sẽ áp dụng luật “kết nối chặt chẽ nhất” và luật được chọn áp dụng là CISG.

Như vậy, dựa vào các phân tích trên có thể thấy CISG được áp dụng khi các bên

có địa điểm kinh doanh tại Quốc gia thành viên Công ước (Điều 1.1.a CISG); Khicác quy tắc tư pháp quốc tế dẫn chiếu đến luật Quốc gia thành viên Công ước (Điều1.1.b CISG) Khi các bên thỏa thuận lựa chọn CISG làm luật điều chỉnh hợp đồngmình hoặc khi cơ quan giải quyết tranh chấp lựa chọn CISG làm luật áp dụng

1.2.2.2 Căn cứ theo đối tượng hợp đồng

Theo như đã phân tích ở phần 1.1.2 Đặc điểm của hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế thì đối tượng của hợp đồng theo CISG là hàng hóa Theo quy định tại

Điều 2 CISG, những hợp đồng CISG không áp dụng được phân thành 3 nhóm chínhdựa theo mục đích mà hàng hóa được mua bán, loại giao dịch giữa các bên và loạihàng hóa được bán

Ngoài ra, việc loại trừ mua bán hàng hóa bằng bán đấu giá (Điều 2.a CISG)bao gồm các cuộc đấu giá do thẩm quyền của nhà nước hay đấu giá tư nhân Muabán hàng hóa tại sàn giao dịch không thuộc phạm vi loại trừ vì chúng chỉ tạo thànhmột hình thức cụ thể để ký kết hợp đồng

Ngoài các quy định như trên thì việc xác định các trường hợp không áp dụngCông ước Vienna 1980 dựa vào một số dấu hiệu cơ bản trong giao dịch mua bánhàng hoá như: bản chất của hàng hóa, mục đích sử dụng và bản chất giao dịch

42 Xem chi tiết vụ kiện Germany 10 February 1994 Appellate Court Düsseldorf [6U32/93] (Shirts case),

Nguồn: http://cisgw3.law.pace.edu/cases/940210g1.html , download ngày: 20/05/2019.

Trang 31

Trường hợp thứ nhất loại trừ dựa trên bản chất của hàng hóa Hàng hóathường được xem là bất động sản hữu hình Một vấn đề phức tạp là liệu những thứ

vô hình có thuộc phạm vi của CISG hay không? Trong số những thứ vô hình, việcbán phần mềm máy máy tính, dù được thể hiện trong đĩa hoặc được phân phối quaInternet cũng nằm trong phạm vi áp dụng của CISG.43 Việc mua bán tàu thủy, máybay và các thiết bị bay, tàu chạy trên đệm không khí cũng không thuộc phạm vi ápdụng CISG Mặc khác, việc mua bán các bộ phận của tàu, máy bay, lại thuộcphạm vi của CISG.44 Ngoài ra, trong việc bán điện cũng bị loại trừ phạm vi áp dụngCISG ( Điều 2.f CISG), nhưng việc bán khí propan lại thuộc phạm vi của CISG.45Cuối cùng, trong khi phạm vi áp dụng CISG không bao gồm các công cụ ghi nhận

việc thanh toán tiền “các tài liệu kiểm soát việc giao hàng” như biên lai kho, vận

đơn phải tuân theo Công ước khi chúng được sử dụng để thực hiện việc giao hàng

Trường hợp thứ hai, loại trừ dựa trên mục đích mua bán hàng hóa Đối vớimục đích của Điều 2 CISG, theo Điều 2.a CISG, việc mua bán không thuộc phạm vi

áp dụng của CISG nếu các hàng hóa tại thời điểm giao kết hợp đồng được dự địnhdùng cho cá nhân, gia đình hoặc nội trợ Đó là ý định của người mua tại thời điểmgiao kết hợp đồng có liên quan, không cần biết hàng hóa được mua được sử dụngnhư thế nào.46 Nếu hàng hóa được mua bởi một cá nhân cho mục đích thương mạihoặc chuyên nghiệp thì việc mua bán hàng không nằm ngoài phạm vi áp dụng củaCISG Giả sử các trường hợp sau đây được điều chỉnh bởi Công ước Vienna 1980:một doanh nghiệp mua một máy ảnh của một doanh nghiệp để sử dụng cho doanhnghiệp của mình hay một doanh nghiệp mua một chiếc ô tô của đại lý để bán lại.47

Nếu hàng hóa được mua cho các mục đích “sử dụng cho cá nhân, gia đình hoặc nội trợ” đã nói trên, Công ước này không thể áp dụng được “khi người bán, tại bất kỳ thời điểm nào trước hoặc vào thời điểm giao kết hợp đồng, biết và cần

43 Herbert Bernstein& Joseph M Lookofsky(2003), Understanding the CISG in Europe

44 Xem chi tiết vụ kiện Hungary 25 September 1992 Supreme Court (Pratt & Whitney v Malev), Nguồn:

http://cisgw3.law.pace.edu/cases/920925h1.html , download ngày: 20/06/2019.

45 Xem chi tiết vụ kiện Austria 6 February 1996 Supreme Court (Propane case), Nguồn:

http://cisgw3.law.pace.edu/cases/960206a3.html , download ngày: 20/06/2019.

46 Xem chi tiết vụ kiện Austria 11 February 1997 Supreme Court (Automobile case), Nguồn:

http://cisgw3.law.pace.edu/cases/970211a3.html , download ngày: 20/06/2019.

47 Xem chi tiết vụ kiện Switzerland 3 November 2004 Appellate Court Jura (Building materials case),

Nguồn: http://cisgw3.law.pace.edu/cases/041103s1.html

Trang 32

phải biết rằng hàng hóa đã được mua sử dụng như thế nào” Nếu điều khoản “trừ khi” được thỏa mãn, CISG được áp dụng, cung cấp các yêu cầu khác về khả năng

áp dụng của nó được đáp ứng Điều này làm thu hẹp phạm vi của Điều 2.a CISGngoại lệ và dẫn đến khả năng xảy ra xung đột giữa luật bảo vệ người tiêu dùng trongnước và Công ước trong những trường hợp mà khả năng áp dụng của luật trongnước không yêu cầu người bán phải biết hoặc phải biết về mục đích sử dụng củangười mua.48 Công ước này không cho biết ai phải chịu trách nhiệm chứng minh vềmục đích sử dụng là mua cho sử dụng cá nhân, gia đình hay nội trợ Tuy nhiên, dựa

vào “Nguyên tắc nguyên đơn là người có nghĩa vụ chứng minh Một mặt, điều này

có nghĩa là một bên phải chứng minh sự tồn tại thực tế của các điều kiện tiên quyết

có trong quy định pháp lý mà từ đó họ muốn rút ra hậu quả pháp lý có lợi Mặt khác nữa, là điều này cũng có nghĩa là một bên tuyên bế một ngoại lệ có trách nhiệm chứng minh các điều kiện tiên quyết của mình”.49 Đây được xem là mộtnguyên tắc ngoại lệ

Trường hợp thứ ba, loại trừ dựa trên bản chất của hợp đồng mua bán hànghóa Mặc dù CISG áp dụng cho các hợp đồng mua bán hàng hóa, nhưng nó khôngxác định khái niệm về bản chất của hợp đồng mua bán hàng hóa Tuy nhiên Điều 30

và 53 CISG đưa ra quy định hướng dẫn về vấn đề này, theo Điều 30 CISG thì

“người bán có nghĩa vụ giao hàng, giao chứng từ liên quan đến hàng hóa và chuyển giao quyền sở hữu về hàng hóa theo đúng quy định của hợp đồng và của Công ước này” Và theo Điều 53 CISG “người mua có nghĩa vụ thanh toán tiền hàng và nhận hàng theo quy định của hợp đồng và của Công ước này” CISG cũng

bao gồm các tình huống phức tạp hơn như hợp đồng vận chuyển hàng hóa, hợpđồng giao hàng trả góp, hợp đồng cung cấp trực tiếp từ nhà cung cấp đến kháchhàng của người bán

Hợp đồng cho thuê thường nằm ngoài phạm vi của CISG vì các thỏa thuậntài chính thường ưu tiên theo yêu cầu của hợp đồng và giao dịch Tương tự, khíacạnh hợp đồng khung (hợp đồng phân phối và tài chính) nằm ngoài phạm vi củaCISG, trong khi hợp đồng mua bán trong hợp đồng khung có thể được điều chỉnhbởi CISG

48 Xem chi tiết án lệ Switzerland 3 November 2004 Appellate Court Jura (Building materials case), Nguồn:

http://cisgw3.law.pace.edu/cases/041103s1.htm , download ngày: 20/06/2019.

49 Xem chi tiết án lệ Switzerland 9 September 1993 Commercial Court Zürich, Nguồn:

http://cisgw3.law.pace.edu/cases/930909s1.html , download ngày: 20/06/2019.

Trang 33

Cụ thể vụ kiện Merallurgical sand giữa nguyên đơn là Ba Lan và bị đơn

Đức, bản tuyên án ngày 27 tháng 01 năm 2006 Người bán Ba Lan và người muaĐức ký kết hợp đồng khung dài hạn để mua bán cát tinh luyện Đây là thành phầnchính được sử dụng để sản xuất tấm lợp ngói theo công nghệ mới của Đức Việcgiao hàng được thực hiện một phần thì hợp đồng bị chấm dứt Bên Ba Lan đã thôngbáo với Đức về việc không thể tiếp tục thực hiện nghĩa vụ của mình Bởi vậy, Đứcbuộc phải quay về công nghệ sản xuất cũ sử dụng xi măng thay vì cát tinh luyện.Sau đó, người mua Đức đã kiện người bán Ba Lan ra Tòa án Ba Lan Tuy nhiên bịđơn cho rằng không thể áp dụng Công ước Vienna 1980 để xét xử tranh chấp này vìCông ước này không điều chỉnh hợp đồng khung Bị đơn viện dẫn Điều 14 CISG,trong đó một chào hàng để cấu thành hợp đồng phải có ít nhất 3 điều khoản chủ yếu:hàng hóa, số lượng và giá cả Quyết định của Tòa án: Tòa tối cao không đồng tìnhvới bị đơn khi bị đơn cho rằng CISG không áp dụng đối với hợp các đồng khungtrong buôn bán quốc tế Các quy tắc của CISG không loại trừ các hợp đồng mà việcthực hiện các hợp đồng này đòi hỏi việc đặc định hàng hoá được giao từng phần.Việc bị đơn viện dẫn Điều 14 CISG không cấu thành bất cứ lập luận có giá trị nàobởi vì điều luật này chỉ áp dụng cho chào hàng và không được dùng để định raphạm vi áp dụng của Công ước trong bất cứ trường hợp nào.50

Theo Điều 2.c CISG việc mua bán hàng để thi hành luật hoặc để thực hiệncác quyết định tư pháp cũng thuộc phạm vi loại trừ CISG vì việc bán hàng như vậythường được điều chỉnh bởi pháp luật pháp luật của Nhà nước theo thẩm quyền thựcthi Việc loại trừ mua bán cổ phiếu, trái phiếu, thương phiếu hoặc tiền tệ tại Điều2.d CISG nhằm tránh xung đột với các quy tắc bắt buộc của luật trong nước Do đó,các điều kiện chính của hợp đồng mua bán hàng hóa CISG là nó liên quan đến hànghóa di động và tài sản trong tài sản nói trên được đổi thành tiền

Vậy ngoài những đối tượng hàng hóa không thuộc phạm vi áp dụng CISGnêu trên Thì những đối tượng hàng hóa hữu hình dịch chuyển được, một số hànghóa vô hình nhất định và mang bản chất hợp đồng thương mại đều là đối tượng của

áp dụng của Công ước Vienna 1980

50 Xem chi tiết vụ kiện Merallurgical sand giữa nguyên đơn là Ba Lan và bị đơn Đức, Nguồn:

http://cisgw3.law.pace.edu/cases/060127p1.html , download ngày: 20/06/2019.

Trang 34

1.2.2.3 Căn cứ về nội dung hợp đồng

Ngoài hai căn cứ áp dụng đã nêu trên thì còn căn cứ áp dụng cuối cùng là căn

cứ về nội dung hợp đồng Căn cứ này nêu rõ phạm vi áp dụng của Công ước Vienna

1980 bao gồm một số hợp đồng gồm các hành vi bên cạnh việc cung cấp hàng hóa

Cụ thể là hai dạng hợp đồng: Hợp đồng cung cấp hàng hóa để chế tạo hay sản xuất

và Hợp đồng cung cấp lao động và dịch vụ Dựa vào nội dung của hai loại hợp đồngnày để làm căn cứ xác định chúng có được CISG điều chỉnh hay không

Hợp đồng cung cấp hàng hóa để chế biến hay sản xuất Theo Điều 3.1 CISGthì các hợp đồng cung cấp hàng hóa để chế tạo hay sản xuất sẽ được coi là hợp đồngmua bán, vì cũng được xem là hợp đồng mua bán nên hợp đồng mua bán hàng hóađược chế biến hay sản xuất cũng nằm trong phạm vi của CISG ngay cả khi ngườimua không có nghĩa vụ cung cấp cho người bán một phần nguyên liệu cần thiết để

chế tạo hay sản xuất hàng hóa đó Nhưng nếu người mua cũng cấp một phần “lớn”

của nguyên liệu thì hợp đồng không phải là hợp đồng mua bán của Công ướcVienna 1980 Ngoài ra tại Điều 3.1 CISG cũng không đưa ra tiêu chí cụ thể để xác

định thời điểm để bên bán được nhận cung cấp bởi người mua một phần “lớn”.

Một vấn đề khác là việc cung cấp hướng dẫn, thiết kế hoặc chỉ định được

hướng dẫn sử dụng để sản xuất, thiết kế hàng hóa là việc cung cấp “nguyên liệu cần thiết” cho sản xuất hoặc sản xuất hàng hóa Như vậy, một hợp đồng mua bán mà

người mua cung cấp thông tin đó sẽ bị loại trừ khỏi phạm vi áp dụng của Công ước

nếu “tiêu chí một phần lớn” được đáp ứng Trong vụ Art Books, Tòa án cho rằng

Công ước không thể áp dụng được, dựa trên Điều 3.1 CISG, theo hợp đồng màngười bán phải sản xuất hàng hóa theo thông số k thuật thiết kế người mua Tòa án

đã xem xét các kế hoạch và hướng dẫn mà người mua cung cấp cho người bán để

tạo thành một phần “lớn” cho việc sản xuất hàng hóa Và Công ước Vienna 1980

không được áp dụng cho hợp đồng này.51

Dựa vào những phân tích trên, Công ước Vienna 1980 không áp dụng chohợp đồng mang bản chất, đặc điểm của một hợp đồng gia công là Hợp đồng giacông trong thương mại là sự thỏa thuận giữa các bên, theo đó bên nhận gia công sửdụng một phần hoặc toàn bộ nguyên liệu, vật kiệu của bên đặt gia công để thực hiện

51 Vụ kiện Art Book cabinets, Nguồn: http://cisgw3.law.pace.edu/cases/990210s1.html , dowload ngày: 20/05/2019.

Trang 35

một hoặc nhiều công đoạn trong quá trình sản xuất sản phẩm hàng hóa theo yêu cầucủa bên đặt gia công với mục đích là hưởng thù lao, còn bên đặt gia công nhận sảnphẩm và trả tiền thù lao.

Hợp đồng cung cấp lao động và dịch vụ Theo khoản 2 Điều 3 CISG mởrộng phạm vi áp dụng của Công ước đối với các hợp đồng, trong đó nghĩa vụ củangười bán bao gồm việc giao hàng, chuyển tài sản và giao các tài liệu có nghĩa vụ

cung cấp lao động hay dịch vụ khác, miễn là phần “thực hiện công việc hoặc cung cấp một dịch vụ khác” không cấu thành “phần ưu tiên” trong nghĩa vụ người bán.

Người ta cho rằng việc sản xuất hàng hóa không được coi là phần thực hiện côngviệc hoặc cung cấp dịch vụ khác theo như Điều 3.2 CISG

Để xác định liệu các nghĩa vụ của người bán có ưu tiên trong việc phải “thực hiện một công việc hoặc cung cấp một dịch vụ khác”, phải so sánh giữa giá trị kinh

tế của các nghĩa vụ liên quan đến “thực hiện một công việc hoặc cung cấp một dịch

vụ khác” và giá trị kinh tế của các nghĩa vụ liên quan đến hàng hóa như thể hai hợp đồng riêng biệt đã được thực hiện Do đó, trong trường hợp nghĩa vụ “thực hiện một công việc hoặc cung cấp một dịch vụ khác” chiếm hơn 50% phần nội dung

nghĩa vụ của người bán thì Công ước không thể áp dụng được Trong vụ kiện

Market study Tòa án đã quyết định rằng một hợp đồng cho một nghiên cứu thị

trường không thuộc phạm vi áp dụng của Công ước Tòa án cho rằng CISG khôngđược áp dụng, vì hợp đồng cơ bản không phải là hợp đồng mua bán hàng hóa (Điều1.1 CISG) cũng không phải là hợp đồng sản xuất hàng hóa (Điều 3.1 CISG) Lưu ýrằng việc bán hàng hóa được đặc trưng bởi việc chuyển nhượng tài sản trong mộtđối tượng, Tòa án nhận thấy rằng, mặc dù một báo cáo được cố định trên một tờgiấy, mối quan tâm chính của các bên không phải là việc bàn giao mà là việcchuyển nhượng về quyền sử dụng các ý tưởng được viết trên giấy như vậy Do đó,Tòa án cho rằng thỏa thuận chuẩn bị phân tích thị trường không phải là bán hànghóa theo nghĩa của các Điều 1 và Điều 3 CISG.52 Mặt khác, một hợp đồng cho việctháo dỡ và bán nhà chứa đồ cũ thuộc phạm vi áp dụng của CISG do nội dung vềnghĩa vụ dịch vụ tháo dỡ chỉ chiếm 25% nội dung nghĩa vụ của hợp đồng.53 Nhưvậy, bên dựa vào Điều 3.2 CISG để loại trừ việc áp dụng Công ước cho hợp đồng

52 Xem vụ kiện Market study, giữa Thụy Sĩ và Đức, Nguồn: http://cisgw3.law.pace.edu/cases/940826g1.html , download ngày: 20/06/2019.

53 Xem chi tiết vụ kiện Forklift, Nguồn: http://cisgw3.law.pace.edu/cases/950922g1.html ,download ngày: 20/06/2019.

Trang 36

trong đó bên phải cung cấp hàng hóa cũng phải thực hiện một công việc hoặc cungcấp một dịch vụ khác chịu trách nhiệm chứng minh rằng cung ứng lao động hoặcdịch vụ cấu thành phần ưu tiên của nghĩa vụ.

Như vậy, Công ước Vienna 1980 không áp dụng cho hợp đồng gia công vàhợp đồng dịch vụ

1.3 Các vấn đề Công ước Vienna 1980 không điều chỉnh

Ngoài các căn cứ áp dụng Công ước Vienna 1980 nêu trên Thì còn có cácvấn đề Công ước Vienna 1980 điều chỉnh và không điều chỉnh được quy định tạiĐiều 4 CISG Theo tại điều này, Công ước này chỉ điều chỉnh việc giao kết hợpđồng mua bán và các quyền và nghĩa vụ của người bán và người mua phát sinh từhợp đồng đó Bên cạnh đó Điều 4 CISG cũng liệt kê cũng trường hợp CISG khôngđiều chỉnh cụ thể là tính hiệu lực của hợp đồng, hoặc bất cứ điều khoản nào của hợpđồng, hoặc bất kỳ tập quán nào và hậu quả mà hợp đồng có thể đối với quyền sởhữu các hàng hóa đã bán Các vấn đề được liệt kê không thuộc phạm vi áp dụngCISG vì việc giải quyết các vấn đề trên sẽ làm trì hoãn việc điều chỉnh của Côngước.54 Những vấn đề này phải được giải quyết phù hợp với các quy tắc thống nhấthiện hành hoặc luật trong nước hiện hành được xác định dựa trên các quy tắc củaluật quốc tế tư nhân của diễn đàn

Đầu tiên, các vấn đề được giải quyết theo công ước Liên quan đến việc hìnhthành hợp đồng, Công ước điều chỉnh các yêu cầu khách quan để ký kết hợp đồng.Tuy nhiên, về tính hiệu lực của hợp đồng phải tuân theo các quy tắc hiện hành,ngoại trừ những vấn đề mà Công ước có đưa ra quy định điều chỉnh Do đó, các vấn

đề như tính hiệu lực của hợp đồng, hậu quả mà hợp đồng có thể có đối với quyền sởhữu các hàng hóa đã bán được pháp luật trong nước điều chỉnh Tuy nhiên trongtrường hợp, một bên có mỗi liên quan đến chất lượng hàng hóa sẽ được giao hoặckhả năng thanh toán của bên kia, các quy định của luật áp dụng khác sẽ nhường chỗcác quy định của Công ước do Công ước giải quyết được những vấn đề đó

54 Báo cáo của Nhóm công tác về việc bán hàng hóa quốc tế lần thứ IX (Geneva, từ ngày 19 đến ngày 30 tháng 9 năm 1977) , được sao chép trong UNCITRAL, 1978, tr.65.

Ngày đăng: 29/11/2019, 15:13

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w