1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Chất lượng công chức các cơ quan chuyên môn thuộc UBND huyện cơ jút, tỉnh đăk nông

139 28 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 139
Dung lượng 416,95 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Song tác giả của Luận án mới chỉ dừng lại ở chỗ đội ngũ công chức hành chính nhà nước nói chung của tỉnh Hải Dương chứ chưa chuyên sâu về chất lượng công chức các cơ quan chuyên môn thuộ

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC & ĐÀO TẠO

/

BỘ NỘI VỤ /

HỌC VIỆN HÀNH CHÍNH QUỐC GIA

HUYỆN CƯ JÚT, TỈNH ĐĂK NÔNG

LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ CÔNG

ĐĂK LĂK - 2017

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC & ĐÀO TẠO

/

BỘ NỘI VỤ /

HỌC VIỆN HÀNH CHÍNH QUỐC GIA

ĐĂK NÔNG

LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ CÔNG

Chuyên ngành: Quản lý công

Mã số: 60 34 04 03

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KH: PGS.TS NGUYỄN THỊ HỒNG HẢI

Trang 3

ĐĂK LĂK - 2017

Trang 4

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan bản luận văn này do cá nhân Tôi thực hiện dưới sự hướng dẫn trực tiếp của PGS.TS Nguyễn Thị Hồng Hải - Trưởng Khoa Tổ chức nhân sự - Học Viện Hành chính Quốc gia Mọi thông tin, số liệu nêu trong luận văn là trung thực, có nguồn gốc trích dẫn rõ ràng.

Tác giả

Nguyễn Đức Thịnh

Trang 5

LỜI CẢM ƠN

Trong suốt thời gian học tập, nghiên cứu tại trường Học viện hành chính phân viện Tây Nguyên, học viên đã nhận được sự giúp đỡ, hướng dẫn truyền đạt tận tình của quý thầy (cô) giáo, là những giảng viên cao cấp trường Học viện hành chính quốc gia Đó là những kiến thức quý báu, bổ ích, trang bị nhiều kỹ năng trong quá trình nghiên cứu cũng như thực tiễn công tác.

Trước hết, cho phép học viên xin gửi lời cảm ơn chân thành đến Ban lãnh đạo, quý thầy, cô giáo trường Học viện hành chính quốc gia, các đồng chí lãnh đạo UBND huyện Cư Jút, tỉnh Đăk Nông Đặc biệt, xin gửi lời cảm ơn sâu sắc nhất đến PGS, TS Nguyễn Thị Hồng Hải đã toàn tâm, toàn ý hướng dẫn tôi về mặt khoa học để hoàn thành luận văn đúng tiến độ.

Tôi cũng xin trân trọng cảm ơn TS Nguyễn Đăng Quế, TS Lê Văn Từ và các thầy cô giáo; các cán bộ, nhân viên tại trường Học viện hành chính phân viện Tây Nguyên về những ý kiến đóng góp thẳng thắn, sâu sắc và giúp đỡ đầy nhiệt huyết để tôi hoàn thành nhiệm vụ nghiên cứu của mình Cuối cùng xin cảm ơn gia đình và bạn bè đã luôn động viên, giúp đỡ trong suốt thời gian tôi học tập tại trường Với những cố gắng, nỗ lực của bản thân song kinh nghiệm và khả năng còn hạn chế nên luận văn này không thể tránh khỏi những thiếu sót, tôi rất mong nhận được ý kiến đóng góp của quý thầy, cô giáo, bạn bè, đồng nghiệp và các độc giả để tôi có cơ hội hoàn thiện Đề tài nghiên cứu hơn nữa.

Xin chân thành cảm ơn!

Trang 6

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT Chữ viết tắt

Trang 8

DANH MỤC CÁC SƠ ĐỒ VÀ BIỂU ĐỒ Tên sơ đồ

Hình 3.2 Mục đích của khoá đào tạo, bồi dưỡng

Hình 3.3 Phương pháp đào tạo cùng tham gia (Trao đổi - Workshop)

Hình 3.4 Mô hình đào tạo Jonh Eaton - Roy Jonson

II Các biểu đồ

Biểu đồ 2.1 Cơ cấu giá trị kinh tế năm 2010 và năm 2015

Biểu số 2.2 Trình độ quản lý nhà nước đối với đội ngũ công chức các cơ

quan chuyên môn thuộc UBND huyện Cư Jút năm 2016

Cơ cấu trình độ tin học của đội ngũ công chức các cơ quan

Biểu số 2.3

chuyên môn thuộc UBND huyện, giai đoạn 2011 - 2016

Trang 9

MỤC LỤC

Trang

Lời cam đoan i

Lời cám ơn ii

Mục lục iii

Danh mục các chữ viết tắt iv

Danh mục các bảng biểu v

Danh mục các sơ đồ, biểu đồ vi

PHẦN MỞ ĐẦU 1

1 Tính cấp thiết của đề tài 1

2 Tình hình nghiên cứu của đề tài 4

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài 6

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài 7

5 Phương pháp nghiên cứu của đề tài 8

6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của đề tài 9

7 Kết cấu của đề tài 9

Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CHẤT LƯỢNG CÔNG CHỨC CÁC CƠ QUAN CHUYÊN MÔN THUỘC UBND HUYỆN 10

1.1 Công chức các cơ quan chuyên môn thuộc UBND huyện 10

1.1.1 Khái niệm 10

1.1.2 Đặc điểm công chức các cơ quan chuyên môn thuộc UBND huyện 12

1.1.3 Vị trí, vai trò công chức các CQCM thuộc UBND huyện 14

1.2 Chất lượng công chức các cơ quan chuyên môn thuộc UBND huyện 16

1.2.1 Khái niệm 16 1.2.2 Các tiêu chí đánh giá chất lượng công chức các cơ quan chuyên môn

Trang 10

1.2.2.1 Tiêu chí về phẩm chất 19

Trang 11

1.2.2.2 Tiêu chí về trình độ 20

1.2.2.3 Tiêu chí về kỹ năng nghề nghiệp 24

1.2.2.4 Tiêu chí về thái độ trong thực thi công vụ 26

1.2.2.5 Tiêu chí về kinh nghiệm công tác 27

1.2.2.6 Tiêu chí về mức độ hoàn thành nhiệm vụ 27

1.3 Các nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng công chức các cơ quan chuyên môn thuộc UBND huyện 28

1 3.1 Công tác đào tạo, bồi dưỡng CCCQCM thuộc UBND huyện 28

1.3.2 Cơ chế tuyển dụng, bổ nhiệm và bố trí, sử dụng công chức các cơ quan chuyên môn thuộc UBND huyện 29

1.3.3 Chính sách đãi ngộ, tạo động lực đối với công chức các cơ quan chuyên môn thuộc UBND huyện 30

1.3.4 Công tác đánh giá, xếp loại công chức các cơ quan chuyên môn thuộc UBND huyện 32

1.3.5 Công tác kiểm tra, giám sát CCCQCM thuộc UBND huyện 32

1.3.6 Cơ sở vật chất và điều kiện làm việc 33

1.4 Phân biệt sự khác nhau đối với CCCCQCM thuộc UBND huyện với Công chức tỉnh, xã và Công chức khác 34

TIỂU KẾT CHƯƠNG 1 35

Chương 2 THỰC TRẠNG CHẤT LƯỢNG CÔNG CHỨC CÁC CƠ QUAN CHUYÊN MÔN THUỘC UBND HUYỆN CƯ JÚT, TỈNH ĐĂK NÔNG 36

2.1 Khái quát chung về điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội và ảnh hưởng của những điều kiện này đến chất lượng công chức các cơ quan chuyên môn thuộc UBND huyện Cư Jút, tỉnh Đăk Nông 36

2.1.1 Điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội của huyện Cư Jút 36

Trang 12

2.1.2 Ảnh hưởng của điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội đến chất lượng công

chức các cơ quan chuyên môn thuộc UBND huyện Cư Jút, tỉnh Đăk Nông 40

2.2 Khái quát về công chức các CQCM thuộc UBND huyện Cư Jút 40

2.2.1 Về số lượng công chức các CQCM thuộc UBND huyện 40

2.2.2 Về cơ cấu công chức các CQCM thuộc UBND huyện 41

2.3 Phân tích thực trạng chất lượng công chức các cơ quan chuyên môn thuộc UBND huyện Cư Jút 43

2.3.1 Phẩm chất chính trị, phẩm chất đạo đức 43

2.3.2 Về trình độ 45

2.3.3 Về kỹ năng nghề nghiệp 53

2.3.4 Thái độ, ý thức trong thực thi công vụ 57

2.3.5 Kinh nghiệm và thâm niên công tác 59

2.3.6 Mức độ hoàn thành nhiệm vụ 62

2.4 Đánh giá thực trạng chất lượng công chức các cơ quan chuyên môn thuộc UBND huyện Cư Jút 65

2.4.1 Ưu điểm 65

2.4.2 Nguyên nhân của ưu điểm 66

2.4.3 Hạn chế 66

2.4.4 Nguyên nhân của những tồn tại, hạn chế 70

TIỂU KẾT CHƯƠNG 2 76

Chương 3 QUAN ĐIỂM, MỤC TIÊU VÀ MỘT SỐ GIẢI PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG CÔNG CHỨC CÁC CƠ QUAN CHUYÊN MÔN THUỘC UỶ BAN NHÂN DÂN HUYỆN CƯ JÚT, TỈNH ĐĂK NÔNG 77

3.1 Quan điểm, mục tiêu 77

3.1.1 Quan điểm 77

3.1.2 Mục tiêu 80

Trang 13

3.2 Một số giải pháp nâng cao chất lượng các cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban

nhân dân huyện Cư Jút 81

3.2.1 Nâng cao phẩm chất chính trị và phẩm chất đạo đức 81

3.2.2 Phân tích công việc và xác định tiêu chuẩn chức danh công chức các cơ quan chuyên môn thuộc UBND huyện theo mô hình vị trí việc làm 83

3.2.3 Hoàn thiện công tác tuyển dụng đội ng công chức các cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân huyện 86

3.2.4 Đ i m i công tác đào tạo, bồi dưỡng trình độ chuyên môn, nghiệp vụ công chức các cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân huyện 91

3.2.5 Hoàn thiện công tác quy hoạch công chức các cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân huyện 97

3.2.6 Hoàn thiện chế độ, chính sách đãi ngộ, thu hút người về làm việc tại các phòng ban chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân huyện 101

3.2.7 Tăng cường công tác quản lý, kiểm tra, giám sát công chức các cơ quan chuyên môn thuộc UBND huyện 103

TIỂU KẾT CHƯƠNG 3 104

KẾT LUẬN 105

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 106

PHỤ LỤC 1 110

PHỤ LỤC 2 111

PHỤ LỤC 3 115

PHỤ LỤC 4 115

Trang 14

PHẦN MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Lịch sử nhân loại đã chứng minh một chân lý, cán bộ, công chức luôn là nhân tố quyết định sự hưng thịnh, thành bại của mỗi chế độ, mỗi nhà nước Cha ông ta đã khắc trên bia Văn Miếu Quốc Tử Giám (Hà Nội) triết lý về nhân tài

“Hiền tài là nguyên khí quốc gia, nguyên khí thịnh thì thế nư c mạnh mà hưng thịnh, nguyên khí suy thì thế nư c yếu mà thấp hèn Vì thế các bậc đế vương thánh minh không đời nào không coi việc giáo dục nhân tài, kén chọn kẻ sĩ, vun trồng nguyên khí quốc gia làm công việc cần thiết ” [33, tr.45].

Chủ tịch Hồ Chí Minh, người sáng lập, rèn luyện và lãnh đạo Đảng ta đãnhấn mạnh “Cán bộ là khâu then chốt, trọng yếu của công tác xây dựng Đảng” vàngười nêu rõ: "Cán bộ là cái gốc của mọi công việc, công việc thành công hay thấtbại đều do cán bộ tốt hay kém" [32; tr.269] Thấm nhuần tư tưởng của Người, trongsuốt hơn 87 năm xây dựng và phát triển, Đảng Cộng sản Việt Nam luôn coi cán bộ

và công tác xây dựng, phát triển cán bộ là một trong những nhân tố quan trọng,quyết định sự thành, bại của cách mạng Đảng ta luôn xác định xây dựng cán bộ,đảng viên là khâu then chốt trong sự nghiệp phát triển đất nước Nghị quyết Hộinghị Trung ương 3 khóa VIII đã chỉ rõ trong công cuộc đổi mới “Cán bộ có vai tròquan trọng, hoặc thúc đẩy hoặc kìm hãm tiến trình đổi mới” Đến Đại hội XI củaĐảng, Đảng ta vẫn tiếp tục xác định: “Phát triển, nâng cao chất lượng nguồn nhânlực, nhất là nguồn nhân lực chất lượng cao là một trong những yếu tố quyết định đến

sự phát triển nhanh, bền vững đất nước” [25, tr.214]

Những thành tựu đạt được trong hơn 30 năm thực hiện công cuộc đổi mới đấtnước có sự đóng góp to lớn của cán bộ, công chức nói chung và công chức nhà nướcnói riêng Đó là thế hệ những cán bộ đã được tôi luyện, trưởng thành qua thử thách,

có ý chí vượt qua mọi khó khăn, gian khổ, là những người có bản lĩnh chính trị vữngvàng, có tư duy đổi mới, đã nhanh chóng thích nghi với cơ chế thị trường, góp phầnvào việc đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế của

Trang 15

đất nước Tuy nhiên, đứng trước những thách thức của kinh tế thị trường, một bộphận không nhỏ công chức các cấp đã bộc lộ những hạn chế, yếu kém cả về nănglực chuyên môn và ý thức chính trị Đánh giá về công chức nhà nước, theo Báo cáocủa Bộ Chính trị tại Hội nghị Trung ương 9 khóa X, tổng kết 10 năm thực hiện Nghịquyết Trung ương 3 khóa VIII về chiến lược cán bộ thời kỳ đẩy mạnh công nghiệphóa, hiện đại hóa đất nước đã thẳng thắn chỉ ra: “Trình độ, năng lực, kiến thức vềkinh tế thị trường, luật pháp, ngoại ngữ, khả năng quản lý nhà nước, quản lý xã hộicủa không ít cán bộ vẫn còn bất cập; khả năng dự báo và định hướng sự phát triểnvẫn còn yếu”, “Một bộ phận cán bộ, công chức chủ quan, tự mãn, bảo thủ, trì trệ,mắc bệnh thành tích; số khác thiếu tâm huyết với công việc, thiếu gương mẫu, nóinhiều làm ít, nói không đi đôi với làm; ý thức tự phê bình và phê bình và tính chiếnđấu kém; lợi dụng chức quyền để vun vén lợi ích cá nhân Đặc biệt, Nghị quyết Hộinghị Trung ương 4 khóa XI tiếp tục nhấn mạnh: “Một bộ phận không nhỏ cán bộ,đảng viên, trong đó có những đảng viên giữ vị trí lãnh đạo, quản lý, kể cả một số cán

bộ cao cấp, suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống với những biểu hiệnkhác nhau về sự phai nhạt lý tưởng, sa vào chủ nghĩa cá nhân ích kỷ, cơ hội, thựcdụng, chạy theo danh lợi, tiền tài, kèn cựa địa vị, cục bộ, tham nhũng, lãng phí, tùytiện, vô nguyên tắc” [27 tr.145] Như vậy, có thể thấy thực trạng về chất lượng,phẩm chất đạo đức của công chức còn nhiều hạn chế, yếu kém Trong bối cảnh hiệnnay, đất nước đang đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa, đang chủ động hộinhập quốc tế, đã đặt ra những yêu cầu mới đối với công chức, đòi hỏi này phải nângcao chất lượng, đồng thời phải vững vàng cả về ý thức chính trị, giữ được phẩmchất, đạo đức tốt, lối sống đúng mực, tránh được những tác động tiêu cực từ kinh tếthị trường và hội nhập quốc tế

Huyện Cư Jút là một trong 8 huyện, thị của tỉnh Đăk Nông, huyện có 07

xã, 01 thị trấn, huyện có tổng diện tích tự nhiên: 72.029 (ha) với dân số: 97.700 (người), mật độ dân số trung bình 130 người/km2, với đặc thù là một huyện miền núi với một nguồn nhân lực dồi dào: 68.534 người, chiếm 67,8 % dân số (năm

Trang 16

2016), nguồn lao động có phẩm chất lao động cần cù, năng động, sáng tạo; lao động tương đối lành nghề, được đào tạo cơ bản Tuy là một huyện mới của tỉnh Đăk Nông (01/01/2004), tách ra từ tỉnh Đăk Lăk với muôn vàn khó khăn nhưng

từ những năm đầu khi tái thiết thành lập mới, Đảng bộ và chính quyền huyện rất quan tâm đến chất lượng công chức cấp huyện, với mục tiêu đến năm 2020:

“Xây dựng công chức trên địa bàn huyện vừa hồng, vừa chuyên, giàu phẩm chất đạo đức và đạt chuẩn về trình độ chuyên môn, nghiệp vụ” [47, tr.124] Tuy

nhiên, thực tiễn chất lượng công chức trong những năm qua trên địa bàn huyện cho thấy bên cạnh những kết quả đã đạt thì một bộ phận không nhỏ công chức của huyện chưa thật sự ổn định, tính chuyên nghiệp hóa còn thấp, còn nhiều hạn chế về năng lực quản lý xã hội, quản lý kinh tế, pháp luật, hành chính, kỹ năng thực thi công vụ; công tác quản lý điều hành Một số ngành mũi nhọn còn thiếu cán bộ có tính chuyên môn cao như: lĩnh vực y tế, giáo dục và đào tạo, khoa học, công nghệ thông tin,… Bên cạnh đó, hiện tượng chảy máu chất xám đã xuất hiện

ở một số ngành, tình trạng vừa thiếu người có năng lực, tận tụy với công việc, lại thừa người thụ động không làm được việc vẫn chưa được khắc phục có hiệu quả.

Do vậy, dẫn đến chất lượng đầu vào của công chức cấp huyện không cao, làm

ảnh hưởng không nhỏ đến hiệu lực, hiệu quả hoạt động của chính quyền địa phương, chưa đáp ứng được nhu cầu trong thực tiễn công việc được giao và đặc biệt trong giai đoạn hiện nay.

Xuất phát từ lý luận và thực tiễn đặt ra, tác giả quyết định chọn đề

tài:"Chất lượng công chức các cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân

huyện Cư Jút, tỉnh Đăk Nông" làm đề tài nghiên cứu của luận văn Đề tài này

tập trung đi sâu nghiên cứu, đánh giá thực trạng, đề xuất những giải pháp và kiến nghị nhằm góp phần nâng cao chất lượng công chức nhà nước, đáp ứng và phù hợp với tình hình thực tiễn của địa phương và Việt Nam hiện nay Đề tài này là kết quả nghiên cứu trên cơ sở vận dụng những kiến thức khoa học đã được

Trang 17

nghiên cứu, học tập trong nhà trường với kinh nghiệm thực tiễn công tác của bản thân tại địa phương.

2 Tình hình nghiên cứu của đề tài

Chất lượng công chức là một vấn đề quan trọng nên đã được nhiều nhà khoahọc, bình luận gia, các nghiên cứu sinh, học viên cao học lựa chọn, nghiên cứu Tácgiả có thể nêu lên một số công trình và bài viết của các nhà khoa học sau đây để:

Nguyễn Phú Trọng và Trần Xuân Sầm chủ biên: “Luận cứ khoa học cho việc nâng cao chất lượng đội ng cán bộ trong thời kỳ đay mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nư c”, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2003 Trong công trình

nghiên cứu này trên cơ sở các quan điểm lý luận, tổng kết thực tiễn các tác giả đã phân tích, lý giải, hệ thống hoá các căn cứ khoa học của việc nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ Từ đó, đưa ra một hệ thống các quan điểm, phương hướng và giải pháp nhằm nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, trong đó có công chức đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước và hội nhập kinh

tế quốc tế trong những thập niên đầu của thế kỷ XXI.

Thang Văn Phúc và Nguyễn Minh Phương, “Cơ sở lý luận và thực tiễn xây dựng đội ng cán bộ, công chức”, Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia, Hà Nội,

2005 Trong cuốn sách này, các tác giả đã nêu ra cơ sở lý luận về xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức theo yêu cầu xây dựng nhà nước pháp quyền của dân, do dân và vì dân Ngoài ra, trong cuốn sách này các tác giả còn nêu ra thực trạng của đội ngũ cán bộ, công chức và thể chế quản lý cán bộ, công chức của Việt Nam hiện nay Sách đã nêu quá trình hình thành và phát triển của đội ngũ cán bộ, công chức ở Việt Nam, đồng thời nêu lên kinh nghiệm xây dựng đội ngũ công chức của một số nước trên thế giới và bài học có thể áp dụng tại Việt Nam [31].

Luận án tiến sỹ: “Nâng cao chất lượng đội ngũ công chức hành chính tỉnh Hải Dương”, do Nguyễn Kim Diện thực hiện năm 2006, Trường Đại học Kinh tế quốc dân Luận án đã hệ thống được những lý luận cơ bản về nâng cao chất lượng đội ngũ công chức hành chính nhà nước nói chung và nâng cao chất

Trang 18

lượng đội ngũ công chức hành chính nhà nước của tỉnh Hải Dương nói riêng Đồng thời đã phân tích và rút ra những đánh giá thực trạng đó một cách khách quan, chính xác về một số ưu điểm và hạn chế về chất lượng đội ngũ công chức hành chính sự nghiệp nhà nước tỉnh Hải Dương trong thời kỳ mới Luận án cũng

đã đưa ra những quan điểm, mục tiêu và một số giải pháp quan trọng, phù hợp, nêu lên những kiến nghị nhằm nâng cao chất lượng đội ngũ công chức hành chính nhà nước tỉnh Hải Dương trong thời kỳ đổi mới Song tác giả của Luận án mới chỉ dừng lại ở chỗ đội ngũ công chức hành chính nhà nước nói chung của tỉnh Hải Dương chứ chưa chuyên sâu về chất lượng công chức các cơ quan chuyên môn thuộc UBND cấp huyện, đây là vấn đề quan trọng trong công tác cán bộ.

Nguyễn Thị Thảo (2015), Nâng cao chất lượng đội ng công chức cấp xã huyện Yên Định, tỉnh Thanh Hóa, Luận văn thạc sĩ quản trị nhân lực, Trường Đại

học Lao động - Xã hội, Hà Nội Trong luận văn này tác giả đi sâu vào phân tích năng lực chuyên môn, khả năng hoàn thành nhiệm vụ, uy tín công tác, từ đó đưa

ra những giải pháp để nâng cao chất lượng công chức Qua nghiên cứu giúp cho bản thân có thêm những kiến thức liên quan đến các yếu tố ảnh hưởng đến việc nâng cao chất lượng công chức cấp xã [37].

Ngoài ra, có thể kể đến các công trình của tác giả Nguyễn Văn Sáu và

Giáo sư Hồ Văn Thông chủ biên về "Thực hiện quy chế dân chủ và xây dựng chính quyền cấp xã ở nư c ta hiện nay", Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí

Minh, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2003 Liên quan đến công chức trên

địa bàn huyện Cư Jút cũng có một số bài viết như ThS Lê Trọng Tấn, Tuyển dụng công chức cấp huyện trên địa bàn tỉnh Đăk Nông, Luận văn thạc sỹ

Hành chính học, Học viện Hành chính quốc gia Hồ Chí Minh; ThS Phạm

Vương Quốc Trung (Sở Nội vụ tỉnh Đăk Nông), Công tác quy hoạch công chức nữ thời kỳ đ i m i trên địa bàn huyện Cư Jút”, Công tác b nhiệm cán bộ

cơ quan đảng, mặt trận, đoàn thể ở tỉnh Đăk Nông (Tạp chí Xây dựng

Trang 19

Đảng 8.2015); Bài luân chuyển cán bộ ở Đăk Nông (Tạp chí Xây dựng Đảng,

12/2015) cũng đề cập đến một số vấn đề liên quan đến thực trạng chất lượng công chức ở tỉnh Đăk Nông trước năm 2015.

Các công trình khoa học và các bài viết nêu trên đã đề cập đến một phần nội dung hay khía cạnh nào đó về chất lượng công chức trên địa bàn huyện Cư Jút như công tác đào tạo, bồi dưỡng; công tác tuyển dụng; công tác quy hoạch; công tác đề bạt, bổ nhiệm cán bộ, công tác luân chuyển, điều động cán bộ Các công trình nghiên cứu chủ yếu đề cập đến cán bộ, công chức hành chính nói chung và cách tiếp cận chủ yếu theo từ nền hành chính nhà nước, dựa trên quan điểm của các quản lý hành chính; ít hoặc không thấy công trình tiếp cận theo hướng khoa học về công chức chuyên môn thuộc UBND huyện Các công trình nghiên cứu mới chỉ dừng lại ở mặt phương pháp luận là chủ yếu hoặc chỉ tập trung nghiên cứu trên phạm vi khá rộng (toàn bộ đội ngũ cán bộ, công chức; đội ngũ công chức nói chung…); hoặc chỉ nghiên cứu một số khâu của công tác xây dựng công chức nhà nước như tuyển dụng công chức; đào tạo, bồi dưỡng công chức; quy hoạch đề bạt cán bộ, công chức, Như vậy, cho đến nay chưa có một công trình khoa học nào đề cập đến chất lượng công chức các cơ quan chuyên môn thuộc UBND huyện Cư Jút Đây chính là cơ sở và động lực để tác giả nghiên cứu đề tài về nâng cao chất lượng công chức các cơ quan chuyên môn thuộc UBND huyện Cư Jút, tin tưởng rằng đề tài sẽ đáp ứng được phần nào đó về tính thực tiễn và hiệu quả cho địa phương trong việc nâng cao chất lượng công chức trên địa bàn huyện Cư Jút, tỉnh Đăk Nông.

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài

3.1 Mục đích nghiên cứu

Trên cơ sở lý luận về chất lượng công chức các cơ quan chuyên môn thuộcUBND huyện và thực trạng chất lượng công chức các cơ quan chuyên môn thuộc UBND huyện Cư Jút, Luận văn đề xuất một số giải pháp có tính khả thi nhằm nâng

Trang 20

cao chất lượng công chức các cơ quan chuyên môn thuộc UBND huyện Cư Jút, đáp ứng được yêu cầu, nhiệm vụ trong tình hình mới.

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

Để đạt được những mục đích nghiên cứu nêu trên, luận văn sẽ tập trung thực hiện các nhiệm vụ cụ thể sau:

- Hệ thống hoá và làm rõ một số vấn đề lý luận về công chức các cơ quan chuyên môn, chất lượng công chức các cơ quan chuyên môn thuộc UBND huyện;

- Phân tích thực trạng chất lượng công chức các cơ quan chuyên môn thuộc UBND huyện Cư Jút, chỉ ra được những ưu điểm, hạn chế và tìm ra nguyên nhân dẫn tới những hạn chế.

- Xác định phương hướng, tìm ra giải pháp và một số kiến nghị cơ bản nhằm nâng cao chất lượng công chức các cơ quan chuyên môn thuộc UBND huyện Cư Jút trong giai đoạn tiếp theo.

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài

4.1 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của luận văn là chất lượng công chức các cơ quan chuyên môn thuộc UBND huyện Cư Jút.

- Về không gian: Tác giả tập trung nghiên cứu chất lượng công chức các cơquan chuyên môn thuộc UBND huyện Cư Jút: (gồm 13 phòng, ban thuộc UBNDhuyện, cụ thể: Văn phòng HĐND&UBND, phòng Nội vụ, phòng Nông nghiệp vàPTNT, phòng Tài chính – Kế hoạch; phòng Tài nguyên và Môi trường, phòng Kinh

Trang 21

tế - Hạ tầng, phòng Lao động TB&XH, phòng Giáo dục và Đào tạo, phòng Văn hoá– Thông tin, phòng Y tế, phòng Tư pháp, phòng Dân tộc, Thanh tra huyện).

- Về thời gian nghiên cứu: Từ năm 2010 năm 2016.

5 Phương pháp nghiên cứu của đề tài

5.1 Phương pháp luận

+ Hệ thống phương pháp luận duy vật biện chứng và duy vật lịch sử.

+ Hệ thống lý luận, quan điểm của chủ nghĩa Mác – Lê nin, tư tưởng Hồ Chí Minh

và các chủ trương, đường lối của Đảng về công tác cán bộ và chất lượng công chức nhà nước địa phương.

+ Kế thừa những nghiên cứu liên quan đến vấn đề công chức nhà nước.

5.2 Phương pháp cụ thể

- Phương pháp nghiên cứu tài liệu: các tài liệu chủ yếu được sử dụng nghiên cứu

là các tài liệu đã được giới thiệu tại phần mở đầu, mục 2 tình hình nghiên cứu liên quanđến đề tài và danh mục tài liệu tham khảo Việc nghiên cứu đã cung cấp cơ sở lý luận,những luận cứ cho những hạn chế, từ đó làm tiền đề để xây dựng và nâng cao chấtlượng công chức các cơ quan chuyên môn thuộc UBND huyện Cư Jút, tỉnh Đăk Nông

- Phương pháp chuyên gia: tiến hành điều tra bằng bảng hỏi đối với những người đã vàđang công tác trong ngành Tổ chức (Lãnh đạo các phòng: Đào tạo và CCHC, Xây dựng chínhquyền, Công chức, viên chức thuộc Sở Nội vụ, Trưởng phòng, Phó trưởng phòng Nội vụ huyện;Trưởng Ban Tổ chức, Phó Trưởng Ban Tổ chức Huyện ủy); những công chức chuyên môn hiệnđang công tác tại các phòng ban thuộc UBND huyện để có những ý kiến cụ thể liên quan vàqua đó có những đánh giá cụ thể điểm mạnh, điểm yếu, đưa ra những giải pháp để

nâng cao chất lượng công chức các cơ quan chuyên môn thuộc UBND huyện Cư Jút

- Phương pháp quan sát: đề tài tiến hành thu thập thông tin về chất lượng công chức các cơ quan chuyên môn thuộc UBND huyện Cư Jút do Phòng nội vụ Huyện thống kê, đồng thời tiến hành thu thập thông tin qua khảo sát thực tế công chức tại 13 phòng ban, thông qua khảo sát đánh giá của UBND huyện để đánh giá chất lượng công chức các cơ quan chuyên môn thuộc UBND huyện Cư Jút.

Trang 22

- Phương pháp điều tra xã hội học: được tiến hành tại 13 phòng ban; trao đổi với đồngchí Chủ tịch, 03 Phó Chủ tịch UBND huyện; 40 người dân được hỏi thông qua phiếu khảo sát,phiếu khảo sát được tổng hợp và xử lý bằng phần mềm Excel đảm bảo tính khách quan và trungthực trong nghiên cứu Ngoài ra, các phương pháp nghiên cứu khoa học: phân tích, tổng

hợp, logic, hệ thống - cấu trúc, so sánh, thống kê, điều tra bảng biểu,… sẽ được

sử dụng trong quá trình thực hiện đề tài.

6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của đề tài

Luận văn cũng có thể dùng làm tài liệu tham khảo cho việc nghiên cứu giảng dạy tại Trung tâm bồi dưỡng chính trị Huyện hoặc là cung cấp cho các cá nhân muốn dùng để tham khảo khi nghiên cứu về nội dung này Đề tài cũng có thể sử dụng làm tài liệu nghiên cứu, tham khảo cho các đề tài nghiên cứu sau này

có liên quan đến công chức cấp huyện trên địa bàn tỉnh Đăk Nông.

7 Kết cấu của đề tài

Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục; bố cục luận văn gồm 3 chương:

Chương 1 Cơ sở lý luận về công chức và chất lượng công chức.

Chương 2 Thực trạng về chất lượng công chức các cơ quan chuyên môn thuộc UBND huyện Cư Jút, tỉnh Đăk Nông.

Chương 3 Quan điểm, phương hướng và một số giải pháp về chất lượng công chức các cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân huyện Cư Jút, tỉnh Đăk Nông.

Trang 23

Chương 1.

CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CHẤT LƯỢNG CÔNG CHỨC

CÁC CƠ QUAN CHUYÊN MÔN THUỘC UBND HUYỆN

1.1 Công chức các cơ quan chuyên môn thuộc UBND huyện

1.1.1 Khái niệm

- Khái niệm công chức Thuật ngữ công chức được sử dụng phổ biến ở nhiều

quốc gia trên thế giới Đây là khái niệm phản ánh đặc sắc riêng của nền công vụ và tổchức bộ máy ở nhiều Quốc gia Ở mỗi quốc gia tồn tại nhiều đảng phái chính trị, côngchức chỉ được hiểu là những người giữ công vụ thường xuyên trong các cơ quan Nhànước, được xếp vào ngạch, bậc công chức, hưởng lương từ ngân sách nhà nước, cònnhững nước chỉ có duy nhất một Đảng lãnh đạo nhà nước và xã hội thì quan niệm công chức được mở rộng hơn, ngoài những chủ thể trên còn bao gồm những đối tượng có dấu hiệu tương tự, nhưng làm việc trong các tổ chức Đảng, tổ chức chính trị xã hội Mặc dù hiện nay quan điểm và phạm vi công chức ở mỗi quốc gia có khác nhau Có nhiều nơi hiểu công chức theo nghĩa rất rộng như ở Pháp là bao gồm tất cả những thành viên trong bộ máy hành chính nhà nước, tất cả những người tham gia làm các dịch vụ công; hay hẹp hơn như tại Anh: công chức là những người thay mặt Nhà nước giải quyết công việc công, nhất là tại Trung ương, cho nên phạm vi công chức thu hẹp hơn nhiều.

Ở nước ta, khái niệm công chức được hình thành, gắn với sự phát triển của nền

hành chính nhà nước, có thể đi qua nhiều giai đoạn khác nhau Theo Sắc lệnh 76/SL

ngày 20/5/1950 của Chủ tịch nư c Việt Nam Dân chủ Cộng hòa thì: “Công chức là

những công dân Việt Nam được chính quyền nhân dân tuyển để giữ một chức vụthường xuyên trong các cơ quan Chính phủ, ở trong hay ngoài nước đều là công chức

theo quy chế này, trừ trường hợp riêng biệt do Chính phủ quy định ” [6; tr 2] Như vậy,

phạm vi công chức rất hẹp, chỉ là những người được tuyển dụng giữ một chức vụ

Trang 24

trong các cơ quan, đơn vị sự nghiệp, các cơ quan Tòa án, Viện kiểm sát Sau một thời gian dài (từ đầu thập kỷ 60 của thế kỷ 20 đến những năm đầu của thế

kỷ 21), ở nước ta gần như “không tồn tại khái niệm công chức” mà thay vào

đó là khái niệm “Cán bộ, công nhân viên chức nhà nư c” chung chung, chưa phân biệt được rõ thuật ngữ “Cán bộ”, “Công chức”, “Viên chức” [1; tr 65].

Đến năm 2008, Luật Cán bộ, công chức được ban hành và có hiệu lực kể từ ngày01/01/2010 Khái niệm “Công chức” được định nghĩa cụ thể tại khoản 2 Điều 4, Luật cán

bộ, công chức quy định công chức là: “Công dân Việt Nam, được tuyển dụng, bổ nhiệmvào ngạch, chức vụ, chức danh trong cơ quan của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổchức chính trị - xã hội ở trung ương, cấp tỉnh, cấp huyện; trong cơ quan, đơn vị thuộc Quânđội nhân dân mà không phải là sĩ quan quân nhân chuyên nghiệp, công nhân quốc phòng;trong cơ quan, đơn vị thuộc Công an nhân dân mà không phải là sĩ quan, hạ sĩ quan chuyênnghiệp và trong bộ máy lãnh đạo, quản lý của đơn vị sự nghiệp công lập, trong biên chế,hưởng lương từ ngân sách nhà nước; đối với công chức trong bộ máy lãnh đạo, quản lý củađơn vị sự nghiệp công lập thì lương được bảo đảm từ quỹ lương của đơn vị sự nghiệp cônglập theo quy định của pháp luật” Theo quy định này thì tiêu chí để xác định công chức

“gắn v i cơ chế tuyển dụng, b nhiệm vào ngạch, chức vụ, chức danh” Như vậy, tác giả

nhận định rằng cho đến thời điểm hiện nay khái niệm “Công chức”, “Cán bộ”, “Viên chức”

đã được phân biệt rõ ràng, mang tính toàn diện và việc phân định đó có nhiều

ý nghĩa trên các lĩnh vực quản lý nhà nước về cán bộ, công chức như đào tạo, bồi dưỡng; định biên công chức; chế độ tiền lương cho công chức, v.v

- Khái niệm công chức các cơ quan chuyên môn thuộc UBND huyện Căn cứ vào

Luật Cán bộ, Công chức năm 2008 và Nghị định số 06/2010/NĐ-CP ngày 25/01/2010 củaChính phủ quy định những người là công chức, ta có thể hiểu công chức các cơ quan

chuyên môn thuộc UBND huyện là “Công dân Việt Nam, được tuyển dụng giữ một chức

danh chuyên môn, nghiệp vụ thuộc Ủy ban nhân dân cấp huyện, trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nư c” [33, tr2] Như vậy, ở Việt Nam hiện công chức các cơ quan

Trang 25

chuyên môn thuộc UBND huyện đã được xác định rõ ràng về địa vị pháp lý là công dân Việt Nam được tuyển dụng giữ một chức danh chuyên môn, nghiệp

vụ thuộc Ủy ban nhân dân cấp huyện, trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước Có trách nhiệm tham mưu, giúp Ủy ban nhân dân cấp huyện thực hiện chức năng quản lý nhà nước về lĩnh vực công tác được phân công và thực hiện các nhiệm vụ khác do Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp huyện giao.

- Khái niệm về UBND:

UBND là một cơ quan hành chính nhá nước của hệ thống hành chính nướcCộng Hòa Xã Hội Chủ Nghiã Việt Nam Đây là cơ quan thực thi pháp luật tại các cấpTỉnh Huyện Xã do HĐND cùng cấp bầu ra, nhiệm kỳ trùng với nhiệm kỳ của HĐND

UBND là cơ quan chấp hành của HĐND, cơ quan hành chính nhà nước của địa phương, chịu trách nhiệm trước nhân dân địa phương, HĐND cùng cấp và cơ quan hành chính nhà nước cấp trên.

1.1.2 Đặc điểm công chức các cơ quan chuyên môn thuộc UBND

huyện

- Đặc điểm chung: công chức là người trực tiếp thực thi quyền lực nhà nước, là

chủ thể trực tiếp áp dụng các quy định của pháp luật vào trong thực tiễn để giải quyếtcác vụ việc cụ thể phát sinh Họ thực hiện quyền, nghĩa vụ và trách nhiệm của mìnhtrong phạm vi chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn đã được pháp luật quy định theo nguyêntắc: Công chức được làm những gì pháp luật cho phép Công chức được nhà nước đảmbảo các điều kiện cần thiết, quyền lợi chính đáng để có khả năng và yên

tâm thực thi công vụ.

Công chức là những người thực thi pháp luật, thực thi quyền lực nhà nước

do vậy họ phải là những người có trình độ, am hiểu pháp luật, áp dụng pháp luật một cách chính xác và sáng tạo Trong quá trình áp dụng pháp luật, họ chính là người sáng tạo ra pháp luật, tham mưu đưa ra các quy định pháp luật mới phù hợp góp phần vào việc hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam đáp ứng yêu cầu xây dựng nhà nước pháp quyền Việt Nam xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do

Trang 26

nhân dân, vì nhân dân.

Công chức là công bộc của nhân dân Trong Nhà nước Việt Nam, nhân dân là chủ thể tối cao của quyền lực nhà nước, Nhà nước ra đời với sứ mệnh duy nhất là phục vụ quyền, lợi ích chính đáng, hợp pháp của nhân dân Do vậy, công chức phải đặt sứ mệnh phục vụ nhân dân lên hàng đầu vì họ là những người được nhân dân tin tưởng giao phó, họ là những người hưởng lương từ ngân sách nhà nước mà ngân sách nhà nước hình thành từ các nguồn

do nhân dân đóng góp, vì vậy xét về mặt đạo lý và pháp lý họ phải hết lòng, hết sức phục vụ nhân dân, phải là công bộc của nhân dân.

Công chức là lực lượng lao động chuyên nghiệp, có tính chuyên môn hóa caovới các hoạt động diễn ra thường xuyên, liên tục trên phạm vi rộng và mang tính phứctạp Các cơ quan nhà nước từ trung ương đến địa phương đều được tổ chức và hoạtđộng theo những nguyên tắc nhất định nhằm quản lý, điều hành xã hội theo pháp luật vàbằng pháp luật, trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội làm cho xã hội ổn định vàphát triển Những hoạt động đó diễn ra hàng ngày đều trực tiếp hoặc gián tiếp liên quanđến đời sống của người dân Do vậy, đội ngũ công chức là lực lượng lao động mangtính chuyên nghiệp, thực hiện công vụ thường xuyên, liên tục, có trình độ chuyên mônhóa cao để giải quyết các vấn đề thuộc phạm vi mình quản lý, điều hành một cáchnhanh chóng, kịp thời, hiệu quả Đội ngũ công chức nhà nước mang tính ổn định, luônmang tính kế thừa và không ngừng được nâng cao về chất lượng

quan

chuyên môn thuộc UBND huyện có những đặc trưng riêng biệt Công chức các cơquan chuyên môn thuộc UBND huyện là những người trực tiếp tiếp xúc với côngdân trong quá trình giải quyết công việc; là những người trực tiếp triển khai các chủtrương, đường lối, chính sách của Đảng và pháp luật của Nhà nước vào giải quyếtquyền, lợi ích hợp pháp cho nhân dân cũng như trực tiếp lắng nghe, tìm hiểu tâm tư,nguyện vọng của nhân dân địa phương Công chức các cơ quan chuyên môn thuộc

Trang 27

UBND huyện là cầu nối, là chất keo kết dính giữa Đảng, Nhà nước và Nhân dân.

Để thực hiện tốt chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của mình công chức các cơquan chuyên môn thuộc UBND huyện phải là những người thực thiện nghiêm túc cácchủ trương, chính sách của cơ quan Đảng và cơ quan nhà nước cấp trên; phải có khảnăng lĩnh hội tốt các chủ trương, đường lối, chính sách đó để áp dụng vào giải quyếtcông việc đồng thời phải là những tuyên truyền viên tích cực hướng dẫn cho cấp cơ sở

để đảm bảo pháp luật được thực hiện thống nhất Thực tiễn cho thấy, công chức các cơquan chuyên môn thuộc UBND huyện có vị trí, vai trò hết sức quan trọng trong việcduy trì tính ổn định của nhà nước Ở địa bàn huyện nào công chức vững mạnh thì tìnhhình chính trị - xã hội ổn định, kinh tế - văn hóa phát triển bởi vì khi đó chính quyềncấp huyện đã tạo được niềm tin đối với nhân dân Ngược lại, ở địa bàn nào công chứckhông được quan tâm, không đáp ứng đầy đủ phẩm chất đạo đức và năng lực nghềnghiệp, tham ô, lãng phí, tham nhũng, hống hách, cửa quyền khi giải quyết công việcthì tình hình kinh tế - chính trị, văn hóa - xã hội sẽ không ổn định

Công chức các cơ quan chuyên môn thuộc UBND huyện khác với cán bộ,công chức chuyên môn cấp tỉnh và công chức chuyên môn cấp xã: Cán bộ, côngchức các cơ quan chuyên môn thuộc UBND huyện vừa là những người đóng vai tròtiếp nhận và tuyên truyền các chủ trương, chính sách của cấp Trung ương và cấp tỉnhđến cấp xã, vừa là người trực tiếp giải quyết yêu cầu của tổ chức, cá nhân nên đòihỏi đội ngũ này phải có kiến thức toàn diện hơn, sâu rộng hơn, sáng tạo hơn để thựchiện cùng lúc nhiều chức năng, nhiệm vụ theo phân công, phân cấp

1.1.3 Vị trí, vai trò công chức các CQCM thuộc UBND huyện

Nền hành chính theo nghĩa rộng là hoạt động quản lý, điều hành công việccủa mọi tổ chức Nhà nước cũng như của các doanh nghiệp, các tổ chức chính trị, xãhội,… theo chức năng, nhiệm vụ, điều lệ của từng tổ chức Hành chính nhà nước làhoạt động chính của của các cơ quan thực thi quyền lực Nhà nước để quản lý, điều

Trang 28

hành các hoạt động trong các lĩnh vực đời sống xã hội theo pháp luật Nền hành chính nhà nước gồm các yếu tố cấu thành đó là:

- Thứ nhất, hệ thống thể chế hành chính bao gồm Hiến pháp, Luật, Pháp lệnh

và các văn bản qui phạm về tổ chức, hoạt động của hành chính nhà nước và tài phánhành chính;

- Thứ hai, cơ cấu tổ chức và cơ chế vận hành của bộ máy hành chính

nhà nước các cấp, các ngành phù hợp với yêu cầu thực hiện quyền hành pháp;

- Thứ ba, cán bộ, công chức hành chính được đảm bảo về số lượng và

chất lượng để thực hiện tốt chức năng, nhiệm vụ của nền hành chính;

- Thứ tư, nguồn lực tài chính và cơ sở vật chất kỹ thuật bảo đảm yêu cầu

thực thi công vụ của các cơ quan và công chức hành chính.

Như vậy, công chức là một mắt xích quan trọng không thể thiếu của bất kỳ nền hành chính nào Công chức chuyên môn thuộc UBND huyện là người trực tiếp thực thi quyền lực nhà nước, là chủ thể trực tiếp áp dụng các quy định của pháp luật vào trong thực tiễn để giải quyết các vụ việc cụ thể phát sinh Họ thực hiện quyền, nghĩa vụ và trách nhiệm của mình trong phạm vi chức năng, nhiệm

vụ, quyền hạn đã được pháp luật quy định theo nguyên tắc “Công chức được làm

những gì pháp luật cho phép” Công chức chuyên môn thuộc UBND huyện là

những người thực thi pháp luật, thực thi quyền lực nhà nước do vậy họ phải là

những người có trình độ, am hiểu pháp luật, áp dụng pháp luật một cách chính xác và sáng tạo Trong quá trình áp dụng pháp luật, họ chính là người sáng tạo ra pháp luật, tham mưu đưa ra các quy định pháp luật mới phù hợp góp phần vào việc hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam đáp ứng yêu cầu xây dựng nhà nước pháp quyền Việt Nam xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân.

Công chức các cơ quan chuyên môn thuộc UBND huyện là công bộc củanhân dân Trong Nhà nước Việt Nam, nhân dân là chủ thể tối cao của quyền lực nhànước, Nhà nước ra đời với sứ mệnh duy nhất là phục vụ quyền, lợi ích chính đáng,

Trang 29

hợp pháp của nhân dân Do vậy, cán bộ, công chức phải đặt sứ mệnh phục vụ nhân dân lên hàng đầu vì họ là những người được nhân dân tin tưởng giao phó,

họ là những người hưởng lương từ ngân sách nhà nước mà ngân sách nhà nước hình thành từ các nguồn do nhân dân đóng góp, vì vậy xét về mặt đạo lý và pháp

lý họ phải hết lòng, hết sức phục vụ nhân dân, phải là công bộc của nhân dân Công chức các cơ quan chuyên môn thuộc UBND huyện là lực lượng lao động chuyên nghiệp, có tính chuyên môn hóa cao với các hoạt động diễn ra thường xuyên, liên tục trên phạm vi rộng và mang tính phức tạp Các cơ quan nhà nước

từ trung ương đến địa phương đều được tổ chức và hoạt động theo những nguyên tắc nhất định nhằm quản lý, điều hành xã hội theo pháp luật và bằng pháp luật, trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội làm cho xã hội ổn định và phát triển Những hoạt động đó diễn ra hàng ngày đều trực tiếp hoặc gián tiếp liên quan đến đời sống của người dân Do vậy, công chức các cơ quan chuyên môn thuộc UBND huyện là lực lượng lao động mang tính chuyên nghiệp, thực hiện công vụ thường xuyên, liên tục, có trình độ chuyên môn hóa cao để giải quyết các vấn đề thuộc phạm vi mình quản lý, điều hành một cách nhanh chóng, kịp thời, hiệu quả.

1.2 Chất lượng công chức các cơ quan chuyên môn thuộc UBND huyện

1.2.1 Khái niệm

- Chất lượng Đây là một thuật ngữ quen thuộc mà chúng ta hay sử dụng trong đời sống thường ngày và đây là một phạm trù phức tạp, có nhiều định

nghĩa khác nhau Trong mỗi lĩnh vực khác nhau, với mục đích khác nhau nên

có nhiều quan niệm về chất lượng cũng không giống nhau.

Theo Đại từ điển Tiếng Việt do nhà xuất bản Đại học Quốc gia Thành phố Hồ

Chí Minh, xuất bản năm 2007 thì chất lượng là “cái tạo nên phẩm chất, giá trị của

một con người, sự vật, sự việc” [16, tr 248] Theo quản lý chất lượng và đảm bảo chất

lượng - Thuật ngữ và định nghĩa TCVN 5814-1994 thì TCVN 5814-1994 trên cơ sở tiêu

chuẩn ISO-9000 định nghĩa “Chất lượng là tập hợp các đặc tính của một thực

Trang 30

thể (đối tượng) tạo cho thực thể đó có khả năng thỏa mãn những yêu cầu đã nêu ra hoặc tiềm ẩn" Nói đến chất lượng là ta nói đến phẩm chất, giá trị của con người hay

của một sự vật nào đó, là những cái có ích, là tính chất tốt đẹp của con người hay vậtdụng, những phẩm chất đó đáp ứng đến đâu những yêu cầu đã được xác định Khinói đến chất lượng là chúng ta thường nghĩ ngay đến những cái tốt đẹp, để ta phânbiệt với cái chất lượng xấu hoặc kém chất lượng Như vậy, chất lượng là cái tạo nênbản chất sự vật, là thuộc tính căn bản, ổn định, vốn có bên trong của mỗi con ngườihay sự vật, hiện tượng, làm cho sự vật này khác so với sự vật kia Chất lượng của cánhân được hiểu là tổng hợp những phẩm chất nhất định về sức khỏe, trí tuệ, chuyênmôn nghiệp vụ, đạo đức, ý chí, năng lực, v.v Nhưng để xác định chất lượng củamột cá nhân ngoài phẩm chất, giá trị của chính bản thân con người đó thì một yếu tốnữa đó là sự đánh giá của xã hội Hay nói cách khác, phẩm chất, giá trị đó có đápứng nhu cầu của xã hội hay không và rõ ràng trong từng giai đoạn phát triển của xãhội thì nhu cầu cũng có sự biến động khác nhau

- Chất lượng công chức: Từ những phân tích trên cho thấy khi nghiên cứu về nội

hàm chất lượng công chức nói chung xét dưới hai đặc tính Một là, phẩm chất, giá trịcủa công chức bao gồm kiến thức, các kỹ năng, phẩm chất đạo đức Đó là tổng hợp cácyếu tố chuyên môn được đào tạo, kinh nghiệm làm việc, năng khiếu cá nhân, yếu tốtiềm năng hoặc thiên bẩm để nâng cao khả năng làm việc Hai là, trên cơ sở phẩm chất

là khả năng hoàn thành tốt chức trách, nhiệm vụ được giao Ở khía cạnh này là sự đánhgiá của xã hội nói chung và nhân dân địa phương nơi công tác Từ việc phân tích trên

đây có thể rút ra quan niệm như sau: “Chất lượng công chức là t ng hợp các tiêu chí về

phẩm chất, kiến thức, năng lực và khả năng hoàn thành nhiệm vụ được giao của công chức” Như vậy, nói tới chất lượng công chức là nói tới phẩm chất chính trị, chấp hành

đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước; phẩm chất đạođức; trình độ văn hóa, trình độ chuyên môn, trình độ lý luận chính trị, trình độ quản lýhành chính nhà nước, trình độ tin học, ngoại ngữ và

Trang 31

năng lực của người công chức nó quy định mức độ đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ củangười công chức trong quá trình thực thi công vụ của mình Có thể khẳng định chấtlượng công chức ngoài việc đáp ứng các yêu cầu theo tiêu chuẩn quy định của phápluật còn được thể hiện qua kết quả thực thi công việc và sự đánh giá của người dân -đối tượng phục vụ của bộ máy hành chính và của công chức Việc đánh giá chấtlượng công chức ngoài việc tập trung vào việc đánh giá theo các tiêu chuẩn theo quyđịnh cuả pháp luật mà còn phải đặc biệt chú ý đến kết quả thực thi công vụ và chấtlượng công việc được giải quyết qua sự hài lòng của người dân và toàn xã hội.

- Chất lượng công chức các cơ quan chuyên môn thuộc UBND huyện là: “Tập

hợp tất cả những đặc điểm, thuộc tính của từng công chức chuyên môn thuộc UBNDcấp huyện, gồm phẩm chất đạo đức; văn hoá ứng xử; trình độ chuyên môn, trình độ lýluận chính trị, trình độ quản lý hành chính nhà nước, trình độ tin học, ngoại ngữ,… Chođến sức khoẻ (thể chất, tâm lý) phù hợp với cơ cấu, yêu cầu trong thực hiện chức

trách nhiệm vụ của cơ quan, đơn vị, nhằm đáp ứng yêu cầu, mục tiêu chung của địaphương trong thời điểm nhất định” Nói đến chất lượng từng công chức các cơ quanchuyên môn thuộc UBND huyện được biểu hiện cụ thể thông qua tình trạng sức khỏe

để làm việc; tiếp đến là chất lượng lao động, khả năng triển khai, hoàn thành nhiệm vụđược giao; thái độ, tinh thần phục vụ nhân dân trong thực thi công việc; trình độ, nănglực chuyên môn, phẩm chất đạo đức, chính trị; khả năng thích ứng với điều kiện cảicách hành chính đang diễn ra ngày càng sâu rộng như hiện nay không chỉ ở Việt Nam

mà còn hội nhập quốc tế Ngoài ra, chất lượng công chức các cơ quan chuyên mônthuộc UBND huyện còn được thể hiện ở mối quan hệ giữa công chức với nhau: sự phốikết hợp trong công tác, triển khai nhằm hoàn thành nhiệm vụ; giúp đỡ, ủng hộ nhautrong cả quá trình lao động Chất lượng của đội ngũ công chức cao cho phép hoàn thànhchức năng, nhiệm vụ của bộ máy nhà nước, nâng cao hiệu lực hiệu quả quản lý nhànước và cũng là điều kiện thuận lợi cho việc áp dụng tiến bộ khoa học kỹ

Trang 32

thuật trong công tác quản lý nhà nước như C.Mác đã khẳng định: "Muốn thực hiện

tư tưởng thì cần có những con người sử dụng lực lượng thực tiễn” là như vậy.

1.2.2 Các tiêu chí đánh giá chất lượng công chức các cơ quan

chuyên môn thuộc UBND huyện

Chất lượng công chức được thể hiện qua các mặt như: bản lĩnh chính trị, phẩm chất đạo đức, tác phong làm việc, trình độ nhận thức, trình độ chuyên môn, năng lực công tác trong thực tiễn, tuổi tác, tình trạng sức khoẻ, v.v Dựa vào các yếu tố này, tác giả luận văn đưa ra một số tiêu chí đánh giá chất lượng công chức các cơ quan chuyên môn thuộc UBND huyện như sau:

1.2.2.1 Tiêu chí về phẩm chất

- Về phẩm chất chính trị Đây là những giá trị tốt đẹp của người công chức về ý

thức tư tưởng, chính trị, văn hóa, đạo đức, tinh thần, v.v Phẩm chất chính trị của ngườicông chức thể hiện ở ý thức (về mặt tinh thần) và hành vi (về mặt thực tiễn) của mỗingười công chức Những phẩm chất này được hình thành và rèn luyện trong quá

trình học tập, tu dưỡng và trong thực tiễn công tác của mỗi người Phẩm chất chính trị là động lực tinh thần thúc đẩy tinh thần cán bộ, công chức vươn lên hoàn thành nhiệm vụ với hiệu quả cao nhất Đây cũng là tiêu chí quan trọng nhất quyết định đến năng lực quản lý nhà nước của công chức Đặc biệt đối với các công chức là những quần chúng ưu tú được đứng trong hàng ngũ của Đảng, đó là sự giác ngộ lý tưởng cộng sản, giác ngộ lý luận của chủ nghĩa Mác – Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh, giác ngộ chủ trương, đường lối của Đảng, sự hiểu biết về chính sách, pháp luật của Nhà nước, kiên định với đường lối đổi mới của Đảng, mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội.

Từ chỗ giác ngộ đó mà mỗi người công chức có ý thức, niềm tin và trungthành, với tư tưởng cộng sản, với chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh,

có tinh thần đấu tranh và bảo vệ quan điểm, đường lối, chính sách của Đảng và phápluật của Nhà nước Phẩm chất chính trị của người công chức được thể hiện trước hết

Trang 33

là sự tin tưởng tuyệt đối với lý tưởng cách mạng, kiên định với mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội; chấp hành tốt chủ trương của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước; không dao động, bi quan trước những khó khăn, thử thách; luôn nêu cao tinh thần trách nhiệm trong công tác, không thờ ơ, dửng dưng trước những vấn đề bức xúc về kinh tế- xã hội; quyết tâm cụ thể hóa chủ trương, chính sách của Đảng và nhà nước, tổ chức thực hiện phù hợp với tình hình thực tế địa phương, để đất nước ngày một phát triển.

Minh rất coi trọng đạo đức, khi nói về đạo đức Hồ Chí Minh đã viết: “C ng như

sông có nguồn, m i có nư c, không có nguồn thì cạn, cây thì phải có gốc, không có gốc thì cây héo; người cách mạng phải có đạo đức, không có đạo đức thì dù có giỏi mấy c ng không lãnh đạo được nhân dân” [21, tr252-253] Phẩm chất đạo đức của

người công chức là những giá trị tốt đẹp của công chức về cách ứng xử trong mối

quan hệ của họ với người khác, với tập thể, với nhân dân và xã hội Phẩm chất đạođức của người công chức là khả năng nhận thức và tự giác thực hiện những hành viphù hợp với giá trị đạo đức, nhân văn của dân tộc; là quan niệm một cách đúng đắn

về cái tốt, cái xấu, lương tâm, trách nhiệm, hạnh phúc và công bằng xã hội

Các chuẩn mực về đạo đức của nguời công chức không thể thiếu trong mọihoàn cảnh, đặc biệt trong giai đoạn hiện nay đó là: khiêm tốn, giản dị, trung thực;kiên quyết chống tham nhũng và tiêu cực xã hội, trong hoàn cảnh nào cũng phảiđặt lợi ích của nhân dân lên trên hết; người công chức phải hòa mình với nhân dânthành một khối, tin nhân dân, hiểu nhân dân, lắng nghe ý kiến của nhân dân; có lốisống lành mạnh, yêu thương, quý trọng con người Điều 15 luật cán bộ công chức

năm 2008 quy định về đạo đức của cán bộ, công chức: “Cán bộ công chức phải thực

hiện cần kiệm, liêm chính chí công vô tư trong hoạt động công vụ”[28, tr 7].

1.2.2.2 Tiêu chí về trình độ

Khi nói đến trình độ của Công chức các cơ quan chuyên môn thuộc UBND

Trang 34

huyện là sự nhận thức, hiểu biết về mọi mặt nhất là lĩnh vực chuyên môn

mà công chức đó đảm nhận Trình độ phản ánh quá trình đào tạo, tự đào tạo, quá trình rèn luyện trong hoạt động thực tiễn của họ Nói chung trình

độ được đánh giá qua nhiều nội dung, dưới đây là một số nội dung cơ bản được sử dụng phổ biến để đánh giá trình độ của công chức:

- Về trình độ học vấn Đây là tiêu chí quan trọng ảnh hưởng đến hoạt động quản

lý trong đội ngũ này Nó cũng là nền tảng trong việc nhận thức, tiếp thu đường lối, chủtrương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước Trình độ học vấn được phản ánhkhông chỉ thông qua bằng cấp của hệ thống giáo dục phổ thông mà công

chức có được mà nó còn được phản ánh sinh động bằng chất lượng thực sự mà công chức lĩnh hội được để vận dụng vào thực tiễn cuộc sống và công tác tại

cơ sở Theo quy định tại Quyết định số 711/QĐ-TTg ngày 13/6/2011 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Chiến lược phát triển giáo dục giai đoạn 2011-

2020 thì yêu cầu về học vấn phải tốt nghiệp trung học phổ thông; riêng đối với các huyện đã được cơ quan có thẩm quyền công nhận thuộc khu vực miền núi, biên giới, vùng sâu, vùng xa, vùng dân tộc thiểu số, vùng có điều kiện kinh tế

- xã hội đặc biệt khó khăn thì phải tốt nghiệp trung học cơ sở trở lên.

- Về trình độ chuyên môn, nghiệp vụ Được phản ánh thông qua kiến thức

chuyên môn mà công chức được trạng bị thông qua quá trình đào tạo trong các trườnghọc thuộc hệ thống đào tạo quốc gia Đó là sản phẩm của đào tạo của quá trình trang bị

và nâng cao kiến thức, hình thành kỹ năng nghề nghiệp của công chức Trình độ chuyên

môn, nghiệp vụ cũng được phản ánh thông qua 2 khía cạnh Một là, bằng cấp chuyên

môn mà công chức có, được tính từ chứng chỉ nghề, sơ cấp về chuyên môn, nghiệp vụ

trở lên Hai là, khả năng vận dụng có hiệu quả kiến thức chuyên môn vào trong thực tế

công tác, phát huy được hiệu quả, mang lại giá trị thực tế Theo quy

định tại Nghị định số 24/2010/NĐ-CP ngày 15/3/2010 của Chính phủ quy định về chức trách, tiêu chuẩn cụ thể, nhiệm vụ và tuyển dụng, quản lý, sử dụng công chức thì

Trang 35

công chức các cơ quan chuyên môn thuộc UBND huyện phải có trình độ từ trung cấp chuyên môn nghiệp vụ trở lên của ngành đào tạo phù hợp với yêu cầu nhiệm vụ của chức danh được đảm nhiệm Đối với các huyện đã được cơ quan có thẩm quyền công nhận thuộc khu vực miền núi, biên giới, vùng sâu, vùng xa, vùng dân tộc thiểu số, vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn thì phải tốt nghiệp từ sơ cấp chuyên môn trở lên.

của cán bộ công chức Nó phản ánh kiến thức về lĩnh vực chính trị hay nhận thứcchính trị của mỗi cá nhân về những hiểu biết của bản thân về chủ nghĩa Mác-Lênin,

tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm, đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước tatrong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa Cũng giống như trình

độ học vấn, trình độ lý luận chính trị được phản ánh đồng thời thông qua 2 khía

cạnh Một là, đó là chương trình lý luận chính trị mà công chức đã được đào tạo, bồi

dưỡng theo quy định Hai là, khả năng tư duy lý luận thực tế của công chức Thểhiện qua việc nắm được những chủ trương, đường lối của Đảng trong mỗi giai đoạncách mạng, nắm bắt được những quan điểm của Đảng trong từng lĩnh vực cụ thể đểvận dụng, tổ chức thực hiện và biến nó thành thực tiễn của cuộc sống Đồng thời, cótrình độ lý luận tốt sẽ giúp cho đội ngũ công chức có bản lĩnh chính trị vững vàng,

có khả năng nhận thức thực hiện đúng đắn nhiệm vụ chính trị của địa phương

- Về trình độ quản lý nhà nư c Trình độ quản lý nhà nước là tổng hợp những

kiến thức, kỹ năng của công chức về nhà nước, pháp luật, quản lý hành chính nhà nước

và khả năng vận dụng một cách linh hoạt, sáng tạo, có hiệu quả những kiến thức đó vàotrong thực tiễn công tác Nó được hình thành chủ yếu khi công chức được tuyển dụng

và bước vào làm việc trong cơ quan nhà nước Đối với công chức các cơ

quan chuyên môn thuộc UBND huyện, do mỗi vị trí chức danh đều có những đặc thùriêng, nên việc thực hiện nhiệm vụ chuyên môn rất cần đến kiến thức quản lý nhà nướctheo một mối quan hệ cơ hữu với nhau: trình độ chuyên môn tương ứng với vị

Trang 36

trí đảm nhận và kiến thức quản lý nhà nước, có như thế những kiến thức chuyên môncủa công chức khi được áp dụng trong quản lý nhà nước ở cơ sở mới mang lại kết quảthực tế, đúng với quy định Kiến thức quản lý nhà nước của công chức các cơ quanchuyên môn thuộc UBND huyện được hình thành chủ yếu thông qua bồi dưỡng

ởcác ngạch cán sự, chuyên viên và các lớp bồi dưỡng ngắn hạn theo vị trí chứcdanh Do đặc thù hình thành công chức các cơ quan chuyên môn thuộc UBNDhuyện ở các địa phương nên một bộ phận lớn công chức công chức các cơ quanchuyên môn thuộc UBND huyện chưa được trang bị kiến thức về quản lý hànhchính nhà nước mà thực tế họ phát triển nghề nghiệp chủ yếu thông qua sự tự rènluyện và trưởng thành nhờ tích lũy kinh nghiệm Điều này dễ dẫn đến những hiệntượng tiêu cực như kinh nghiệm chủ nghĩa hoặc sự quản lý không đảm bảo đúngnguyên tắc, trình tự quản lý hành chính tùy tiện, thiếu thống nhất và vi phạm phápluật Cũng giống như trình độ học vấn và trình độ chuyên môn nghiệp vụ, trình độquản lý hành chính nhà nước cũng như đánh giá bởi 2 khía cạnh là: bằng cấp, chứngchỉ chuyên môn về quản lý hành chính nhà nước mà công chức có được và khả năngvận dụng kiến thức quản lý hành chính nhà nước vào trong thực tế công tác

- Về trình độ ngoại ngữ, tin học Ngoại ngữ và tin học là công cụ rất quan trọng

để cán bộ công chức thực hiện công việc mở rộng giao lưu, tiếp thu các thành tựu khoahọc, công nghệ tiên tiến trên thế giới khi chúng ta đang trong giai đoạn hội nhập kinh tếquốc tế Hiện nay chúng ta đang sống trong thời đại của công nghệ thông

tin và truyền thông, do đó việc trang bị và nâng cao trình độ tin học cho công chức là rấtcần thiết, nó trở thành đòi hỏi bắt buộc đối với hoạt động tác nghiệp chuyên môn củacông chức, là cơ sở để thực hiện việc hiện đại hóa nền hành chính nhằm xây dựng mộtnền hành chính hiện đại Tin học không chỉ giới hạn ở việc sử dụng máy tính như mộtcông cụ thuần túy mà còn là một hệ thống phức tạp, có tác dụng đa chiều Đặc biệt khitin học được đưa vào khu vực công - khu vực hành chính nhà nước thì nó mang lạinhững hiệu quả to lớn Nó cho phép xử lý các thông tin quản lý nhà nước

Trang 37

được nhanh chóng, chính xác, có hệ thống, là cơ sở để kết nối hệ thống thông tin quản lý và giảm thiểu thời gian, công sức trong việc giải quyết các thủ tục hành chính, là cơ sở quan trọng để thực hiện cơ chế “một cửa” và “một cửa liên thông” trong cải cách thủ tục hành chính Theo quy định hiện hành thì công chức các cơ quan chuyên môn thuộc UBND huyện phải có trình độ tối thiểu là Chứng chỉ Tin học A và Chứng chỉ Ngoại ngữ B đây là yêu cầu bắt buộc.

1.2.2.3 Tiêu chí về kỹ năng nghề nghiệp

Kỹ năng là khả năng vận dụng những kiến thức thu nhận được trong một lĩnh vực nào đó vào thực tế Kỹ năng nghề nghiệp bao giờ cũng gắn với một hoạt động cụ thể ở một lĩnh vực cụ thể như: kỹ năng ra quyết định, kỹ năng phối hợp,

kỹ năng viết báo cáo, kỹ năng soạn thảo văn bản Đây là sản phẩm của quá trình

tư duy kết hợp với việc tích lũy kinh nghiệm thông qua đào tạo, bồi dưỡng, rèn luyện, công tác Vì thế khi cho rằng quản lý là một hoạt động vừa mang tính khoa học vừa mang tính nghệ thuật thì kỹ năng chính là nghệ thuật của hoạt động quản

lý cũng như tác nghiệp chuyên môn của công chức.

Kỹ năng nghề nghiệp là tiêu chí quan trọng để đánh giá năng lực công chức khithực thi công vụ Công chức cần có những kỹ năng nhất định để thực thi công vụ Tuynhiên, có những kỹ năng cần thiết cho mọi công chức và có những kỹ năng không cầnthiết cho mọi công chức và có những kỹ năng không thể thiếu đối với một nhóm côngchức nhất định phụ thuộc vào tính chất công việc mà họ đảm nhận Đối với công chứccác cơ quan chuyên môn thuộc UBND huyện, những kỹ năng cơ bản cần có để người

công chức thực hiện tốt nhiệm vụ của mình đó là: Kỹ năng soạn thảo văn bản, đây là một kỹ năng rất cần thiết, đòi hỏi một số yêu cầu tối thiểu sau: Văn bản soạn thảo phải

có mục đích, tính khoa học, tính đại chúng, tính khả thi công chức các cơ quan chuyênmôn thuộc UBND huyện khi soạn thảo văn bản cũng cần hiểu về thể thức của một sốloại văn bản hành chính thông thường như công văn, tờ trình, thông báo, báo cáo, kếhoạch, lập danh sách và nắm được quy trình chung về soạn

Trang 38

thảo văn bản gồm các giai đoạn: Giai đoạn chuẩn bị: lập chương trình xây dựng vănbản, thu thập tài liệu, phân tích đánh giá thông tin Giai đoạn viết bản dự thảo văn bản.

Giai đoạn duyệt ký và ban hành văn bản Giai đoạn gửi và lưu trữ văn bản Kỹ năng

phối hợp trong công tác, công chức các cơ quan chuyên môn thuộc UBND huyện

không làm việc độc lập riêng biệt mà có sự phối hợp thường xuyên với các bộ phậnkhác để triển khai kế hoạch chung giúp Ủy ban nhân dân cấp huyện điều hành công việc

quản lý xã hội Sự phối hợp là rất cần thiết Kỹ năng lập kế hoạch công tác cá nhân, kế hoạch là một tập hợp những hoạt động được sắp xếp theo lịch trình, có thời hạn, nguồn

lực, ấn định những mục tiêu cụ thể và xác định biện pháp tốt nhất để thực hiện một mụctiêu cuối cùng đã đề ra Khi công chức các cơ quan chuyên môn thuộc UBND huyện lập

kế hoạch thì tư duy quản lý của họ phải có hệ thống, có thể tiên liệu được những tìnhhuống có thể xảy ra và cũng có thể dự tính những biện pháp xử lý tình huống kịp thời,

hiệu quả hơn Kỹ năng giao tiếp v i nhân dân: là kỹ năng nhận biết, phán đoán và sử

dụng phương tiện giao tiếp một cách thành thạo, phù hợp trong các tình huống quan hệgiao tiếp hành chính - công vụ cụ thể nhằm đạt được hiệu lực và hiệu quả quản lý hànhchính nhà nước Trong quá trình thực thi công vụ, công chức các cơ quan chuyên mônthuộc UBND huyện phải thực hiện giao tiếp với người dân, qua giao tiếp mà các mốiquan hệ xã hội, cũng như năng lực, phong cách công tác của công chức mới được hoànthiện Kỹ năng giao tiếp với người dân thể hiện qua việc cư xử nhã nhặn, lịch sự, tế nhị,khiêm tốn với nhân dân, tôn trọng nhân dân, hiểu rõ tâm tư, nguyện vọng của ngườidân, thông cảm với hoàn cảnh của người dân, biết lắng nghe dân, nói dân nghe, biết tôntrọng và phát huy tốt ý kiến, sáng kiến của nhân dân Nếu không có kỹ năng giao tiếptốt với người dân thì công chức khó có thể hoàn thành nhiệm vụ của mình và sẽ ảnh

hưởng đến việc thực hiện nhiệm vụ chính trị chung của địa phương Kỹ năng tiếp nhận

và xử lý thông tin trong công tác: là kỹ năng tiếp nhận thông tin, từ đó tiến hành sắp

xếp, phân tích dữ liệu, thông tin có được một cách chính xác, khoa học, khách quannhằm cung cấp cho công chức để xem xét,

Trang 39

tham mưu cho lãnh đạo ra các quyết định quản lý một cách chính xác Đây là một trong những kỹ năng giúp cho công chức hoàn thành nhiệm vụ của mình Bởi vì,

để thực hiện nhiệm vụ của mình công chức không thể không có thông tin, cụ thể như: Thông tin chỉ đạo từ cấp trên xuống, thông tin trao đổi với đồng nghiệp và thông tin yêu cầu giải quyết công việc từ người dân Vì vậy, đòi hỏi mỗi công chức các cơ quan chuyên môn thuộc UBND huyện phải có kỹ năng trong tiếp

nhận và xử lý thông tin để thực hiện có hiệu quả công việc của mình Kỹ năng phân tích và giải quyết công việc, phân tích là cách chia nhỏ nội dung công việc, hoặc nhóm các công việc tương đồng với nhau để dễ giải quyết Việc phân tích

chính xác một công việc sẽ tạo thuận lợi cho công chức khi thực thi công vụ Nói tóm lại, tất cả các kỹ năng nêu trên đều chịu ảnh hưởng quan trọng của trình độ chuyên môn, khả năng cá nhân và kinh nghiệm công tác của công chức trong quá trình thực thi công vụ Ngoài những kỹ năng trên, tùy theo vị trí công tác đòi hỏi công chức phải rèn luyện một số kỹ năng khác trong thời kỳ đổi mới như: kỹ năng phối hợp, kỹ năng xử lý tình huống, kỹ năng tham mưu cho lãnh đạo,

1.2.2.4 Tiêu chí về thái độ trong thực thi công vụ

Đây là nhóm tiêu chí đánh giá chất lượng của công chức các cơ quan chuyênmôn thuộc UBND huyện trên cơ sở đáp ứng sự thay đổi công việc Khi phân tích,đánhgiá chất lượng công chức phải dựa trên cơ sở trạng thái tĩnh của công chức cũng nhưcủa công việc và tổ chức Nhiệm vụ, nội dung và yêu cầu của công việc luôn thay đổi

do các nhân tố khách quan như: áp dụng tiến bộ khoa học trong quản lý, do yêu cầu củatiến trình hội nhập kinh tế quốc tế, do yêu cầu của thời kỳ CNH, HĐH đất nước Nếunhư công chức không nhận thức được sự thay đổi công việc của mình trong thực tiễn vàtương lai, thì sẽ không có sự chuẩn bị và đầu tư cập nhật kiến thức, nâng cao kỹ năng,thay đổi thái độ và hành vi của mình trong công việc và như vậy sẽ không thể đảm nhận

và hoàn thành công việc được giao Có hai nội dung quan trọng được xem xét khi đánhgiá chất lượng công chức trong tiêu chí này là: nhận thức về

Trang 40

sự thay đổi công việc trong thực tế, tương lai và những hành vi sẵn sàng đáp ứng

sự thay đổi Khi nhận thức được sự thay đổi của công việc, người công chức tự chuẩn bị cho mình những kiến thức cần thiết, đi trước, đón đầu sự thay đổi của công việc để thích nghi, nhưng cũng có những công chức chấp nhận bị đào thải trong tương lai do không chuẩn bị kịp với yêu cầu của sự thay đổi công việc.

1.2.2.5 Tiêu chí về kinh nghiệm công tác

Kinh nghiệm là những vốn kiến thức thực tế mà công chức tích luỹ đượctrong thực tiễn công tác Kinh nghiệm là kết quả được hình thành trong hoạt độngthực tiễn Chính kinh nghiệm đã góp phần vào việc hình thành năng lực thực tiễncủa công chức công chức các cơ quan chuyên môn thuộc UBND huyện và làm tănghiệu quảcông vụ mà công chức đó đảm nhận Kinh nghiệm phụ thuộc vào thời giancông tác của công chức nói chung và thời gian công tác ở một công việc cụ thể nào

đó nói riêng của công chức Tuy nhiên, giữa kinh nghiệm công tác và thâm niêncông tác không phải hoàn toàn tuân theo quan hệ tỷ lệ thuận Thời gian công tác chỉ

là điều kiện cần cho tích luỹ kinh nghiệm nhưng chưa phải là điều kiện đủ Điềukiện đủ để hình thành kinh nghiệm công tác của công chức phụ thuộc vào chính khảnăng, nhận thức, phân tích, tích luỹ và tổng hợp của từng công chức

1.2.2.6 Tiêu chí về mức độ hoàn thành nhiệm vụ

Là tiêu chí cơ bản để đánh giá đúng đắn nhất những gì mà mỗi công chức các cơquan chuyên môn thuộc UBND huyện đã làm được trong thời gian nhất định Khả nănghoàn thành nhiệm vụ được phản ánh thông qua mức độ thực hiện nhiệm vụ được giaotrong năm: thể hiện ở khối lượng công việc được giao, chất lượng công việc được hoànthành, tiến độ triển khai thực hiện, và hiệu quả của công việc đó trong từng vị trí, từnggiai đoạn, bao gồm cả những nhiệm vụ thường xuyên và những nhiệm vụ đột xuất Dựatrên kết quả đánh giá về khả năng hoàn thành nhiệm vụ của công chức các cơ quanchuyên môn thuộc UBND huyện có thể đánh giá được chất lượng hoạt động của độingũ đó trong thực tiễn công tác Một công chức các cơ quan

Ngày đăng: 27/11/2019, 21:58

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w