1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Thực hiện thủ tục hành chính theo cơ chế một cửa, một cửa liên thông tại UBND thị xã hà tiên, tỉnh kiên giang

127 83 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 127
Dung lượng 153,73 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

2011 của Chính phủ về ban hành Chương trình tổng thể cải cách hành chính nhànước giai đoạn 2011 – 2020 tiếp tục nhấn mạnh và xem cơ chế một cửa, cơ chếmột cửa liên thông như là một bộ ph

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC ĐÀO TẠO BỘ NỘI VỤ

HỌC VIỆN HÀNH CHÍNH QUỐC GIA

NHAN VĂN TRUYỆN

THỰC HIỆN THỦ TỤC HÀNH CHÍNH THEO CƠ CHẾ MỘT CỬA, MỘT CỬA LIÊN THÔNG TẠI ỦY BAN NHÂN DÂN THỊ

XÃ HÀ TIÊN, TỈNH KIÊN GIANG

LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ CÔNG

TP HỒ CHÍ MINH – NĂM 2017

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC ĐÀO TẠO BỘ NỘI VỤ

HỌC VIỆN HÀNH CHÍNH QUỐC GIA

NHAN VĂN TRUYỆN

THỰC HIỆN THỦ TỤC HÀNH CHÍNH THEO CƠ CHẾ MỘT CỬA, MỘT CỬA LIÊN THÔNG TẠI ỦY BAN NHÂN DÂN THỊ

XÃ HÀ TIÊN, TỈNH KIÊN GIANG

Chuyên ngành: Quản lý công

Mã số: 60 34 04 03

LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ CÔNG

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: TS NGUYỄN THỊ THỦY

TP HỒ CHÍ MINH – NĂM 2017

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Luận văn này là một phần kết quả của quá trình học tập của học viên tại Họcviện Hành chính Quốc gia Đây là kết quả của quá trình tìm tòi, nghiên cứu nghiêmtúc của học viên dưới sự hướng dẫn của TS Nguyễn Thị Thủy và sự giúp đỡ củaQuý cơ quan, bạn bè, đồng nghiệp tại Ủy ban nhân dân Thị xã Hà Tiên

Học viên cam đoan công trình này là kết quả nghiên cứu nghiêm túc, trungthực, việc sử dụng các thông tin đều có trích dẫn nguồn và tuân thủ nguyên tắckhoa học trong nghiên cứu

Học viên hoàn toàn chịu trách nhiệm về kết quả nghiên cứu của mình

TP Hồ Chí Minh, ngày tháng 7 năm 2017

HỌC VIÊN

Nhan Văn Truyện

Trang 4

LỜI CÁM ƠN

Luận văn này là kết quả của sự nghiên cứu nghiêm túc của học viên dưới sựhướng dẫn của TS Nguyễn Thị Thủy và sự giúp đỡ của Quý cơ quan, bạn bè, đồngnghiệp tại Ủy ban nhân dân Thị xã Hà Tiên

Vì vậy, trước hết, học viên xin gửi lời cám ơn chân thành nhất đến TS.Nguyễn Thị Thủy – nguyên Phó Trưởng Bộ môn Văn bản và Công nghệ hànhchính (Học viện Hành chính Quốc gia cơ sở TP Hồ Chí Minh) đã tận tình quantâm, giúp đỡ, hướng dẫn học viên hoàn thành Luận văn này

Học viên trân trọng cám ơ n Quý Thầy, Cô của Học viện Hành chính Quốcgia; gia đình, bạn bè, đồng nghiệp đã quan tâm, động viên học viên hoàn thànhLuận văn này

Trân trọng cám ơn Quý cơ quan, đơn vị của Thị xã Hà Tiên và các địaphương khác đã hỗ trợ học viên trong quá trình thực hiện Luận văn này

Trân trọng cám ơn các thành viên của Hội đồng khoa học đã nghiên cứu,đánh giá Luận văn của học viên

Trang 5

MỤC LỤC

Trang Trang phụ bìa

Lời cam đoan

Lời cám ơn

Mục lục

Danh mục các ký hiệu, các chữ viết tắt

Danh mục các sơ đồ, bảng biểu

PHẦN MỞ ĐẦU 1

1 Lý do chọn đề tài 1

2 Tình hình nghiên cứu của đề tài 3

3 Mục tiêu, nhiệm vụ của đề tài 7

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài 8

5 Phương pháp nghiên cứu 8

6 Đóng góp của đề tài 9

7 Bố cục của luận văn 10

Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ THỰC HIỆN THỦ TỤC HÀNH CHÍNH THEO CƠ CHẾ MỘT CỬA, MỘT CỬA LIÊN THÔNG TẠI ỦY BAN NHÂN DÂN CẤP HUYỆN 11

1.1 Thủ tục hành chính và cơ chế một cửa, một cửa liên thông 11

1.1.1 Thủ tục hành chính 11

1.1.2 Cơ chế một cửa, một cửa liên thông 15

1.2 Thực hiện thủ tục hành chính theo cơ chế một cửa, một cửa liên thông tại Ủy ban nhân dân cấp huyện 20

1.2.1 Địa vị pháp lý của Ủy ban nhân dân cấp huyện 20

1.2.2 Nguyên tắc trong thực hiện thủ tục hành chính theo cơ chế một cửa, một cửa liên thông tại Ủy ban nhân dân cấp huyện 23

1.2.3 Các loại thủ tục hành chính giải quyết theo cơ chế một cửa, một cửa liên thông tại Ủy ban nhân dân cấp huyện 24

Trang 6

1.2.4 Quy trình thực hiện thủ tục hành chính theo cơ chế một cửa, một cửa liên

thông tại Ủy ban nhân dân cấp huyện 25

1.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến thực hiện thủ tục hành chính theo cơ chế một cửa, một cửa liên thông 30

1.3.1 Thể chế về cơ chế một cửa, một cửa liên thông 30

1.3.2 Tổ chức Bộ phận Tiếp nhận và Trả kết quả 31

1.3.3 Năng lực của đội ngũ cán bộ, công chức 33

1.3.4 Cơ chế phối hợp giữa các cơ quan 34

1.3.5 Chế độ kiểm tra, giám sát 35

1.4 Kinh nghiệm thực hiện thủ tục hành chính theo cơ chế một cửa, một cửa liên thông 35

1.4.1 Kinh nghiệm của một số địa phương 36

1.4.2 Bài học kinh nghiệm 38

Tiểu kết chương 1 40

Chương 2: THỰC TRẠNG THỰC HIỆN THỦ TỤC HÀNH CHÍNH THEO CƠ CHẾ MỘT CỬA, MỘT CỬA LIÊN THÔNG TẠI ỦY BAN NHÂN DÂN THỊ XÃ HÀ TIÊN, TỈNH KIÊN GIANG 29

2.1 Sơ lược vài nét về công tác triển khai cơ chế một cửa, một cửa liên thông tại Ủy ban nhân dân Thị xã Hà Tiên 41

2.1.1 Tổng quan về Thị xã Hà Tiên, tỉnh Kiên Giang 41

2.1.2 Xây dựng, ban hành thể chế về cơ chế một cửa, một cửa liên thông 42

2.1.3 Tổ chức Bộ phận Tiếp nhận và Trả kết quả 45

2.1.4 Bố trí nguồn nhân lực thực hiện cơ chế một cửa, một cửa liên thông 47

2.1.5 Đầu tư cơ sở vật chất phục vụ cơ chế một cửa, một cửa liên thông 49

2.2 Tình hình thực hiện thủ tục hành chính theo cơ chế một cửa, một cửa liên thông tại Ủy ban nhân dân Thị xã Hà Tiên, tỉnh Kiên Giang 53

2.2.1 Tình hình thực hiện thủ tục hành chính theo cơ chế một cửa 53

2.2.2 Tình hình thực hiện thủ tục hành chính theo cơ chế một cửa liên thông 60 2.2.3 Mức độ hài lòng của nhân dân trong thực hiện thủ tục hành chính theo cơ

Trang 7

chế một cửa, một cửa liên thông 64

2.3 Đánh giá chung 66

2.3.1 Ưu điểm 66

2.3.2 Hạn chế 68

2.3.3 Nguyên nhân của những hạn chế 71

Tiểu kết chương 2 74

Chương 3: PHƯƠNG HƯỚNG, GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN VIỆC THỰC HIỆN THỦ TỤC HÀNH CHÍNH THEO CƠ CHẾ MỘT CỬA, MỘT CỬA LIÊN THÔNG TẠI ỦY BAN NHÂN DÂN THỊ XÃ HÀ TIÊN, TÌNH KIÊN GIANG 75

3.1 Phương hướng hoàn thiện việc thực hiện thủ tục hành chính theo cơ chế một cửa, một cửa liên thông giai đoạn 2018 - 2020 75

3.2 Giải pháp hoàn thiện việc thực hiện thủ tục hành chính theo cơ chế một cửa, một cửa liên thông tại Ủy ban nhân dân Thị xã Hà Tiên, tình Kiên Giang 76

3.2.1 Hoàn thiện thể chế về thực hiện thủ tục hành chính theo cơ chế một cửa, một cửa liên thông 76

3.2.2 Xây dựng quy trình thực hiện thủ tục hành chính khoa học 79

3.2.3 Kiện toàn về tổ chức bộ máy và nhân sự Bộ phận Tiếp nhận và Trả kết quả 80

3.2.4 Nâng cao năng lực, trình độ chuyên môn nghiệp vụ của đội ngũ cán bộ, công chức 81

3.2.5 Tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin vào thực hiện thủ tục hành chính theo cơ chế một cửa, một cửa liên thông 83

3.2.6 Tăng cường cải cách thủ tục hành chính theo hướng đơn giản, dễ hiểu, dễ thực hiện 85

3.2.7 Tiến hành đánh giá mức độ hài lòng của người dân về thực hiện thủ tục hành chính theo cơ chế một cửa, một cửa liên thông 87

3.2.8 Tăng cường công tác tuyên truyền, thanh tra, kiểm tra việc thực hiện thủ tục hành chính theo cơ chế một cửa, một cửa liên thông 89

Trang 8

Tiểu kết chương 3 91

KẾT LUẬN 92

TÀI LIỆU THAM KHẢO 94

PHẦN PHỤ LỤC 101

Trang 9

DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CÁC CHỮ VIẾT TẮT

Trang 10

DANH MỤC CÁC SƠ ĐỒ, BẢNG BIỂU

Trang 13

ra ngay từ giai đoạn đầu của tiến trình cải cách.

Nhận thức rõ mục đích, ý nghĩa và tầm quan trọng của công tác cải cáchTTHC, ngay từ năm 1994, Chính phủ đã ban hành Nghị quyết số 38/CP ngày 04tháng 5 năm 1994 về cải cách một bước thủ tục hành chính mà mục tiêu quan trọng

là hướng đến việc giải quyết tốt hơn các công việc của tổ chức, công dân và doanhnghiệp Ngay từ những ngày đầu của quá trình tiến hành cải cách, các địa phương

đã có nhiều giải pháp để triển khai thực hiện có hiệu quả việc thực hiện TTHC tạiđịa phương mình, trong đó nổi bật là việc thí điểm thực hiện một cơ chế thực hiện

hiện cơ chế này trong thực tiễn giải quyết TTHC đã đem lại những kết quả đángkhích lệ Để khẳng định tính hiệu quả của mô hình này, Chương trình tổng thể cảicách hành chính nhà nước giai đoạn 2001 – 2010 ban hành kèm theo Quyết định số136/2001QĐ-TTg ngày 17 tháng 9 năm 2001 của Thủ tướng Chính phủ đã nhấn

hành chính nhà nước Và sau này, Nghị quyết 30c/NQ-CP ngày 08 tháng 11 năm

1 Tại Thành phố Hồ Chí Minh, tên gọi của cơ chế này là “một cửa, một dấu”

2 Từ năm 2007, theo Quyết định số 93/2007/QĐ-TTg thì bên cạnh việc thực hiện giải quyết thủ tục hành chính theo

Trang 14

2011 của Chính phủ về ban hành Chương trình tổng thể cải cách hành chính nhànước giai đoạn 2011 – 2020 tiếp tục nhấn mạnh và xem cơ chế một cửa, cơ chếmột cửa liên thông như là một bộ phận quan trọng trong việc đơn giản hóa mộtcách tối đa quy trình giải quyết TTHC.

Để tạo cơ sở pháp lý cho hoạt động của cơ chế một cửa, ngày 04 tháng 09năm 2003 Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 181/2003/QĐ-TTg vềviệc ban hành Quy chế thực hiện cơ chế “một cửa” tại cơ quan hành chính nhànước ở địa phương và sau một thời gian thực hiện đã được thay thế bằng Quyếtđịnh số 93/2007/QĐ-TTg ngày 22 tháng 6 năm 2007 về việc ban hành Quy chếthực hiện cơ chế một cửa, cơ chế một cửa liên thông tại cơ quan hành chính nhànước ở địa phương Quyết định số 93/2007/QĐ-TTg ra đời đã bổ sung thêm một

cơ chế mới là “một cửa liên thông”, đây là cơ chế nhằm giải quyết các TTHC mangtính liên thông giữa các cơ quan hành chính nhà nước Đứng trước những đòi hỏingày càng cao của người dân và doanh nghiệp trong việc giải quyết TTHC cũngnhư sự thay đổi của các văn bản quy phạm pháp luật, ngày 25 tháng 3 năm 2015,Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 09/2015/QĐ-TTg thay thế choQuyết định số 93/2007/QĐ-TTg Thực hiện các văn bản chỉ đạo của Đảng và Nhànước, các địa phương đã có những nỗ lực đáng kể trong việc thực hiện các nộidung trên, các loại TTHC đã được rà soát và được đưa vào giải quyết theo cơ chếmột cửa, một cửa liên thông, từng bước tạo lập lại niềm tin của người dân và doanhnghiệp vào các cơ quan nhà nước

Trong thời gian, các huyện, thị xã của tình Kiên Giang đã tích cực triển khaithực hiện cải cách hành chính, đặc biệt là việc triển khai thực hiện TTHC theo cơchế một cửa, một cửa liên thông và đạt được nhiều thành tựu quan trọng Đến nay100% đơn vị hành chính cấp huyện và 1000% đơn vị hành chính cấp xã của tỉnhKiên Giang đã triển khai thực hiện TTHC theo cơ chế một cửa, một cửa liên thông.Riêng tại UBND Thị xã Hà Tiên việc thực hiện TTHC từ khi áp dụng cơ chế mộtcửa, một cửa liên thông đã mang lại những kết quả đáng khích lệ như: giảm đượctình trạng tổ chức, cá nhân phải đi lại nhiều lần, gặp nhiều cơ quan, nhiểu cấp hành

Trang 15

chính để giải quyết công việc; tăng cường năng lực, trách nhiệm, thái độ phục vụnhân dân của đội ngũ CBCC; tạo cơ chế giám sát, quản lí của nhân dân đối vớiCBCC và các cơ quan hành chính nhà nước, tiến đến xây dựng một nền hành chínhdân chủ, trong sạch, vững mạnh, chuyên nghiệp và hiện đại Tuy nhiên, bên cạnhnhững kết quả đạt được, việc thực hiện TTHC theo cơ chế này tại UBND Thị xã

Hà Tiên vẫn còn một số tồn tại, hạn chế như: kết quả giải quyết còn thấp so với yêucầu đặt ra, hồ sơ trễ hẹn còn nhiều; cơ chế phối hợp giữa các cơ quan, bộ phận liênquan trong giải quyết TTHC còn yếu, ý thức trách nhiệm của một bộ phận CBCCtrong việc thực hiện cơ chế này còn thấp, có những công chức chuyên môn thụ lý

hồ sơ còn cứng nhắc, thiếu linh hoạt, quan liêu trong xử lý công việc.vẫn còn hồ sơgiải quyết trễ hẹn; nhiều TTHC còn rườm rà, phức tạp, khó thực hiện; nhiều TTHCcòn được tiếp nhận và giải quyết tại các phòng, ban chuyên môn; năng lực, tinhthần, thái độ phục vụ của một bộ phận CBCC còn hạn chế

Nhận thức được tầm quan trọng của vấn đề này, tác giả chọn đề tài “Thực

hiện thủ tục hành chính theo cơ chế một cửa, một cửa liên thông tại Ủy ban nhân dân Thị xã Hà Tiên, tỉnh Kiên Giang” làm nhiệm vụ nghiên cứu cho đề tài

Luận văn Cao học Quản lý công của mình với mong muốn làm rõ những ưu điểm

để phát huy, đề ra những giải pháp khắc phục những tồn tại, hạn chế nhằm hoànthiện việc thực hiện TTHC theo cơ chế một cửa, một cửa liên thông tại UBND Thị

xã Hà Tiên

2 Tình hình nghiên cứu của đề tài

Liên quan đến vấn đề thực hiện TTHC theo cơ chế một cửa, một cửa liênthông nói chung hiện nay đang được các nhà quản lý, các nhà khoa học quan tâmnghiên cứu Có thể liệt kê những công trình, những ấn phẩm khoa học trên cácphương diện sau đây:

- Các đề tài khoa học, dự án

Bộ “Nghiên cứu các giải pháp nâng cao hiệu quả cơ chế “Một cửa” tại xã, phường,thị trấn” do TS Nguyễn Thị Minh Tâm làm chủ nhiệm đề tài Đề tài đã làm sáng

Trang 16

rõ những cơ sở lý luận và thực tiễn của việc áp dụng cơ chế “một cửa” trong thựchiện TTHC tại cơ quan hành chính nhà nước cấp xã, đồng thời đề xuất những giảipháp nhằm nâng cao hiệu quả thực hiện cơ chế này Tuy nhiên đề tài chỉ dừng ởviệc tập trung nghiên cứu và đánh giá hiệu quả việc thực hiện TTHC của mô hìnhmột cửa áp dụng tại cấp xã mà chưa đề cập đến mô hình một cửa liên thông nóichung, tại cấp huyện nói riêng.

tỉnh “Xây dựng thí điểm mô hình thống nhất tổ chức, tiếp nhận giải quyết thủ tụchành chính theo cơ chế một cửa cấp huyện, cấp xã trên địa bàn tỉnh Thừa ThiênHuế” Trong công trình nghiên cứu này, nhóm tác giả đã đưa ra các cơ sở lý luận

và thực tiễn cũng như hệ thống các giải pháp nhằm đưa việc thực hiện TTHC theo

mô hình một cửa vận hành theo hệ thống quản lý chất lượng ISO 9001:2008 thốngnhất cho cấp huyện, cấp xã trên địa bàn tỉnh Thừa Thiên Huế Tuy nhiên, côngtrình nghiên cứu này chỉ giới hạn nghiên cứu về thực hiện TTHC theo mô hình mộtcửa tại cấp huyện và cấp xã, chưa đề cập đến mô hình một cửa liên thông và cácgiải pháp đưa ra cũng chỉ dừng ở mức thí điểm tổ chức tại tỉnh Thừa Thiên Huế

sở “Đánh giá mô hình “một cửa, một cửa liên thông” tại cơ quan hành chính nhànước cấp huyện của TP Hồ Chí Minh” do TS Hà Quang Thanh làm chủ nhiệm đềtài Đề tài đã hệ thống hóa một cách khoa học cơ sở lý luận và pháp lý về cơ chếmột cửa, một cửa liên thông Đồng thời phân tích làm rõ hiệu quả áp dụng cơ chếnày tại cơ quan hành chính nhà nước cấp huyện trên địa bàn TP Hồ Chí Minh, từ

đó đề xuất các giải pháp để hoàn thiện việc áp dụng các cơ chế này Tuy nhiên, đềtài chỉ giới hạn ở việc đánh giá quy trình áp dụng và vận hành cơ chế, chưa đi sâuphân tích việc thực hiện các thủ tục hành chính theo các cơ chế trên, do đó cần cónhiều vấn đề cần tiếp tục làm rõ

- Các bài viết trên các Tạp chí khoa học

của chính quyền quận huyện TP Hồ Chí Minh: Ý tưởng đột phá nhưng thực hiện

Trang 17

nửa vời, trái pháp luật và không khả thi” đăng trên Tạp chí Khoa học Pháp lý số 6(12/2007) Trong công trình này tác giả chỉ ra những hạn chế trong việc áp dụng cơchế một cửa, một dấu ở TP Hồ Chí Minh, đưa ra cơ sở khoa học chứng minh tínhtrái pháp luật và thiếu tính khả thi của cơ chế này Đồng thời tác giả đưa ra kiếnnghị trong việc hoàn thiện mô hình “một cửa, một dấu” Tuy nhiên trong thời điểmnày TP Hồ Chí Minh chưa triển khai mô hình “một cửa liên thông” nên tác giảcũng chưa có những luận giải về vấn đề này.

“một cửa, một cửa liên thông” ”đăng trên Tạp chí Cộng sản số 6 (198) Tác giả đãtrình bày một cách khái quát về quá trình cải cách hành chính tại Việt Nam, nêu lênthực trạng của vấn đề cải cách TTHC theo cơ chế “một cửa, một cửa liên thông”,đặc biệt là từ khi có Quyết định số 93/2007/QĐ-TTg; đồng thời bài viết cũng đãđưa ra những hạn chế và đề xuất một số giải pháp nhằm tiếp tục nâng cao chấtlượng, hiệu quả hoạt động của cơ chế “một cửa”, “một cửa liên thông” trong thờigian sắp tới

cửa liên thông đáp ứng yêu cầu phục vụ nhân dân” đăng trên website Cục Kiểmsoát Thủ tục hành chính thuộc Bộ Tư pháp Trong bài viết này, tác giả chủ yếu đisâu khái quát những tồn tại và hạn chế nói chung của các địa phương trong việcthực hiện cơ chế “một cửa, một cửa liên thông” ; đồng thời tác giả cũng đưa ra một

số giải pháp để nâng cao hiệu quả giải quyết TTHC theo cơ chế “một cửa, một cửaliên thông” Tuy nhiên, bài viết chỉ mới dừng lại ở nội dung khái quát vấn đề chứchưa đi sâu phân tích làm rõ những thành tựu cũng như hạn chế của các mô hình

và các giải pháp còn chưa mang tính cụ thể

Giải pháp cải thiện môi trường đầu tư” đăng trên Tạp chí Cộng sản số 07/2015 Bàiviết đã khẳng định, để cải thiện môi trường đầu tư tại tỉnh Thái Bình cần đẩy mạnhcông tác cải cách TTHC, trong đó thực hiện cơ chế một cửa liên thông là một giảipháp trọng tâm, có tính đột phá Đồng thời, bài viết cũng nêu bật những thành tựu

Trang 18

mà tỉnh Thái Bình đã đạt được trong giải quyết TTHC về đầu tư theo cơ chế một cửa liên thông, được cộng đồng doanh nghiệp, nhà đầu tư đánh giá cao.

cửa” và “một cửa liên thông” ở các quận, huyện tại TP Hồ Chí Minh” đăng trênTạp chí Quản lý nhà nước - Học viện Hành chính Quốc gia số tháng 8/2015 Bàiviết của tác giả đã trình bày thực trạng cải cách hành chính tại các quận, huyện tại

TP Hồ Chí Minh với việc áp dụng hai cơ chế “một cửa” và “một cửa liên thông”;đồng thời tác giả đã đề xuất các giải pháp nhẳm nâng cao hiệu quả cải cách hànhchính tại các địa phương này

- Các Luận án, Luận văn:

chế một cửa trong công tác quản lý hành chính nhà nước tại UBND cấp phườngtrên địa bàn TP Hồ Chí Minh” của tác giả Nguyễn Đức Vượng Công trình nghiêncứu này của tác giả đã làm rõ thực trạng trong việc giải quyết TTHC tại UBNDphường tại TP Hồ Chí Minh, trên cơ sở đó đề xuất những giải pháp để nâng caohiệu quả trong việc thực hiện cơ chế một cửa Tuy nhiên đề tài này chỉ dừng lại ởviệc tập trung nghiên cứu và đánh giá hiệu quả mô hình một cửa tại các phườngcủa TP Hồ Chí Minh chưa đề cập đến mô hình một cửa liên thông nói chung, tạicấp huyện nói riêng

cửa liên thông” nghiên cứu từ thực tiễn tỉnh Đồng Tháp” của tác giả Trần Văn Tấn.Trong công trình này tác giả tập trung làm rõ những vấn đề cơ bản trong việc giảiquyết TTHC theo cơ chế “một cửa, một cửa liên thông” tại tỉnh Đồng Tháp Tuynhiên, do phạm vi nghiên cứu của đề tài là rộng, bao gồm 3 cấp tỉnh, huyện, xã củatỉnh Đồng Tháp, do đó có nhiều vấn đề cần tiếp tục xem xét và nghiên cứu thêm

thông tại Ủy ban nhân dân quận (từ thực tiễn Thành phố Hồ Chí Minh) của tác giảNguyễn Thị Ngọc Mỹ Luận văn này đề xuất những giải pháp nhằm hoàn thiện cơchế “một cửa liên thông” tại UBND quận của các thành phố trực thuộc trung ương

Trang 19

nói chung và TP Hồ Chí Minh nói riêng, từ đó tìm ra những thành tựu, hạn chế,nguyên nhân và đề xuất giải pháp khắc phục Tuy nhiên, Luận văn chỉ dừng lại ởviệc nghiên cứu về cơ chế một cửa liên thông tại UBND quận mà bỏ qua cơ chếmột cửa.

Nhìn chung, đã có khá nhiều công trình nghiên cứu về cơ chế một cửa, mộtcửa liên thông tại các cơ quan hành chính nhà nước nói chung Các công trìnhnghiên cứu này đã đề cập và luận giải nhiều vấn đề về lý luận và thực tiễn của cơchế một cửa, cũng như một cửa liên thông trong thực hiện TTHC Tuy nhiên cáccông trình này chỉ tập trung nghiên cứu về thực hiện cơ chế một cửa, một cửa liênthông tại từng địa phương cụ thể hoặc là những đánh giá chưa mang tính cụ thể,chưa đi vào nghiên cứu, đánh giá việc thực hiện TTHC theo cơ chế này Đặc biệtđối với Thị xã Hà Tiên của tỉnh Kiên Giang nói riêng hiện nay chưa có đề tài nàonghiên cứu và đánh giá một cách tổng quát về thực hiện TTHC theo cơ chế mộtcửa, một cửa liên thông

Từ những khảo cứu nêu trên về tình hình nghiên cứu có liên quan đến đề tàicho thấy các kết quả nghiên cứu đã giải quyết thấu đáo cơ sở khoa học về thực hiệnTTHC theo cơ chế một cửa, một cửa liên thông, phát huy tính hiệu quả của cơ chếnày trong hoạt động thực tiễn Tuy vậy, việc tiếp tục nghiên cứu, đánh giá những

ưu điểm, hạn chế để hoàn thiện việc thực hiện TTHC theo cơ chế một cửa, một cửaliên thông đang được áp dụng tại Thị xã Hà Tiên, tỉnh Kiên Giang là cần thiết và đềtài này không trùng lắp với bất cứ công trình nào đã công bố trước đó Trong quátrình nghiên cứu đề tài, tác giả có kế thừa kết quả nghiên cứu của các công trìnhtrước đó nhưng đảm bảo không trùng lắp với các công trình khoa học đã công bốtrước đây

3. Mục tiêu, nhiệm vụ của đề tài

3.1. Mục tiêu của đề tài

Mục tiêu nghiên cứu cơ bản của đề tài này là nghiên cứu cơ sở lý luận vàpháp lý về thực hiện thủ tục hành chính theo cơ chế một cửa, một cửa liên thông tạiUBND Thị xã Hà Tiên, tỉnh Kiên Giang; đánh giá thực trạng, làm rõ những ưu

Trang 20

điểm để phát huy, phân tích những hạn chế, tìm ra nguyên nhân của những hạnchế; trên cơ sở đó đề xuất các giải pháp hoàn thiện việc giải quyết thủ tục hànhchính theo cơ chế một cửa, một cửa liên thông tại UBND Thị xã Hà Tiên, tình KiênGiang.

3.2 Nhiệm vụ của đề tài

Để đạt được mục tiêu nêu trên, đề tài thực hiện một số nhiệm vụ sau:

cửa, một cửa liên thông tại UBND cấp huyện

thông tại UBND Thị xã Hà Tiên, tỉnh Kiên Giang

một cửa, một cửa liên thông tại UBND Thị xã Hà Tiên, tỉnh Kiên Giang

4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài

4.1 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của Luận văn là thực hiện TTHC theo cơ chế một cửa,một cửa liên thông thuộc thẩm quyền giải quyết tại UBND Thị xã Hà Tiên

4.2 Phạm vi nghiên cứu

5. Phương pháp nghiên cứu

Để nghiên cứu đề tài này, tác giả tiếp cận đối tượng nghiên cứu bằng phươngpháp duy vật biện chứng, duy vật lịch sử, lấy học thuyết Mác - Lênin, Tư tưởng HồChí Minh cùng các quan điểm, chủ trương, đường lối của Đảng và Nhà nước vềnhà nước và pháp luật làm cơ sở phương pháp luận

Để giải quyết các vấn đề cụ thể, các phương pháp nghiên cứu khoa họcchuyên ngành đều được sử dụng như:

nghiên cứu hệ thống văn bản QLNN về thực hiện TTHC theo cơ chế một cửa, mộtcửa liên thông, nghiên cứu các báo cáo của các cơ quan có thẩm quyền và các công

Trang 21

trình khoa học, đề tài, đề án, bài báo khoa học có liên quan đã công bố; từ đó tácgiả thực hiện việc đối chiếu, tham khảo số liệu, phục vụ cho việc giải quyết cácvấn đề mà đề tài đặt ra

đánh giá một cách cụ thể việc thực hiện TTHC theo cơ chế một cửa, một cửa liênthông tại UBND Thị xã Hà Tiên, tỉnh Kiên Giang Theo đó, phương pháp này được

sử dụng để phân tích cơ sở lý luận và pháp lý của thực hiện TTHC theo cơ chế mộtcửa, một cửa liên thông, đánh giá và phân tích làm rõ thực trạng hoạt động thựchiện TTHC theo cơ chế một cửa, một cửa liên thông, xác định rõ được những ưuđiểm, hạn chế và nguyên nhân của các hạn chế

dung của từng vấn đề trong luận văn, rút ra được những nhận xét, kết luận mangtính tổng quan, từ đó đề xuất những giải pháp nhằm hoàn thiện việc thực hiệnTTHC theo cơ chế một cửa, một cửa liên thông tại UBND Thị xã Hà Tiên, tỉnh

giả đã sử dụng 02 mẫu phiếu điều tra xã hội học để khảo sát ý kiến của 02 nhómđối tượng là: tổ chức, cá nhân đến giải quyết TTHC và công chức làm việc tại bộphận tiếp nhận và trả kết quả của UBND Thị xã Hà Tiên, tỉnh Kiên Giang, để biếtđược ý kiến, nhận xét của 02 nhóm đối tượng này đối với một số nội dung có liênquan đến việc thực hiện TTHC theo cơ chế một cửa, một cửa liên thông tại UBNDThị xã Hà Tiên, tỉnh Kiên Giang

Ngoài ra, luận văn còn sử dụng các phương pháp thống kê, so sánh… Cácphương pháp nghiên cứu này được sử dụng kết hợp với nhau nhằm mục đích đảmbảo cho nội dung nghiên cứu của luận văn vừa có ý nghĩa lý luận vừa mang ýnghĩa thực tiễn và khoa học

6. Đóng góp của đề tài

Đề tài đã tập hợp, hệ thống hóa cơ sở lý luận về thực hiện TTHC theo cơ chếmột cửa, một cửa liên thông tại UBND cấp huyện, đánh giá thực trạng thực hiện

Trang 22

TTHC theo cơ chế một cửa, một cửa liên thông tại UBND Thị xã Hà Tiên, tỉnhKiên Giang, qua đó chỉ ra những ưu điểm, hạn chế và đề xuất các giải pháp đểhoàn thiện hoạt động này.

Luận văn có thể là tài liệu tham khảo cho những CBCC trực tiếp tham giathực hiện TTHC theo cơ chế một cửa, một cửa liên thông tại UBND cấp huyện, cácnhà lãnh đạo, quản lý các cấp Kết quả nghiên cứu đề tài là nguồn tư liệu có thểtham khảo phục vụ cho sinh viên, học viên, các nhà khoa học quản lý trong quátrình nghiên cứu về thực hiện TTHC theo cơ chế một cửa, một cửa liên thông tạicác cấp chính quyền khác nhau

7 Bố cục của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận, phụ lục, tài liệu tham khảo, nội dung chínhcủa luận văn được bố cục thành 3 chương:

cửa, một cửa liên thông tại Ủy ban nhân dân cấp huyện

một cửa liên thông tại Ủy ban nhân dân Thị xã Hà Tiên, tỉnh Kiên Giang

chính theo cơ chế một cửa, một cửa liên thông tại Ủy ban nhân dân Thị xã Hà Tiên,tỉnh Kiên Giang

Trang 23

Chương 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ THỰC HIỆN THỦ TỤC HÀNH CHÍNH

THEO CƠ CHẾ MỘT CỬA, MỘT CỬA LIÊN THÔNG

TẠI ỦY BAN NHÂN DÂN CẤP HUYỆN

1.1 Thủ tục hành chính và cơ chế một cửa, một cửa liên thông

1.1.1 Thủ tục hành chính

1.1.1.1 Khái niệm

Trong mỗi tổ chức, để đảm bảo tính thống nhất và đạt được mục tiêu chung

đã đề ra, các thành viên của tổ chức đó trong quá trình giải quyết công việc phảituân thủ theo các quy định, các trình tự, thể thức đã được đặt ra, đây chính là thủtục Hiểu theo nghĩa rộng, thủ tục – procédure (tiếng Pháp), procedure (tiếng Anh)

là “toàn bộ những quy tắc và thể thức cần phải tuân thủ để hành động về pháp lýtrước, trong khi tiến hành một việc cần giải quyết và cho tới khi kết thúc, cũng như

để hoàn thành những văn bản thực hiện bắt buộc” [64, tr.824]

Theo Từ điển Tiếng Việt, thủ tục được hiểu là “những việc cụ thể phải làmtheo một trật tự quy định, để tiến hành một công việc có tính chất chính thức” [28,tr.1486] Theo nghĩa hẹp hơn, thủ tục được xem là một nguyên tắc trong hoạt độngquản lý; theo đó, “thủ tục là phương thức, cách thức giải quyết công việc theo mộttrình tự nhất định, một thể lệ thống nhất, gồm một loạt nhiệm vụ liên quan chặt chẽvới nhau nhằm đạt kết quả mong muốn: [20, tr.9]

Trong hoạt động của các cơ quan hành chính nhà nước, khi giải quyết mộtcông việc nhất định thì đều cần phải tuân theo những cách thức, trình tự nhất định.Những cách thức đó phải tuân theo những quy tắc, những nguyên tắc pháp lý đượcquy định một cách cụ thể Những quy định về trình tự, cách thức thực hiện côngviệc từ khi bắt đầu tới khi kết thúc, phạm vi quyền hạn của các cơ quan hành chínhnhà nước khi thực thi công việc được gọi là TTHC TTHC thể hiện được rằng cácvăn bản pháp luật được thực hiện như thế nào, ví dụ như cách thức để đăng ký kinhdoanh, cách thức để xin cấp phép xây dựng thì cần phải có những hồ sơ gì, nộp hồ

Trang 24

sơ tại đâu, cơ quan nào có thẩm quyền để giải quyết những nhu cầu đó, thì TTHC

sẽ hệ thống và thể hiện được hết những vấn đề đó Có nhiều quan niệm khác nhau

về TTHC:

việc của các cơ quan hành chính nhà nước có thẩm quyền trong mối quan hệ nội bộcủa hành chính và giữa các cơ quan hành chính nhà nước với các tổ chức và cánhân công dân” [36, tr 11]

với nội dung, trình tự nhất định, theo quy định của cơ quan nhà nước [64, tr 56]

“TTHC là trình tự giải quyết bất kỳ một nhiệm vụ cá biệt, cụ thể nào trong lĩnh vựcquản lý hành chính nhà nước” Ví dụ: thủ tục cấp giấy phép xây dựng, thủ tục đăng

ký khai sinh, thủ tục làm chứng minh nhân dân

GS TSKH Nguyễn Văn Thâm và PGS TS Võ Kim Sơn lại cho rằng: “TTHC làmột loạt các quy định về trình tự thời gian và không gian các giai đoạn cần phải có

để thực hiện mọi hình thức hoạt động của các cơ quan quản lý HCNN, bao gồmtrình tự thành lập các công sở; trình tự bổ nhiệm, điều động cán bộ, công chức,viên chức; trình tự lập quy; trình tự áp dụng quy phạm để đảm bảo các quyền chủthể và xử lý vi phạm; trình tự tổ chức – tác nghiệp hành chính”

kiểm soát thủ tục hành chính thì khẳng định “TTHC là trình tự, cách thức thựchiện, hồ sơ và yêu cầu, điều kiện do cơ quan nhà nước, người có thẩm quyền quyđịnh để giải quyết một công việc cụ thể liên quan đến cá nhân, tổ chức.” [11]

Như vậy có thể thấy, hiện nay có nhiều quan niệm khác nhau về TTHC ởdưới nhiều góc độ khác nhau Theo quy định của pháp luật và thực tiễn quản lý ởnước ta, hoạt động của các cơ quan hành chính nhà nước được thực hiện bằng hànhđộng liên tục theo một trình tự nhất định nhằm đạt mục đích quản lý đã đề ra, đượcgọi là TTHC TTHC có tính bắt buộc các cơ quan hành chính nhà nước cũng như

Trang 25

các công chức phải tuân theo trong quá trình giải quyết công việc thuộc chức năng

và thẩm quyền của mình TTHC được điều chỉnh bởi quy phạm hành chính, nó bảođảm cho các quy phạm vật chất của luật hành chính được thực hiện có hiệu quảtrong đời sống xã hội Tại Luận văn này, khái niệm TTHC được hiểu theo Nghịđịnh số 63/2010/NĐ-CP của Chính phủ

1.1.1.2 Đặc điểm

Thứ nhất, TTHC được điều chỉnh chủ yếu bằng các quy phạm thủ tục.

Trong hoạt động QLNN cần phải tuân theo những quy tắc pháp lý, quy định

về trình tự, cách thức khi sử dụng thẩm quyền để giải quyết công việc; khoa họcpháp lý gọi đó là quy phạm thủ tục Quy phạm thủ tục gồm các bộ phận: quy phạmthủ tục lập pháp (làm Hiến pháp và làm Luật); quy phạm thủ tục tố tụng tư pháp(giải quyết tranh chấp dân sự, định tội, được thực hiện bởi các hoạt động điều tra,truy tố, xét xử); quy phạm TTHC (thực hiện thẩm quyền trong hoạt động quản lýhành chính nhà nước)

Theo cách hiểu trên, TTHC là một bộ phận trong quy phạm thủ tục, là hoạtđộng QLNN tuân theo những quy tắc pháp lý quy định về trình tự, cách thức khi sửdụng thẩm quyền của các cơ quan quản lý hành chính nhà nước trong giải quyếtcông việc Và để đảm bào cho sự tuân thủ TTHC thật chặt chẽ thì mọi TTHC đềuphải được quy định bởi pháp luật; tuy nhiên không phải TTHC nào cũng được điềuchỉnh bởi các quy phạm thủ tục theo quy định pháp luật, cụ thể như hoạt động tácnghiệp trong môi trường nội bộ tổ chức Nhà nước do các quy định, quy chế nội bộđiều chỉnh

Thứ hai, TTHC là trình tự thực hiện thẩm quyền trong quản lý hành chính nhà nước.

Mỗi một cơ quan hành chính nhà nước đều được trao một thẩm quyền nhấtđịnh, thẩm quyền này do pháp luật quy định; khi thực hiện thẩm quyền này, cơquan hành chính nhà nước phải tuân thủ theo trình tự mà pháp luật quy định, trình

tự này chính là TTHC

TTHC là trình tự thực hiện thẩm quyền trong quản lý hành chính nhà nước

Trang 26

có nghĩa là TTHC được phân biệt với thủ tục tư pháp, khác với thủ tục tố tụng củatoà án; kể cả tố tụng hành chính cũng không thuộc về khái niệm TTHC.

TTHC là trình tự, cách thức giải quyết công việc của cơ quan hành chínhnhà nước, do đó nó cũng chính là trình tự, cách thức thực hiện thẩm quyền của cơquan hành chính trong việc quản lý hành chính nhà nước nói chung

Thứ ba, TTHC mang tính đa dạng, phức tạp.

Tính đa dạng và phức tạp của TTHC được quy định bởi hoạt động QLNN làhoạt động diễn ra ở hầu hết các lĩnh vực của đời sống xã hội, mỗi lĩnh vực của đờisống xã hội khi được nhà nước quản lý lại có một đặc thù riêng Do vậy, khi banhành TTHC phải có những quy định sao cho phù hợp với đặc thù của từng lĩnh vựcquản lý

Thứ tư, TTHC cần liên tục nghiên cứu, sửa đổi để phù hợp với thực tiễn.

TTHC được thực hiện trên tất cả các lĩnh vực trong quản lý mọi mặt đờisống xã hội nên khi ban hành các TTHC phải linh hoạt, không thể áp dụng mộtcách máy móc được TTHC phải luôn thay đổi linh hoạt để bắt kịp sự phát triểncủa nền hành chính nhà nước

TTHC trên một chừng mực nào đó lệ thuộc vào nhận thức chủ quan củangười xây dựng nên nó Nếu nhận thức đó phù hợp với thực tế khách quan thìTTHC sẽ mang tính tiến bộ, thiết thực; ngược lại thì sẽ xuất hiện các TTHC lạc hậulàm cản trở sự phát triển của xã hội

Trang 27

công chức khi tiếp và giải quyết công việc của dân có thái độ thiếu tôn trọng nhândân, cửa quyền, ban ơn, thậm chí sách nhiễu, đòi hối lộ” Trước thực trạng trên,việc tìm kiếm các giải pháp hữu hiệu để khắc phục những hạn chế trong thực hiệncải cách TTHC dẫn đến việc ra đời của cơ chế một cửa theo Quyết định số181/2003/QĐ-TTg ngày 04/9/2003, sau đó là cơ chế một cửa liên thông theo Quyếtđịnh số 93/2007/QĐ-TTg ngày 22/6/2007 của Thủ tướng Chính phủ và hiện nay làQuyết định 09/2015/QĐ-TTg Với quy định tiếp nhận và trả kết quả tại một đầumối, cơ chế một cửa, một cửa liên thông đã tạo ra cách giải quyết công việc hiệuquả, tổ chức, cá nhân không phải cầm hồ sơ đi từ cơ quan này đến cơ quan khác,;TTHC được đơn giản hóa; thời gian, quy trình, chi phí giải quyết TTHC được côngkhai, từ đó giảm phiền hà, chi phí, thời gian, công sức của người dân Tổng kếtviệc thực hiện cơ chế một cửa, một cửa liên thông theo Quyết định số 93/2007/QĐ-TTg, Bộ Nội vụ nhận định: “Thực hiện cơ chế một cửa, một cửa liên thông là giảipháp có tính đột phá trong cải cách TTHC” [2].

Như vậy, cơ chế một cửa, một cửa liên thông là một trong những giải phápđược Thủ tướng Chính phủ triển khai thực hiện để cải tiến quy trình, rút ngắn thờigian giải quyết TTHC, góp phần điều chỉnh mối quan hệ giữa nhân dân và cán bộ,công chức nhà nước Tiếp theo đó, thông qua việc thực hiện cơ chế một cửa, mộtcửa liên thông, các cơ quan, CBCC nhà nước thường xuyên tiếp nhận phản hồi từphía các tổ chức cá nhân về quy trình, thủ tục, thời gian giải quyết TTHC, làm cơ

sở để các cơ quan, cá nhân có thẩm quyền tiếp tục cải cách TTHC, nâng cao hơnnữa hiệu quả làm việc và mức độ hài lòng của tổ chức, cá nhân đối với sự phục vụcủa các cơ quan hành chính nhà nước

Để giải quyết TTHC nhanh, gọn, Chính phủ đã chủ trương xây dựng thíđiểm cơ chế một cửa Sau đó triển khai rộng rãi trong cả nước, tiến tới xây dựng và

tổ chức thực hiện giải quyết TTHC theo cơ chế một cửa, một cửa liên thông

1.1.2 Cơ chế một cửa, một cửa liên thông

1.1.2.1 Khái niệm

Xuất phát của cơ chế một cửa chính là sự đối lập với cơ chế nhiều cửa Nếu

Trang 28

quy trình giải quyết công việc cho một giao dịch hành chính mà phải trải qua nhiều

“cửa” thì sẽ làm cho quy trình bị chia cắt, đứt khúc, phức tạp và lãng phí Với cáchlàm cũ, tổ chức và công dân phải đi lại nhiều lần khi có nhu cầu giải quyết côngviệc của mình Mối quan hệ giữa nhà nước và công dân được tiến hành theo nhữngthủ tục phức tạp, không rõ ràng và không thống nhất giữa các cơ quan Sự tùy tiệntrong cách tiếp nhận và giải quyết công việc như vậy làm cho người dân mất nhiềuthời gian, sức lực và nhiều trường hợp vẫn không giải quyết được Cơ chế một cửađược hình thành trong quá trình thực hiện mục tiêu cải cách hành chính, nhằm thaythế cho cơ chế nhiều cửa trong quan hệ và thủ tục giải quyết công việc giữa các cơquan công quyền với công dân và tổ chức cũng như giữa các cơ quan công quyềnvới nhau

Hiện nay, đã có 03 khái niệm khác nhau về cơ chế một cửa trong các vănbản quy phạm pháp luật của nhà nước (Quyết định 181/2003/QĐ-TTg, Quyết định

số 93/2007/QĐ-TTg, Quyết định số 09/2015/QĐ-TTg) Trong phạm vi của Luậnvăn, tác giả sử dụng khái niệm một cửa mới nhất theo khoản 1, Điều 1, Quyết định

số 09/2015/QĐ-TTg với nội dung “Cơ chế một cửa là cách thức giải quyết côngviệc của cá nhân, tổ chức thuộc trách nhiệm, thẩm quyền của một cơ quan hànhchính nhà nước trong việc công khai, hướng dẫn TTHC; tiếp nhận hồ sơ, giải quyết

và trả kết quả được thực hiện tại một đầu mối là Bộ phận tiếp nhận và trả kết quảcủa một cơ quan hành chính nhà nước”

Cơ chế một cửa liên thông là nâng tầm của cơ chế một cửa trong trách nhiệmphục vụ tổ chức, cá nhân Cơ chế một cửa chỉ góp phần đổi mới cách thức giảiquyết công việc, cải cách TTHC ở từng cơ quan hành chính riêng lẻ Trong khi đó,trên thực tế có nhiều loại hồ sơ hành chính có liên quan đến thẩm quyền giải quyếtcủa nhiều cấp, nhiều cơ quan, phải qua nhiều đầu mối mới có kết quả cuối cùng Vìvậy, nếu chỉ dừng ở việc thực hiện cơ chế một cửa thì trong nhiều trường hợp, tổchức, cá nhân cũng phải tự mình cầm hồ sơ đi “gõ cửa” hết cơ quan này đến cơquan khác Xuất phát từ yêu cầu thực tế, cơ chế một cửa liên thông ra đời, đặt rayêu cầu các cơ quan nhà nước có trách nhiệm phối hợp với nhau trong quy

Trang 29

trình xử lý hồ sơ, không để tổ chức, công dân cầm hồ sơ đi từ cơ quan này tới cơquan khác Tổ chức, cá nhân có nhu cầu chỉ phải nộp hồ sơ và nhận kết quả tại mộtđầu mối.

Theo khoản 2, Điều 1, Quyết định số 09/QĐ-TTg thì “Cơ chế một cửa liênthông là cách thức giải quyết công việc của cá nhân, tổ chức thuộc trách nhiệm,thẩm quyền của nhiều cơ quan hành chính nhà nước cùng cấp hoặc giữa các cơquan hành chính nhà nước các cấp trong việc công khai, hướng dẫn TTHC, tiếpnhận hồ sơ, giải quyết và trả kết quả được thực hiện tại một đầu mối là Bộ phậntiếp nhận và trả kết quả của một cơ quan hành chính nhà nước”

Cơ chế một cửa, một cửa liên thông tạo điều kiện cho việc củng cố sự chặtchẽ trong việc kiểm soát quá trình giải quyết công việc và chất lượng của sản phẩmđầu ra cho người dân thông qua một đầu mối Sự chặt chẽ trong việc quản lý vàgiám sát tiến độ sẽ tạo điều kiện cho quá trình giải quyết công việc được thôngsuốt, công khai minh bạch, hạn chế đến mức thấp nhất sự chồng chéo, đùn đẩytrách nhiệm giữa các cơ quan hành chính

Về nguyên tắc, tất cả các TTHC đều phải được thực hiện thông qua cơ chếmột cửa hoặc cơ chế một cửa liên thông Với những thủ tục đơn giản, do một cơquan thực hiện, qua nhiều khâu, nhiều bộ phận khác nhau thực hiện thì cơ chế mộtcửa chính là phương thức để điều chỉnh, sắp xếp lại cách thức tổ chức công việckhoa học trong cơ quan Còn đối với những TTHC phức tạp, đòi hỏi sự tham giacủa nhiều cơ quan, nhiều cấp hành chính thì cơ chế một cửa liên thông không dừnglại là sự sắp xếp lại quy trình giải quyết công việc mà còn là sự phân công hợp lýgiữa các cơ quan cùng tham gia thực hiện TTHC, và sự phân cấp trong quản lýhành chính nhà nước

1.1.2.2 Đặc điểm

Cơ chế một cửa, một cửa liên thông được hình thành trong quá trình thựchiện mục tiêu cải cách TTHC, nhằm thay thế cho cơ chế nhiều cửa trong quan hệgiải quyết TTHC giữa các cơ quan công quyền với công dân và tổ chức; giữa các

cơ quan công quyền với nhau Qua thời gian tổ chức triển khai và tổng kết thực

Trang 30

hiện, chúng ta có thể nhận thấy một số đặc điểm chủ yếu của cơ chế một cửa, mộtcửa liên thông như sau:

Thứ nhất, cơ chế một cửa, một cửa liên thông là cơ chế giải quyết công việccho các tổ chức, cá nhân của cơ quan hành chính nhà nước tại một đầu mối duynhất là Bộ phận TN&TKQ

Thứ hai, đây là cơ chế mà khi công dân có yêu cầu giải quyết công việc hoặc

hồ sơ TTHC thì chỉ cần liên hệ với một cơ quan duy nhất đó là Bộ phận TN&TKQ.Thay vì trước đây, khi chưa có cơ chế một cửa, một cửa liên thông thì các tổ chức,công dân khi có nhu cầu giải quyết công việc hoặc hồ sơ TTHC phải đi đến nhiều

cơ quan hành chính nhà nước khác nhau để liên hệ giải quyết thì nay chỉ cần đến

Bộ phận TN&TKQ Điều này đã làm giảm thời gian cũng như chi phí đi lại của các

tổ chức, công dân, tăng niềm tin của nhân dân vào Đảng và Nhà nước

Thứ ba, cơ chế một cửa, một cửa liên thông là cơ chế trong đó các công việc,

hồ sơ hoặc TTHC mà tổ chức, công dân đề nghị giải quyết được cơ quan hànhchính nhà nước tiếp nhận tại một đầu mối và việc phối hợp giải quyết công việc, hồ

sơ hay TTHC thuộc trách nhiệm của cơ quan hành chính nhà nước Khi có kết quảgiải quyết công việc, hồ sơ hay TTHC, tổ chức và công dân cũng chỉ liên hệ vànhận kết quả tại một đầu mối duy nhất, đó là Bộ phận Tiếp nhận và trả kết quả hồ

sơ Như vậy, Bộ phận TN&TKQ là bộ phận mang tính chất trung gian trong thựchiện TTHC

Thứ tư, các cơ quan hành chính nhà nước có liên quan sẽ liên thông với nhautrong việc giải quyết TTHC cho tổ chức và công dân, sự liên thông này có thể theochiều dọc (giữa các cơ quan hành chính nhà nước của các cấp) hoặc theo chiềungang (giữa các cơ quan hành chính nhà nước cùng cấp)

1.1.2.3 Vai trò

- Thứ nhất, Đối với các cơ quan nhà nước

Cơ chế một cửa, một cửa liên thông góp phần hạn chế tình trạng quan liêu,tham nhũng, gây phiền hà khó khăn cho người dân của cán bộ công chức Cơ chếnày đã hạn chế việc tiếp xúc của những người thực thi công vụ với công dân, tổ

Trang 31

chức Điều này đảm bảo tính trung thực, công bằng và khách quan trong việc giảiquyết những yêu cầu của công dân Công chức trực tiếp thụ lý hồ sơ giải quyếtTTHC không trực tiếp nhận hồ sơ từ người dân mà được tiếp nhận từ Bộ phậnTN&TKQ, có quy trình giải quyết công việc rõ ràng, có quy định thời gian giảiquyết cũng như trách nhiệm phải xin lỗi và cam kết thời gian hoàn thành nếu nhưgiải quyết trễ hạn.

Cơ chế một cửa, một cửa liên thông thực chất là việc công dân giao lạinhững việc mà các cơ quan nhà nước vốn dĩ phải làm nhưng lâu nay người dânđang làm thay phần việc này, đó là những hoạt động thuộc mối quan hệ công tácgiữa các cơ quan nhà nước với nhau Cơ chế một cửa, một cửa liên thông đã điềuchỉnh mối quan hệ giữa nhân dân và CBCC, tạo cơ chế giám sát, quản lý của nhândân đối với cơ quan nhà nước, giữa lãnh đạo với cán bộ, công chức thuộc quyền,thể hiện rõ bản chất của công tác cải cách TTHC Cơ chế một cửa, một cửa liênthông thể hiện được bản chất hoạt động để phục vụ nhân dân của bộ máy nhà nước

Thực hiện TTHC theo cơ chế một cửa, một cửa liên thông đòi hỏi CBCC ởcác vị trí chức danh khác nhau đều cần phải trau dồi phẩm chất đạo đức, hoàn thiệnnâng cao ý thức phục vụ nhân dân, từ đó góp phần tăng cường năng lực, tráchnhiệm của cán bộ, công chức và cơ quan nhà nước, kỹ năng, nghiệp vụ cũng nhưtinh thần, thái độ phục vụ nhân dân

Thứ hai, Đối với người dân

Có thể nhận thấy vai trò lớn nhất mà cơ chế một cửa, một cửa liên thôngmang lại đó là lợi ích cho người dân, tránh được phiền hà cho người dân Cơ chếmột cửa, một cửa liên thông giúp cho việc thực hiện TTHC được đơn giản hóa,người dân chỉ phải đến một nơi để nộp hồ sơ và cũng đến chính nơi đó để nhận kếtquả, không còn tình trạng người dân phải đi qua nhiều cửa để giải quyết một côngviệc nhất định, giúp tiết kiệm thời gian, chi phí, công sức cho người dân

Việc công bố, công khai TTHC, quy trình giải quyết công việc, các văn bảnquy phạm pháp luật, phí, lệ phí giúp cho người dân có thể giám sát hoạt động củacác cơ quan nhà nước Hệ thống đánh giá mức độ hài lòng của người dân cũng là

Trang 32

một cơ chế tốt để người dân có thể thể hiện được sự thỏa mãn của công dân và tổchức, từ đó góp phần củng cố lòng tin của người dân và các cơ quan nhà nước.

1.2 Thực hiện thủ tục hành chính theo cơ chế một cửa, một cửa liên thông tại

Ủy ban nhân dân cấp huyện

1.2.1 Địa vị pháp lý của Ủy ban nhân dân cấp huyện

Trong hoạt động QLNN, nhằm đảm bảo mối liên hệ thường xuyên từ Trungương đến địa phương và phát huy hiệu lực, hiệu quả của hoạt động, các quốc giatiến hành phân chia lãnh thổ thành các đơn vị hành chính và thiết lập trên đó bộmáy chính quyền thích hợp Ở Việt Nam, Hiến pháp 2013 và các văn bản quyphạm pháp luật về tổ chức bộ máy nhà nước như Luật Tổ chức Quốc hội, Luật Tổchức Chính phủ, Luật Tổ chức Tòa án nhân dân, Luật Tổ chức Viện Kiểm sát nhândân, Luật Tổ chức Chính quyền địa phương đã khẳng định địa vị pháp lý của các

cơ quan nhà nước trong bộ máy nhà nước Tổ chức bộ máy nhà nước là một vấn đềmang tính hiến định, nó được cấu thành từ hệ thống các cơ quan nhà nước có chứcnăng, nhiệm vụ được quy định, có mối quan hệ, tác động qua lại để thực hiệnnhiệm vụ chung của nhà nước nhằm đảm bảo“Nhà nước ta là Nhà nước phápquyền XHCN của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân Tất cả quyền lực Nhà nướcthuộc về nhân dân mà nền tảng là liên minh giữa giai cấp công nhân với giai cấpnông dân và đội ngũ trí thức, do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo Quyền lựcNhà nước là thống nhất; có sự phân công, phối hợp và kiểm soát giữa các cơ quantrong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp” [1]

Tiếp cận bộ máy từ phương diện hành chính lãnh thổ thì chính quyền nhànước bao gồm chính quyền Trung ương và chính quyền địa phương Do đó, “nếuchính quyền Trung ương là yếu tố trung tâm của hệ thống chính quyền nhà nước, là

bộ máy có đầy đủ quyền năng để quyết định những vấn đề trọng đại của đất nướcbằng hoạt động lập pháp của Quốc hội và hoạt động lập quy của Chính phủ, thìchính quyền địa phương là bộ máy để thực hiện Hiến pháp và pháp luật, là một bộphận hợp thành của chính quyền nhà nước thống nhất” [33, tr.15]

Theo Điều 110, Hiến pháp 2013 thì các đơn vị hành chính của nước Cộng

Trang 33

hòa XHCN Việt Nam được phân định như sau: Nước chia thành tỉnh, thành phốtrực thuộc Trung ương; Tỉnh chia thành huyện, thị xã và thành phố thuôcc̣ tỉnh;thành phố trực thuộc Trung ương chia thành quận, huyên,c̣ thị xã và đơn vị hànhchính tương đương; Huyện chia thành xã, thị trấn; thị xã và thành phố thuôcc̣ tỉnhchia thành phường vàxã; quận chia thành phường Đơn vị hành chính - kinh tế đặcbiệt do Quốc hội thành lập Với mỗi cấp đơn vị hành chính lãnh thổ, bộ máy chínhquyền được thiết lập tương ứng như sau: “Chính quyền địa phương được tổ chức ởcác đơn vị hành chính của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam Cấp chínhquyền địa phương gồm có HĐND và UBND được tổ chức phù hợp với đặc điểmnông thôn, đô thị, hải đảo, đơn vị hành chính - kinh tế đặc biệt do luật định” [29].

Trên cơ sở hiến định này, Điều 2 Luật Tổ chức Chính quyền địa phương

2015 quy định HĐND và UBND được tổ chức ở các đơn vị hành chính sau đây:

“Các đơn vị hành chính của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam gồm có: 1.Tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương (sau đây gọi chung là cấp tỉnh); 2 Huyện,quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh, thành phố thuộc thành phố trực thuộc trungương (sau đây gọi chung là cấp huyện); 3 Xã, phường, thị trấn (sau đây gọi chung

là cấp xã); 4 Đơn vị hành chính - kinh tế đặc biệt” [30]

Theo đó, địa vị pháp lý của UBND được xác định qua Điều 114, Hiến pháp

2013 như sau: “UBND ở cấp chính quyền địa phương do HĐND cùng cấp bầu là

cơ quan chấp hành của HĐND, cơ quan hành chính nhà nước ở địa phương, chịutrách nhiệm trước HĐND và cơ quan hành chính nhà nước cấp trên UBND tổchức việc thi hành Hiến pháp và pháp luật ở địa phương; tổ chức thực hiện nghịquyết của HĐND và thực hiện các nhiệm vụ do cơ quan nhà nước cấp trên giao”[29]

Có thể nhận thấy, Hiến pháp và Luật Tổ chức Chính quyền địa phương hiệnhành đã xác định được vị trí và vai trò của UBND, quan hệ chấp hành của UBNDvới HĐND cùng cấp, đồng thời đảm bảo tính độc lập tương đối của UBND trongviệc thực hiện hoạt động quản lý hành chính nhà nước ở địa phương Luật Tổ chứcChính quyền địa phương 2015 đã quy định cụ thể những nhiệm vụ và quyền hạn

Trang 34

của chính quyền địa phương ở huyện đối với các lĩnh vực QLNN ở địa phươngnhằm phát triển kinh tế - xã hội, củng cố quốc phòng, an ninh trên địa bàn, trựctiếp giải quyết các quyền và nghĩa vụ pháp lý của các cơ quan, tổ chức và công dântrên địa bàn (Từ Điều 23 đến Điều 29) và chính quyền địa phương ở quận là từĐiều 44 đến Điều 50 Trong đó, nhiệm vụ, quyền hạn của UBND huyện được quyđịnh cụ thể tại Điều 28 và của UBND quận là Điều 49 nhằm đảm bảo đặc thù củađơn vị hành chính này Trong phạm vi nghiên cứu của đề tài, tác giả chỉ nghiên cứu

về địa vị pháp lý của UBND cấp huyện nhằm đảm bảo tính đặc thù và phù hợp vớiquy định hiện hành của Luật Tổ chức Chính quyền địa phương

Để giúp UBND cấp huyện thực hiện hoạt động QLNN đối với các ngành,các lĩnh vực trên địa bàn, UBND cấp huyện thành lập các cơ quan chuyên mônthuộc UBND cấp huyện, theo đó “Các cơ quan chuyên môn thuộc UBND là cơquan tham mưu, giúp UBND cùng cấp thực hiện chức năng QLNN ở địa phương

và thực hiện một số nhiệm vụ, quyền hạn theo sự uỷ quyền của UBND cùng cấp vàtheo quy định của pháp luật; góp phần bảo đảm sự thống nhất quản lý của ngànhhoặc lĩnh vực công tác từ Trung ương đến cơ sở” [30]

Từ những phân tích trên, có thể khẳng định địa vị pháp lý của UBND cấp

huyện như sau: “UBND cấp huyện do HĐND cấp huyện bầu ra, là cơ quan chấp

hành của HĐND, cơ quan hành chính nhà nước ở cấp huyện, chịu trách nhiệm trước HĐND và cơ quan nhà nước cấp trên UBND cấp huyện tổ chức việc thi hành Hiến pháp và pháp luật trên địa bàn huyện; tổ chức thực hiện nghị quyết của HĐND và thực hiện các nhiệm vụ do cơ quan nhà nước cấp trên giao”.

Nghiên cứu địa vị pháp lý của UBND cấp huyện có ý nghĩa vô cùng quantrọng trong việc nghiên cứu về thực hiện TTHC theo cơ chế một cửa, một cửa liênthông Bởi lẽ, UBND cấp huyện khi tiếp nhận, hướng dẫn, giải thích, tổ chức giảiquyết TTHC cho tổ chức, công dân khi có yêu cầu theo cơ chế một cửa, một cửaliên thông thì sẽ căn cứ vào địa vị pháp lý, nhiệm vụ, quyền hạn được pháp luậtquy định

1.2.2 Nguyên tắc trong thực hiện thủ tục hành chính theo cơ chế một

Trang 35

cửa, một cửa liên thông tại Ủy ban nhân dân cấp huyện

Theo quy định tại Điều 3, Quyết định số 09/2015/QĐ-TTg, việc thực hiệnthủ tục hành chính theo cơ chế một cửa, một cửa liên thông cần tuân thủ nhữngnguyên tắc sau:

- Thứ nhất, niêm yết công khai, đầy đủ, kịp thời các TTHC tại Quyết định công bố TTHC của UBND cấp tỉnh theo quy định.

Nguyên tắc này đảm bảo mọi TTHC khi thực hiện theo cơ chế một cửa, mộtcửa liên thông đều được công khai cho mọi người dân được biết để thực hiện Thựchiện nguyên tắc này, các cơ quan hành chính nhà nước cần công khai tất cả các quyđịnh TTHC, các loại hồ sơ, giấy tờ, các khoản phí, lệ phí mà người dân phải nộp,thời gian giải quyết từng loại công việc về TTHC Việc công khai như vậy chonhằm làm giảm đến mức tối đa việc bưng bít, che giấu thông tin để trục lợi cánhân, bên cạnh đó, hạn chế việc các cơ quan tự tiện đặt ra các yêu cầu, giấy tờ tráivới pháp luật quy định Ngoài ra việc công khai TTHC còn giúp cho người dân chủđộng hơn trong việc hoàn thiện hồ sơ giải quyết TTHC của mình, giúp CBCCthuận lợi hơn trong tiếp nhận và giải quyết hồ sơ, không phải yêu cầu bổ túc hồ sơnhiều lần, hiệu quả công việc được nâng cao

- Thứ hai, bảo đảm giải quyết công việc nhanh chóng, thuận tiện cho cá nhân, tổ chức; việc yêu cầu bổ sung hồ sơ chỉ được thực hiện không quá một lần trong suốt quá trình giải quyết hồ sơ tại một cơ quan chuyên môn.

Nguyên tắc này đòi hỏi phải giải quyết công việc của người dân một cáchnhanh nhất, ít nhất cũng phải đảm bảo theo đúng thời gian quy định của nhà nước

về TTHC đối với từng lĩnh vực Bộ phận TN&TKQ phải trả kết quả cho người dântheo đúng quy định định, không được tự ý kéo dài thời gian, không quan liêu, đùnđẩy trách nhiệm khi giải quyết công việc của người dân; nếu trễ hẹn, Bộ phậnTN&TKQ phải thông báo cho người dân được biết và giải thích rõ lý do Đồngthời, Bộ phận TN&TKQ tại các cơ quan hành chính nhà nước phải tạo mọi điềukiện thuận lợi nhất cho người dân đến liên hệ giải quyết công việc như về điều kiện

cơ sở vật chất, chỗ ngồi của công dân, thái độ phục vụ phải niềm nở, thân thiện,

Trang 36

tận tình hướng dẫn khi nhân dân yêu cầu.

- Thứ ba, bảo đảm sự phối hợp chặt chẽ giữa các cơ quan hành chính nhà nước trong giải quyết công việc của cá nhân, tổ chức.

Nguyên tắc này đảm bảo cho sự phối hợp nhịp nhàng, đồng bộ giữa các bộphận, cơ quan hành chính trong việc giải quyết TTHC đặc biệt là giải quyết theo cơchế một cửa liên thông Với yêu cầu của nguyên tắc này là để giải quyết công việcmột cách nhanh chóng, đảm bảo quy trình, thủ tục theo đúng quy định đồng thời vềmặt ý nghĩa tạo sự thuận tiện, phục vụ nhân dân được tốt hơn, tránh đùn đẩy, chồngchéo nhiệm vụ giữa các cơ quan

- Thứ tư, việc thu phí, lệ phí của cá nhân, tổ chức được thực hiện theo đúng quy định của pháp luật.

Các khoản phí và lệ phí phải được niêm yết công khai cùng với các TTHCtại Bộ phận TN&TKQ Các khoản thu phí, lệ phí phải được thực hiện theo các quyđịnh, văn bản hướng dẫn của cấp trên Khi có những thay đổi về các khoản thu thìcác cơ quan chuyên môn giải quyết TTHC phải báo ngay cho Bộ phận TN&TKQ

để tiến hành niêm yết lại cho người dân Khi thu phí, lệ phí phải có biên lai, khôngđược tùy tiện đặt ra các khoản thu khác để thu lợi cho cá nhân

1.2.3 Các loại thủ tục hành chính giải quyết theo cơ chế một cửa, một cửa liên thông tại Ủy ban nhân dân cấp huyện

Theo Khoản 4, Điều 4 và Điều 5, Quyết định số 09/2015/QĐ-TTg thì cơ chếmột cửa được thực hiện trong giải quyết TTHC thuộc thẩm quyền của UBND cấphuyện, cơ chế một cửa liên thông được thực hiện trong giải quyết TTHC thuộc cáclĩnh vực: đầu tư, đất đai, đăng ký kinh doanh, cấp phép xây dựng, tư pháp và cáclĩnh vực khác thuộc thẩm quyền của nhiều cơ quan hành chính nhà nước

Như vậy, theo nguyên tắc thì tất cả các loại TTHC thuộc thẩm quyền củaUBNC cấp huyện đều phải thực hiện theo cơ chế một cửa hoặc một cửa liên thôngnếu thủ tục đó có liên quan đến thẩm quyền giải quyết của nhiều cơ quan

TTHC theo quy định của Nghị định số 63/2010/NĐ-CP “phải được quy địnhtrong văn bản quy phạm pháp luật do Chính phủ ban hành hoặc trình Quốc hội, Ủy

Trang 37

ban Thường vụ Quốc hội ban hành; do Thủ tướng Chính phủ, Bộ trưởng, Thủtrưởng cơ quan ngang Bộ, UBND tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương banhành.”

Trong hệ thống các văn bản quy phạm pháp luật, thông thường, khi một Luậtmới được ban hành thì sẽ có Nghị định hướng dẫn của Chính phủ, sau đó là Thông

tư hướng dẫn của các bộ ngành Trên cơ sở hệ thống và tiến hành cụ thể hóa toàn

bộ các văn bản quy phạm pháp luật trên, khi UBND cấp tỉnh sẽ ban hành Quyếtđịnh công bố bộ TTHC với đầy đủ các thành phần quy định cho việc giải quyếtTTHC đó bao gồm các căn cứ pháp lý, các bước thực hiện, thành phần hồ sơ, phí,

lệ phí, yêu cầu thực hiện TTHC, thời gian thực hiện và quan trọng là thẩm quyềncủa cơ quan thực hiện Các Nghị định, Thông tư thường quy định chung về cácyếu tố nêu trên, áp dụng chung cho cả nước, vì thế, các Quyết định công bố bộTTHC của UBND cấp tỉnh sẽ hướng dẫn chi tiết hơn, phân định rõ ràng hơn vềthẩm quyền thực hiện của các cấp hành chính cũng như là phù hợp hơn với đặc thùcủa địa phương đó Trong nhiều trường hợp, để thống nhất việc thực hiện TTHCtrong một lĩnh vực nào đó trong cả nước, chính Bộ trưởng của các bộ ngành sẽ banhành quyết định công bố bộ TTHC, phân định thẩm quyền giải quyết TTHC chotoàn bộ các cấp từ trung ương đến cấp huyện, cấp xã Như vậy, có thể thấy rằngcác Nghị định, Thông tư, Quyết định công bố bộ TTHC là nguồn quan trọng nhấtcho việc giải quyết TTHC tại UBND cấp huyện nói riêng và các cơ quan hànhchính nhà nước các cấp nói chung

1.2.4 Quy trình thực hiện thủ tục hành chính theo cơ chế một cửa, một cửa liên thông tại Ủy ban nhân dân cấp huyện

1.2.4.1 Quy trình thực hiện thủ tục hành chính theo cơ chế một cửa

Theo Điều 6, Quyết định số 09/QĐ-TTg, quy trình thực hiện TTHC theo cơchế một cửa được quy định như sau:

Bước 1 Tiếp nhận hồ sơ

dịch vụ bưu chính tại những nơi có quy định nhận hồ sơ qua dịch vụ bưu chính

Trang 38

- Công chức tiếp nhận hồ sơ tại Bộ phận TN&TKQ kiểm tra tính hợp lệ, hợppháp, đầy đủ của hồ sơ:

+ Trường hợp hồ sơ không thuộc phạm vi giải quyết thì hướng dẫn để cánhân, tổ chức đến cơ quan có thẩm quyền giải quyết

kèm tại Phụ lục của Quyết định số 09/2015/QĐ-TTg

- Công chức tiếp nhận hồ sơ nhập vào Sổ theo dõi hồ sơ theo mẫu số 02 tạiPhụ lục của Quyết định số 09/2015/QĐ-TTg; lập và cấp Giấy tiếp nhận hồ sơ vàhẹn trả kết quả theo mẫu số 03 tại Phụ lục của Quyết định số 09/2015/QĐ-TTg

- Trường hợp công chức tiếp nhận hồ sơ tại Bộ phận TN&TKQ được phân công giải quyết hồ sơ thì nhập vào Sổ theo dõi hồ sơ và phần mềm điện tử:

tiếp nhận hồ sơ và hẹn trả kết quả: Công chức thẩm định, trình lãnh đạo đơn vịxem xét quyết định và trả kết quả giải quyết hồ sơ cho cá nhân, tổ chức

tiếp nhận hồ sơ và hẹn trả kết quả; sau đó chuyển hồ sơ đến các đơn vị có liên quan

để thụ lý, thẩm định, trình lãnh đạo đơn vị xem xét quyết định và trả kết quả giảiquyết hồ sơ cho cá nhân, tổ chức

Bước 2: Chuyển hồ sơ

soát quá trình giải quyết hồ sơ theo mẫu số 04 tại Phụ lục của Quyết định số

09/2015/QĐ-TTg và đính kèm vào hồ sơ

đơn vị hoặc các bộ phận có liên quan giải quyết Phiếu kiểm soát quá trình giảiquyết hồ sơ được chuyển theo hồ sơ và lưu tại Bộ phận TN&TKQ

Bước 3: Giải quyết hồ sơ

Sau khi tiếp nhận hồ sơ từ Bộ phận TN&TKQ, cơ quan, tổ chức phân côngCBCC giải quyết như sau:

Trang 39

thẩm định, trình lãnh đạo đơn vị xem xét quyết định và chuyển kết quả giải quyết

hồ sơ cho Bộ phận TN&TKQ

lãnh đạo đơn vị phương án thẩm tra, xác minh và tổ chức thực hiện Quá trình thẩmtra, xác minh phải được lập thành hồ sơ và lưu tại cơ quan giải quyết

+ Đối với hồ sơ qua thẩm tra, xác minh đủ điều kiện giải quyết: công chứcthẩm định, trình lãnh đạo đơn vị xem xét quyết định và chuyển kết quả giải quyết

hồ sơ cho Bộ phận TN&TKQ

chức báo cáo lãnh đạo đơn vị trả lại hồ sơ kèm theo thông báo bằng văn bản và nêu

rõ lý do, nội dung cần bổ sung Thời gian mà cơ quan, tổ chức đã giải quyết lầnđầu được tính trong thời gian giải quyết hồ sơ

báo cáo lãnh đạo đơn vị trả lại hồ sơ và thông báo bằng văn bản nêu rõ lý do khônggiải quyết hồ sơ Thông báo được nhập vào mục trả kết quả trong Sổ theo dõi hồ

sơ Thời hạn thông báo phải trong thời hạn giải quyết hồ sơ theo quy định

phải thông báo bằng văn bản cho Bộ phận TN&TKQ, gửi văn bản xin lỗi cá nhân,

tổ chức trong đó ghi rõ lý do quá hạn, thời hạn trả kết quả, nhưng không quá 1/4thời gian quy định giải quyết TTHC đó Đồng thời có hình thức xử phạt nghiêm(kiểm điểm, luân chuyển công tác) đối với CBCC giải quyết hồ sơ trễ hẹn nhiềulần mà không có lý do chính đáng

Bước 4: Trả kết quả giải quyết hồ sơ

Công chức tại Bộ phận TN&TKQ có trách nhiệm vào Sổ theo dõi hồ sơ vàphầm mềm điện tử, thực hiện như sau:

nhân, tổ chức và thu phí, lệ phí; trường hợp cá nhân, tổ chức đã đăng ký nhận kếtquả qua dịch vụ bưu chính thì việc trả kết quả, thu phí, lệ phí và cước phí đượcthực hiện qua dịch vụ bưu chính

Trang 40

- Đối với hồ sơ chưa đủ điều kiện giải quyết: Công chức liên hệ với cá nhân,

tổ chức để yêu cầu bổ sung hồ sơ theo thông báo của cơ quan, tổ chức giải quyết

hồ sơ và văn bản xin lỗi của Bộ phận TN&TKQ Việc bổ sung hồ sơ không đượcquá 01 lần trong suốt quá trình thụ lý, giải quyết hồ sơ

trả lại hồ sơ kèm theo thông báo không giải quyết hồ sơ

lần sau và chuyển văn bản xin lỗi của cơ quan, tổ chức làm quá hạn cho cơ quan, tổchức

phận TN&TKQ báo cáo lãnh đạo và liên hệ để cá nhân, tổ chức nhận kết quả

sơ và trả kết quả thì kết quả giải quyết hồ sơ được lưu giữ tại Bộ phận TN&TKQ

1.2.4.2 Quy trình thực hiện thủ tục hành chính theo cơ chế một cửa liên thông

Theo Điều 7, Quyết định số 09/QĐ-TTg, quy trình thực hiện TTHC theo cơ chế một cửa liên thông được quy định như sau:

Bước 1: Tiếp nhận hồ sơ

quyết TTHC hoặc nộp qua dịch vụ bưu chính, nộp trực tuyến ở những nơi có quyđịnh nhận hồ sơ qua dịch vụ bưu chính, nhận hồ sơ trực tuyến

pháp, đầy đủ của hồ sơ:

+ Trường hợp hồ sơ không thuộc phạm vi giải quyết thì hướng dẫn để cánhân, tổ chức đến cơ quan có thẩm quyền giải quyết

kèm tại Phụ lục của Quyết định số 09/2015/QĐ-TTg

- Công chức tiếp nhận hồ sơ nhập vào Sổ theo dõi hồ sơ theo mẫu số 02 tạiPhụ lục của Quyết định số 09/2015/QĐ-TTg; lập và cấp Giấy tiếp nhận hồ sơ và

Ngày đăng: 27/11/2019, 22:17

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w