Tuy nhiên, qua thời gian triển khai thực hiện chính sách hỗ trợ đào tạo nghề cho lao động đặc thù, bên cạnh những kết quả đạt được thì cũng còn bộc lộ nhiều bất cập, có một số bộ phận dâ
Trang 1VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
Trang 2VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan Luận văn là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các kết quả nêu trong Luận văn chưa được công bố trong bất kỳ công trình nào khác Các số liệu trong Luận văn đảm bảo tính chính sác, tin cậy và trung thực
Vậy, tôi viết Lời cam đoan này để Học Viện khoa học xã hội xem xét
để tôi có thể bảo vệ Luận văn
Tôi xin chân thành cảm ơn
Tác giả Luận văn
Trần Đình Hùng
Trang 4MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH HỖ TRỢ ĐÀO TẠO NGHỀ 7
1.1 Khái niệm, đặc điểm, vai trò của chính sách đào tạo nghề 7
1.2 Vai trò của chính sách hỗ trợ đào tạo nghề 11
1.3 Nội dung chính sách hỗ trợ đào tạo nghề 12
1.4 Nội dung thực hiện chính sách hỗ trợ đào tạo nghề 14
1.5 Các yếu tố ảnh hưởng đến thực hiện chính sách hỗ trợ đào tạo nghề 20
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH HỖ TRỢ ĐÀO TẠO NGHỀ CHO LAO ĐỘNG ĐẶC THÙ TẠI THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG 26
2.1 Khái quát về điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội 26
2.2 Thực trạng đào tạo nghề tại thành phố Đà Nẵng 28
2.3 Thực trạng thực hiện chính sách hỗ trợ đào tạo nghề cho lao động đặc thù tại thành phố Đà Nẵng 36
2.4 Đánh giá chung về thực hiện chính sách hỗ trợ đào tạo nghề 45
CHƯƠNG 3: MỘT SỐ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH HỖ TRỢ ĐÀO TẠO NGHỀ CHO LAO ĐỘNG ĐẶC THÙ TẠI THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG 51
3.1 Mục tiêu, định hướng đào tạo nghề 51
3.2 Một số giải pháp hoàn thiện thực hiện chính sách hỗ trợ đào tạo nghề cho lao động đặc thù tại thành phố Đà Nẵng 61
KẾT LUẬN 71
TÀI LIỆU THAM KHẢO
Trang 5DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
CNH - HĐH Công nghiệp hóa, hiện đại hóa HĐND Hội đồng nhân dân
LĐNT Lao động nông thôn
MTQG Mục tiêu Quốc gia
UBND Ủy ban nhân dân
LĐTBXH Lao động - Thương binh và Xã hội
Trang 6DANH MỤC BẢNG
Số
2.1 Phân bố cơ sở giáo dục nghề nghiệp trên địa bàn TP Đà
2.2 Kết quả tuyển sinh giai đoạn 2010 - 2018 31
2.3 Trình độ đội ngũ giáo viên, giảng viên giáo dục nghề
2.4 Nghiệp vụ sư phạm, trình độ tiếng Anh và Tin học của đội
2.5 Trình độ đội ngũ cán bộ quản lý giáo dục nghề nghiệp 34
2.6 Kết quả đào tạo nghề cho lao động đặc thù tại thành phố Đà
3.1 Kết quả dự báo nhu cầu lao động từ phương án tăng trưởng
kinh tế của thành phố Đà Nẵng, giai đoạn 2018 - 2030 60
Trang 7MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Sau khi trở thành đơn vị hành chính trực thuộc Trung ương, Đảng bộ và nhân dân thành phố Đà Nẵng đã dồn sức phấn phấn đấu xây dựng thành phố phát triển toàn diện về mọi mặt và đã được Chính phủ công nhận là đô thị loại
I cấp quốc gia Trong thành tựu đó, công cuộc chỉnh trang đô thị của thành phố, xây dựng cơ sở hạ tầng, phát triển khu công nghiệp tập trung giữ vai trò hết sức quan trọng Bên cạnh những kết quả to lớn do đô thị hoá, chỉnh trang
đô thị đem lại, phát sinh những khó khăn, bất cập, trong đó vấn đề hàng nghìn lao động mất việc làm cần được tập trung giải quyết
Trong những năm qua, được sự quan tâm của Uỷ ban nhân dân thành phố Đà Nẵng đã tập trung cho đầu tư phát triển, ban hành nhiều chính sách hỗ trợ đào tạo nghề, cơ chế thuận lợi nhằm thu hút mọi nguồn lực từ các thành phần kinh tế vào phát triển sản xuất Nguồn vốn đầu tư toàn xã hội ngày một tăng, tạo ra nhiều việc làm mới, đời sống của người dân nói chung và người lao động được cải thiện đáng kể, tạo điều kiện thuận lợi để giải quyết cơ bản vấn đề việc làm của địa phương, nhất là đối với người lao động thuộc diện hộ nghèo, di dời giải tỏa, mất đất sản xuất, người khuyết tật, gia đình chính sách để chuyển đổi ngành nghề
Tuy nhiên, qua thời gian triển khai thực hiện chính sách hỗ trợ đào tạo nghề cho lao động đặc thù, bên cạnh những kết quả đạt được thì cũng còn bộc
lộ nhiều bất cập, có một số bộ phận dân cư đời sống còn khó khăn do thiếu vốn sản xuất, kinh doanh, trình độ văn hoá thấp, không có nghề nghiệp, hoặc việc làm không ổn định, thu nhập thấp Những hộ nông nghiệp, ngư nghiệp được bố trí vào ở nhà chung cư, nhà phân lô không có điều kiện hành nghề cũ, trong khi đó để chuyển đổi ngành nghề không thể thực hiện ngay trong một
Trang 8sớm một chiều Bên cạnh những khó khăn bức xúc trong chuyển đổi ngành nghề, giải quyết việc làm
Để giải quyết các vấn đề nêu trên, nên tôi mạnh dạn đề xuất đề tài
nghiên cứu: “Thực hiện chính sách hỗ trợ đào tạo nghề tại thành phố Đà Nẵng” từ đó kiến nghị một số giải pháp nâng cao hiệu quả thực hiện chính
sách đào tạo nghề cho lao động đặc thù nhằm giải quyết việc làm, tăng thu nhập, ổn định cuộc sống
2 Tình hình nghiên cứu của đề tài
Thời gian qua, đã có các công trình nghiên cứu khoa học, bài viết tìm hiểu về thực trạng, định hướng,… về chính sách hỗ trợ đào tạo tạo nghề cho lao động đặc thù, như: “Có nghề nông dân mới thoát nghèo bền vững”, của
Bộ trưởng Bộ LĐTBXH Đào Ngọc Dung (Báo Dân trí ngày 12/4/2018); “Đào tạo nghề phải gắn với doanh nghiệp”, của Thứ trưởng Bộ LĐTBXH Lê Quân (Báo Lao động ngày 28/7/2018); “Đào tạo nghề cho nông dân thời kỳ hội nhập quốc tế”, của Tiến sỹ Nguyễn Tiến Dũng, nguyên Tổng cục trưởng Tổng cục Dạy nghề, Bộ LĐTBXH; “Quan điểm - định hướng vai trò của truyền thông trong nhận thức xã hội về giáo dục nghề nghiệp” của Trương Anh Tuấn (Tạp chí giáo dục nghề nghiệp) và những bài báo, công trình nghiên cứu trên
đã cung cấp một cái nhìn tổng thể về thực trạng công tác đào tạo nghề cho LĐNT, thực trạng về việc làm và giải quyết việc làm, cũng như thực trạng về thực hiện các chính sách đào tạo nghề cho LĐNT hiện nay
- Luận văn: Các giải pháp đào tạo nghề và tạo việc làm cho thanh niên tại thành phố Đà Nẵng của Phan Thị Thúy Linh (2011), đã làm rõ một số vấn
đề về lý luận và thực tiễn trong đào tạo nghề và giải quyết việc làm, phân tích kết quả, những khó khăn, vướng mắc trong đào tạo nghề, tạo việc làm cho thanh niên ở thành phố Đà Nẵng, đồng thời đề xuất một số giải pháp trong công tác thực hiện chính sách đào tạo nghề và tạo việc làm cho thanh niên tại
Trang 9thành phố Đà Nẵng trong thời gian đến
- Hoàng Thu Thuỷ, Tình hình đào tạo nghề và giải quyết việc làm cho thanh niên dân tộc thiểu số tỉnh Hà Giang trong giai đoạn hiện nay,
Tạp chí Khoa học & Công nghệ, (Nxb Khoa học và công nghệ, năm 2012) có
đăng bài “Tình hình đào tạo nghề và giải quyết việc làm cho thanh niên dân tộc thiểu số tỉnh Hà Giang trong giai đoạn hiện nay” của Hoàng Thu Thuỷ,
đã tập trung phân tích những kết quả đạt được trong công tác đào tạo nghề và tạo việc làm khi bước vào thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá, đồng thời chỉ ra một số những hạn chế, vướng mắc trong quá trình triển khai thực hiện
Nhìn chung, những nghiên cứu, công trình và bài viết nêu trên đã tiếp cận vấn đề đào tạo nghề, tác động của quá trình CNH-HĐH, quá trình hội nhập kinh tế quốc tế đến vấn đề việc làm, tạo việc làm cho lao động đặc thù ở nhiều góc độ, khía cạnh, địa phương khác nhau, qua đó có ý nghĩa về lý luận
và thực tiễn, gợi mở ra nhiều hướng nghiên cứu mới Trên cơ sở tiếp thu có chọn lọc những vấn đề được nghiên cứu trong các công trình khoa học, bài viết đó, kết hợp với thực tiễn trên lĩnh vực đào tạo tạo nghề kiến nghị, đề ra một số giải pháp nâng cao hiệu quả trong việc thực hiện chính sách hỗ trợ đào tạo nghề cho lao động đặc thù tại thành phố Đà Nẵng cho những năm tiếp theo
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở những vấn đề lý luận cơ bản về đào tạo nghề, chính sách hỗ trợ đào tạo nghề cho lao động đặc thù, thực tiễn về thực hiện chính sách hỗ trợ đào tạo nghề cho lao động đặc thù tại thành phố Đà Nẵng đề xuất một số giải pháp, mục tiêu, nhiệm vụ thực hiện trong thời gian đến về thực hiện chính sách hỗ trợ đào tạo nghề cho lao động đặc thù, lao động nông thôn tại thành phố Đà Nẵng
Trang 103.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Từ cơ sở lý luận về chính sách đào tạo nghề, thực trạng của địa phương
đã phân tích, đưa ra những đánh giá về kết quả đạt được và những khó khăn trong việc thực hiện chính sách hỗ trợ đào tạo nghề cho lao động đặc thù tại thành phố Đà Nẵng, từ đó đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả thực hiện chính sách hỗ trợ đào tạo nghề cho lao động đặc thù tại thành phố
Đà Nẵng
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của Luận văn
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là việc thực hiện chính sách hỗ trợ đào tạo nghề cho lao động đặc thù tại thành phố Đà Nẵng
4.2 Phạm vi nghiên cứu
Luận văn chỉ nghiên cứu về thực hiện chính sách đào tạo nghề trình độ
sơ cấp và dưới 3 tháng cho lao động đặc thù tại thành phố Đà Nẵng
* Về không gian: Tại địa bàn thành phố Đà Nẵng
* Về thời gian: Đề tài đã thu thập số liệu trong giai đoạn 2010 - 2019
để phục vụ trong quá trình nghiên cứu
5 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
5.1 Phương pháp luận
Luận văn nghiên cứu dựa trên phương pháp luận của chủ nghĩa Lênin; tư tưởng Hồ Chí Minh, các chủ trương, đường lối của Đảng, pháp luật, quy định của Nhà nước về chính sách đào tạo nghề cho lao động đặc thù
Mác-5.2 Phương pháp nghiên cứu
Luận văn đã sử dụng, kết hợp các phương pháp nghiên cứu khác nhau như: thu thập thông tin, phân tích và khai thác thông tin từ các nguồn tài liệu
có sẵn liên quan đến đề tài nghiên cứu như: Các văn kiện, nghị quyết, quyết định, tài liệu khác của Đảng và Nhà nước; các bộ, ngành, địa phương liên
Trang 11quan đến công tác đào tạo nghề thống kê, tổng hợp, phân tích, so sánh, khảo nghiệm thực tiễn, …; ngoài ra Luận văn còn sử dụng phương pháp so sánh, thống kê, đối chiếu, thu thập, tham khảo các tài liệu của các tổ chức, các học giả, tác giả có liên quan đến nội dung của đề tài
Chương 1: Luận văn sử dụng phương pháp phân tích, tổng hợp để đưa
ra các khái niệm về chính sách hỗ trợ đào tạo nghề cho lao động đặc thù tại thành phố Đà Nẵng
Chương 2: Sử dụng phương pháp thu thập số liệu, tài liệu, tổng hợp, phân tích, đánh giá thực trạng thực hiện chính sách đào tạo nghề cho lao động đặc thù tại thành phố Đà Nẵng
Chương 3: Sử dụng phương pháp phân tích, đánh giá, tổng hợp để rút
ra một số giải pháp nâng cao hiệu quả thực hiện chính sách đào tạo nghề cho lao động thù tại thành phố Đà Nẵng
6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của Luận văn
7 Kết cấu của Luận văn
Luận văn gồm 3 chương:
Chương 1: Những vấn đề lý luận về thực hiện chính sách hỗ trợ đào tạo nghề cho lao động đặc thù tại thành phố Đà Nẵng
Chương 2: Thực trạng thực hiện chính sách hỗ trợ đào tạo nghề cho lao
Trang 12động đặc thù tại thành phố Đà Nẵng
Chương 3: Một số giải pháp nâng cao hiệu quả thực hiện chính sách hỗ trợ đào tạo nghề cho lao động đặc thù tại thành phố Đà Nẵng
Trang 13CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH HỖ TRỢ ĐÀO TẠO NGHỀ
1.1 Một số khái niệm cơ bản
1.1.1 Khái niệm chính sách công
Theo Thomas R Dye (1984): Chính sách công là cái mà Chính phủ lựa chọn làm hay không làm (Public Policy is whatever goverments choose to do
or not to do)
Ngoài ra, có nhiều khái niệm khác nhau về chính sách như sau:
- Chính sách là một quá trình hành động có mục đích mà một cá nhân hoặc một nhóm theo đuổi một cách kiên định trong việc giải quyết vấn đề (James Anderson 2003)
- Chính sách công là một tập hợp các quyết định có liên quan lẫn nhau của một nhà chính trị hay một nhóm các nhà chính trị gắn liền với việc lựa chọn các mục tiêu và các giải pháp để đạt các mục tiêu đó (William Jenkin 1978)
- Chính sách công là một kết hợp phức tạp những sự lựa chọn liên quan lẫn nhau, bao gồm cả các quyết định không hành động, do các cơ quan Nhà nước hay các quan chức Nhà nước đề ra (William N Dunn, 1992)
- Chính sách công bao gồm các hoạt động thực tế do Chính phủ tiến hành (Peter Aucoin 1971)
- Chính sách công là toàn bộ các hoạt động của Nhà nước có ảnh hưởng một cách trực tiếp hay gián tiếp đến cuộc sống của mọi công dân (B Guy Peter 1990)
- Kraft và Furlong (2004) đưa ra một định nghĩa tổng hợp hơn Theo
đó, chính sách công là một quá trình hành động hoặc không hành động của
Trang 14chính quyền để đáp lại một vấn đề công cộng Nó được kết hợp với các cách thức và mục tiêu chính sách đã được chấp thuận một cách chính thức, cũng như các quy định và thông lệ của các cơ quan chức năng thực hiện những chương trình
Qua đó, nhận thấy: có một vấn đề kinh tế - xã hội nào đó xuất hiện Chính quyền sẽ lựa chọn nội dung, mục tiêu và cách thức giải quyết một vấn
đề đó Sự lựa chọn đưa đến quyết định và toàn bộ quy trình này được đặt trong một môi trường tương tác của các tác nhân chính sách, tạo ra hàng loạt các ràng buộc trước khi chính sách xuất hiện và các tác động sau đó Theo Kraft và Furlong, chính sách công không xuất hiện từ chân không, nó chịu ảnh hưởng bởi các điều kiện kinh tế, xã hội, chính trị, văn hóa, được thể hiện
cụ thể qua sự can thiệp của nhà nước đối với các thất bại thị trường, những giá trị chính trị thịnh hành, tâm thế công chúng (public mood) vào thời điểm
đó, cấu trúc của chính quyền, các quy phạm xã hội của quốc gia và địa phương, và hàng loạt các biến số khác Từ sự chi phối những điều kiện nêu trên, dẫn đến cách thể hiện khác nhau trong các vai trò chính sách (policy actor) và quy trình chính sách (policymaking processing) Một số nước công khai thể hiện vai trò của các nhóm lợi ích, một số khác là sự chi phối của các đảng phái chính trị, ở nơi này quy trình chính sách nặng về kỹ thuật, ở nơi khác lại là sự thỏa hiệp hay áp đặt
Chính sách mới được xây dựng phải xuất phát từ những nhu cầu của xã hội, yêu cầu khách quan của thực tế Trải qua rất nhiều thời kỳ, từ năm 1930 đến 1960, các nhà nghiên cứu quy trình chính sách hầu như chỉ tập trung tìm tòi về việc hoạch định chính sách công
Song cho đến tận ngày nay, người ta vẫn khó có thể khẳng định rằng, một chính sách đề ra là tốt hay xấu Điều đó chỉ có thể được đánh giá bằng thực tế là chính sách đó được xã hội chấp nhận hay không Chỉ có thực tiễn
Trang 15mới xác định chính xác sách nào là tích cực và chính sách nào là không tích cực
Theo tác giả PGS TS Nguyễn Khắc Bình đã đưa ra khái niệm về chính sách công:
“Chính sách công là hoạt động mà chính phủ chọn thực hiện hoặc không thực hiện để điều hòa các xung độ trong xã hội nhằm thúc đẩy xã hội phát triển theo định hướng nhất định”
Trong nghiên cứu này, tác giả sử dụng khái niệm về chính sách công của Nguyễn Khắc Bình để làm cơ sở trong việc phân tích chính sách hỗ trợ đào tạo nghề, đánh giá thực hiện chính sách hỗ trợ đào tạo nghề tại một địa phương
1.1.2 Khái niệm về thực thi chính sách công
Theo nguyên lý triết học thì chính sách công là một dạng vật chất đặc biệt, cần thực hiện những chức năng để tồn tại Để thực hiện được chức năng, chính sách công cần phải được vận động như các vật chất khác Điều đó có nghĩa là sau khi ban hành, chính sách phải được triển khai thực hiện trong đời sống xã hội Do đó, công tác tổ chức thực hiện chính sách là một tất yếu khách quan để duy trì sự tồn tại của công cụ chính sách theo yêu cầu quản lý Nhà nước và cũng là để đạt mục tiêu đề ra của chính sách Từ quan điểm trên tác giả Nguyễn Khắc Bình đã định nghĩa khái niệm về tổ chức thực hiện chính sách công như sau:
“Tổ chức thực hiện chính sách là toàn bộ quá trình chuyển hóa ý chí của chủ thể trong chính sách thành hiện thực với các đối tượng quản lý nhằm đạt được mục tiêu định hướng của Nhà nước” [1, tr.1]
1.1.3 Khái niệm đào tạo nghề
Theo Điều 3, Luật Giáo dục nghề nghiệp năm 2014, đào tạo nghề là hoạt động dạy và học nhằm trang bị kiến thức, kỹ năng và thái độ nghề
Trang 16nghiệp cần thiết cho người học để có thể tìm được việc làm hoặc tự tạo việc làm sau khi hoàn thành khóa học hoặc để nâng cao trình độ nghề nghiệp
Hay nói theo cách khác, đào tạo nghề là quá trình tác động có mục đích,
có tổ chức của người dạy đến người học nghề để hình thành kỹ năng, phát triển kiến thức một cách có hệ thống và thái độ nghề nghiệp cần thiết nhằm đáp ứng nhu cầu của xã hội và bản thân người học nghề
Đào tạo nghề là một khâu quan trọng trong hệ thống giáo dục của các
quốc gia, tạo ra đội ngũ lao động có chất lượng trực tiếp sản xuất trong nền kinh tế Do đó, chính quyền các cấp luôn xây dựng hệ thống lý luận cơ bản nhất làm nền tảng cho việc triển khai phát triển hệ đào tạo nghề tại địa phương
Mục tiêu chung của đào tạo nghề là nhằm đào tạo nhân lực trực tiếp cho sản xuất, kinh doanh và dịch vụ, có năng lực hành nghề tương ứng với trình độ đào tạo; có đạo đức, sức khỏe; có trách nhiệm nghề nghiệp; có khả năng sáng tạo, thích ứng với môi trường làm việc trong bối cảnh hội nhập quốc tế; bảo đảm nâng cao năng suất, chất lượng lao động; tạo điều kiện cho người học sau khi hoàn thành khóa học có khả năng tìm việc làm, tự tạo việc làm hoặc học lên trình độ cao hơn
1.1.4 Khái niệm chính sách hỗ trợ đào tạo nghề
Chính sách hỗ trợ đào tạo nghề là chính sách của nhà nước về hỗ trợ người có hoàn cảnh khó khăn để được tham gia các hoạt động đào tạo nghề, nhằm thực hiện chuyển dịch cơ cấu lao động, cơ cấu kinh tế, đáp ứng yêu cầu
về phát triển kinh tế - xã hội trong thời kỳ Công nghiệp hóa - Hiện đại hóa, góp phần tăng thu nhập, cải thiện đời sống cho người dân
Đào tạo nghề phải gắn với giải quyết việc làm cho người lao động Đây
là đặc điểm nổi bật của chính sách đào tạo nghề cho lao động nông thôn (theo Quyết định số 1956/QĐ-TTg, ngày 27/11/2019 của Thủ tướng Chính phủ),
Trang 17trên cơ sở đó thành phố Đà Nẵng xây dựng, triển khai chính sách cho lao động đặc thù nói chung
Đối tượng lao động đặc thù tại thành phố Đà Nẵng, gồm: Lao động là người khuyết tật; lao động là người dân tộc thiểu số nghèo; lao động là người dân tộc thiểu số; lao động là người thuộc diện được hưởng chính sách ưu đãi người có công với cách mạng theo quy định của pháp luật; lao động thuộc hộ nghèo; lao động trong các hộ thuộc diện di dời, giải tỏa, thu hồi đất sản xuất; lao động trong các hộ bị thu hồi đất nông nghiệp; đất kinh doanh; lao động nữ
bị mất việc làm; lao động là ngư dân; lao động thuộc hộ cận nghèo; lao động nữ; lao động nông thôn thuộc huyện Hòa Vang và các quận trên địa bàn thành phố Đà Nẵng có lao động sản xuất nông - lâm nghiệp - ngư nghiệp (trừ ngư dân); lao động là người nghiện ma túy đã được cai nghiện, người hoạt động mại dâm hoàn lương; lao động là thanh thiếu niên hư, vi phạm pháp luật; học sinh bỏ học
1.2 Vai trò của chính sách hỗ trợ đào tạo nghề
Chính sách hỗ trợ đào tạo nghề có vai trò đặc biệt quan trọng đối với việc phát triển nguồn vốn con người, nguồn nhân lực trong tăng trưởng kinh
tế, tạo việc làm, tăng thu nhập cho người lao động Đào tạo nghề là một trong những giải pháp đột phá của chiến lược phát triển kinh tế - xã hội, nhằm đào tạo nguồn nhân lực, phát triển nhanh đội ngũ lao động kỹ thuật trực tiếp, phục
vụ cho sự nghiệp Công nghiệp hóa - Hiện đại hóa đất nước, góp phần đảm bảo an sinh xã hội và sự phát triển bền vững của đất nước
Việc đào tạo nghề cho lao động đặc thù góp phần chuyển dịch lao động, chuyển dịch cơ cấu kinh tế của lao động đặc thù, ổn định thu nhập, phát triển bền vững Vì vậy đào tạo nghề và nâng cao chất lượng đào tạo nghề cho lao động đặc thù là nhiệm vụ quan trọng, cần thiết và cấp bách để ổn định và phát triển kinh tế - xã hội
Trang 181.3 Nội dung chính sách hỗ trợ đào tạo nghề của Trung ương
1.3.1 Mục tiêu
- Mục tiêu tổng quát: Hàng năm đào tạo nghề cho khoảng 01 triệu lao
động nông thôn; nâng cao chất lượng và hiệu quả đào tạo nghề, nhằm tạo việc làm, tăng thu nhập của lao động nông thôn; góp phần chuyển dịch cơ cấu lao động và cơ cấu kinh tế, phục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn
- Mục tiêu cụ thể:
+ Giai đoạn 2009 - 2010: Tiếp tục dạy nghề cho khoảng 800.000 lao động nông thôn; Thí điểm các mô hình dạy nghề cho lao động nông thôn với khoảng 18.000 người, 50 nghề đào tạo và đặt hàng dạy nghề cho khoảng 12.000 người thuộc diện hộ nghèo, người dân tộc thiểu số, lao động nông thôn bị thu hồi đất canh tác có khó khăn về kinh tế Kết thức khóa đào tạo, học viên được giải quyết việc làm tối thiểu đạt 80%
- Giai đoạn 2011 - 2015: Đào tạo nghề cho 5.200.000 lao động nông thôn, tỷ lệ có việc làm sau khi học nghề trong giai đoạn này tối thiểu đạt 70%;
- Giai đoạn 2016 - 2020: Đào tạo nghề cho 6.000.000 lao động nông thôn, tỷ lệ có việc làm sau khi học nghề trong giai đoạn này tối thiểu đạt 80%;
1.3.2 Các giải pháp thực hiện
- Nâng cao nhận thức của các cấp, các ngành, xã hội, của cán bộ, công chức xã và lao động nông thôn về vai trò của đào tạo nghề đối với việc tạo việc làm, tăng thu nhập và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực nông thôn
- Phát triển mạng lưới cơ sở đào tạo: rà soát, bổ sung quy hoạch phát triển mạng lưới cơ sở dạy nghề; Hoàn thành việc thành lập mới trung tâm dạy nghề ở các huyện chưa có trung tâm dạy nghề vào năm 2009 và hoàn thành việc đầu tư xây dựng cơ sở vật chất thiết bị vào năm 2013; Hỗ trợ đầu tư phát triển các trường trung cấp nghề thủ công mỹ nghệ ở các tỉnh tập trung nhiều làng nghề truyền thống; Đầu tư nâng cao năng lực của các trung tâm dạy nghề
Trang 19công lập huyện; Hỗ trợ kinh phí mua sắm thiết bị dạy nghề cho trung tâm giáo dục thường xuyên ở những huyện chưa có trung tâm dạy nghề; khuyến khích các tổ chức, cá nhân đầu tư thành lập cơ sở dạy nghề cho lao động nông thôn, các doanh nghiệp, cơ sở sản xuất, kinh doanh, dịch vụ tham gia hoạt động dạy nghề cho lao động nông thôn
- Phát triển đội ngũ giáo viên, giảng viên và cán bộ quản lý: Tiến hành điều tra, khảo sát, đánh giá đội ngũ giáo viên và cán bộ quản lý dạy nghề để
có kế hoạch đào tạo và tuyển dụng đáp ứng yêu cầu về số lượng (đối với trung tâm dạy nghề mỗi nghề tối thiểu có 01 giáo viên cơ hữu), chất lượng và cơ cấu nghề đào tạo; Huy động các nhà khoa học, nghệ nhân, cán bộ kỹ thuật, kỹ
sư, người lao động có tay nghề cao tại các doanh nghiệp và cơ sở sản xuất kinh doanh, các trung tâm khuyến nông - lâm - ngư, nông dân sản xuất giỏi tham gia dạy nghề cho lao động nông thôn; Đào tạo nghiệp vụ sư phạm và bồi dưỡng nâng cao kỹ năng nghề để bổ sung giáo viên cho các trung tâm dạy nghề chưa đủ giáo viên cơ hữu; Bồi dưỡng nghiệp vụ quản lý và tư vấn chọn nghề, tìm và tạo việc làm cho lao động nông thôn;
- Phát triển chương trình, giáo trình, học liệu: Phát triển chương trình, giáo trình, học liệu dạy nghề trình độ sơ cấp nghề và dạy nghề thường xuyên; xây dựng danh mục thiết bị dạy nghề: Đổi mới và phát triển chương trình, giáo trình, học liệu dạy nghề cho lao động nông thôn theo yêu cầu của thị trường lao động, thường xuyên cập nhật kỹ thuật, công nghệ mới; Huy động các nhà khoa học, nghệ nhân, cán bộ kỹ thuật, kỹ sư, người lao động có tay nghề cao tại các doanh nghiệp và cơ sở sản xuất kinh doanh, các trung tâm khuyến nông - lâm - ngư, nông dân sản xuất giỏi tham gia xây dựng chương trình, giáo trình, học liệu dạy nghề cho lao động nông thôn; Hoàn thành chỉnh sửa 300 chương trình, học liệu và xây dựng mới 200 chương trình, học liệu dạy nghề trình độ sơ cấp nghề và dạy nghề thường xuyên; xây dựng danh mục
Trang 20thiết bị dạy nghề trình độ sơ cấp nghề cho khoảng 300 nghề Cung cấp các chương trình, học liệu dạy nghề cho các cơ sở giáo dục, đào tạo tham gia dạy nghề cho lao động nông thôn
- Tăng cường hoạt động kiểm tra, giám sát, đánh giá việc thực hiện Đề
án ở các cấp hàng năm, giữa kỳ và cuối kỳ
1.4 Nội dung thực hiện chính sách hỗ trợ đào tạo nghề
1.4.1 Xây dựng kế hoạch
Việc thực thi chính sách đào tạo nghề cho lao động đặc thù quá trình tổ chức thực hiện diễn ra trong một thời gian dài, phức tạp, do đó việc tổ chức thực thi cần phải lập kế hoạch triển khai thực hiện chính sách hỗ trợ đào tạo nghề gồm các nội dung:
- Kế hoạch về tổ chức, điều hành: Xây dựng kế hoạch tổ chức, điều
hành phải dự kiến được các cơ quan liên quan, trong đó xác định cơ quan chủ trì và cơ quan phối hợp triển khai thực hiện chính sách; đảm bảo nguồn lực để triển khai thực hiện chính sách (số lượng, chất lượng nhân sự thực thi chính sách); phân công trách nhiệm của cán bộ quản lý và công chức thực thi, cơ chế phối hợp giữa các cơ quan thực thi chính sách
- Kế hoạch cung cấp các nguồn vật lực hỗ trợ : Xác định nguồn lực, vật
lực (các nguồn lực tài chính, cơ sở kiến trúc, trang thiết bị kỹ thuật, các vật tư, văn phòng phẩm, các điều kiện cần thiết khác) phục vụ cho tổ chức thực thi chính sách
- Kế hoạch thời gian thực hiện: Xác định thời gian triển khai thực hiện chính sách, các bước tổ chức triển khai thực hiện từ tuyên truyền đến tổng kết rút kinh nghiệm chính sách Mỗi bước đều có mục tiêu, thời gian thực hiện mục tiêu; trên cơ sở đó mỗi bước dự kiến chương trình cụ thể của chính sách
Trang 21- Kế hoạch đôn đốc, kiểm tra, giám sát việc thực thi chính sách: xây
dựng tiến độ thực hiện, hình thức thực hiện, phương pháp kiểm tra, giám sát việc tổ chức triển khai thực hiện chính sách
- Xây dựng những quy chế, nội quy trong thực thi chính sách bao gồm
nội quy, quy chế về tổ chức, điều hành; về trách nhiệm, nghĩa vụ và quyền hạn của cán bộ, công chức và các cơ quan nhà nước tham gia tổ chức điều hành chính sách; về các biện pháp khen thưởng, kỷ luật cá nhân, tập thể trong
tổ chức thực thi chính sách
- Xây dựng kế hoạch thực thi theo cấp độ phân cấp quản lý và được lãnh đạo cấp đó thông qua Sau khi được thông qua bằng quyết định hoặc văn bản, kế hoạch thực hiện chính sách được tổ chức, cá nhân công nhận giá trị pháp lý và chấp hành thực hiện Nếu cần điều chỉnh kế hoạch thì phải được cấp có thẩm quyền thông qua bằng quyết định hoặc văn bản tương ứng khi ban hành
1.4.2 Phổ biến, tuyên truyền thực hiện chính sách đào tạo nghề
Sau khi ban hành kế hoạch tổ chức thực hiện chính sách, các đơn vị, cá nhân có liên quan tiến hành triển khai tổ chức thực hiện theo kế hoạch Đầu tiên, triển khai công tác tuyên truyền cho toàn xã hội biết về chính sách, vận động nhân dân tham gia thực hiện chính sách Đây là bước triển khai quan trọng để thực hiện chính sách của các cơ quan liên quan và đối tượng thực thi chính sách
Qua việc tuyên truyền, phổ biến nội dung chính sách tốt giúp cho đối tượng, người dân tham gia thực thi chính sách hiểu rõ mục đích, yêu cầu, ý nghĩa của chính sách, tính đúng đắn, tính khả thi của chính sách trong điều kiện hoàn cảnh nhất định… để các đối tượng tự giác thực hiện theo yêu cầu của các cơ quan quản lý Nhà nước
Trang 22Đồng thời giúp mỗi cán bộ, công chức thực thi chính sách nhận thức được đầy đủ tính chất, quy mô, thời hạn… của chính sách để có thực thi nhận thức được đầy đủ tính chất, trình độ, quy mô của chính sách có trách nhiệm và chủ động tích cực tìm kiếm các giải pháp thích hợp cho việc thực hiện mục tiêu chính sách và triển khai thực thi đi vào cuộc sống của người dân, xã hội
và có hiệu quả kế hoạch tổ chức thực hiện chính sách được giao
Đồng thời giúp mỗi cán bộ, công chức có trách nhiệm tổ chức thực thi nhận thức được đầy đủ tính chất, trình độ, quy mô của chính sách với đời sống xã hội để chủ động tích cực tìm kiếm các giải pháp thích hợp cho việc thực hiện mục tiêu chính sách và triển khai thực thi có hiệu quả kế hoạch tổ chức thực hiện chính sách được giao
Nhằm nâng cao chất lượng tuyên truyền vận động, cần được tăng cường đầu tư nghiêm túc về phẩm chất chính trị, trình độ chuyên môn, trang thiết bị kỹ thuật, dụng cụ cá nhân…
Trong thực tế khi thực hiện công tác tuyên truyền, không ít cơ quan, địa phương do thiếu điều kiện, năng lực tuyên truyền, vận động, do đó đã làm cho chính sách không đến người dân một cách đúng đắn, bị biến dạng, làm cho lòng tin của dân chúng vào Đảng và Nhà nước bị giảm sút
Việc phổ biến, tuyên truyền chính sách cần phải được thực hiện thường xuyên, liên tục bằng nhiều hình thức khác nhau như: qua các phương tiện thông tin đại chúng, trao đổi với các đối tượng tiếp nhận, trực tiếp tiếp xúc…
1.4.3 Phân công, phối hợp thực hiện chính sách đào tạo nghề
Trên cơ sở kế hoach được phê duyệt, cơ quan ban hành kế hoạch chủ trì, phối hợp với các đơn vị, cá nhân liên quan phân công nhiệm vụ để tổ chức thực hiện chính sách Số lượng cá nhân và tổ chức tham gia thực thi chính sách là rất lớn, đối tượng tác động của chính sách là nhân dân và bộ máy tổ chức thực thi của Nhà nước, phạm vi rộng lớn, ít nhất là một địa phương, các
Trang 23hoạt động thực hiện mục tiêu chính sách diễn ra phức tạp nhiều nội dung phong phú, hình thức triển khai triển khai tại các thời điểm khác nhau, đan xen lẫn nhau, thúc đẩy hay kìm hãm nhau
Vì vậy, muốn tổ chức thực thi chính sách có hiệu quả thì phải tiến hành phân công rõ giữa các cơ quan, đơn vị, các cấp chính quyền địa phương liên quan tham gia thực thi chính sách Tác động của chính sách có thể đến lợi ích của một số bộ phận dân cư; tác động ảnh hưởng đến nhiều yếu tố, quá trình, các bộ phận khác nhau, nên cần phải phối hợp chúng lại để đạt yêu cầu quản
lý Việc phân công nhiệm vụ, công việc của các cơ quan đơn vị tham gia
Hoạt động phân công, phối hợp diễn ra theo tiến trình thực hiện chính sách hỗ trợ đào tạo nghề cho lao động đặc thù một cách chủ động, sáng tạo để thực hiện, duy trì chính sách được ổn định, nâng cao hiệu lực, hiệu quả của chính sách
1.4.4 Duy trì chính sách hỗ trợ đào tạo nghề
Duy trì chính sách là làm cho chính sách tồn tại được và phát huy tác dụng trong môi trường thực tế Để đạt được điều đó đòi hỏi phải có sự đồng tâm, hợp lực của cả người tổ chức, người thực thi và môi trường tồn tại Đối với các cơ quan Nhà nước - người chủ động tổ chức thực thi chính sách - phải thường xuyên quan tâm tuyên truyền, vận động các đối tượng chính sách và toàn xã hội tích cực tham gia thực thi chính sách
Nếu việc thực thi chính sách gặp phải những khó khăn do môi trường thực tế biến động, thì các cơ quan Nhà nước sử dụng hệ thống công cụ quản
lý tác động nhằm tạo lập môi trường thuận lợi cho việc thực thi chính sách, đồng thời chủ động điều chỉnh chính sách cho phù hợp với hoàn cảnh mới
Trong một chừng mực nào đó, để đảm bảo lợi ích chung của xã hội, các
cơ quan Nhà nước có thể kết hợp sử dụng các biện pháp hành chính để duy trì chính sách, bên cạnh đó, tăng cường thực hiện dân chủ để người dân mạnh
Trang 24dạn tham gia quản lý xã hội, trong đó tự giác chấp hành chính sách và tham gia tìm kiếm, đề xuất các biện pháp thực hiện mục tiêu
1.4.5 Điều chỉnh các giải pháp thực hiện chính sách đào tạo nghề
Trong quá trình thực thi chính sách hỗ trợ đào tạo nghề, do tác động của nhiều yếu tố, ảnh hưởng khác sẽ lộ ra những bất cập, không phù hợp với điều kiện thực tế Do đó, điều chỉnh chính sách là một trong những hoạt động cần thiết, thường xuyên triển khai trong tiến trình tổ chức thực thi chính sách Điều chỉnh chính sách được thực hiện bởi cơ quan nhà nước có thẩm quyền nhằm mục đích để chính sách ngày càng phù hợp với yêu cầu về quản lý và tình hình thực tế Theo quy định, cơ quan nào ban hành chính sách thì được quyền điều chỉnh, bổ sung chính sách, tuyv nhiên trên thực tế, việc điều chỉnh một số mục về các biện pháp, cơ chế chính sách diễn ra rất linh hoạt, vì thế cơ quan quản lý nhà nước các ngành, các cấp, địa phương chủ động điều chỉnh biện pháp, cơ chế chính sách phù hợp với tình hình thực tế để thực hiện có hiệu quả chính sách, miễn là không làm thay đổi mục tiêu của chính sách
Mục đích của việc điều chỉnh chính sách là để chính sách tiếp tục tồn tại, duy trì, một số nội dung được điều chỉnh các biện pháp, cơ chế thực hiện mục tiêu, hoặc bổ sung, hoàn chỉnh mục tiêu theo yêu cầu thực tế Nếu việc điều chỉnh làm thay đổi mục tiêu của chính sách thì coi như chính sách không tồn tại
Việc điều chỉnh chính sách đòi hỏi phải hợp lý, chính xác nếu không sẽ làm sai lệch, biến dạng mục tiêu của chính sách, làm cho chính sách trở nên kém hiệu quả, thậm chí không tồn tại được Do đó, các cơ quan quản lý nhà nước các cấp, các ngành, địa phương phải thường xuyên theo dõi, kiểm tra, giám sát, đôn đốc thực thi mới kịp thời phát hiện những sai sót để kịp thời kiến nghị, đề xuất hoạc điều chỉnh, bổ sung theo thẩm quyền
Trang 251.4.6 Theo dõi, kiểm tra, đôn đốc và tổng kết đánh giá rút kinh nghiệm công tác thực hiện chính sách đào tạo nghề
Thực thi chính sách hỗ trợ đào tạo nghề thực hiện trên địa bàn rộng và
do nhiều cơ quan, cá nhân tham gia thực hiện Trong quá trình thực thi chính sách, các điều kiện tác động ảnh hưởng đến tổ chức thực hiện như về chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội và môi trường ở các vùng, miền, địa phương khác nhau; trình độ, năng lực của cán bộ, công chức thực hiện trong các cơ quan nhà nước không đồng đều, do đó, các cơ quan nhà nước có thẩm quyền phải thường xuyên theo dõi, kiểm tra, đôn đốc việc thực thi chính sách
Qua đó, các mục tiêu và biện pháp của chính sách lại được khẳng định
để nhắc nhở mỗi cán bộ, công chức, mỗi đối tượng thực thi chính sách tập trung chú ý những nội dung ưu tiên trong quá trình thực thi chính sách Căn
cứ kế hoạch kiểm tra, giám sát đã được phê duyệt, các cơ quan, tổ chức, cá nhân có trách nhiệm thực hiện hoạt động kiểm tra nhiêm túc và hiệu quả Mục đích việc kiểm tra, giám sát giúp cho cơ quan quản lý biết được tiến độ, tình hình thực thi chính sách, cụ thể:
- Đánh giá tiến độ thực hiện, kết quả thực hiện một cách khách quan, phân tích được những điểm mạnh, điểm yếu của công tác tổ chức thực thi chính sách;
- Phát hiện những thiếu sót trong công tác lập kế hoạch tổ chức thực thi
để điều chỉnh;
- Tăng cường trách nhiệm của các cơ quan, đơn vị, cá nhân trong quá trình chủ trì, phối hợp từ đó tạo ra sự tập trung thống nhất trong việc thực hiện mục tiêu chính sách
- Từ đó phát huy, khuyến khích những nhân tố tích cực trong việc thực thi chính sách để tạo ra những phong trào thiết thực giữa các tổ chức, cá nhân
có liên quan trong việc thực hiện mục tiêu chính sách
Trang 261.5 Các yếu tố ảnh hưởng đến thực hiện chính sách hỗ trợ đào tạo nghề
1.5.1 Xu hướng lựa chọn ngành nghề
Cùng với đó cơ cấu kinh tế thành phố sẽ chuyển dịch theo hướng phát triển mạnh các ngành dịch vụ và công nghiệp, nông nghiệp công nghệ cao đang và sẽ đặt ra cho lĩnh vực giáo dục nghề nghiệp những yêu cầu, nhiệm vụ mới để đảm bảo cung cấp một đội ngũ lao động kỹ thuật đủ về số lượng, có kiến thức, kỹ năng, văn hoá nghề và cơ cấu ngành nghề, trình độ phù hợp; đồng thời, phải đi trước một bước để góp phần chuẩn bị nguồn nhân lực chất lượng cao phục vụ phát triển KT-XH trong giai đoạn mới Vì vậy, việc từng bước đa dạng hóa chuyên ngành đào tạo của các cơ sở giáo dục nghề nghiệp
là rất cần thiết nhằm phát triển nguồn nhân lực thành phố đáp ứng yêu cầu chuyển dịch cơ cấu kinh tế, chuyển đổi mô hình tăng trưởng từ phát triển theo chiều rộng sang phát triển theo chiều sâu
Đầu tư mở rộng các ngành nghề công nghệ cao, công nghiệp công nghệ thông tin, ưu tiên phát triển các ngành có hàm lượng khoa học và công nghệ; thân thiện với môi trường như: sản phẩm thiết bị điện, tự động hóa, phần mềm tin học, điện tử, vật liệu mới, cơ khí chính xác, cơ khí chế tạo, công nghiệp chế biến hàng xuất khẩu
Ưu tiên đào tạo các ngành nghề chuyển dịch cơ cấu trong nông nghiệp; đào tạo một số ngành nghề kỹ thuật trồng cây, kỹ thuật trồng rau sạch, sinh vật cảnh, nuôi trồng thủy sản, kỹ thuật nuôi cấy mô, chọn và phân giống cây trồng vật nuôi, kỹ thuật chế biến bảo quản, thuyền trưởng máy trưởng…
Tập trung đào tạo khối ngành nghề kỹ thuật và dịch vụ - quản trị, cụ thể: phát triển kinh tế biển, thương mại điện tử, dịch vụ chăm sóc gia đình, kết cấu hạ tầng giao thông đô thị, tự động hóa, an ninh mạng, quản lý giao thông
đô thị, quản lý đô thị
Trang 271.5.2 Phát triển kinh tế của địa phương
Mục tiêu của Đại hội Đảng bộ thành phố đến năm 2020 là phát huy dân chủ và sức mạnh đại đoàn kết toàn dân, năng động, sáng tạo, huy động mọi nguồn lực xây dựng và phát triển thành phố Đà Nẵng trở thành một trong những đô thị lớn của cả nước, là trung tâm kinh tế, văn hóa - xã hội, phát triển của khu vực miền Trung - Tây Nguyên; là địa phương giữ vị trí chiến lược quan trọng về an ninh, quốc phòng của cả nước; phấn đấu xây dựng thành phố
Đà Nẵng giàu đẹp, an bình, văn minh, hiện đại
Theo Quy hoạch chung thành phố Đà Nẵng đến năm 2030 và tầm nhìn đến năm 2050 theo Quyết định số 2357/QĐ-TTg ngày 04/12/2013 của Thủ tướng Chính phủ về việc phê duyệt điều chỉnh quy hoạch chung thành phố Đà Nẵng đến năm 2030 và tầm nhìn đến năm 2050, dự báo quy mô dân số thành phố năm 2020 khoảng 1,6 triệu người, trong đó dân số đô thị chiếm khoảng 1,3 triệu người; đến năm 2030 là khoảng 2,5 triệu người (bao gồm dân số tạm trú và dân số quy đổi lượng khách du lịch ước tính năm 2030) và dân số đô thị trong đó khoảng 2,3 triệu người Bên cạnh đó, cùng với những định hướng phát triển kinh tế - xã hội của thành phố theo hướng đưa Đà Nẵng trở thành địa bàn có sức thúc đẩy phát triển kinh tế các vùng phụ cận; chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng dịch vụ - công nghiệp và xây dựng, trong đó du lịch được xem là ngành kinh tế mũi nhọn; dự báo đến năm 2020, GRDP thành phố chiếm khoảng 2,8% GDP của cả nước với tốc độ tăng bình 8-9%/năm; Cơ cấu GRDP: Dịch vụ 63 - 65%; Công nghiệp - Xây dựng 35 - 37% và Nông nghiệp
1 - 2% GRDP bình quân đầu người ước đạt 4.000 - 4.500 USD
1.5.3 Tác động của các cơ chế, chính sách phát triển kinh tế - xã hội
Mục tiêu của Đảng đề ra là đến năm 2020, nước ta cơ bản trở thành một nước công nghiệp theo hướng hiện đại Mục tiêu này đang đòi hỏi chúng ta vừa phải khắc phục tình trạng lạc hậu về trình độ phát triển của lực lượng sản
Trang 28xuất, vừa phải tranh thủ sự hợp tác và ủng hộ quốc tế, đặc biệt là của những nước có trình độ phát triển cao về lực lượng sản xuất và trình độ khoa học tiên tiến để đi thẳng vào công nghệ hiện đại và kinh tế tri thức Điều kiện để giải quyết đồng thời hai nhiệm vụ này là phát triển giáo dục và đào tạo
Không có nguồn nhân lực chất lượng cao, chúng ta không thể đẩy nhanh tốc độ tăng trưởng kinh tế Thực tế hiện nay cho thấy rằng, đóng góp vào tốc độ tăng trưởng kinh tế và sự phát triển của lực lượng sản xuất có nhiều yếu tố, nhưng trong đó, khoa học và công nghệ, trí tuệ và chất xám là yếu tố đóng vai trò quan trọng nhất Vì thế, nâng cao dân trí, bồi dưỡng và phát huy nguồn lực con người Việt Nam vừa là một trong những động lực mạnh mẽ cho sự phát triển kinh tế tri thức, vừa là mục đích của sự phát triển kinh tế tri thức
Từ nay đến năm 2035, Việt Nam sẽ phải đối mặt với cơ cấu dân số biến động rất mạnh Trong hai thập niên vừa qua, đất nước đã được hưởng “lợi thế từ
cơ cấu dân số vàng” - tỷ trọng dân số trong độ tuổi lao động cao đã giúp đẩy mạnh tăng trưởng kinh tế Lợi thế đó nay đã hết dần, tỷ lệ số dân trong độ tuổi lao động đạt đỉnh vào năm 2013 và đang trên đà đi xuống Theo dự báo của Liên hiệp quốc,
số người trong độ tuổi lao động bắt đầu giảm tuyệt đối ngay sau năm 2035 Quan trọng hơn, quy mô dân số đã tiến đến điểm ngoặt về dân số cao tuổi vào năm 2015
và sắp tới sẽ trở thành một trong những quốc gia có dân số bị già hóa nhanh nhất thế giới Số người trên 65 tuổi sẽ tăng từ 6,3 triệu người hiện nay lên 15,5 triệu Tỷ trọng dân số trên 65 tuổi sẽ tăng từ 6,7% năm 2015 lên 14,4% năm 2035, biến quốc gia từ một xã hội dân số trẻ thành xã hội dân số già
Hệ quả của sự biến động dân số này là: Thứ nhất, dân số trong độ tuổi
lao động giảm xuống có nghĩa là động lực chính thúc đẩy tăng trưởng thu nhập đầu người sẽ yếu đi, khiến cho tăng cường đầu tư chiều sâu cho vốn con người và các nhân tố đẩy mạnh tăng trưởng năng suất khác càng trở nên thiết
Trang 29yếu hơn nếu muốn duy trì bền vững tăng trưởng cao Thứ hai, các gánh nặng
về chi hưu trí và hệ thống y tế sẽ là những thách thức nghiêm trọng đối với
ngân sách nhà nước Thứ ba, cơ chế, thể chế để đảm bảo chăm sóc người cao
tuổi sẽ nhanh chóng trở thành một vấn đề lớn cần quan tâm
1.5.4 Thị trường lao động, giải quyết việc làm
Công tác dự báo nhu cầu lao động động giai đoạn 2018 - 2025, định hướng đến năm 2030 của thành phố Đà Nẵng được thực hiện dựa trên căn cứ Nghị quyết Đại hội đại biểu Đảng bộ thành phố lần thứ XXI, Chương trình hành động số 06-CTr/TU ngày 16/5/2016 của Thành ủy Đà Nẵng thực hiện Nghị quyết Đại hội lần thứ XII của Đảng, Nghị quyết số 135/2015/NQ-HĐND ngày 10 tháng 12 năm 2015 của Hội đồng nhân dân thành phố Đà Nẵng về Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 5 năm 2016 - 2020
Ngày 24/01/2019, Bộ Chính trị ban hành Nghị quyết số 43-NQ/TW về xây dựng và phát triển thành phố Đà Nẵng đến năm 2030, tầm nhìn đến năm
2045, trong thời gian đến, thành phố Đà Nẵng tập trung phát triển 3 trụ cột chính: Du lịch, công nghiệp công nghệ cao và kinh tế biển; bảo đảm quốc phòng, an ninh, chủ quyền biển, đảo, trật tự, an toàn xã hội; chú trọng phát triển 5 lĩnh vực mũi nhọn của thành phố: (1) Du lịch và dịch vụ chất lượng cao gắn với bất động sản nghỉ dưỡng; (2) Cảng biển, hàng không gắn với dịch
vụ logistics; (3) Công nghiệp công nghệ cao gắn với xây dựng đô thị sáng tạo, khởi nghiệp; (4) Công nghiệp công nghệ thông tin, điện tử, viễn thông gắn với nền kinh tế số; (5) Sản phẩm nông nghiệp công nghệ cao và ngư nghiệp
Bên cạnh đó, công tác dự báo được thực hiện trên cơ sở phân tích việc làm và GRDP của các ngành trong giai đoạn 2006 - 2015, dùng phương pháp
độ co giãn việc làm đối với GRDP để dự báo việc làm gắn với phương án tăng trưởng đã xác định
Trang 301.5.5 Năng lực thực hiện chính sách của đội ngũ cán bộ, công chức
Đội ngũ cán bộ công chức có ảnh hưởng lớn đến thực hiện chính sách
hỗ trợ đào tạo nghề ở nước ta hiện nay Muốn thực hiện chính sách tốt trước hết trình độ, năng lực của đội ngũ cán bộ, công chức tham gia thực hiện chính sách phải đảm bảo đáp ứng được yêu cầu công việc, đây là yếu tố quyết định chất lượng, hiệu quả của việc thực hiện chính sách
1.5.6 Điều kiện cơ sở vật chất, nguồn nhân lực
Điều kiện cơ sở vật chất cũng là yếu tố quyết định sự thành công cho quá trình thực hiện chính sách hỗ trợ đào tạo nghề Điều kiện được Nhà nước luôn quan tâm thông qua các giải pháp cung cấp cơ sở vật chất, các nguồn lực vật chất và nhân sự, trong đó nguồn lực vật chất cần tăng nhanh cả về số lượng và chất lượng Trong thực tế, do thiếu các điều kiện vật chất, kỹ thuật cho trong việc thực hiện chính sách thì các cơ quan nhà nước khó có thể thực hiện được các mục tiêu của chính sách
Trang 31Tiểu kết Chương 1
Đào tạo lao động là một trong 10 chỉ số thành phần thể hiện năng lực điều hành của chính quyền thành phố và trong những năm qua đã góp phần nâng cao chỉ số năng lực cạnh tranh của Đà Nẵng Từ năm 1998 đến nay, lĩnh vực giáo dục nghề nghiệp ở thành phố Đà Nẵng đã từng bước được đổi mới
và phát triển, đáp ứng ngày càng tốt hơn nhu cầu nhân lực kỹ thuật trực tiếp trong sản xuất kinh doanh, dịch vụ, góp phần chuyển đổi cơ cấu kinh tế, cơ cấu lao động, phát triển con người, đóng góp tích cực vào quá trình phát triển của thành phố
Chương 1 của Luận văn đã trình bày khái quát những vấn đề lý luận cơ bản về đào tạo nghề, chính sách hỗ trợ đào tạo nghề cho LĐNT; các quan điểm, mục tiêu, đặc điểm và đặc trưng của công tác đào tạo nghề; nội dung của chính sách hỗ trợ đào tạo nghề; nội dung của thực hiện chính sách hỗ trợ đào tạo nghề và các nhân tố ảnh hưởng đến quá trình thực hiện chính sách này
Trên cơ sở nội dung trình bày ở Chương 1 sẽ làm tiền đề cần thiết trong việc đánh giá khái quát thực trạng tình hình thực hiện chính sách hỗ trợ đào tạo nghề cho lao động đặc thù của thành phố Đà Nẵng sẽ được trình bày trong Chương 2 tiếp theo
Trang 32CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH
HỖ TRỢ ĐÀO TẠO NGHỀ CHO LAO ĐỘNG ĐẶC THÙ
TẠI THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG
2.1 Khái quát về điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội
2.1.1 Đặc điểm về điều kiện tự nhiên
Thành phố Đà Nẵng có diện tích tự nhiên là 1.283,42 km2; trong đó, các quận nội thành chiếm diện tích 241,51 km2, các huyện ngoại thành chiếm diện tích 1.041,91 km2; gồm vùng đất liền và vùng quần đảo trên biển Đông
Có vị trí nằm ở 15055' đến 16014' vĩ độ Bắc, 107018' đến 108020' kinh độ Đông, phía Bắc giáp tỉnh Thừa Thiên - Huế, phía Tây và phía Nam giáp tỉnh Quảng Nam, phía Đông giáp Biển Đông Vùng biển gồm quần đảo Hoàng Sa nằm ở 15045’ đến 17015’ vĩ độ Bắc, 1110 đến 1130 kinh độ Đông, cách đảo
Lý Sơn, tỉnh Quảng Ngãi khoảng 120 hải lý về phía Nam
Thành phố Đà Nẵng có 08 đơn vị hành chính cấp quận, huyện, với 06 quận: Hải Châu, Thanh Khê, Sơn Trà, Ngũ Hành Sơn, Cẩm Lệ, Liên Chiểu và
02 huyện: Hòa Vang, huyện đảo Hoàng Sa Tương ứng với đó là 45 phường
và 11 xã Tổng dân số toàn thành phố ước tính: 1.064.000 người, trong đó số người trong độ tuổi lao động (từ 15 tuổi trở lên) là 567.646 người; cơ cấu kính
tế của thành phố là: Thương mại dịch vụ 55,50%, công nghiệp xây dựng 42,10%, nông lâm ngư nghiệp 2,40% Sau khi thành phố Đà nẵng là thành phố trực thuộc Trung ương, đã tích cực đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng, mở rộng và chỉnh trang đô thị, cải thiện môi trường, nâng cao đời sống của người dân thành phố và được coi là "thành phố đáng sống" của Việt Nam
2.1.2 Đặc điểm về kinh tế - xã hội
Đà Nẵng có vị trí trọng yếu cả về kinh tế - xã hội và quốc phòng - an ninh,
Trang 33là đầu mối giao thông quan trọng về đường bộ, đường sắt, đường biển và đường hàng không; là thành phố nằm trong vùng kinh tế trọng điểm miền Trung đóng vai trò hạt nhân tăng trưởng, tạo động lực thúc đẩy phát triển cho cả khu vực miền Trung và Tây Nguyên Bên cạnh đó, Đà Nẵng còn là một trong những cửa ngõ chính ra biển đông của các tỉnh Miền Trung - Tây Nguyên và các nước Lào, Campuchia, Thái Lan, Myanma đến các nước vùng Đông Bắc Á thông qua Hành lang kinh tế Đông Tây với điểm kết thúc là Cảng biển Tiên Sa, nằm ngay trên một trong những tuyến đường biển và đường hàng không quốc tế nên có nhiều cơ hội đẩy mạnh hợp tác phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội và nâng cao mức sống cho người dân; tạo khả năng cho các doanh nghiệp tiếp cận tốt hơn các vùng nguyên liệu, thị trường dịch vụ, vốn, công nghệ và lao động tạo điều kiện thuận lợi cho việc đầu tư và buôn bán qua biên giới, đa dạng hóa hoạt động kinh tế và xuất khẩu, thúc đẩy phát triển du lịch; là thành phố Đà Nẵng có một vị trí địa lý đặc biệt thuận lợi cho sự phát triển nhanh chóng và bền vững
Theo Nghị quyết số 33-NQ/TW ngày 16/10/2003 của Bộ Chính trị về xây dựng và phát triển thành phố Đà Nẵng trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa, với mục tiêu xây dựng Đà Nẵng trở thành một trong những thành phố lớn của cả nước, là trung tâm kinh tế - xã hội lớn của miền Trung, đặc biệt là trung tâm giáo dục - đào tạo, khoa học công nghệ của khu vực Bên cạnh đó, thành phố Đà Nẵng đang hướng đến mục tiêu phát triển các ngành công nghiệp công nghệ cao như công nghệ thông tin, vật liệu mới, tự động hóa, điện tử, công nghệ sinh học,… và trở thành trung tâm y tế chuyên sâu của khu vực miền Trung - Tây Nguyên với nhiều trung tâm y tế, bệnh viện chuyên khoa có quy mô lớn
Nghị quyết Đại hội lần thứ XX và XXI Đảng bộ thành phố Đà Nẵng tiếp tục xác định phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao là một trong những
Trang 34hướng đột phá của chiến lược phát triển kinh tế - xã hội thành phố Đà Nẵng trong thời gian đến Đào tạo nguồn nhân lực có chất lượng là góp phần nâng cao năng lực cạnh tranh của một địa phương, một quốc gia trong tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế, trong đó, giáo dục nghề nghiệp đóng vai trò hết sức quan trọng
Ngày 24/01/2019, Bộ Chính trị ban hành Nghị quyết số 43-NQ/TW về xây dựng và phát triển thành phố Đà Nẵng đến năm 2030, tầm nhìn đến năm
2045, với mục tiêu đến năm 2030 xây dựng thành phố Đà Nằng trở thành một trong những trung tâm kinh tế - xã hội lớn của cả nước và Đông Nam Á, là trung tâm về khởi nghiệp, đổi mới sáng tạo, du lịch, thương mại, tài chính, logistics, công nghiệp công nghệ cao, công nghệ thông tin, công nghiệp hỗ trợ; là trung tâm văn hoá - thể thao, giáo dục - đào tạo, y tế chất lượng cao, khoa học - công nghệ phát triển của đất nước; thành phổ cảng biển, đô thị biển quốc tế, vùng kinh tế trọng điểm miền Trung - Tây Nguyên; trở thành đô thị sinh thái, hiện đại và thông minh; tầm nhìn đến năm 2045 thành phố Đà Nằng trở thành đô thị lớn, sinh thái và thông minh, là trung tâm khởi nghiệp, đổi mới sáng tạo và thành phố biển đáng sống đạt đẳng cấp khu vực Châu Á
2.2 Thực trạng đào tạo nghề tại thành phố Đà Nẵng
2.2.1 Số lượng cơ sở đào tạo
Hiện này, trên địa bàn thành phố hiện có 64 cơ sở đào tạo nghề; trong
đó, 20 trường cao đẳng; 06 trường trung cấp; 11 trung tâm đào tạo nghề và 27
cơ sở khác có đăng ký hoạt động đào tạo nghề Cơ sở đào tạo nghề do địa phương quản lý là 50 cơ sở, chiếm 78,13%; các bộ, ngành Trung ương quản
lý là 14 cơ sở, chiếm 21,88% Có 17 cơ sở đào tạo nghề công lập, chiếm 26,56%; 44 cơ sở đào tạo tư thục, chiếm 68,75%; 01 cơ sở 100% vốn đầu tư nước ngoài, chiếm 1,56% và 02 cơ sở thuộc doanh nghiệp nhà nước, chiếm 3,13%
Trang 35Bảng 2.1 Phân bố cơ sở giáo dục nghề nghiệp trên địa bàn TP Đà Nẵng
- Năm 2011, tuyển sinh mới 45.720 người, trong đó trình độ cao đẳng nghề 3.350 người, trung cấp nghề 8.200 người, sơ cấp nghề và dạy nghề thường xuyên 34.170 người, với 132 nghề, các nghề thuộc nhóm nghề nông lâm ngư nghiệp chiếm 3,3%, công nghiệp xây dựng chiếm 31,5% và thương mại dịch vụ chiếm 65,2%
- Năm 2012, tuyển sinh mới 44.189 người, trong đó trình độ cao đẳng nghề 4.411 người, trung cấp nghề 4.515 người, sơ cấp nghề và dạy nghề thường xuyên 35.263 người, với 133 nghề, các nghề thuộc nhóm nghề nông
Trang 36lâm ngư nghiệp chiếm 3,3%, công nghiệp xây dựng chiếm 31,5% và thương mại dịch vụ chiếm 65,2%
- Năm 2013, tuyển sinh mới 43.206 người, trong đó trình độ cao đẳng nghề 3.774 người, trung cấp nghề 2.725 người, sơ cấp nghề và dạy nghề thường xuyên 36.707 người, với 92 nghề, trong đó các nghề thuộc nhóm thương mại dịch vụ chiếm 71,3%, nhóm công nghiệp, xây dựng chiếm 27,1%
và nhóm nông lâm ngư nghiệp chiếm 1,6%
- Năm 2014, tuyển sinh mới 44.633 người, trong đó trình độ cao đẳng nghề 3.682 người, trung cấp nghề 1.740 người, sơ cấp nghề và dạy nghề thường xuyên 39.211 người Cơ cấu ngành nghề tuyển sinh ở các cấp trình
độ, trong đó các nghề thuộc nhóm thương mại dịch vụ chiếm 75,43%, nhóm công nghiệp, xây dựng chiếm 22,97% và nhóm nông lâm ngư nghiệp chiếm 1,60%
- Năm 2015, tuyển sinh mới 45.080 người Trong đó: trình độ cao đẳng nghề 2.703 người, trình độ trung cấp nghề 1.811 người, sơ cấp nghề và đào tạo nghề dưới 03 tháng 40.566 người Nâng tỉ lệ lao động qua đào tạo nghề lên 45%
- Năm 2016, tuyển sinh mới 45.200 người Trong đó: trình độ cao đẳng nghề 2.702 người, trình độ trung cấp nghề 1.668 người, sơ cấp nghề và đào tạo nghề dưới 03 tháng 40.830 người Nâng tỉ lệ lao động qua đào tạo nghề lên 47,1%
Năm 2017, tuyển mới 48.173 học sinh, sinh viên Trong đó: trình độ cao đẳng 8.126 sinh viên, trình độ trung cấp 3.209 học viên, sơ cấp và đào tạo dưới
03 tháng 36.838 học viên Nâng tỷ lệ lao động qua đào tạo nghề lên 49,15%;
Năm 2018, tuyển sinh 54.300 học sinh sinh viên Trong đó: trình độ cao đẳng 8.948 sinh viên, trình độ trung cấp 2.772 học viên, sơ cấp và đào tạo dưới 03 tháng 42.580 học viên Tỷ lệ lao động qua đào tạo nghề đạt 51,07%
Trang 37Bảng 2.2 Kết quả tuyển sinh giai đoạn 2010 - 2018
ĐVT: Học sinh, sinh viên
Nguồn: Sở Lao động - Thương binh và Xã hội Đà Nẵng
2.2.3 Quy mô đào tạo
Giai đoạn 2010 - 2018, bình quân hằng năm các cơ sở giáo dục nghề nghiệp trên địa bàn thành phố tuyển sinh mới là 41.343 học sinh, sinh viên/năm; trong đó, trình độ cao đẳng chiếm 28,71%, trình độ trung cấp chiếm 11,74%, trình độ sơ cấp chiếm 46,18% và trình độ đào tạo dưới 03 tháng chiếm 13,37% Cũng trong giai đoạn này, bình quân hằng năm các cơ
sở giáo dục nghề nghiệp tốt nghiệp là 38.081 học sinh, sinh viên/năm Trong
đó, trình độ trình độ cao đẳng tốt nghiệp chiếm 26,58%, trình độ trung cấp tốt nghiệp chiếm 12,70%, trình độ sơ cấp tốt nghiệp chiếm 46,76% và trình độ đào tạo dưới 03 tháng tốt nghiệp chiếm 13,95%
2.2.4 Tình hình đầu tư cơ sở vật chất, thiết bị đào tạo
Năm 2010 tổng diện tích sử dụng của các cơ sở giáo dục nghề nghiệp là 798.888 m2, trong đó cơ sở công lập chiếm 74,61%, cơ sở ngoài công lập chiếm 25,39%
Đến năm 2018, tổng diện tích sử dụng của các cơ sở giáo dục nghề nghiệp tăng gần 40% (1.113.170 m2); trong đó, 111.484 m2 xây dựng 1.022 phòng học
lý thuyết; 97.150 m2 xây dựng 519 phòng thực hành; 111.537 m2 xây dựng 104
Trang 38xưởng thực hành; 11.677 m2 xây dựng 87 thư viện; 24.548 m2 xây dựng 438 phòng hiệu bộ và 89.738 m2 xây dựng 1.491 phòng ký túc xá
Đối với các cơ sở giáo dục nghề nghiệp công lập, nguồn kinh phí đầu tư chủ yếu từ nguồn kinh phí của của trung ương và địa phương, được trang bị thiết bị đào tạo, dụng cụ học tập tương đối đồng bộ Trong khi đó, một số cơ
sở giáo dục nghề nghiệp tư thục do chi phí đầu tư thấp nên đã chọn những ngành nghề đào tạo ít phải phải đầu tư cơ sở vật chất, trang thiết bị đào tạo, dụng cụ học tập, dẫn đến chất lượng đào tạo hạn chế, không đáp ứng nhu cầu
xã hội
2.2.5 Năng lực đào tạo nghề
2.2.5.1 Đội ngũ giáo viên, giảng viên và cán bộ quản lý
a Đội ngũ giáo viên, giảng viên
Đội ngũ giáo viên, giảng viên trong lĩnh vực giáo dục nghề nghiệp trên địa bàn thành phố hiện có 2.214 nhà giáo và đa số đạt trình độ từ đại học trở lên Trong đó, nhà giáo có trình độ trên đại học là 980 người chiếm 44,26%, trình độ đại học, cao đẳng là 722 người chiếm 32,61% và còn lại là trình độ trung cấp và công nhân kỹ thuật với 512 người chiếm 23,13% Trình độ đào tạo của đội ngũ nhà giáo trong thời gian qua đã được cải thiện, trong đó cơ cấu các nhà giáo có trình độ thạc sĩ và tiến sĩ được cải thiện đáng kể Tỷ trọng đội ngũ giáo viên, giảng viên có trình độ trên đại học đã được cải thiện từ 9,35% năm 2010 lên 44,26% năm 2018 và đội ngũ có Trung cấp/Công nhân kỹ thuật giảm từ 27,68% năm 2010 xuống 23,13% năm 2018
Trang 39Bảng 2.3 Trình độ đội ngũ giáo viên, giảng viên giáo dục nghề nghiệp
ĐVT: Người
TT Trình độ
2010 2018
Số lượng
Tỷ lệ (%)
Số lượng
Tỷ lệ (%)
1 Trên đại học 130 9,35 980 44,26
2 Đại học, cao đẳng 876 62,97 722 32,61
3 Trung cấp/Công nhân kỹ thuật 385 27,68 512 23,13
Nguồn: Sở Lao động Thương binh và xã hội Đà nẵng
- Về trình độ kỹ năng nghề: hiện có 28 nhà giáo có trình độ kỹ năng
nghề quốc gia chiếm 1,32%, 12 nhà giáo có bậc thợ chiếm 0,57%, 38 nhà giáo
có chứng chỉ kỹ năng thực hành nghề chiếm 1,79% và 08 nhà giáo kỹ năng nghề nghiệp khác chiếm 0,38%
- Về nghiệp vụ sư phạm, năm 2018 có 1.852 nhà giáo đạt chuẩn về
nghiệp vụ sư phạm chiếm 87,28% tăng mạnh so với năm 2011
- Về trình độ ngoại ngữ và tin học, năm 2018 có 1.350 nhà giáo đạt
chuẩn về ngoại ngữ chiếm 63,62% và có 1.313 nhà giáo đạt chuẩn về tin học chiếm 61,88%
Bảng 2.4 Nghiệp vụ sư phạm, trình độ tiếng Anh và Tin học của đội ngũ nhà
giáo đào tạo nghề năm 2018
ĐVT: Người
Đạt chuẩn
Chưa đạt
Tỷ lệ (%) đạt chuẩn
Đạt chuẩn
Chưa đạt
Tỷ lệ (%) đạt chuẩn
Trang 40b Đội ngũ cán bộ quản lý
Chất lượng của đội ngũ này đã được cải thiện đáng kể Trong đó, đội ngũ cán bộ quản lý có trình độ tiến sĩ chiểm 7,57%, trình độ thạc sĩ chiếm 50,99%, trình độ đại học chiếm 35,20%, trình độ cao đẳng chiếm 2,30% và trình độ trung cấp/công nhân kỹ thuật chiếm 3,95%
Bảng 2.5 Trình độ đội ngũ cán bộ quản lý giáo dục nghề nghiệp
Nguồn: Sở Lao động - Thương binh và Xã hội Đà Nẵng
2.2.5.2 Chương trình, giáo trình đào tạo
Qua khảo sát (Năm 2018), hầu hết các cơ sở đào tạo nghề trình độ trung cấp và cao đẳng đều đã xây dựng chương trình đào tạo Hiện có 634 chương trình đào tạo, trong đó có 201 chương trình đào tạo trình độ cao đẳng, 195 chương trình đào tạo trình độ trung cấp, 204 chương trình đào tạo trình độ sơ cấp và 34 chương trình đào tạo dưới 3 tháng Trong đó, có 577 (91,01%) chương trình đào tạo đã thẩm định và ban hành; 11 (1,74%) chương trình đào tạo sử dụng chương trình đào tạo của các Bộ, ngành Một số cơ sở đào tạo đã xây dựng chương trình hiện đại, tiếp cận với một số chương trình đào tạo nghề ở một số trường nước ngoài và nhu cầu thị trường lao động Bên cạnh đó, đã thẩm định và ban hành tổng cộng 400 (69,32%) giáo trình đào tạo, trong đó có 125