1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Thực hiện chính sách tuyên truyền phổ biến pháp luật trên địa bàn huyện Sơn Tây, tỉnh Quảng Ngãi

74 81 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 74
Dung lượng 516,56 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tính cấp thiết của đềtài Tuyên truyền, phổ biến pháp luật TTPBPL là hoạt động truyền tải các kiến thức pháp luật tới toàn thể nhân dân; đây là hoạt động thuộc kiến trúc thượng tầng, có

Trang 1

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM

HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

PHẠM VĂN THỊNH

THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH TUYÊN TRUYỀN PHỔ BIẾN PHÁP LUẬT TRÊN ÐỊA BÀN HUYỆN SƠN TÂY, TỈNH QUẢNG NGÃI

LUẬN VĂN THẠC SĨ CHÍNH SÁCH CÔNG

HÀ NỘI, năm 2019

Trang 2

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM

HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu khoa học độc lập của riêng tôi Các số liệu sử dụng phân tích trong luận văn có nguồn gốc rõ ràng,

đã công bố theo đúng quy định Các kết quả nghiên cứu trong luận văn do tôi

tự tìm hiểu, phân tích một cách trung thực, khách quan và phù hợp với thực tiễn Các kết quả này chưa từng được công bố trong bất kỳ nghiên cứu nào khác

Tác giả luận văn

Phạm Văn Thịnh

Trang 4

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1 CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH TUYÊN TRUYỀN, PHỔ BIẾN PHÁP LUẬT 8

1.1 Khái niệm, vai trò của thực hiện chính sách tuyên truyền, phổ biến pháp luật 8 1.2 Nội dung thực hiện chính sách tuyên truyền, phổ biến pháp luật 16 1.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến việc tổ chức thực hiện chính sách tuyên truyền, phổ biến pháp luật 22

CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH TUYÊN TRUYỀN, PHỔ BIẾN PHÁP LUẬT TẠI HUYỆN SƠN TÂY, TỈNH QUẢNG NGÃI 25

2.1 Khái quát về huyện Sơn Tây, tỉnh Quảng Ngãi 25 2.2 Thực trạng thực hiện chính sách tuyên truyền, phổ biến pháp luật tại huyện Sơn Tây, tỉnh Quảng Ngãi 30 2.3 Đánh giá chung về thực hiện chính sách tuyên truyền, phổ biến pháp luật tại huyện Sơn Tây, tỉnh Quảng Ngãi 41

CHƯƠNG 3: QUAN ĐIỂM, GIẢI PHÁP TĂNG CƯỜNG THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH TUYÊN TRUYỀN, PHỔ BIẾN PHÁP LUẬT TẠI HUYỆN SƠN TÂY,TỈNH QUẢNG NGÃI 45

3.1 Quan điểm và mục tiêu thực hiện chính sách tuyên truyền, phổ biến pháp luật 45 3.2 Giải pháp nâng cao hiệu quả thực hiện chính sách tuyên truyền, phổ biến pháp luật 49

KẾT LUẬN 65 TÀI LIỆU THAM KHẢO

Trang 5

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

TTPBPL Tuyên truyền, phổ biến pháp luật CNH-HĐH Công nghiệp hóa, hiện đại hóa PBGDPL Phổ biến giáo dục pháp luật

CSC Chính sách công KT-XH Kinh tế - xã hội

HĐND Hội đồng nhân dân

UBND Ủy ban nhân dân

Trang 6

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đềtài

Tuyên truyền, phổ biến pháp luật (TTPBPL) là hoạt động truyền tải các kiến thức pháp luật tới toàn thể nhân dân; đây là hoạt động thuộc kiến trúc thượng tầng, có vị trí quan trọng trong quá trình xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật.Công tác TTPBPL là quá trình đưa pháp luật đến với nhân dân, đi vào ý thức, hành động của toàn xã hội.Hay nói một cách khác, TTPBPL là cầu nối để chuyển tải pháp luật vào cuộc sống.Quá trình tuân thủ

và thực thi pháp luật của nhân dân, của tổ chức, các chủ thể khác trong xã hội đều được thực hiện từ khâu thấu hiểu mới đến thực thi và tuân thủ

Nhận thức được điều đó, trong thời gian qua, Đảng và Nhà nước ta đã xác định rõ công tác TTPBPL là một bộ phận của công tác giáo dục chính trị tư tưởng, là nhiệm vụ của cả hệ thống chính trị, phải được tiến hành thường xuyên, liên tục với nhiều hình thức phong phú, đa dạng và sáng tạo nhằm nâng cao ý thức chấp hành pháp luật của cán bộ và nhân dân, góp phần thúc đẩy kinh

tế phát triển, giữ vững ổn định chính trị và trật tự xã hội Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ VII của Đảng Cộng sản Việt Nam đã nêu: “Tăng cường giáo dục pháp luật, nâng cao hiểu biết và ý thức tôn trọng pháp luật, sống và làm việc theo Hiến pháp và pháp luật, bảo đảm cho pháp luật được thi hành một cách nghiêm minh, thống nhất và công bằng”

Tại ĐH ĐB lần thứ 9 của ĐCSVN khẳng định: Phát huy dân chủ, công bằng XH đi đôi với giữ vững kỷ luật, kỷ cương, tăng cường PC, quản lý XH bằng PL, đẩy mạnh và nâng cao hiệu quả công tác TTPBPL, để nâng cao ý thức chấp hành của nhân dân, toàn XH

Trong bối cảnh hội nhập khu vực, quốc tế ngày càng sâu tộng; yêu cầu của quá trình CNH - HĐH đất nước; muốn hòa nhập vào sân chơi chung quốc

Trang 7

tế thì công tác thực thi pháp luật, hiểu biết pháp luật, tôn trọng pháp luật phải cấp thiết hơn bao giờ hết Thực tế, qua hơn 30 năm đổi mới đất nước, Nhà nước ta đã ban hành nhiều văn bản pháp luật liên quan đến công tác TTPBPL, góp phần cụ thể hóa chủ trương của Đảng cũng như xác định đúng

vị trí của công tác TTPBPL trong tăng cường pháp chế XHCN, xây dựng nhà nước pháp quyền Đồng thời, để tiếp tục đưa công tác TTPBPL lên một tầm cao mới, đáp ứng yêu cầu công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, xây dựng Nhà nước pháp quyền Việt Nam xã hội chủ nghĩa, ngày 09 tháng 12 năm

2003, Ban Bí thư Trung ương Đảng cộng sản Việt Nam đã ban hành Chỉ thị

số 32-CT/TW về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng trong công tác PBGDPL, nhằm khẳng định vai trò của các cấp ủy đảng trong việc định hướng, chỉ đạo thực hiện các giải pháp thiết thực, hiệu quả trong việc nâng cao ý thức tuân thủ pháp luật của nhân dân Chỉ thị đã thể hiện sự đổi mới về nhận thức của Đảng ta đối với công tác PBGDPL; về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng trong công tác TTPBPL, nâng cao ý thức chấp hành pháp luật của cán bộ và nhân dân …

Thực hiện chủ trương trên của Đảng, pháp luật của nhà nước, công tác TTPBPL ngày càng được chính quyền các cấp quan tâm, chú trọng Trách nhiệm triển khai thực hiện công tác TTPBPL nói chung, thực hiện chính sách TTPBPL nói riêng được ghi nhận tại Điều 27, Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật quy định: “Trách nhiệm của chính quyền các cấp ở địa phương: Hội đồng nhân dân các cấp có trách nhiệm: Quyết định các biện pháp nhằm nâng cao hiệu quả công tác phổ biến, giáo dục pháp luật; phân bổ dự toán ngân sách địa phương cho công tác phổ biến, giáo dục pháp luật; Giám sát việc thực hiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật UBND các cấp có trách nhiệm: Ban hành theo thẩm quyền chương trình, kế hoạch, đề án về phổ biến, giáo dục pháp luật; Chỉ đạo, hướng dẫn, tổ chức triển khai và kiểm tra công tác

Trang 8

PBGDPL; Xây dựng, tập huấn, bồi dưỡng, quản lý đội ngũ Báo cáo viên pháp luật, tuyên truyền viên pháp luật; thực hiện chuẩn hóa đội ngũ giáo viên dạy môn giáo dục công dân, giáo viên dạy môn pháp luật theo quy định của pháp luật; tạo điều kiện để các tổ chức, cá nhân, doanh nghiệp hỗ trợ cho hoạt động tuyên truyền, phổ biến pháp luật

Đối với huyện Sơn Tây - một đơn vị hành chính cấp huyện của tỉnh Quảng Ngãi, trong những năm qua, công tác PBGDPL nhìn chung đã được cấp ủy Đảng, chính quyền địa phương quan tâm; đã có những hoạt động phong phú, nội dung, hình thức cũng như phương pháp từng bước được đổi mới; thu được một số kết quả bước đầu đáng ghi nhận Hoạt động PBGDPL

đã góp phần từng bước nâng cao ý thức pháp luật, hình thành dần thói quen

“Sống và làm việc theo Hiến pháp và pháp luật” trong cán bộ và nhân dân trên địa bàn huyện, đưa pháp luật vào các hoạt động quản lý nhà nước và đời sống xã hội Bên cạnh sự chỉ đạo của UBND các cấp, thì các phòng, ban chuyên môn, các tổ chức chính trị - xã hội căn cứ vào nhiệm vụ chính trị được giao chủ động triển khai, phổi hợp thực hiện các hoạt động cụ thể nhằm lồng ghép việc thực hiện nhiệm vụ chính trị của đơn vị mình với nhiệm vụ TTPBPL tại cơ sở hoặc theo nhóm đối tượng phục vụ của đơn vị, địa phương mình Trong giai đoạn vừa qua, công tác TTPBPL tại huyện Sơn Tây đã được Huyện ủy, UBND huyện quan tâm triển khai với nhiều hoạt động thiết thực, hình thức tuyên truyền phong phú; các nội dung truyền tải mang tính thời sự, từng bước đáp ứng nhu cầu tìm hiểu, góp phần nâng cao hiệu quả thực thi pháp luật trên địa bàn huyện; công tác TTPBPL đi vào nền nếp, mang tính thường xuyên; đã tạo được các đợt truyền thông mang tính cao điểm, tạo điểm nhấn trong công tác TTPBPL

Mặc dù vậy, công tác TTPBPL trên địa bàn huyện vẫn còn bộc lộ không ít khó khăn, hạn chế ở nhiều mặt: Về nhận thức; về kinh phí, cơ sở vật

Trang 9

chất; về nhân lực; về nội dung; về phương pháp; về hình thức… đang đặt cấp

ủy Đảng, chính quyền địa phương cũng như đội ngũ làm công tác TTPBPL của huyện trước những băn khoăn, trăn trở Thực trạng công tác TTPBPL trên địa bàn huyện như thế nào? Những mặt đạt được? Những mặt hạn chế?

Giải pháp cụ thể gì cho công tác TTPBPL tại huyện Sơn Tây? Chất lượng và hiệu quả thực hiện công tác TTPBPL của huyện Sơn Tây chỉ được cải thiện, được nâng cao khi tất cả những vấn đề trên được nhìn nhận và giải quyết một cách có hệ thống, khoa học trên cơ sở thực tiễn

Xuất phát từ tầm quan trọng của công tác TTPBPL pháp luật trong bối cảnh xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, trong công cuộc xóa đói giảm nghèo (trong đó tiêu chí tiếp cận pháp luật là quy định cần có trong xây dựng nông thôn mới); đồng thời xuất phát từ thực tiễn địa phương và lĩnh

vực tôi đang công tác; tôi lựa chọn đề tài “Thực hiện chính sách tuyên

truyền phổ biến pháp luật trên địa bàn huyện Sơn Tây, tỉnh Quảng Ngãi”

là đề tài nghiên cứu tốt nghiệp chương trình đào tạo thạc sĩchuyên ngành chính sách công

2.Tình hình nghiên cứu đềtài

Tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật là một vấn đề được nhiều học giả, nhà nghiên cứu quan tâm, có thể kể đến như:

- Bài viết Bàn về giáo dục pháp luật, của TS Ngọc Đường, TS Thanh Mai Trong tác phẩm này, các tác giả đã đưa ra những khái niệm mang tính lý luận về TTPBPL, cụ thể như: Mục đích; Đối tượng; chủ thể; khách thể; phương pháp trong thực hiện hoạt động TTPBPL

- Nghiên cứu Giáo dục pháp luật góp phần nâng cao ý thức và nghĩa vụ tuân thủ pháp luật, tạp chí Lý luận chính trị, số 10/2006) của tác giả Tống Đức Thảo đã nghiên cứu vai trò tác động của giáo dục pháp luật đối với việc hình thành và nâng cao ý thức pháp luật cho các tầng lớp dân cư, đồng thời

Trang 10

nêu những đặc điểm cơ bản của ý thức pháp luật

- Luận văn thạc sĩ của Hồ Quốc Dũng đã nghiên cứu “Một số vấn đề về giáo dục pháp luật trong giai đoạn hiện nay (1997)” Tác giả đã tiếp cận, tìm hiểu công tác giáo dục pháp luật, từ đó thấy được những khó khăn, thách thức trong việc tuyên truyền, phổ biến pháp luật, song nghiên cứu, phân tích đề xuất một số giải pháp giáo dục pháp luật, nhằm nâng cao nhận thức của nhân dân trong việc thi hành pháp luật trong giai đoạn hiện nay

- Tác giả Nguyễn Thị Thu Ba (2012), “Nâng cao chất lượng TTGDPL cho công nhân tại các doanh nghiệp ở Thành phố Đồng Tháp giai đoạn hiện nay”, Luận văn thạc sĩ Luật học

- Nguyễn Thị Thu Huyền (2016), ”Phổ biến, giáo dục pháp luật cho đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã ở huyện Đông Anh, thành phố Hà Nội”, Luận văn thạc sỹ Luật học

Các nghiên cứu trên đã đưa ra ý nghĩa và tầm quan trọng của công tác tuyên truyền, phổ biến pháp luật; đưa ra một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng công tác tuyên truyền phổ biến pháp luật Tuy nhiên, các nghiên cứu đã chưa sâu vào việc thực thi các chính sách tuyên truyền, phổ biến pháp luật; chưa phân tích rõ quá trình thực thi chính sách TTPBPL, chưa đưa ra các yêu cầu trong quá trình nâng cao chất lượng thực hiện chính sách tuyên truyền, phổ biến pháp luật; chưa đưa ra các giải pháp nâng cao chất lượng thực hiện chính sách tuyên truyền, phổ biến pháp luật tại một địa bàn khó khăn, tỷ lệ người dân tộc thiểu số cao như huyện Sơn Tây, tỉnh Quảng Ngãi Xuất phát từ

lý luận và thực tiễn cũng như phù hợp với yêu cầu thực tiễn công tác, tôi lựa chọn đề tài trên là thực sự cần thiết về cả mặt lý luận và thực tiễn

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiêncứu

3.1 Mục đích nghiêncứu

Đề xuất một số giải pháp nâng cao hiệu quả thực hiện chính sách phổ

Trang 11

biến, giáo dục pháp luật tại huyện Sơn Tây trong thời gian tới

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

- Nghiên cứu các vấn đề lý luận cơ bản về tuyên truyền pháp luật, chính sách TTPBPL; ý nghĩa và vai trò của việc thực hiện chính sách TTPBPL, các nhân tố ảnh hưởng tới hiệu quả thực hiện chính sách TTPBPL

- Phân tích thực trạng thực hiện chính sách phổ biến, giáo dục pháp luật tại huyện Sơn Tây, tỉnh Quảng Ngãi trong những năm gần đây qua đó rút

ra những hạn chế cần khắc phục và tìm ra những nguyên nhân hạn chế đó

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

4.1 Đối tượng nghiêncứu

Luận văn tập trung nghiên cứu việc thực hiện chính sách phổ biến, giáo dục pháp luật tại huyện Sơn Tây, tỉnh Quảng Ngãi

5.2 Phương pháp nghiêncứu

Các phương pháp cụ thể được sử dụng:

- Phương pháp phân tích các kết quả thực hiện và tổng hợp những ý kiến đánh giá để phân tích, tổng hợp những vấn đề về phương thức phát huy quyền lực, nội dung đường lối chính sách và quá trình hiện thực hóa những đường lối phổ biến, giáo dục pháp luật tại huyện Sơn Tây, tỉnh Quảng Ngãi

Trang 12

trong quá trình xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa

- Phương pháp thống kê để tập hợp các số liệu: thống kê tổng hợp số xã

lý luận và thực tiễn thực hiện Đồng thời mạnh dạn đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả thực hiện chính sách TTPBPL trongt hời gian tới

6.2 Ý nghĩa thực tiễn

Trên cơ sở nghiên cứu thực tiễn thực hiện chính sách TTPBPL tại huyện Sơn Tây; tác giả đánh giá và đề xuất các giải pháp thiết thực, hữu hiệu phù hợp với thực tiễn địa phương trong việc nâng cao hiệu quả thực hiện chính sách tuyên truyền, phổ biến pháp luật trên địa bàn huyện Sơn Tây nói riêng

7 Cơ cấu của luậnvăn

Nội dung chính của luận văn được cơ cấu theo ba chương cụ thể

Chương 1 Những vấn đề lý luận về thực hiện chính sách tuyên truyền, phổ biến pháp luật

Chương 2 Thực trạng thực hiện chính sách tuyên truyền, phổ biến pháp luật trên địa bàn huyện Sơn Tây, tỉnh Quảng Ngãi

Chương 3 Quan điểm, giải pháp hoàn thiện, nâng cao hiệu quả tổ chức thực hiện chính sách tuyên truyền, phổ biến pháp luật trên địa bàn huyện Sơn

Tây

Trang 13

CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH

TUYÊN TRUYỀN, PHỔ BIẾN PHÁP LUẬT

1.1 Khái niệm, vai trò của thực hiện chính sách tuyên truyền, phổ biến pháp luật

1.1.1 Khái niệm thực hiện chính sách tuyên truyền, phổ biến pháp luật

1.1.1.1 Khái niệm tuyên truyền, phổ biến pháp luật

Theo Đại từ điển Tiếng Việt thì: "Tuyên truyền" khái niệm để rộng, có

ý nghĩa miêu tả hoạt động truyền bá những tri thức, giá trị tinh thần, tư tưởng

đó thành nhận thức, niềm tin, tình cảm, cổ vũ đối tượng hành động theo những định hướng do chủ thể tuyên truyền đặt ra [4,tr16]

Tuyên truyền là phổ biến chính là quá trình cung cấp, cập nhật thông tin, những yêu cầu, nội dung và các quy định pháp luật mới, hoặc được sửa đổi bổ sung để giúp nhân dân nắm bắt, hiểu, tuân thủ chấp hành những quy định mới, hoặc sửa đổi bổ sung đó Đó chính là phương tiện hỗ trợ tích cực để nâng cao hiểu biết pháp luật cho nhân dân, là cầu nối để chuyển tải pháp luật vào cuộc sống Bởi lẽ, khi pháp luật có hiệu lực thì cần phải có đội ngũ truyền tải, phương tiện truyền tải, và các nội dung đó phải được cụ thể hóa, tồn tại dưới các hình thức văn bản cụ thể: bản giấy, bản điện tử để nhân dân đọc, hiểu, tiếp thu, tuân thủ …Như vậy, pháp luật mới đi vào cuộc sống

Theo Đại từ điển Tiếng Việt thì "Phổ biến là hoạt động truyền đạt trực tiếp hoặc một hình thức cụ thể nào đó làm cho nhiều người biết đến một vấn

đề cụ thể nào đó" [4, tr3]

Hoạt động TTPBGDPL là việc các chủ thể (Cấp ủy chính quyền địa phương; các cơ quan chuyên môn; các tổ chức chính trị - xã hội ) có trách

Trang 14

nhiệm dùng các phương tiện, hình thức khác nhau truyền đạt tới đối tượng quản lý nhằm cung cấp thường xuyên, bài bản, hệ thống để giúp cho đối tượng có những nhận thức đầy đủ hơn, trên cơ sở đó thực hiện các hành vi, các ứng xử chuẩn mực hơn

Sử dụng những hình thức khác nhau, có thể trực tiếp hoặc gián tiếp tác động một cách có hệ thống, bài bản và thường xuyên đến ý thức của con người nhằm trang bị những kiến thức pháp lý nhất định để từ đó họ có những nhận thức đúng đắn về pháp luật, tôn trọng pháp luật và tự giác xử sự theo yêu cầu của pháp luật

Theo nội dung phổ biến, giáo dục pháp luật của Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 (Điều 10) thì phổ biến, giáo dục pháp luật là hoạt động truyền đạt thông tin, nội dung pháp luật, bao gồm: (i) Quy định của Hiến pháp

và văn bản quy phạm pháp luật về dân sự, hình sự, hành chính, hôn nhân và gia đình, bình đẳng giới, đất đai, xây dựng, bảo vệ môi trường, lao động, giáo dục, y tế, quốc phòng, an ninh, giao thông, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân, quyền hạn và trách nhiệm của cơ quan nhà nước, cán bộ, công chức, các văn bản quy phạm pháp luật mới được ban hành; (ii) Các điều ước quốc tế mà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên, các thỏa thuận quốc tế; (iii)Ý thức tôn trọng và chấp hành pháp luật; ý thức bảo vệ pháp luật; lợi ích của việc chấp hành pháp luật; gương người tốt, việc tốt trong thực hiện pháp luật Các chủ thể thực hiện các hoạt động TTPBPL là các cơ quan trong hệ thống cơ quan nhà nước, hệ thống cơ quan hành chính nhà nước; hệ thống tổ chức chính trị xã hội từ trung ương đến địa phương

[21]

Từ cách giải thích của từ điển về hai khái niệm “tuyên tryền” và “phổ biến”, “giáo dục” kết hợp với các nội dung phổ biến, giáo dục pháp luật mà Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật đưa ra, có thể khái quát lại khái niệm Tuyên

Trang 15

truyền, phổ biến pháp luật như sau:

- Theo nghĩa hẹp: Tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật là giới thiệu tinh thần văn bản pháp luật cho người có nhu cầu; theo đó phổ biến, giáo dục pháp luật là việc truyền bá pháp luật cho đối tượng nhằm nâng cao tri thức, tình cảm, niềm tin pháp luật cho đối tượng từ đó nâng cao ý thức tôn

trọng pháp luật, nghiêm chỉnh chấp hành pháp luật của đối tượng

- Theo nghĩa rộng: TTPBGDPL là một khâu của hoạt động tổ chức thực hiện pháp luật bởi lẽ nó nâng cao các tri thức pháp luật của cá nhân, tổ chức; từng bước định hướng nhận thức, điều chỉnh hành vi ứng xử cho phù hợp với chuẩn mức đạo đức, chuẩn mực pháp luật chung mà nhà nước, cộng đồng dân

cư hướng tới, bảo vệ.”

1.1.1.2 Khái niệm chính sách

Hiện nay, có nhiều khái niệm về chính sách

Theo Từ điển tiếng Việt thì “chính sách” là “sách lược và KH được chủ

thể có thẩm quyền đưa ra, thực hiện nhằm đtạ mục tiêu nhất định theo định hướng của chủ thể đó”[27]

Qua các khái niệm trên, có thể thấy, chính sách có những đặc điểm cụ thể:

+ Chủ thể ban hành chính sách là chủ thể được xác định (Xác định dựa trên Quyền lực hoặc Chủ thể có thẩm quyền Quản lý)

+ Nội dung của chính sách phải dựa trên quan điểm thống nhất, chung nhất của Đảng cầm quyền; định hướng phát triển; tình hình thực tiễn của địa phương, tổ chức

+ Mục đích của chính sách: Chính sách phải có mục đích rõ ràng, cụ thể (có thể định lượng hoặc định tính bởi những thước đo cụ thể) Do vậy, khi xây dựng kế hoặc thực hiện chính sách; các chủ thể phải căn cứ và lượng tính được thước đo và kết quả đo

Trang 16

Qua các định nghĩa trên, khái niệm “chính sách tuyên truyền, phổ biến pháp luật” được hiểu trong luận văn “Chính sách tuyên truyền, phổ biến pháp luật là tập hợp các quyết định có liên quan để lực chọn mục tiêu và giải pháp, công cụ chính sách nhằm giải quyết các vấn đề chính sách tuyên truyền, phổ

biến pháp luật theo mục tiêu tổng thể đã xác định”

1.1.1.3 Khái niệm thực hiện chính sách tuyên truyền, phổ biến pháp luật

Thực hiện chính sách TTPBPL là quá trình đưa chính sách TTPBPL vào thực tiễn đời sống thông qua việc ban hành các đề án, chương trình, kế hoạch, dự án thực hiện chính sách TTPBPL và tổ chức thực hiện các hoạt động cụ thể nhằm đạt được mục tiêu mà các kế hoạch, đề án, chương trình, dự

án đề ra

Các Chương trình, đề án TTPBPL phải được đảm bảo bởi nguồn lực nhất định; phải có sự phân công rõ rằng trong tổ chức và phối hợp thực hiện

* Yếu tố ảnh hưởng tới thực hiện chính sách

Có thể chia làm 2 nhóm yếu tố cụ thể như sau:

+ Yếu tố khách quan: là các yếu tố bên ngoài, yếu tố mang tính tự nhiên

về điều kiện tự nhiên, đất đai, vị trí địa lý Những yếu tố này tác động đến

tổ chức thực thi chính sách từ bên ngoài, độc lập với ý muốn của chủ thể quản

lý, các yếu tố này vận động theo quy luật khách quan nên ít tạo sự biến đổi do

đó cũng khó gây sự chú ý của các nhà quản lý nhưng lại tác động lớn đến quá trình thực thi chính sách, đó là các yếu tố: Tính chất của vấn đề chính sách là yếu tố gắn liền với mỗi chính sách nó có tác động trực tiếp đến hoạch định và thực hiện chính sách có nghĩa là nếu vấn đề chính sách đơn giản liên quan đến ít đối tượng thì thực thi sẽ dễ dàng và đơn giản hơn

Môi trường thực thi chính sách tốt để chính sách đạt hiệu quả cáo nhất

đó là một môi trường ổn định ít biến đổi về chính trị sẽ đưa tới sự ổn định về

Trang 17

hệ thống chính sách và thực thi thuận lợi Nếu các bộ phận của môi trườngổn định thì nó sẽ tạo cho các hoạt động thực thi dễ dàng; còn ngược lại nếu Môi trường thực thi chính sách có nhiều bất lợi , như: rào cản của phong tục tập quán lạc hậu; điều kiện tự nhiên dẫn đến việc thực thi chính sách kém hiệu quả, thậm chí không đạt mục tiêu

Tiềm lực của các nhóm đối tượng chính sách: Mỗi đối tượng chính sách

có tiềm năng khác nhau, có thế mạnh, lợi thế, thuận lợi và khó khăn khác nhau trong quá trình thực hiện TTPBPL Có thể nhìn nhận tiềm lực này qua các phương diện chính trị, kinh tế, xã hội Đặc tính của đối tượng chính sách như tính tự giác, kỷ luật, sáng tạo cũng góp nhiều vào việc hiệu quả hay không trong quá trình thực thi chính sách

+ Yếu tố chủ quan: là các yếu tố thuộc về chủ thể thực thi chính sách,

cụ thể hơn, đó chính là hệ thống cơ quan thực hiện nhiệm vụ TTPBPL các cấp; đội ngũ cán bộ công chưc, viên chức trong các các cơ quan thực thi nhiệm vụ TTPBP:L các chủ thể này là các chủ thể thực thi chính sách nên

nó có ảnh hưởng lớn đến việc hiệu quả thực thi Thực thi đúng đầy đủ các bước trong quy trình tổ chức thực thi chính sách, các bước này được coi là nguyên lý khoa học được đúc kết từ thực tiễn cuộc sống, việc tuân thủ quy trình là một nguyên tắc quản lý

Bên cạnh đó phải nói đến vai trò của đội ngũ CBCC, mà cụ thể là đội ngũ thực thi chính sách hay nói cách khác là năng lực thực thi chính sách của CBCC trong hệ thống cơ quan nhà nước từ trung ướng đến địa phương Chủ thể giữ vai trò quyết định tới sự thành bại của chính sách, bỏi lẽ: người CBCC tận tâm, có đạo đức công vụ, tâm huyết với nghề nghiệp thì sẽ vượt khó để thực thi còn ngược lại nếu CBCC có năng lực yếu kém, làm việc thiếu khoa học, trách nhiệm; sự thờ ơ của cấp ủy chính quyền; của bàng quang của cán

bộ công chức thực thi chính sách thì việc thực hi chính sách sẽ gặp nhiều

Trang 18

khó khăn, việc triển khai chính sách sẽ không đem lại hiệu quả như móng muốn

Cùng với yếu tố CBCC thì phải đề cập đến yếu tố tài chính: nguồn vật lực quan trọng để thực thi chính sách Nguồn tài chính sẽ đảm bảo các hoạt động được triển khai trên thực tiễn; bởi lẽ: Phải trang bị các tài liệu, tư liệu; phải có phương tiện thực hiện, phải có nguồn lực để chi trả nhân công Do vậy, các điều kiện về tài chính là điều kiện thiết yếu để đảm bảo các hoạt động có thể thực hiện được trên thực tế Thực tiễn đã chứng minh, nếu không

có nguồn tài chính thì các hoạt động chỉ nằm trên giấy tờ, không có giá trị thực tế, không có điều kiện hiện thực hóa trên thực tiễn

Sự hưởng ứng của đối tượng hướng tới của chính sách: Đối tượng hướng tới của chính sách TTPBPL chính là nhân dân, sự đồng tình của nhân dân Nếu chính sách có được sự đồng tình ủng hộ của nhân dân thì việc thực thi mới có hiệu quả Bởi lẽ, nếu chính sách không co sự hưởng ứng này thì mục tiêu hướng tới của chính sách không đạt được; tri thức pháp luật không được nhân nhân đón nhận, thực thi pháp luật sẽ lệch chuẩn; ý thức pháp luật không được nâng lên

1.1.2 Vai trò của thực hiện chính sách tuyên truyền, phổ biến phápluật

Công tác tuyên truyền, phổ biến giáo dục pháp luật thuộc kiến thức thượng tầng, là công tác tư tưởng quan trọng trong việc định hướng, dẫn dắt

xã hội

TTPBPL là phương tiện để chủ thể quản lý tác động vào đối tượng quản lý nhằm hướng đối tượng quản lý thực hiện những giá trị, những chuẩn mực mà chủ thể quản lý hướng tới Muốn thực thi, tuân thủ pháp luật đúng và đầy đủ thì phải hiểu đầu đủ, hiểu đúng, sử dụng đúng và đầy đủ pháp luật đó

Để thực hiện được mục tiêu xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam thì công tác phổ biến, giáo dục pháp luật có vai trò hết sức

Trang 19

quan trọng là cầu nối để đưa pháp luật vào cuộc sống, góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả của quản lý nhà nước, quản lý xã hội bằng pháp luật Song song với nhiệm vụ xây dựng pháp luật là nhiệm vụ đưa pháp luật vào cuộc sống Phổ biến, giáo dục pháp luật có những vai trò cơ bản như sau:

- Thứ nhất, phổ biến giáo dục pháp luật có vai trò quan trọng trong việc hình thành ý thức pháp luật cho nhân dân, tăng cường sự hiểu biết pháp luật, khuyến khích thói quen ứng xử theo pháp luật, góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước, quản lý xã hội Nhà nước ban hành hệ thống pháp luật như ban hành một "hành lang" để mọi công dân, tổ chức, doanh nghiệp

có thể bước đi trong khuôn khổ cho phép

Phổ biến, giáo dục pháp luật cho công dân có tri thức pháp lý, tình cảm pháp luật đúng đắn và hành vi hợp pháp, tạo tiền đề cho việc sử dụng quyền lực nhà nước, tăng cường pháp chế, phát huy dân chủ và quyền tự do của mỗi người góp phần tăng cường trật tự, kỷ cương xã hội; phòng ngừa có hiệu quả các hành vi vi phạm pháp luật Ý thức pháp luật của công dân được hình thành từ hai yếu tố đó là tri thức pháp luật và tình cảm pháp luật

Tri thức pháp luật của mối chủ thể có được qua quá trình tích luỹ kiến thức của hoạt động thực tiễn và công tác, thể hiện ở sự hiểu biết sâu sắc về một vấn đề pháp luật cụ thể Tình cảm PL chính là trạng thái tâm lý của các chủ thể khi thực hiện và ADPL, họ có thể đồng tình ủng hộ với những hành vi thực hiện đúng PLt, lên án các hành vi VPPL Ý thức tự giác chấp hành PL của công dân chỉ có thể được nâng cao khi công tác phổ biến, giáo dục pháp luật được tiến hành thường xuyên, kịp thời và có tính thuyết phục Phổ biến, giáo dục pháp luật không đơn thuần là phổ biến các văn bản pháp luật đang có hiệu lực mà còn lên án các hành vi vi phạm pháp luật, đồng tình ủng hộ các hành vi thực hiện đúng pháp luật, hình thành dư luận và tâm lý đồng tình ủng

hộ với hành vi hợp pháp, lên án các hành vi vi phạm pháp luật

Tuyên truyền, phổ biến còn có ý nghĩa củng cố niểm tin vào pháp luật,

Trang 20

từng bước nâng cao sự hiểu biết của con người đối với các văn bản pháp luật

và các hiện tượng pháp luật trong đời sống, từ đó nâng cao ý thức tự giác chấp hành pháp luật của nhân dân

Thứ hai, tuyên truyền, phổ biến pháp luật cho công dân góp phần nâng cao hiệu lực và hiệu quả quản lý nhà nước, quản lý xã hội Vai trò quan trọng này của công tác phổ biến, giáo dục pháp luật bắt nguồn từ chính vai trò và giá trị xã hội của pháp luật là phương tiện hàng đầu để quản lý nhà nước, quản lý xã hội Phổ biến, giáo dục pháp luật giúp cho mọi người có tri thức pháp lý, tình cảm pháp luật đúng đắn và hành vi hợp pháp, tạo tiền đề cho việc sử dụng quyền lực nhà nước, tăng cường pháp chế, phát huy dân chủ và quyền tự do của mỗi người

Tuyên truyền, phổ biến pháp luật đồng thời tạo ra khả năng đổi mới các quan hệ xã hội trong môi trường quản lý nhà nước bằng pháp luật, hình thành các điều kiện và nhân tố thuận lợi cho quá trình quản lý nhà nước, quản lý xã hội; tạo ra khả năng phát hiện và loại trừ những hiện tượng tiêu cực, chống đối pháp luật diễn ra trong quá trình quản lý

Quá trình tổ chức thực hiện chính sách tuyên truyền, phổ biến pháp luật là toàn bộ quá trình chuyển ý chí của Nhà nước (chủ thể chính sách) tới đối tượng tác động của chính sách (có thể là đối tượng hưởng lợi trực tiếp hoặc gián tiếp) nhằm đạt được mục tiêu mà chính sách đã đưa ra hoặc dự kiến

sẽ đạt được Nói cách khác tổ chức thực hiện chính sách TTPBPL là quá trình thực hiện trên thực tế các hoạt động để đưa chính sách vào thực tiễn cuộc sống Tổ chức thực hiện chính sách được thực hiện bởi những chủ thể xác định, nguồn lực cụ thể và các mục tiêu rõ ràng

Tổ chức thực hiện chính sách TTPBPL là bước kết nối giữa xây dựng chính sách và thực hiện chính sách Tổ chức thực hiện chính sách là quá trình kiểm nghiệm giá trị đích thực, tính đúng đắn, tính khoa học, sự cần thiết của chính sách; đồng thời cũng là quá trình đánh giá sự tham gia của các chủ thể

Trang 21

thực hiện chính sách có tuân thủ tính hệ thống, tính pháp lý, tính mục đích của chính sách hay không?

Nếu chính sách TTPBPL không được thực hiện đúng sẽ ảnh hưởng đến quá trình nâng cao ý thức tuân thủ pháp luật, châp hành pháp luật, thiếu hiểu biết và ý thức tuân thủ pháp luật sẽ gây mất trật tự xã hội, ảnh hưởng tới sự phát triển kinh tế- xã hội là nguyên nhân sâu xa của tệ nạn xã hội; phản ứng tiêu cực; hành vi lệch chuẩn Tất cả nhứng hệ quả đó ảnh hưởng tiêu cực đến quá trình quản lý xã hội của nhà nước; quá trình xây dựng xã hội công bằng, văn minh, hiện đại, nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa

Qua tổ chức thực hiện chính sách TTPBPL mới biết được chính sách có đúng hay không đúng, chính sách có đi vào cuộc sống hay không đi vào cuộc sống Chính sách TTPBPL có vị trí và vai trò vô cùng quan trọng trong quá trình xây dựng NNXHCN hiện nay, là một bộ phận của công tác GDCTTT, là trách nhiệm của toàn bộ HTCT, dưới sự lãnh đạo của ĐCSVN và sự điều phối, tổ chức thực hiện của các CQNN và các tổ chức, đoàn thể; là khâu then chốt, quan trọng để chủ trương, chính sách của Đảng, PL của nhà nước thực

sự đi vào cuộc sống xã hội, đi vào ý thức, hành động của từng chủ thể trong

đề ra (hoặc được giao) có được hoàn thành tốt và đúng thời hạn hay không là

Trang 22

căn cứ chủ yếu để đánh giá mức độ hoàn thành nhiệm vụ được giao của một

cơ quan, đơn vị

Tổ chức thực hiện chính sách TTPBPL là nhiệm vụ quan trọng, có sự tham gia của nhiều ngành, địa phương, đơn vị do vậy cần phải có kế hoạch

để các ngành, địa phương căn cứ để thực hiện; cũng như kinh phí phân bổ để đảm bảo các hoạt động được thực hiện theo đúng tiến độ, yêu cầu Do đó, kế hoạch phải đảm bảo các yêu cầu sau:

- Kế hoạch được xây dựng dựa trên chức năng, nhiệm vụ của cơ quan tổ chức: Phải dự kiến các cơ quan chủ trì và phối hợp triển khai thực hiện chính sách, số lượng và chất lượng nhân sự tham gia tổ chức thực thi chính sách, quyền và trách nhiệm của cán bộ quản lý và cán bộ thực thi chính sách, cơ chế tác động của giữa cơ quan, đơn vị trong tổ chức thực hiện chính sách

- Kế hoạch phải đáp ứng được chủ trương quyết định của cấp trên

- Nội dung của kế hoạch cần chỉ rõ danh mục những công việc dự kiến, nguồn lực (nhân lực, vật lực, tài lực) và phải thể hiện rõ các mục tiêu, nhiệm

vụ, biện pháp và tiến độ cụ thể đối với từng việc, như: Dự kiến về cơ sở vật chất, trang thiết bị kỹ thuật phục vụ tổ chức thực hiện chính sách, các nguồn lực tài chính, vật tý văn phòng phẩm…Dự kiến thời gian duy trì chính sách,

dự kiến thời gian thực hiện các bước tổ chức triển khai thực hiện chính sách

từ xây dựng kế hoạch tổ chức thực hiện đến tổng kết đánh giá rút kinh nghiệm thực hiện chính sách Mỗi buớc phải nêu rõ mục tiêu cần đạt được và thời gian dự kiến cho việc thực hiện mục tiêu; Dự kiến về tiến độ, hình thức, phương pháp kiểm tra, giám sát tổ chức thực hiện chính sách hoặc có thể được xem xét điều chỉnh nếu kế hoạch đó không phù hợp với tình hình thực tế; việc điều chỉnh kế hoạch cũng do cấp có thẩm quyền thông qua kế hoạch quyết định

1.2.2 Phổ biến, tuyên truyền thực hiện chính sách tuyên truyền, phổ biến pháp luật

Trang 23

Bước tiếp theo trong tổ chức thực hiện chính sách TTPBPL là phổ biến, tuyên truyền chính sách Đây là hoạt động có ý nghĩa quan trọng, bởi lẽ tuyêntruyền phổ biến chính sách qua các phương tiện thông tin đại chúng, các điển hình tiên tiến, các bài báo, các chuyên mục sẽ giúp người dân hiểu về chính sách; hiểu mục tiêu của chính sách; hiểu nghĩa vụ và quyền lợi khi thực thi chính … để họ tự giác thực hiện, tích cực hưởng ứng, đáp ứng theo mục đích của chính sách, thực hiện các hoạt động theo yêu cầu của nhà nước; đồng thời còn giúp cho cán bộ công chức có trách nhiệm tổ chức thực hiện chính sách nhận thức được đầy đủ tính chất, độ phức tạp, quy mô của chính sách đối với đời sống xã hội, để họ chủ động tích cực tìm kiếm các giải pháp thích hợp cho việc thực hiện mục tiêu chính sách và triển khai thực hiện có hiệu quả kế hoạch tổ chức thực hiện chính sách được giao: Phổ biến, tuyên truyền chính sách TTPBPL cần được thực hiện thường xuyên liên tục để các đối tượng thụ hưởng chính sách có thêm niềm tin vào chính sách và tích cực thực thi chính sách Phổ biến tuyên truyền chính sách TTPBPL có thể thực hiện bằng nhiều hình thức khác nhau: như trực tiếp tiếp xúc, trao đổi với các đối tượng chính sách, hoặc gián tiếp thông qua các phương tiện thông tin đại chúng như: các đài phát thanh, đài truyền hình, các báo, tạp chí…

1.2.3 Phân công, phối hợp thực hiện chính sách tuyên truyền, phổ biến pháp luật

Trên cơ sở Kế hoạch thực hiện chính sách, thì các cơ quan được phân công trong Kế hoạch phải có trách nhiệm phối hợp với nhau Bởi lẽ, việc thực thi kế hoạch là một chuối hoạt động liên hoàn, hoạt động này sẽ tạo tiền đề cho hoạt động khác được thực hiện

Chính sách TTPBPL được thực thi trên phạm vi toàn quốc, toàn tỉnh toàn huyện, toàn xã do vậy, các đối tượng, các chủ thể của chính sách rất lớn Số lượng tham gia bao gồm các đối tượng tác động của chính sách TTPBPL là: Cấp ủy chính quyền các cấp; các cơ quan chuyên môn thuộc

Trang 24

UBND các cấp; các đoàn thể, tổ chức chính trị - xã hội Bên cạnh đó, các hoạt động nhằm thực hiện mục tiêu của chính sách TTPBPL diễn ra cũng hết sức phong phú, phức tạp theo không gian và thời gian, chúng có thể cùng diễn

ra tại một thời điểm, một địa bàn hoặc có giá trị tạo tiền đề cho nhau thực hiện v.v… Bởi vậy, muốn tổ chức thực thi chính sách công có hiệu quả phải tiến hành phân công, phối hợp giữa các cơ quan quản lý ngành, các cấp chính quyền địa phương, các yếu tố tham gia thực thi chính sách và các quá trình ảnh hưởng đến thực hiện mục tiêu chính sách Do vậy, để có cơ sở đánh giá trách nhiệm trong thực hiện chính sách, cũng như căn cứ để xác định nguồn lực thì yêu cầu phải phân định rõ cơ quan chủ trì, cơ quan phối hợp… Hoạt động phân công, phối hợp diễn ra theo tiến trình thực hiện chính sách một cách chủ động, sáng tạo để luôn duy trì chính sách được ổn định, góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả chính sách

1.2.4 Duy trì chính sách tuyên truyền, phổ biến pháp luật

Duy trì chính sách TTPBPL là toàn bộ hoạt động đảm bảo cho chính sách phát huy tác dụng trong đời sống chính trị xã hội hay nói cách khác duy trì chính sách TTPBPL là làm cho chính sách tồn tại và phát huy hết tác dụng trong môi trường thực tế

Trong quá trình duy trì thực hiện chính sách sẽ có những phát sinh đòi hỏi chủ thể thực thi chính sách phải bám sát yêu cầu, bám sát mục tiêu chính sách hướng tới; kiên định với mục tiêu đề ra Tuy nhiên, trước những phát sinh, những bất cập (cả chủ quan và khách quan) thì chủ thể thực hiện chính sách phải kịp thời có giải pháp khắc phục Trong điều kiện và thẩm quyền có thể, cơ quan hành chính nhà nước được phép sử dụng các phương pháp, mệnh lệnh hành chính để đảm bảo các hoạt động được diễn ra đúng tiến độ, hiệu qủa về mặt xã hội, về mặt kinh tế

Tuy nhiên, cũng cần phải nói đến sự duy trì của chủ thể này sẽ được các chủ thể khác cùng triển khai thực hiện trên nguyên tắc đồng bộ, bởi lẽ, có

Trang 25

như vậy thì việc thực thi chính sách mới có ý nghĩa; không gây ra sự khác biệt giữa các địa phương, vùng miền

1.2.5 Điều chỉnh chính sách tuyên truyền, phổ biến pháp luật

Ðiều chỉnh chính sách được thực hiện với cơ quan nhà nước có thẩm quyền để chính sách phù hợp với yêu cầu quản lý và tình hình thực tế Theo quy định cơ quan nào ban hành chính sách thì cơ quan đó có quyền điều chỉnh, bổ sung chính sách, nhưng trên thực tế việc điều chỉnh các biện pháp

cõ chế chính sách diễn ra rất năng động, linh hoạt vì thế cơ quan nhà nước các ngành, các cấp, chủ động điều chỉnh biện pháp, cơ chế chính sách để thực hiện có hiệu quả chính sách miễn là không làm thay đổi mục tiêu chính sách

Một nguyên tắc cần phải chấp hành khi điều chỉnh chính sách là: Ðể chính sách TTPBPL tiếp tục tồn tại chỉ được điều chỉnh các biện pháp, cõ chế thực hiện mục tiêu, hoặc bổ sung hoàn thiện mục tiêu theo yêu cầu thực tế Nếu điều chỉnh làm thay đổi mục tiêu, nghĩa là làm thay đổi chính sách thì coi như chính sách đó thất bại Trong quá trình điều chỉnh chính sách, đồi hỏi vẫn phải đi trên "hành lang pháp lý" cho phép Bởi lẽ, hệ thống văn bản QPPL, hệ thống đề án chính sách, kế hoạch điều chỉnh chính sách đều yêu cầu tính pháp lý, tính chính xác

1.2.6 Theo dõi, kiểm tra, đôn đốc việc thực hiện chính sách tuyên truyền, phổ biến pháp luật

Ðôn đốc, theo dõi, kiểm tra là công cụ của quản lý Theo dõi, kiểm tra thực thic hính sách có thể phát hiện bất cập để kịp thời có giải pháp tháo gỡ; theo dõi, kiểm tra có thể hỗ trợ kỹ thuật trong quá trình triển khai thực hiện để tránh có những "lệch chuẩn" trong quá trình triển khai

Qua phân tích tại phần trên cho thấy, việc thực hiện chính sách TTPBPL diễn ra trên địa bàn rộng lớn, trong cả nước và do nhiều cơ quan, tổ chức, cá nhân tham gia, các điều kiện về khác nhau, cũng như trình độ, năng lực, tổ chức điều hành của các cán bộ, công chức trong các cơ quan nhà nước

Trang 26

không đồng đều Việc kiểm tra, đôn đốc việc thực hiện chính sách phải được thực hiện bởi các cơ quan có thẩm quyền ( có thể được quy định về chức năng nhiệm vụ; có thể được phân công trong Kế hoạch ) Qua đôn đốc, theo dõi kiểm tra các mục tiêu và giải pháp chủ yếu của chính sách; đôn đốc, theo dõi, kiểm tra các hoạt động đã được phê duyệt; tình hình các tổ chức, cá nhân có trách nhiệm thực hiện đảm bảo có hiệu quả…

Bên cạnh hoạt động theo dõi, giám sát, kiểm tra để kịp thời điều chỉnh những tồn tại, khắc phục những khăn thì các hoạt động này còn có giá trị nhằm mục đích đôn đốc các chủ thể, cán bộ công chức thực thi chính sách Bên cạnh đó, việc đôn đốc còn giúp cho CBCC thực thi chính sách có cơ hội, trách nhiệm xem xét lại quá trình thực thi chức trách của mình; cách làm hay, cách hiểu đúng sẽ giúp nhân dân, đối tượng hướng tới hưởng úng; còn nếu không sẽ bị nhân dân phản ứng, không hợp tác trong quá trình triển khai Mặt khác, việc đôn đốc, kiểm tra cũng giúp chủ thể quản lý nắm bắt được sự đồng tình, sự ủng hộ của đối tượng quản lý

1.2.7 Đánh giá, tổng kết, rút kinh nghiệm tổ chức thực hiện chính sách tuyên truyền, phổ biến pháp luật

Tổng kết, đánh giá, rút kinh nghiệm thực hiện chính sách TTPBPL là bước cuối cùng trong chu trình thực hiện chính sách công nói chung, nhưng hết sức quan trọng và cần thiết trong tổ chức thực hiện chính sách Tổng kết, đánh giá, rút kinh nghiệm quá trình thực hiện chính sách được hiểu là quá trình các chủ thể thực thu chính sách tổ chức xem xét lại, kết luận và chỉ đạo điều hành thực hiện chính sách là các cơ quan nhà nước từ trung ương đến cơ

sở Ngoài ra còn xem xét đánh giá vai trò của các chủ thể tham gia chính sách, như: các cơ quan, ðơn vị, các cấp chính quyền; các tổ chức chính trị - xã hội

Tổng kết, đánh giá, rút kinh nghiệm thực hiện chính sách là bước cuối,

là nội dung quan trọng trong tổ chức thực hiện chính sách TTPBPL.Chỉ trên

cơ sở tổng kết, đánh giá rút kinh nghiệm tổ chức thực hiện chính sách một

Trang 27

cách nghiêm túc mới biết được chính xác kết quả thực hiện chính sách cũng như khó khăn khi thực hiện, tồn tại, vướng mắc trong tổ chức thực hiện chính sách, xác định được nguyên nhân chủ quan và khách quan của tồn tại, hạn chế trong quá trình thực hiện chính sách

1.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến việc tổ chức thực hiện chính sách tuyên truyền, phổ biến pháp luật

Hoạt động TTPBPL cũng giống như các dạng hoạt động xã hội khác, luôn luôn chịu sự tác động, ảnh hưởng của nhiều yếu tố khác nhau Trong các yếu tố đó, việc đảm bảo về tổ chức, cán bộ, cơ sở vật chất và phương tiện cho công tác TTPBPL; cũng như đảm bảo kinh phí phổ biến, giáo dục pháp luật là các yếu tố có tác động mạnh mẽ nhất đến công tác TTPBPL cho cán bộ, công

Đội ngũ cán bộ làm công tác TTPBPL là nhân tố không thể thiếu trong quá trình phổ biến, giáo dục pháp luật Đây là đội ngũ CBCC trực tiếp triển khai các hoạt động cụ thể do vậy số lượng và chất lượng đội ngũ CBCC là yếu tố quyết định trực tiếp đến chất lượng, hiệu quả của hoạt động TTPBPL

Cơ sở vật chất và các phương tiện phục vụ cho công tác TTPBPL cho đội ngũ cán bộ, công chức các cấp cũng là một phần quan trọng của công tác này Cơ sở vật chất và phương tiện hiện đại sẽ giúp cho công tác TTPBPL được diễn ra thuận lợi, dễ dàng, thông tin, kiến thức pháp luật được truyền đạt

Trang 28

nhanh chóng Ngược lại, cơ sở vật chất và các phương tiện lỗi thời, lạc hậu sẽ làm giảm đi đáng kể hiệu quả của công tác phổ biến, giáo dục pháp luật

1.3.2 Yếu tố đảm bảo kinh phí dành cho công tác tuyên truyền, phổ biến, pháp luật

Để công tác TTPBPL đạt hiệu quả cao và được tiến hành thông suốt, cần có một nguồn kinh phí thích đáng dành riêng cho công tác này Để tiến hành các hoạt động quản lý như: Họp triển khai, họp đánh giá; hoạt động triển khai như: Tổ chức hội nghị, tổ chức hội thi, tổ chức tập huấn, hội thảo, tọa đàm; biên soạn, in ấn và phát hành tài liệu, hoạt động kiểm tra, giám sát, hoạt động đánh giá đều cần có kinh phí để thực hiện Chính vì thế, việc đảm bảo kinh phí dành cho công tác TTPBPL là vô cùng cần thiết Căn cứ vào Chỉ thị

số 32 và các Chương trình, Đề án về phổ biến, giáo dục pháp luật của Chính phủ, việc đầu tư nguồn lực về bộ máy, cán bộ và kinh phí cho công tác phổ biến, giáo dục pháp luật được tăng cường; các thiết chế về tài chính được ban hành nhằm đảm bảo nguồn lực cho cac shoạt động; như: Thông tư số 63/2005/TT-BTC ngày 05/8/2005 của Bộ Tài chính, Thông tư số 73/2010/TTLT-BTC-BTP ngày 14/5/2010 hướng dẫn việc quản lý và sử dụng kinh phí bảo đảm cho công tác phổ biến, giáo dục pháp luật, Thông tư số 14/2014/TTLT-BTC-BTP ngày 27/1/2014 quy định việc lập dự toán, quản lý,

sử dụng và quyết toán kinh phí ngân sách nhà nước bảo đảm cho công tác TTPBPL và chuẩn tiếp cận pháp luật của người dân tại cơ sở, các bộ, ngành, địa phương đều bố trí kinh phí cho công tác TTPBPL trong kế hoạch ngân sách hàng năm của mình Việc các địa phương được quyền chủ động trong bố trí ngân sách hàng năm cho công tác TTPBPL sẽ là điều kiện thuận lợi để công tác TTPBPL được tiến hành dễ dàng hơn Ngoài ra, sự hỗ trợ của các tổ chức, cá nhân, dự án; sự đóng góp từ phía doanh nghiệp, cá nhân trong nước

và nước ngoài cũng là một phần quan trọng trong việc đáp ứng kinh phí cho công tác TTPBPL

Trang 29

Tiểu kết chương 1

Chương 1 luận văn đã làm rõ được những vấn đề lý luận về tuyên truyền, phổ biến pháp luật Luận văn đưa ra khái niệm chính sách tuyên truyền phổ biến pháp luật; thực hiện chính sách TTPBPL; các bước và nội dung các bước của thực hiện chính sách TTPBPL Đồng thời, trong chương 1 luận văn cũng làm rõ nội dung của phổ các yếu tố ảnh hưởng đến quá trình thực hiện chính sách TTPBPL Đây là những cơ sở lý luận quan trọng giúp tác giả nhận định các vấn đề này trên thực tế tại huyện Sơn Tây, tỉnh Quãng Ngãi ở Chương 2, và đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả thực hiện chính sách TTPBPL ở Chương 3

Trang 30

CHƯƠNG 2

THỰC TRẠNG THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH TUYÊN

TRUYỀN, PHỔ BIẾN PHÁP LUẬT TẠI HUYỆN SƠN TÂY,

TỈNH QUẢNG NGÃI

2.1 Khái quát về huyện Sơn Tây, tỉnh Quảng Ngãi

Sơn Tây là huyện miền núi, nằm về phía Tây tỉnh Quảng Ngãi; phía

Đông và Đông Nam giáp huyện Sơn Hà, phía Tây Nam giáp với huyện Kon Plông (tỉnh kontum), phía Bắc giáp huyện Nam Trà My (tỉnh Quảng Nam) và huyện Tây Trà Huyện Sơn Tây có 9 xã, gồm: Sơn Bua, Sơn Mùa, Sơn Dung, Sơn Tân, Sơn Tinh, Sơn Mầu, Sơn Lập, Sơn Long, Sơn Liên

Qua nhiều lần điều chỉnh, hiện nay (theo số liệu thống kê năm 2018) huyện Sơn Tây có tổng diện tích tự nhiên là 382,2168 km2 , trong đó diện tích đất Lâm nghiệp 25.676,2ha, chiếm 67,17% Địa hình Sơn Tây gắn liền với bắc Kon Tum, là một khối đá biến chất rất cổ, có nhiều mạch granit cắt ngang Các khối đá tạo nên những ngọn núi khá cao như Hoăn Plây 1.900m (ở Sơn Tân, Sơn Tinh) núi Wang Rét 1.794m, núi Gò Tăng 1.608m (ở Sơn Mùa), núi Hà Neng 1.483m(ở Sơn Dung Sơn Tây), núi Ain 1.477m (ở Sơn Mùa giáp với Nam Trà My), núi Và Rẫy 10437m, núi Adin 1.406 (ở Sơn Tinh, Sơn Dung) và hàng chục ngọn núi khác cao từ 500m đến trên 1.000m Các khối núi granit này tuy không bị ảnh hưởng của đợt vận động địa chất ở đại tân sinh, nhưng bị nhiều nứt gãy, làm bazan trào ra bao phủ một số vùng Rừng núi Sơn Tây lại nối liền với dãy Ngọc An, Ngọc Linh ở bắc Kon Tum, tạo thành thế liên hoàn hiểm trở nên có vị trí chiến lược quan trọng về mặt Quốc phòng

Cộng đồng cư dân ở Sơn Tây bao gồm các tộc người Ca Dong, Cor, Hrê, Kinh Cư trú lâu đời nhất là tộc người Ca dong, một chi của dân tộc Xơ – Đăng ở bắc Tây Nguyên Sách sử đã viết: “Trên sườn Đông dãy Trường Sơn,

Trang 31

cao nguyên rộng lớn phía Tây và xen kẽ ở vùng đồng bằng có nhiều thành phần dân tộc thiểu số thuộc ngôn ngữ môn Khơ – me như: Người Ba Na, Xơ – Đăng, Mơ – Nông…(miền Tây Nguyên); người Chăm – Rê, Tà Ôi, Cà Tu (khoảng giữa trung bộ)”

Qua 25 năm xây dựng và phát triển (1994 - 2019), huyện Sơn Tây đã từng bước vững chắc đi lên; các chỉ tiêu kinh tế - xã hội qua các kỳ đại hội đều đạt và vượt Nghị quyết đã đề ra; điển hình (giai đoạn 2010 - 2015) giá trị sản xuất tăng bình quân 16,6%; trong đó Nông - Lâm nghiệp 15,9%, Công nghiệp - xây dựng 27,7%, Thương mại - Dịch vụ 17,3% Về cơ cấu kinh tế chuyển dịch theo hướng tích cực, tỷ trọng Nông - Lân nghiệp chiếm 75,1%,, Công nghiệp - xây dựng chiếm 5,7%, Thương mại - dịch vụ chiếm 19,2%; lương thực bình quân đầu người 332,5 kg/người/năm Về kết cấu hạ tầng thuộc ngân sách nhà nước (giai đoạn 2010 - 2015) 450 tỷ đồng, tăng gấp 3 lần

so với giai đoạn (2010 - 2005); tập trung chủ yếu trên các lĩnh vực Giao thông, thủy lợi, diện, nước sinh hoạt, trường học, trạm y tế Tuy nhiên, đến nay, huyện Sơn Tây vẫn là 01 trong những huyện nghèo nhất nước (Huyện nghèo theo Nghị quyết 30a của Chính phủ)

Về giao thông: Nhiều công trình dự án được Nhà nước đầu tư xây dựng như đường Đông Trường Sơn đi qua 04 xã có chiều dài trên 33 km đã tạo điều kiện giao thông thông suôt với các huyện Nam Trà My, tỉnh Quảng Nam

và huyện Konplong, tỉnh Kon Tum Thực hiện quy hoạch mạng lưới giao thông của huyện, tính đến thời điểm này toàn huyện có 27/99 km đường được cứng hóa, 32 km đường huyện với quy mô đường cấp VI miền núi, mặt đường thấm nhập nhựa; 52,5 km đường xã, mặt đường thâm nhập nhựa 11 km; trên 145 km đương liên thôn, xóm do dân tự làm

Về thủy lợi, thủy điện: Đầu tư xây dựng 24 công trình phục vụ tưới trên

292 ha ruộng và hoa màu các loại Lợi dụng điều kiện tự nhiên, Nhà nước đã

Trang 32

tiến hành đầu tư xây dựng các công trình thủy điện có quy mô vừa và nhỏ, đặc biệt có công trình Thủy điện Đăk D´rinh với tổng công suất thiết kế trên

100 megawatt

Hoàn thành công tác điều chỉnh mở rộng Quy hoạch chi tiết trung tâm huyện lỵ Sơn Tây giai đoạn 2010 - 2015 tầm nhìn đến năm 2020 đã được UBND tỉnh Quảng Ngãi phê duyệt

Hoạt động văn hóa - thông tin, thể dục - thể thao có bước phát triển và đổi mới các hoạt động tuyên truyền phục vụ tốt công tác truyên truyền đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách phát luật của Nhà nước, phục vụ kịp thời nhiệm vụ chính trị của địa phương Các phong trào thi đua trong quần chúng nhân dân được phát huy có hiệu quả, cụ thể là phong trào Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa đã có sức lan tỏa được ảnh hưởng lớn trong cộng đồng dân cư; phong trào từng bước lớn mạnh, đi vào chiều sâu đảm bảo chất lượng và hiệu quả; tính đến cuối năm 2015 tổng số hộ gia đình được bình xét đạt tiêu chẩn gia đình văn hóa là 2.717 hộ, đạt 57,15%/ tổng số hộ đăng ký; tổng số thôn đạt tiêu chuẩn thôn văn hóa là 13/42 thôn, chiếm 30,95% số thôn trên địa bàn huyện; tổng số cơ quan đạt tiêu chuẩn cơ quan văn hóa năm 2015

là 46 cơ quan; số cơ quan đạt tiêu chuẩn 3 năm liên tục có 10 cơ quan, số cơ quan đạt tiêu chuẩn 5 năm liên tục có 30 cơ quan

Các công trình văn hóa thể thao từ huyện đến xã từng bước được quan tâm đầu tư, tại trung tâm huyện có Nhà văn hóa huyện, hội trường Nhà văn hóa được đầu tư khang trang, có sức chứa tối đa là 350 người; tổng kinh phí đầu tư trên 04 tỷ đồng, ngoài ra đối với các công trình văn hóa ở cơ sở đước các địa phương quan tâm đầu tư xây dựng; tính đến thời điểm này có 02/9 Nhà văn hóa xã, 12/42 Nhà sinh hoạt văn hóa thôn, 02 khu sinh hoạt văn hóa thể thao cơ sở Ngoài ra, huyện cũng đã đầu tư trên 02 tỷ đồng xây dựng Phù

Trang 33

điêu di tích lịch sử chiến thắng Tà Mực tại trung tâm huyện và đang đầu tư xây dựng tượng đài chiến thắng Bãi Màu tại xã Sơn Tân

Công tác giáo dục và đào tạo có bước chuyển biến tích cực; tổng số học sinh các bậc học trong toàn huyện có 5.253 học sinh, cơ sở vật chất, phương tiện phục vụ dạy và học được đầu tư hiệu quả Đến nay, toàn huyện có 27 đơn

vị trường học, trong đó có 01 trường trung học phổ thông, 08 trường trung học cơ sở, 09 trường tiểu học, 09 trường mẫu giáo, trong đó 01 trường đạt chuẩn Quốc gia; chất lượng dạy và học ngày một nâng cao Công tác phổ cập giáo dục Tiểu học, trung học cơ sở, chống tái mù chữ trong độ tuổi được quan tâm đúng mức; đến cuối năm 2008 huyện được công nhận đạt chuẩn về phổ cập trung học cơ sở Đội ngũ giáo viên từng bước đã được bổ sung đủ số lượng và từng bước được chuẩn hóa

Công tác chăm sóc sức khỏe cộng đồng từng bước được tăng cường đầu tư, củng cố, mạng lưới y tế từ xã đến huyện đề có Y, bác sỹ phục vụ; các chương trình y tế Quốc gia triển khai có hiệu quả nên thời gian qua trên địa bàn huyện không có xảy ra tình trạng lây nhiễm bệnh trong cộng đồng, tất cả các hộ nghèo, đồng bào dân tộc thiểu số đề được cấp thể khám chữa bệnh theo quy định

Công tác dân số Kế hoạch hóa gia đình thời gia qua đạt được những kết quả đáng khích lệ, chất lượng dân số ngày một nâng cao; tỷ lệ hộ gia đình sinh con thứ 3 giảm đáng kể, tỷ lệ tăng dân số tự nhiên bình quân hằng năm 1,28%;

Thực hiện chương trình xóa đói giảm nghèo đạt được những kết quả đáng kể, tính đến nay tỷ lệ hộ nghèo đến cuối năm 43,31%, cao gấp 8 lần so với tỷ lệ hộ nghèo của cả nước Các chính sách an sinh xã hội luôn được đảm bảo, đặc biệt là chính sách hỗ trợ xây dựng nhà ở cho hộ nghèo theo chương

Trang 34

trình 134, 167 của chính phủ đã tạo cho người nghèo có nhà ở ổn định; hiện nay trên địa bàn huyện cơ bản đã xóa được nhà ở tạm bợ

Công tác đền ơn đáp nghĩa đối với người có công luôn được chú trọng,

tổ chức điều tra và giải quyết 797 đối tượng được hưởng chính sách theo Quyết định 22 của Chính phủ, kịp thời giải quyết các chính sách đối với các nạn nhân nhiễm chất độc da cam Hiện nay trên địa bàn huyện có 1.124 đối tượng được hưởng chế độ chính sách hàng tháng; hỗ trợ đầu tư nâng cấp sửa chữa 141 nhà tình nghĩa; Chương trình 167, hỗ trợ nhân dân xây dựng hoàn thành 2.220 nhà; giải quyết cho trên 3.500 hộ nghèo được vay vốn sản xuất…

Từ những đặc điểm kinh tế - xã hội của huyện có những tác động tích cực và chưa tích cực tới công tác TTPBPL trên địa bàn huyện như sau:

- Công tác TTPBPL được sự quan tâm của cấp ủy, chính quyền cơ sở cho nên việc ban hành kế hoạch và các văn bản hướng dẫn được xây dựng và ban hành kịp thời, bám sát sự chỉ đạo của cấp trên và kịp thời truyền tải các nội dung mang tính thời sự (các văn bản mới ban hành; các văn bản có ý nghĩa thực tiễn cao, điều chỉnh các vấn đề nhân dân quan tâm )

- Là huyện có tỷ lệ người dân tộc thiểu số cao (dân tộc Ca Dong chiếm 85%; dân tộc Hrê chiếm 10%; dân tộc Kinh chiếm 5%) do vậy, để có phương pháp, cách tiếp cận, cách tuyên truyền trong tình hình thực tế của huyện có tỷ

lệ dân tộc thiểu số cao thì huyện cần có những hình thức, phương pháp tuyên truyền, nội dung, tài liệu phù hợp với nhóm đối tượng đặc thù này

- Là huyện 30a, có tỷ lệ hộ nghèo còn cao, ngân sách địa phương chưa

tự cân đối do vậy còn có nhiều hạn chế về nguồn lực cho nên công tác TTPBPL cũng chưa được đảm bảo kinh phí cho xứng tầm nhiệm vụ, mà chủ yếu do tỉnh cấp

Trang 35

2.2 Thực trạng thực hiện chính sách tuyên truyền, phổ biến pháp luật tại huyện Sơn Tây, tỉnh Quảng Ngãi

2.2.1 Thực trạng xây dựng kế hoạch triển khai thực hiện chính sách tuyên truyền, phổ biến pháp luật

Công tác tham mưu xây dựng và ban hành Kế hoạch TTPBPL của huyện được dựa trên căn cứ và các Kế hoạch, hướng dẫn của UBND tỉnh Quãng Ngãi, Sở Tư pháp tỉnh Quãng Ngãi và UBND huyện Sơn Tây Có thể nói, trong giai đoạn vừa qua, UBND tỉnh, Sở Tư pháp đã hướng dẫn và ban hành nhiều Kế hoạch, định hướng công tác tuyên truyền, phổ biến pháp luật, như: Kế hoạch số 5344/KH-UBND ngày 26/9/2016 của Chủ tịch UBND tỉnh

về triển khai thực hiện công tác PBGDPL trên địa bàn tỉnh Quảng Ngãi giai đoạn từ năm 2016 đến năm 2020; Kế hoạch số 5753/KH-UBND ngày 19/9/2017 của Chủ tịch UBND tỉnh về triển khai thực hiện Chương trình PBGDPL giai đoạn 2017-2021; Kế hoạch số 7656/KH-UBND ngày 11/12/2017 của UBND tỉnh thực hiện Đề án “Xã hội hóa công tác phổ biến, giáo dục pháp luật và trợ giúp pháp lý giai đoạn 2017-2021” trên địa bàn tỉnh Quảng Ngãi; Kế hoạch số 02/KH-UBND ngày 14/01/2019 của UBND tỉnh Quảng Ngãi về triển khai công tác phổ biến, giáo dục pháp luật (PBGDPL), hòa giải ở cơ sở và xây dựng cấp xã đạt chuẩn tiếp cận pháp luật trên địa bàn tỉnh Quảng Ngãi năm 2019; Kế hoạch triển khai công tác phổ biến, giáo dục pháp luật, chuẩn tiếp cận pháp luật và hòa giải ở cơ sở trên địa bàn tỉnh Quảng Ngãi hàng năm

Thực hiện Kế hoạch tổ chức thực hiện chính sách TTPBPL, Cơ quan Thường trực giúp Ủy ban nhân tỉnh chủ trì, là Sở Tư pháp; còn các cơ quan chuyên môn khác; các địa phương căn cứ vào chức năng nhiệm vụ của mình

có trách nhiệm phối hợp triển khai thực hiện kế hoạch và điều phối các nội

Trang 36

dung của kế hoạch Phòng Tư pháp của huyện tham mưu trình UBND các huyện ban hành Kế hoạch, hướng dẫn các xã triển khai thực hiện

2.2.2 Thực trạng phổ biến, tuyên truyền thực hiện chính sách tuyên truyền, phổ biến pháp luật

Trong giai đoạn vừa qua, công tác TTPBPL đã ngày càng phủ rộng đến các nhóm đối tượng, trong đó tập trung vào 05 nhóm đối tượng cần ưu tiên là nông dân, đồng bào dân tộc thiểu số, phụ nữ; cán bộ, công chức; thanh thiếu niên; người lao động, người quản lý; cán bộ công đoàn và lực lượng vũ trang nhân dân Hình thức tuyền tuyền đa dạng và phong phú, tài liệu tuyên truyền tương đối đầy đủ…

Mọi đối tượng thuộc các tầng lớp nhân dân thuộc nhiều vùng miền khác nhau đều được phổ biến các văn bản pháp luật phù hợp với đối tượng đó Thông qua PBGDPL, cán bộ, nhân dân được tìm hiểu, học tập pháp luật thuận lợi, kịp thời hơn; nhận thức pháp luật của nhân dân có chuyển biến rõ nét Tại huyện Sơn Tây không để xảy ra tình trạng khiếu nại, tố cáo đông người, vượt cấp, sai pháp luật

Công tác giáo dục pháp luật được lồng ghép trong các nội dung, kiến thức phù hợp với lứa tuổi, từng đối tượng học Cụ thể, Huyện Sơn Tây đã tập trung triển khai tuyên truyền, phổ biến pháp luật cụ thể:

* Về hình thức tuyên truyền:

- Tuyên truyền trực tiếp hay còn gọi là tuyên truyền bằng lời nói giữ báo các viên và người nghe: Tuyên truyền bằng lời nói là hình thức báo cáo viên trực tiếp trao đổi, truyền tải, cung cấp các nội dung cụ thể với người nghe về lĩnh vực pháp luật cụ thể Tiếp tục tổ chức triển khai thực hiện Đề

án “Củng cố, kiện toàn và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực trong công

tác phổ biến, giáo dục pháp luật (PBGDPL), đáp ứng yêu cầu đổi mới, phát triển của đất nước” trên địa bàn tỉnh Quảng Ngãi; từ năm 2015 đến 2018,

Trang 37

UBND huyện, Phòng Tư pháp đã tổ chức 10 hội nghị tập huấn cho báo cáo viên pháp luật, cán bộ tư pháp xã,cán bộ đoàn thanh niên.…

- Tuyên truyền, phổ biến giáo dục pháp luật qua phương tiện báo chí (bao gồm cả báo viết, báo hình; các bản tin; tờ rơi…) Với hình thức tuyên truyền pháp luật này thì nội dung truyền tải được nhiều, các nội dung có thể lưu trữ làm tài liệu sử dụng ở mọi địa bàn Tuy nhiên, với hình thức này thì phải có kinh phí đảm bảo thường xuyên; và chỉ có thể cung cấp cho một nhóm đối tượng nhất định Nhìn chung, huyện mới chỉ tiếp nhận các sản phẩm tuyên truyền do Sở Tư pháp cấp (bản tin pháp luật, tờ rơi, tờ bướm ….)

để cấp phát cho các địa phương trong toàn huyện Từ năm 2015 đến năm

2018, huyện đã tiếp nhận và cấp 5.800 sản phẩm như bản ti, tờ rơi … cấp cho

cơ sở

- Tuyên truyền các nội dung pháp luật qua hệ thống truyền thanh Nhìn chung, trên địa bàn huyện Sơn Tây tỉnh Quảng Ngãi thì hệ thống loa phát thanh được trang bị tới 100% số xã; Thời lượng tuyên truyền, truyền tải các nội dung, kiến thức pháp luật được tăng lên

* Tuyên truyền phổ biến giáo dục pháp luật qua mạng Internet:Là hình thức các trang điện tử của hệ thống cơ quan hành chính nhà nước cập nhật các văn bản pháp luật trên mạng Internet Đây là hình thức truyền tải hiện đại, vừa nhanh chóng, thuận tiện cho việc học tập, khai thác sử dụng khi cần thiết.Hiện nay, 100% số xã, số cơ quan của huyện đều kết nối Internet và kết nối mạng nội bộ Trang thông tin điện tử của huyện thường xuyên đăng tải các nội dung

có tính chất thời sự

* Tuyên truyền, phổ biến pháp luật thông qua các cuộc thi tìm hiểu kiến thức pháp luật Nhìn chung, đây là hình thức tìm hiểu thông qua các cuộc thi theo các chuyên đề cụ thể các cơ quan, tổ chức nhằm nâng cao trình độ, tri thức pháp luật tới một nhóm đối tượng cụ thể mà cơ quan, tổ chức hướng tới

Ngày đăng: 27/11/2019, 18:54

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
17. Kế hoạch số 7656/KH-UBND ngày 11/12/2017 của UBND tỉnh thực hiện Đề án “Xã hội hóa công tác phổ biến, giáo dục pháp luật và trợ giúp pháp lý giai đoạn 2017-2021” trên địa bàn tỉnh Quảng Ngãi Sách, tạp chí
Tiêu đề: Xã hội hóa công tác phổ biến, giáo dục pháp luật và trợ giúp pháp lý giai đoạn 2017-2021
22. Luận văn thạc sĩ của Hồ Quốc Dũng đã nghiên cứu “Một số vấn đề về giáo dục pháp luật trong giai đoạn hiện nay (1997)” Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số vấn đề về giáo dục pháp luật trong giai đoạn hiện nay (1997)
25. Nguyễn Thị Thu Ba (2012), “Nâng cao chất lượng tuyên truyền, giáo dục pháp luật cho công nhân tại các doanh nghiệp ở Thành phố Đồng Tháp giai đoạn hiện nay”, Luận văn thạc sĩ Luật học Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nâng cao chất lượng tuyên truyền, giáo dục pháp luật cho công nhân tại các doanh nghiệp ở Thành phố Đồng Tháp giai đoạn hiện nay
Tác giả: Nguyễn Thị Thu Ba
Năm: 2012
1. Ban Bí thư (2003) Chỉ thị số 32-CT/TW ngày 9/12/2003 về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật, nâng cao ý thức chấp hành pháp luật của cán bộ, nhân dân Khác
2. Ban chấp hành Trung ương (2005), Nghị quyết số 48-NQ/TW ngày 24/5/2005 của Bộ Chính trị về Chiến lược xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam đến năm 2010, định hướng đến năm 2020, Hà Nội Khác
3. Bộ Tư pháp (2002), Sổ tay hướng dẫn nghiệp vụ phổ biến, giáo dục pháp luật, Hà Nội Khác
5. Đảng Cộng sản Việt Nam (2001), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Khác
6. Đảng Cộng sản Việt Nam (2003), Văn kiện Nghị quyết Hội nghị Ban chấp hành Trung ương IX, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Khác
7. Đảng Cộng sản Việt Nam (2006), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Khác
8. Đảng Cộng sản Việt Nam (2007), Văn kiện Hội nghị lần thứ 7 Ban Chấp hành Trung ương khoá X, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Khác
10. Hội đồng phối hợp công tác phổ biến, giáo dục pháp luật của Chính phủ, Đặc sản tuyên truyền pháp luật số 8/2012 Khác
11. Hội đồng phối hợp công tác phổ biến, giáo dục pháp luật, Báo cáo về kết quả công tác phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2014, tỉnh Quảng Ngãi Khác
12. Hội đồng phối hợp công tác phổ biến, giáo dục pháp luật, Báo cáo về kết quả công tác phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2015, tỉnh Quảng Ngãi Khác
13. Hội đồng phối hợp công tác phổ biến, giáo dục pháp luật, Báo cáo về kết quả công tác phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2016, tỉnh Quảng Ngãi Khác
14. Hội đồng phối hợp công tác phổ biến, giáo dục pháp luật, Báo cáo về kết quả công tác phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2017, tỉnh Quảng Ngãi Khác
15. Kế hoạch số 5344/KH-UBND ngày 26/9/2016 của Chủ tịch UBND tỉnh về triển khai thực hiện công tác PBGDPL trên địa bàn tỉnh Quảng Ngãi giai đoạn từ năm 2016 đến năm 2020 Khác
16. Kế hoạch số 5753/KH-UBND ngày 19/9/2017 của Chủ tịch UBND tỉnh về triển khai thực hiện Chương trình PBGDPL giai đoạn 2017-2021 Khác
18. Kế hoạch số 02/KH-UBND ngày 14/01/2019 của UBND tỉnh Quảng Ngãi về triển khai công tác phổ biến, giáo dục pháp luật (PBGDPL), hòa giải ở cơ sở và xây dựng cấp xã đạt chuẩn tiếp cận pháp luật trên địa bàn tỉnh Quảng Ngãi năm 2019 Khác
19. Kế hoạch triển khai công tác phổ biến, giáo dục pháp luật, chuẩn tiếp cận pháp luật và hòa giải ở cơ sở trên địa bàn tỉnh Quảng Ngãi Khác
20. Lê Chi Mai (2001), Những vấn đề cơ bản về chính sách và quy trình chính sách, NXB Đại học Quốc gia TP. HCM Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w