1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

ĐIỀU KIỆN GIAO NHẬN HÀNG hóa CFR TRONG hợp ĐỒNG MUA bán QUỐC tế HÀNG hóa từ THỰC TIỄN các DOANH NGHIỆP VIỆT NAM

74 60 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 74
Dung lượng 655,25 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Việc thực hiện hợp đồng mua bán quốc tế hàng hóa với các điều kiện theo Incoterms các điều kiện thương mại quốc tế trong đó bao gồm điều kiện "Tiền hàng và cước phí " - CFR buộc các doan

Trang 1

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM

HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

NGUYỄN THÀNH NHÂN

ĐIỀU KIỆN GIAO NHẬN HÀNG HÓA CFR

TRONG HỢP ĐỒNG MUA BÁN QUỐC TẾ HÀNG HÓA TỪ

THỰC TIỄN CÁC DOANH NGHIỆP VIỆT NAM

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT KINH TẾ

Trang 2

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM

HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

NGUYỄN THÀNH NHÂN

ĐIỀU KIỆN GIAO NHẬN HÀNG HÓA CFR

TRONG HỢP ĐỒNG MUA BÁN QUỐC TẾ HÀNG HÓA TỪ

THỰC TIỄN CÁC DOANH NGHIỆP VIỆT NAM

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu khoa học độc lập của riêng tôi

Các kết quả nêu trong Luận văn chưa được công bố trong bất kỳ công trình nào khác Các số liệu trong luận văn là trung thực, có nguồn gốc rõ ràng, được trích dẫn đúng theo quy định

Tôi xin chịu trách nhiệm về tính chính xác và trung thực của Luận văn này

Tác giả luận văn

Nguyễn Thành Nhân

Trang 4

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ ĐIỀU KIỆN GIAO NHẬN HÀNG HÓA “TIỀN HÀNG VÀ CƯỚC PHÍ ” (CFR) TRONG HỢP ĐỒNG MUA BÁN QUỐC TẾ HÀNG HÓA 6

1.1 Khái niệm, bản chất và quá trình hình thành CFR 6

1.1.1 Khái niệm và bản chất pháp lý của CFR 6

1.1.2 Quá trình hình thành và phát triển của CFR như tập quán thương mại quốc tế phổ biến và vai trò CFR trong hợp đồng mua bán quốc tế hàng hóa 8

1.2 Nội dung của CFR trong giao dịch mua bán quốc tế hàng hóa 11

1.2.1 Quyền và nghĩa vụ giao nhận của bên bán theo CFR 11

1.2.2 Quyền và nghĩa vụ giao nhận của bên mua theo CFR 14

1.3 Hợp đồng mua bán quốc tế hàng hóa và hiệu lực của điều khoản CFR trong hợp đồng 16

1.3.1 Hợp đồng mua bán quốc tế hàng hóa 16

1.3.2 Hiệu lực của điều khoản CFR trong hợp đồng mua bán quốc tế hàng hóa 20

1.3.3 Mối quan hệ giữa điều khoản CFR và các điều khoản khác trong hợp đồng mua bán quốc tế hàng hóa 21

1.4 Căn cứ thực hiện điều khoản CFR trong hợp đồng mua bán quốc tế hàng hóa và giải quyết tranh chấp liên quan 22

Tiểu kết chương 1 31

Chương 2 THỰC TRẠNG THỰC HIỆN ĐIỀU KIỆN GIAO NHẬN HÀNG HÓA “TIỀN HÀNG VÀ CƯỚC PHÍ ” TRONG HỢP ĐỒNG MUA BÁN QUỐC TẾ HÀNG HÓA VÀ GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ ÁP DỤNG TRONG GIAO DỊCH CỦA CÁC DOANH NGHIỆP VIỆT NAM 32

2.1 Thực trạng thực hiện quyền và nghĩa vụ của bên bán theo điều kiện CFR trong hợp đồng mua quốc tế hàng hóa 32

2.1.1 Thực trạng thực hiện quyền của bên bán theo điều kiện CFR trong hợp đồng mua bán quốc tế hàng hóa 32

2.1.2 Thực trạng thực hiện nghĩa vụ của bên bán theo điều kiện CFR trong hợp đồng mua bán quốc tế hàng hóa 36

2.2 Thực trạng thực hiện quyền và nghĩa vụ của bên mua theo điều kiện CFR trong hợp đồng mua bán quốc tế hàng hóa 42

2.2.1 Thực trạng thực hiện quyền của bên mua theo điều kiện CFR trong hợp đồng mua bán quốc tế hàng hóa 42

2.2.2 Thực trạng thực hiện nghĩa vụ của bên mua theo điều kiện CFR trong hợp đồng mua bán quốc tế hàng hóa 45

2.3 Giải quyết tranh chấp phát sinh khi thực hiện điều kiện CFR trong hợp đồng mua bán quốc tế hàng hóa 48

Trang 5

2.3.1 Thực trạng áp dụng pháp luật giải quyết tranh chấp 48 2.3.2 Thực trạng phương thức giải quyết tranh chấp 55 2.4 Nâng cao hiệu quả áp dụng điều kiện CFR trong hợp đồng mua bán quốc tế hàng hóa của doanh nghiệp Việt Nam 61 2.4.1 Nâng cao hiệu quả thực hiện điều kiện CFR trong hợp đồng mua bán quốc tế hàng hóa 61 2.4.2 Nâng cao năng lực giải quyết tranh chấp về điều kiện CFR trong hợp đồng mua bán quốc tế hàng hóa 62

Tiểu kết chương 2 64 KẾT LUẬN 65 TÀI LIỆU THAM KHẢO

Trang 6

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

ASEAN: Association of South East Asian Nations Hiệp hội các quốc

gia Đông Nam Á

CISG: United Nations Convention on Contracts for the International

Sale of Goods Công ước Viên về mua bán quốc tế hàng hóa

tế

INCOTERM: International Commercial Terms Tập quán thương mại quốc tế

UCP: The Uniform Customs and Practice for Documentary Credits

Bản quy tắc thực hành thống nhất về tín dụng chứng từ

UNCITRAL: The United Nations Commission on International Trade Law

Ủy ban Liên hiệp quốc về Luật thương mại quốc tế

UNIDROIT: The International Institute for the Unification of Private Law

Viện quốc tế về nhất thể hóa Pháp luật tư

Trang 7

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Trong quá trình kinh doanh, việc mua bán của các thương nhân giữa các quốc gia với nhau đóng góp không nhỏ cho quá trình phát triển thương mại quốc tế Các tập quán thương mại được hình thành dưới dạng điều kiện thương mại trong giao dịch mua bán quốc tế được ghi nhận hết sức phổ biến trong những hợp đồng mua bán quốc tế đó

Việc thực hiện hợp đồng mua bán quốc tế hàng hóa với các điều kiện theo Incoterms (các điều kiện thương mại quốc tế trong đó bao gồm điều kiện

"Tiền hàng và cước phí " - CFR) buộc các doanh nghiệp phải hiểu biết về các điều kiện giao nhận hàng hóa nói chung và điều kiện CFR nói riêng Khi áp dụng điều kiện này, các thương nhân có thể ghi nhận trong hợp đồng và bảo đảm thực hiện hoạt động giao nhận hàng hóa thông qua CFR, một phương thức giao nhận hàng hóa bằng đường biển và đường thủy nội địa Việc tìm hiểu sâu điều kiện CFR theo Incoterms được các thương nhân Việt Nam ghi nhận trong hợp đồng mua bán quốc tế hàng hóa vận chuyển bằng đường biển

là vô cùng cần thiết

Mặc dù việc nghiên cứu các điều kiện thương mại trong đó có CFR đã được triển khai theo nhiều cấp độ nhưng các công trình này đề cập đến các điều kiện giao nhận hàng hóa nói chung mà ít nghiên cứu trực tiếp về điều kiện CFR Bên cạnh đó, việc áp dụng điều kiện CFR trong các hợp đồng mua bán quốc tế hàng hóa còn gặp nhiều khó khăn, bất cập; tồn tại những khoảng cách giữa lý luận và thực tiễn Với mục đích làm rõ những nội dung pháp lý của tập quán thương mại quốc tế phổ biến được ghi nhận trong các hợp đồng như điều kiện CFR trong giao dịch mua bán quốc tế hàng hóa, tác

giả chọn đề tài: Điều kiện giao nhận hàng hóa CFR trong hợp đồng mua

Trang 8

bán quốc tế hàng hóa từ thực tiễn các doanh nghiệp Việt Nam làm đề tài

luận văn thạc sỹ

2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài

Incoterms và các điều kiện Incoterms đã được nhiều tác giả trong và ngoài nước nghiên cứu về cả mặt lý luận và thực tiễn Tất cả các công trình này đều mang lại những giá trị nhất định trong tham khảo và áp dụng

Ở Việt Nam, vấn đề này cũng đã được nhiều tác giả đi sâu nghiên cứu, phải kể đến là một số công trình nghiên cứu như: PGS.TS Đoàn Thị Hồng

Vân, Phân tích thực trạng vận dụng các điều kiện thương mại quốc tế

(Incoterms) trong hoạt động xuất nhập khẩu ở Việt Nam và những giải pháp nâng cao hiệu quả sử dụng Incoterms, Trường Đại học kinh tế thành phố Hồ

Chí Minh (2002); PGS.TS Võ Thanh Thu, PGS.TS Đoàn Thị Hồng Vân: Hỏi

đáp về sử dụng Incoterms 1990 và Incoterms 2000; Nxb Thống Kê (2005);

PGS.TS Võ Thanh Thu, PGS.TS Đoàn Thị Hồng Vân: Những giải pháp nâng

cao hiệu quả sử dụng của Incoterms 2000 tại Việt Nam; Nxb Thống kê

(2002); Phạm Thị Mỹ Hiền: Tình hình áp dụng Incoterms ở Việt Nam và đề

xuất một số giải pháp nâng cao hiệu quả áp dụng Incoterms (2012); Nguyễn

Thu Vân, Thực trạng sử dụng Incoterms ở Việt Nam (2013); Ths Nguyễn Trung Đông, Giới thiệu một số thay đổi chính của Incoterms 2010 so với

Incoterms 2000; Ths Lê Thị Hiền, Thực tiễn áp dụng Incoterms trong hợp đồng mua bán quốc tế hàng hóa tại Việt Nam – (2014)

Những bài viết, công trình nghiên cứu trên, về cơ bản đã đi sâu phân tích các điều kiện của Incoterms và thực tiễn áp dụng Đồng thời đề ra một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả áp dụng các điều kiện này trong hợp đồng mua bán quốc tế hàng hóa trong thời gian tới Tuy nhiên, đến nay, chưa có công trình nghiên cứu nào thực hiện việc nghiên cứu chỉ với riêng điều kiện

tiền hàng và cước phí (CFR) như một tập quán theo Incoterms đã được các

Trang 9

bên thỏa thuận ghi nhận trong hợp đồng cũng như thực tiễn áp dụng điều kiện CFR này trong hợp đồng mua bán quốc tế hàng hóa Mà tiền hàng và cước phí là điều khoản phổ biến trong hợp đồng được các bên luôn quan tâm trong hợp đồng thương mại quốc tế Thực tiễn áp dụng điều kiện CFR này trong hợp đồng mua bán quốc tế hàng hóa cũng nảy sinh những tranh chấp nhất định; việc giải quyết chúng cũng gặp không ít khó khăn

Do đó luận văn sẽ kế thừa những nội dung đã nghiên cứu và phân tích những vấn đề lý luận và thực tiễn áp dung về tập quán thương mại này chưa được nghiên cứu sâu

3 Mục tiêu, nhiệm vụ nghiên cứu

3.1 Mục tiêu

Luận văn tập trung nghiên cứu về điều kiện CFR theo Incoterms 2010 được ghi nhận trong hợp đồng mua bán quốc tế hàng hóa, thực tiễn áp dụng của các doanh nghiệp Việt Nam và giải pháp nâng cao hiệu quả áp dụng, nâng cao khả năng giải quyết tranh chấp điều kiện này trong hoạt động kinh doanh thương mại quốc tế

3.2 Nhiệm vụ

- Luận giải lý luận về điều kiện CFR của Incotersms và Hợp đồng mua bán quốc tế hàng hóa: Khái niệm, bản chất, quá trình hình thành và phát triển của điều kiện CFR theo Incoterms 2010, nội dung của điều kiện này khi được ghi nhận trong các hợp đồng mua bán quốc tế hàng hóa và vai trò cũng như giá trị pháp lý của chúng trong hợp đồng mua bán quốc tế hàng hóa Bên cạnh

đó, luận văn phân tích mối quan hệ của điều kiện CFR với các điều khoản khác trong hợp đồng mua bán quốc tế hàng hóa, căn cứ thực hiện điều khoản này và cơ chế giải quyết khi có tranh chấp xảy ra đối với điều khoản tiền hàng, cước phí (CFR)

Trang 10

- Thực tiễn áp dụng điều kiện CFR của Incoterms trong hợp đồng mua bán quốc tế hàng hóa tại Việt Nam, việc thực hiện quyền và nghĩa vụ của các bên khi áp dụng điều kiện này và thực trạng giải quyết tranh chấp liên quan đến điều khoản CFR trong hợp đồng mua bán quốc tế hàng hóa tại Việt Nam Trên cơ sở đó, tác giả đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả áp dụng và nâng cao năng lực giải quyết tranh chấp về điều kiện CFR theo Incoterms 2010 trong hoạt động mua bán quốc tế hàng hóa của các doanh nghiệp Việt Nam

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

- Đối tượng nghiên cứu: Luận văn này nghiên cứu điều kiện về tiền hàng và cước phí (CFR) theo Incoterms 2010, trong đó tập trung vào việc sử dụng điều kiện này như một điều khoản hợp đồng mua bán quốc tế hàng hóa, xác định rõ quyền và nghĩa vụ của bên bán, bên mua khi thực hiện điều kiện CFR trong hợp đồng mua bán quốc tế hàng hóa Đồng thời, nghiên cứu thực tiễn áp dụng điều kiện CFR của Incoterms 2010 của các doanh nghiệp Việt Nam

- Phạm vi nghiên cứu: Trong phạm vi luận văn này, tác giả chỉ tập trung phân tích các khía cạnh pháp lý cơ bản nhất về điều kiện CFR dưới dạng nội dung tập quán thương mại theo phiên bản Incoterms 2010; ghi nhận CFR trong hợp đồng mua bán quốc tế hàng hoá; thực trạng sử dụng điều kiện CFR theo Incoterms 2010 của các doanh nghiệp Việt Nam trong xác lập, thực hiện hợp đồng mua bán quốc tế hàng hóa

5 Phương pháp nghiên cứu

Để làm rõ những nội dung cơ bản đã đặt ra của luận văn, trong quá trình nghiên cứu, các phương pháp nghiên cứu chính được sử dụng trong luận văn bao gồm: phương pháp phân tích quy phạm; phương pháp diễn dịch; phương pháp tổng hợp, phương pháp so sánh luật học; phương pháp kết hợp

Trang 11

giữa lý luận và thực tiễn Các phương pháp này được sử dụng trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng

6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn

Nội dung của đề tài nghiên cứu có những đóng góp nhất định về mặt lý luận và thực tiễn Cụ thể:

Góp phần hệ thống hóa cơ sở lý thuyết về điều kiện về tiền hàng và cước phí (CFR) theo Incoterms 2010, điểm mới của Incoterms 2010 so với các phiên bản trước đó ; Cở sở lý luận về hợp đồng mua bán quốc tế hàng hóa

Thực trạng áp dụng điều kiện CFR trong hợp đồng mua bán quốc tế hàng hóa của các doanh nghiệp Việt Nam, quyền và nghĩa vụ của các bên khi

áp dụng điều kiện CFR trong hợp đồng, thực tiễn giải quyết tranh chấp liên quan đến điều kiện CFR

Đề xuất một số giải pháp nâng cao hiệu quả việc áp dụng điều kiện CFR trong hợp đồng mua bán quốc tế hàng hóa của các doanh nghiệp Việt Nam trong thời gian tới

7 Kết cấu của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo, nội dung luận văn gồm 2 chương Cụ thể:

Chương 1: Những vấn đề lý luận về điều kiện giao nhận hàng hóa

“Tiền hàng và cước phí ” (CFR) trong hợp đồng mua bán quốc tế hàng hóa

Chương 2: Thực trạng thực hiện điều kiện giao nhận hàng hóa “Tiền hàng và cước phí ” (CFR) trong hợp đồng mua bán quốc tế hàng hóa và giải pháp nâng cao hiệu quả áp dụng trong giao dịch của các doanh nghiệp Việt Nam

Trang 12

Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ ĐIỀU KIỆN GIAO NHẬN HÀNG HÓA “TIỀN HÀNG VÀ CƯỚC PHÍ ” (CFR) TRONG HỢP ĐỒNG

MUA BÁN QUỐC TẾ HÀNG HÓA

1.1 Khái niệm, bản chất và quá trình hình thành CFR

1.1.1 Khái niệm và bản chất pháp lý của CFR

CFR (Cost and Freight) nghĩa là tiền hàng và cước phí, là một trong các điều kiện của Incoterms

Incoterms là từ viết tắt của cụm từ tiếng Anh là International Commercial Terms Đây tập hợp các tập quán thương mại quốc tế được công nhận và sử dụng rộng rãi trên toàn thế giới, quy định về trách nhiệm của các bên trong hợp đồng mua bán quốc tế hàng hóa

Incoterms được các thương nhân áp dụng tại nhiều quốc gia, vùng lãnh thổ trên thế giới công nhận và sử dụng rộng rãi Incoterms quy định những quy tắc có liên quan đến giá cả và trách nhiệm của các bên (bên bán và bên mua) trong một hoạt động thương mại quốc tế, bao gồm các điều khoản về giao nhận hàng hoá, trách nhiệm của các bên như: Ai sẽ trả tiền vận tải, ai sẽ đảm trách các chi phí về thủ tục hải quan, bảo hiểm hàng hoá, ai chịu trách nhiệm về những tổn thất và rủi ro của hàng hoá trong quá trình vận chuyển…, thời điểm chuyển giao trách nhiệm về hàng hoá Trong nội dung chính của các điều khoản này phải kể tới hai điểm quan trọng chính là: Trách nhiệm của bên mua, bên bán đến đâu; Điểm chuyển giao trách nhiệm, chi phí, rủi ro từ người bán sang người mua

Các giao dịch sử dụng Incoterms thực hiện trong phạm vi thương mại quốc tế, chứ không phải là các giao dịch trong nước Vì vậy, Incoterms có những tác động nhất định đến các hoạt động xuất nhập khẩu Incoterms không

Trang 13

phải là các quy pham luật thành văn, chỉ là các tập quán được sử dụng rộng rãi, được thừa nhận bởi các thương nhân Đó là những tập quán thương mại nhiều hơn là những luật lệ buộc phải tuân theo trong mọi trường hợp Nghĩa

là có thể sử dụng những điều kiện trong Incoterms như là những tập quán tham chiếu từ các hợp đồng mà các bên thỏa thuận áp dụng trong mua bán quốc tế

Chỉ khi bên bán và bên mua đồng ý sử dụng quy tắc nào đó trong Incoterms và đưa vào trong bản hợp đồng mua bán, lúc đó nội dung của quy tắc áp dụng mới mang tính ràng buộc Và một khi đã được thống nhất áp dụng, các bên giao dịch phải có nghĩa vụ, trách nhiệm với những quy tắc này

Như vậy CFR có thể được hiểu là một trong các điều kiện theo Incoterm được các bên thống nhất sử dụng làm điều khoản quy định về tiền hàng và cước phí trong hợp đồng thương mại quốc tế, áp dụng cho vận tải biển và thủy nội địa

Đối với CFR thì người bán phải chịu chi phí chuyên chở đến cảng dỡ

hàng, còn chi phí dỡ hàng do người mua chịu nếu có thỏa thuận Trên thực tế CFR còn có thể ký hiệu (CNF – Cost and Freight)

Giá CFR = Giá FOB (Giá giao hàng trên phương tiện vận chuyển) + F (Cước phí vận chuyển)

Vì Incoterms không phải là luật, những quy tắc đề ra không có tính chất bắt buộc, mà đó là những tập quán thương mại được các bên thỏa thuận trong hợp đồng mua bán quốc tế hoặc có thể được áp dụng bởi cơ quan giải quyết tranh chấp ngay cả khi các bên không thỏa thuận nếu không có căn cứ nào khác Khả năng áp dụng tập quán thương mại quốc tế nói chung cũng như CFR nói riêng trong giao dịch giữa các thương nhân được pháp luật các quốc gia, trong đó có pháp luật Việt Nam thừa nhận Theo quy định của luật Việt Nam tại Điều 666 Bộ Luật Dân sự 2015 về áp dụng tập quán quốc tế thì đối

Trang 14

với quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài: “Các bên được lựa chọn tập quán quốc tế trong trường hợp quy định tại khoản 2 Điều 664 của Bộ luật này Nếu hậu quả của việc áp dụng tập quán quốc tế đó trái với các nguyên tắc cơ bản của pháp luật Việt Nam thì pháp luật Việt Nam được áp dụng”

1.1.2 Quá trình hình thành và phát triển của CFR như tập quán thương mại quốc tế phổ biến và vai trò CFR trong hợp đồng mua bán quốc tế hàng hóa

Để giúp người mua và người bán ở các nước khác nhau có phong tục tập quán, luật lệ, ngôn ngữ… khác nhau dễ dàng quy định về các quyền lợi và nghĩa vụ trong quá trình giao dịch mua bán hàng hóa, năm 1936 Phòng Thương mại quốc tế (Tổ chức Thương mại thế giới) đã ban hành các điều kiện thương mại quốc tế - Incoterms

Incoterms là tập hợp các tập quán thương mại quốc tế được công nhận

và sử dụng rộng rãi trên toàn thế giới Incoterms hướng dẫn những quy tắc có liên quan đến giá cả và trách nhiệm của các bên (bên bán và bên mua) trong một hoạt động thương mại quốc tế Incoterms giải thích các điều khoản về giao nhận hàng hoá, trách nhiệm của các bên: Ai sẽ trả tiền vận tải, ai sẽ đảm trách các chi phí về thủ tục hải quan, bảo hiểm hàng hoá, ai chịu trách nhiệm

về những tổn thất và rủi ro của hàng hoá trong quá trình vận chuyển…, và quan trọng nhất là thời điểm chuyển giao trách nhiệm về hàng hoá

Bản chất của Incoterms không phải là văn bản luật mà thực chất là một văn bản có tính hướng dẫn, giải thích cho người mua và người bán trên thế giới khi; tuy nhiên tính hữu dụng của nó đã trở nên phổ biến trong thương mại quốc tế Một khi bên mua và bán tự nguyện áp dụng, dẫn chiếu vào hợp đồng thì Incoterms sẽ trở thành văn bản có tính pháp lý buộc các bên phải thực hiện nghiêm chỉnh nghĩa vụ ghi nhận trong Incoterms Từ năm 1936 đến nay, Incoterms đã qua 5 lần sửa đổi: 1953, 1967, 1980, 1990, 2000 và 2010

Trang 15

Tuy nhiên, Incoterms sau không phủ định nội dung của Incoterms trước đó đã ban hành, tùy theo nhu cầu của bên bán và bên mua mà có thể thỏa thuận áp dụng Incoterms theo phiên bản năm tương ứng và khi thống nhất áp dụng Incoterms nào thì cần phải dẫn chiếu vào hợp đồng xuất khẩu

– Incoterms 1980: Gồm 14 điều kiện: Ex Works; Free Carrier; Free on

Rail/Free on Truck; Fob Airport; Free alongside Ship; Free on Board; Cost and Freight; Cost, insurance and freight; Freight Carriage paid to; Freight Carriage and insurance paid to; Ex Ship; Ex Quay; Delivered at frontier; Delivered Duty paid

– Incoterms 1990: Gồm 13 điều kiện: EXW; FCA; FAS; FOB; CFR;

CIF; CPT; CIP; DAF; DES; DEQ; DDU; DDP

– Incoterms 2000: Gồm 13 điều kiện: EXW; FCA; FAS; FOB; CFR;

CIF; CPT; CIP; DAF; DES; DEQ; DDU; DDP và được chia làm 4 nhóm (E,

F, C, D)

– Incoterms 2010: Incoterms 2010 là phiên bản thứ 8 đưa vào áp dụng

các thông lệ mới nhất trong thương mại, cập nhật và tổng hợp một số các quy tắc cũ Hệ thống phân loại mới của Incoterms 2010 phân chia quy tắc của 11 thông lệ thương mại thành hai nhóm riêng biệt gồm:

- Nhóm các quy tắc áp dụng cho tất cả các hình thức vận tải

- Nhóm các quy tắc áp dụng cho vận tải đường thủy Số điều kiện trong Incoterms 2010 đã giảm từ 13 xuống 11 Có được điều này là nhờ việc thay thế bốn điều kiện cũ của Incoterms 2000 (DAF, DES, DEQ, DDU) bằng hai điều kiện mới có thể sử dụng cho mọi phương thức vận tải là DAT – Giao hàng tại bến và DAP – Giao tại nơi đến

Hiện nay, Incoterms 2010 được sử dụng phổ biến nhất vì đây là lần sửa đổi gần nhất, được ban hành dựa trên kinh nghiệm, tập quán buôn bán giữa thương nhân các nước và khắc phục được các nhược điểm của Incoterms đã

Trang 16

ban hành trước đó Incoterms 2010 gồm có 11 điều kiện và được chia thành 4 nhóm E, F, C, D, trong đó, CFR thuộc nội dung nhóm C: gồm CRF (Cost and Freight), CIF (Cost Insurance and Freight), CPT (Carriage Paid To), CIP (Cost Insurance Paid to)

Thực tế cho thấy, các thương nhân Việt nam có thói quen sử dụng các điều kiện FOB (khi họ là bên bán) và điều kiện CIF (khi họ là bên mua) trong giao dịch mua bán quốc tế hàng hóa Tuy nhiên, trong số các điều kiện theo Incoterms 2010 kể trên, điều kiện CFR có vai trò không kém tiện dụng cho các bên trong giao dịch

CFR là điều kiện giao hàng tại cảng bốc xếp (cảng gửi hàng) Theo đó, người bán chịu trách nhiệm, bằng chi phí của mình, đưa hàng tới cảng bốc xếp chỉ định và hoàn thành việc giao hàng khi hàng đã đặt lên tàu tại cảng bốc xếp Mọi rủi ro về mất mát, hư hại đối với hàng hóa cũng như mọi chi phí phát sinh thêm do các tình huống xảy ra sau thời điểm giao hàng được chuyển

từ người bán cho người mua khi hàng đặt lên tàu

Tuy nhiên, bên bán chịu trách nhiệm, dùng chi phí của mình thuê tàu để chuyên chở hàng hóa từ cảng bốc xếp đến cảng đích Nếu các bên không có thỏa thuận khác thì hợp đồng vận tải sẽ được ký kết với điều kiện thông thường, với tuyến đường thông thường bằng tàu thuê là tàu đi biển hoặc tàu chạy đường thủy nội địa (tùy từng trường hợp) loại thường dùng để chuyên chở hàng hóa của hợp đồng Bên bán không có nghĩa vụ mua bảo hiểm vận chuyển hàng hóa từ cảng bốc xếp đến cảng đích

Điều kiện CFR được các bên sử dụng trong hợp đồng mua bán quốc tế hàng hóa và các bên tự mình ràng buộc phải chịu trách nhiệm thực hiện như các điều khoản thỏa thuận cụ thể khác Điều kiện này được sử dụng khá phổ biến trong hoạt động mua bán quốc tế hàng hóa, áp dụng cho vận tải đường biển và đường thủy nội địa

Trang 17

1.2 Nội dung của CFR trong giao dịch mua bán quốc tế hàng hóa

1.2.1 Quyền và nghĩa vụ giao nhận của bên bán theo CFR

Trong một giao dịch CFR, người bán phải: Ký kết hợp đồng chuyên chở đường biển và trả cước phí để chuyển hàng hóa đến cảng đích; Làm thủ tục, lấy giấy phép xuất khẩu, nộp thuế và lệ phí xuất khẩu; Giao hàng lên tàu; Cung cấp cho bên mua hoá đơn và vận đơn đường biển hoàn hảo; Trả tiền chi phí bốc hàng lên tàu; Trả tiền chi phí dỡ hàng nếu chi phí này được tính vào cước trong hợp đồng vận tải; Thông báo cho người mua chi tiết về chuyến tàu chở hàng; Chuyển giao hóa đơn thương mại, chứng từ vận tải và các chứng từ khác liên quan Cụ thể là:

Người bán phải cung cấp hàng hóa và hóa đơn thương mại phù hợp với hợp đồng mua bán và cung cấp tất cả bằng chứng phù hợp mà hợp đồng có thể đòi hỏi, đây là nghĩa vụ chung của người bán

Người bán khi cần phải chịu rủi ro và chi phí để lấy bất kì giấy phép xuất khẩu hoặc giấy phép chính thức nào khác và phải thực hiện mọi thủ tục hải quan cần thiết để xuất khẩu hàng hóa

Người bán phải kí hợp đồng vận chuyển hàng hóa từ địa điểm giao hàng đã thỏa thuận nếu có, tại nơi giao hàng đến cảng đến đã được chỉ định hoặc bất cứ địa điểm nào tại cảng đến Hợp đồng vận tải phải được kí với điều kiện thông thường với chi phí do người bán chịu và phải vận chuyển hàng hóa theo tuyến đường thông thường bằng một con tàu thuộc loại thường sử dụng

để vận chuyển hàng hóa đó

Người bán không có nghĩa vụ đối với người mua về kí hợp đồng bảo hiểm nhưng người bán phải cung cấp cho người mua những thông tin người mua cần để mua bảo hiểm, nếu người mua yêu cầu và chịu rủi ro và chi phí, nếu có

Trang 18

Người bán phải giao hàng bằng cách hoặc đặt hàng lên tàu hoặc mua hàng đã giao như vậy Trong cả hai trường hợp, người bán phải giao hàng vào ngày đã thỏa thuận hoặc trong khoảng thời gian đã thỏa thuận, theo cách thức thông thường tại cảng

Người bán phải chịu mọi rủi ro về mất mát hoặc hư hỏng của hàng hóa cho đến khi hàng hóa được giao lên tàu hoặc mua hàng để giao hàng lên tàu trừ những mất mát hư hỏng do người mua không thông báo hoặc thông báo không đầy đủ về thời gian gửi hàng hoặc địa điểm nhận hàng cho người bán [17,tr.96,100]

Người bán phải thông báo cho người mua biết những thông tin cần thiết

để người mua có thể áp dụng những biện pháp thông thường cần thiết để nhận hàng

Người bán phải trả tất cả các chi phí liên quan đến hàng hóa cho tới khi hàng được giao bằng cách hoặc đặt hàng lên tàu hoặc mua hàng đã giao như vậy Cước phí vận chuyển và tất cả chi phí phát sinh, kể cả các chi phí xếp hàng lên tàu và bất kì lệ phí nào để dỡ hàng tại cảng dỡ đã thỏa thuận mà người bán phải chịu theo hợp đồng vận tải và chi phí thủ tục hải quan cần thiết để xuất khẩu nếu có cũng như tất cả các thứ thuế, chi phí, lệ phí khác có thể phái trả khi xuất khẩu và chi phí vận tải qua các nước mà người bán phải chịu theo hợp đồng vận tải

Như vậy, trong CFR khi hàng hóa đã được giao lên tàu thì rủi ro về mất mát hay hư hỏng của hàng hóa di chuyển sang cho người mua Người bán phải ký hợp đồng vận chuyển và trả các chi phí và cước phí cần thiết để đưa hàng hóa đến cảng đến quy định

Khi sử dụng các điều kiện CFR người bán hoàn thành nghĩa vụ giao hàng khi người bán giao hàng cho người chuyên chở theo cách thức được quy

Trang 19

định cụ thể trong điều kiện của CFR như ở trên, chứ không phải hoàn thành nghĩa vụ khi hàng tới nơi đến

CFR đòi hỏi người bán thông quan xuất khẩu cho hàng hóa (nếu có) Tuy vậy, người bán không có nghĩa vụ thông quan khi nhập khẩu, trả bất kỳ loại thuế nhập khẩu nào hay tiến hành bất kỳ một thủ tục hải quan nhập khẩu nào

Người bán phải bằng chi phí của mình, cung cấp cho người mua không chậm trễ chứng từ vận tải thường lệ đến cảng đến đã thỏa thuận Chứng từ vận tải này phải thể hiện là hàng của hợp đồng, phải ghi ngày tháng trong thời hạn giao hàng đã thỏa thuận, giúp cho người mua có thể nhận hàng từ người chuyên chở và cho phép người mua có thể bán hàng trong quá trình vận chuyển bằng cách chuyển nhượng chứng từ vận tải cho người mua tiếp theo hoặc bằng cách thông báo cho người chuyên chở, trừ khi có thỏa thuận khác

Khi chứng từ vận tải được phát hành dưới dạng có thể chuyển nhượng được và gồm nhiều bản gốc, thì một bộ đầy đủ các bản gốc phải được xuất trình cho người mua

Người bán phải trả các chi phí về việc kiểm tra như kiểm tra chất lượng, cân, đo, đong, đếm cần thiết để giao hàng theo quy định, kể cả các phí tổn cho bất kì việc kiểm tra nào trước khi gửi hàng theo yêu cầu của các cơ quan có thẩm quyền ở nước xuất khẩu

Người bán phải bằng chi phí của mình, đóng gói hàng hóa, trừ khi thông lệ của ngành hàng quy định cụ thể hàng hóa được gửi đi không cần đóng gói Người bán có thể đóng gói hàng phù hợp với phương thức vận tải, trừ khi người mua thông báo cho người bán yêu cầu cụ thể về đóng gói trước khi kí kết hợp đồng Bao bì phải được ghi kí mã hiệu thích hợp

Nếu có quy định thì người bán theo yêu cầu của người mua phải giúp

đỡ người mua lấy các chứng từ và thông tin kể cả thông tin an ninh mà người

Trang 20

mua cần để nhập khẩu, do vì người mua phải chịu rủi ro và phí tổn

Người bán phải hoàn trả cho người mua tất cả chi phí, lệ phí phát sinh trong trường hợp người mua đã chi để lấy được những chứng từ và thông tin

an ninh phục vụ cho việc nhập khẩu hàng hóa của người mua

1.2.2 Quyền và nghĩa vụ giao nhận của bên mua theo CFR

Đối với giao dịch mua bán hàng hóa, quyền của bên bán là nghĩa vụ của bên mua và ngược lại Khi các bên thỏa thuận trong hợp đồng và thực hiện điều kiện CFR trong hợp đồng mua bán hàng hóa, bên mua có các quyền

và nghĩa vụ cụ thể sau: Nhận hàng khi hoá đơn và vận đơn được giao cho mình; Trả tiền chi phí dỡ nếu chi phí chưa nằm trong cước; Chịu mọi rủi ro và tổn thất về hàng kể từ khi hàng được đặt lên tàu ở cảng bốc Cụ thể là:

Người mua phải thanh toán như quy định trong hợp đồng mua bán hàng hóa Đây là nghĩa vụ chung mà người mua phải thực hiện

Nếu có quy định, người mua phải tự chịu rủi ro và phí tổn để lấy được giấy phép nhập khẩu hoặc các giấy phép chính thức nào khác và làm thủ tục hải quan để nhập khẩu hàng hóa và vận tải qua nước khác [17,tr.97]

Người mua không có nghĩa vụ đối với người bán về ký hợp đồng vận tải Người mua cũng không có nghĩa vụ đối với người bán về kí hợp đồng bảo hiểm Tuy vậy, người mua phải cung cấp cho người bán tất cả những thông tin cần thiết cho việc mua bảo hiểm nếu người bán có yêu cầu

Người mua phải nhận hàng khi hàng hóa đã được giao theo đúng quy định và nhận hàng từ người chuyên chở tại cảng đến đã được chỉ định

Người mua chịu mọi rủi ro về mất mát, hư hỏng của hàng hóa kể từ khi hàng đã được bên ban giao theo đúng quy định của CFR Nếu người mua không thông báo đúng, đầy đủ về thời gian, địa điểm giao nhận hàng thì người mua phải chịu mọi rủi ro về mất mát hoặc hư hỏng của hàng hóa kể từ ngày thỏa thuận giao hàng hoặc kể từ ngày cuối cùng của thời hạn thỏa thuận

Trang 21

giao hàng với điều kiện hàng đã được phân biệt rõ ràng là hàng của hợp đồng [17,tr.99]

Người mua phải trả tất cả các chi phí liên quan đến hàng hóa kể từ khi hàng hóa đã được giao theo quy định, trừ các chi phí làm thủ tục hải quan (nếu có) cho việc xuất khẩu, cũng như tất cả các loại, thuế, chi phí, lệ phí khác khi xuất khẩu; Phải trả tất cả các chi phí, lệ phí liên quan đến hàng hóa khi quá cảnh cho đến khi hàng đến cảng đến, trừ các phí, lệ phí mà người bán phải chịu theo hợp đồng vận tải; Chi phí dỡ hàng kể cả phí lõng hàng và phí cầu bến trừ các phí, lệ phí mà người bán phải chịu theo hợp đồng vận tải; Các chi phí phát sinh nếu người mua không thông báo đúng, đầy đủ về thời gian, địa điểm giao nhận hàng theo quy định kể từ ngày thỏa thuận giao hàng hoặc

kể từ ngày cuối cùng của thời hạn thỏa thuận giao hàng với điều kiện hàng đã được phân biệt rõ ràng là hàng của hợp đồng; Và tất cả các loại thuế, phí, lệ phí và chi phí khác (nếu có) cũng như các chi phí làm thủ tục hải quan để nhập khẩu, chi phí để vận tải hàng hóa qua bất kì nước nào trừ khi đã bao gồm trong chi phí của hợp đồng vận tải [17,tr.99]

Người mua khi xác định được thời gian và địa điểm giao nhận hàng thì phải thông báo đúng, đầy đủ cho người bán

Người mua phải chấp nhận chứng từ vận tải theo quy định nếu chứng

từ đó phù hợp với hợp đồng Và phải trả các khoản chi phí kiểm tra bắt buộc trước khi gửi hàng, ngoại trừ việc kiểm tra theo yêu cầu của các cơ quan có thẩm quyền ở nước xuất khẩu

Người mua phải thông báo cho người bán một cách kịp thời về các thông tin an ninh để người bán có thể thực hiện Người mua phải hoàn trả cho người bán tất cả chi phí và lệ phí mà người bán đã chi để lấy được những chứng từ và thông tin phục vụ cho việc nhập khẩu hàng hóa của người mua, hoặc vận tải đến địa điểm cuối cùng Nếu có quy định, người bán phải tự chịu

Trang 22

rủi ro và phí tổn để lấy được chứng từ, thông tin kể cả thông tin an ninh mà người bán cần để làm thủ tục vận tải, xuất khẩu hoặc quá cảnh qua nước khác thì người mua phải giúp đỡ người bán một cách kịp thời, do vì người bán phải chịu rủi ro, phí tổn [17,tr.99]

Với điều kiện này, có thể thấy, rủi ro di chuyển và chi phí được phân chia ở các địa điểm khác nhau, đó là ở cảng gửi hàng và cảng đích (cảng nơi đến trong hợp đồng) Khi người mua và người bán thiết lập hợp đồng thì thường trong hợp đồng luôn chỉ rõ cảng đến (cảng đích) nhưng có thể lại không chỉ rõ cảng xếp hàng – là nơi mà rủi ro di chuyển sang người mua Nếu cảng gửi hàng có ý nghĩa đặc biệt đối với người mua, thì các bên quy định trong hợp đồng càng cụ thể càng tốt

Như vậy, các bên xác định càng cụ thể địa điểm đến đã thỏa thuận thì càng tốt, vì các chi phí cho đến địa điểm đó do người bán chịu Người bán nên

ký các hợp đồng vận tải đến đúng địa điểm này Nếu theo hợp đồng chuyên chở, người bán phải trả các chi phí liên quan đến việc dỡ hàng tại địa điểm chỉ định ở cảng đến, thì người bán không có quyền đòi lại chi phí đó từ người mua trừ phi hai bên có thỏa thuận khác

CFR không phù hợp khi hàng hóa được giao cho người chuyên chở trước khi hàng được giao lên tàu, ví dụ hàng đóng trong container, mà thường

là giao hàng tại bến, bãi

1.3 Hợp đồng mua bán quốc tế hàng hóa và hiệu lực của điều khoản CFR trong hợp đồng

1.3.1 Hợp đồng mua bán quốc tế hàng hóa

Hoạt động thương mại quốc tế được thực hiện bằng nhiều loại hợp đồng khác nhau Hiện nay, mặc dù có nhiều hình thức thương mại mới, nhưng trao đổi hàng hóa vẫn chiếm vị trí trung tâm trong hoạt động thương mại quốc tế, đặc biệt là ở Việt Nam Các hình thức hoạt động thương mại khác được hình

Trang 23

thành sau này có vai trò hỗ trợ cho việc xuất nhập khẩu hàng hóa Chính vì vậy mà trước đây cũng như hiện nay, hợp đồng mua bán quốc tế hàng hóa đóng vai trò chủ đạo, chính vì có vai trò quan trọng nên hợp đồng mua bán quốc tế hàng hóa được nhiều tổ chức thương mại quốc tế, nhiều quốc gia dành

sự chú ý và quan tâm đáng kể khi tiến hành hoạt động hệ thống hóa, pháp điển hóa các quy phạm pháp luật trong thương mại quốc tế Kết quả là các quy phạm dùng để điều chỉnh hợp đồng mua bán quốc tế hàng hóa cũng được ghi nhận trong các văn bản pháp lý của Luật thương mại, Bộ Luật Dân sự điều chỉnh giao dịch thương mại có yếu tố nước ngoài, xây dựng khái niệm hợp đồng mua bán quốc tế hàng hóa, căn cứ điều chỉnh chúng trong đó có tập

quán thương mại quốc tế Có thể hiểu Hợp đồng mua bán hàng hoá quốc tế

(còn được gọi là hợp đồng mua bán ngoại thương hoặc hợp đồng xuất nhập khẩu) là hợp đồng mua bán hàng hoá có tính chất quốc tế (có yếu tố nước ngoài) Tính chất quốc tế của hợp đồng mua bán quốc tế hàng hoá được hiểu

không giống nhau tuỳ theo quan điểm của luật pháp từng nước

Theo Công ước Lahaye năm 1964 về mua bán quốc tế các động sản hữu hình thì tính chất quốc tế thể hiện ở các tiêu chí như: các bên giao kết có trụ sở thương mại ở các nước khác nhau và hàng hoá, đối tượng của hợp đồng, được chuyển qua biên giới một nước, hoặc là việc trao đổi ý chí giao kết hợp đồng giữa các bên được lập ở những nước khác nhau (Điều 1 của Công ước) Nếu các bên giao kết không có trụ sở thương mại thì sẽ dựa vào nơi cư trú thường xuyên của họ Yếu tố quốc tịch của các bên không có ý nghĩa trong việc xác định yếu tố nước ngoài của hợp đồng mua bán hàng hoá quốc tế

Theo Công ước Viên năm 1980 của Liên Hiệp Quốc về Hợp đồng Mua bán Hàng hoá Quốc tế (gọi tắt là Công ước Viên năm 1980) thì tính chất quốc

tế được xác định chỉ bởi một tiêu chuẩn duy nhất, đó là các bên giao kết hợp đồng có trụ sở thương mại đặt ở các nước khác nhau (điều 1 Công ước Viên

Trang 24

năm 1980) Và, giống như Công ước Lahaye năm 1964, Công ước này cũng không quan tâm đến vấn đề quốc tịch của các bên khi xác định tính chất quốc

tế của hợp đồng mua bán hàng hoá quốc tế Công ước Viên năm 1980 không đưa ra tiêu chí hàng hoá phải được chuyển qua biên giới của một nước để xác định tính chất quốc tế của hợp đồng mua bán hàng hoá quốc tế

Đối với Pháp, khi xác định yếu tố quốc tế của hợp đồng mua bán hàng hoá quốc tế, người ta căn cứ vào hai tiêu chuẩn kinh tế và pháp lý Theo các tiêu chuẩn kinh tế, một hợp đồng quốc tế là hợp đồng tạo nên sự di chuyển qua lại biên giới các giá trị trao đổi tương ứng giữa hai nước, nói cách khác, hợp đồng đó thể hiện quyền lợi của thương mại quốc tế Theo tiêu chuẩn pháp

lý, một hợp đồng được coi là hợp đồng quốc tế nếu nó bị chi phối bởi các quy phạm pháp lý của nhiều quốc gia gắn với quốc tịch, nơi cư trú của các bên, nơi thực hiện nghĩa vụ hợp đồng, nguồn vốn thanh toán…[14]

Đối với Việt Nam, Luật Thương mại Việt Nam năm 2005 không đưa ra tiêu chí để xác định tính chất quốc tế của hợp đồng mua bán quốc tế hàng hóa

mà liệt kê những hoạt động được coi là mua bán quốc tế hàng hóa Điều 27 Luật Thương mại 2005 nêu rõ mua bán quốc tế được thực hiện dưới các hình thức xuất khẩu, nhập khẩu, tạm nhập tái xuất, tạm xuất tái nhập và chuyển khẩu

Luật Thương mại năm 2005 đã sử dụng tiêu chí hàng hóa phải là động sản; hàng có thể được di chuyển qua biên giới của Việt Nam hoặc qua biên giới của một nước (vùng lãnh thổ); hoặc di chuyển qua khu chế xuất, khu vực hải quan riêng để xem xét tính quốc tế của hợp đồng mua bán quốc tế hàng hóa

Theo Bộ luật dân sự 2015, yếu tố nước ngoài có thể gắn với 3 khía cạnh pháp lý khác nhau của một giao dịch

Hợp đồng mua bán quốc tế hàng hóa có một số đặc trưng cơ bản sau:

Trang 25

Thứ nhất, hợp đồng mua bán quốc tế hàng hóa là hợp đồng thương mại

có yếu tố nước ngoài

Thứ hai, chủ thể của hợp đồng mua bán hàng hoá quốc tế là các bên, người bán và người mua, có trụ sở thương mại đặt ở các nước khác nhau

Thứ ba, đối tượng của hợp đồng mua bán hàng hoá quốc tế là động sản, tức là hàng có thể chuyển qua biên giới của một nước

Thứ tư, tiền tệ dùng để thanh toán thường là nội tệ hoặc có thể là ngoại

tệ đối với các bên Ví dụ: hợp đồng được giao kết giữa người bán Việt Nam

và người mua Hà Lan, hai bên thoả thuận sử dụng đồng euro làm đồng tiền thanh toán Lúc này, đồng euro là ngoại tệ đối với phía người bán Việt Nam nhưng lại là nội tệ đối với người mua Hà Lan Tuy nhiên, cũng có trường hợp đồng tiền thanh toán đều là nội tệ của cả hai bên, như trường hợp các doanh nghiệp thuộc các nước trong cộng đồng châu Âu sử dụng đồng euro làm đồng tiền chung

Thứ năm, Hợp đồng mua bán quốc tế hàng hóa thường được ký kết bằng tiếng nước ngoài, trong đó phần lớn là được ký bằng tiếng Anh

Thứ sáu, tranh chấp phát sinh từ việc giao kết và thực hiện hợp đồng mua bán quốc tế hàng hóa có thể là toà án hoặc trọng tài nước ngoài

Thứ bảy, luật áp dụng cho hợp đồng mua bán hàng hoá quốc tế mang tính chất đa dạng và phức tạp Điều này có nghĩa là hợp đồng mua bán quốc

tế hàng hóa có thể phải chịu sự điều chỉnh không phải chỉ của luật pháp nước

đó mà cả của luật nước ngoài (luật nước người bán, luật nước người mua hoặc luật của bất kỳ một nước thứ ba nào), thậm chí phải chịu sự điều chỉnh của điều ước quốc tế, tập quán thương mại quốc tế (Incoterms) để điều chỉnh hợp đồng mua bán hàng hoá quốc tế

Theo Công ước Viên 1980 thì hợp đồng mua bán quốc tế hàng hóa không nhất thiết phải được ký kết bằng văn bản, tuy nhiên pháp luật Việt

Trang 26

Nam cũng như hầu hết của các quốc gia trên thế giới đều bắt buộc loại hợp đồng này phải được ký kết bằng văn bản Việc ký kết hợp đồng mua bán hàng hóa bằng văn bản sẽ giúp các bên có được bằng chứng đầy đủ khi phải ra tranh tụng trong trường hợp có tranh chấp phát sinh Ngoài ra, ký hợp đồng bằng văn bản cũng tỏ rõ nhiều ưu thế hơn so với hình thức phi văn bản

Cơ sở pháp lý điều chỉnh hợp đồng mua bán quốc tế hàng hóa bao gồm Luật quốc gia - pháp luật thương mại Việt Nam, pháp luật thương mại các nước liên quan, các điều ước quốc tế về thương mại ví dụ Công ước Viên năm

1980, Công ước New York 1958 về công nhận và cho thi hành phán quyết trọng tài nước ngoài, các tập quán thương mại quốc tế như Incoterms, Bản quy tắc thực hành thống nhất về tín dụng chứng từ (UCP 600) Tuy nhiên, việc áp dụng luật quốc gia nào, hay Điều ước quốc tế, hay tập quán thương mại quốc tế trước hết dựa trên việc các bên thỏa thuận trong hợp đồng, nếu không có thỏa thuận thì sẽ áp dụng các căn cứ điều chỉnh tương ứng trong nguồn pháp luật thương mại quốc tế

Đặc biệt, hợp đồng mua bán quốc tế hàng hóa bao gồm các điều khoản trong đó có thể có điều kiện CFR do chính các bên thỏa thuận trong hợp đồng; các bên cũng có thể thỏa thuận trong hợp đồng về luật áp dụng và cơ

quan giải quyết tranh chấp

1.3.2 Hiệu lực của điều khoản CFR trong hợp đồng mua bán quốc tế hàng hóa

Như chúng ta biết, Incoterms không phải là luật, nên những quy tắc đề

ra không có tính chất bắt buộc với bất kì bên nào Đó là những tập quán thương mại nhiều hơn là những luật lệ buộc phải tuân theo trong mọi trường hợp Như vậy quy tắc, điều kiện CFR trong Incoterms chỉ là quy tắc tham khảo cho việc mua bán quốc tế

Trang 27

Chỉ khi bên bán và bên mua đồng ý sử dụng quy tắc CFR trong Incoterms và đưa vào trong bản hợp đồng mua bán, lúc đó nội dung của quy tắc được coi như một điều khoản hợp đồng và có hiệu lực như các điều khoản khác mang tính ràng buộc Nếu các bên đã đồng ý áp dụng điều khoản CFR theo Incoterms 2010, thì phải tuân thủ theo cách giải thích CFR của Incoterms

2010 Nếu một bên không thực hiện sẽ coi như vi phạm hợp đồng, và xử lý theo điều khoản vi phạm của hợp đồng mua bán mà hai bên đã thỏa thuận

Một khi đã được thống nhất áp dụng, các bên giao dịch phải có nghĩa

vụ thực hiện điều kiện CFR với nội dung được giải thích theo Incoterms đối với quy tắc này Mặt khác, khi đã sử dụng điều kiện CFR của Incoterms, hai bên cũng hoàn toàn có thể thỏa thuận thêm những nội dung khác đi kèm với

Các điều kiện của Incoterms nói chung, điều kiện CFR nói riêng khi được sử dụng làm điều khoản trong hợp đồng mua bán quốc tế hàng hóa cũng phụ thuộc vào tập quán thương mại giao nhận tại từng quốc gia nên phải thỏa thuận cụ thể về CFR (được hiểu theo Incoterms năm nào và tại cảng nào) cũng như cần linh hoạt trong việc áp dụng Do đó, các bên cần nghiên cứu tập quán địa phương trong quá trình thương thảo và thực hiện hợp đồng mua bán quốc tế hàng hóa bởi khi tranh chấp xảy ra sẽ được giải thích như tập quán mà các bên có ý định hướng tới áp dụng

1.3.3 Mối quan hệ giữa điều khoản CFR và các điều khoản khác trong hợp đồng mua bán quốc tế hàng hóa

Các quy tắc trong Incoterms chủ yếu hướng đến những vấn đề chung có liên quan đến việc giao hàng, chỉ được dùng để xác định thời điểm chuyển giao rủi ro, trách nhiệm, chi phí từ người mua đến người bán, và CFR chỉ là một trong các điều kiện về tiền hàng và cước phí Khi sử dụng CFR như một điều khoản trong hợp đồng mua bán quốc tế hàng hóa thì CFR có mối liên hệ

Trang 28

mật thiết với các điều khoản khác trong hợp đồng Điều khoản CFR góp phần làm rõ thời điểm chuyển giao rủi ro để xác định trách nhiệm của các bên trong hợp đồng Việc xác định này sẽ tạo điều kiện thuận lợi khi giải quyết tranh chấp nếu có vi phạm xảy ra

Tuy nhiên, những vấn đề khác như giá cả hàng hóa, phương thức thanh toán, các yêu cầu về bốc dỡ hàng hóa, lưu kho… thì hoàn toàn không quy định quá rõ ràng, những nội dung khác về thời điểm chuyển quyền sở hữu hàng hóa, hay những hậu quả có thể có khi vi phạm hợp đồng đều không được

đề cập đến, nghĩa là chưa được bao gồm trong Incoterms Những vấn đề này được thỏa thuận trong các điều khoản khác của hợp đồng và để tránh tranh chấp xảy ra với nội dung khác đó, các bên cần thỏa thuận rõ ràng hợp đồng cũng như luật áp dụng

Như trên đã phân tích, đối với điều kiện CFR của Incoterms, khi làm hợp đồng, cần ghi rõ: Tên điều kiện (CFR) – phiên bản Incoterms (2010) – địa điểm giao hàng

1.4 Căn cứ thực hiện điều khoản CFR trong hợp đồng mua bán quốc

tế hàng hóa và giải quyết tranh chấp liên quan

1.4.1 Căn cứ thực hiện điều khoản CFR trong hợp đồng mua bán quốc tế hàng hóa

Căn cứ để thực hiện các điều khoản nói chung và điều khoản CFR nói riêng trong hợp đồng mua bán quốc tế hàng hóa phụ thuộc vào các thảo thuận giữa các bên trong hợp đồng, và giá trị pháp lý của hợp đồng Hợp đồng có hiệu lực và giá trị pháp lý khi đáp ứng yêu cầu về mặt nội dung và hình thức

Cụ thể:

Khi ký kết hợp đồng mua bán quốc tế hàng hóa, cần thiết phải làm rõ thẩm quyền ký kết của cách bên Nếu một bên không có khả năng ký thì hợp đồng có thể sẽ bị vô hiệu Mà hợp đồng vô hiệu thì sẽ không có căn cứ để

Trang 29

thực hiện các điều khoản trong hợp đồng, trong đó có điều khoản CFR Chủ thể ký kết một hợp đồng mua bán quốc tế hàng hóa có thể là một cá nhân hoặc một pháp nhân Năng lực pháp luật của các đối tượng này sẽ không tuân theo luật điều chỉnh hợp đồng, mà tuân theo luật của nước mà pháp nhân mang quốc tịch Một chủ thể mang quốc tịch một quốc gia, trước hết phải tuân thủ pháp luật nước mình về tư cách chủ thể Pháp luật một quốc gia khác không thể điều chỉnh tư cách chủ thể của cá nhân hoặc pháp nhân mang quốc tịch nước khác

Một cá nhân có thể tự mình hoặc ủy quyền hợp pháp cho cá nhân khác giao kết hợp đồng mua bán quốc tế hàng hóa Một pháp nhân thì phải thông qua người đại diện theo pháp luật của pháp nhân đó thực hiện hành vi ký kết

Để hợp đồng không bị vô hiệu là xác định cá nhân đó có thẩm quyền ký kết hợp đồng hay không Về vấn đề này, pháp luật mỗi quốc gia có sự quy định khác nhau Ví dụ như như Luật Anh thì theo hệ thống thông luật, nên không

có quy định cụ thể về ủy quyền Tuy nhiên, các án lệ tại Anh công nhận sự ủy quyền mặc nhiên, tức là một Giám đốc điều hành khi thực hiện nhiệm vụ điều hành công ty thì có quyền thực hiện những hành vi mà một giám đốc điều hành thông thường cần làm, nên có thể không cần giấy ủy quyền, còn theo pháp luật Việt Nam, người đại diện theo pháp luật có thẩm quyền ký kết hợp đồng hoặc ủy quyền cho người khác thực hiện hành vi này thông qua giấy ủy quyền hoặc Điều lệ công ty Vì vậy, để tránh việc hợp đồng vô hiệu do chủ thể ký kết không đúng thẩm quyền thì khi giao kết hợp đồng mua bán quốc tế hàng hóa, các bên nên tìm hiểu các quy định về thẩm quyền và ủy quyền của quốc gia đối tác hoặc yêu cầu bên kia cung cấp các giấy tờ để chứng minh hoặc cam kết mình có thẩm quyền ký kết hợp đồng Theo quy định tại Điều

676 Bộ Luật Dân sự 2015 thì Thẩm quyền ký kết trong hợp đồng đối với thương nhân xác định theo pháp luật nước nơi nước mà pháp nhân có quốc

Trang 30

tịch

Về hình thức hợp đồng: Hình thức của hợp đồng cũng là một điều cần lưu ý Theo Điều 27.2 Luật Thương mại Việt Nam 2005 thì hợp đồng mua bán quốc tế hàng hóa phải được ký kết bằng văn bản hoặc hình thức khác có giá trị pháp lý tương đương Theo Bộ luật dân sự 2015 tại Khoản 7 Điều 683 cũng quy định về hình thức hợp đồng như sau: “Hình thức của hợp đồng được xác định theo pháp luật áp dụng đối với hợp đồng đó Trường hợp hình thức của hợp đồng không phù hợp với hình thức hợp đồng theo pháp luật áp dụng đối với hợp đồng đó, nhưng phù hợp với hình thức hợp đồng theo pháp luật của nước nơi giao kết hợp đồng hoặc pháp luật Việt Nam thì hình thức hợp đồng đó được công nhận tại Việt Nam” Theo các quy định trên thì hình thức Hợp đồng mua bán quốc tế thàng hóa theo luật Việt Nam phải được ký kết bằng văn bản hoặc hình thức khác có giá trị pháp lý tương đương, tuy nhiên trong trường hợp pháp luật áp dụng đối với Hợp đồng đó là luật nước ngoài thì hình thức của hợp đồng được xác định theo pháp luật nước ngoài

Ngoài ra, Việt Nam cũng đã tuyên bố bảo lưu Điều 11 của Công ước Viên 1980 nên nhất thiết các hợp đồng được ký kết phải được thực hiện dưới hình thức văn bản Nếu có sai phạm về hình thức, Tòa án Việt Nam hoặc Trọng tài tại Việt Nam có thể tuyên hợp đồng vô hiệu Phương án tốt nhất khi giao kết hợp đồng mua bán quốc tế hàng hóa là nên soạn thảo hợp đồng bằng văn bản vì các nội dung sẽ được thể hiện rõ ràng, tiện lợi cho việc giải quyết tranh chấp sau này

Các bên luôn cần thỏa thuận về luật áp dụng chung cho hợp đồng; tuy nhiên luật áp dụng sẽ không làm rõ nội dung tập quán CFR mà chỉ điều chỉnh chung hợp đồng, thừa nhận giá trị pháp lý của nôi dung hợp đồng Vậy điều khoản CFR cũng có thể xảy ra tranh chấp khi các bên không xác định cụ thể Incoterms năm nào hoặc ghi sai tên cảng Thực tiễn khi tranh chấp, cơ quan

Trang 31

giải quyết thường chọn Incoterms năm gần nhất nếu các bên không ghi rõ trong hợp đồng Bên cạnh đó, mỗi điều kiện Incoterms đi kèm cảng đến hay cảng đi khác nhau nên trong hợp đồng cần ghi chính xác

Hợp đồng mua bán quốc tế hàng hóa thường được ký kết giữa các bên tới từ các quốc gia khác nhau với ngôn ngữ khác nhau Mỗi ngôn ngữ có thể dẫn đến cách hiểu khác nhau hoặc hiểu sai, nên tốt nhất các bên có thể sử dụng chung một ngôn ngữ Nếu không muốn sử dụng chung một ngôn ngữ, hai bên cần ghi nhận thêm điều khoản số lượng các bản hợp đồng và giá trị pháp lý của các phiên bản

Việc ký kết hợp đồng mua bán quốc tế hàng hóa đòi hỏi nhiều kinh nghiệm trong lĩnh vực này Đồng thời, các doanh nghiệp cũng gặp khó khăn

vì hệ thống pháp luật khác nhau và không hề dễ dàng tìm hiểu các quy định

cụ thể trong các hệ thống pháp luật này Nên khi ký kết hợp đồng mua bán quốc tế hàng hóa, các điều khoản cần được quy định một cách minh thị, cụ thể và rõ ràng

Ngoài nội dung Hợp đồng trong đó bao gồm điều khoản thỏa thuận áp dụng CFR, luật áp dụng do các bên thỏa thuận, nguồn pháp luật điều chỉnh hợp đồng còn bao gồm điều ước quốc tế liên quan, pháp luật quốc gia liên quan nhất với giao dịch, tập quán thương mại quốc tế

Điều ước quốc tế bao gồm các quy phạm trực tiếp điều chỉnh đến các vấn đề có liên quan đến quyền hạn, trách nhiệm và nghĩa vụ của các bên trong

ký kết và thực hiện hợp đồng Loại điều ước này điển hình có Công ước Hamburg 1978 về chuyên chở hàng hoá bằng đường biển, Công ước Viên

1980 về mua bán hàng hoá quốc tế Điều ước quốc tế cũng có thể chỉ ra hệ thống pháp luật liên quan gắn bó nhất điều chỉnh hợp đồng như Hiệp định tương trợ tư pháp về dân sự

Trang 32

Luật quốc gia cũng đóng một vai trò khá quan trọng và trong nhiều trường hợp là nguồn luật điều chỉnh các quan hệ hợp đồng Luật đó có thể do các bên lựa chọn (lựa chọn luật áp dụng) hoặc do quy phạm xung đột chỉ dẫn đến

Luật quốc gia được xem như một nguồn luật của thương mại quốc tế không có nghĩa là tất cả các luật đều được áp dụng mà chỉ có một số luật, văn bản pháp luật có liên quan đến giao dịch thương mại quốc tế tương ứng được

áp dụng

Luật quốc gia áp dụng cho hợp đồng mua bán hàng hoá thông thường

là luật của nước nào có quan hệ gần nhất với hợp đồng, thường là luật của nước bên bán, luật của nước nơi hợp đồng được ký kết, nhưng cũng có thể là luật của bên mua, có thể là luật của nước thứ ba, luật quốc tịch, luật nơi nghĩa

vụ của hợp đồng được thực hiện…

Tập quán thương mại là những quy tắc xử sự, những thói quen thương mại phổ biến được áp dụng một cách thường xuyên, liên tục trong một thời gian dài và phải có nội dung rõ ràng mà qua đó có thể xác định được quyền và nghĩa vụ đối với nhau Các tập quán thương mại quốc tế chỉ có giá trị pháp lý

và có hiệu lực bắt buộc đối với các chủ thể ký kết khi nó được quy định hoặc dẫn chiếu vào hợp đồng Điều 21 quy tắc phòng thương mại quốc tế (ICC) về nguyên tắc trọng tài quy định "Các trọng tài không chỉ áp dụng luật áp dụng

mà có thể dùng tới các điều khoản trong hợp đồng và những "Tập quán thương mại" thích hợp để giải quyết vụ việc Tập quán thương mại quốc tế thông dụng được ICC soạn thảo và ban hành đó là Incoterms về điều kiện cơ

sở giao hàng; quy tắc thống nhất và thực hành tín dụng chứng từ (UCP) nhằm hướng dẫn chuẩn mực quốc tế thống nhất cho quyền và nghĩa vụ của các bên

Tóm lại, ngoài các điều khoản các bên thỏa thuận trong hợp đồng, giao dịch thương mại có yếu tố nước ngoài mà thương nhân Việt Nam tiến hành có

Trang 33

thể áp dụng pháp luật do các bên lựa chọn, Công ước Viên 1980, các Hiệp định tương trợ tư pháp (có thể dẫn chiếu đến pháp luật quốc gia gắn bó nhất), các tập quán thương mại quốc tế liên quan Nếu pháp luật Việt Nam là pháp luật quốc gia điều chỉnh hợp đồng thì căn cứ sẽ là Luật thương mại 2005 (điều chỉnh trực tiếp giao dịch này) và Bộ luật dân sự 2015 (phần thứ 5 - quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài)

1.4.2 Giải quyết tranh chấp giữa các bên khi thực hiện hợp dồng

Trong việc thực hiện hợp đồng, tranh chấp xảy ra là điều không tránh khỏi, chỉ cần một bên vi phạm điều khoản hợp đồng thì sẽ phát sinh tranh chấp, buộc các bên phải cùng nhau giải quyết

Để giải quyết tranh chấp nói chung, hay giải quyết tranh chấp liên quan đến điều khoản CFR nói riêng dựa trên thỏa thuận về giải quyết tranh chấp trong hợp đồng hoặc áp dụng theo quy định pháp luật liên quan Về lý thuyết, phương thức giải quyết tranh chấp giữa các bên bao gồm các phương thức sau: phương thức thương lượng, hòa giải, trọng tài hoặc Tòa án Mỗi một phương thức đều có những ưu và nhược điểm nhất định Cụ thể:

Đối với phương thức thương lượng: Thương lượng là phương thức giải

quyết đầu tiên trong quá trình giải quyết tranh chấp, thể hiện ở việc các bên trong tranh chấp chủ động gặp gỡ nhau, bàn bạc, thỏa thuận về quyền lợi cũng như nghĩa vụ của mỗi bên trong hợp đồng cũng như điều khoản CFR

Pháp luật không có quy định bắt buộc các bên phải tiến hành thương lượng

Do đó, từ quy trình tổ chức, thực hiện, sự có mặt của các bên, quyền lợi cũng như nghĩa vụ của các chủ thể, kết quả thương lượng phụ thuộc vào thiện chí

tự giải quyết của các bên

Nếu thương lượng được tiến hành trong khuôn khổ tố tụng trọng tài hay

tố tụng tư pháp thì khi đó trọng tài viên, thẩm phán, theo yêu cầu của các bên

có thế ra một văn bản công nhận thương lượng

Trang 34

Phương thức thương lượng rất được các chủ thể ưu tiên lựa chọn ngay khi xảy ra tranh chấp, bởi phương thức này không chịu sự điều chỉnh của pháp luật, không bị gò bó bởi các quy định chặt chẽ về quy trình tổ chức thương lượng, thành phần tham gia, thời gian thực hiện, cũng như không tốn kém tiền bạc Do sự tự giải quyết với nhau, nên tranh chấp không bị làm lớn, không ảnh hưởng đến uy tín của các bên Cũng bởi không có sự điều chỉnh của quy phạm pháp luật nên không có sự cưỡng chế thi hành đối với kết quả thương lượng

Đối với phương thức hòa giải: Hòa giải các tranh chấp trong thương

mại quốc tế nói chung, tranh chấp trong hợp đồng mua bán quốc tế hàng hóa nói riêng là đưa các bên tới người thứ ba được chính các bên lựa chọn để giải quyết tranh chấp Các bên tiến hành thương lượng giải quyết tranh chấp với

sự hỗ trợ của bên thứ ba là hòa giải viên Thỏa thuận giải quyết bằng hòa giải không được bắt buộc thi hành Hiệu lực cao nhất của thỏa thuận giải quyết bằng hòa giải chỉ giống như một điều khoản hợp đồng ràng buộc các bên

Phương thức hòa giải cũng được thực hiện hoàn toàn dựa trên thiện chí của các bên.Tuy nhiên kết quả hòa giải cũng không được pháp luật bảo đảm thi hành, hoàn toàn phụ thuộc vào thiện chí của các bên

Đối với phương thức trọng tài: Trọng tài là quá trình giải quyết tranh

chấp do các bên tự nguyện lựa chọn trong hợp đồng và áp dụng cho tranh chấp liên quan đén thực hiện hợp đồng, bao gồm cả thực hiện CFR, trong đó bên thứ ba trung lập (trọng tài viên) sau khi nghe các bên trình bày sẽ ra một quyết định có tính bắt buộc với các bên tranh chấp

Như vậy, phương thức trọng tài do chính các bên trong tranh chấp thỏa thuận lựa chọn, nhưng sẽ được tiến hành theo quy trình pháp luật quy định Điều khoản trọng tài được coi là độc lập với các điều khoản khác của hợp đồng chính nên khi hợp đồng chính đã kết thúc hoặc bị vô hiệu thì cũng

Trang 35

không làm cho điều khoản trọng tài bị vô hiệu một cách tương ứng

Phán quyết trong tài có giá trị bắt buộc thi hành đối với các bên Các quyết định và phán quyết của trọng tài nước ngoài có thể được tòa án công nhận và cho thi hành tại Việt Nam thông qua thủ tục tư pháp Việt Nam là thành viên của Công ước New York năm 1958 về công nhận và cho thi hành phán quyết trọng tài nước ngoài, theo đó thì mỗi Quốc gia thành viên sẽ công nhận các quyết định trọng tài có giá trị ràng buộc và thi hành chúng theo quy tắc về thủ tục của lãnh thổ nơi quyết định sẽ được thi hành Do đó, phán quyết của trọng tài có tính bắt buộc thi hành với các bên, khi đã hết thời hạn tự nguyện thi hành nhưng có một trong các bên không thực hiện, bên còn lại có quyền gửi đơn yêu cầu cơ quan thi hành án dân sự cưỡng chế thi hành phán quyết của trọng tài

Tuy nhiên giải quyết bằng phương thức trọng tài đòi hỏi chi phí tương đối cao, vụ việc kéo dài thì chi phí trọng tài cũng cao Việc thi hành phán quyết của trọng tài đôi khi cũng gặp nhiều khó khăn trong thực tế do bên phải thi hành có thể viện dẫn các quy định nhằm ngăn chặn việc thi hành phán quyết

Đối với lựa chọn giải quyết bằng con đường Tòa án: Tòa án là phương

thức giải quyết tranh chấp truyền thống nhất và cũng hiệu quả nhất

Đây là phương thức có sự tham gia giải quyết của đại diện quyền lực nhà nước là Tòa án nhân dân Vì vậy quy trình giải quyết tranh chấp phải tuân thủ quy định chặt chẽ của pháp luật tố tụng Đồng thời, bản án, quyết định của Tòa án được đảm bảo thi hành bằng hệ thống cơ quan thi hành án của nhà nước

Tuy nhiên, phương án giải quyết bằng Tòa án cũng có nhiều nhược điểm, bởi phán quyết của tòa nước ngoài sẽ khó thi hành tại một nước khác vì

hệ thống luật khác nhau, đồng thời sẽ áp dụng nguyên tắc có đi có lại khi xem

Trang 36

xét yêu cầu công nhận và cho thi hành bản án quyết định của Tòa án nước ngoài tại Việt Nam hoặc theo các điều ước quốc tế mà Việt Nam ký kết Do

đó có ít trường hợp bản án, quyết định của Tòa án nước ngoài được xem xét

và công nhận tại Việt Nam

Trang 37

Tiểu kết Chương 1

Trong hợp đồng mua bán quốc tế hàng hóa, các bên có thể thỏa thuận, xây dựng các điều khoản phù hợp Trong đó điều kiện CFR theo Incoterms được các bên thống nhất sử dụng làm điều khoản quy định về tiền hàng và cước phí trong hợp đồng thương mại quốc tế, áp dụng cho vận tải biển và thủy nội địa, được các doanh nghiệp lựa chọn làm điều khoản trong hợp đồng mua bán quốc tế hàng hóa, quy định các điều khoản về giao nhận hàng hoá, trách nhiệm của các bên: Ai sẽ trả tiền vận tải, ai sẽ đảm trách các chi phí về thủ tục hải quan, bảo hiểm hàng hoá, ai chịu trách nhiệm về những tổn thất và rủi ro của hàng hoá trong quá trình vận chuyển…, thời điểm chuyển giao trách nhiệm về hàng hoá

Với điều khoản CFR của Incoterms, Chương 1 tập trung nghiên cứu về nội dung của điều kiện CFR, quyền và nghĩa vụ của các bên khi điều kiện CFR được quy định trong hợp đồng mua bán quốc tế hàng hóa, bản chất, mối quan hệ của điều khoản CFR với các điều khoản khác trong hợp đồng Hiệu lực và căn cứ để thực hiện điều khoản CFR, cơ chế giải quyết tranh chấp khi

có sự vi phạm điều khoản CFR

Nội dung nghiên cứu của Chương 1 chính là cơ sở lý luận, là tiền đề giúp nghiên cứu thực trạng thực hiện quyền và nghĩa vụ của bên bán theo điều kiện CFR trong hợp đồng mua bán quốc tế hàng hóa, thực tiễn giải quyết tranh chấp phát sinh khi thực hiện điều kiện CFR trong hợp đồng mua bán quốc tế hàng hóa, để từ đó đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả áp dụng điều kiện CFR trong hợp đồng mua bán quốc tế hàng hóa của doanh nghiệp Việt Nam

Ngày đăng: 29/11/2019, 15:11

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Chính phủ (2013), Nghị định 187/2013/NĐ-CP quy định chi tiết thi hành Luật Thương mại về hoạt động mua bán hàng hóa quốc tế và các hoạt động đại lý mua, bán, gia công và quá cảnh hàng hóa với nước ngoài, ban hành ngày 20 tháng 11 năm 2013, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị định 187/2013/NĐ-CP quy định chi tiết thi hành Luật Thương mại về hoạt động mua bán hàng hóa quốc tế và các hoạt động đại lý mua, bán, gia công và quá cảnh hàng hóa với nước ngoài
Tác giả: Chính phủ
Năm: 2013
2. Chính phủ (2017), Nghị định 163/2017/NĐ-CP quy định về kinh doanh dịch vụ logistics, ban hành ngày 30 tháng 12 năm 2017, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị định 163/2017/NĐ-CP quy định về kinh doanh dịch vụ logistics
Tác giả: Chính phủ
Năm: 2017
3. Hoàng Văn Châu (2006), Giáo trình Bảo hiểm trong kinh doanh. Nxb Lao động Xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Bảo hiểm trong kinh doanh
Tác giả: Hoàng Văn Châu
Nhà XB: Nxb Lao động Xã hội
Năm: 2006
4. Hoàng Văn Châu, Tô Bình Minh (2008), Các điều kiện thương mại quốc tế (Incoterms 2000) Giải thích và hướng dẫn sử dụng, Nxb Khoa học và Kỹ thuật Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các điều kiện thương mại quốc tế (Incoterms 2000) Giải thích và hướng dẫn sử dụng
Tác giả: Hoàng Văn Châu, Tô Bình Minh
Nhà XB: Nxb Khoa học và Kỹ thuật
Năm: 2008
5. Nguyễn Xuân Công (2009) “Hợp đồng Thương mại Quốc tế - Những nội dung doanh nghiệp cần quan tâm”,<http://moj.gov.vn/qt/tintuc/Pages/nghien-cuu-trao-doi.aspx?ItemID=1251>, (16/1/2019) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hợp đồng Thương mại Quốc tế - Những nội dung doanh nghiệp cần quan tâm
6. Nguyễn Hồng Đàm (2005), Giáo trình Vận tải và giao nhận trong Ngoại thương, Nxb Lý luận chính trị, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Vận tải và giao nhận trong Ngoại thương
Tác giả: Nguyễn Hồng Đàm
Nhà XB: Nxb Lý luận chính trị
Năm: 2005
7. Nguyễn Lệ Hằng (2003), Thực trạng và các giải pháp phát triển vận tải hàng không quốc gia, Luận văn Thạc sỹ, Đại học Ngoại thương Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thực trạng và các giải pháp phát triển vận tải hàng không quốc gia
Tác giả: Nguyễn Lệ Hằng
Năm: 2003
8. Nguyễn Văn Hồng (2010) “Những điểm mới của Incoterms 2010”, Tạp chí Kinh tế đối ngoại, số 45 tháng 12/2010 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những điểm mới của Incoterms 2010”, "Tạp chí Kinh tế đối ngoại
9. Liên hợp quốc (1958), Công ước New York về công nhận và cho thi hành phán quyết trọng tài nước ngoài, New York, Mỹ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Công ước New York về công nhận và cho thi hành phán quyết trọng tài nước ngoài
Tác giả: Liên hợp quốc
Năm: 1958
10. Liên Hợp quốc (1980), Công ước Viên về mua bán hàng hóa quốc tế, Viên, Áo Sách, tạp chí
Tiêu đề: Công ước Viên về mua bán hàng hóa quốc tế
Tác giả: Liên Hợp quốc
Năm: 1980
11. Phạm Duy Liên (2012), Giáo trình Giao dịch thương mại Quốc tế, Nxb Thống kê, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Giao dịch thương mại Quốc tế
Tác giả: Phạm Duy Liên
Nhà XB: Nxb Thống kê
Năm: 2012
12. Bùi Xuân Lưu, Nguyễn Hữu Khải (2007), Giáo trình kinh tế ngoại thương, Nxb Lao động – Xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: ), Giáo trình kinh tế ngoại thương
Tác giả: Bùi Xuân Lưu, Nguyễn Hữu Khải
Nhà XB: Nxb Lao động – Xã hội
Năm: 2007
13. Tô Bình Minh (2001), Sử dụng các điều kiện thương mại quốc tế tại Việt Nam – Thực trạng và giải pháp, Luận văn thạc sỹ, Đại học Ngoại Thương Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sử dụng các điều kiện thương mại quốc tế tại Việt Nam – Thực trạng và giải pháp
Tác giả: Tô Bình Minh
Năm: 2001
14. Nguyễn Trung Nam (2019)“Thời điểm chuyển giao rủi ro” <http://enternews.vn/thoi-diem-chuyen-giao-rui-ro-67885.html>, (16/1/2019) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thời điểm chuyển giao rủi ro
15. Phòng thương mại quốc tế (ICC) (2007), Bản quy tắc thực hành thống nhất về tín dụng chứng từ, UCP 600 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bản quy tắc thực hành thống nhất về tín dụng chứng từ
Tác giả: Phòng thương mại quốc tế (ICC)
Năm: 2007
16. Phòng thương mại quốc tế (ICC) (2010) Incoterms 2010, bản song ngữ Việt – Anh, Nxb Thông tin và Truyền thông, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Incoterms 2010
Nhà XB: Nxb Thông tin và Truyền thông
17. Quốc hội (2005), Luật thương mại số 36/2005/QH11, ban hành ngày 14 tháng 06 năm 2005, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Luật thương mại số 36/2005/QH11
Tác giả: Quốc hội
Năm: 2005
18. Quốc hội (2015), Bộ Luật dân sự số 91/2015/QH13, ban hành ngày 24 tháng 11 năm 2015, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bộ Luật dân sự số 91/2015/QH13
Tác giả: Quốc hội
Năm: 2015
19. Bá Tú (2010) “Incoterms 2010 : Lợi thế của người biết luật”, <http://enternews.vn/incoterms-2010-loi-the-cua-nguoi-biet-luat-65055.html>, (18/1/2019) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Incoterms 2010 : Lợi thế của người biết luật
20. Võ Nhật Thăng (2006) “Dòng chữ đắt giá trong một hợp đồng nhập khẩu” <http://clbthuyentruong.com/dong-chu-dat-gia-trong-mot-hop-dong-nhap-khau>, (16/1/2019) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dòng chữ đắt giá trong một hợp đồng nhập khẩu

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w