1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Hủy hợp đồng trước thời hạn thực hiện nghĩa vụ hợp đồng theo công ước vienna 1980

56 269 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 56
Dung lượng 833,63 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Cụ thể là khả năng một bên trong hợp đồng vi phạm cơ bản nghĩa vụ của mình khi đến thời hạn thực hiện nghĩa vụ, và quy định về điều kiện, trình tự, thủ tục để áp dụng chế tài hủy hợp đồn

Trang 1

MỤC LỤC

PHẦN MỞ ĐẦU 1

1 Lý do chọn đề tài 1

2 Mục tiêu nghiên cứu của đề tài 2

3 Phạm vi, đối tượng nghiên cứu của đề tài 3

4 Phương pháp nghiên cứu 4

5 Kết cấu khóa luận 5

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ HỦY HỢP ĐỒNG TRƯỚC THỜI HẠN THỰC HIỆN NGHĨA VỤ HỢP ĐỒNG THEO CÔNG ƯỚC VIÊN 1980 6

1.1 Khái niệm về hủy hợp đồng trước thời hạn thực hiện nghĩa vụ hợp đồng 6

1.2 Hệ quả pháp lý khi áp dụng biện pháp hủy hợp đồng trước thời hạn thực hiện nghĩa vụ hợp đồng 11

1.3 Nghĩa vụ thông báo khi áp dụng biện pháp hủy hợp đồng trước thời hạn thực hiện nghĩa vụ hợp đồng 14

1.3.1 Thời hạn thông báo 15

1.3.2 Hình thức thông báo 16

1.3.3 Nội dung thông báo 17

1.4 Phân biệt biện pháp hủy hợp đồng trước thời hạn thực hiện nghĩa vụ hợp đồng với biện pháp tạm ngừng thực hiện nghĩa vụ hợp đồng trước thời hạn thực hiện nghĩa vụ hợp đồng 22

KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 27

Trang 2

CHƯƠNG 2 CĂN CỨ ÁP DỤNG BIỆN PHÁP HỦY HỢP ĐỒNG TRƯỚC THỜI HẠN THỰC HIỆN NGHĨA VỤ HỢP ĐỒNG THEO CÔNG ƯỚC VIÊN 1980 –

LIÊN HỆ PHÁP LUẬT VIỆT NAM 28

2.1 Căn cứ áp dụng biện pháp hủy hợp đồng trước thời hạn thực hiện nghĩa vụ hợp đồng theo Công ước Viên 1980 28

2.1.1 Khả năng một bên sẽ gây ra vi phạm cơ bản 28

2.1.2 Một bên tuyên bố sẽ không thực hiện hợp đồng 39

2.2 Pháp luật Việt Nam về biện pháp hủy hợp đồng trước thời hạn thực hiện nghĩa vụ hợp đồng 42

2.2.1 Một số hạn chế của pháp luật Việt Nam về quy định hủy hợp đồng trước thời hạn thực hiện nghĩa vụ hợp đồng 42

2.2.2 Đề xuất hoàn thiện pháp luật Việt Nam về quy định hủy hợp đồng trước thời hạn thực hiện nghĩa vụ hợp đồng 48

KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 50

KẾT LUẬN 51

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 52

Trang 3

PHẦN MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Luật Thương mại được Quốc hội Khóa XI, kỳ họp thứ 7 thông qua ngày 14/06/2005

và chính thức có hiệu lực từ ngày 01/01/2006, thay thế Luật Thương mại năm 1997 Trải qua hơn 12 năm, LTM 2005 đã góp phần to lớn vào sự ổn định và phát triển của hoạt động thương mại, điều chỉnh, khắc phục những hạn chế, thiếu sót của LTM 1997 Cùng với sự phát triển của xã hội, đặc biệt là trong lĩnh vực thương mại, các hoạt động của thương nhân ngày càng đa dạng, phong phú Một trong những yếu tố quan trọng nhất trong thương mại là hợp đồng, đây có thể được xem là cội nguồn của những hoạt động thương mại

Tuy nhiên, không phải lúc nào các bên trong hợp đồng đều nghiêm túc thực hiện những nghĩa vụ của mình được giao kết trong hợp đồng Do đó, LTM trao cho các chủ thể trong hợp đồng, tùy theo tính chất, mức độ của hành vi vi phạm có quyền áp dụng các biện pháp, chế tài khác nhau nhằm đảm bảo quyền lợi của mình Trên thực tế, việc nhận diện hành vi vi phạm của một bên đôi khi không dễ dàng, cụ thể là khi một bên tỏ

ra không thiện chí hoặc không có khả năng trong việc thực hiện nghĩa vụ của mình khi đến hạn, tức là trước thời hạn thực hiện nghĩa vụ Theo LTM 2005, thì đây không phải

là một hành vi vi phạm Chính vì thế, bên còn lại không có quyền áp dụng các chế tài thương mại, đặc biệt là chế tài hủy hợp đồng để giải phóng nghĩa vụ của mình trong hợp đồng, giảm thiểu được rủi ro và thiệt hại phải gánh chịu

Với mục tiêu thống nhất luật pháp quốc tế về hợp đồng mua bán hàng hóa, Công ước Viên 1980 là một thành tựu to lớn trong việc nỗ lực hài hòa hóa các hệ thống luật trên thế giới Việt Nam đã là thành viên thứ 84 của Công ước Viên và Công ước chính thức có hiệu lực ở Việt Nam từ ngày 01/01/2017 Đây là một bước tiến vượt bậc trong quá trình hội nhập quốc tế sâu rộng của Việt Nam, tạo sự thuận lợi cho các thương nhân trong nước tiếp cận với một nguồn luật tiến bộ và được áp dụng rộng rãi, đặc biệt

là các nước có nền kinh tế phát triển bậc nhất thế giới Những quy định tiến bộ và hài hòa của Công ước Viên đã được các nước thành viên vận dụng và đem lại những lợi ích to lớn trong việc giải quyết các tranh chấp thương mại Đối với vấn đề pháp lý nêu trên, tại Điều 72 CISG đã tạo cơ hội cho một bên có quyền áp dụng chế tài hủy hợp

Trang 4

đồng trước thời hạn thực hiện nghĩa vụ để giảm thiểu tối đa các thiệt hại của mình do bên kia có khả năng vi phạm hợp đồng khi đến thời hạn thực hiện nghĩa vụ

Nhằm làm rõ những quy định của Công ước Viên về vấn đề hủy hợp đồng trước thời hạn, và có cái nhìn tổng thể giữa pháp luật Việt Nam với Công ước Viên Người viết

chọn đề tài “Hủy hợp đồng trước thời hạn thực hiện nghĩa vụ hợp đồng theo Công

ước Viên 1980” làm đề tài Khóa luận của mình

2 Mục tiêu nghiên cứu của đề tài

Mục tiêu nghiên cứu của Khóa luận là phân tích những vấn đề lý luận và thực tiễn liên quan đến các quy định về chế tài hủy hợp đồng trước thời hạn thực hiện nghĩa vụ theo Công ước Viên và so sánh với pháp luật Việt Nam cũng như các văn bản pháp lý quốc tế khác Khóa luận làm rõ các quy định của Công ước Viên và có những kiến nghị

bổ sung pháp luật Việt Nam về chế tài hủy hợp đồng trước thời hạn thực hiện nghĩa vụ Qua đó, góp phần hài hòa hóa pháp luật Việt Nam với các văn bản pháp lý quốc tế, đặc biệt là Công ước Viên Mặt khác, tạo hành lang pháp lý thuận lợi và dễ áp dụng cho các doanh nghiệp Việt Nam trong giao kết và thực hiện hợp đồng, cho các cơ quan giải quyết tranh chấp của Việt Nam trong việc giải quyết tranh chấp về hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế

Tình hình nghiên cứu

Hiện nay, khi Việt Nam đã gia nhập Công ước Viên đã có nhiều đề tài, công trình nghiên cứu liên quan đến các quy định của Công ước Viên nói chung và chế tài hủy hợp đồng trước thời hạn thực hiện nghĩa vụ nói riêng, cụ thể:

Luận án tiến sĩ Luật học của tác giả Võ Sỹ Mạnh, Trường Đại học Luật TP.HCM

“Vi phạm cơ bản hợp đồng theo Công ước Viên năm 1980 về hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế và định hướng hoàn thiện các quy định có liên quan của pháp luật Việt Nam” Luận án này có nghiên cứu khái quát về khái niệm và các đặc điểm của chế tài

vi phạm dự đoán trước

Trang 5

Luận văn thạc sĩ Luật học của tác giả Đặng Anh Tú, Trường Đại học Kinh tế

TP.HCM “Vi phạm hợp đồng mua bán hàng hóa trước thời hạn theo công ước Viên

1980 - so sánh và định hướng hoàn thiện pháp luật Việt Nam”

Luận văn Thạc sĩ: “Vi phạm hợp đồng khi chưa đến thời hạn thực hiện nghĩa vụ, sự cần thiết phải điều chỉnh trong pháp luật về Việt Nam” của tác giả Phạm Thị Trọng

Bài viết “Nghiên cứu so sánh pháp luật hợp đồng Việt Nam, CISG và PICC về vấn

đề vi phạm hợp đồng trước hạn” của tác giả Ths Nguyễn Trung Nam

Bài viết “Một số vấn đề về hủy hợp đồng do vi phạm hợp đồng khi chưa đến thời hạn thực hiện nghĩa vụ” của nhóm tác giả Ths Đặng Huỳnh Thiên Vy, Nguyễn Xuân

Về nội dung: Khóa luận tập trung vào việc phân tích chế tài hủy hợp đồng trước thời

hạn thực hiện nghĩa vụ theo Công ước Viên 1980 (Điều 72) và liên hệ với pháp luật Việt Nam Theo tên gọi của Công ước Viên là Công ước Viên năm 1980 của Liên Hợp Quốc về hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế, do đó, phạm vi nghiên cứu của đề tài chỉ tập trung vào chế tài hủy hợp đồng trước thời hạn đối với hợp đồng mua bán hàng hóa nói chung và hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế nói riêng

Tuy nhiên, cũng cần lưu ý rằng phạm vi nghiên cứu của Khóa luận không nghiên cứu về chế tài hủy hợp đồng do một bên có hành vi vi phạm trong quá trình thực hiện hợp đồng và các loại chế tài khác áp dụng cho hợp đồng không phải là hợp đồng mua bán hàng hóa

Về không gian: Khóa luận phân tích thực tiễn các án lệ, bản án, phán quyết của Tòa

án và Trọng tài của các nước là thành viên Công ước Viên 1980

Trang 6

Về thời gian: Khóa luận lấy số liệu, thông tin từ năm 1988 – năm Công ước Viên có

hiệu lực cho đến nay

3.2 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của Khóa luận là những vấn đề lý luận và thực tiễn liên quan đến chế tài hủy hợp đồng trước thời hạn thực hiện nghĩa vụ hợp đồng Cụ thể là khả năng một bên trong hợp đồng vi phạm cơ bản nghĩa vụ của mình khi đến thời hạn thực hiện nghĩa vụ, và quy định về điều kiện, trình tự, thủ tục để áp dụng chế tài hủy hợp đồng trước thời hạn thực hiện nghĩa vụ

Ngoài ra, Khóa luận còn nghiên cứu các án lệ, bản án, phán quyết của Tòa án, Trọng tài của một số quốc gia thành viên Công ước Viên 1980 và bao gồm cả những hạn chế, thiếu sót của pháp luật Việt Nam về chế tài hủy hợp đồng trước thời hạn thực hiện nghĩa vụ so với các quy định của Công ước Viên

4 Phương pháp nghiên cứu

Phương pháp phân tích, tổng hợp: Phương pháp này được áp dụng để tìm hiểu,

phân tích các khái niệm, ý nghĩa của các đối tượng nghiên cứu

Phương pháp so sánh: Phương pháp này cung cấp cho người đọc một góc nhìn

tổng thể giữa các văn bản pháp luật từ các hệ thống pháp luật khác nhau nhằm tìm ra những điểm giống cũng như khác nhau và có sự so sánh ưu nhược điểm của nó

Phương pháp liệt kê: Phương pháp này trình bày những án lệ, bản án, phán quyết

của Tòa án, Trọng tài nhằm làm rõ thêm các đối tượng nghiên cứu

Ngoài các phương pháp nêu trên, người viết còn sử dụng các phương pháp trong nghiên cứu khoa học khác nhằm cung cấp những thông tin cho người đọc được rõ ràng hơn

Trang 7

5 Kết cấu khóa luận

Ngoài Phần mở đầu, Kết luận và Danh mục tài liệu tham khảo, Khóa luận gồm 2 Chương:

Chương 1 Tổng quan về hủy hợp đồng trước thời hạn thực hiện nghĩa vụ hợp đồng theo Công ước Viên 1980

Chương 2 Căn cứ áp dụng biện pháp hủy hợp đồng trước thời hạn theo Công ước Viên

1980 – Liên hệ pháp luật Việt Nam

Trang 8

CHƯƠNG 1

TỔNG QUAN VỀ HỦY HỢP ĐỒNG TRƯỚC THỜI HẠN THỰC HIỆN

NGHĨA VỤ HỢP ĐỒNG THEO CÔNG ƯỚC VIÊN 1980

1.1 Khái niệm về hủy hợp đồng trước thời hạn thực hiện nghĩa vụ hợp đồng

Theo từ điển chuyên ngành Luật, Hợp đồng (contract) được hiểu là một thỏa thuận với các điều khoản cụ thể giữa hai hoặc nhiều người hoặc tổ chức, trong đó có một lời

Khi hợp đồng được xác lập hợp pháp thì nó được xem như là “luật” của các bên và

kể từ thời điểm hợp đồng có hiệu lực các bên phải có nghĩa vụ thực hiện hợp đồng trên

cơ sở nguyên tắc thiện chí, trung thực Các bên phải đảm bảo thực hiện một cách tốt nhất nghĩa vụ của mình trong hợp đồng Tuy nhiên, trong quá trình thực hiện hợp đồng phát sinh những yếu tố khách quan cũng như chủ quan khiến một bên không thực hiện, thực hiện không đúng hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ đã giao kết trong hợp đồng được gọi là hành vi vi phạm hợp đồng

Hành vi vi phạm hợp đồng của một bên sẽ làm phát sinh cho bên kia quyền được bồi thường thiệt hại, ngoài ra còn có các biện pháp khắc phục chuyên biệt hơn như là quyền từ chối nhận hàng của người mua và quyền từ chối giao hàng của người

bán Trong pháp luật các quốc gia, các biện pháp này có thể được gọi là “từ chối”,

“thu hồi chấp nhận”, “tránh”, “chấm dứt” hoặc “hủy” Trong Công ước Viên (Điều

49 và Điều 64) đặc quyền của một bên không thực hiện hợp đồng vì vi phạm của bên

Hủy hợp đồng là một trong những chế tài nghiêm khắc nhất của pháp luật trao cho các bên trong quan hệ hợp đồng khi có hành vi vi phạm hợp đồng Hủy hợp đồng dẫn đến những hậu quả rất nặng nề cho cả hai bên Tuy nhiên nó là chế tài cần thiết để bảo

vệ quyền lợi của bên bị vi phạm trước hành vi vi phạm hợp đồng của bên còn lại

Trang 9

Hành vi vi phạm hợp đồng có thể xảy ra trước thời hạn (vi phạm dự đoán trước) hoặc khi hết thời hạn thực hiện hợp đồng (vi phạm thực tế) Xuất phát từ nguyên tắc

hợp đồng là “luật” của các bên trong hợp đồng, các bên có thể tự do thỏa thuận nghĩa

vụ hợp đồng được thực hiện vào một thời điểm cụ thể và phải chịu sự ràng buộc về thỏa thuận ấy Các bên phải thể hiện sự thiện chí trong việc thực hiện hợp đồng và không có quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng nếu không thuộc những trường hợp

đã thoả thuận trước hoặc luật có quy định

Nếu tới thời hạn phải thực hiện hợp đồng mà bên có nghĩa vụ có hành vi vi phạm

hợp đồng thì đây được xem là một “vi phạm hợp đồng thực tế” Trong trường hợp

chưa đến thời hạn thực hiện hợp đồng nhưng một bên có đủ căn cứ để chứng minh bên kia sẽ không có khả năng thực hiện hợp đồng khi đến hạn hoặc có những hành vi làm cho bên kia mất niềm tin về việc thực hiện hợp đồng và kết luận có một sự vi phạm

hợp đồng trong tương lai được gọi là “vi phạm hợp đồng dự đoán trước” Sự vi phạm

hợp đồng tuy chưa xảy ra về mặt thực tế, nhưng nếu buộc phải chờ đến khi có vi phạm thực tế xảy ra thì thiệt hại sẽ lớn hơn rất nhiều Để đảm bảo quyền lợi của mình, bên có khả năng bị thiệt hại có quyền thực hiện những chế tài cần thiết để hạn chế thiệt hại xảy ra, bao gồm cả chế tài hủy hợp đồng

Học thuyết vi phạm dự đoán trước khởi nguồn từ án lệ Hochster v De La Tour

(1853) 3 , đây là một phán quyết mang tính bước ngoặt của Luật Hợp đồng Anh trong

trường hợp vi phạm hợp đồng dự đoán trước Nội dung vụ kiện có thể tóm tắt như sau:

De La Tour đã ký kết một thỏa thuận để thuê ông Hochster để làm hướng dẫn viên du lịch và đi cùng họ ở châu Âu vào ngày 01 tháng 06 năm 1852 Vào ngày 11 tháng 05 năm 1852, De La Tour đã viết cho Hochster thông báo rằng họ không còn cần dịch vụ của ông nữa Vào ngày 22 tháng 05 năm 1852, Hochster đã khởi kiện lên Tòa với lí do

là việc hủy hợp đồng của De La Tour là vi phạm hợp đồng và yêu cầu bồi thường thiệt hại De La Tour lập luận rằng Hochster vẫn có nghĩa vụ phải sẵn sàng thực hiện nghĩa

vụ khi đến thời hạn, và không thể đưa ra một hành động trước ngày hợp đồng bắt đầu

Vấn đề pháp lý được đặt ra ở đây là (1) Liệu một bên có được từ chối thực hiện thỏa thuận trước ngày bắt đầu thực hiện nghĩa vụ hay không? Và (2) Liệu hành vi vi phạm này có thể hành động trước ngày hợp đồng bắt đầu hay không?

3 https://www.lawteacher.net/cases/hochster-v-de-la%20tour.php truy cập lần cuối 13/12/2018

Trang 10

Thứ nhất, Tòa án cho rằng khi một hợp đồng cung cấp lời hứa cho nghĩa vụ trong

tương lai, một bên từ chối thực hiện thỏa thuận, xem như là từ bỏ hợp đồng, và phải chịu trách nhiệm về vi phạm hợp đồng Hơn nữa, một hợp đồng cho nghĩa vụ trong tương lai tạo thành một lời hứa ngụ ý rằng, trong khi chờ đợi, không bên nào sẽ làm tổn hại đến sự thực hiện của lời hứa đó

Thứ hai, trên cơ sở đó, Tòa án bác bỏ lập luận của bị đơn rằng bên kia phải sẵn sàng

thực hiện hợp đồng cho đến sau ngày bắt đầu, do đó ngăn cản anh ta thực hiện việc khởi kiện trước thời hạn Tòa án cho rằng việc từ bỏ hợp đồng thực hiện trong tương lai của một bên ngay lập tức giải phóng nghĩa vụ của bên kia để thực hiện hợp đồng, do

đó không có lý do gì để yêu cầu người kia chờ đến hạn thực hiện nghĩa vụ trước khi tìm cách giải quyết tốt hơn Vì vậy, việc vi phạm hợp đồng bằng cách từ bỏ thực hiện nghĩa vụ trong tương lai ngay lập tức làm cho bên chịu trách nhiệm về một hành động gây thiệt hại cho bên bị thiệt hại Tòa án đã ra phán quyết cho nguyên đơn (Hochster)

Từ án lệ đó, thuật ngữ “vi phạm dự đoán trước” (anticipatory breach) đã được lan tỏa

đến các nước theo hệ thống pháp luật Anh – Mỹ

Vi phạm dự đoán trước là một thuật ngữ trong Luật hợp đồng mô tả tuyên bố của bên giao kết trong hợp đồng mà họ không có ý định thực hiện nghĩa vụ của mình theo hợp đồng khi đến hạn Một bên được coi là hủy hợp đồng khi họ chứng minh sự thiếu

tự nguyện hoặc không có khả năng thực hiện nghĩa vụ hợp đồng của bên kia Việc vi phạm hợp đồng của một bên (bên có khả năng vi phạm) sẽ cho phép bên kia (bên có khả năng bị vi phạm) chọn cách hủy hợp đồng Điều này dựa trên ý định khách quan,

không có khả năng thực hiện một điều kiện này phải tước đi toàn bộ lợi ích mà họ sẽ

bên thực hiện hợp đồng sẽ không có nghĩa vụ phải thực hiện nghĩa vụ của mình Tuy nhiên, lời tuyên bố hủy hợp đồng có thể được rút lại khi bên có khả năng vi phạm cung cấp đảm bảo khả năng thực hiện hợp đồng Việc rút lại lời hủy hợp đồng sẽ khôi phục nghĩa vụ của các bên thực hiện trong hợp đồng

4Universal Cargo Carriers Corp v Citati [1957] 2 QB 401 ; See also Carr v JA Berriman Pty Ltd [1953] HCA

31, (1953) 89 CLR 327, High Court (Australia); Laurinda Pty Ltd v Capalaba Park Shopping Centre Pty Ltd [1989] HCA 23, (1989) 166 CLR 623 at p647, High Court (Australia).

5Progressive Mailing House v Tabali [1985] HCA 14 , , (1985) 157 CLR 17, High Court (Australia).

Trang 11

Một lý do khác cho học thuyết vi phạm dự đoán trước dựa trên việc vi phạm một

điều khoản ngụ ý khả năng thực hiện trong tương lai: “Một lời cam kết cơ bản được quy định trong mọi hợp đồng là không bên nào sẽ từ chối nghĩa vụ của mình theo hợp đồng, cho dù là thời gian thực hiện hợp đồng đã đến hay chưa”.6 Một sự vi phạm dự đoán trước cũng xảy ra khi một bên có lí do để tin rằng bên kia sẽ không thực hiện hay không cung cấp những đảm bảo hợp lý về khả năng thực hiện nghĩa vụ của mình Nếu các đảm bảo hợp lý như vậy không được đưa ra, nó sẽ cấu thành một sự vi phạm dự đoán, từ đó cho phép bên có khả năng bị vi phạm có các biện pháp khắc phục khác nhau, bao gồm cả hủy hợp đồng Tuy nhiên, vi phạm dự đoán trước chỉ áp dụng cho một hợp đồng song vụ với các nghĩa vụ không được thực hiện ở cả hai bên

Trong CISG, hủy hợp đồng trước thời hạn thực hiện nghĩa vụ hợp đồng được quy

định tại Chương V, Mục 1, Điều 72 Theo đó, Công ước quy định: “Nếu trước ngày quy định cho việc thực hiện hợp đồng mà thấy hiển nhiên rằng một bên sẽ gây ra một

vi phạm cơ bản đến hợp đồng, bên kia có thể tuyên bố hủy hợp đồng” 7

Trong quá trình soạn thảo CISG, ngay từ đầu, quy định này đã không nhận được sự ủng hộ từ các học giả đến từ các nước theo hệ thống dân luật (civil law) Nguyên nhân

là do việc áp dụng chế tài này bị cho rằng đã dựa vào căn cứ mang tính chất chủ quan

Đối lập với quan điểm trên, các học giả đến từ các nước theo hệ thống thông luật (common law) cho rằng, một bên không nên tiếp tục bị ràng buộc bởi hợp đồng khi bên kia không thể thực hiện được nghĩa vụ cơ bản của mình, thậm chí là trước thời hạn các bên thực hiện hợp đồng Bảo vệ cho quan điểm trên, các học giả đã đưa ra lập luận:

“Suy cho cùng, một việc vốn dĩ đã được dự đoán chắc chắn không thể được thực hiện khi đến hạn và một việc trên thực tế đã không được thực hiện khi đến hạn đều dẫn đến hậu quả như nhau Vì thế, lúc này, sự chấm dứt hợp đồng một cách dứt khoát càng sớm càng giảm thiểu các thiệt hại phát sinh”.9

6 Tramways Advertising Pty Ltd v Luna Park (NSW) Ltd [1938] NSWStRp 632, Supreme Court (NSW, Australia)

7 Khoản 1 Điều 72 CISG

8 Williston, “Contracts” (rev, ed), đoạn 1307 (footnote 1 của bài viết E Tabachnik, “Anticipatory breach of contract”, tr.149

9

Keith A Rowley, “A Brief History of Anticipatory Repudiation in American Contract Law”, xem tại:

http://www.cisg.law.pace.edu/cisg/biblio/rowley.html#v truy cập lần cuối 13/12/2018

Trang 12

Bản bình luận về Công ước Viên của Hội đồng thư ký UNCITRAL cũng đánh giá

ngôn từ và hành động của một bên khiến cho bên còn lại có sự nghi ngờ về khả năng thực hiện nghĩa vụ hợp đồng của bên kia Những lí do có thể là chủ quan hoặc khách quan của một bên, mặc dù lí do khách quan không thể làm mất quyền hủy hợp đồng của bên kia theo Điều 72 CISG, nhưng bên có khả năng vi phạm có thể được miễn trách nhiệm về bồi thường thiệt hại theo Điều 79 CISG Khi một bên không thể đưa ra một sự đảm bảo chắc chắn để xoá bỏ những hoài nghi về dấu hiệu thể hiện sự không chắc chắn khả năng thực hiện nghĩa vụ của bên còn lại cũng sẽ khiến cho việc nghi ngờ một vi phạm cơ bản sẽ xảy ra trở nên rõ ràng hơn Sự đảm bảo này có thể căn cứ trên mức độ uy tín của bên cam kết, lịch sử thực hiện các nghĩa vụ hợp đồng hay sự thiện chí trong việc thực hiện những nghĩa vụ hợp đồng

Thêm vào đó, một bên có ý định tuyên bố hủy hợp đồng theo Điều 72 CISG cũng nên thận trọng Nếu tại thời điểm thực hiện nghĩa vụ không có vi phạm cơ bản nào xảy

ra trên thực tế, thì sự nghi ngờ ban đầu có thể không “rõ ràng” và tuyên bố hủy hợp

đồng tự nó bị vô hiệu Trong trường hợp như vậy, bên tuyên bố hủy hợp đồng sẽ vi

thực tế rõ ràng là vi phạm cơ bản sẽ xảy ra, thậm chí trước ngày thực hiện hợp đồng, nghĩa vụ giảm thiểu tổn thất được nêu trong Điều 77 CISG có thể yêu cầu bên nào tuyên bố hủy hợp đồng sẽ dựa vào vi phạm đó thực hiện các biện pháp để giảm bớt tổn thất của mình, bao gồm mất lợi nhuận do vi phạm hợp đồng

Mục tiêu của Điều 72 là cung cấp cho bên có khả năng bị vi phạm một biện pháp khắc phục hậu quả trong trường hợp rõ ràng bên kia sẽ không thực hiện hoặc sẽ vi

thuyết pháp luật Anh-Mỹ về vi phạm dự đoán trước, cho phép bên có khả năng bị vi

phạm hủy hợp đồng khi có đủ căn cứ “rõ ràng” vi phạm sẽ xảy ra mà không phải đợi

đến khi nghĩa vụ đến hạn

10 Secretariat Commentary (closest counterpart to an Official Commentary)

Nguồn http://www.cisg.law.pace.edu/cisg/text/secomm/secomm-72.html truy cập lần cuối 12/12/2019

11 Đoạn 3 Secretariat Commentary (closest counterpart to an Official Commentary)

Nguồn http://www.cisg.law.pace.edu/cisg/text/secomm/secomm-72.html truy cập lần cuối 12/12/2019

12 Enderlein F & Maskow D International Sales Law - United Nations Conven;tion on Contracts for the International Sale of Goods (1992 New York) <http://cisgw3.law.pace.edu/cisg/biblio/enderlein.html> Đoạn 1 trang 291 truy cập lần cuối 09/12/2018

Trang 13

Tương tự CISG, PICC cũng có quy định về trường hợp hủy hợp đồng trước thời hạn

thực hiện nghĩa vụ Tại Điều 7.3.3 PICC quy định : “Một bên có căn cứ để hủy hợp đồng nếu, trước thời hạn, rõ ràng sẽ có việc không thực hiện chủ yếu từ phía bên kia”

PICC cũng có yêu cầu phải thông báo như quy định tại Điều 72 (2) CISG Nếu một bên không chắc chắn liệu có vi phạm cơ bản hay không, nhưng có một sự nghi ngờ hợp

lý rằng nó có thể xảy ra, thì bên đó, theo Điều 7.3.4 PICC, có quyền yêu cầu một sự đảm bảo đầy đủ từ bên kia rằng nghĩa vụ sẽ được thực hiện Việc không cung cấp một

sự đảm bảo đầy đủ là một căn cứ trong các điều khoản 7.3.4 để chấm dứt hợp đồng Do

đó, có một mối liên hệ khá chặt chẽ giữa các quy định tại Điều 7.3.3 và 7.3.4

Tại Điều 9:304 PECL quy định: “Trong trường hợp trước thời gian thực hiện hợp đồng của một bên, rõ ràng sẽ có một hành vi vi phạm cơ bản của bên đó, bên kia có thể chấm dứt hợp đồng.”

Kết luận lại, vi phạm hợp đồng được hiểu là hành vi không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ hợp đồng Hành vi vi phạm hợp đồng của bên vi phạm có thể là

vi phạm thực tế, nghĩa là bên vi phạm đã và đang thực hiện hợp đồng; hoặc có thể là hành vi vi phạm hợp đồng dự đoán trước, tức là bên vi phạm chưa thực hiện hợp đồng,

nhưng một bên có đủ căn cứ “rõ ràng” để khẳng định bên kia sẽ vi phạm hợp đồng khi

cứ hủy hợp đồng; trình tự, thủ tục hủy hợp đồng và hệ quả của việc hủy hợp đồng

Trang 14

Theo ngôn ngữ Tiếng Việt, động từ “Hủy” được hiểu là việc làm cho một thứ gì đó

hợp đồng đó mất đi giá trị ràng buộc nghĩa vụ giữa các bên và giải phóng các bên trong hợp đồng khỏi việc thực hiện nghĩa vụ đã thỏa thuận

Hủy hợp đồng là cơ chế tác động đến hợp đồng bằng cách hủy bỏ hiệu lực của hợp đồng Đây là chế tài có hiệu lực hồi tố và đặt những mối quan hệ phát sinh từ hợp đồng trở về với trạng thái ban đầu Chính vì tính nghiêm khắc của chế tài này dẫn đến hệ quả của nó cũng rất nặng nề Những nghĩa vụ nào chưa thực hiện thì sẽ hủy bỏ, còn những nghĩa vụ nào đã thực hiện thì các bên phải hoàn trả lại cho nhau, bên nào có lỗi dẫn đến

một bên nào muốn hợp đồng bị hủy bỏ Các bên tham gia hợp đồng vì mong muốn được thực hiện những quyền và nghĩa vụ đã thỏa thuận với nhau Do đó, khi hợp đồng

bị hủy bỏ, các bên đều không đạt được những mong muốn khi giao kết hợp đồng, trừ trường hợp một bên mong muốn hủy hợp đồng vì lợi ích khác lớn hơn lợi ích trong hợp đồng

Tại Điều 81 CISG có quy định về hệ quả của việc hủy hợp đồng: “Việc hủy hợp đồng giải phóng hai bên khỏi những nghĩa vụ của họ, trừ những khoản bồi thường thiệt hại có thể có Việc hủy hợp đồng không ảnh hưởng đến các quy định của hợp đồng liên quan đến việc giải quyết các tranh chấp hay đến các quyền và nghĩa vụ của hai bên trong trường hợp hợp đồng bị hủy.”

Điều 81 CISG quy định rằng việc hủy hợp đồng cho phép các bên chấm dứt nghĩa

vụ tương ứng phát sinh từ hợp đồng Hủy hợp đồng là một quá trình mà một bên bị vi phạm, bằng cách thông báo cho bên kia, tuyên bố chấm dứt nghĩa vụ theo hợp đồng của các bên Tác động chính của việc hủy hợp đồng là cả hai bên đều được giải phóng khỏi nghĩa vụ của mình trong hợp đồng Người bán không cần giao hàng và người mua không cần nhận hàng hoặc trả tiền cho bên bán Tuy nhiên, việc hủy hợp đồng không ảnh hưởng đến bất kỳ điều khoản nào trong hợp đồng quy định về quyền và nghĩa vụ của các bên sau khi hủy hợp đồng, cũng không loại bỏ quyền yêu cầu bồi thường thiệt hại do vi phạm hợp đồng

Trang 15

Khi hợp đồng bị hủy bỏ, cả hai bên đều được giải phóng khỏi nghĩa vụ của mình, các bên có quyền đòi lại lợi ích do việc đã thực hiện phần nghĩa vụ của mình theo hợp đồng Tuy nhiên, có khả năng một trong hai bên có thể không hoàn trả được cho nhau những gì đã nhận do tài sản đã được chuyển nhượng hoặc thanh toán đã được thực hiện bởi bên kia Trong trường hợp này, mỗi bên đã thực hiện nghĩa vụ riêng của mình có thể yêu cầu bồi thường bất cứ nghĩa vụ nào đã được thực hiện theo hợp đồng và nếu cả hai bên phải thực hiện bồi thường, thì phải thực hiện đồng thời

Tại Điều 7.3.5 PICC quy định:“2) Chấm dứt hợp đồng không loại trừ quyền yêu cầu bồi thường thiệt hại cho việc không thực hiện; 3) Chấm dứt hợp đồng không ảnh hưởng tới các điều khoản hợp đồng về giải quyết tranh chấp hay tới mọi điều khoản khác có hiệu lực kể cả trong trường hợp huỷ hợp đồng”

Trong khoản 2 Điều 9:305 PECL quy định: “Chấm dứt hợp đồng không ảnh hưởng đến bất kỳ quy định hợp đồng nào để giải quyết tranh chấp hoặc bất kỳ quy định nào khác để thực hiện sau khi hợp đồng bị chấm dứt”

Từ những quy định trên, có thể thấy khi các bên huỷ hợp đồng không đồng nghĩa với việc miễn trách nhiệm đối với toàn bộ nội dung thoả thuận Các thoả thuận về giải quyết tranh chấp khi hợp đồng bị huỷ, hay yêu cầu đòi bồi thường thiệt hại vẫn tiếp tục

có hiệu lực Những thoả thuận này góp phần giải quyết hậu quả của việc huỷ hợp đồng một cách thuận lợi hơn dựa trên ý chí của các bên Khi đó, các bên có thể căn cứ vào những thoả thuận của hai bên để xử lý mà không cần phải nhờ đến cơ quan tài phán

Quy định như vậy sẽ góp phần đẩy nhanh sự “giải thoát” nghĩa vụ cho các bên mà

không làm ảnh hưởng đến quyền lợi của nhau

Tóm lại, hệ quả của chế tài hủy hợp đồng về cơ bản có sự giống nhau giữa các văn bản pháp lý quốc tế và Việt Nam Theo đó, hệ quả cơ bản khi một bên hủy hợp đồng thì đồng thời cả hai bên cùng được giải phóng khỏi các nghĩa vụ của mình trong hợp đồng, các bên phải hoàn trả cho nhau những gì đã nhận trên cơ sở thực hiện nghĩa vụ hợp đồng Tuy nhiên, quy định này không áp dụng đối với các điều khoản về giải quyết tranh chấp và bồi thường thiệt hại sau khi hủy hợp đồng

Trang 16

1.3 Nghĩa vụ thông báo khi áp dụng biện pháp hủy hợp đồng trước thời hạn thực hiện nghĩa vụ

Khi có đủ căn cứ về sự rõ ràng bên kia sẽ vi phạm cơ bản, bên có khả năng bị vi phạm phải gửi thông báo cho bên kia để thể hiện ý định hủy hợp đồng và cho phép bên

có khả năng vi phạm cung cấp đảm bảo cho khả năng thực hiện nghĩa vụ của mình khi đến thời hạn hợp đồng Đây là quy định cần thiết cho các bên để đảm bảo nhận định về

căn cứ “rõ ràng” xảy ra vi phạm hợp đồng cơ bản của mình là chính xác

Về nghĩa vụ thông báo, khoản 2 Điều 72 CISG quy định: “2 Nếu có đủ thời giờ, bên có ý định tuyên bố hủy hợp đồng phải gửi một thông báo cho bên kia một cách hợp

lý để cho phép họ cung cấp những bảo đảm đầy đủ rằng họ sẽ thực hiện nghĩa vụ của mình”

Thêm vào đó, tại Điều 26 CISG: “Một lời tuyên bố về việc hủy hợp đồng chỉ có hiệu lực nếu được thông báo cho bên kia biết.”

Trong lịch sử soạn thảo Điều 63 (tương ứng Điều 72 CISG) không có quy định về

Đoạn (2) và (3) đã được thêm vào Điều 72 tại Hội nghị Ngoại giao Trong cuộc thảo luận về Điều

71, thay mặt cho các nước đang phát triển bày tỏ mối quan tâm chủ yếu đến sức mạnh của biện pháp tạm ngừng thực hiện hợp đồng có thể bị lạm dụng Những lo ngại tương

tự cũng được đề cập liên quan đến việc hủy hợp đồng theo Điều 72; việc bổ sung các đoạn (2) và (3) của Điều 72 là một phần của sự thỏa hiệp được phát triển bởi một nhóm

Theo từ điển tiếng Việt, “Thông báo” là báo cho mọi người biết tình hình, tin tức

bằng lời nói hoặc văn bản Việc thông báo của bên tuyên bố hủy hợp đồng theo CISG bao gồm các yếu tố sau: (i) Thời gian phát đi thông báo; (ii) Sự hợp lý của thông báo; (iii) Sự cho phép bên kia bảo đảm thực hiện nghĩa vụ

15 Comentary 1 Secretariat Commentary Art 72

Nguồn http://www.cisg.law.pace.edu/cisg/text/secomm/secomm-72.html truy cập lần cuối 15/12/2018

16 Đoạn 398 C The Requirement of Advance Notice Xem tại Uniform Law for International Sales under the 1980 United Nations Convention 3rd edition (1999) John O Honnold

Nguồn http://www.cisg.law.pace.edu/cisg/biblio/honnold.html#388 truy cập lần cuối 15/12/2018

Trang 17

1.3.1 Thời hạn thông báo

Điều 72 CISG đã xác định rõ thời hạn mà một bên có quyền áp dụng chế tài huỷ hợp đồng là sẽ có vi phạm cơ bản trước thời hạn thực hiện nghĩa vụ trong hợp đồng Sự vi phạm này căn cứ vào những suy đoán của bên có khả năng bị vi phạm, dựa trên những hành vi của bên còn lại Bên có khả năng bị vi phạm phải chứng minh được rằng trước thời hạn thực hiện nghĩa vụ hợp đồng, bên kia không muốn, không thể hoặc những lí

do khác dẫn đến việc bên có khả năng vi phạm sẽ không thực hiện nghĩa vụ hợp đồng đúng thời hạn Sẽ không công bằng khi một bên có đủ căn cứ cho rằng bên còn lại sẽ vi phạm nghĩa vụ hợp đồng nhưng không thể áp dụng các chế tài thương mại để bảo vệ quyền lợi của mình Vì vậy, CISG đã tạo một hành lang pháp lý từ rất sớm để bảo vệ quyền lợi của bên có khả năng bị vi phạm Bên có khả năng bị vi phạm không nhất thiết phải chờ đợi đến khi hết thời hạn thực hiện nghĩa vụ hợp đồng để tuyên bố rằng bên còn lại đã có một vi phạm cơ bản và huỷ hợp đồng

Điều 72 (2) CISG quy định bên có ý định tuyên bố hủy hợp đồng nếu có đủ thời

gian phải gửi thông báo cho bên kia Tuy nhiên, để hiểu như thế nào về khái niệm “có

đủ thời giờ” thì CISG không định nghĩa một cách cụ thể Có thể hiểu một cách cơ bản,

ngay khi một bên muốn tuyên bố hủy hợp đồng thì phải gửi ngay thông báo về việc hủy hợp đồng cho bên kia và không chậm trễ

Quy định này được các nhà soạn thảo CISG đưa ra trong bối cảnh các phương thức giao tiếp điện tử chưa phổ biến tại thời điểm soạn thảo Vì vậy, có sự lo ngại về thời gian trong việc gửi thông báo cho bên kia sẽ ảnh hưởng đến quyền được tuyên bố hủy hợp đồng trước hạn Tuy nhiên, với sự phát triển tiến bộ hiện nay, khó có thể hình

trước thời hạn thực hiện nghĩa vụ Các phương thức giao tiếp hiện đại ngày nay sẽ cho phép một thông báo cho bên kia mà không gặp nhiều trở ngại về thời gian và khoảng cách địa lý

Thêm vào đó, trong mọi trường hợp, thông báo trước “Nếu có đủ thời giờ” sẽ phù

hợp với nguyên tắc thiện chí và tập quán thương mại và thực sự sẽ làm giảm các rủi ro

khi đưa ra tuyên bố hủy hợp đồng Vì vậy, cụm từ “Nếu có đủ thời giờ” tại Điều 72 (2)

Trang 18

CISG chỉ còn mang tính chất “lịch sử”, các bên khó có thể viện dẫn lí do thời gian

không cho phép để không gửi thông báo tuyên bố hủy hợp đồng cho bên kia

Trong PICC cũng quy định rằng quyền chấm dứt hợp đồng của một bên được thực hiện bằng việc thông báo cho bên kia biết Tuy nhiên nếu việc thông báo bị chậm trễ hoặc không đúng theo các quy định trong hợp đồng thì bên bị vi phạm có thể bị mất

trong trường hợp không thông báo ngay mà gây thiệt hại cho bên kia thì bên hủy bỏ hợp đồng phải bồi thường thiệt hại

Như vậy, có thể thấy khi một bên có ý định tuyên bố hủy hợp đồng thì phải thực hiện thông báo ngay cho bên kia được biết Một bên có thể thực thi quyền hủy hợp đồng khi thông báo cho bên kia được biết Yêu cầu thông báo này giúp cho bên có khả năng vi phạm tránh được những thiệt hại do không biết bên còn lại có chấp nhận việc chậm trễ của mình hay không, đồng thời cũng ngăn không cho bên có khả năng bị vi

giúp các bên xác nhận tình trạng hiệu lực của hợp đồng để xử lý hợp đồng một cách nhanh chóng hơn

1.3.2 Hình thức thông báo

Hình thức của thông báo là cách thức biểu hiện ra bên ngoài của thông báo Một số hình thức thông báo thông dụng như: văn bản, fax, email, điện thoại, lời nói trực tiếp… Trong CISG cũng không có quy định nào về hình thức của thông báo

Tại khoản 1 Điều 1.10 PICC quy định: “Khi được yêu cầu, một thông báo có thể được thực hiện dưới bất kỳ cách thức nào phù hợp với hoàn cảnh”

Theo khoản 4 Điều 1.10 PICC quy định: “Thông báo được hiểu bao gồm cả lời tuyên bố, lời đề nghị, lời yêu cầu hay bất kỳ một trao đổi thông tin có ý chí nào khác”

Bên cạnh đó, khoản 1 Điều 7.3.2 PICC quy định: “Quyền hủy hợp đồng của một bên được thực hiện bằng cách thông báo cho bên kia”

Trang 19

Như vậy, theo PICC, không có bất kỳ điều kiện nào về hình thức của thông báo, việc xác định mức độ phù hợp với hoàn cảnh tùy vào từng vụ việc, nhất là tính sẵn có và độ đảm bảo của các phương thức thông báo cũng như tầm quan trọng và khẩn cấp của thông tin

Tại Điều 315 Luật Thương mại 2005 cũng không quy định về hình thức của thông báo mà chỉ quy định về thời điểm phải thông báo và hậu quả khi chậm thực hiện thông báo Theo đó, khi một bên muốn áp dụng chế tài hủy bỏ hợp đồng phải thông báo ngay cho bên kia biết về việc hủy bỏ hợp đồng

Như vậy, các văn bản pháp luật quốc tế và cả pháp luật Việt Nam đều không quy định cụ thể về hình thức của thông báo Theo quan điểm của người viết, yếu tố quan trọng của thông báo phải là nội dung bên trong của thông báo, chứ không phải hình thức bên ngoài Chính vì thế, bên có quyền tuyên bố hủy hợp đồng được thực hiện tất

cả các hình thức thông báo nhưng phải tự chịu trách nhiệm về tính chính xác và khả năng chứng minh khi được yêu cầu Ngoài ra, việc không quy định hình thức của thông báo như là một yếu tố để xem xét tính hợp pháp của thông báo cũng tạo sự linh hoạt cho các bên trong từng trường hợp cụ thể mà sử dụng các hình thức thông báo cho phù hợp Trên thực tế, để đảm bảo cho khả năng chứng minh về việc thông báo, bên có quyền sẽ ưu tiên sử dụng thông báo bằng văn bản và có xác nhận của đơn vị chuyển phát

1.3.3 Nội dung thông báo

1.3.3.1 Sự cho phép bên kia đảm bảo khả năng thực hiện nghĩa vụ

Đây có thể được xem là một trong những nội dung quan trọng nhất của thông báo Ngoài sự dự định tuyên bố hủy hợp đồng của một bên thì sự cho phép bên kia bảo đảm thực hiện nghĩa vụ cũng là một yếu tố để xem xét tính hợp pháp và hợp lý của thông báo CISG bắt buộc bên có ý định hủy hợp đồng phải cho phép bên kia thể hiện khả năng thực hiện hợp đồng khi đến hạn Đây có thể được xem là bước xác minh khả năng thực hiện hợp đồng của bên có khả năng vi phạm nhằm củng cố thêm về sự phán đoán của bên có ý định hủy hợp đồng Theo nguyên tắc thiện chí, trung thực thì các bên phải

thể hiện sự thiện chí của mình bằng cách cho phép bên kia thêm “cơ hội” để thực hiện

nghĩa vụ của mình Trong trường hợp bên có khả năng vi phạm không thể bảo đảm khả

Trang 20

năng thực hiện nghĩa vụ của mình khi đến thời hạn thực hiện nghĩa vụ thì bên còn lại

có thể thực hiện chế tài hủy hợp đồng mà không phải lo lắng về phán đoán của mình

So sánh với các văn bản pháp luật quốc tế khác, có thể thấy việc cho phép một bên đảm bảo khả năng thực hiện hợp đồng là một căn cứ để hủy hợp đồng Ngoài ra, có sự tách biệt giữa thông báo hủy hợp đồng và thông báo yêu cầu cung cấp đảm bảo khả năng thực hiện hợp đồng

Luật Thương mại thống nhất Hoa Kỳ - UCC quy định rằng: “Khi có căn cứ hợp lý

về khả năng thực hiện hợp đồng phát sinh liên quan đến hoạt động của một trong hai bên thì bên kia có thể yêu cầu bằng văn bản sự đảm bảo đầy đủ về khả năng thực hiện hợp đồng và cho đến khi họ nhận được sự đảm bảo hợp lý về mặt thương mại 19 Tính hợp lý của các căn cứ cho sự không an toàn và tính thỏa đáng của bất kỳ sự đảm bảo nào được đưa ra sẽ được xác định theo các tiêu chuẩn thương mại” 20

Tại Điều 7.3.4 PICC cũng quy định: “Nếu một bên có cơ sở để tin rằng bên kia sẽ vi phạm nghiêm trọng hợp đồng, thì họ có quyền yêu cầu bên sắp vi phạm đưa ra một biện pháp bảo đảm cần thiết cho việc thực hiện nghĩa vụ, và có thể cùng lúc tạm dừng việc thực hiện nghĩa vụ của mình Nếu biện pháp bảo đảm không được đáp ứng, bên yêu cầu có quyền chấm dứt hợp đồng” 21

Tại Điều 8:105 PECL quy định: “(1)Một bên có lý do xác đáng tin rằng bên kia sẽ không thực hiện cơ bản hợp đồng có thể yêu cầu bên kia đảm bảo thực hiện hợp đồng hợp lý và trong thời gian đó có thể từ bỏ thực hiện nghĩa vụ của mình cho đến khi niềm tin đó còn tiếp tục;(2) Nếu bên kia không cung cấp đảm bảo thực hiện hợp đồng trong thời hạn hợp lý, bên yêu cầu có thể chấp dứt hợp đồng nếu vẫn tin rằng bên kia sẽ không thực hiện cơ bản nghĩa vụ hợp đồng…”

CISG có cách tiếp cận “nhẹ nhàng” hơn đối với vi phạm dự đoán trước so với PICC

ở chỗ bắt buộc bên có khả năng bị vi phạm, khi có thời gian, phải thông báo cho bên kia nếu họ có ý định hủy hợp đồng, trừ trường hợp bên kia đã tuyên bố rõ ràng về ý

19

Điều 2-609 (1) Luật Thương mại thống nhất Hoa Kỳ - UCC

20 Điều 2-609 (2) Luật Thương mại thống nhất Hoa Kỳ - UCC

21 Những nguyên tắc hợp đồng thương mại quốc tế - Lê Nết – NXB TP Hồ Chí Minh 1999

Trang 21

định không thực hiện.22

Mục tiêu của thông báo là cho phép bên kia cung cấp sự đảm bảo đầy đủ rằng nghĩa vụ của họ sẽ thực hiện Có nhiều ý kiến khác nhau về việc nghĩa

vụ đưa ra thông báo có phải là căn cứ cho việc thực hiện quyền hủy hợp đồng hợp lệ

cần tuân theo cách tiếp cận chặt chẽ hơn đối với sự cần thiết phải thông báo nếu có liên quan đến cách tiếp cận theo PICC Tại Bình luận Điều 7.3.3 PICC bên có khả năng bị

bên có khả năng bị vi phạm có nên thông báo hay không, Tòa án phải phán quyết có lợi

Tuy nhiên, theo quan điểm của người viết, đối chiếu với bản bình luận tại Điều 7.3.3

kịp thời Điều này hoàn toàn phù hợp với tinh thần của CISG, PICC hay PECL

Một tranh luận khác liên quan đến nghĩa vụ thông báo khi một bên đã tuyên bố không thực hiện nghĩa vụ của mình Trường hợp này rõ ràng là thông báo sẽ hoàn toàn không có ý nghĩa ở chỗ bên có khả năng bị vi phạm không thể ngăn chặn vi phạm của bên kia, như vậy, liệu bên có khả năng bị vi phạm vẫn còn nghĩa vụ phải thông báo?

Có quan điểm cho rằng đây là một tình huống mà bên có khả năng bị vi phạm không

bên kia cung cấp sự đảm bảo đầy đủ về nghĩa vụ của mình Nếu điều đó đã trở thành không thể, thì sự cần thiết phải đưa ra thông báo chắc chắn phải mất đi Tuy nhiên,

22 Honsell/Schnyder/Straub Art 72 Rn 34 & 35

Nguồn http://www.cisg.law.pace.edu/cisg/principles/uni71,72.html Truy cập lần cuối 09/12/2018

23

Honsell/Schnyder/Straub Art 72 Rn 35 & 36 Witz/Salger/Lorenz is of the opinion that the failure to give notice does not affect the effectiveness of the avoidance However, see the decision to the contrary in ICC Arbitration Case No 8574 of September 1996 <http://cisgw3.law.pace.edu/cases/968574i1.html>

24 Viện thống nhất tư pháp Quốc tế, Những nguyên tắc hợp đồng Thương mại Quốc tế, người dịch: Lê Nết, NXB

Tp Hồ Chí Minh, 1999

25 Use of the UNIDROIT Principles to help interpret CISG Articles 71 and 72 - Editorial remarks: Sieg Eiselen [South Africa] Xem tại http://www.cisg.law.pace.edu/cisg/principles/uni71,72.html Truy cập lần cuối 09/12/2018

26

“Ngoài ra, bên muốn chấm dứt hợp đồng cũng cần phải chứng minh rằng việc vi phạm là nghiêm trọng, và bên

bị vi phạm phải thông báo chấm dứt hợp đồng kịp thời” Viện thống nhất tư pháp Quốc tế, Những nguyên tắc

hợp đồng Thương mại Quốc tế, người dịch: Lê Nết, NXB Tp Hồ Chí Minh, 1999

27 Enderlein/Maskow p 293 Note 6; Witz/Salger/Lorenz Art 72 Rn 15; Staudinger/Magnus Art 72 Rn 22; Schlechtriem Art 72 Rn 16 & 17; Honsell/Schnyder/Straub Art 72 Rn 45; ICC Arbitration Case No 8574 of September 1996 xem tại http://cisgw3.law.pace.edu/cases/968574i1.html Truy cập lần cuối 09/12/2018

Trang 22

cũng có một quan điểm trái ngược mạnh mẽ về vấn đề này.28

Đối chiếu với quy định của CISG thì bên bị vi phạm không bắt buộc phải thông báo hủy hợp đồng khi bên có

Thêm vào đó, về cách thức cung cấp đảm bảo đầy đủ khả năng thực hiện hợp đồng

bảo bằng cách trả một khoản tiền, ví dụ như bảo lãnh của ngân hàng Nếu có nghi ngờ nghiêm trọng về việc người bán thực hiện nghĩa vụ của mình, họ cũng có thể đảm bảo khả năng thực hiện nghĩa vụ bằng mọi khả năng có thể như: sẽ giao hàng kịp thời với chất lượng đã thỏa thuận, sử dụng nhà thầu phụ, tăng năng lực sản xuất, hủy bỏ các

1.3.3.2 Hiệu lực của thông báo

Tại Điều 27 CISG quy định: “Trừ phi trong Phần II của Công ước này có quy định

gì khác, trong trường hợp một thông báo, một yêu cầu hay một thông tin khác đã được gửi bởi một bên của hợp đồng chiếu theo Công ước này và bằng một phương tiện thích hợp với hoàn cảnh, thì một sự chậm trễ hoặc lầm lẫn trong việc chuyển giao thông tin hoặc việc thông tin không đến người nhận cũng sẽ không làm bên đó mất quyền viện dẫn các thông tin của mình.”

Có thể thấy, CISG không bắt buộc thông báo phải đến người nhận, miễn là bên thông báo chứng minh được rằng họ đã gửi thông báo cho bên kia thì bên thông báo có thể thực hiện những thông tin có trong thông báo mà không phụ thuộc vào bên kia có nhận được hay không Như vậy, mọi sai sót hay sự cố khiến thông báo không đến được với người nhận cũng không ảnh hưởng đến việc thực hiện quyền của bên thông báo Điều này cũng có nghĩa rằng bên có quyền hủy hợp đồng chỉ cần chứng minh họ đã gửi thông báo cho bên kia với những nội dung hợp lý và trong một khoảng thời gian hợp lý

28 Honsell/Schnyder/Straub Art 72 Rn 36; Schlechtriem /Leser/Hornung Art 72 Rn 13 et seq.; Germany 9 July

1992 Landgericht [District Court] Düsseldorf http://cisgw3.law.pace.edu/cases/920709g1.html truy cập lần cuối 09/12/2018

29

Honsell/Schnyder/Straub Art 72 Rn 36; Schlechtriem /Leser/Hornung Art 72 Rn 13 et seq.; Germany 9 July

1992 Landgericht [District Court] Düsseldorf Nguồn: http://cisgw3.law.pace.edu/cases/920709g1.html Truy cập lần cuối 09/12/2018

30 Convention on the Limitation Period in the International Sale of Goods Commentary by Prof Dr jur Dr sc oec Fritz Enderlein Prof Dr jur Dr sc oec Dietrich Maskow Oceana Publications, 1992

Nguồn: http://www.cisg.law.pace.edu/cisg/biblio/enderlein-art72.html truy cập lần cuối 16/12/2018

Trang 23

thì có thể hủy hợp đồng mà không phụ thuộc vào bên nhận thông báo đã nhận thông báo hay chưa

PICC lại có cách nhìn khác so với CISG Tại Điều 1.10 PICC quy định : “Một thông báo có hiệu lực khi nó truyền đạt đến bên được nhận thông báo” và thêm vào đó “một thông báo được coi như truyền đạt đến một bên, khi bên này được thông báo bằng miệng hoặc thư từ gửi đến địa chỉ thư tín giao dịch của bên kia”

PICC xem việc “truyền đạt đến” bên được nhận thông báo là yêu cầu bắt buộc để

thông báo có hiệu lực Việc truyền tin phải được thực hiện đến tay người nhận, có nghĩa là các thông tin phải được chuyển đến những nhân viên có thẩm quyền nhận nó của người nhận, hoặc được đặt trong hộp thư của người nhận, hoặc được nhận bằng fax, telex, hoặc máy tính (internet, e-mail) Tuy nhiên, khi thông báo đã được truyền đạt theo những quy định nêu trên thì thông báo được xem là có hiệu lực, việc người nhận có đọc và phản hồi về thông báo này không ảnh hưởng đến quyền của bên gửi thông báo

Luật Thương mại cũng tiếp cận quy định về thông báo tương đồng với CISG, theo

đó, Luật không quy định về thời điểm thông báo có hiệu lực mà chỉ quy định về trường

khi thông báo được gửi đi cho bên nhận thông báo thì mặc định thông báo sẽ có hiệu lực Điều này dẫn đến trên thực tế, các cơ quan tài phán thường chỉ xem xét rằng bên

có quyền hủy hợp đồng có gửi thông báo cho bên kia hay không mà không xem xét đến việc bên kia có nhận được thông báo đó hay chưa

Theo quan điểm của người viết, cần thiết phải xem thông báo có hiệu lực khi thông báo được chuyển tới bên nhận Bởi vì, cần xem thông báo là một thủ tục bắt buộc và nếu vẫn xem thông báo có hiệu lực cho dù không đến được bên nhận thì việc thông báo không có ý nghĩa Điều này khiến cho bên có khả năng vi phạm không biết được hiệu lực của hợp đồng, bên có khả năng vi phạm vẫn thực hiện hợp đồng gây ảnh hưởng đến quyền và lợi ích của họ Ngoài ra, quy định như vậy cũng dẫn đến bên có ý định tuyên

bố hủy hợp đồng gửi thông báo một cách tùy tiện hay lạm dụng việc thông báo để hủy hợp đồng Tuy nhiên, trong trường hợp bên nhận thông báo đã nhận được thông báo

31 Điều 315 Luật Thương mại 2005

Trang 24

nhưng không phản hồi lại cho bên thông báo thì cũng không làm mất quyền hủy hợp đồng của bên thông báo

Ngoài ra, CISG không công nhận khái niệm “tự hủy bỏ” mà hợp đồng chỉ được hủy

báo trước về ý định hủy hợp đồng và thông báo tuyên bố hủy hợp đồng được quy định tại Điều 26 CISG Trong khuôn khổ Điều 72 (2) CISG, sau khi một bên đã gửi thông báo về ý định hủy hợp đồng nhưng không nhận được bảo đảm đầy đủ, bên có ý định hủy hợp đồng vẫn có nghĩa vụ tiếp tục gửi thông báo về việc hủy hợp đồng để tuyên bố

“1 Một bên có thể ngừng việc thực hiện nghĩa vụ của mình nếu có dấu hiệu cho thấy rằng sau khi hợp đồng được giao kết, bên kia sẽ không thực hiện một phần chủ yếu những nghĩa vụ của họ bởi lẽ:

a Một sự khiếm khuyết nghiêm trọng trong khả năng thực hiện hợp đồng hay tình trạng mất khả năng thanh toán; hay

b Cung cách của bên kia trong việc chuẩn bị thực hiện hay trong khi thực hiện hợp đồng

2 Nếu người bán đã gửi hàng đi khi phát hiện những lý do nêu trong khoản trên, họ

có thể ngăn cản không để hàng hóa được giao cho người mua ngay cả nếu người này giữ trong tay chứng từ cho phép họ nhận hàng Mục này chỉ liên quan đến các quyền của người mua và người bán đối với hàng hóa

32 Phạm Thị Trọng, Luận văn Thạc sĩ: “Vi phạm hợp đồng khi chưa đến thời hạn thực hiện nghĩa vụ, sự cần thiết

phải điều chỉnh trong pháp luật về Việt Nam” tr 65

33

ThS Đặng Huỳnh Thiên Vy, Nguyễn Xuân Mỹ Hiền - Một số vấn đề về hủy hợp đồng do vi phạm hợp đồng

khi chưa đến thời hạn thực hiện nghĩa vụ tr 141

Trang 25

3 Bên nào ngừng việc thực hiện hợp đồng, không phụ thuộc vào việc đó xảy ra trước hay sau khi hàng gửi đi, thì phải gửi ngay một thông báo về việc đó cho bên kia

và phải tiếp tục thực hiện hợp đồng nếu bên kia cung cấp những bảo đảm đầy đủ cho việc thực hiện nghĩa vụ của họ.”

Điều 71 CISG cho phép một trong hai bên tạm ngừng việc thực hiện hợp đồng của mình do vi phạm dự đoán trước bởi bên kia Đoạn (1) đưa ra các tình huống làm phát sinh quyền tạm ngừng thực hiện nghĩa vụ Đoạn (2) chỉ ra quyền của người bán có hành động tạm ngừng thực hiện nghĩa vụ trong khi hàng hóa đang được vận chuyển Đoạn (3) quy định cho bên tạm ngừng thực hiện nghĩa vụ đưa ra thông báo về việc chấm dứt tạm ngừng thực hiện nghĩa vụ nếu bên kia sau đó cung cấp sự đảm bảo đầy

đủ về khả năng thực hiện nghĩa vụ của mình

nên quy định tương tự giữa biện pháp tạm ngừng thực hiện hợp đồng theo Điều 71 và hủy hợp đồng theo Điều 72 Tuy nhiên, đề xuất này đã bị từ chối và vẫn giữ quy định phân biệt các ngôn ngữ khác nhau cho phép áp dụng các biện pháp khác nhau Việc

tạm ngừng thực hiện hợp đồng theo Điều 71 được cho phép khi “rõ ràng” rằng một bên sẽ không “thực hiện một phần đáng kể nghĩa vụ của mình”; hủy hợp đồng theo Điều 72 chỉ được cho phép khi “rõ ràng” rằng một bên sẽ “vi phạm cơ bản”

Có thể thấy, căn cứ để áp dụng biện pháp tạm ngừng thực hiện nghĩa vụ hợp đồng trước thời hạn (theo Điều 71) có phần tương tự với căn cứ áp dụng biện pháp hủy hợp đồng trước thời hạn (theo Điều 72) đều là vi phạm dự đoán trước Tuy nhiên, dường như có một sự chêch lệch về mức độ chắc chắn của sự vi phạm dự đoán trước Tại

Điều 71 (1) sử dụng cụm từ “nó trở nên rõ ràng” (it becomes apparent) so với cụm từ

“nó rõ ràng” (it is clear) của Điều 72 (1)

Theo Giáo sư Flechtner: Việc tạm ngừng thực hiện nghĩa vụ theo Điều 71 đòi hỏi ít

sự chắc chắn hơn về vi phạm trong tương lai so với việc hủy hợp đồng theo Điều 72

Điều 72 (1) chỉ cho phép hủy hợp đồng khi “rõ ràng” rằng bên kia sẽ vi phạm Đối với Điều 71, hành vi vi phạm dự đoán chỉ đơn thuần là “rõ ràng” để chứng minh cho việc

34 Đoạn 388 Uniform Law for International Sales under the 1980 United Nations Convention 3rd edition (1999) John O Honnold Nguồn: http://www.cisg.law.pace.edu/cisg/biblio/honnold.html#388 Truy cập lần cuối 15/12/2018

Trang 26

tạm ngừng thực hiện nghĩa vụ Cũng có vẻ như, so với các yêu cầu hủy hợp đồng theo Điều 72, hậu quả của vi phạm dự đoán không cần nghiêm trọng để áp dụng biện pháp tạm ngừng thực hiện nghĩa vụ theo Điều 71 Tiêu chuẩn trong Điều 71 là không thực

hiện “một phần đáng kể” của nghĩa vụ của hợp đồng Điều 72 yêu cầu một mối đe dọa

“vi phạm cơ bản”.35

Thêm vào đó, Điều 72 CISG hướng đến hành vi vi phạm dự đoán trước, tức là vi phạm hợp đồng diễn ra trước thời hạn thực hiện nghĩa vụ hợp đồng của bên có khả năng vi phạm Trong khi đó, Điều 71 có phạm vi rộng hơn trong đó áp dụng luôn cho

biện pháp khắc phục trong Điều 71 là nhằm giữ cho hiệu lực hợp đồng được nguyên vẹn, trong khi các biện pháp khắc phục trong Điều 72 là nhằm chấp dứt hiệu lực hợp

Một lưu ý rằng, trong một số trường hợp nhất định, một bên có thể lựa chọn biện pháp tạm ngừng thực hiện nghĩa vụ theo Điều 71 hoặc biện pháp hủy hợp đồng theo

Nếu vi phạm có thể xảy ra, bên bị vi phạm có thể muốn thực hiện nghĩa vụ

cụ thể, trong trường hợp đó, bên bị vi phạm sẽ sử dụng quyền tạm ngừng thực hiện nghĩa vụ của mình theo Điều 71 chứ không phải tuyên bố hủy hợp đồng theo Điều 72 ngay cả khi bên bị vi phạm có quyền làm như vậy Nếu có bất kỳ nghi ngờ nào về hành

vi của bên kia hoặc trong các trường hợp rõ ràng có một vi phạm dự đoán trước, một bên nên thực hiện quyền tạm ngừng thực hiện nghĩa vụ theo Điều 71 và yêu cầu sự

Đây là lựa chọn an toàn hơn vì việc đưa ra thông báo hủy hợp đồng theo Điều 72 (2)

35 Nguồn: http://www.cisg.law.pace.edu/cisg/biblio/rowley.html#v truy cập lần cuối 13/12/2018

36 Staudinger / Magnus Art 71 Rn 34

Nguồn: https://www.cisg.law.pace.edu/cisg/principles/uni71,72.html truy cập lần cuối 13/12/2018

37

Staudinger / Magnus Art 71 Rn 1; Art 72 Rn 1

Nguồn: https://www.cisg.law.pace.edu/cisg/principles/uni71,72.html truy cập lần cuối 13/12/2018

38 Enderlein / Maskow p 286 Lưu ý 3; Art Schlechtriem 72 Rn 9

Nguồn: https://www.cisg.law.pace.edu/cisg/principles/uni71,72.html truy cập lần cuối 13/12/2018

39

Enderlein/Maskow p 292 Lưu ý 3

Nguồn: https://www.cisg.law.pace.edu/cisg/principles/uni71,72.html#N25 Truy cập lần cuối 13/12/2018

Trang 27

trong các trường hợp không chắc chắn có thể cấu thành một vi phạm dự đoán cho bên

Tuy nhiên, theo CISG, trong trường hợp đã thực hiện nghĩa vụ một phần, một bên dường như chỉ được căn cứ vào Điều 51 kết hợp với Điều 45 khi Điều 51 được áp dụng hoặc Điều 71 (nếu muốn thực hiện toàn bộ nghĩa vụ) hoặc Điều 49 (nếu muốn hủy hợp đồng), nhưng không được áp dụng Điều 72 Do đó, Điều 72 là một biện pháp khắc phục chỉ được sử dụng trong các trường hợp vi phạm dự đoán và chưa xảy ra vi phạm

hiện nghĩa vụ của mình

Thêm vào đó, nhiều quan điểm cho rằng có một mối liên hệ chặt chẽ giữa Điều 71 (3) với Điều 72 (2) về trường hợp việc thất bại hay từ chối cung cấp đầy đủ khả năng thực hiện nghĩa vụ khi được yêu cầu là một vi phạm cơ bản hoặc liệu đó có thể chỉ là

đề xuất rằng các điều khoản về tạm ngừng thực hiện hợp đồng (Điều 71 CISG) và điều khoản về vi phạm dự đoán trước (Điều 72 CISG) nên được kết hợp Theo đề xuất này,

nếu “rõ ràng” là một trong các bên (Bên A) sẽ vi phạm cơ bản hợp đồng, bên kia (Bên

B) có thể đưa ra thông báo rằng anh ta có ý định tạm ngừng thực hiện hợp đồng nếu

Bên A không “cung cấp đảm bảo đầy đủ thực hiện đúng nghĩa vụ của mình”; nếu

Bên A không cung cấp sự đảm bảo này, Bên B có thể tuyên bố hủy hợp đồng

Đề xuất này đã nhận được sự ủng hộ đáng kể trên cơ sở bảo vệ các nước đang phát triển nhưng trong một cuộc bỏ phiếu thông qua Điều này, số phiếu ủng hộ và phản đối

đề xuất đó là như nhau và do đó đề xuất không được thông qua Tuy nhiên, vì rõ ràng vấn đề này có tầm quan trọng đối với nhiều quốc gia, một nhóm trọng tài vụ việc được thành lập để xem xét và gửi các văn bản đề xuất quy định cung cấp cho biện pháp tạm ngừng thực hiện hợp đồng và hủy hợp đồng do vi phạm dự đoán trước

Nguồn: https://www.cisg.law.pace.edu/cisg/principles/uni71,72.html truy cập lần cuối 13/12/2018

42

Đoạn 388 Lịch sử lập pháp Điều 71 CISG, Nguồn: http://www.cisg.law.pace.edu/cisg/biblio/honnold.html#388

Truy cập lần cuối 15/12/2018

Trang 28

PICC lại có quy định tương đồng với đề xuất của Giáo sư Chafik Điều 7.3.4 PICC

có thể hỗ trợ trong việc giải thích sự tương tác giữa các Điều 72 và 71 Theo đó, Điều 7.3.4 PICC đưa ra quy định rõ ràng cho bên sẽ bị vi phạm để yêu cầu một sự đảm bảo đầy đủ trong trường hợp nghi ngờ rằng sẽ có một sự vi phạm cơ bản Trong Điều 7.3.4 PICC, rõ ràng là không cung cấp sự đảm bảo này trong một khoảng thời gian hợp lý,

Ngoài ra, biện pháp hủy hợp đồng dựa trên một vi phạm dự đoán trước chứ không phải là một hành vi thực tế xảy ra cần phải được kiểm soát chặt chẽ Nó đòi hỏi phải đảm bảo rằng vi phạm sẽ được thực hiện và có thể đòi hỏi sự chắc chắn cao hơn so với yêu cầu áp dụng Điều 71 CISG Như trong trường hợp của hủy hợp đồng do một sự vi phạm thực tế, Điều 72 CISG cũng yêu cầu một sự vi phạm dự đoán trước là vi phạm cơ bản

Tóm lại, Điều 71 và Điều 72 CISG có quy định gần tương tự với nhau Tuy nhiên Điều 72 đòi hỏi một tiêu chuẩn cao hơn về sự chắc chắn trong tương lai so với Điều 71 chủ yếu do tính chất quyết liệt hơn của biện pháp khắc phục theo Điều 72, cụ thể là hủy hợp đồng Việc tạm ngừng thực hiện nghĩa vụ theo Điều 71 ít quyết liệt hơn ở chỗ nó chỉ là biện pháp khắc phục tạm thời mà không làm mất đi hiệu lực hợp đồng như biện pháp hủy hợp đồng của Điều 72

43

Đoạn J “Use of the UNIDROIT Principles to help interpret CISG Articles 71 and 72” Nguồn: https://www.cisg.law.pace.edu/cisg/principles/uni71,72.html#N25 truy cập lần cuối 13/12/2018

Ngày đăng: 29/11/2019, 15:12

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w