Công tác truyền thông về phòng, chống bạo lực gia đình được thực hiện dưới nhiều hình thức, thu hút sự quan tâm của quần chúng nhân dân và tạo dư luận lên án các hành có tính chất bạo lự
Trang 1VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
TRẦN THỊ THU NGUYỆT
THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH PHÒNG, CHỐNG BẠO LỰC GIA ĐÌNH TẠI HUYỆN THĂNG BÌNH
TỈNH QUẢNG NAM
LUẬN VĂN THẠC SĨ CHÍNH SÁCH CÔNG
HÀ NỘI, năm 2019
Trang 2VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
TRẦN THỊ THU NGUYỆT
THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH PHÒNG, CHỐNG BẠO LỰC GIA ĐÌNH TẠI HUYỆN THĂNG BÌNH
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình do tôi tự nghiên cứu; các số liệu trong Luận văn có cơ sở rõ ràng và trung thực Kết luận của Luận văn chưa từng được công bố trong các công trình khác
Quảng Nam, ngày tháng 8 năm 2019
Tác giả luận văn
TRẦN THỊ THU NGUYỆT
Trang 4MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1 CHƯƠNG 1: CÁC VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH PHÒNG, CHỐNG BẠO LỰC GIA ĐÌNH 8
1.1 Các khái niệm 8 1.2 Quan điểm về phòng, chống bạo lực gia đình 14 1.3 Nội dung chủ yếu của chính sách phòng, chống bạo lực gia đình của Việt Nam hiện nay 17 1.4 Những yêu cầu cơ bản trong tổ chức thực hiện chính sách Phòng chống bạo lực gia đình 21 1.5 Nội dung cụ thể trong tổ chức thực hiện chính sách Phòng, chống bạo lực gia đình 22 1.6 Các yếu tố ảnh hưởng đến việc tổ chức thực hiện chính sách phòng, chống bạo lực gia đình 26
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG BẠO LỰC GIA ĐÌNH VÀ VIỆC TRIỂN KHAI THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH PHÒNG CHỐNG BẠO LỰC GIA ĐÌNH TẠI HUYỆN THĂNG BÌNH, TỈNH QUẢNG NAM 31
2.1 Một số đặc điểm kinh tế, văn hóa, xã hội huyện Thăng Bình, tỉnh Quảng Nam 31 2.2 Thực trạng bạo lực gia đình tại huyện Thăng Bình, tỉnh Quảng Nam năm 2013-2018 36 2.3 Thực trạng thực hiện chính sách phòng, chống bạo lực gia đình tại huyện Thăng Bình, tỉnh Quảng Nam 5 năm qua 37 2.4 Kết quả thực hiện chính sách Phòng, chống bạo lực gia đình tại huyện Thăng Bình 47
Trang 5CHƯƠNG 3: QUAN ĐIỂM, GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ VIỆC THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH PHÒNG, CHỐNG BẠO LỰC GIA ĐÌNH TẠI HUYỆN THĂNG BÌNH, TỈNH QUẢNG NAM 52
3.1 Quan điểm 52 3.2 Giải pháp nâng cao hiệu quả thực hiện chính sách phòng chống bạo lực gia đình 53
KẾT LUẬN 70
TÀI LIỆU THAM KHẢO
Trang 7MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Gia đình là nơi trú ngụ của hạnh phúc, cái nôi nuôi dưỡng và giáo dục trẻ thơ, nơi trở về sau ngày mưu sinh, là bến đỗ bình yên đối với mỗi con người Tuy nhiên, mỗi gia đình đều có những nguy cơ và tác động bởi nhiều các yếu tố khác nhau, nhất là yếu tố về bạo lực gia đình Dù ở bất cứ nơi đâu, trong bất cứ hoàn cảnh nào, bạo lực gia đình không chỉ để lại hậu quả về thể chất, tinh thần mà còn về mặt kinh tế - xã hội, làm xói mòn các giá trị, chuẩn mực, truyền thống tốt đẹp của dân tộc, phá vỡ sự bền vững của gia đình
Bạo lực gia đình có hưởng tiêu cực đối tất cả các thành viên gia đình,
kể cả đối với trẻ em chứng kiến bạo lực cũng như các em lớn lên trong một môi trường nhiều xung đột, thiếu hạnh phúc Bạo lực gia đình thường được che dấu để người ngoài không thấy được và không thể hoặc rất khó khăn trong việc tác động để bảo vệ nạn nhân Ngày nay, BLGĐ không phải là vấn
đề mang tính địa phương mà là một vấn nạn toàn cầu, ở đâu cũng có, từ các nước nghèo, đang phát triển cho đến giàu có, mọi gia đình thuộc mọi tầng lớp của xã hội đều có thể gặp phải tệ nạn này Bạo lực gia đình có thể xảy ra với bất cứ ai trong gia đình, nhưng chủ yếu là nhóm thành viên là phụ nữ, trẻ em – đây là nhóm thanh viên bị bạo lực song lại cam chịu, ít chia sẻ, do vậy nên bạo lực thường kéo dài và để lại hậu quả nặng nề, đặc biệt là hậu quả về mặt tâm lý
Trong thời gian gần đây, công tác phòng chống bạo lực gia đình ngày càng hoàn thiện hơn cả về hệ thống văn bản và cơ chế phòng ngừa Hầu hết, các điều khoản chứa đựng các quy định về phòng chống bạo lực gia đình được đưa vào các Luật gốc, cơ bản: Hiến pháp, Bộ luật Dân sự, Luật Hôn nhân và Gia đình, Luật Trẻ em, Luật Bình đẳng giới, Luật Phòng, chống bạo lực gia đình, một số luật khác và các văn bản dưới luật có liên quan Tuy
Trang 8nhiên, trước những tác động tiêu cực của nền kinh tế thị trường, gia đình Việt Nam đang phải đối mặt với nhiều thách thức, trong đó có vấn đề bạo lực gia đình
Trong những năm qua, công tác thực hiện chính sách phòng, chống bạo lực gia đình tại huyện Thăng Bình, tỉnh Quảng Nam nhìn chung đã được cấp
ủy Đảng, chính quyền địa phương quan tâm và thu được một số kết quả bước đầu đáng ghi nhận Công tác truyền thông về phòng, chống bạo lực gia đình được thực hiện dưới nhiều hình thức, thu hút sự quan tâm của quần chúng nhân dân và tạo dư luận lên án các hành có tính chất bạo lực; các cơ quan chuyên môn, các phòng, ban và các tổ chức chính trị - xã hội đã tích cực, chủ động triển khai một cách đồng bộ đã góp phần nâng cao hiệu quả thực hiện chính sách phòng chống bạo lực gia đình Tuy nhiên, bên cạnh những kết qủa đạt được thì việc thực thi chính sách phòng, chống bạo lực gia đình vẫn còn nhiều hạn chế, bất cập như: Bạo lực trong gia đình vẫn còn tồn tại dưới nhiều hình thức, từ việc sử dụng sức lực, vật dụng để đánh đập gây thương tích, tổn hại về thể chất cho các thành viên khác; dùng quyền lực để kiểm soát, khống chế, cấm đoán các thành viên khác về nhiều mặt… việc bố trí ngân sách cho công tác phòng, chống bạo lực gia đình chưa nhiều Bên cạnh đó, việc xử lý các đối tượng gây bạo lực gia đình của chính quyền cơ sở ở một số địa phương còn mang yếu tố duy trì, dẫn đến những đối tượng gây bạo lực gia đình coi nhẹ pháp luật và không chấm dứt hành vi… Cơ chế phối hợp liên ngành trong việc thực thi Luật Phòng, chống bạo lực gia đình chưa thực sự chặt chẽ, còn mang tính hình thức
Xuất phát từ ý nghĩa, tầm quan trọng của việc thực hiện chính sách phòng, chống bạo lực gia đình; đồng thời xuất phát từ thực tiễn địa phương và lĩnh vực
tôi đang công tác; tôi lựa chọn đề tài “Thực hiện chính sách phòng, chống bạo
lực gia đình tại huyện Thăng Bình, tỉnh Quảng Nam” là đề tài nghiên cứu tốt
nghiệp chương trình đào tạo thạc sĩ chuyên ngành chính sách công
Trang 92 Tình hình nghiên cứu đề tài
Bạo lực gia đình không phải là vấn đề mới mẻ, mà là hiện tượng xã hội
có tính lịch sử và xuất hiện nhiều nơi trên thế giới Bạo lực gia đình và phòng,
chống bạo lực gia đình là vấn đề thu hút được sự quan tâm nghiên cứu của
nhiều tác giả trong và ngoài nước Một số công trình nghiên cứu được công
- Nhận thức và thái độ của cộng đồng đối với BLGĐ- đề xuất giải pháp của TS Nguyễn Thế Hùng, Phó chủ nhiệm Ủy ban Dân số - Gia đình-Trẻ
em Hà Nội và PGS.TS Nguyễn Trí Dũng, Phó Viện Trưởng Viện Xã hội học
và Tâm lý lãnh đạo, quản lý Học viện Chính trị Quốc gia HCM;
- Bình luận khoa học Luật Hôn nhân và gia đình” của tác giả Nguyễn Ngọc Điện;
- Pháp luật quốc tế về phòng, chống bạo lực gia đình đối với phụ nữ” của tác giả Trần Thị Hòe;
- Bạo lực đối với phụ nữ và trẻ em - thực trạng và nguyên nhân” của Ngô Thị Hường, Đại học Luật Hà Nội;
Ngoài ra, còn nhiều bài nghiên cứu đăng trên các tạp chí khoa học, các Luận văn, đề tài đã được nghiệm thu liên quan đến vấn đề BLGĐ Nhìn chung, các công trình nêu trên đã phân tích, đánh giá vấn đề BLGĐ dưới nhiều góc độ khác nhau Tuy nhiên nghiên cứu một cách có hệ thống vấn đề thực hiện chính sách phòng, chống bạo lực gia đình dưới góc độ chính sách công về phòng, chống bạo lực gia đình ở huyện Thăng Bình, tỉnh Quảng Nam đến nay hầu như chưa có Trong khi đó, để chính sách có thể đi vào cuộc
Trang 10sống; một mặt có thể tạo cơ chế giúp đỡ cho nạn nhân bạo lực gia đình, mặt khác có giá trị phòng ngừa tình trạng bạo lực gia đình có thể xảy ra Xuất phát từ lý luận và thực tiễn địa phương cũng như phù hợp với yêu cầu thực tiễn công tác, tôi lựa chọn đề tài trên là thực sự cần thiết về cả mặt lý luận và thực tiễn
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Mục đích nghiên cứu
Đánh giá tình hình triển khai các chính sách phòng chống bạo lực gia đình tại huyện Thăng Bình, tỉnh Quảng Nam nhằm đề xuất một số giải pháp nâng cao hiệu quả thực hiện chính sách phòng, chống bạo lực gia đình tại địa
phương trong thời gian tới
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Phân tích, làm rõ thêm cơ sở lý luận về chính sách phòng, chống bạo lực gia đình trên cơ sở hệ thống hóa quan điểm chủ nghĩa Mác - Lê Nin, tư tưởng Hồ Chí Minh của Đảng và quy định của Nhà nước ta
- Phân tích thực trạng thực hiện chính sách phòng, chống bạo lực gia đình tại huyện Thăng Bình trong giai đoạn năm 2013 – 2018
- Nhận diện những hạn chế cần khắc phục và tìm ra những nguyên nhân hạn chế đó
- Đề xuất một số giải pháp nâng cao hiệu quả thực hiện chính sách
phòng, chống bạo lực gia đình tại địa phương trong thời gian tới
4 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Luận văn tập trung nghiên cứu việc thực hiện chính sách phòng, chống bạo lực gia đình tại huyện Thăng Bình, tỉnh Quảng Nam
4.2 Phạm vi nghiên cứu
Phạm vi không gian: Luận văn nghiên cứu việc thực hiện chính sách phòng, chống bạo lực gia đình tại huyện Thăng Bình, tỉnh Quảng Nam
Trang 11Phạm vi thời gian: Luận văn nghiên cứu thực trạng thực hiện chính sách phòng, chống bạo lực gia đình tại huyện Thăng Bình, tỉnh Quảng Nam từ năm
5.2 Phương pháp nghiên cứu
Các phương pháp nghiên cứu sử dụng trong luận văn gồm:
(1) Phương pháp tổng quan tài liệu
- Phương pháp tổng quan tài liệu được sử dụng để phân tích, tổng hợp nội dung các chính sách và quá trình cụ thể hóa, đưa chính sách phòng, chống bạo lực gia đình vào thực tiễn tại huyện Thăng Bình, tỉnh Quảng Nam
Các tài liệu được tham khảo gồm có: các văn bản luật pháp, chính sách
về phòng, chống bạo lực gia đình, các nghiên cứu đã có đánh giá về việc thực hiện các chính sách về phòng, chống bạo lực gia đình
(2) Phương pháp phân tích số liệu thống kê
- Phương pháp phân tích số liệu thống kê được sử dụng nhằm phân tích thực trạng bạo lực gia đình ở địa phương, thực trang triển khai các chính sách, hoạt động phòng chống bạo lực gia đình ở địa phương Trên cơ sở đó, cung cấp dữ liệu đánh giá hiệu quả việc thực thi chính sách phòng chống bạo lực gia đình ở huyện Thăng Bình, tỉnh Quảng Nam
- Các số liệu thống kê bao gồm: số liệu thống kê cấp huyện và cấp xã
về số vụ bạo lực gia đình, số các hoạt động, dịch vụ phòng chống bạo lực gia đình, số các văn bản luật pháp có liên quan, lồng ghép bạo lực gia đình,
(3) Phương pháp phỏng vấn sâu
Trang 12- Phương pháp Phỏng vấn sâu được thực hiên nhằm thu thập thông tin
về tình hình thực hiện chính sách phòng, chống bạo lực gia đình ở địa phương, cung cấp thông tin cụ thể lý giải những thuận lợi/ khó khăn gặp phải trong quá trình thực thi, những yếu tố tác động và những kết quả đạt được
Đối tượng phỏng vấn sâu;
Cán bộ thực hiện chính sách phòng, chống bạo lực gia đình tại huyện Thăng Bình (cấp huyện, xã); cán bộ thực hiện nhiệm vụ Bình đẳng giới tại Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội huyện; Cán bộ văn hóa - xã hội cấp xã/thị trấn, thu thập thông tin và đánh giá quá trình thực hiện chính sách để có đánh giá, phân tích từ phía người thực thi chính sách
Số lượng phỏng vấn: Dự kiến, phỏng vấn Thành viên Ban chỉ đạo Vì sự tiến bộ phụ nữ huyện; Thành viên Ban chỉ đạo vì sự tiến bộ phụ nữ cấp xã: Tổng số 18 người
6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
6.1 Ý nghĩa lý luận
Luận văn vận dụng lý thuyết về chính sách công để đánh giá việc thực hiện chính sách phòng, chống bạo lực gia đình; từ đó chỉ ra những bất cập của quá trình thực hiện chính sách và góp phần hoàn thiện thêm cơ sở lý luận về xây dựng chính sách phòng, chống bạo lực gia đình
6.2 Ý nghĩa thực tiễn
Đề xuất được các giải pháp thiết thực, hữu hiệu góp phần nâng cao hiệu quả thực hiện chính sách phòng, chống bạo lực gia đình nói chung và tại huyện Thăng Bình nói riêng Đồng thời, luận văn sẽ góp phần làm phong phú hơn nguồn tư liệu phục vụ cho hoạt động học tập và nghiên cứu khoa học, là một nguồn tài liệu tham khảo cho các đề tài, các nghiên cứu có cùng chủ đề, cùng đối tượng nghiên cứu với đề tài này
Trang 137 Cơ cấu của luận văn
Chương 1 Các vấn đề lý luận về thực hiện chính sách phòng, chống bạo lực gia đình
Chương 2 Thực trạng thực hiện chính sách phòng, chống bạo lực gia đình tại huyện Thăng Bình, tỉnh Quảng Nam
Chương 3 Quan điểm, giải pháp hoàn thiện, nâng cao hiệu quả tổ chức thực hiện chính sách phòng, chống bạo lực gia đình tại huyện Thăng Bình, tỉnh Quảng Nam
Trang 14CHƯƠNG 1 CÁC VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH PHÒNG,
CHỐNG BẠO LỰC GIA ĐÌNH
1.1 Các khái niệm
1.1.1.Gia đình
Luật Hôn nhân và gia đình Việt Nam năm 2014 quan niệm: Gia đình là
tập hợp những người gắn bó với nhau do hôn nhân, quan hệ huyết thống hoặc quan hệ nuôi dưỡng, làm phát sinh các quyền và nghĩa vụ giữa họ với nhau theo quy định của Luật (Chương I, Điều 3, khoản 2) [30]
Gia đình vừa là nơi Không giống bất cứ nhóm xã hội nào khác, gia đình
có sự đan xen các yếu tố sinh học, kinh tế, tâm lý, văn hóa… Những mối liên
hệ cơ bản của gia đình bao gồm vợ chồng, cha mẹ và con, ông bà và cháu, những mối liên hệ khác: cô, dì, chú, bác với cháu, cha mẹ chồng và con dâu, cha mẹ vợ và con rể… Mối quan hệ gia đình được thể hiện ở các khía cạnh như: có đời sống tình dục, sinh con và nuôi dạy con cái, lao động tạo ra của cải vật chất để duy trì đời sống gia đình và đóng góp cho xã hội Mối liên hệ này có thể dựa trên những căn cứ pháp lý hoặc có thể dựa trên những căn cứ thực tế một cách tự nhiên, tự phát
Trong thực tế ở mỗi quốc gia, mỗi gia đình có văn hóa và lối sống khác nhau nên có rất nhiều định nghĩa về gia đình Khó có thể đưa ra một định nghĩa chung hoàn hảo Luận văn này sử dụng khái niệm gia đình được đề cập trong Luật Hôn nhân và gia đình Việt Nam năm 2014
1.1.2 Bạo lực gia đình
Bạo lực gia đình là một dạng thức của bạo lực xã hội, Điều 1 Luật Phòng, chống bạo lực gia đình 2007 quy định bạo lực gia đình là "Bạo lực gia đình là hành vi cố ý của thành viên gia đình gây tổn hại hoặc có khả năng gây tổn hại về thể chất, tinh thần, kinh tế đối với các thành viên khác trong gia
Trang 15đình"[29] Nếu nhìn nhận về hình thức biểu hiện của bạo lực gia đình thì tà có thể chia thành các hình thức chủ yếu sau:
- Bạo lực về thể chất: là hành vi ngược đãi, đánh đập thành viên gia đình, làm tổn thương tới sức khỏe, tính mạng của họ
- Bạo lực về tinh thần: là những lời nói, thái độ, hành vi làm tổn thương tới danh dự, nhân phẩm, tâm lý của thành viên gia đình
- Bạo lực về kinh tế: là hành vi xâm phạm tới các quyền lợi về kinh tế của thành viên gia đình (quyền sở hữu tài sản, quyền tự do lao động…)
- Bạo lực về tình dục: là hành vi cưỡng dâm, ép sinh con
Mỗi hình thức bạo lực có thể được biểu hiện dưới nhiều hành vi khác nhau Hiểu một cách thông dụng thì bạo lực gia đình là một thuật ngữ dùng để chỉ các hành vi bạo lực giữa các thành viên trong cùng một gia đình Đây là hiện tượng một hay nhiều thành viên dùng quyền lực và bạo lực trong cả một quá trình để thực hiện hành vi làm cho người khác đau đớn về thể xác, bị khủng hoảng về tinh thần và bị bế tắc về mặt xã hội nhằm khuất phục, khống chế và kiểm soát người đó Như vậy, chúng ta nhận thấy bạo lực gia đình có thể xảy ra ở nới văn minh, hiện đại hoặc lạc hậu
Các đặc điểm chung nhất của hành vi bạo lực gia đình:
+ Thứ nhất, bạo lực gia đình là hành vi bạo lực xảy ra giữa các thành viên trong gia đình tức là chủ thể có hành vi bạo lực gia đình (người gây ra bạo lực gia đình) phải là thành viên trong gia đình và nạn nhân của bạo lực gia đình là một trong những thành viên còn lại của gia đình đó
+ Thứ hai, các hành vi bạo lực gia đình đều được thực hiện cố ý, biết được hậu qủa xong vẫn mong muốn hậu quả xảy ra
+ Thứ ba, bạo lực gia đình là hành vi gây tổn hại hoặc có khả năng gây tổn hại về thể chất, tinh thần, kinh tế đối với thành viên khác trong gia đình
Bạo lực gia đình không phải là vấn đề mang tính địa phương, vùng miền mà là một vấn đề toàn cầu, ở đâu cũng có, xuất hiện trong mọi gia đình
Trang 16Đối tượng bạo lực gia đình có cả nam lẫn nữ, nhưng thường là những thành viên yếu đuối
1.1.3 Phòng, chống bạo lực gia đình
* Khái niệm phòng bạo lực gia đình
Phòng bạo lực gia đình nhằm mục đích tìm ra được những biện pháp tác động và quy luật phát sinh, tồn tại và phát triển của bạo bực gia đình, đồng thời khắc phục được nguyên nhân và điều kiện xuất hiện bạo lực gia đình Phòng bạo lực gia đình và sự cần thiết của phòng bạo lực gia đình là để bảo
vệ, duy trì trật sự và công bằng xã hội, góp phần bảo vệ các lợi ích chung của cộng đồng, của xã hội
Bạo lực gia đình phát sinh, tồn tại là do những nguyên nhân và điều kiện khác nhau, song chúng ta hoàn toàn có khả năng tiến hành phòng ngừa
và ngăn chặn hành vi bạo lực gia đình khi nó chưa xảy ra Quan điểm này thể hiện phương châm rất quan trọng là lấy giáo dục, phòng ngừa là chính, phòng ngừa tốt cũng chính là chống bạo lực gia đình tốt Yêu cầu là phải phòng bạo lực gia đình ngay từ lúc đầu, làm cho bạo lực gia đình ít xảy ra hơn và tiến tới không xảy ra bạo lực gia đình hay xử lý bạo lực gia đình chỉ là hãn hữu, là việc làm bất đắc dĩ
Do đó, phòng bạo lực gia đình cần lấy việc tuyên truyền, phổ biến giáo dục pháp luật là quan trọng, hàng đầu Thực hiện tư tưởng phòng ngừa này thì phòng bạo lực gia đình được coi là nhiệm vụ chung của các cấp, các ngành và toàn xã hội
* Khái niệm chống bạo lực gia đình
Khi bạo lực gia đình đã tiến triển lên mức độ trầm trọng hơn, tần suất cũng như cường độ mạnh hơn, hoặc ở vào tình thế nguy hiểm thì nạn nhân thường nhờ cậy các tổ chức đoàn thể, chính quyền, công an, với hy vọng là các tổ chức này gây áp lực và có biện pháp hữu hiệu cũng như mong muốn chống lại bạo lực gia đình Kết hợp và thực hiện đồng bộ các biện pháp chống
Trang 17bạo lực gia đình, lấy phòng ngừa là chính, chú trọng công tác tuyên truyền, giáo dục về gia đình, tư vấn, hòa giải phù hợp với truyền thống văn hóa, phong tục, tập quán tốt đẹp của dân tộc Việt Nam
Xuất phát từ thực tế quan hệ trong gia đình thường mang tính khép kín, với các thành viên gia đình cũng như những người xung quanh, việc trong gia đình thì người ngoài ít có cơ hội xen vào Vì thế, những vụ việc bạo hành gia đình thường khó phát hiện, khi bị phát hiện cũng khó xử lý bởi tâm lý e ngại của nạn nhân và cả những người biết chuyện, và thậm chí nếu xử lý rồi thì khả năng tái diễn cũng rất cao vì để tìm ra biện pháp ngăn chặn phù hợp là không dễ
Pháp luật luôn hướng tới việc ngăn chặn các hành vi phạm tội trước khi xảy ra để giữ gìn trật tự, tránh những tổn thất cho cộng đồng và xã hội Riêng trong lĩnh vực chống bạo lực gia đình thì việc phòng ngừa càng có ý nghĩa quan trọng Bởi vì, tâm lý của người Việt Nam luôn cho rằng: “Xấu chàng hổ ai”, hay “Tốt đẹp thì phô ra, xấu xa thì đậy lại”, tố cáo người trong gia đình có khi lại làm tổn thương, ảnh hưởng người khác, do vậy chính bản thân người bị bạo lực lại hay che giấu, chịu đựng Vì vậy, cần phải lấy phòng ngừa là chính trong hoạt động chống bạo lực gia đình Bên cạnh đó, hành vi bạo lực càng kéo dài thì càng gây ra nhiều tổn thương cho nạn nhân, tổn hại tới mối quan
hệ gia đình Điều này sẽ được hạn chế rất nhiều nếu hành vi bị phát hiện và
xử lý kịp thời Do đó, cần phát huy vai trò, trách nhiệm của cá nhân, gia đình, cộng đồng, cơ quan, tổ chức trong chống bạo lực gia đình Bạo lực gia đình
từ lâu đã không còn là vấn đề của mỗi gia đình mà còn tiềm ẩn nhiều nguy cơ gây mất ổn định xã hội, do đó việc chống bạo lực gia đình là trách nhiệm chung của cộng đồng chứ không chỉ là của nhà nước và những người có liên quan Việc chống bạo lực gia đình vốn gặp nhiều khó khăn khi triển khai trên thực tế, do không có nhiều chủ thể tích cực tham gia công tác này vì nhận thức không đúng tầm quan trọng, ý nghĩa của nó Điều đó một lần nữa khẳng
Trang 18định tầm quan trọng cũng như sự cần thiết của việc phát huy vai trò, trách nhiệm của cá nhân, gia đình, cộng đồng, cơ quan, tổ chức trong việc phòng chống bạo lực gia đình
1.1.4 Chính sách phòng, chống bạo lực gia đình
Thực tế có rất nhiều các nhìn nhận, định nghĩa về chính sách: Theo từ điển Bách khoa Việt Nam (1995), “Chính sách là những chuẩn tắc cụ thể để thực hiện đường lối, nhiệm vụ của chủ thể quản lý tác động lên đối tượng quản lý trong một thời gian nhất định và đạt được mục tiêu nhất định của chủ thể quản lý…” [24, tr.475]
Hay nói cách khác, CSC là chính sách của nhà nước đối với khu vực
công cộng, phản ánh bản chất, tính chất của nhà nước và chế độ chính trị trong đó nhà nước tồn tại; đồng thời phản ánh ý chí, quan điểm, thái độ, cách
xử sự của đảng chính trị phục vụ cho mục đích của đảng, lợi ích và nhu cầu của nhân dân Nhà nước dựa trên nền tảng nhân dân, là chủ thể đại diện cho quyền lực của nhân dân ban hành CSC
Như vậy đặc trưng của chính sách công là do nhà nước chủ động xây dựng để tác động trực tiếp lên các đối tượng quản lý một cách tương đối ổn định, cho thấy bản chất của chính sách công là công cụ định hướng cho hành
vi của các cá nhân, tổ chức phù hợp với thái độ chính trị của nhà nước trong việc giải quyết những vấn đề phát sinh trong đời sống xã hội Điều kiện tồn tại của một chính sách công là tổng hoà những tác động tích cực của hệ thống thể chế do nhà nước thiết lập và tinh thần nghiêm túc thực hiện, tự chủ, sáng tạo của các chủ thể tham gia giải quyết vấn đề chính sách trong một phạm vi không gian và thời gian nhất định Điều kiện bảo đảm cho sự tồn tại được thể hiện bằng các nguồn lực con người, nguồn lực tài chính, môi trường chính trị, pháp lý, văn hóa xã hội và cả sự bảo đảm bằng nhà nước
Từ các quan niệm trên, chính sách công được xem là một trong những
căn cứ đo lường năng lực hoạch định chính sách, xác định mục tiêu, căn cứ
Trang 19kiểm tra, đánh giá, xác định trách nhiệm trong việc sử dụng nguồn lực công như ngân sách nhà nước, tài sản công, tài nguyên đất nước Như vậy, bản chất của chính sách công là công cụ để Nhà nước thực hiện các hoạt động liên quan đến công dân và can thiệp vào mọi hành vi xã hội trong quá trình phát
triển
Trên cơ sở đó, khái niệm về chính sách công được dùng trong luận văn là: “Chính sách công là một tập hợp các quyết định có liên quan để lựa chọn mục tiêu và những giải pháp, công cụ chính sách nhằm giải quyết các vấn đề
chính sách theo mục tiêu tổng thể đã xác định của đảng chính trị cầm quyền”
Qua các định nghĩa trên, khái niệm “Chính sách Phòng, chống bạo lực gia đình” được hiểu trong luận văn “Chính sách Phòng, chống bạo lực gia đình là tập hợp các quyết định, đề án, dự án của nhà nước có liên quan để lựa chọn mục tiêu và giải pháp, công cụ chính sách nhằm giải quyết các vấn
đề chính sách Phòng, chống bạo lực gia đình theo mục tiêu tổng thể đã xác định”
1.1.5 Tổ chức thực hiện chính sách Phòng chống bạo lực gia đình
Tổ chức thực hiện chính sách PCBLGĐ là quá trình hiện thực hóa đưa chính sách PCBLGĐ vào thực tiễn cuộc sống
Tổ chức thực hiện chính sách công nói chung, chính sách PCBLGĐ nói riêng là yếu tố khách quan để duy trì công cụ chính sách theo yêu cầu QL của
NN và cũng là để đạt được mục tiêu đề ra của chính sách Tổ chức thực hiện chính sách PCBLGĐ là một khâu hợp thành chu trình chính sách PCBLGĐ, thiếu vắng công đoạn này thì chu trình chính sách không tồn tại Tổ chức thực hiện chính sách PCBLGĐ là trung tâm kết nối các bước trong chu trình chính sách PCBLGĐ thành một hệ thống, nhất là với bước xây dựng chính sách Nếu chính sách PCBLGĐ không được thực hiện đúng sẽ ảnh hưởng đến an sinh xã hội, dẫn đến thiếu niềm tin, phản ứng tiêu cực của người dân đối với nhà nước Nếu sự mất niềm tin kéo dài sẽ dẫn đến sự phản kháng, mất ổn định
Trang 20chính trị, gây khó khăn cho nhà quản lý Trong quá trình tổ chức thực hiện, từ hoạt động thực tiễn sẽ sẽ góp phần điều chỉnh, bổ sung và hoàn thiện chính sách cho phù hợp với cuộc sống Như vậy, tổ chức thực hiện chính sách PCBLGĐ là yêu cầu, nhiệm vụ tất yếu khách quan, là yếu tố quyết định thành công hay không của chính sách
1.2 Quan điểm về phòng, chống bạo lực gia đình
1.2.1 Quan điểm về phòng, chống bạo lực gia đình của quốc tế
Bạo lực gia đình là một vấn đề toàn cầu và có lẽ là hành vi vi phạm các quyền con người phổ biến và được xã hội khoan dung nhất Nó bao gồm tất cả các hình thức bạo lực về thể chất, tinh thần và kinh tế Đặc trưng cơ bản của BLG là nó bắt nguồn từ mối quan hệ quyền lực bất bình đẳng giữa con người với nhau dựa trên những quy phạm, cấu trúc và vai trò xã hội đang tồn tại có ảnh hưởng tới cuộc sống của nam và nữ giới Mặc dù BLG có thể ảnh hưởng tới cả nam và nữ, nhưng nó chủ yếu xẩy ra đối với phụ nữ và trẻ em gái
Trên thế giới, BLG được coi là một vấn đề ưu tiên cơ bản liên quan tới sức khỏe của người dân với những khía cạnh pháp lý, xã hội, văn hóa, kinh tế
và tâm lý Nó cần được tất cả các chính phủ quan tâm, phù hợp với những cam kết của họ về thực hiện các Mục tiêu Phát triển Thiên niên kỷ (MDG) và thực hiện các quyền cơ bản của con người được quy định trong các công ước quốc tế Kể từ Hội nghị Quốc tế về Dân số và Phát triển năm 1994 (ICPD) và Hội nghị Thế giới về Phụ nữ lần thứ 4 năm 1995, xóa bỏ bạo lực đối với phụ
nữ đã trở thành một nội dung quan trọng trong hoạt động của Liên hợp quốc trên toàn thế giới Đặc biệt, Quỹ Dân số Liên hợp quốc (UNFPA) có vai trò nổi bật trong hệ thống LHQ trong việc thúc đẩy bình đẳng giới (BĐG), nâng cao quyền năng cho phụ nữ và phòng, chống BLG, chính là phòng tránh BLG phải gắn liền với việc cải thiện sức khỏe sinh sản cho phụ nữ, đặc biệt trên hết
là địa vị của họ trong xã hội
Trọng tâm của UNFPA vẫn là giải quyết vấn đề bạo lực đối với phụ nữ
Trang 21và trẻ em gái, vì tuyệt đại đa số những đối tượng này bị bạo hành Phụ nữ và trẻ em gái không chỉ có nguy cơ cao về BLG, mà họ còn phải chịu nhiều hậu quả nghiêm trọng hơn so với những gì mà nam giới chịu đựng Do sự phân biệt giới và địa vị kinh tế-xã hội của họ thấp kém hơn, nên phụ nữ ít có cơ hội
và nguồn lực hơn để có thể giúp họ tránh hoặc thoát khỏi những trường hợp bị lạm dụng và tìm kiếm công lý Họ cũng phải chịu những hệ lụy liên quan tới sức khỏe tình dục (SKTD) và sức khỏe sinh sản (SKSS), bao gồm cả việc mang thai cưỡng bức và ngoài ý muốn, nạo phá thai không an toàn và tử vong
do những hậu quả liên quan, chấn thương do bị rò âm đạo, các bệnh lây truyền qua đường tình dục và HIV UNFPA tập trung nỗ lực xóa bỏ mọi hình thức bạo lực đối với phụ nữ và trẻ em gái, đặc biệt phù hợp với sứ mệnh của mình là xây dựng chương trình về các vấn đề liên quan đến SKSS như bạo lực gia đình, bạo lực tình dục và các tập quán có hại
Tuyên bố của LHQ về Xóa bỏ Bạo lực đối với Phụ nữ (1993) đưa ra định nghĩa về bạo lực đối với phụ nữ như sau: “Bất kỳ hành vi bạo lực nào dựa trên cơ sở giới dẫn tới hoặc có khả năng dẫn tới sự phương hại hoặc gây
ra sự chịu đựng về thể chất, tình dục, tâm lý cho phụ nữ, bao gồm cả những hành vi đe dọa thực hiện những hành vi trên, sự cưỡng bức, hoặc tước đoạt tự
do một cách tùy tiện, bất kể trong đời sống sinh hoạt công hay cá nhân” Hành
vi như vậy bao gồm cả hành vi bạo lực trong gia đình, hay còn gọi là bạo lực gia đình (BLGĐ)
1.2.2 Quan điểm về phòng, chống bạo lực gia đình của Việt Nam
Quán triệt tinh thần “Xây dựng gia đình no ấm, tiến bộ, hạnh phúc” đã được Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI của Đảng tiếp nối nhằm khẳng định một lần nữa quan điểm nhất quán của Đảng, Nhà nước ta về vấn đề gia đình và xây dựng gia đình văn hóa; thật sự là tế bào lành mạnh của xã hội, là môi trường quan trọng, trực tiếp giáo dục nếp sống và hình thành nhân cách
Thể chế hóa chủ trương, đường lối của Đảng về gia đình, trong những
Trang 22năm qua, Đảng và Nhà nước ta đã ban hành nhiều văn bản pháp luật thể hiện
rõ quan điểm này, như: Hiến pháp năm 2013 của nước CHXHCN Việt Nam; Chỉ thị số 49/CT-TW ngày 21/2/2005 của Ban Bí thư Trung ương Đảng về xây dựng gia đình trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa; Nghị quyết số 48/NQ-TW ngày 24/5/2005 của Bộ Chính trị về chiến lược xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam, trong đó có pháp luật về dân số, gia đình, trẻ em và chính sách xã hội Hiến pháp 2013 quy định các vấn đề chung, có tính nguyên tắc liên quan đến gia đình tại Điều 16 (mọi người đều bình đẳng trước pháp luật; không ai bị phân biệt đối xử trong đời sống chính trị, dân sự, kinh tế, văn hóa, xã hội) và Điều 26 (công dân nam nữ bình đẳng về mọi mặt; Nhà nước có chính sách bảo đảm quyền và cơ hội bình đẳng giới; Nhà nước,
xã hội và gia đình tạo điều kiện để phụ nữ phát triển toàn diện, phát huy vai trò của mình trong xã hội) Bên cạnh đó, một số nội dung liên quan đến gia đình, bình đẳng giới cũng đã được Hiến định trong một số điều, khoản của các Chương II Quyền con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân và Chương III Kinh tế, xã hội, văn hóa, giáo dục, khoa học, công nghệ và môi trường[32]
Luật Hôn nhân và gia đình được Quốc hội ban hành vào ngày 19/6/2014 Luật này quy định chế độ hôn nhân và gia đình; chuẩn mực pháp
lý cho cách ứng xử giữa các thành viên trong gia đình; trách nhiệm của cá nhân, tổ chức, Nhà nước và xã hội trong việc xây dựng, củng cố chế độ hôn nhân và gia đình
Luật Bình đẳng giới được Quốc hội thông qua ngày 29/11/2006, có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2007 Luật quy định biện pháp bảo đảm bình đẳng giới, trách nhiệm của cơ quan, tổ chức, gia đình, cá nhân trong việc thực hiện bình đẳng giới
Luật Phòng, chống bạo lưc gia đình được Quốc hội thông qua vào ngày 21/11/2007, có hiệu lực thi hành ngày 01/8/2008
Trang 23Quyết định số 363/QĐ-TTg ngày 08/3/2016 của Thủ tướng Chính phủ, Quyết định tháng hành động quốc gia về phòng, chống bạo lực gia đình Chính phủ quy định tháng 11 hằng năm là “Tháng hành động về phòng, chống bạo lực gia đình
Chính phủ ban hành Quyết định số 215/QĐ-TTg, Ngày 06/02/2014 phê duyệt “Chương trình hành động quốc gia về phòng, chống bạo lực gia đình đến năm 2020” nhằm mục tiêu tạo sự chuyển biến mạnh mẽ về nhận thức và nâng cao trách nhiệm của các cấp, các ngành, gia đình, cộng đồng và toàn xã hội trong công tác phòng, chống bạo lực gia đình; qua đó, từng bước ngăn chặn và giảm dần số vụ bạo lực gia đình trên phạm vi toàn quốc
Trong các văn kiện, văn bản quy phạm pháp luật này, có những điểm, điều khoản quy định rất cụ thể về quyền được bảo vệ, quyền bình đẳng về mọi mặt cũng như những điều cấm liên quan đến bạo hành với phụ nữ Điều 21, Luật Hôn nhân và gia đình quy định các biện pháp ngăn chặn và xử lý những hành vi BLGĐ của chồng đối với vợ, con hoặc ngược lại… Nghị định số 08/2008/NĐ-CP ngày 04-02-2009, Quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Phòng, chống BLGĐ, đã quy định tại Điều 8: không cho phép người có hành vi BLGĐ thực hiện các hành vi đến gần nạn nhân trong khoảng cách dưới 30m; trừ trường hợp giữa người có hành vi BLGĐ và nạn nhân có sự ngăn cách như tường, hàng rào hoặc các vật ngăn cách khác, bảo đảm đủ an toàn cho nạn nhân; sử dụng điện thoại, fax, thư điện tử hoặc các phương tiện thông tin khác để thực hiện hành vi bạo lực với nạn nhân…
1.3 Nội dung chủ yếu của chính sách phòng, chống bạo lực gia đình của Việt Nam hiện nay
1.3.1 Chính sách phòng ngừa bạo lực gia đình
Có thể thấy rằng, phòng ngừa là một biện pháp rất quan trọng và có tác dụng lớn trong việc ngăn chặn và đẩy lùi bạo lực gia đình Để ngăn ngừa và
xử lý có hiệu quả về bạo lực gia đình, Luật Phòng, chống bạo lực gia đình chú
Trang 24trọng tới các giải pháp giáo dục tại cộng đồng bởi vì khi ý thức và kiến thức của các cá nhân trong xã hội về pháp luật hôn nhân và gia đình; về pháp luật phòng, chống bạo lực gia đình được nâng cao sẽ là điều kiện quan trọng nhất
để tránh được bạo lực gia đình xảy ra Luật còn chú trọng tới việc phát huy hết khả năng và vai trò của gia đình, dòng họ; bạo lực gia đình cần được phát hiện và xử lý sớm từ mâu thuẫn xích mích nhỏ, không để phát sinh thành mâu thuẫn lớn gây bạo lực gia đình Việc xử lý xích mích mâu thuẫn nhỏ thông qua các biện pháp hoà giải cơ sở Tuỳ theo từng sự việc mà việc hoà giải do gia đình, dòng họ tiến hành hay cơ quan, tổ chức tiến hành hoặc do tổ chức hoà giải cơ sở tiến hành Quy định này rất quan trọng nhằm phát huy vai trò
và trách nhiệm của cộng đồng đối với mỗi thành viên trong xã hội, phát huy được tính dân chủ trong nhân dân, từ đó góp phần thay đổi nhận thức và nâng cao ý thức pháp luật, trình độ hiểu biết pháp luật đặc biệt là pháp luật về phòng, chống bạo lực gia đình Các hoạt động cụ thể mà Nhà nước đưa ra nhằm thực hiện hoạt động phòng ngừa bạo lực gia đình, đó là:
Các hình thức thông tin, tuyên truyền Trong công tác thông tin tuyên truyền có thể sử dụng nhiều hình thức khác nhau lồng ghép trong việc giảng dạy, học tập thông qua hoạt động văn học, nghệ thuật, sinh hoạt cộng đồng và các loại hình văn hoá quần chúng khác
Hoạt động hòa giải mâu thuẫn, tranh chấp giữa các thành viên trong gia đình cũng là một trong các hoạt ðộng nhằm phòng ngừa bạo lực gia đình xảy
ra mà Luật quy định Người tham gia hòa giải có thể là thành viên gia đình, dòng họ, cơ quan, tổ chức, cơ sở tiến hành
Ngoài ra, còn có hoạt động tư vấn về gia đình để cung cấp kiến thức, kỹ năng ứng xử phi bạo lực cho các thành viên gia đình Việc tư vấn về gia đình
ở cơ sở tập trung vào các đối tượng sau đây: a) Người có hành vi bạo lực gia đình; b) Nạn nhân bạo lực gia đình; c) Người nghiện rượu, ma tuý, đánh bạc; d) Người chuẩn bị kết hôn UBND cấp xã chủ trì phối hợp với Ủy ban Mặt
Trang 25trân Tổ quốc Việt Nam cùng cấp và các tổ chức thành viên (hội phụ nữ, hội nông dân, đoàn thanh niên,…), cộng đồng dân cư tổ chức thực hiện tư vấn về gia đình ở cơ sở
1.3.2 Chính sách can thiệp, giải quyết bạo lực gia đình
* Quyền của nạn nhân bị bạo lực gia đình:
Khi xảy ra hành vi bạo lực gia đình, nạn nhân bị bạo lực gia đình, theo quy định tại Điều 5 Luật Phòng chống bạo lực gia đình, nạn nhân bị bạo lực gia đình có thể:
- Yêu cầu được bảo vệ sức khỏe, tính mạng, nhân phẩm, quyền và lợi ích hợp pháp khác của mình
- Yêu cầu ngăn chặn, bảo vệ, cấm tiếp xúc theo quy định của Luật PCBLGĐ
Trong trường hợp, hành vi bạo lực gia đình xảy ra thường xuyên với mức độ ngày càng nghiêm trọng làm ảnh hưởng đến tính mạng, sức khỏe và tinh thần của nạn nhân, khiến cho cuộc hôn nhân không thể cứu vãn được nữa, theo quy định tại Điều 51 Luật Hôn nhân và gia đình, nạn nhân hoặc người nhà nạn nhân bị bạo lực gia đình có thể gửi đơn đến Tòa án yêu cầu giải quyết ly hôn
Nạn nhân bị bạo lực gia đình rất cần sự giúp đỡ của cộng đồng xã hội Hành vi bạo lực đã xảy ra trong gia đình thì những thành viên gia đình vì những mối quan hệ với người thực hiện hành vi sẽ rất khó có sự can thiệp mạnh mẽ, dứt khoát cần thiết để bảo vệ nạn nhân Do đó, nạn nhân cần sự giúp đỡ của các cơ quan, tổ chức, người có thẩm quyền để bảo vệ, sức khỏe, tính mạng, nhân phẩm, quyền và lợi ích hợp pháp của mình
* Chính sách ngăn chặn, bảo vệ nạn nhân bị bạo lực gia đình:
Để phòng chống bạo lực gia đình người phát hiện bạo lực gia đình kịp thời báo tin cho cơ quan gần nhất hoặc Uỷ ban nhân dân cấp xã hoặc người đứng đầu cộng đồng dân cư nơi xảy ra vụ việc Cơ quan công an, ủy ban nhân
Trang 26dân hoặc người đứng đầu cộng đồng dân cư khi phát hiện hoặc nhận được tin báo về vụ việc bạo lực gia đình thì phải kịp thời xử lý hoặc yêu cầu cơ quan
có thẩm quyền xử lý
Cơ quan có thẩm quyền áp dụng các biện pháp ngăn chặn, bảo vệ để kịp thời giúp bảo vệ nạn nhận bị bạo lực gia đình, chấm dứt các hành vi bạo lực gia đình và giảm thiểu hậu quả do hành vi đó gây ra Các biện pháp này bao gồm: Buộc chấm dứt ngay hành vi bạo lực gia đình; Cấp cứu nạn nhân bạo lực gia đình; Các biện pháp ngăn chặn theo quy định của pháp luật về xử
lý vi phạm hành chính hoặc pháp luật về tố tụng hình sự đối với người có hành vi bạo lực gia đình; Cấm người có hành vi bạo lực gia đình đến gần nạn nhân, sử dụng điện thoại hoặc các phương tiện thông tin khác để có hành vi bạo lực với nạn nhân hay còn gọi là biện pháp cấm tiếp xúc theo quyết định của Uỷ ban nhân dân cấp xã và quyết định của Tòa án; Những người có mặt tại nơi xảy ra bạo lực gia đình tuỳ theo tính chất, mức độ của hành vi bạo lực
và khả năng của mình có trách nhiệm thực hiện các biện pháp buộc chấm dứt hành vi bạo lực gia đình va cấp cứu nạn nhân
Như vậy, khi bị bạo lực gia đình, nạn nhân hoặc người nhà nạn nhân phải báo ngay với cơ quan công an nơi gần nhất hoặc ủy ban nhân dân xã hoặc trưởng thôn hay tổ trưởng tổ dân phố để có thể kịp thời được can thiệp
và có biện pháp xử lý
* Chính sách hỗ trợ nạn nhân bị bạo lực gia đình:
+ Chăm sóc nạn nhân bạo lực gia đình tại cơ sở khám chữa bệnh: Khi khám, điều trị tại các cơ sở khám chữa bệnh, nạn nhân bạo lực gia đình được xác nhận việc khám và điều trị nếu có yêu cầu Chi phí cho việc khám và điều trị đối với nạn nhân bạo lực gia đình do Quỹ bảo hiểm y tế chi trả đối với người có bảo hiểm y tế Tùy theo khả năng và điều kiện thực tế, cơ sở khám chữa bệnh có thể bố trí nơi tạm lánh cho nạn nhân bạo lực gia đình trong thời gian không quá 1 ngày theo yêu cầu của nạn nhân
Trang 27+ Tư vấn cho nạn nhân bạo lực gia đình: Nạn nhân bạo lực gia đình được tư vấn về chăm sóc sức khỏe, ứng xử trong gia đình, pháp luật và tâm lý
để giải quyết tình trạng bạo lực gia đình Tùy thuộc vào chức năng nhiệm vụ của mình, các cơ sở: cơ sở khám bệnh, chữa bệnh, cơ sở bảo trợ xã hội (thuộc
Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội), cơ sở tư vấn về phòng chống bạo lực gia đình, địa chỉ tin cậy ở cộng đồng có trách nhiệm tư vấn phù hợp cho nạn nhân bạo lực gia đình
1.4 Những yêu cầu cơ bản trong tổ chức thực hiện chính sách Phòng chống bạo lực gia đình
1.4.1 Yêu cầu thực hiện đúng mục tiêu chính sách
Chính sách PCBLGĐ là một chính sách có thời gian thực hiện dài, bởi
lẽ vấn đề bạo lực gia đình là vấn đề xã hội, mỗi môi trường sống bên cạnh những giá trị tích cực thì luôn có những yếu tố tiêu cực phát sinh do nhiều nguyên nhân
Mục tiêu của chính sách là PCBLGĐ: hạn chế mức thấp nhất tình trạng bạo lực gia đình xảy ra, xây dựng gia đình ấm no, tiến bộ, hạnh phúc; can thiệp kipjt hời các trường hợp bị bạo lực gia đình Chất lượng cuộc sống ngày càng nâng lên, các giá trị văn hóa, chuẩn mực đạo đức được coi trong, giữ gìn
và phát huy; những yếu tố tiêu cực không có môi trường, điều kiện sinh sôi nảy nở
1.4.2 Yêu cầu đảm bảo tính hệ thống trong thực hiện chính sách
Việc tổ chức thực hiện chính sách PCBLGĐ huy động sự tham gia của nhiều chủ thể: các cơ quan, tổ chức trọng bộ máy chính trị của nhà nước; các
tổ chức phi chính phủ; tổ chức chính trị -xã hội; tổ chức nghề nghiệp Do vậy, việc tổ chức thực hiện chính sách đều được thực hiện nhất quán, đồng bộ
từ nội dung tuyên truyền, chất lượng tuyên truyền, chính sách hỗ trợ, hoạt động can thiệp đều được đảm bảo thống nhất ở mọi địa phương
Trang 281.4.3 Yêu cầu đảm bảo tính pháp lý trong tổ chức thực hiện chính sách
Việc tổ chức triển khai thực hiện chính sách PCBLGĐ được đảm bảo bởi cơ sở pháp lý vững chắc, như: Luật Phòng, chống bạo lực gia đình; Luật Hôn nhân gia đình; Luật Bình đẳng giới … và các văn bản pháp quy hướng dẫn thực thi đều đảm bảo tính pháp lý và khoa học, gắn với thực tiễn
Bên cạnh đó, việc thi chính sách được nhà nước đảm bảo thực hiện bởi nguồn lực tài chính, cơ chế huy động và sử dụng tài chính để việc thực hiện chính sách không vướng mắc, bất cập Tuy nhiên, mỗi một chính sách đều có giá trị phù hợp với một điều kiện lịch sử nhất định, do vậy, khi môi trường thực thi chính sách có sự thay đổi thì Nhà nước kịp thời sửa đổi, bổ sung các điều kiện thực thi chính sách cho phù hợp với yêu cầu thực tiễn
1.5.Nội dung cụ thể trong tổ chức thực hiện chính sách Phòng, chống bạo lực gia đình
1.5.1 Xây dựng Kế hoạch thực hiện chính sách
Kế hoạch triển khai là việc xác định phương hướng, nhiệm vụ, chỉ tiêu,
biện pháp, các hoạt động cụ thể để tiến hành thực hiện nhiệm vụ công tác PCBLGĐ của từng ngành, cơ quan, đơn vị, địa phương nói riêng Theo nguyên tắc, kế hoạch mỗi khi đã được cấp có thẩm quyền phê duyệt thì nó bắt buộc các cơ quan, đơn vị hữu quan triển khai thực hiện và hoàn thành đúng thời hạn Kế hoạch đề ra (hoặc được giao) có được hoàn thành tốt và đúng thời hạn hay không là căn cứ chủ yếu để đánh giá mức độ hoàn thành nhiệm
vụ được giao của một cơ quan, đơn vị
Tổ chức thực hiện chính sách PCBLGĐ là nhiệm vụ quan trọng, có sự tham gia của nhiều ngành, địa phương, các tổ chức hội xã hội, chính trị do vậy cần phải có kế hoạch để các ngành, địa phương căn cứ để thực hiện; cũng như kinh phí phân bổ để đảm bảo các hoạt động được thực hiện theo đúng tiến độ, yêu cầu Do đó, kế hoạch phải đảm bảo các yêu cầu sau:
Trang 29- Kế hoạch phải phù hợp với chức năng, nhiệm vụ của cơ quan tổ chức: Phải dự kiến các cơ quan chủ trì và phối hợp triển khai thực hiện chính sách,
số lượng và chất lượng nhân sự tham gia tổ chức thực thi chính sách, quyền
và trách nhiệm của cán bộ quản lý và cán bộ thực thi chính sách, cơ chế tác động của giữa cơ quan, đơn vị trong tổ chức thực hiện chính sách
- Kế hoạch phải đáp ứng được chủ trương quyết định của cấp trên
- Nội dung của kế hoạch cần chỉ rõ danh mục những công việc dự kiến, nguồn lực (nhân lực, vật lực, tài lực) và phải thể hiện rõ các mục tiêu, nhiệm
vụ, biện pháp và tiến độ cụ thể đối với từng việc, như: Dự kiến về cơ sở vật chất, trang thiết bị kỹ thuật phục vụ tổ chức thực hiện chính sách, các nguồn lực tài chính, vật tư văn phòng phẩm…Dự kiến thời gian duy trì chính sách,
dự kiến thời gian thực hiện các bước tổ chức triển khai thực hiện chính sách
từ tuyên truyền, phổ biến chính sách đến tổng kết đánh giá rút kinh nghiệm thực hiện chính sách Mỗi bước phải nêu rõ mục tiêu cần đạt được và thời gian dự kiến cho việc thực hiện mục tiêu; Dự kiến về tiến độ, hình thức, phương pháp kiểm tra, giám sát tổ chức thực hiện chính sách hoặc có thể được xem xét điều chỉnh nếu kế hoạch đó không phù hợp với tình hình thực tế; việc điều chỉnh kế hoạch cũng do cấp có thẩm quyền thông qua kế hoạch quyết định
1.5.2 Phổ biến tuyên truyền thực hiện chính sách
Phổ biến, tuyên truyền thực hiện chính sách là bước thứ hai Phổ biến tuyên truyền chính sách tốt sẽ giúp các chủ thể tham gia, đối tượng hướng tới của chính sách và mọi người dân tham gia thực thi hiểu rõ về mục đích, ý nghĩa, tầm quan trọng và yêu cầu của chính sách, về tính đúng đắn của chính sách trong điều kiện hoàn cảnh nhất định và về tính khả thi của chính sách…
để họ tự giác thực hiện theo yêu cầu của NN; đồng thời còn giúp cho chủ thể
có trách nhiệm tổ chức thực hiện chính sách nhận thức được đầy đủ tính chất,
độ phức tạp, quy mô của chính sách; qua đó để họ chủ động tích cực tìm kiếm
Trang 30các giải pháp thích hợp cho việc triển khai thực hiện có hiệu quả kế hoạch thực hiện chính sách được giao
1.5.3 Phân công phối hợp thực hiện chính sách
Bước thứ 3 là phân công, phối hợp thực hiện Chính sách PCBLGĐ có
số lượng tham gia rất lớn, bao gồm các đối tượng tác động của chính sách PCBLGĐ: Cấp ủy chính quyền các cấp; các cơ quan chuyên môn thuộc UBND các cấp; Hội Phục nữ các cấp Bên cạnh đó, các hoạt động nhằm thực hiện mục tiêu của chính sách PCBLGĐ diễn ra cũng hết sức phong phú, phức tạp theo không gian và thời gian Bởi vậy, muốn tổ chức thực thi chính sách công có hiệu quả phải tiến hành phân công, phối hợp giữa các cơ quan quản lý ngành, các cấp chính quyền địa phương, các yếu tố tham gia thực thi chính sách và các quá trình ảnh hưởng đến thực hiện mục tiêu chính sách Trong thực tế thường hay phân công cơ quan chủ trì và cơ quan phối hợp thực hiện một chính sách công cụ thể nào đó
Hoạt động phân công, phối hợp diễn ra theo tiến trình thực hiện chính sách một cách chủ động, sáng tạo để luôn duy trì chính sách được ổn định, góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả chính sách
1.5.4 Đôn đốc, kiểm tra, theo dõi chính sách
Vì tổ chức thực hiện chính sách PCBLGĐ diễn ra trên địa bàn rộng lớn, trong cả nước và do nhiều cơ quan, tổ chức, cá nhân tham gia, các điều kiện
về khác nhau, cũng như trình độ, năng lực, tổ chức điều hành của các cán bộ, công chức trong các cơ quan nhà nước không đồng đều Do vậy các cơ quan
NN có thẩm quyền và trách nhiệm phải tiến hành đôn đốc, theo dõi, kiểm tra việc thực hiện chính sách
Kiểm tra tổ chức thực hiện chính sách PCBLGĐ với mục đích phòng ngừa các vi phạm sai sót có thể xảy ra trong quá trình tổ chức thực hiện chính sách, đồng thời xử lý nghiêm khắc các vi phạm và sai sót đã xảy ra
Kiểm tra thực hiện chính sách PCBLGĐ thường xuyên sẽ giúp cho các
Trang 31nhà quản lý nắm chắc tình hình thực hiện chính sách, từ đó đánh giá được khách quan về những thuận lợi, khó khăn trong tổ chức thực hiện chính sách, giúp người quản lý phát hiện những thiếu sót, những bất cập trong công tác lập kế hoạch tổ chức thực hiện chính sách để kịp thời điều chỉnh, tạo điều kiện phối hợp nhịp nhàng các hoạt động độc lập của các cơ quan, đối tương thực thi chính sách, tạo ra sự tập trung thống nhất trong việc thực hiện mục tiêu, giải pháp chính sách, kịp thời khuyến khích những nhân tố tích cực trong
tổ chức thực hiện chính sách PCBLGĐ
Như vậy đôn đốc, theo dõi, kiểm tra thực hiện chính sách PCBLGĐ có tác dụng kịp thời bổ sung hoàn thiện chính sách và chấn chỉnh hoàn thiện công tác tổ chức thực hiện chính sách, giúp cho việc nâng cao hiệu lực, hiệu quả thực hiện mục tiêu chính sách
1.5.4 Đánh giá, tổng kết thực hiện chính sách
Tổng kết, đánh giá, rút kinh nghiệm thực hiện chính sách PCBLGĐ là bước rất quan trọng và cần thiết Chỉ trên cơ sở tổng kết, đánh giá rút kinh nghiệm tổ chức thực hiện chính sách một cách nghiêm túc mới biết được chính xác kết quả thực tiễn thực hiện chính sách, tổng hợp được những khó khăn, tồn tại, vướng mắc, xác định được nguyên nhân chủ quan và khách quan của tồn tại, hạn chế trong quá trình thực hiện chính sách
1.5.6 Duy trì chính sách
Đối với các cơ quan NN, phải thường xuyên quan tâm tuyên truyền, vận động toàn xã hội tích cực tham gia thực thi chính sách Nếu việc thực thi chính sách gặp phải những khó khăn do môi trường thực tế biến động, thì các
cơ quan NN sử dụng hệ thống công cụ quản lý tác động nhằm tạo lập môi trường thuận lợi cho việc thực thi chính sách; đồng thời chủ động điều chỉnh chính sách cho phù hợp với hoàn cảnh mới Những hoạt động đồng bộ của các chủ thể tham gia thực hiện chính sách sẽ góp phần tích cực vào việc duy trì chính sách PCBLGĐ trong đời sống xã hội
Trang 321.5.7 Điều chỉnh chính sách
Cơ quan nào thực thi thì cơ quan đó điều chỉnh chính sách cho phù hợp với điều kiện thực tế; mặt dù trong việc điều chỉnh chính sách diễn ra rất năng động, nhưng các cơ quan nhà nước cần chủ động điều chỉnh đảm bảo theo quy định và đúng mục tiêu đề ra
1.6 Các yếu tố ảnh hưởng đến việc tổ chức thực hiện chính sách phòng, chống bạo lực gia đình
1.6.1 Yếu tố chính trị
Hệ thống chính trị là trụ cột của nền chính trị xã hội của nước ta dưới
sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam Trong Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủnghĩa xã hội do đại hội VII thông qua, đã xác định rõ mục tiêu tổng quát của hệ thống chính trị: "Toàn bộ tổ chức và hoạt động của hệ thống chính trị nước ta trong giai đoạn mới là nhằm xây dựng và từng bước hoàn thiện nền dân chủ xã hội chủ nghĩa, bảo đảm quyền lực thuộc về nhân dân" Văn kiện Đại hội XII đồng thời xác định: “Tăng cường xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh, nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng, xây dựng hệ thống chính trị vững mạnh
Các bộ phận cấu thành hệ thống chính trị hoạt động có hiệu lực và hiệu quả cao hơn, khắc phục bệnh quan liêu, hình thức, trên cơ sở xác định rõ, thực hiện đúng chức năng, nhiệm vụ của từng tổ chức và xác lập cơ chế vận hành thông suốt, chặt chẽ của cả hệ thống dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam Đảng Cộng sản Việt Nam có vai trò quyết định đến thành công của
sự nghiệp xây dựng và phát triển đất nước, tạo ra sự ổn định và trật tự xã hội trong đó góp phần bảo đảm, hạn chế vi phạm pháp luật xảy ra trong xã hội Vì vậy, trong công cuộc đổi mới, Đảng phải không ngừng nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng, làm cho Đảng ta ngày càng nâng tầm trí tuệ, bảo đảm sự trong sạch, vững mạnh Một mặt, Đảng cần nâng cao năng lực hoạch định đường lối, chính sách để có nhiều đường lối, chủ trương
Trang 33chính sách phù hợp với thực tiễn đời sống và nguyện vọng của nhân dân; nâng cao năng lực tổ chức chỉ đạo thực hiện; năng lực nghiên cứu lý luận, tổng kết thực tiễn, tạo sự thống nhất nhận thức và hành động trong Đảng; năng lực lãnh đạo Mặt trận và các đoàn thể nhân dân, tăng cường mối quan
hệ gắn bó mật thiết với nhân dân Đảng lãnh đạo Nhà nước nhưng không làm thay Nhà nước mà nâng cao tính chủ động, sáng tạo trong hoạt động của Nhà nước Đảng hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật Một hệ thống pháp luật hoàn thiện sẽ đảm bảo hạn chế được tình trạng vi phạm pháp luật trong lĩnh vực phòng, chống bạo lực gia đình Với nhiệm vụ chính trị của mình, Nhà nước Cộng hòa XHCN Việt Nam cũng cần đổi mới, thể chế hoá,
cụ thể hoá và tổ chức thực hiện đường lối của Đảng, quản lý toàn diện xã hội
và đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng Nhà nước cần ban hành các chính sách, pháp luật phản ánh ý chí, là tổng hoà ý chí của nhân dân, phản ánh thực tiễn đời sống xã hội nhằm nâng cao mọi mặt đời sống của nhân dân; quản lý nhà nước đạt được hiệu lực và hiệu quả Các bộ phận hợp thành hệ thống chính trị
và hoạt động của các bộ phận đó đã tạo nên sự thống nhất và thành công của
hệ thống chính trị nước ta Sự phát triển của hệ thống chính trị và các thể chế chính trị, sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản đối với Nhà nước và hệ thống chính trị thống nhất là những bảo đảm, ngăn chặn, đẩy lùi tình trạng vi phạm pháp luật phòng, chống bạo lực gia đình
1.6.2 Yếu tố kinh tế
Phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa là một sự đột phá về tư duy lý luận của Đảng ta Đại hội VI (1986) đã đánh dấu sự đổi mới toàn diện, cả cấu trúc và cơ chế vận hành của nền kinh tế với nội dung chính là từ bỏ cơ chế kế hoạch hoá tập trung, phát triển nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần, vận hành theo cơ chế thị trường, có sự quản lý của Nhà nước, theo định hướng xã hội chủ nghĩa Đây là một nhận thức mới, là cơ
sở kinh tế của sự phát triển theo định hướng xã hội chủ nghĩa Kế thừa tư
Trang 34duy Đại hội IX, Đại hội X, Đại hội XI, Đại hội XII đã làm sáng tỏ thêm một bước nội dung cơ bản của định hướng xã hội chủ nghĩa trong phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa
Với những ưu điểm của mình, dưới sự lãnh đạo của Đảng, sự quản lý của Nhà nước, sự làm chủ của nhân dân, nền kinh tế nước ta đã có sự phát triển vượt bậc và tăng trưởng khá nhanh, đời sống của nhân dân được cải thiện và nâng cao rõ rệt Nền kinh tế phát triển là yếu tố quan trọng tạo sự phát triển cho xã hội, nâng cao mức sống và thoả mãn nhu cầu vật chất của nhân dân lao động Điều này sẽ là điều kiện quan trọng đảm bảo, hạn chế vi phạm pháp luật phòng, chống bạo lực gia đình Nghèo đói là một trong những nguyên nhân dẫn đến tình trạng vi phạm pháp luật phòng, chống bạo lực gia đình Vì vậy, phát triển kinh tế là yếu tố trực tiếp tạo sự ổn định cho xã hội; nâng cao nhận thức của nhân dân, nhu cầu của con người dần được thoả mãn Điều này quyết định đến việc thực hiện hành vi của con người phù hợp với yêu cầu, đòi hỏi của pháp luật và như vậy, hiện tượng vi phạm pháp luật sẽ được hạn chế và dần bị đẩy lùi Mặt khác, khi kinh tế phát triển sẽ là yếu tố tác động đến pháp luật, làm cho pháp luật phòng, chống bạo lực gia đình ngày càng hoàn thiện trong điều kiện kinh tế mới
1.6.3 Yếu tố tư tưởng
Một trong những nguyên nhân dẫn đến vi phạm pháp luật phòng, chống bạo lực gia đình là do nhận thức của nhân dân còn thấp Chính vì vậy, để ngăn chặn, hạn chế vi phạm pháp luật phòng, chống bạo lực gia đình thì không thể xem nhẹ yếu tố tư tưởng Vì vậy, cần đề cao và đẩy mạnh công tác giáo dục, đào tạo con người mới xã hội chủ nghĩa Khi trong xã hội, mỗi công dân đều
có trình độ chính trị, trình độ văn hoá và ý thức pháp luật cao thì sẽ có ý thức tuân thủ pháp luật và thực hiện theo những yêu cầu, đòi hỏi của pháp luật Khi
đó, vi phạm pháp luật trong lĩnh vực phòng, chống bạo lực gia đình hoặc bạo lực gia đình sẽ bị hạn chế và đẩy lùi
Trang 351.6.4 Yếu tố pháp lý
Việt Nam đang tiếp tục hoàn thiện và xây dựng Nhà nước pháp quyền
xã hội chủ nghĩa của dân, do dân và vì dân Pháp luật có vai trò rất quan trọng điều chỉnh các mối quan hệ xã hội, đảm bảo trật tự an toàn xã hội Nếu một một hệ thống pháp luật phòng, chống bạo lực gia đình hoàn thiện, đầy đủ,
sẽ đảm bảo ngăn chặn, hạn chế vi phạm pháp luật Tuy nhiên, để công cuộc phòng chống bạo lực trong gia đình đạt hiệu quả thì ngoài một hệ thống pháp luật đầy đủ, có tính khả thi thì cần có các văn bản pháp luật khác điều chỉnh các mối quan hệ trong gia đình để mọi người có thể tự bảo vệ mình tránh xảy
ra bạo lực gia đình
1.6.5 Yếu tố xã hội
Một xã hội phát triển, ổn định, có sự tham gia hoạt động xã hội của các
tổ chức và đoàn thể quần chúng sẽ tạo ra những bảo đảm về mặt xã hội cho việc hạn chế vi phạm pháp luật phòng, chống bạo lực gia đình Mỗi công dân
sẽ phát huy quyền làm chủ của mình đối với đất nước, đối với xã hội; mỗi tổ chức sẽ phát huy khả năng tập hợp lực lượng, tạo ra khối đoàn kết chặt chẽ trong xã hội nhằm phát huy sức mạnh của tập thể Cả xã hội liên kết gắn bó chặt chẽ với nhau tạo nên một sức mạnh lớn mà sức mạnh đó có thể đẩy lùi sự xuất hiện của vi phạm pháp luật phòng, chống bạo lực gia đình Nếu như, nhà nước tạo ra các cơ chế bảo đảm cho pháp luật đi vào đời sống, thì xã hội chính là môi trường nuôi dưỡng pháp luật đó, đảm bảo cho pháp luật hiện hữu
và có sức sống Do đó, trong lĩnh vực phòng, chống bạo lực trong gia đình, xã hội luôn luôn được xem là cái nôi cho sự phát triển lành mạnh của gia đình
và là cơ sở, là tiền đề để Nhà nước cũng như mọi cá nhân, tổ chức tỏ thái
độ và có hành vi phản ứng lại với những hành vi vi phạm pháp luật, phát hiện
ra những hành vi vi phạm pháp luật cũng như bảo vệ, che chắn cho người phụ
nữ thoát khỏi nạn bạo hành gia đình Nạn bạo lực gia đình chỉ có thể bị hạn chế nếu xã hội, cộng đồng lên tiếng bảo vệ và thực sự chung tay, góp sức chống lại nó
Trang 36Tiểu kết Chương 1
Bạo lực gia đình và phòng, chống bạo lực gia đình đang được nhiều quốc gia quan tâm, lên án Mỗi quốc gia đều có những chính sách riêng để hạn chế mức thấp nhất bạo lực gia đình có thể xảy ra Trong Chương 1, tác giả đã đề cập tới những khái niệm, những ván đề lý luận cơ bản về phòng chống bạo lực gia đình như: Bạo lực gia đình, Phòng bạo lực gia đình, chống bạo lực gia đình; chính sách về phòng chống bạo lực gia đình; các bước trong chu trình thực hiện chính sách phòng chống bạo lực gia đình, các yếu tố ảnh hưởng tới việc thực hiện chính sách bạo lực gia đình Chương 1 sẽ là cơ sở
để Chương 2, Chương 3 phân tích, đánh giá đúng thực trạng và đề ra những giải pháp, biện pháp hữu hiệu nâng cao hiệu quả của việc thực hiện chính sách Phòng, chống bạo lực gia đình tại huyện Thăng Bình, tỉnh Quảng Nam
Trang 37CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG BẠO LỰC GIA ĐÌNH VÀ VIỆC TRIỂN KHAI THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH PHÒNG CHỐNG BẠO LỰC GIA ĐÌNH
TẠI HUYỆN THĂNG BÌNH, TỈNH QUẢNG NAM
2.1 Một số đặc điểm kinh tế, văn hóa, xã hội huyện Thăng Bình, tỉnh Quảng Nam
2.1.1 Đặc điểm kinh tế - xã hội
Thăng Bình là huyện nằm ở Đông Bắc tỉnh Quảng Nam, cách thành phố Tam Kỳ 25 km về phía Bắc, cách Phố cổ Hội An theo đường dọc biển chưa đầy 10 km về phía Nam Phía Bắc giáp Huyện Duy Xuyên, Quế Sơn, phía Nam giáp Phú Ninh và TP Tam Kỳ, phía Tây giáp huyện Hiệp Đức và Quế Sơn, phía Đông giáp Biển Đông Huyện có 21 xã và 1 thị trấn
Diện tích đất đai toàn huyện là 385,6 km2, tổng dân số tính đến cuối năm 2017 khoảng 49.639 hộ, 181.611 người
b Tình hình kinh tế
Kinh tế của huyện tiếp tục tăng trưởng khá, tổng giá trị sản xuất các
ngành kinh tế năm 2017 trên địa bàn huyện đạt 7.294 tỷ đồng (theo giá so sánh
Trang 382010), tốc độ tăng trưởng đạt 16,49%/năm Cơ cấu giá trị sản xuất chuyển
dịch theo hướng tăng dần tỷ trọng công nghiệp - xây dựng, thương mại và dịch vụ; hiệu quả sản xuất nông nghiệp từng bước được nâng lên; tỷ trọng giữa các ngành Nông nghiệp, Công nghiệp - Xây dựng, Thương mại - Dịch vụ tương ứng là 23,6% - 31,5% - 44,9% Thu nhập bình quân đầu người đạt 28,9 triệu đồng/năm
Đa số người dân địa bàn huyện lao động lĩnh vực liên quan đến nông nghiệp và nguồn thu nhập chủ yếu từ hoạt động nông nghiệp Toàn huyện phát triển được 01 khu công nghiệp tại Bình Phục thu hút khoảng 15 xí nghiệp may gia công các loại, giải quyết việc làm cho 5.000 lao động trẻ chủ yếu là nữ tại địa phương và các địa phương lân cận Toàn huyện có 2 xã vùng Đông còn hưởng chính sách của các xã bãi ngang và 01 xã vùng Tây hưởng chính sách của xã miền núi
c Tình hình văn hóa - xã hội:
Hệ thống giáo dục: Ngày càng được mở rộng, toàn huyện có 05 trường
trung học phổ thông, 76 trường trung học cơ sở, tiểu học và mẫu giáo Với việc hoàn thiện hệ thống giáo dục từ những cấp thấp nhất sẽ tạo điều kiện để Thăng Bình xóa bỏ tình trạng lực lượng lao động tuy nhiều nhưng chất lượng thấp Công tác dạy nghề được triển khai rộng khắp và có tiến bộ về chất lượng, bình quân hằng năm giải quyết việc làm cho khoảng 2.000- 2.500 lao động; liên kết xuất khẩu lao động được 270 người; tỷ lệ lao động qua đào tạo
nghề đạt 35,61%; số lao động phi nông nghiệp đạt 35% Với 64% lao động
chưa qua một trường lớp đào tạo nào, số lao động đã qua đào tạo cũng không đáp ứng được nhu cầu của sản xuất công nghiệp, dịch vụ và chuyên môn hoá trong các doanh nghiệp trên địa bàn Trình độ tay nghề, chuyên môn kỹ thuật, ngoại ngữ đang là vật cản để người lao động ở Thăng Bình tìm được việc làm có thu nhập cao
Hệ thống chăm sóc y tế: Các chương trình về y tế, chăm sóc sức khỏe
Trang 39người dân, phòng ngừa dịch bệnh được triển khai thực hiện thường xuyên và đặc biệt là trong các dịp lễ, tết; trong những năm gần đây không để dịch bệnh nguy hiểm diễn ra Toàn huyện có 01 bệnh viện đa khoa Thăng Hoa, 01 trung tâm y tế huyện Thăng Bình, 01 trung tâm y tế dự phòng, và 22 trạm y tế cấp
xã, đến năm 2017 có 21 trạm y tế xã đạt chuẩn quốc gia Tổng số bác sĩ đến
nay có 65 người, đạt 3,51 bác sĩ/vạn dân (NQ đề ra đến năm 2020 có 4 bác sĩ/vạn dân); tổng số giường bệnh tại các bệnh viện là 395 giường, đạt 21,35
giường/vạn dân
* Công tác giảm nghèo- an sinh xã hội
Sau khi Nghị quyết số 02-NQ/TU của Tỉnh ủy về đẩy mạnh công tác giảm nghèo bền vững, giai đoạn 2016 – 2020 trên địa bàn tỉnh được ban hành, Huyện ủy đã tổ chức quán triệt Nghị quyết đến cán bộ chủ chốt và cơ sở, đồng thời xây dựng và ban hành Chương trình hành động số 08-CTr/HU ngày 30/8/2016 về triển khai thực hiện Nghị quyết 02-NQ/TU của Tỉnh ủy Trong
03 năm qua, các ngành, các cấp trên địa bàn huyện đã tập trung lãnh đạo, chỉ đạo, phối hợp với các hội đoàn thể huyện đôn đốc thực thực hiện chương trình giảm nghèo gắn với thực hiện chương trình xây dựng nông thôn mới, đô thị văn minh Nhiều mô hình thiết thực, hiệu quả được triển khai, như: tổ chức các lớp đào tạo nghề; cho vay vốn ủy thác; tổ chức diễn đàn, các buổi tọa đàm
“Lắng nghe ý kiến hộ nghèo”, “bàn giải pháp giúp hộ nghèo phát triển kinh tế”, “đồng hành với thanh niên lập thân, lập nghiệp”; các mô hình “hủ gạo tình thương”, “nuôi heo đất, “ngày thứ 7 tình nguyện”, “tuổi trẻ sáng tạo”… Qua đó đã vận động đoàn viên, hội viên và toàn xã hội chung tay hỗ trợ, giúp
đỡ hộ nghèo, hộ cận nghèo vươn lên thoát nghèo bền vững; tạo sự lan tỏa và nâng cao ý nghĩa nhân văn của việc chung tay giúp đỡ người nghèo; từng bước xóa bỏ tư tưởng trông chờ, ỷ lại, tư tưởng “xin nghèo” trong một bộ phận nhân dân; phát huy tinh thần tự lực, khơi dậy ý chí chủ động, phấn đấu vươn lên thoát nghèo bền vững của hộ nghèo, hộ cận nghèo
Trang 40Qua 03 năm, toàn huyện đã mở 8 lớp đào tạo, dạy nghề, giải quyết việc làm cho trên 9.000 lao động; phối hợp với Trung tâm giới thiệu việc làm tỉnh giới thiệu đi xuất khẩu lao động cho 747 lao động (Hàn Quốc, Nhật Bản, Đài Loan…) Hỗ trợ cho các đối tượng vay số tiền gần 269 tỷ đồng Mỗi năm huyện dành 300 triệu đồng bổ sung cho quỹ vay của Ngân hàng chính sách xã hội và quỹ quay vòng của Hội Nông dân huyện để các đơn vị có thêm nguồn vốn cho vay đối với hộ nghèo, hộ cận nghèo Đồng thời, đã hỗ trợ lãi suất cho 1.320 lượt hộ thoát nghèo với số tiền 949 triệu đồng… Mặt trận, các đoàn thể
hỗ trợ xây dựng 117 nhà, sửa chữa 83 nhà đại đoàn kết cho hộ nghèo, hộ cận nghèo khó khăn về nhà ở tại các địa phương Theo kết quả điều tra, rà soát hộ nghèo, đến cuối năm 2018, toàn huyện còn 2.554 hộ nghèo, chiếm 4,78%, giảm 2,61% so với năm 2016 (trong đó có 1.690 hộ nghèo thuộc chính sách bảo trợ xã hội); thấp hơn tỷ lệ hộ nghèo bình quân của tỉnh (5,49%) và tỷ lệ
hộ nghèo bình quân chung của cả nước (5,35%) Đối với hộ cận nghèo, đến cuối năm 2018, toàn huyện có 1.797 hộ cận nghèo, chiếm 3,36%, giảm 1,96%
so với năm 2016, bình quân giảm 0,98%/năm Đến nay, 100% hộ nghèo, hộ cận nghèo, hộ thoát nghèo đảm bảo điều kiện vay vốn theo quy định của Ngân hàng Chính sách xã hội có nhu cầu vay vốn đều được vay vốn để phát triển sản xuất, kinh doanh 100% người nghèo trong độ tuổi lao động có khả năng lao động và có nhu cầu đào tạo nghề được hỗ trợ đào tạo nghề, tập huấn và định hướng nghề nghiệp, tư vấn giới thiệu việc làm để có nghề nghiệp ổn định
* Hoạt động nghiên cứu, ứng dụng các tiến bộ KHCN hướng vào phục
vụ sản xuất và đời sống
Tập tính sinh hoạt sản xuất của người dân huyện Thăng Bình Thăng
Bình có diện tích tự nhiên 385,6 km2 Đất đai, thổ nhưỡng và địa hình đã hình thành nên 3 vùng rõ rệt: vùng Tây của huyện giáp với các huyện miền núi của tỉnh Quảng Nam, 4/5 diện tích đất đai là gò đồi; vùng Trung gồm các xã dọc