1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Quản lý nhà nước về doanh nghiệp văn hóa trên địa bàn thành phố hà nội

112 37 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 112
Dung lượng 323,9 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tuy vậy, công tác quản lý Nhà nước đối với các doanh nghiệp này chưathực sự tốt, bên cạnh những mặt tích cực mà doanh nghiệp văn hóa đem lạivẫn có những hạn chế, tiêu cực, tồn tại như tì

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NỘI VỤ

HỌC VIỆN HÀNH CHÍNH QUỐC GIA

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS.TS Trang Thị Tuyết

HÀ NỘI – 2017

Trang 2

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan các nghiên cứu trong luận văn này được dựa trên cáckết quả thu được từ quá trình nghiên cứu của riêng tôi, không sao chép từ bất

kỳ kết quả nghiên cứu của tác giả nào khác Trong luận văn có tham khảo và

sử dụng một số thông tin, tài liệu từ các nguồn sách, tạp chí, nguồn internet,văn bản pháp luật, ý kiến chuyên gia đã được tôi liệt kê trong danh mục tàiliệu tham khảo

Trân trọng./

Học viên

Đặng Tiến Lộc

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Để hoàn thành được luận văn này, trước tiên, tôi xin được gửi lời cảm

ơn đến tất cả Quý Thầy /Cô đã giảng dạy trong chương trình Cao học Quản lýcông khóa 2015 – 2017, Học viện Hành chính quốc gia, những người đãtruyền đạt cho tôi những kiến thức hữu ích nói chung và về Quản lý công nóiriêng làm cơ sở cho tôi thực hiện luận văn này

Tôi xin chân thành cảm ơn PGS.TS Trang Thị Tuyết đã tận tình hướngdẫn cho tôi trong suốt thời gian thực hiện luận văn Với sự quan tâm chỉ bảo

và sự góp ý chân thành của Cô đã cho tôi rất nhiều kinh nghiệm trong quátrình thực hiện đề tài này cũng như có thể tiến bộ hơn trong những bướcnghiên cứu tiếp theo

Tôi xin gửi lời cảm ơn sâu sắc đến gia đình, các đồng nghiệp đã luôntạo điều kiện tốt nhất cho tôi trong suốt quá trình học tập cũng như thực hiệnluận văn của mình

Do thời gian có hạn và kinh nghiệm nghiên cứu khoa học chưa nhiềunên luận văn không thể thiếu khỏi những thiếu sót, rất mong nhận được ý kiếngóp ý của quý Thầy, Cô để tôi có thể hoàn thiện luận văn này cũng như trưởngthành và vững vàng hơn trong những bước nghiên cứu tiếp theo

Xin trân trọng cảm ơn

Trang 4

DANH MỤC CÁC CHỮ CÁI VIẾT TẮT

Trang 6

MỤC LỤC

LỜI CAM ĐOAN

LỜI CẢM ƠN

DANH MỤC CÁC CHỮ CÁI VIẾT TẮT

DANH MỤC BẢNG, HÌNH VẼ, ĐỒ THỊ

LỜI MỞ ĐẦU 1

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ KHOA HỌC QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ DOANH NGHIỆP VĂN HOÁ 10

1.1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ DOANH NGHIỆP VĂN HÓA 10

1.1.1 Khái niệm doanh nghiệp văn hóa 10

1.1.2 Các loại hình doanh nghiệp văn hóa 11

1.1.3 Đặc điểm của doanh nghiệp văn hóa 12

1.1.4 Vai trò của doanh nghiệp văn hóa đối với sự phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội 14

1.2 NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN CỦA QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ DOANH NGHIỆP TRONG LĨNH VỰC VĂN HÓA 18

1.2.1 Khái niệm quản lý nhà nước về doanh nghiệp văn hóa 18

1.2.2 Đặc điểm của quản lý nhà nước về doanh nghiệp văn hóa 20

1.2.3 Sự cần thiết hoàn thiện quản lý nhà nước về doanh nghiệp văn hóa trong nền kinh tế thị trường định hướng XHCH 21

1.2.4 Nội dung quản lý nhà nước về doanh nghiệp văn hóa 25

1.2.5 Những yếu tố tác động tới quản lý nhà nước về doanh nghiệp văn hóa 30

Chương 2: THỰC TRẠNG QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ DOANH NGHIỆP VĂN HÓA TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ HÀ NỘI 36

2.1 KHÁI QUÁT ĐẶC ĐIỂM VỀ ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN, KINH TẾ, VĂN HÓA, XÃ HỘI CỦA THÀNH PHỐ HÀ NỘI 36

2.1.1 Về điều kiện tự nhiên 36

2.1.2 Về kinh tế, văn hóa, xã hội 37

2.2 THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN CỦA DOANH NGHIỆP VĂN HÓA TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ HÀ NỘI 39

2.2.1 Tổng số doanh nghiệp đăng ký l nh vực văn hóa 39

2.2.2 Tổng số lao động doanh nghiệp văn hóa 40

2.2.3 Vốn sản xuất kinh doanh bình quân hàng năm 41

Trang 7

2.2.5 Mức lương bình quân tháng của người lao động trong các doanh

nghiệp văn hóa 43

2.3 THỰC TRẠNG QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC CẤP THÀNH PHỐ HÀ NỘI VỀ DOANH NGHIỆP VĂN HÓA TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ 44

2.3.1 Công tác phát triển quy hoạch doanh nghiệp văn hóa 45

2.3.2 Công tác ban hành và tổ chức thực hiện hệ thống văn bản quy phạm pháp luật liên quan đến doanh nghiệp văn hóa của thành phố Hà Nội 46

2.3.3 Công tác khuyến khích, hỗ trợ doanh nghiệp văn hóa 48

2.3.4 Thanh tra, kiểm tra, giám sát đối với doanh nghiệp văn hóa 52

2.3.5 Tổ chức bộ máy quản lý nhà nước cấp thành phố đối với doanh nghiệp văn hóa 53

2.3.6 Thuận lợi và khó khăn trong công tác quản lý nhà nước đối với doanh nghiệp văn hóa trên địa bàn Hà Nội 58

2.4 ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ DOANH NGHIỆP VĂN HÓA TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ HÀ NỘI 63

2.4.1 Những mặt tích cực 63

2.4.2 Hạn chế 64

2.4.3 Nguyên nhân của những hạn chế 65

Chương 3: PHƯƠNG HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP TIẾP TỤC HOÀN THIỆN QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ DOANH NGHIỆP VĂN HÓA TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ HÀ NỘI 68

3.1 DỰ BÁO XU HƯỚNG TÁC ĐỘNG CỦA HỘI NHẬP KINH TẾ QUỐC TẾ ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP VĂN HÓA TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ HÀ NỘI 68

3.2 PHƯƠNG HƯỚNG HOÀN THIỆN QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ DOANH NGHIỆP VĂN HÓA TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ HÀ NỘI TRONG THỜI GIAN TỚI 74

3.2.1 Định hướng phát triển doanh nghiệp văn hóa trên địa bàn thành phố Hà Nội đến năm 2020. 74

3.2.2 Quan điểm hoàn thiện quản lý nhà nước về doanh nghiệp văn hóa trên địa bàn thành phố Hà Nội trong thời gian tới 75

3.3 GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ DOANH NGHIỆP VĂN HÓA TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ HÀ NỘI 77

3.3.1 Xây dựng quy hoạch phát triển doanh nghiệp văn hóa. 77 3.3.2 Tăng cường công tác giáo dục, tuyên truyền, định hướng nhận thức

Trang 8

3.3.3 Tăng cường xây dựng và triển khai thực hiện các nội dung hỗ trợ

pháp lý cho doanh nghiệp văn hóa; nâng cao ý thức, kiến thức pháp

luật và đạo đức kinh doanh cho người quản lý doanh nghiệp 81

3.3.4 Nâng cao hiệu quả công tác thanh tra, kiểm tra, giám sát đối với doanh nghiệp văn hóa 81

3.3.5 Củng cố tổ chức bộ máy, xây dựng đội ngũ cán bộ quản lý, tăng cường công tác phối hợp, cải cách thủ tục hành chính liên quan nhằm đáp ứng yêu cầu phát triển doanh nghiệp văn hóa 83

3.4 KIẾN NGHỊ 89

KẾT LUẬN 92

TÀI LIỆU THAM KHẢO 94

Trang 9

LỜI MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài luận văn

Văn hóa là sự phản ánh kết quả hoạt động của con người, là tổng hòacủa các khía cạnh đời sống- xã hội, phản ánh tâm tư, tình cảm, nhận thức củacon người trong những giai đoạn phát triển của lịch sử mỗi quốc gia

Nhà nước cũng đã có những chính sách đầu tư, phát triển ngành Vănhóa như nhóm chính sách đầu tư và nhóm chính sách tăng nguồn lực Nhómchính sách đầu tư cho các phương tiện văn hóa gồm: đầu tư xây dựng các thiếtchế văn hóa, phát triển các ngành nghệ thuật, công nghiệp văn hóa Nhómchính sách tăng nguồn lực cho hoạt động văn hóa gồm: đầu tư trong l nh vựcđào tạo nguồn nhân lực, chuyên gia văn hóa, thúc đẩy nghiên cứu văn hóa, xãhội hóa văn hóa và hợp tác quốc tế

Trong xu thế toàn cầu hóa, hội nhập văn hóa là một vấn đề tất yếu, gópphần dẫn của đến sự thành công của hội nhập quốc tế Chính vì vậy, trongnhững năm gần đây, Đảng và Nhà nước ta thực sự đang rất quan tâm đến l nhvực văn hóa Hội nghị Trung Ương lần thứ 9 của Ban chấp hành TW ĐảngKhóa XI đã ra Nghị quyết số 33-NQ/TW ngày 09/6/2014 với mục tiêu “Xâydựng nền văn hóa và con người Việt Nam phát triển toàn diện, hướng đếnchân - thiện - m , thấm nhuần tinh thần dân tộc, nhân văn, dân chủ và khoahọc Văn hóa thực sự trở thành nền tảng tinh thần vững chắc của xã hội, là sứcmạnh nội sinh quan trọng bảo đảm sự phát triển bền vững và bảo vệ vữngchắc Tổ quốc vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, vănminh”

Trong bối cảnh đó, hoạt động kinh doanh l nh vực văn hóa đang ngàycàng phát triển Các doanh nghiệp kinh doanh l nh vực văn hóa đã đóng góptích cực cho sự phát triển kinh tế- xã hội- văn hóa của đất nước Hiện nay,

Trang 10

trên địa bàn thành phố Hà Nội có khoảng hơn 130.000 doanh nghiệp hoạtđộng trên l nh vực văn hóa Mô hình hoạt động của các doanh nghiệp chủ yếu

là nhỏ và vừa Các loại hình kinh doanh văn hóa- nghệ thuật rất đa dạng vàphong phú Nhờ vậy, sự lựa chọn, nhu cầu giải trí, thưởng thức văn hóa- nghệthuật của người dân trở nên phong phú Doanh nghiệp văn hóa trở thành thànhphần quan trọng, đóng góp phần nào vào sự phát triển của Ngành văn hóa nóiriêng, của xã hội nói chung

Tuy vậy, công tác quản lý Nhà nước đối với các doanh nghiệp này chưathực sự tốt, bên cạnh những mặt tích cực mà doanh nghiệp văn hóa đem lạivẫn có những hạn chế, tiêu cực, tồn tại như tình trạng hoạt động chưa đượccấp phép hoặc hoạt động không đúng nội dung cấp phép, kinh doanh trá hình,

cố tình vi phạm các quy định của Nhà nước…gây bức xức dư luận, làm ảnhhưởng tới nền văn hóa truyền thống dân tộc Vì vậy, học viên nhận thấy cầnphải hoàn thiện hơn nữa công tác quản lý Nhà nước đối với các doanh nghiệpvăn hóa, đặc biệt là các doanh nghiệp văn hóa trên địa bàn thành phố Hà Nội

2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài luận văn

Qua tìm hiểu các công trình nghiên cứu, tác phẩm, đề tài luận văn, đã

có một số công trình đề cập đến QLNN về văn hóa như:

2.1 Phát triển văn hóa với tư cách nền tảng tinh thần của xã hội trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam hiện nay Luận án tiến sĩ: Trần Thị Minh Đại học Quốc gia Hà Nội, 2012.

Luận án nghiên cứu những vấn đề lý luận chung về phát triển văn hoávới tư cách nền tảng tinh thần của xã hội trong điều kiện kinh tế thị trườngđịnh hướng xã hội chủ ngh a Luận án đề cập đến thực trạng, tính khả thitrong một số phương hướng và giải pháp phát triển văn hoá với tư cách nềntảng tinh thần của xã hội Việt Nam hiện nay Tuy vậy, luận án chưa đề cậpnhiều đến khối doanh nghiệp trong l nh vực văn hóa

Trang 11

2.2 Bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa truyền thống Việt Nam trong đổi mới và hội nhập Chủ biên: GS.TS Ngô Đức Thịnh Nhà xuất bản chính trị Quốc gia- Sự thật, 2010.

Một đề tài nghiên cứu “giá trị văn hóa truyền thống” được tiếp cận dướigóc độ văn hóa học Nội dung cuốn sách đề cập đến ba vấn đề chính: Việc tiếpthu và xây dựng một hệ thống các lý thuyết về văn hóa và hệ giá trị văn hóa;

Hệ giá trị tổng quát truyền thống Việt Nam; Các giá trị văn hóa thể hiện trongcác l nh vực khác nhau của đời sống dân tộc, như thích ứng, khai thác hợp lýcác nguồn tài nguyên thiên nhiên, trong đời sống vật chất thỏa mãn nhu cầu

ăn, mặc, ở, đi lại, trong cách thức tổ chức và ứng xử xã hội, trong sáng tạovăn học - nghệ thuật, trong đời sống tâm linh, tôn giáo tín ngưỡng, trong giáodục đào tạo, trong giao lưu văn hóa, trong đấu tranh chống ngoại xâm… Đềtài tập trung nghiên cứu, xây dựng khung lý thuyết về giá trị văn hóa truyềnthống trong thời kỳ đổi mới và hội nhập, chưa đề cập đến vai trò của quản lýnhà nước về vấn đề này

2.3 Một số vấn đề lý luận và thực tiễn xây dựng, phát triển văn hóa Việt Nam Tác giả: PGS.TS Nguyễn Thị Thương- ThS Trần Kim Cúc NXB Chính trị Quốc gia- sự thật, 2011.

Công trình của hai tác giả PGS.TS Nguyễn Thị Thương- ThS Trần KimCúc nghiên cứu một số vấn đề lý luận và thực tiễn xây dựng, phát triển vănhóa Việt Nam trong bối cảnh đổi mới, hội nhập quốc tế Dựa trên những quanđiểm của chủ ngh a Mác- Lênin và kinh nghiệm của một số nước trên thế giới

về xây dựng và phát triển văn hóa, các tác giả đã đưa ra bài học cho Việt Namtrong việc xây dựng chính sách kinh tế phát triển công nghiệp văn hóa; pháttriển thị trường văn hóa phẩm; phát huy vai trò của các loại hình văn hóa đốivới giáo dục chủ ngh a yêu nước; giao lưu, học hỏi văn hóa các nước trên thếgiới trong thời kỳ hội nhập Mặc dù vậy, Phần III của cuốn

Trang 12

sách: “Thực tiễn xây dựng và phát triển văn hóa Việt Nam trong những nămđổi mới” chủ yếu đưa ra các giải pháp chung mang tính chính sách, chưa đềcập đến các giải pháp cụ thể đối với từng thành phần hoạt động trong l nh vựcvăn hóa, trong đó có doanh nghiệp văn hóa.

2.4 Quản lý văn hóa Việt Nam trong tiến trình đổi mới và hội nhập quốc tế Chủ nhiệm đề tài: Phan Hồng Giang Cơ quan chủ trì: Viện Văn hóa Nghệ thuật Việt Nam, 2011.

Đây là công trình nghiên cứu đề cập tới quản lý nhà nước về Văn hóatrong tiến trình đổi mới và bối cảnh hội nhập quốc tế Công trình đã nêu rõ, cụthể thực trạng quản lý văn hóa nước ta từ năm 1986 đến 2009 đặc biệt nhấmmạnh từ năm 2001 đến năm 2009, trong đó đề cấp đến nhiều khía cạnh như

m thuật, điện ảnh, phát thanh, báo chí, thư viện, nghệ thuật biểu diễn, xuấtbản in ấn, văn hóa thông tin cơ sở, di sản văn hóa, dịch vụ văn hóa… và

doanh nghiệp văn hóa Tuy nhiên, đề tài chưa đưa ra phương hướng, giải pháp

cụ thể quản lý doanh nghiệp văn hóa trong những năm tiếp theo

2.5 Nghiên cứu xây dựng và phát triển ngành công nghiệp văn hóa Thủ

đô Hà Nội Tác giả: PGS.TS Phạm Duy Đức- ThS Vũ Phương Hậu NXB Văn hóa- Thông tin & Viện Văn hóa, 2012.

Công trình nghiên cứu của PGS.TS Phạm Duy Đức- ThS Vũ PhươngHậu đồng chủ biên được xuất bản năm 2012 Cuốn sách gồm 03 chương:Chương I Nhận thức lý luận về công nghiệp văn hóa; Chương II Đánh giáthực trạng công nghiệp văn hóa của Thủ đô từ năm 1990 đến năm 2012;Chương III Phương hướng, giải pháp tạo động lực cho việc xây dựng và pháttriển ngành công nghiệp văn hóa nhằm bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóacủa Thủ đô Hà Nội Công trình đã đánh giá chính xác thực trạng của ngànhcông nghiệp văn hóa nước ta, nêu ra những số liệu cụ thể trên các l nh vựcnhư báo chí, phát thanh truyền hình, điện ảnh, xuất bản, công nghiệp băng

Trang 13

đa, sản xuất đồ chơi Đánh giá những mặt đạt được và những bất cập trongcông tác quản lý, từ đó đưa ra phương hướng, giải pháp trong việc phát triểnngành công nghiệp văn hóa trong thời gian tới Mặc dù vậy, phương hướng,giải pháp về phạm vi thời gian không được đề cập tới.

2.6 Phát triển văn hóa- sức mạnh nội sinh của dân tộc trong điều kiện kinh tế thị trường và hội nhập quốc tế Tác giả: Phùng Hữu Phú- Đinh Xuân Dũng- Phạm Quang Long…Học viện Chính trị Quốc gia, 2016.

Cuốn sách được xây dựng trên cơ sở kết quả nghiên cứu của đề tài khoahọc cấp Nhà nước: “Định hướng phát triển văn hóa - Sức mạnh nội sinh củadân tộc trong điều kiện kinh tế thị trường và hội nhập quốc tế” với sự thamgia của nhiều nhà khoa học, văn hóa học đầu ngành trong cả nước Nội dungcuốn sách được chia làm 5 chương: Chương I Nhận diện văn hóa với tư cách

là hệ giá trị, là sức mạnh nội sinh của sự phát triển; Chương II Văn hóa là sứcmạnh nội sinh của dân tộc Việt Nam trong tiến trình lịch sử; Chương III Vănhóa trong điều kiện kinh tế thị trường và hội nhập quốc tế; Chương IV Xử lýmối quan hệ biện chứng giữa văn hóa với các thành tố cơ bản của đời sống xãhội - Nguồn lực và sức mạnh nội sinh của sự phát triển bền vững trong điềukiện kinh tế thị trường và hội nhập quốc tế; Chương V Đề xuất hoàn thiệnquan điểm chỉ đạo, mục tiêu, nhiệm vụ và giải pháp phát triển văn hóa phục

vụ phát triển bền vững đất nước trong thời kỳ mới

Các tác giả trong cuốn sách đã đánh giá một cách toàn diện những cơ

sở lịch sử, lý luận và thực tiễn để khẳng định vai trò của văn hóa là sức mạnhnội sinh quan trọng của dân tộc trong quá trình đổi mới và phát triển đất nước.Nền văn hoá Việt Nam được xây dựng và phát triển trong hàng nghìn năm laođộng sáng tạo, đấu tranh kiên cường dựng nước và giữ nước của cộng đồngcác dân tộc, là kết quả giao lưu và tiếp thu tinh hoa văn hóa của nhiều nền vănminh thế giới để không ngừng hoàn thiện mình…

Trang 14

2.7 QLNN về hoạt động nghệ thuật biểu diễn trên địa bàn tỉnh Ninh Bình Luận văn thạc sĩ: Nguyễn Quỳnh Anh- Học viện Hành chính Quốc gia, 2015.

Công trình tập trung nghiên cứu về hoạt động biểu diễn nghệ thuật trênđịa bàn tỉnh Ninh Bình Công trình đã chỉ ra được những tồn tại, hạn chế thựctrạng hoạt động các loại hình biểu diễn nghệ thuật trên địa bàn tỉnh NinhBình Qua đó đưa ra các phương hướng, giải pháp phát triển các loại hìnhnghệ thuật, hoàn thiện công tác QLNN về l nh vực này Tuy vậy, đối tượngnghiên cứu chưa rộng, cụ thể chỉ nghiên cứu các đơn vị sự nghiệp, doanhnghiệp nhà nước, doanh nghiệp tư nhân hoạt động biểu diễn nghệ thuật trênđịa bàn tỉnh Ninh Bình, các loại hình văn hóa khác không đề cập tới

Ngoài những công trình nghiên cứu nêu trên, còn rất nhiều những côngtrình, đề tài khoa học khác nghiên cứu đến văn hóa, doanh nghiệp Nhưngchưa có công trình nào nghiên cứu về doanh nghiệp văn hóa, cụ thể là doanhnghiệp văn hóa trên địa bàn thành phố Hà Nội

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của luận văn

3.1 Mục đích

Mục đích chung của luận văn là hoàn thiện quản lý nhà nước về doanhnghiệp trong l nh vực văn hóa Từ đó luận văn có các mục đích cụ thể sauđây:

- Xác định khung lý thuyết nghiên cứu về quản lý nhà nước về doanh nghiệp văn hóa

- Xác định căn cứ thực tiễn về quản lý nhà nước về doanh nghiệpvăn

hóa trên địa bàn thành phố Hà Nội

- Nghiên cứu phương hướng và giải pháp hoàn thiện quản lý nhà nước

về doanh nghiệp văn hóa trên địa bàn thành phố Hà Nội

Trang 15

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận văn

4.1 Đối tượng nghiên cứu

Luận văn tập trung nghiên cứu quản lý nhà nước về doanh nghiệp hoạt động trong l nh vực văn hóa

4.2 Phạm vi nghiên cứu

- Phạm vi về nội dung nghiên cứu:

Luận văn nghiên cứu nội dung toàn diện của quản lý nhà nước cấp thành phố về doanh nghiệp văn hóa

- Phạm vi về không gian nghiên cứu:

- Phạm vi về thời gian nghiên cứu:

Luận văn nghiên cứu quản lý nhà nước về doanh nghiệp văn hóa trong khoảng thời gian từ năm 2006- 2016, định hướng đến năm 2020

5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu của luận văn.

- Cơ sở lý lu n:

Luận văn được thực hiện dựa trên những nguyên lý của Chủ ngh a Mác- Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm của Đảng Cộng Sản Việt Nam

Trang 16

về xây dựng và phát triển văn hóa, con người Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững đất nước.

- Phương pháp nghiên cứu:

Trong quá trình nghiên cứu và trình bày luận văn, học viên sử dụng cácphương pháp như phương pháp biện chứng duy vật, phương pháp nghiên cứutài liệu, phương pháp phân tích tổng hợp, phương pháp so sánh; phương phápthống kê

6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn

6.1 Ý nghĩa lý lu n

Luận văn trình bày để làm rõ một số vấn đề lý luận về quản lý nhà nước

về doanh nghiệp văn hóa, cụ thể: Phân tích đặc điểm của doanh nghiệp vănhóa; Sự cần thiết của quản lý nhà nước về doanh nghiệp văn hóa; Nội dung cơbản của quản lý nhà nước về doanh nghiệp văn hóa và phân tích các yếu tốảnh hưởng tới quản lý nhà nước về doanh nghiệp văn hóa

6.2 Ý nghĩa thực tiễn

Luận văn hoàn thành có thể trở thành tài liệu tham khảo cho các nhàquản lý, các nhà hoạch định chính sách đối với doanh nghiệp văn hóa trên địabàn thành phố Hà Nội nói riêng và doanh nghiệp văn hóa cả nước nói chung

Đồng thời, luận văn có thể trở thành tài liệu tham khảo cho giáo viên vàhọc viên trong giảng dạy và nghiên cứu trong các trường đại học thuộc khốikinh tế

7 Kết cấu của luận văn

Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Danh mục tài liệu tham khảo và Phụ lụcnội dung của luận văn được kết cấu thành ba chương:

Chương 1: Cơ sở khoa học về quản lý nhà nước về doanh nghiệp văn

hóa

Trang 17

Chương 2: Thực trạng quản lý nhà nước về doanh nghiệp văn hóa trên

địa bàn thành phố Hà Nội

Chương 3: Phương hướng và giải pháp hoàn thiện quản lý nhà nước

về doanh nghiệp văn hóa trên địa bàn thành phố Hà Nội

Trang 18

Chương 1

CƠ SỞ KHOA HỌC QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ

DOANH NGHIỆP VĂN HÓA

1.1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ DOANH NGHIỆP VĂN HÓA

1.1.1 Khái niệm doanh nghiệp văn hóa

Doanh nghiệp là tên gọi của một loại hình tổ chức trong xã hội đượchình thành và hoạt động hướng tới mục đích lợi nhuận nhất định Đa phần cácquan điểm trong nước và ngoài nước đều có ý ngh a tương đồng với nhau, sauđây là một số quan điểm phổ biến:

Theo từ điển bách khoa toàn thư mở Wikipedia thì Doanh nghiệp hayđúng ra là doanh thương là một tổ chức kinh tế, có tên riêng, có tài sản, có trụ

sở giao dịch ổn định, được đăng ký kinh doanh theo quy định của pháp luậtnhằm mục đích thực hiện các hoạt động kinh doanh

Theo Luật Công ty năm 1990 thì Doanh nghiệp là đơn vị kinh doanhđược thành lập được thành lập nhằm mục đích chủ yếu là thực hiện các hoạtđộng kinh doanh Và “kinh doanh” là việc thực hiện một, một số hoặc tất cảcông đoạn của quá trình đầu tư, từ sản xuất đến tiêu thụ sản phẩm hoặc thựchiện dịch vụ trên thị trường nhằm mục đích sinh lợi Theo Luật Doanh nghiệp

tư nhân năm 1991 thì Doanh nghiệp tư nhân là đơn vị kinh doanh có mức vốnkhông thấp hơn vốn pháp định, do một cá nhân làm chủ và tự chịu tráchnhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình về mọi hoạt động của doanh nghiệp

Theo Luật Doanh nghiệp năm 1999 và Luật Doanh nghiệp năm 2005thay thế thì Doanh nghiệp là tổ chức kinh tế có tên riêng, có tài sản, có trụ sởgiao dịch ổn định, được đăng ký kinh doanh theo quy định của pháp luậtnhằm mục đích thực hiện các hoạt động kinh doanh

Trang 19

Và mới đây nhất, theo Luật Doanh nghiệp năm 2014 thì Doanh nghiệp

là tổ chức có tên riêng, có tài sản, có trụ sở giao dịch, được đăng ký thành lậptheo quy định của pháp luật nhằm mục đích kinh doanh

Như vậy, Doanh nghiệp văn hóa là những doanh nghiệp được thành lập theo quy định của pháp luật nhằm mục đích kinh doanh trong lĩnh vực văn hóa.

1.1.2 Các loại hình doanh nghiệp văn hóa

L nh vực văn hóa là một l nh vực rộng lớn Do đó việc phân loại cácdoanh nghiệp văn hóa khá phức tạp Tuy nhiên, có thể phân loại doanh nghiệpvăn hóa theo một số hình thức sau:

1.1.2.1 Ph n loại theo h nh thức pháp lý doanh nghiệp

Theo Luật doanh nghiệp số 68/2014/QH13 thì doanh nghiệp văn hóađược chia thành 05 loại hình sau đây:

a Doanh nghiệp tư nhân: là doanh nghiệp do một cá nhân làm chủ và tựchịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình về mọi hoạt động của doanhnghiệp Mỗi cá nhân chỉ được quyền thành lập một doanh nghiệp tư nhân

b Công ty hợp danh: là doanh nghiệp trong đó có ít nhất hai thành viên

là chủ sở hữu của công ty, cùng kinh doanh dưới một cái tên chung (gọi làthành viên hợp danh) Thành viên hợp doanh phải là cá nhân và chịu tráchnhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình về các ngh a vụ của công ty Ngoài ratrong công ty hợp danh còn có các thành viên góp vốn

c Công ty trách nhiệm hữu hạn: (bao gồm công ty trách nhiệm hữu hạnhai thành viên trở lên và công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên) làdoanh nghiệp mà các thành viên trong công ty chịu trách nhiệm về các khoản

nợ và ngh a vụ tài sản khác của công ty trong phạm vi số vốn điều lệ của côngty

Trang 20

d Công ty cổ phần: là doanh nghiệp mà vốn điều lệ của công ty đượcchia thành nhiều phần bằng nhau gọi là cổ phần Cá nhân hay tổ chức sở hữu

cổ phần của doanh nghiệp được gọi là cổ đông và chịu trách nhiệm về cáckhoản nợ và các ngh a vụ tài sản khác trong phạm vi số vốn đã góp vào doanhnghiệp

e Doanh nghiệp Nhà nước: là tổ chức kinh tế do Nhà nước sở hữu toàn

bộ vốn điều lệ hoặc có cổ phần, vốn góp chi phối, được tổ chức dưới hìnhthức công ty nhà nước, công ty cổ phần, công ty trách nhiệm hữu hạn

1.1.2.2 Ph n loại theo lĩnh vực hoạt đ ng:

Căn cứ Nghị định 103/2009/NĐ-CP ngày 06/11/2009 của Chính phủ cóthể phân loại các doanh nghiệp văn hóa hoạt động theo các l nh vực như sau:

- Nhóm doanh nghiệp hoạt động trong l nh vực nghệ thuật biểu diễn,

trình diễn thời trang

- Nhóm doanh nghiệp hoạt động trong l nh vực xuất bản, in ấn, ấn phẩm văn hóa

- Nhóm doanh nghiệp hoạt động trong l nh vực quảng cáo, viết, đặt biển hiệu…

- Nhóm doanh nghiệp hoạt động trong l nh vực lưu hành, kinh doanh

băng, đ a ca nhạc, sân khấu

- Nhóm doanh nghiệp hoạt động trong l nh vực điện ảnh, phát thanh, truyền hình, ghi âm, xuất bản âm nhạc

- Nhóm doanh nghiệp kinh doanh hoạt động vũ trường,

karaoke

- Nhóm doanh nghiệp kinh doanh hoạt động m thuật, triển lãm văn

hóa, nhiếp ảnh, thư viện, bảo tàng, lưu trữ

- Nhóm doanh nghiệp kinh doanh hoạt động trò chơi điện tử, các dịch

Trang 21

12

Trang 22

Như đã trình bày ở trên, doanh nghiệp văn hóa được định ngh a lànhững doanh nghiệp được thành lập theo quy định của pháp luật nhằm mụcđích kinh doanh trong l nh vực văn hóa Do vậy, doanh nghiệp văn hóa mangmột số đặc điểm của văn hóa, khác biệt với các loại hình doanh nghiệp khác,

cụ thể:

- Về phạm vi hoạt động:

L nh vực văn hóa và một l nh vực rất rộng lớn Do đó phạm vi hoạtđộng của doanh nghiệp văn hóa là rất rộng lớn, từ những ngành nghề nghệthuật biểu diễn truyền thống như tuồng, trèo, ca múa nhạc, cải lương, kịch nói,chầu văn, các lễ hội văn hóa truyền thống, thư viện, sách, báo cho đến nhữngngành nghề mới phát triển những năm gần như karaoke, vũ trường, quảngcáo, trò chơi điện tử, các dịch vụ vui chơi giải trí như công viên nước, nhà ma,các lễ hội của phương Tây

- Về khách hàng hay là đối tượng của doanh nghiệp văn hóa hướng

đến:

Có thể nói khách hàng của doanh nghiệp văn hóa là toàn dân Mọi tầnglớp trong xã hội, mọi lứa tuổi đều có nhu cầu thưởng thức nghệ thuật, tiêudùng, sử dụng các sản phẩm văn hóa Từ trí thức, công chức, giáo viên, bác scho đến nông dân, công nhân, mọi lứa tuổi từ già đến trẻ, người giàu, ngườinghèo đều có nhu cầu thưởng thức văn hóa nghệ thuật Chính vì vậy kháchhàng mà doanh nghiệp văn hóa hướng đến là vô cùng đông đảo Đây là mộtlợi thế lớn của doanh nghiệp văn hóa so với các doanh nghiệp khác

- Về sản phẩm của doanh nghiệp văn hóa:

Sản phẩm mà doanh nghiệp văn hóa cung cấp cho xã hội vô cùng đadạng, phong phú Ngoài những sản phẩm có hình thể xác định (hữu hình) nhưbăng đ a, tranh, ảnh, sách, báo, ấn phẩm, biển hiệu quảng cáo…Doanh nghiệpvăn hóa cho ra những sản phẩm phi hình thể như vở kịch, vở chèo, một bài

Trang 23

hát, ca khúc, một bộ phim, các hoạt động vui chơi giải trí, lễ hội, di sản vănhóa phi vật thể…

Sản phẩm của doanh nghiệp văn hóa còn có tính đa giá trị, ngoài nhữnggiá trị về mặt kinh tế còn có giá trị về mặt xã hội (chính trị, giáo dục, ngoạigiao) Ví dụ, một vở kịch ngoài những giá trị có thể xác định được như số tiềnđầu tư, doanh thu đem lại, số lượng người xem…còn đem lại những giá trịnghệ thuật như quảng bá nét đẹp văn hóa của con người, đất nước tới bạn bècác nước trong khu vực và quốc tế Hơn nữa còn đem lại giá trị về giáo dục,thông qua ngôn ngữ, nội dung, ý ngh a của vở kịch truyền tải, hướng conngười tới những giá trị tốt đẹp trong cuộc sống…

1.1.4 Vai trò của doanh nghiệp văn hóa đối với sự phát triển kinh

tế, văn hóa, xã hội

Doanh nghiệp văn hóa có vai trò đặc biệt quan trọng đối với sự pháttriển kinh tế- văn hóa- xã hội, cụ thể:

Đầu tiên, phải kể đến các loại dịch vụ mà doanh nghiệp văn hóa cung

ứng trong xã hội ngày nay ngày càng phát triển đa dạng, phong phú, vừa tạo

cơ hội cho người kinh doanh, lại vừa đáp ứng nhu cầu hưởng thụ tinh thần của người dân.

Hoạt động kinh doanh của dịch vụ văn hóa gắn với quá trình phát triểncủa nền kinh tế thị trường Kinh tế thị trường phát triển sẽ tác động làm chocác doanh nghiệp văn hóa ngày càng phát triển phong phú đa dạng Các hoạtđộng này tác động trực tiếp đến nhận thức và hành vi của người dân Doanhnghiệp văn hóa trong xã hội càng phát triển thì chất lượng dịch vụ văn hóacung ứng cho nhu cầu hưởng thụ của con người càng được nâng cao Xã hộiphát triển càng cao, nhu cầu hưởng thụ văn hóa của con người càng lớn

Thực tiễn ở nhiều quốc gia trên thế giới cho thấy: trong sự tăng trưởngkinh tế và phát triển văn hoá, nếu như không đồng bộ, không cân bằng thì sẽ

Trang 24

rơi vào tình trạng khủng hoảng trong đời sông văn hoá – tinh thần của toàn xãhội Vì vậy, phát triển đa dạng và phong phú các doanh nghiệp văn hóa cũng

là một trong số những biện pháp tích cực để nâng cao đời sống tinh thần, làmcho văn hoá xâm nhập vào mọi l nh vực của đời sống xã hội, đồng thời tạođiều kiện thúc đẩy văn hoá phát triển

Thứ hai, doanh nghiệp văn hóa đóng góp cho sự phát triển của ngành

công nghiệp văn hóa.

Trong xã hội hiện nay, sự bùng nổ, phát triển của ngành công nghệthông tin, điện tử đã đem lại cho các ngành khác được kế thừa những ứngdụng khoa học k thuật để đưa vào sản xuất, kinh doanh Các sản phẩm vănhóa ngày càng được cải thiện, nâng cao cả về số lượng, chất lượng, không chỉđem lại cả về giá trị kinh tế mà còn đem lại hiệu ích về xã hội Từ đó, cácdoanh nghiệp nâng cao được khả năng cạnh tranh với các nước trong khu vực

và trên thế giới Các ngành công nghiệp văn hóa bao gồm các l nh vực nhưbáo chí, phát thanh truyền hình, xuất bản, in ấn, dịch vụ vui chơi giải trí, nghệthuật biểu diễn, quảng cáo…đã và đang là một l nh vực đi đầu để đáp ứng nhucầu văn hóa của xã hội

Thứ ba, doanh nghiệp văn hóa tạo nhiều công ăn việc làm, tăng thu

nhập cho người lao động và qua đó góp phần thực hiện các mục tiêu quốc gia

về phát triển bền vững.

Các DNVH được xem là khu vực tạo ra việc làm và thu nhập nhiềutrong nền kinh tế, đặc biệt là ở các nền kinh tế đang phát triển Với khả năngtạo ra nhiều công ăn việc làm, tăng thu nhập cho người lao động, DNVH luônđược xem là động lực kinh tế quan trọng để giảm bớt chênh lệch về mức sốnggiữa các tầng lớp dân cư, xóa đói giảm nghèo cho các khu vực nông thôn, qua

đó giải quyết các vấn đề xã hội, góp phần thực hiện các mục tiêu quốc gia vềphát triển bền vững

Trang 25

Thứ tƣ, doanh nghiệp văn hóa còn có vai trò khai thác tiềm năng kinh

tế của văn hóa, tạo sự cạnh tranh sản xuất, tiêu thụ hàng hóa, sản phẩm của các ngành, lĩnh vực khác.

Các tổ chức, doanh nghiệp văn hóa đã và đang đóng vai trò quan trọngtrong việc thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, thông qua tăng cường sự tích hợpgiữa văn hóa - nghệ thuật với kinh doanh và công nghệ Phát triển các doanhnghiệp văn hóa là một biện pháp để tăng trưởng, đổi mới kinh tế, biến văn hóatrở thành một thành tố quan trọng của thương mại và cạnh tranh quốc tế Pháttriển doanh nghiệp văn hóa phải được coi là một thành tố quan trọng của quátrình phát triển kinh tế - xã hội của đất nước Vì thế, phát triển doanh nghiệpvăn hóa đúng đắn sẽ góp phần tích cực vào quá trình tái cấu trúc nền kinh tế

và đổi mới mô hình tăng trưởng ở Việt Nam hiện nay Doanh nghiệp văn hóa

sẽ khai thác tốt hơn mọi nguồn tài nguyên văn hóa phục vụ cho phát triển kinh

tế Với đặc trưng riêng, phát triển doanh nghiệp văn hóa là hướng phát triển

mà các quốc gia đều quan tâm, bởi nó có khả năng tạo ra sự đột phá trongphát triển kinh tế tri thức, kinh tế văn hóa, đưa phát triển kinh tế theo chiềusâu

Trong nền kinh tế thị trường, sản phẩm của doanh nghiệp văn hoá, dướigóc độ là hàng hoá tinh thần cũng chịu sự tác động của quy luật cạnh tranh,đây là động lực, là một trong những nguyên tắc cơ bản, tồn tại khách quan vàkhông thể thiếu được trong nền kinh tế thị trường Trên thực tế, cạnh tranh cóvai trò to lớn, nó buộc người sản xuất - kinh doanh - dịch vụ phải thườngxuyên áp dụng phương pháp công nghệ mới, phải nhạy bén năng động và tổchức quản lý có hiệu quả Ở bất cứ nơi đâu và bất cứ lúc nào, nếu thiếu cạnhtranh hoặc có biểu hiện độc quyền thì lại xuất hiện tình trạng bảo thủ, trì trệ,kém hiệu quả, cái cũ không được thay thế, cái mới không đi vào cuộc sống và

do vậy cũng không phát triển được

Trang 26

Ngoài ra, doanh nghiệp văn hóa là các đơn vị trực tiếp tiêu thụ, sử dụngcác sản phẩm, nguồn lực từ các ngành, l nh vực khác như giao thông, vận tải,công nghiệp, thuê mướn nhân công, giáo dục, đào tạo, lương thực, thực phẩmv.v… Với số lượng doanh nghiệp văn hóa ngày càng gia tăng cả về số lượng

và chất lượng thì đây cũng là yếu tố đóng góp vào GDP của Việt Nam Hàngnăm, các doanh nghiệp văn hóa đóng góp lớn vào ngân sách nhà nước thôngqua ngh a vụ nộp thuế

Tuy nhiên, doanh nghiệp văn hóa cũng có những tác động tiêu cực có

thể xảy ra đối với sự phát triển kinh tế- xã hội.

Hoạt động của doanh nghiệp văn hóa cũng mang tính hai mặt, vừa cómặt tích cực, lại vừa có mặt tiêu cực Mặt tích cực là đòi hỏi các hoạt độngphải đáp ứng được mọi nhu cầu của đời sống văn hóa tinh thần trong nhândân, thúc đẩy sự cạnh tranh lẫn nhau, do vậy phải luôn năng động, sáng tạo,tiếp cận nhanh và tiếp thu cái mới Tuy nhiên, mặt tiêu cực là dễ đẩy các hoạtđộng văn hóa đi vào con đường thương mại hóa, xuất phát từ lợi ích riêng, vớimục tiêu là lợi nhuận, dẫn đến các hành vi bất chấp các quy định của phápluật, làm băng hoại đạo đức lối sống của một bộ phận thành viên trong xã hội,nhất là thanh - thiếu niên

Sự cạnh tranh không lành mạnh ngay chính giữa các doanh nghiệp vănhóa cũng có thể để lại những tác hại, ảnh hướng tới sự phát triển kinh tế- xãhội như làm xuất hiện những hình thức lừa đảo, chộp giật, câu khách, trốn lậuthuế, xâm phạm bản quyền, mua chuộc, hối lộ, làm đồi bại các quan hệ xã hội.Nếu đơn thuần chạy theo lợi ích riêng, sẽ dẫn đến hậu quả về tài nguyên môitrường, thất nghiệp, gia tăng sự phân hóa giàu nghèo và những bất công trong

xã hội Hoạt động cung ứng dịch vụ văn hóa của các doanh nghiệp trong nềnkinh tế thị trường cũng không đứng ngoài sự tác động này của quy luật cạnhtranh trong xã hội

Trang 27

1.2 NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN CỦA QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ DOANH NGHIỆP TRONG LĨNH VỰC VĂN HÓA

1.2.1 Khái niệm về quản lý nhà nước về doanh nghiệp văn hóa

Doanh nghiệp văn hóa là một bộ phận có tính đặc thù nằm trong cộngđồng doanh nghiệp, do đó QLNN về doanh nghiệp văn hóa cũng phải đặttrong khuôn khổ QLNN đối với hệ thống doanh nghiệp nói chung và nói rộnghơn là QLNN về kinh tế Trong luận văn này, tác giả dựa vào khái niệmQLNN về kinh tế, QLNN đối với doanh nghiệp nói chung và những đặc trưngcủa doanh nghiệp văn hóa, từ đó đưa ra khái niệm QLNN về doanh nghiệpvăn hóa theo một cách tiếp cận phù hợp với nền kinh tế thị trường toàn cầuhoá

1.2.1.1 Khái niệm quản lý nhà nước về doanh nghiệp nói chung

Hiện nay còn có nhiều khái niệm được đưa ra về QLNN về doanhnghiệp:

- Giáo trình Quản lý học Kinh tế Quốc dân của trường Đại học Kinh tếQuốc dân cho rằng QLNN đối với doanh nghiệp là khâu cơ bản trong quản lýkinh tế; đó là sự tác động có chủ đích, có tổ chức và bằng pháp quyền Nhànước lên các doanh nghiệp và vì mục tiêu phát triển kinh tế- xã hội của đấtnước

- Giáo trình Quản lý nhà nước về kinh tế của Học viện Hành chínhQuốc gia cho rằng QLNN đối với doanh nghiệp là sự tác động có chủ đích, có

tổ chức và bằng pháp quyền Nhà nước lên các doanh nghiệp và vì mục tiêuphát triển kinh tế- xã hội của đất nước

Tổng hợp và kế thừa có chọn lọc một số quan điểm, tác giả luận vănđưa ra khái niệm: QLNN đối với doanh nghiệp là quá trình tác động của Nhànước lên doanh nghiệp, bảo đảm cho doanh nghiệp sử dụng có hiệu quả nhất

Trang 28

các nguồn lực, tiềm năng và cơ hội để kinh doanh có hiệu quả, nhằm thựchiện các mục tiêu phát triển kinh tế- xã hội.

1.2.1.2 Khái niệm quản lý nhà nước về doanh nghiệp văn hóa

Dựa trên khái niệm về quản lý nhà nước đối với doanh nghiệp nóichung, luận văn đưa ra khái niệm QLNN đối với các DNVH như sau:

QLNN về các DNVH là sự tác động của Nhà nước lên các DNVH, thông qua quá trình hoạch định, tổ chức, chỉ đạo và kiểm soát hoạt động của doanh nghiệp, tạo ra môi trường thuận lợi sao cho doanh nghiệp thực hiện được các sứ mệnh của mình với hiệu lực, hiệu quả cao một cách bền vững, hướng tới mục tiêu phát triển kinh tế, xã hội của đất nước trong điều kiện biến động của môi trường trong nước và quốc tế.

Trong đó:

- Chủ thể QLNN về DNVH, đó là bộ máy QLNN gồm nhiều cơ quan quản lý các l nh vực, các ngành khác nhau của nền KTQD

- Đối tượng quản lý là các DNVH

- Công cụ của QLNN về DNVH là tổng thể những phương tiện hữuhình và vô hình mà Nhà nước sử dụng để tác động lên mọi chủ thể kinh doanhtrong hoạt động của DNVH nhằm mục tiêu quản lý Công cụ QLNN về

+ Pháp luật, là hệ thống các quy tắc xử sự có tính chất bắt buộc chung

do Nhà nước đặt ra, thực thi và bảo vệ, nhằm mục tiêu bảo toàn và phát triển

xã hội theo các đặc trưng đã định

+ Kế hoạch, là phương án hành động, là quá trình xây dựng, quán triệt,chấp hành và giám sát, kiểm tra việc thực hiện phương án QLNN về

+ Chính sách, là một tập hợp các giải pháp nhất định nhằm thực hiện đểđạt được các mục tiêu xác định trong QLNN về DNVH

Trang 29

- Mục tiêu của QLNN về DNVH, đó là tăng trưởng và ổn định kinh tế; phát triển bền vững.

- Nội dung QLNN về DNVH xét theo quá trình quản lý, gồm các chức năng hoạch định, tổ chức, điều hành và kiểm soát hệ thống DNVH

1.2.2 Đặc điểm của quản lý nhà nước về doanh nghiệp văn hoá

Từ các nguyên tắc và nội dung về Nhà nước và doanh nghiệp, trongmối quan hệ quản lý, tiếp cận nghiên cứu là từ phía Nhà nước trong việc quản

lý nhà nước đối với hoạt động của các doanh nghiệp, phải được thể hiện đồngthời hai đặc điểm:

- Vừa thực hiện quyền lực Nhà nước trong kiểm tra, giám sát doanh

nghiệp

- Vừa phải phục vụ cho hoạt động của doanh nghiệp

* Quản lý mang tính quyền lực Nhà nước:

- Quản lý nhà nước là sự tác động có tổ chức và điều chỉnh của các chủthể mang quyền lực Nhà nước, được thực hiện bằng bộ máy công cụ đồng bộtrong gắn kết phối hợp của Nhà nước

- Các chủ thể quản lý mang quyền lực Nhà nước, nói gọn là các cơquan quản lý nhà nước, phải thực hiện hoạt động quản lý nhà nước bằngquyền lực công cụ và bộ máy của Nhà nước, mà cụ thể là:

+ Phải chấp hành theo các cơ quan quyền lực Nhà nước cấp trên đã lập

ra chính cơ quan quản lý nhà nước đang thực hiện công vụ

+ Điều hành, trên cơ sở chấp hành, để tổ chức thực hiện nội dung công việc quản lý nhà nước

* Quản lý của Nhà nước phải phục vụ cho hoạt động của doanh nghiệp

- Tôn trọng quy luật hoạt động của thị trường: chức năng quản lý củaNhà nước chỉ là tạo môi trường pháp lý, hướng dẫn, điều tiết và xử lý vi

Trang 30

phạm, chứ không làm thay chức năng kinh doanh của doanh nghiệp; tôn trọng

và tạo điều kiện cho khả năng tự điều chỉnh của thị trường

- Phát huy cơ chế tự kiểm tra giữa các chủ thể trong khi giao dịch và cơchế tự kiểm soát của chính bản thân doanh nghiệp

- Trong quản lý, hỗ trợ doanh nghiệp, tìm cách tháo gỡ khó khăn là nhiệm vụ chính, chế tài chỉ là bất đắc d

- Công chức Nhà nước phải sâu sát cơ sở sản xuất và thị trường kinhdoanh, chịu khó tiếp thu ý kiến, kịp thời nghiên cứu, nhanh chóng đề xuất vớiNhà nước để ban hành kịp thời các cơ chế chính sách phù hợp với sự vậnđộng của cơ chế thị trường

Nhà nước chỉ nên quản lý tối thiểu, ngh a là chỉ quản lý những nội dungchủ yếu liên quan đến tư cách pháp nhân, tình hình tài chính, chất lượng sảnphẩm, các ngh a vụ của doanh nghiệp văn hóa phải thực hiện với Nhà nước vàtrách nhiệm đối với các doanh nghiệp văn hóa khác trong sự tuân thủ phápluật

1.2.3 Sự cần thiết hoàn thiện quản lý nhà nước về doanh nghiệp văn hóa trong nền kinh tế thị trường định hướng XHCN

Trong bối cảnh hội nhập, giao lưu văn hóa giữa các nước trong khu vực

và trên thế giới Công tác quản lý nhà nước về doanh nghiệp văn hóa củanước ta, đặc biệt là các doanh nghiệp văn hóa trên đại bàn thành phố Hà Nội

là một vấn đề bức thiết Nhà nước đóng vai trò quan trọng trong việc địnhhướng, quy hoạch và thúc đẩy sự phát triển của các doanh nghiệp văn hóa Sựcần thiết của quản lý nhà nước về doanh nghiệp văn hóa được thể hiện nhưsau:

Một là, do yêu cầu xây dựng và phát triển văn hóa, con người Việt

Nam đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững đất nước.

Trang 31

Nền văn hóa phải trong giai đoạn mới phải hội tụ cả hai yếu tố: yêunước và tiến bộ Yêu nước là truyền thống của dân tộc, yêu nước ngày naycũng chính là yêu chủ ngh a xã hội; yếu tố tiến bộ ở đây, ngoài việc phát huytinh hoa văn hóa dân tộc, còn phải kế thừa và tiếp thu tinh hoa văn hóa củanhân loại phù hợp với đặc điểm dân tộc Việt Nam Đậm đà bản sắc dân tộcchính là những giá trị của dân tộc đã được hun đúc trong suốt nghìn năm dựngnước và giữ nước Đó chính là truyền thống đoàn kết, lòng nhân ái, khoandung, độ lượng, vị tha, đức tính nhân ngh a, cần cù trong lao động, sự hamhọc hỏi và cầu tiến, tinh thần bất khuất, kiên cường…Vấn đề quan trọng làđịnh hướng doanh nghiệp văn hóa trong nền kinh tế thị trường định hướng xãhội chủ ngh a ở nước ta Nếu không có định hướng tốt, nếu buông lỏng sựhướng dẫn của cơ quan chức năng và vai trò quản lý của nhà nước, thì sẽ dẫnđến doanh nghiệp văn hóa “biến tướng”, vi phạm pháp luật, tác động tiêu cựctrong xã hội và ảnh hưởng đến thuần phong m tục của dân tộc Ngày nay, vănhóa có ý ngh a to lớn trong đời sống con người và sự phát triển của xã hội.Hội nghị lần thứ 9 Ban chấp hành Trung ương Đảng (khóa XI) đã ban hànhnghị quyết về “xây dựng và phát triển văn hóa, con người Việt Nam đáp ứngyêu cầu phát triển bền vững đất nước” Nghị quyết đã khẳng định các mụctiêu cụ thể: “ (1) Xây dựng môi trường văn hóa lành mạnh, phù hợp với bốicảnh phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ ngh a và hội nhậpquốc tế Xây dựng văn hóa trong hệ thống chính trị, trong từng cộng đồnglàng, bản, khu phố, cơ quan, đơn vị, doanh nghiệp và mỗi gia đình Phát huyvai trò của gia đình, cộng đồng, xã hội trong việc xây dựng môi trường vănhóa, làm cho văn hóa trở thành nhân tố thúc đẩy con người Việt Nam hoànthiện nhân cách (2) Hoàn thiện thể chế, chế định pháp lý và thiết chế văn hóabảo đảm xây dựng và phát triển văn hóa, con người trong thời kỳ đẩy mạnhcông nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế (3) Xây dựng thị trường

Trang 32

văn hóa lành mạnh, đẩy mạnh phát triển công nghiệp văn hóa, tăng cườngquảng bá văn hóa Việt Nam (4) Từng bước thu hẹp khoảng cách về hưởngthụ văn hóa giữa thành thị và nông thôn, giữa các vùng miền và các giai tầng

xã hội Ngăn chặn và đẩy lùi sự xuống cấp về đạo đức xã hội

Hai là, do tác động của quá trình hội nhập nền kinh tế toàn cầu Văn

hóa bản sắc dân tộc Việt Nam và sự du nhập văn hóa của nước ngoài cũng có tính hai mặt.

Việc định hướng chính là phát huy mặt tích cực, ngăn chặn và đẩy lùimặt tiêu cực Những nơi thiếu định hướng, thiếu quản lý chặt chẽ đã làm chocác yếu tố tiêu cực, mê tín dị đoan, các tệ nạn xã hội có cơ hội để phát triển

Vì vậy, khi mà nền kinh tế thị trường với sự hội nhập càng phát triển, giao lưuvăn hóa càng rộng, thì việc định hướng và quản lý các hoạt động này càngphải nghiêm ngặt hơn, cụ thể hơn nhằm để các hoạt động này đều hướng tớimục tiêu xây dựng nền văn hóa Việt Nam phát triển bền vững Phát triển dịch

vụ văn hóa trong nền kinh tế thị trường, nhân dân sẽ là người được hưởngnhững gì mà họ đóng góp và xây dựng đồng thời sẽ khẳng định được vai tròchủ thể của mình, có quyền đánh giá, thẩm định các giá trị nghệ thuật Do vậy,phải đổi mới k thuật, hợp lý hóa sản xuất, nâng cao năng suất lao động, đổimới phương thức quản lý, phát triển nền kinh tế Nhân tố con người ngày naylại càng có vai trò quan trọng trong toàn bộ đời sống xã hội Mặt trái tác độngcủa cơ chế thị trường sẽ bộc lộ nhiều khuyết điểm, không chỉ tác động về mặtkinh tế mà còn tác động đến thị hiếu, nhân cách, thẩm m , hành vi ứng xử củacon người; mặt khác, quá trình hội nhập nền kinh tế toàn cầu và việc ViệtNam là thành viên của tổ chức thương mại quốc tế WTO, sự giao lưu giữa cácnền văn hóa các nước sẽ tác động trực tiếp đến nhận thức, lối sống, thị hiếu,thẩm m trong đời sống người dân Chính vì thế, đòi hỏi phải tăng

Trang 33

cường vai trò quản lý của Nhà nước trong l nh vực văn hóa, doanh nghiệp vănhóa.

Ba là, Vì doanh nghiệp văn hóa mang tính kinh doanh, vì lợi nhuận nên

dễ cạnh tranh không lành mạnh.

Nhìn nhận hoạt động văn hóa như một hệ thống tổ chức sản xuất tinhthần, đòi hỏi và cho phép vận dụng một cách khoa học các biện pháp quản lývào trong l nh vực này, nhằm tăng cường vai trò quản lý của Nhà nước khôngchỉ trong việc khắc phục tình trạng hành chính hóa các tổ chức văn hóa, màcòn khắc phục hữu hiệu tình trạng thương mại hóa các hoạt động văn hóa.Hoạt động nghệ thuật chẳng hạn, khi mà một số người có tiền đứng ra làm

“đầu nậu”, sẽ đưa các sản phẩm sân khấu, điện ảnh, ca nhạc chạy theo thị hiếutầm thường, hạ thấp giá trị nghệ thuật; những cá nhân kinh doanh dịch vụ vănhóa karaoke, internet, khiêu vũ, băng đ a hình…nếu chạy theo đồng tiền sẽ tácđộng làm ảnh hưởng đến nhân cách, lối sống của một bộ phận người dântrong xã hội; hoặc một số trường hợp kinh doanh dịch vụ, lợi dụng các di tíchlịch sử, di tích văn hóa, thắng cảnh thành nơi buôn bán trục lợi cá nhân, bấtchấp lợi ích của cộng đồng, sẽ dẫn đến hạ thấp tầm giá trị của di tích đó.Không thể biến toàn bộ hoạt động văn hóa thành chuyện kinh doanh chạy theolợi nhuận, lời lỗ Điều này, không đồng ngh a với việc triệt tiêu hoàn toàn tínhchất thương mại trong l nh vực hoạt động văn hóa, nơi tồn tại đa thành phần(nhà nước, tập thể, cá nhân), nơi tồn tại quy luật cung cầu, sự thống nhất địnhhướng giá trị văn hóa không phải là sự đồng nhất để mọi người cùng ở chungmột phòng, ngồi chung một bàn với những sản phẩm vật chất, tinh thần nhưnhau Đã nói đến cung cầu là nói đến cạnh tranh thị trường và tác động củaquy luật giá trị, nói đến sản xuất là nói đến hoạch định kinh tế Đây là nhữngvấn đề kinh tế học trong văn hóa, không chỉ có ý ngh a to lớn trong nghiêncứu lý luận, mà còn có giá trị thiết thực cấp bách trong tổ

Trang 34

chức hoạt động thực tiễn Tăng cường vai trò quản lý Nhà nước về văn hóabằng các biện pháp chuyên môn và kinh tế là điều kiện cần thiết để phát triểnvăn hóa lành mạnh phong phú, đa dạng, đáp ứng nhu cầu phát triển về nhâncách, trí tuệ tình cảm, niềm vui và hạnh phúc của mỗi thành viên trong xã hội,mỗi gia đình và cộng đồng Nhà nước cần mở rộng các nguồn thu để tăngngân sách, tăng chi cho các hoạt động văn hóa, vừa phát huy quyền lợi, vừatăng cường nhận thức về ngh a vụ của các tổ chức, cá nhân tham gia dịch vụvăn hóa Thực hiện điều này cũng chính là thể hiện chủ trương của Đảng tatrong việc khắc phục xu hướng “thương mại hóa”, không vì chạy theo lợinhuận mà bất chấp những quy định của pháp luật, làm phát sinh những biểuhiện tiêu cực trong doanh nghiệpvăn hóa Văn hóa là một hệ thống những giátrị và chuẩn mực xã hội Nhưng giá trị không tồn tại siêu hình, mà chính là nộidung, là bản chất của văn hóa, bao giờ cũng được khách quan hóa, đối tượnghóa dưới dạng những hình thức, những hiện tượng, những quan hệ và quátrình xã hội Quản lý văn hóa không đơn giản là công tác tuyên truyền, huấnthị, mà chính là quản lý những quá trình xã hội này Khoa học quản lý đòi hỏiphải nhìn nhận những đối tượng quản lý trong sự vận động của nó, phải nắmbắt được những quy luật của đối tượng.Nắm vững và vận dụng sáng tạo khoahọc quản lý là điều kiện thực hiện thắng lợi đường lối của Đảng, xây dựng cótrọng điểm cơ sở vật chất k thuật cao cho hoạt động văn hóa, văn nghệ, thôngtin đại chúng, đổi mới công nghệ, nâng cao chất lượng, từng bước phát triển,sánh bước cùng với trình độ của khu vực và thế giới.

1.2.4 Nội dung quản lý nhà nước về doanh nghiệp văn hóa

1.2.4.1 Quy hoạch phát triển doanh nghiệp văn hóa

Công tác quy hoạch phát triển doanh nghiệp văn hóa trên phạm vi cảnước nói chung và từng dịa phương nói riêng, là yêu cầu cần thiết, thể hiệnvai trò quản lý của Nhà nước đối với loại hình này

Trang 35

Quy hoạch phải phù hợp với quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội của

cả nước, địa phương và cơ sở, trong đó chú trọng đến các yêu cầu giữ gìn vàphát huy các bản sắc văn hóa truyền thống, nhu cầu và điều kiện văn hóa sinhhoạt của người dân ở từng vùng miền khác nhau, đảm bảo an ninh trật tự và

an toàn xã hội trên địa bàn dân cư Quy hoạch phát triển doanh nghiệp vănhóa phải đi đôi với việc tăng cường quản lý Nhà nước, đẩy mạnh việc thanhtra kiểm tra các hoạt động văn hóa để đảm bảo cho doanh nghiệp văn hóa pháttriển theo đúng định hướng của Đảng và chính sách của Nhà nước

Trên thực tế cho thấy, bên cạnh những mặt tích cực, các doanh nghiệpvăn hóa trong thời gian qua có phát sinh những tiêu cực, nhất là đối với hoạtđộng vũ trường, karaoke và Internet Tuy nhiên, chính phủ xác định karaoke

và vũ trường là những hoạt động không khuyến khích kinh doanh Do vậy,cần tăng cường công tác quản lý chặt chẽ hơn so với các loại hình khác

1.2.4.2 Ban hành và tổ chức thực hiện các chính sách, pháp lu t liên quan đến doanh nghiệp văn hoá

Hoạch định chính sách, xây dựng pháp luật và đưa được vào đời sốngthực tế là mục đích cuối cùng của công tác QLNN Bản thân chính sách, phápluật đối với nền kinh tế của một đất nước nói chung và trong l nh vực văn hoánói riêng chỉ là những quy định của Nhà nước, là ý chí của Nhà nước bắt mọichủ thể khác (trong đó có chính bản thân Nhà nước) phải thực hiện Vì vậy, đểchính sách, pháp luật đi được vào cuộc sống, các cơ quan nhà nước nói chung,chính quyền các cấp nói riêng phải tổ chức thực hiện nghiêm chỉnh, tổ chứctuyên truyền, phổ biến chính sách, pháp luật về doanh nghiệp văn hoá cho cán

bộ, công nhân viên chức và nhân dân trên địa bàn giúp họ nhận thức đúngđắn, từ đó có hành động đúng trong hoạt động thực tiễn; đảm bảo sự tuân thủ,thi hành chính sách, pháp luật của các doanh nghiệp văn hoá một cách nghiêmtúc Mặt khác, các cơ quan chuyên môn phải tăng cường công

Trang 36

tác kiểm tra, giám sát việc thực hiện mọi hành vi vi phạm pháp luật Khôngtuỳ tiện thay đổi các chính sách của mình, nhanh chóng xoá bỏ các văn bản cũtrái với các văn bản mới ban hành, giảm tối đa sự trùng lặp, gây khó khăn chohoạt động của doanh nghiệp văn hoá.

Tích cực cải thiện môi trường pháp lý, môi trường đầu tư và kinh doanhthông qua việc cụ thể hoá và tổ chức thực hiện chính sách, pháp luật chungcủa Nhà nước về phát triển doanh nghiệp văn hoá phù hợp với điều kiện ở địaphương Đồng thời, nghiên cứu và ban hành các cơ chế, chính sách khuyếnkhích đầu tư, chính sách ưu đãi tiền thuê đất, thời hạn thuê đất, chính sách ưuđãi tín dụng, nhằm tạo điều kiện thuận lợi, tạo sự an tâm, tin tưởng cho các

tổ chức, cá nhân khi bỏ vốn đầu tư kinh doanh l nh vực văn hoá Tuy nhiên,việc ban hành các cơ chế, chính sách của địa phương vừa phải đảm bảo theođúng các quy định của pháp luật và quy định của cơ quan nhà nước cấp trên,vừa phải thông thoáng trên cơ sở sử dụng nguồn lực của địa phương đểkhuyến khích phát triển, đồng thời cũng phải đảm bảo tính ổn định và bìnhđẳng, tính nghiêm minh trong quá trình thực thi Bên cạnh đó, cần tiếp tụcthực hiện cải cách hành chính ở địa phương theo hướng chuyên nghiệp vàhiệu quả Tiếp tục thực hiện mô hình một cửa trong đăng ký đầu tư, đăng kýkinh doanh Thực hiện chuẩn hoá các thủ tục hành chính theo tinh thần triệt

để tuân thủ pháp luật, công khai, minh bạch, thuận tiện

Về thực hiện hỗ trợ doanh nghiệp, Nhà nước cần thực hiện các công vụchính sau đây:

- Tạo nguồn vốn đầu tư ưu đãi cho các chương trình kinh tế trọng điểmcủa Nhà nước, cho các hoạt động sản xuất kinh doanh trong l nh vực văn hóa

mà Nhà nước khuyến khích

- Thực hiện giảm thuế cho những doanh nghiệp sản xuất kinh doanh theo định hướng ưu tiên của Nhà nước

Trang 37

- Chuyển giao đến các nhà kinh doanh những thông tin chính trị, thời

sự quan trọng có giá trị trong sản xuất kinh doanh để họ tham khảo

- Thực hiện chương trình bồi dưỡng kiến thức quản trị kinh doanh,giúp các doanh nghiệp hiện đại hoá đội ngũ viên chức nghiệp vụ quản trị kinhdoanh

- Mở ra các trung tâm thông tin, các triển lãm thành tựu kinh tế k thuật

để tạo môi trường cho các doanh nghiệp giao tiếp và liên kết sản xuất kinh doanh với nhau

- Thực hiện các hỗ trợ pháp lý, đặc biệt là hỗ trợ tư pháp quốc tế đối với các doanh nghiệp kinh doanh trên thị trường quốc tế

- Xây dựng cơ sở vật chất k thuật để tạo điều kiện cho sự hình thànhđồng bộ các loại thị trường Đồng thời quản lý các loại thị trường đó để cácdoanh nhân có được môi trường thuận lợi trong giao lưu kinh tế như: Nhànước bảo đảm một môi trường thị trường chân thực để giúp các doanh nhân không bị lừa gạt trên thị trường đó

1.2.4.3 Kiểm tra, giám sát đối với các doanh nghiệp văn hóa

* Mục tiêu của kiểm tra, giám sát đối với doanh nghiệp văn hóa:

Công tác kiểm tra, đánh giá, giám sát các doanh nghiệp văn hóa trongđiều kiện nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ ngh a hiện nay ở nước

ta là yêu cầu quan trọng, cần được tiến hành thường xuyên, liên tục nhằm đảmbảo thể hiện vai trò QLNN, đưa các hoạt động của doanh nghiệp văn hóa theođúng quy định, định hướng xã hội chủ ngh a, giữ gìn phát huy bản sắc văn hóadân tộc Việt Nam Mục tiêu của hoạt động kiểm tra, giám sát các doanhnghiệp văn hóa gồm hai mục tiêu chính đó là:

- Nhằm đảm bảo hoạt động của doanh nghiệp tuân thủ các quy định củapháp luật; phát hiện và xử lý các vi phạm của doanh nghiệp trong việc thực

Trang 38

hiện quy định pháp luật của nhà nước nhằm đảm bảo trật tự, công bằng cho doanh nghiệp và xã hội.

- Nhằm theo dõi hoạt động sản xuất, kinh doanh và giải quyết các vấn

đề phát sinh trong quá trình hoạt động của các doanh nghiệp; điều này giúpcác cơ quan quản lý phát hiện các mẫu thuẫn, tranh chấp mới trong hoạt độngsản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp, qua đó điều chỉnh ở tầm v mô cáchoạt động kinh tế, có biện pháp khắc phục, xử lý kịp thời nhằm đảm bảo hoạtđộng của doanh nghiệp được duy trì và ổn định

* Nội dung của hoạt động kiểm tra, giám sát đối với doanh nghiệp văn hóa gồm:

- Kiểm tra tính hợp pháp đối với sự tồn tại doanh nghiệp Mỗi doanhnghiệp ra đời đều phải có giấy phép Giấy phép chỉ cấp cho những doanhnghiệp đủ điều kiện Việc kiểm tra này nhằm loại trừ các doanh nghiệp ra đờikhông đăng ký hoặc không đủ điều kiện mặc dù đã được cấp giấy phép

- Kiểm tra để xác định khả năng tiếp tục tồn tại của doanh nghiệp Khicác doanh nhân đăng ký kinh doanh, họ phải có đủ điều kiện mới được Nhànước cấp giấy phép kinh doanh Do đó trong quá trình hoạt động, nếu nhữngđiều kiện ấy không được đảm bảo thì doanh nghiệp đó phải bị đình chỉ hoạtđộng Để kịp thời phát hiện được dấu hiệu sa sút khả năng, biểu hiện của sựphá sản, để có quyết định phá sản doanh nghiệp, Nhà nước phải tiến hànhkiểm tra

- Kiểm tra định kỳ theo chế độ nhằm đảm bảo nhắc nhở các doanh nghiệp thường xuyên chấp hành pháp luật, các quy định của ngành văn hóa

- Thanh tra, kiểm tra khi có dấu hiệu vi phạm pháp luật, như có hiệntượng trốn lậu thuế, kinh doanh trá hình, kinh doanh các mặt hàng cấm, vănhóa đồ trụy…

- Thanh tra, kiểm tra khi có đơn thư khiếu nại, tố cáo

Trang 39

1.2.4.4 Tổ chức b máy quản lý nhà nước về doanh nghiệp văn hóa

Tổ chức bộ máy quản lý nhà nước về các doanh nghiệp văn hóa gồm banội dung chính là xây dựng cơ cấu tổ chức, xác định chức năng, nhiệm vụ,quyền hạn và xây dựng đội ngũ cán bộ công chức:

- Xây dựng cơ cấu tổ chức của hệ thống cơ quan quản lý nhà nước về

doanh nghiệp văn hóa là nội dung không thể thiếu của hoạt động quản lý nhànước Qua đó xây dựng được hệ thống cơ quan trung ương và địa phương trựctiếp thực hiện vai trò hướng dẫn, hỗ trợ, kiểm tra, giám sát các doanh nghiệpcũng như việc chịu trách nhiệm trước các kết quả của ngành văn hóa nóichung hay các doanh nghiệp văn hóa nói riêng đạt được

- Xác định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn là nội dung gắn liền vớiviệc xây dựng cơ cấu tổ chức của hệ thống cơ quan quản lý nhà nước vềdoanh nghiệp văn hóa Vì quyền lực nhà nước ở nước ta tuân theo nguyên tắctập trung, thống nhất có sự phân công, phối hợp giữa các cơ quan trong bộmáy nhà nước, nên việc xác định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn nhằm mụctránh chồng chéo, khoa học và hiệu quả cho hoạt động quản lý

- Xây dựng đội ngũ công chức làm công tác quản lý nhà nước đối vớidoanh nghiệp văn hóa đủ trình độ, năng lực và có thái độ phục vụ nhân dâncao nhằm đáp ứng yêu cầu công việc cũng như mong muốn từ phía người dân.Trong các nội dung về cải cách hành chính mà Đảng và Nhà nước ta quantâm, chỉ đạo sát sao hiện nay thì xây dựng, nâng cao chất lượng đội ngũ côngchức nói chung và công chức làm công tác quản lý nhà nước đối với doanhnghiệp văn hóa nói riêng là luôn vấn đề quan trọng và mang tính cấp thiết

1.2.5 Những yếu tố tác động tới quản lý nhà nước về doanh nghiệp văn hóa

Trang 40

1.2.5.1 Yếu tố khách quan

* Toàn cầu hóa và h i nh p kinh tế quốc tế

Trong bối cảnh toàn cầu và hội nhập kinh tế hiện nay, Việt Nam với tưcách là thành viên của tổ chức thương mại thế giới WTO, thành viên củaASIAN, thành viên của các diễn đàn kinh tế như APEC, ASEM đã đạt đượcnhiều thành tựu trong phát triển kinh tế, giao lưu văn hóa với các nước trênthế giới và khu vực Trong bối cảnh đó, Việt Nam cũng phải thực hiện cáccam kết, thỏa thuận đa phương, song phương về các l nh vực thương mại vớicác nước Thực hiện các quy định của quốc tế, đồng ngh a với việc Việt Namphải sửa đổi hệ thống văn bản pháp luật, đẩy nhanh tốc độ cải cách hànhchính để phù hợp với các quy định của quốc tế Công tác quản lý nhà nước vềdoanh nghiệp văn hóa cũng phải điều chỉnh cho phù hợp với bối cảnh toàncầu hóa

* Sự thay đổi vai trò Nhà nước trong nền kinh tế thị trường

Trong thời đại ngày nay, vai trò của Nhà nước đang có sự thay đổi đáng

kể Nhà nước vẫn đóng vai trò trung tâm trong phát triển KT-XH của các quốcgia, nhưng không phải với tư cách là người trực tiếp tạo ra sự tăng trưởng, mà

là một đối tác- người tạo điều kiện cho sự tăng trưởng đó Như vậy quan hệgiữa Nhà nước và doanh nghiệp không chỉ là quan hệ giữa chủ thể quản lý vàđối tượng quản lý, mà còn là quan hệ giữa người cung cấp dịch vụ công vàkhách hàng sử dụng dịch vụ công đó Dịch vụ công mà Nhà nước có tráchnhiệm cung cấp cho doanh nghiệp trước hết là dịch vụ công thuần túy như hệthống luật pháp, thể chế, chính sách công, ổn định kinh tế v mô, quyền sở hữutài sản của Nhà nước và trật tự xã hội

Xu hướng thế giới về sự thay đổi vai trò Nhà nước trong nền kinh tế thịtrường toàn cầu, tất yếu sẽ ảnh hưởng đến QLNN đối với doanh nghiệp vănhóa Đó là:

Ngày đăng: 27/11/2019, 22:16

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w