Liên hệ đến huyện Sơn Tây Quảng Ngãi vốn có bề dày truyền thống cách mạng và của Khu 7 cũ khu V hiện nay trong công cuộc giải phóng toàn tỉnh Quảng Ngãi ngày 24-3-1975, để đền đáp và tri
Trang 1VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
NGUYỄN VIẾT CHƯỞNG
THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH ĐỐI VỚI NGƯỜI CÓ CÔNG TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN SƠN TÂY, TỈNH QUẢNG NGÃI
LUẬN VĂN THẠC SĨ CHÍNH SÁCH CÔNG
HÀ NỘI, năm 2019
Trang 2VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
NGUYỄN VIẾT CHƯỞNG
THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH ĐỐI VỚI NGƯỜI CÓ CÔNG TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN SƠN TÂY, TỈNH QUẢNG NGÃI
Chuyên ngành : Chính sách công
Mã số : 8 34 04 02
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
TS PHAN THỊ SÔNG THƯƠNG
HÀ NỘI, năm 2019
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi
Các số liệu và kết quả nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng được công bố trong bất kỳ công trình nào khác
Tác giả
NGUYỄN VIẾT CHƯỞNG
Trang 4MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1 CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH ĐỐI VỚI NGƯỜI CÓ CÔNG 8
1.1 Người có công và chính sách ưu đãi người có công 8 1.2 Nội dung và quy trình thực hiện chính sách đối với người có công……… 19 1.3 Những yêu cầu cơ bản đối với việc tổ chức thực hiện chính sách người có công 25 1.4 Các nhân tố ảnh hưởng đến thực hiện chính sách người có công 27
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH ĐỐI VỚI NGƯỜI CÓ CÔNG TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN SƠN TÂY, TỈNH QUẢNG NGÃI 31
2.1 Điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội của huyện Sơn Tây 31 2.2 Thực trạng quá trình triển khai chính sách đối với NCC ở huyện Sơn Tây 35 2.3 Kết quả thực hiện chính sách đối với NCC trên địa bàn huyện Sơn Tây 43 2.4 Đánh giá chung về thực hiện chính sách đối với người có công trên địa bàn huyện Sơn Tây 54
CHƯƠNG 3: GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH ĐỐI VỚI NGƯỜI CÓ CÔNG TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN SƠN TÂY, TỈNH QUẢNG NGÃI 62
3.1 Dự báo những tác động ảnh hưởng đến thực hiện chính sách đối với người có công trên địa bàn huyện Sơn Tây 62 3.2 Quan điểm, định hướng hoàn thiện chính sách và bảo đảm thực hiện chính sách đối với người có công 65
Trang 53.3 Giải pháp nâng cao hiệu quả thực hiện chính sách đối với người có công trên địa bàn huyện Sơn Tây, tỉnh Quảng Ngãi 68 3.4 Khuyến nghị đối với huyện Sơn Tây 77
KẾT LUẬN 79 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
Trang 6DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
03 BMVNAH Bà mẹ Việt Nam anh hùng
06 KT-XH Kinh tế - xã hội
08 LĐ-TB&XH Lao động Thương binh - xã hội
09 UBMTTQ Ủy ban Mặt trận tổ quốc
11 TBLS Thương binh liệt sỹ
12 TN-MT Tài nguyên – Môi trường
Trang 7DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU
Số hiệu
2.1 Số lượng người có công hưởng trợ cấp ưu đãi hàng
2.2 Tổng số thẻ BHYT đã cấp cho các đối tượng NCC
Trang 8MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Trong lịch sử đấu tranh chống giặc ngoại xâm của dân tộc ta, nhất là trãi qua hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ đã có biết bao người ngã xuống vì tổ quốc quyết sinh; có biết bao bà mẹ đã tiễn con đi và khóc thầm lặng lẽ, có biết bao nhiêu chàng trai trẻ đã xếp bút nghiên và tạm biệt mái trường thân yêu để lên đường ra trận… để rồi trong số họ có người mãi mãi không trở về, có những người đã mất đi một phần thân thể của mình hoặc mang trong mình di chứng suốt đời Để ghi nhớ và đền đáp công ơn những người đã có công với nước trên mọi miền Tổ quốc, Đảng và Nhà nước
ta hàng năm đã có hệ thống các chính sách đối với người có công (NCC) và tổ chức thực thi chính sách cùng với các cơ chế huy động mọi nguồn lực tốt nhất góp phần tạo lập sự ổn định và cải thiện đời sống NCC
Liên hệ đến huyện Sơn Tây (Quảng Ngãi) vốn có bề dày truyền thống cách mạng và của Khu 7 cũ (khu V hiện nay) trong công cuộc giải phóng toàn tỉnh Quảng Ngãi ngày 24-3-1975, để đền đáp và tri ân NCC và gia đình NCC trên địa bàn huyện, nhiều năm qua chính quyền huyện Sơn Tây đã tổ chức thực thi căn bản các chính sách của Nhà nước đối với NCC; huy động cả hệ thống chính trị từ huyện đến xã; và xã hội hóa các tổ chức, doanh nghiệp, cá nhân tham gia tích cực triển khai chính sách bằng những việc làm và hành động cụ thể như: huy động, đóng góp quỹ đền ơn đáp nghĩa; tìm kiếm, quy tập mộ liệt sỹ; thắp nến tri ân; thường xuyên chăm sóc, phụng dưỡng Bà mẹ Việt Nam Anh hùng, vay vốn sản xuất phát triển kinh tế Nhờ đó đã trợ giúp cho NCC và gia đình NCC từng bước ổn định và cải thiện cuộc sống, tiếp tục củng cố niềm tin của các đối tượng chính sách đối với Đảng và Nhà Nước Tuy vậy, so với yêu cầu mong đợi của địa phương vẫn còn một số hạn chế:
Trang 9(1) Chất lượng và hiệu quả của công tác tuyên truyền chính sách còn có mặt hạn chế nhất định; (2) Không ít văn bản hướng dẫn thực hiện chính sách thiếu tính đồng bộ, chưa rõ và một số quy định chưa phù hợp thực tiễn dẫn đến khó thực hiện; (3) Thủ tục xét công nhận còn rườm rà, gây khó khăn cho đối tượng chính sách NCC và việc triển khai thực hiện còn thiếu chặt chẽ trong quá trình xét duyệt, thẩm định dẫn đến hiện tượng sót đối tượng hoặc tạo kẻ hở trong quản lý để đối tượng lợi dụng khai man, làm sai lệch hồ sơ; (4) Một số người dân chưa nhận thức đầy đủ về ý nghĩa của chính sách NCC
Xuất phát từ những lý do trên, tác giả đã chọn đề tài: “Thực hiện chính sách đối với người có công trên địa bàn huyện Sơn Tây, tỉnh Quảng Ngãi”
để làm luận văn thạc sĩ chính sách công
2 Tình hình nghiên cứu đề tài
Nghiên cứu về chính sách đối với người có công đã được thực hiện ở các góc độ về lý luận, thực tiễn và chính sách của Đảng và Nhà nước Trong quá trình nghiên cứu, tác giả đã tham khảo và kế thừa một số công trình và tài liệu điển hình như sau:
- Bài viết “Thực hiện tốt chính sách ưu đãi người có công là tình cảm
thiêng liêng, trách nhiệm cao cả của hệ thống chính trị và toàn dân” của Tổng
Bí thư Nguyễn Phú Trọng, đăng trên Báo Nhân dân điện tử, ngày 27 tháng 7 năm 2017 Tổng Bí thư đã nêu rõ sự hy sinh mất mát, cống hiến thiêng liêng của các bậc tiền bối cách mạng, anh hùng liệt sĩ, thương binh, chiến sĩ và đồng bào ta; đồng thời Tổng Bí thư khẳng định: việc quan tâm chăm sóc, cải thiện và nâng cao đời sống mọi mặt cho gia đình liệt sĩ, thương binh, bệnh binh và NCC với cách mạng là chủ trương nhất quán của Ðảng và Nhà nước
ta, là đạo lý truyền thống tốt đẹp của cha ông ta
- Bài viết “Tiếp tục thực hiện tốt chính sách ưu đãi người có công với nước
hiện nay, định hướng đến năm 2020” của tác giả Phạm Thị Hải Chuyền, đăng
Trang 10trên Tạp chí Cộng sản năm 2015, số 837 Theo tác giả, để khắc phục các vấn đề bất cập còn tồn tại và bảo đảm tính thống nhất và đồng bộ của quá trình thực thi chính sách đối với NCC với cách mạng; theo đó, tác giả đã đề xuất nhiều nội dung giải pháp quan trọng nhằm thực hiện tốt chính sách ưu đãi NCC đến năm 2020
- Chuyên đề “Suy nghĩ từ những lời dặn của Chủ tịch Hồ Chí Minh đối
với thương binh, liệt sĩ trong Di chúc” của tác giả Lê Thị Liên in trong cuốn
sách “Giá trị nhân văn của Di chúc Hồ Chí Minh” của Bảo tàng Hồ Chí Minh
và Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn Hà Nội năm 2009 do Nxb Thanh niên ấn hành tại Hà Nội Chuyên đề này đã phân tích quan điểm của Người đối với những người đã hy sinh cho nền độc lập tự do của Tổ quốc Qua đó, bài viết khẳng định chân giá trị tư tưởng Hồ Chí Minh về chính sách
xã hội đối với người có công với cách mạng trong việc hoạch định và tổ chức thực hiện chính sách đối với người có công trong giai đoạn hiện nay
- Chuyên đề “Thực hiện Di chúc của Chủ tịch Hồ Chí Minh đối với
thương binh, liệt sĩ và người có công với cách mạng - Bốn mươi năm nhìn lại” của tác giả Nguyễn Hữu Chí in trong kỷ yếu Hội thảo khoa học 40 năm
thực hiện Di chúc của Chủ tịch Hồ Chí Minh do Học viện Chính trị - Hành chính quốc gia khu vực I tổ chức năm 2009 tại Hà Nội Chuyên đề này khẳng định Hồ Chí Minh là người khởi xướng phong trào đền ơn đáp nghĩa; và trong suốt cuộc đời và sự nghiệp cách mạng của Người đều đã dành tình cảm đặc biệt cho thương bệnh binh và gia đình liệt sĩ Tác giả bài viết cũng khẳng định sau 40 năm thực hiện Di chúc của Chủ tịch Hồ Chí Minh, Đảng và Nhà nước
ta đã quán triệt sâu sắc lời căn dặn của Hồ Chí Minh thông qua các chủ trương, chính sách chăm lo đối với thương bệnh binh và gia đình có công với cách mạng
- Luận án Tiến sĩ chuyên ngành Hồ Chí Minh học năm 2017 “Vận dụng
Trang 11tư tưởng Hồ Chí Minh về chính sách xã hội thời kỳ đổi mới ở Việt Nam” của
tác giả Nguyễn Công Lập Công trình nghiên cứu này trên cơ sở luận giải một
số khái niệm cơ bản đi vào phân tích trình bày làm rõ tư tưởng Hồ Chí Minh
về chính sách xã hội từ mục đích, đối tượng, nội dung, yêu cầu và lực lượng thực hiện chính sách xã hội Đồng thời, nghiên cứu đánh giá thực trạng vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về chính sách xã hội (thành tựu, hạn chế và nguyên nhân của nó) trong thời kỳ đổi mới ở những năm qua Qua đó, đề xuất các nhóm giải pháp vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh nhằm nâng cao hiệu quả thực hiện chính sách xã hội ở Việt Nam hiện nay
- Một số luận văn Thạc sĩ về đánh giá thực hiện chính sách đối với người
có công với cách mạng của một số tác giả như Hồ Văn Dũng (2016), Nguyễn Văn Vân (2016), Nguyễn Thị Thanh Tùng (2018), Nguyễn Thị Thanh (2018) v.v … đã trình bày các vấn đề lý luận, làm rõ một số vấn đề hạn chế và bất cập trong việc thực thi chính sách đối với NCC ở một số địa phương; từ đó đề xuất một số giải pháp nhằm hoàn thiện việc thực hiện chính sách đối với NCC trong thời gian đến
- Ngoài ra một số nghiên cứu liên quan đến chính sách an sinh xã hội, trong đó đề cập đến một số vấn đề lý luận về an sinh xã hội, đánh giá quá trình thực thi chính sách như bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, chính sách người có công v.v…qua đó đề xuất những giải pháp nhằm hoàn thiện hệ thống chính sách
an sinh xã hội ở các địa phương và cả nước Các nghiên cứu điển hình như Mai Ngọc Cường và cộng sự (2013), Lê Anh (2017), Dương Thanh Phong (2018) v.v…
Về cơ bản, phần lớn các công trình và tài liệu kể trên nghiên cứu tập trung
ở diện rộng, nghiên cứu cả hệ thống chính sách an sinh xã hội hoặc nghiên cứu ở phương diện quy mô cả nước và một số địa phương Tuy nhiên, hiện rất ít các nghiên cứu đối với đặc thù vùng, miền, nhất là vùng sâu, vùng xa, vùng đồng
Trang 12bào dân tộc thiểu số để áp dụng chính sách người có công với cách mạng đang thực hiện cho phù hợp Riêng đối với địa bàn huyện Sơn Tây hiện vẫn chưa có công trình nào nghiên cứu trùng lặp về chính sách người có công với cách mạng Chính vì vậy, tôi quyết định chọn và thực hiện nghiên cứu đề tài này nhằm làm
rõ hơn cơ sở lý luận và pháp lý về việc thực thi chính sách NCC trong điều kiện thực tiễn của huyện Sơn Tây, để đáp ứng nhu cầu chính đáng của NCC với cách mạng, đóng góp vào sự phát triển kinh tế - xã hội theo hướng bền vững và bảo đảm giữ vững ổn định, an ninh chính trị trên địa bàn
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở lý luận và phân tích đánh giá thực trạng thực thi chính sách đối với NCC từ thực tiễn huyện Sơn Tây (tỉnh Quảng Ngãi), luận văn đề xuất giải pháp chủ yếu để gia tăng hiệu quả thực hiện chính sách đối với NCC ở huyện Sơn Tây thời gian đến
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
+ Hệ thống hóa một số vấn đề lý luận về thực hiện chính sách đối với NCC + Nghiên cứu đánh giá thực trạng thực hiện chính sách đối với NCC từ thực tiễn huyện Sơn Tây (tỉnh Quảng Ngãi) giai đoạn 2013-2018
+ Xác định những vấn đề hạn chế, bất cập hiện nay đặt ra trong quá trình thực hiện chính sách đối với NCC ở huyện Sơn Tây (tỉnh Quảng Ngãi)
+ Đề xuất các giải pháp chủ yếu để nâng cao hiệu quả thực hiện chính sách đối với NCC ở huyện Sơn Tây (tỉnh Quảng Ngãi) thời gian đến
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận văn
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Nghiên cứu thực hiện chính sách đối với NCC ở huyện Sơn Tây: những quy định về các điều kiện, quy trình và trình tự thủ tục xác nhận; quá trình thực hiện chính sách đối với NCC ở huyện Sơn Tây cho những đối tượng thụ
Trang 13hưởng theo luật định
4.2 Phạm vi nghiên cứu
- Về nội dung nghiên cứu: Thực hiện chính sách NCC với cách mạng ở
huyện Sơn Tây
- Về thời gian nghiên cứu: từ năm 2013 - năm 2018
- Về không gian nghiên cứu: huyện Sơn Tây, tỉnh Quảng Ngãi
5 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
5.1 Phương pháp luận
Luận văn dựa trên cơ sở phương pháp luận chủ nghĩa Mác Lê Nin và tư tưởng Hồ Chí Minh và chủ trương, chính sách của Đảng và pháp luật Nhà nước ta
để nghiên cứu việc thực hiện chính sách đối với người có công
5.2 Phương pháp nghiên cứu
+ Phương pháp sưu tầm tài liệu
+ Phương pháp thu thập thông tin và phân tích văn bản sơ cấp, thứ cấp + Quan sát thực tế
+ Phương pháp thống kê, so sánh, tổng hợp đánh giá
6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
6.1 Về lý luận:
Các đóng góp của luận văn góp phần bổ sung, làm phong phú thêm hệ thống cơ sở dữ liệu cho việc phân tích, hệ thống hoá những vấn đề lý luận và thực tiễn nhằm giúp cho quá trình hoạch định, ban hành các chương trình, chính sách dành cho người có công và việc tổ chức thực hiện chính sách này trong thực tiễn
6.2 Về thực tiễn:
+ Từ nghiên cứu thực tiễn và đánh giá thực trạng công tác quản lý và thực
thi chính sách NCC trên địa bàn huyện Sơn Tây để cung cấp luận cứ khoa học nhằm đề xuất một số giải pháp hoàn thiện việc thực thi chính sách NCC ở giai
Trang 14đoạn đến
+ Tư vấn cho các nhà quản lý, cơ quan nhà nước xem xét để bổ sung, hoàn thiện chính sách NCC; tham mưu cho các cơ quan thực hiện chính sách NCC trên địa bàn huyện Sơn Tây trong quá trình vận dụng vào thực tiễn tình hình của địa phương
Những đóng góp mới của luận văn
Làm rõ hơn các quy định của Nhà nước ta về chính sách đối với người
có công với cách mạng Nêu ra những vấn đề cần giải quyết trước mắt và lâu dài trong việc hoàn thiện, ban hành chính sách người có công với cách mạng và
tổ chức thực thi nó Làm rõ các căn cứ chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước để góp phần tạo cơ sở cho cơ quan tổ chức có thẩm quyền các cấp vận dụng phù hợp với tình hình thực tế ở địa phương
7 Cơ cấu của luận văn
Bên cạnh các mục mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung đề tài này được kết cấu thành 3 chương cơ bản:
Chương 1 Cơ sở lý luận về thực hiện chính sách đối với người có công Chương 2 Thực trạng thực hiện chính sách đối với người có công trên địa
bàn huyện Sơn Tây, tỉnh Quảng Ngãi
Chương 3 Giải pháp nâng cao hiệu quả thực hiện chính sách đối với người
có công trên địa bàn huyện Sơn Tây, tỉnh Quảng Ngãi
Trang 15CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH
ĐỐI VỚI NGƯỜI CÓ CÔNG
1.1 Người có công và chính sách ưu đãi người có công
1.1.1 Khái niệm người có công và đặc điểm của người có công với cách mạng
* Khái niệm người có công:
Chính sách ưu đãi NCC với cách mạng đã thực hiện từ lâu, ngày
16-02-1947, lần đầu tiên Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ký sắc lệnh số 20/SL “Quy định chế độ hưu bổng thương tật và tiền tuất tử sĩ” Sắc lệnh này thể hiện chính sách nhân văn của Nhà nước ta đối với NCC; một năm sau chính sách này được bổ sung bởi Sắc lệnh 242/SL ngày 12 tháng 10 năm 1948 về quy định tiêu chuẩn xác nhận thương binh, truy tặng tử sỹ, thực hiện chế độ lương hưu thương tật cho thương binh và chế độ tiền tuất đối với gia đình liệt sỹ Truyền thống và đạo lý “uống nước nhớ nguồn”, “ăn quả nhớ người trồng cây” từ ngàn đời nay của Nhân dân ta, là cội nguồn sức mạnh đại đoàn kết dân tộc suốt chiều dài lịch sử dựng nước và giữ nước
Vấn đề ưu đãi NCC đã trở thành nguyên tắc Hiến định và được ghi nhận trang trọng ở Chương III, Điều 59, Khoản 1 của Hiến pháp năm 2013 quy định : “Nhà nước, xã hội tôn vinh, khen thưởng, thực hiện chính sách ưu đãi đối với NCC với nước” Trên cơ sở quy định của Hiến pháp, việc thể chế hóa nguyên tắc này được Uỷ ban Thường vụ Quốc hội ban hành Pháp lệnh “Ưu đãi người hoạt động cách mạng, liệt sỹ và gia đình liệt sỹ, thương binh, bệnh binh, người hoạt động kháng chiến, NCC giúp đỡ cách mạng” vào ngày 29 tháng 8 năm 1994 Đây là một bước tiến dài, từng bước hoàn thiện chính sách
ưu đãi NCC, theo chủ trương của Đảng và Nhà nước nhằm tạo điều kiện, cơ hội tốt nhất để góp phần nâng cao đời sống vật chất, tinh thần đối với NCC,
Trang 16mãi cho đến nay chưa có một văn bản pháp luật nào nêu rõ khái niệm NCC Song có thể dựa vào các quy định của Nhà nước về tiêu chuẩn cho mỗi đối tượng là NCC, do đó quan niệm về NCC hiện nay ở 2 nghĩa, cụ thể đó là:
Theo nghĩa rộng, “người có công với cách mạng là những người không
phân biệt tôn giáo, tín ngưỡng, dân tộc, nam nữ, tuổi tác, đã tự nguyện cống hiến sức lực, tài năng, trí tuệ, có người hy sinh cả cuộc đời mình cho sự nghiệp dựng nước, giữ nước và kiến thiết đất nước Họ là người có những thành tích đóng góp hoặc những cống hiến xuất sắc phục vụ vì lợi ích của đất nước, của dân tộc” được cơ quan nhà nước có thẩm quyền công nhận theo qui định của pháp luật Ở nghĩa này có thể xác định những tiêu chí cơ bản của người có công,
đó phải là những người có đóng góp, cống hiến xuất sắc và vì lợi ích của dân tộc Những hy sinh, cống hiến thiêng liêng của họ được xã hội tôn vinh và sự công nhận của Nhà nước có thể là trong đấu tranh vì độc lập, tự do cho Tổ quốc và cũng có thể là trong sự nghiệp xây dựng và phát triển đất nước Bởi xuất phát từ lịch sử và đặc điểm của dân tộc ta trong quá trình đấu tranh giành, giữ và dựng nước, nên đối tượng NCC là một bộ phận lớn những người đã hy sinh quên mình, cống hiến cho công cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc, bảo vệ và xây dựng đất nước Họ là lực lượng những NCC với đất nước, với cách mạng được nhân dân và Nhà nước ta ghi nhận với lòng biết ơn sâu sắc Nên đối tượng NCC với cách mạng là những người được pháp luật Nhà nước công nhận mà không có
sự phân biệt tín ngưỡng, tôn giáo, tộc người, giới tính, tuổi tác, nghề nghiệp…, bởi họ đã quên mình để cống hiến sức lực, trí tuệ và mạng sống của mình vì sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc, bảo vệ và xây dựng phát triển đất nước, vì lợi ích quốc gia dân tộc và sự bình an của xã hội, mà không hề đòi hỏi hay yêu cầu phải bù đắp
Theo nghĩa hẹp, người có công là những người không phân biệt tôn giáo,
tín ngưỡng, dân tộc, nam nữ, tuổi tác có những đóng góp, những cống hiến xuất sắc trong thời kỳ trước cách mạng tháng Tám năm 1945, trong các cuộc kháng
Trang 17chiến giải phóng dân tộc và bảo vệ Tổ quốc, được các cơ quan, tổ chức có thẩm quyền công nhận Ở nghĩa này, người có công bao gồm người tham gia hoặc
giúp đỡ cách mạng, họ đã hy sinh cả cuộc đời mình hoặc một phần thân thể hoặc
có thành tích đóng góp cho sự nghiệp cách mạng
Căn cứ vào công lao đóng góp, hoàn cảnh, điều kiện cụ thể của đất nước; đồng thời để có chính sách ưu đãi phù hợp với từng đối tượng, Nhà nước ta đã quy định một cách cụ thể về NCC được thể hiện trong Pháp lệnh “Ưu đãi người hoạt động cách mạng, liệt sỹ và gia đình liệt sỹ, thương binh, bệnh binh, người hoạt động kháng chiến, người có công giúp đỡ cách mạng” do Uỷ ban Thường vụ Quốc hội ban hành ngày 29/8/1994, được sửa đổi, bổ sung, thay thế qua các năm 2000, 2002, 2005, 2007, 2012; và Pháp lệnh số 05/2012/UBTVQH13 ngày 20/10/2012 của Uỷ ban thường vụ Quốc Hội Sửa đổi, bổ sung một số điều của Pháp lệnh quy định danh hiệu vinh dự Nhà nước
“Bà mẹ Việt Nam anh hùng”; gần đây, tại Khoản 1, Điều 4 trong Dự thảo lần
2 về Pháp lệnh Ưu đãi người có công với cách mạng (Sửa đổi) năm 2019 đã
định nghĩa: Người có công với cách mạng là người hy sinh, chết, bị thương
hoặc có đóng góp thành tích, công lao trong các thời kỳ cách mạng từ năm
1925 đến 31/12/1991 hoặc trong xây dựng và bảo vệ Tổ Quốc; xứng đáng được Đảng, Nhà nước và Nhân dân tôn vinh và được cơ quan, tổ chức có thẩm quyền công nhận theo quy định
Như vậy, có thể xác định cụ thể từng đối tượng như sau:
- Người hoạt động cách mạng trước ngày 01 tháng 01 năm 1945 là người
được cơ quan, tổ chức có thẩm quyền công nhận đã tham gia tổ chức cách mạng
trước ngày 01 tháng 01 năm 1945
- Người hoạt động cách mạng từ ngày 01 tháng 01 năm 1945 đến ngày
khởi nghĩa tháng 8 năm 1945 là người được cơ quan, tổ chức có thẩm quyền
công nhận đứng đầu một tổ chức quần chúng cách mạng cấp xã hoặc thoát ly hoạt động cách mạng kể từ ngày 01 tháng 01 năm 1945 đến ngày khởi nghĩa
Trang 18tháng Tám năm 1945
- Liệt sĩ là người đã hy sinh vì sự nghiệp cách mạng giải phóng dân tộc,
bảo vệ Tổ quốc và làm nghĩa vụ quốc tế hoặc vì lợi ích của Nhà nước, của Nhân dân được Nhà nước truy tặng Bằng "Tổ quốc ghi công" thuộc một trong các trường hợp sau đây:
+ Chiến đấu hoặc trực tiếp phục vụ chiến đấu;
+ Trực tiếp đấu tranh chính trị, đấu tranh binh vận có tổ chức với địch; + Hoạt động cách mạng, hoạt động kháng chiến bị địch bắt, tra tấn vẫn không chịu khuất phục, kiên quyết đấu tranh hoặc thực hiện chủ trương vượt
tù, vượt ngục mà hy sinh;
+ Làm nghĩa vụ quốc tế;
+ Đấu tranh chống tội phạm;
+ Dũng cảm thực hiện công việc cấp bách, nguy hiểm phục vụ quốc phòng, an ninh; dũng cảm cứu người, cứu tài sản của Nhà nước và nhân dân; + Do ốm đau, tai nạn khi đang làm nhiệm vụ quốc phòng, an ninh ở địa bàn có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn;
+ Khi đang trực tiếp làm nhiệm vụ tìm kiếm, quy tập hài cốt liệt sĩ do cơ quan có thẩm quyền giao;
+ Trực tiếp làm nhiệm vụ huấn luyện chiến đấu hoặc diễn tập phục vụ quốc phòng, an ninh có tính chất nguy hiểm;
+ Thương binh hoặc là đối tượng được thụ hưởng chính sách như thương binh theo quy định ở khoản 1 và khoản 2 tại Điều 19 của Pháp lệnh 04/2012/UBTVQH13 chết vì vết thương tái phát
- Bà mẹ Việt Nam anh hùng là những bà mẹ có nhiều cống hiến, hy sinh vì
sự nghiệp giải phóng dân tộc, bảo vệ Tổ quốc và làm nghĩa vụ quốc tế Các bà
mẹ được tặng/ truy tặng danh hiệu “Bà mẹ Việt Nam anh hùng” khi thuộc một trong những trường hợp dưới đây:
+ Có 2 con trở lên là liệt sĩ;
Trang 19+ Chỉ có 2 con mà 1 con là liệt sĩ và 1 con là thương binh suy giảm khả năng lao động từ 81% trở lên;
+ Chỉ có 1 con mà người con đó là liệt sĩ;
+ Có 1 con là liệt sĩ và có chồng hoặc bản thân là liệt sĩ;
+ Có 1 con là liệt sĩ và bản thân là thương binh suy giảm khả năng lao
động từ 81% trở lên
- Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân, Anh hùng Lao động trong
kháng chiến là người được Nhà nước tặng hoặc truy tặng danh hiệu “Anh hùng
Lực lượng vũ trang nhân dân”; người được Nhà nước tuyên dương Anh hùng Lao động trong thời kỳ kháng chiến vì có thành tích đặc biệt xuất sắc trong lao động, sản xuất phục vụ kháng chiến
- Thương binh là quân nhân, công an nhân dân bị thương làm suy giảm
khả năng lao động từ 21% trở lên, được cơ quan, đơn vị có thẩm quyền cấp
“Giấy chứng nhận thương binh” và “Huy hiệu thương binh” thuộc một trong các trường hợp sau đây:
+ Chiến đấu hoặc trực tiếp phục vụ chiến đấu;
+ Bị địch bắt, tra tấn vẫn không chịu khuất phục, kiên quyết đấu tranh,
để lại thương tích thực thể;
+ Làm nghĩa vụ quốc tế;
+ Đấu tranh chống tội phạm;
+ Dũng cảm thực hiện công việc cấp bách, nguy hiểm phục vụ quốc phòng, an ninh; dũng cảm cứu người, cứu tài sản của Nhà nước và nhân dân; + Làm nhiệm vụ quốc phòng an ninh ở địa bàn có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn;
+ Khi đang trực tiếp làm nhiệm vụ tìm kiếm, quy tập hài cốt liệt sĩ do cơ quan có thẩm quyền giao;
+ Trực tiếp làm nhiệm vụ huấn luyện chiến đấu hoặc diễn tập phục vụ quốc phòng, an ninh có tính chất nguy hiểm
Trang 20- Đối tượng thụ hưởng chính sách như thương binh là những người không
phải là công an nhân dân, quân nhân, họ bị thương và bị suy giảm khả năng lao động từ 21% trở lên thuộc diện một trong những trường hợp theo quy định như thương binh, được cấp có thẩm quyền cấp giấy chứng nhận về người hưởng chính sách như thương binh
- Bệnh binh là quân nhân, công an nhân dân mắc bệnh làm suy giảm khả
năng lao động từ 61% trở lên khi xuất ngũ về gia đình được cơ quan, đơn vị
có thẩm quyền cấp "Giấy chứng nhận bệnh binh" thuộc một trong các trường hợp sau đây:
+ Chiến đấu hoặc trực tiếp phục vụ chiến đấu;
+ Hoạt động liên tục ở địa bàn có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn từ mười lăm tháng trở lên;
+ Hoạt động ở địa bàn có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn chưa đủ mười lăm tháng nhưng đã có đủ mười năm trở lên công tác trong Quân đội nhân dân, Công an nhân dân;
+ Đã công tác trong Quân đội nhân dân, Công an nhân dân đủ mười lăm năm nhưng không đủ điều kiện hưởng chế độ hưu trí;
- Đối tượng hoạt động kháng chiến bị nhiễm chất độc hóa học là những
người được cấp có thẩm quyền công nhận đã chiến đấu, phục vụ chiến đấu hoặc tham gia công tác từ tháng 8/1961 đến 30-4-1975 ở các khu vực mà quân Mỹ sử dụng chất độc hóa học; và do bị nhiễm chất độc này dẫn đến một trong những tình trạng sau:
+ Mắc bệnh làm suy giảm khả năng lao động từ 21% trở lên;
Trang 21+ Vô sinh;
+ Sinh con dị dạng, dị tật
- Người hoạt động cách mạng hoặc hoạt động kháng chiến bị địch bắt tù,
đày là người được cơ quan, tổ chức, đơn vị có thẩm quyền công nhận trong thời
gian bị tù, đày không khai báo có hại cho cách mạng, cho kháng chiến, không làm tay sai cho địch
- Người hoạt động kháng chiến giải phóng dân tộc, bảo vệ Tổ quốc và làm
nghĩa vụ quốc tế là người tham gia kháng chiến được tặng Huân chương kháng
chiến, Huy chương kháng chiến
- Người có công giúp đỡ cách mạng là người đã có thành tích giúp đỡ cách
mạng trong lúc khó khăn, nguy hiểm, bao gồm: Người được tặng Kỷ niệm chương “Tổ quốc ghi công” hoặc Bằng “Có công với nước”; người trong gia đình được tặng Kỷ niệm chương “Tổ quốc ghi công” hoặc Bằng “Có công với nước” trước cách mạng tháng Tám năm 1945; người được tặng Huân chương kháng chiến hoặc Huy chương kháng chiến; người trong gia đình được tặng Huân chương kháng chiến hoặc Huy chương kháng chiến
* Đặc điểm của người có công với cách mạng:
NCC với cách mạng là những người đã có nhiều cống hiến đáng kể và xã thân hy sinh vì sự nghiệp cách mạng của dân tộc ta; họ cùng thân nhân chịu nhiều mất mát thiệt thòi và hầu hết họ đều có hoàn cảnh hết sức khó khăn, nên không có đủ điều kiện và cơ hội bình thường để phát triển như các thành phần xã hội khác Đặc điểm này đòi hỏi khách quan sự quan tâm đặc biệt trong chăm sóc, động viên, chia sẻ và giúp đỡ hỗ trợ của Đảng, Nhà nước ta
Phần lớn những NCC với cách mạng hiện nay đều lớn lên và trưởng thành trong chiến tranh và hoạt động cách mạng, họ thuộc lớp người lớn tuổi Trãi qua các cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, đế quốc Mỹ và sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc, những NCC với cách mạng luôn có lòng yêu nước nồng nàn, gan dạ, bền
bỉ, suốt đời xã thân vì nước, vì dân, sẵn sàng cống hiến hết tài sản, của cải của
Trang 22mình để phục vụ cách mạng, thậm chí xã thân sẵn sàng hy sinh bản thân mình, vận động thân nhân gia đình bảo vệ che chở cách mạng; họ kiên cường chiến đấu chống lại kẻ thù, bảo vệ nền độc lập dân tộc Khi đất nước độc lập thống nhất và hòa bình lặp lại, dù rằng di chứng của bệnh tật và thương tích mang trong mình, những NCC với cách mạng vẫn tiếp tục phát huy phẩm chất tốt đẹp,
nỗ lực phấn đấu và tự lo cho bản thân tìm công việc phù hợp sức lao động, vượt qua khó khăn để đóng góp vào sự nghiệp xây dựng Tổ quốc XHCN trong thời
kỳ đổi mới; luôn thực hiện nếp sống gương mẫu, giáo dục trao truyền các giá trị truyền thống cách mạng cho con em, chấp hành chuẩn mực các chủ trương, chính sách của Đảng và pháp luật Nhà nước, là tấm gương để gia đình và xã hội noi theo; luôn trung thành với chế độ XHCN và thể hiện tinh thần đấu tranh trước các tiêu cực xã hội Nên những NCC với cách mạng là những người có tín nhiệm cao đối với Đảng, Nhà nước và cộng đồng dân cư, họ là bộ phận trụ cột, là chỗ dựa và có tiếng nói quan trọng trong nhân dân để động viên nhân dân hưởng ứng và tham gia tích cực các chủ trương, chính sách của Đảng và pháp luật Nhà nước
Ngoài đặc điểm trên, đối tượng chính sách còn có một số đặc thù sau:
Đối với thương, bệnh binh giai đoạn kháng chiến chống Pháp: hiện họ
tuổi cao sống khiêm tốn, trong sạch, ít đòi hỏi quyền lợi cá nhân; nhu cầu vật chất giản dị, thậm chí họ sẵn sàng hiến tặng tài sản ít ỏi còn lại của mình cho công việc từ thiện, khuyến học, chia sẽ với gia đình NCC còn gặp nhiều khó khăn
Đối với thương, bệnh binh thời chống Mỹ trở về sau: Đa số họ có tuổi
trung niên, có ý thức tự kiềm chế, tự chủ và hăng hái tích cực đóng góp nhiệm
vụ được giao trong công tác và xã hội Tuy vậy, một số ít lợi dụng chính sách ưu đãi để trục lợi cho cá nhân dẫn đến vi phạm pháp luật, ảnh hưởng việc thực hiện chính sách ưu đãi đối với NCC của Đảng và Nhà nước
Đối với thân nhân liệt sỹ và NCC: sự mất mát, thiệt thòi của người thân
Trang 23là sự đau đớn lớn nhất của người cha, mẹ, vợ, người con liệt sỹ không thể bù đắp được Họ cần quan tâm chia sẻ, động viên, nhất là vào dịp ngày tết, lễ
Vê tổng quát, NCC là những người đóng góp vì quốc gia dân tộc XHCN, nên cần phải có chính sách phù hợp từng vùng và đặc điểm, nhu cầu của đối tương NCC
1.1.2 Khái niệm chính sách ưu đãi người có công
- Khái niệm chính sách
+ Theo Từ điển Bách khoa Việt Nam “Chính sách là những chuẩn tắc cụ thể để thực hiện đường lối, nhiệm vụ Chính sách được thực hiện trong một thời gian nhất định, trên những lĩnh vực cụ thể nào đó Bản chất, nội dung và phương hướng của chính sách tùy thuộc vào tính chất của đường lối, nhiệm
vụ chính trị, kinh tế, văn hóa…”
+ Theo Từ điển Tiếng Việt “Chính sách là sách lược và kế hoạch cụ thể nhằm đạt một số mục đích nhất định dựa vào đường lối chính trị chung và thực tế mà nhà nước đề ra”
+ Theo Giáo trình hoạch định và Phân tích chính sách công của Học viện Hành chính do Nhà xuất bản Khoa học và Kỹ thuật xuất bản năm 2008, chính sách là những hành động ứng xử của chủ thể với các hiện tượng tồn tại trong quá trình vận động phát triển nhằm đạt mục tiêu nhất định
+ Theo các tác giả khác xác định chính sách là cách thức hành động có chủ đích của một tập đoàn xã hội này vào các tập đoàn xã hội khác thông qua những tổ chức thiết chế khác nhau trong hệ thống chính trị để thực thi mục tiêu đã được định sẵn
Như vậy, chính sách công là một chuỗi hành động được thực hiện bởi hệ thống nhà nước về các vấn đề đời sống xã hội để điều hành và quản lý, phục
vụ nhân dân, duy trì và phát triển xã hội Nhà nước quy định các chế tài, pháp
lý và các văn bản quy phạm pháp luật dựa trên cơ sở các chính sách được đưa
ra và tổ chức thực hiện trong đời sống xã hội
Trang 24- Khái niệm chính sách xã hội
+ Là dạng chính sách thể hiện bằng luật pháp của Nhà nước trở thành một hệ thống quan điểm, phương hướng, cách thức và biện pháp giải quyết các vấn đề xã hội nhất định, mà trước hết là các vấn đề liên quan tới công bằng xã hội và an sinh xã hội để đóng góp vào sự ổn định, phát triển và tiến
bộ xã hội
+ Là công cụ được thể chế hóa để tác động vào những quan hệ xã hội nhằm giải quyết những vấn đề xã hội đang đặt ra, góp phần thực hiện công bằng, bình đẳng, tiến bộ xã hội và phát triển toàn diện con người
Như vậy mục tiêu chính sách xã hội nhằm đạt tới: Một là, góp phần giải
quyết những hậu quả xã hội có tính lịch sử như: tàn dư chiến tranh, hậu quả
của chủ nghĩa thực dân, tàn dư của phong tục, tập quán lạc hậu…; Hai là, xác
định và góp phần giải quyết những vấn đề xã hội đang nảy sinh do chính tình trạng lạc hậu về kinh tế, văn hóa, xã hội và những hệ quả của ngay sự phát triển tạo ra, làm sao tạo được môi trường tự nhiên và xã hội tốt nhất cho sự phát triển của mỗi con người, mỗi nhóm xã hội, đảm bảo cho họ phát huy cao nhất tiềm năng sẳn có của chính mình
- Khái niệm ưu đãi xã hội, trợ cấp xã hội
Ưu đãi xã hội là sự đãi ngộ đặc biệt của Nhà nước và xã hội để ghi nhận
và đền đáp công lao của các cá nhân, tổ chức đã có cống hiến, hy sinh đặc biệt
vì cộng đồng xã hội Thực hiện tốt ưu đãi xã hội góp phần đảm bảo công bằng
xã hội, Tạo ra những giá trị tinh thần cao đẹp, giữ gìn truyền thống tốt đẹp của dân tộc Bảo đảm ổn định cho thể chế đất nước, tiến tới việc xây dựng một xã hội phồn thịnh, ấm no, hạnh phúc
Trợ cấp ưu đãi xã hội là khoản tiền do Nhà nước cấp thường xuyên hoặc một lần đối với NCC với đất nước theo quy định pháp luật về ưu đãi xã hội Trợ cấp ưu đãi xã hội có nhiều loại khác nhau, trợ cấp cho từng diện đối tượng hưởng ưu đãi xã hội dựa trên những điều kiện, tiêu chuẩn cụ thể Song
Trang 25xét ở một góc độ nào đó, ưu đãi đối với NCC với cách mạng cũng là ưu đãi
xã hội
Qua phân tích rõ hơn từ khái niệm nêu trên, đi đến xác định: ưu đãi NCC được hiểu là việc Nhà nước và xã hội đề cao sự ưu tiên cho NCC về các quyền lợi, điều kiện đặc biệt hơn so với các nhóm đối tượng khác Như vậy, ưu đãi NCC với cách mạng là sự hậu đãi đặc biệt về vật chất và tinh thần của Nhà nước
và của xã hội để ghi công, đền đáp đối với những NCC với cách mạng
Chính sách đối với NCC là một hợp phần quan trọng trong hệ thống chính sách an sinh xã hội của Nhà nước ta Chính sách đối với NCC được ban hành, thể hiện tính nhân văn sâu sắc, khẳng định chủ trương nhất quán của Đảng ta trong việc thực hiện chính sách thương binh, liệt sĩ và người có công với cách mạng Hơn nữa, đó còn là sự thể hiện trách nhiệm, tình cảm của thế
hệ hôm nay đối với những thế hệ ông cha đã hy sinh xương máu vì độc lập, tự
do của Tổ quốc, vì hạnh phúc của Nhân dân Hơn lúc nào hết, trách nhiệm và tình cảm đối với người có công đã trở thành một nội dung quan trọng trên các diễn đàn và truyền thông đại chúng, trở thành nét đẹp trong đời sống văn hóa Việt Nam Đó là sự chuẩn bị cần thiết để công tác thương binh, liệt sĩ và người có công với cách mạng có bước phát triển mạnh mẽ Làm tốt công tác chính sách người có công sẽ góp phần phát triển kinh tế, chính trị - xã hội ổn
định, quốc phòng - an ninh được giữ vững Mặt khác, nhằm định hướng, giáo
dục cho thế hệ trẻ ý thức trách nhiệm, ý thức rèn luyện, phấn đấu vươn lên để cống hiến, hy sinh cho sự nghiệp gìn giữ, xây dựng và phát triển đất nước, bảo vệ những giá trị tốt đẹp, những thành quả to lớn mà cha ông ta đã ra sức gìn giữ Đồng thời thể hiện được trách nhiệm của toàn xã hội trong việc thực hiện “đền ơn đáp nghĩa” đối với người có công với cách mạng
Kế thừa giá trị hợp lý từ những quan niệm kể trên, chính sách đối với
NCC có thể được định nghĩa như sau: Chính sách đối với NCC là tập hợp
những quyết định chính trị - pháp lý có liên quan để lựa chọn mục tiêu, giải
Trang 26pháp và công cụ chính sách nhằm giải quyết các vấn đề về NCC để tôn vinh,
ưu đãi, nuôi dưỡng, chăm sóc theo mục tiêu xác định
1.1.3 Ý nghĩa của việc thực hiện chính sách ưu đãi người có công
Tổ chức thực hiện chính sách ưu đãi đối với người có công có ý nghĩa rất quan trọng, là khâu hợp thành chu trình chính sách, là quá trình chuyển hóa ý chí của chủ thể chính sách thành hiện thực với các đối tượng quản lý nhằm đạt mục tiêu định hướng Tổ chức thực thi chính sách là trung tâm kết nối các bước trong chu trình chính sách thành một hệ thống, nhất là hoạch định chính sách So với các khâu khác trong chu trình chính sách, tổ chức thực thi có vị trí đặc biệt quan trọng, vì đây là bước hiện thực hóa chính sách trong đời sống
xã hội Nếu đưa vào thực thi một chính sách tốt không những mang lại lợi ích
to lớn cho các nhóm đối tượng thụ hưởng, mà còn góp phần làm tăng uy tín của nhà nước trong quá trình quản lý xã hội Vì vậy việc hoạch định, xây dựng, ban hành chính sách đúng là rất quan trọng, nhưng việc triển khai, tổ chức thực hiện đưa chính sách vào cuộc sống còn quan trọng hơn Chính sách
sẽ trở thành vô nghĩa nếu không được thực hiện trên thực tế Chính sách dù đúng nhưng chỉ dừng lại ở dạng văn bản, giấy tờ thì sẽ trở thành khẩu hiệu suông và không thể hiện thực hóa được ý định và mục đích của chủ thể ban hành Do đó, cần phải nhận thức đầy đủ về vị trí quan trọng của thực thi chính sách để qua đó nâng cao ý thức tự giác trong tổ chức thực hiện chính sách Chính sách NCC có ý nghĩa thực tiễn chính trị, pháp lý, giáo dục, xã hội, bởi ở chỗ nó là chính sách nhân văn XHCN của Nhà nước trước sự cống hiến
và hy sinh của NCC, phản ánh ý chí, quan điểm, thái độ, cách ứng xử hướng
về cội nguồn của Nhà nước để phục vụ lợi ích quốc gia dân tộc
1.2 Nội dung và quy trình thực hiện chính sách đối với người có công
1.2.1 Nội dung chính sách đối với người có công
Căn cứ pháp luật hiện hành (Pháp lệnh Ưu đãi người có công với cách mạng), nội dung chủ yếu chính sách đối với người có công cách mạng và thân
Trang 27nhân của người có công với cách mạng tuỳ vào nhóm đối tượng để thụ hưởng (Người có công với cách mạng thuộc đối tượng nào thì được hưởng chế độ ưu đãi của đối tượng đó) Về cơ bản nội dung của chính sách này bao gồm:
- Chế độ trợ cấp hàng tháng, trợ cấp một lần, trợ cấp mỗi năm một lần,
phụ cấp hàng tháng;
- Các chế độ về: (1) Bảo hiểm y tế; (2) Nuôi dưỡng, điều dưỡng phục hồi
sức khỏe; (3) Trang cấp dụng cụ chỉnh hình, phục hồi chức năng; (4) Ưu tiên trong tuyển sinh, việc làm; (5) Ưu tiên, hỗ trợ để theo học tại các cơ sở giáo dục,
cơ sở giáo dục nghề nghiệp đến trình độ đại học; (6) Hỗ trợ cải thiện nhà ở; (7)
Ưu tiên giao hoặc miễn, giảm thuế cho thuê đất, mặt nước, mặt nước biển; (8) Vay vốn ưu đãi để sản xuất, kinh doanh;
- Chế độ khác do Chính phủ quy định phù hợp với điều kiện kinh tế - xã hội
của đất nước trong từng thời kỳ
1.2.2 Quy trình thực hiện chính sách đối với người có công
* Bước 1: Xây dựng kế hoạch triển khai thực hiện chính sách người có công
Xây dựng kế hoạch là một nhiệm vụ đầu tiên đối với mọi công việc, đối với mọi cơ quan, tổ chức, là khâu chuẩn bị các nguồn lực, dự định cho một công việc sắp diễn ra trong thời gian đến, tùy thuộc vào công việc, phạm vi ảnh hưởng, đối tượng ảnh hưởng, tính chất của công việc để xây dựng thời gian cho phù hợp Chính vì vậy, để thực hiện có hiệu quả chính sách đối với NCC thì cần phải xây dựng kế hoạch thực hiện chi tiết, cụ thể, rõ ràng, trong
đó cần nhấn mạnh về mục đích, yêu cầu của nội dung kế hoạch là phải đảm bảo tuân thủ đúng quan điểm, mục tiêu, yêu cầu của chủ thể ban hành, đúng quy định của pháp luật, đúng tiến độ thời gian Quy định thời gian bắt đầu thực hiện đến thời gian kết thúc; Xác định rõ cơ quan chủ trì, và phối hợp triển khai thực hiện, thành phần và số lượng tham gia phù hợp với tình hình thực tế của địa phương Quy định trách nhiệm cho từng cơ quan, cá nhân để
Trang 28đề cao trách nhiệm của từng cá nhân, tổ chức trong triển khai thực hiện Có khen thưởng kịp thời để động viên, khuyến khích, đồng thời có biện pháp kỷ luật đối với cá nhân, tổ chức trong tổ chức thực hiện chính sách; Chủ động về tài chính, cơ sở vật chất, phương tiện phục vụ, đảm bảo cho việc triển khai thực hiện diễn ra thuận lợi, hiệu quả cao nhất
* Bước 2: Phổ biển, tuyên truyền chính sách đối với người có công
Đây là một hoạt động quan trọng, có ý nghĩa lớn với cơ quan nhà nước
và các đối tượng thực hiện chính sách Phổ biến, tuyên truyền chính sách tốt giúp cho các đối tượng chính sách và mọi người dân tham gia thực thi hiểu rõ
về mục đích, yêu cầu của chính sách; về tính đúng đắn của chính sách trong điều kiện hoàn cảnh nhất định; và về tính khả thi của chính sách để họ tự giác thực hiện theo yêu cầu quản lý của nhà nước Đồng thời, quá trình này giúp cho mỗi cán bộ, công chức có trách nhiệm tổ chức thực hiện nhận thức được đầy đủ tính chất, trình độ, quy mô của chính sách với đời sống xã hội để chủ động tích cực tìm kiếm các giải pháp thích hợp cho việc thực hiện mục tiêu chính sách và triển khai thực thi có hiệu quả kế hoạch tổ chức thực hiện chính sách được giao
Phổ biến, tuyên truyền chính sách NCC được thực hiện bằng nhiều hình thức như thông qua báo chí, truyền thanh, truyền hình, tờ rơi; tổ chức hội nghị, gặp gỡ tiếp xúc, trao đổi trực tiếp… tùy theo đối tượng, thành phần, trình độ nhận thức để lựa chọn hình thức phổ biến, tuyên truyền cho phù hợp với tình hình thực tế Công tác phổ biến, tuyên truyền đóng vai trò rất quan trọng trong việc tổ chức thực hiện Nếu việc phổ biến, tuyên truyền chính sách kịp thời và hiệu quả, khoa học, dễ hiểu, dễ tiếp cận được đa số Nhân dân đồng tình, hưởng ứng thì giúp cho các cơ quan nhà nước thực hiện chính sách được thuận lợi, rút ngắn thời gian, tiết kiệm chi phí; ngược lại, nếu người dân không có thông tin, thông tin không kịp thời, không đầy đủ gây hiểu nhầm, không được sự đón nhận của người dân thì sẽ gặp khó khăn đối với cơ quan nhà nước trong triển khai
Trang 29thực hiện chính sách
* Bước 3: Phân công, phối hợp thực hiện chính sách đối với người có công
Phân công phối hợp thực hiện nhằm mục đích xác định rõ trách nhiệm của mỗi cơ quan, tổ chức, trong thực thi nhiệm vụ, giao nhiệm vụ cụ thể cơ quan nào đóng vai trò chủ trì, cơ quan nào có trách nhiệm phối hợp, tránh tình trạng nêu chung chung, không rõ ràng dẫn đến đùn đẩy, né tránh trách nhiệm Trong thực
tế thường hay phân công cơ quan chủ trì phối hợp với “các ngành liên quan”, nhưng không nêu rõ cơ quan nào phải có trách nhiệm phối hợp, và phối hợp về nội dung gì, thời gian hoàn thành… do đó các cơ quan phối hợp chưa thể hiện hết vai trò trách nhiệm của mình, mà chủ yếu là do cơ quan chủ trì thực hiện, dẫn đến việc thực thi chính sách còn gặp nhiều khó khăn Vì thế, để tổ chức thực thi chính sách đạt hiệu quả phải có sự phân công rành mạch và sự phối hợp chặt chẽ, đồng bộ giữa các cơ quan Nhà nước quản lý theo ngành lĩnh vực với chính quyền địa phương các cấp Chính sách dù là tác động đến lợi ích của một bộ phận dân cư, song kết quả tác động của nó lại liên quan đến các quá trình, các yếu tố thuộc nhiều bộ phận khác nhau, nên tất yếu phải chú trọng sự phối hợp kết nối nhau nhằm đạt yêu cầu quản lý Hoạt động phân công, phối hợp cần được thực hiện theo tiến trình, có kế hoạch một cách chủ động, sáng tạo để luôn duy trì chính sách được ổn định, góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả chính sách
* Bước 4: Duy trì chính sách về người có công
Duy trì chính sách là hoạt động bảo đảm chính sách được tồn tại và phát huy tác dụng ở môi trường thực tế Để xây dựng, ban hành và tổ chức triển khai thực hiện vốn không dễ và duy trì nó ổn định lâu dài càng khó Ở nền kinh
tế thị trường hiên nay, sự tác động rất lớn tới sự duy trì chính sách đối với NCC phụ thuộc vào nhiều yếu tố nhưng chủ yếu là yếu tố khách quan đó là: sự ổn định các yếu tố chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội Nếu những yếu tố cốt lõi này biến động tích cực, thì sẽ rất thuận lợi duy trì và thực thi chính sách Nếu các yếu tố biến động tiêu cực, thì việc duy trì thực thi chính sách gặp vướng
Trang 30mắc, khó khăn
* Bước 5: Điều chỉnh, bổ sung về chính sách người có công
Đây là hoạt động thực hiện bởi cơ quan nhà nước có thẩm quyền để điều chỉnh chính sách NCC phù hợp với yêu cầu quản lý và tình hình phát triển của xã hội
Về thực tiễn, khi áp dụng chính sách này sẽ đối diện các vấn đề chưa phát sinh hoặc chưa phù hợp Hơn nữa, xã hội và nhu cầu đời sống của Nhân dân ngày càng phát triển; cùng với sự biến động giá thị trường trong khi các chế độ trợ cấp của chính sách NCC không đủ để trang trải cuộc sống Vốn dĩ, nền kinh
tế quốc gia đang trên đà phục hồi và có tích lũy thêm cho thực hiện chính sách
xã hội, đây là điều kiện rất quan trọng để thực hiện việc điều chỉnh chính sách
Vì vậy, hệ thống các cơ quan nhà nước có thẩm quyền có thể điều chỉnh, bổ sung chính sách để phù hợp tình hình, nhằm giúp các đối tượng chính sách NCC có cuộc sống ổn định
Nội dung chính sách được điều chỉnh, bổ sung phải tiến bộ hơn so với chính sách trước đó và đẩy nhanh mục tiêu chính sách về đích
* Bước 6: Theo dõi, kiểm tra, đôn đốc việc thực hiện chính sách người có công
Trong quá trình tổ chức thực hiện chính sách NCC ở mỗi vùng, mỗi địa phương, trình độ nhận thức, cũng như năng lực tổ chức thực hiện của cán bộ, công chức là không giống nhau Trong thực tế cùng một chính sách ban hành, nhưng có địa phương thực hiện tốt, có địa phương thực hiện chưa tốt, chẳng những không giải quyết được vấn đề đặt ra, mà còn gây ra những hiệu ứng phụ làm phức tạp thêm vấn đề, thậm chí có những phản ứng gay gắt từ phía người dân, việc làm này là do quá trình tổ chức, triển khai thực hiện của một
số cán bộ, công chức chưa có kinh nghiệm, còn yếu năng lực, thiếu tinh thần trách nhiệm… Do đó phải tiến hành theo dõi, kiểm tra, đôn đốc việc thực thi chính sách Đây là việc làm thường xuyên, liên tục của cơ quan có thẩm
Trang 31quyền ban hành chính sách
Qua kiểm tra, đôn đốc: một mặt, để khẳng định mục tiêu, ý định của chủ thể ban hành chính sách mang lại hiệu quả; một mặt khác, phát hiện vấn đề bất cập, chưa phù hợp để bổ sung, hoàn thiện chính sách Việc kiểm tra thực hiện chính sách là để phát hiện kịp thời những đối tượng khai man, giả mạo giấy tờ, hồ sơ nhằm thụ hưởng chính sách; nhằm phát hiện những trường hợp cán bộ, công chức lạm dụng quyền hạn và chức vụ để móc nối, thông đồng với các đối tượng để khai khống hoặc xác nhận không đúng đối tượng nhằm trục lợi Qua kiểm tra, theo dõi việc thực hiện chính sách đối với NCC nhằm chấn chỉnh, xử lý kịp thời, góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước ở lĩnh vực NCC
* Bước 7: Đánh giá, tổng kết, rút kinh nghiệm tổ chức thực hiện chính sách
người có công
Việc đánh giá tổng kết quá trình thực thi chính sách nhằm nâng cao năng lực trong điều hành chỉ đạo và chấp hành chính sách của các đối tượng để thực thi chính sách một cách hợp lý và hiệu quả hơn Thông qua đánh giá chính sách
để nhận định chính xác về nội dung chính sách và quá trình thực thi chính sách Qua đó có biện pháp điều chỉnh phù hợp với đòi hỏi thực tiễn khách quan và hiện thực hóa mục tiêu
Bất kỳ một chính sách nào sau thời gian triển khai thực hiện đều phải có đánh giá, tổng kết, rút kinh nghiệm, nhằm mục đích xem xét chỉ ra những thuận lợi, khó khăn, bất cập trong quá trình thực thi chính sách, những vấn đề mới phát sinh trong thực tiễn mà chính sách chưa đề cập; một mặt để phát huy mặt tích cực và duy trì chính sách, mặt khác có sự điều chỉnh những điểm bất cập, bổ sung cho phù hợp với tình hình thực tế Việc phân tích, đánh giá chính sách ở mức độ nào (tốt, xấu) chỉ có thể đầy đủ, chính xác là sau khi thực hiện chính sách Qua đánh giá, tổng kết nhằm xem xét quá trình tổ chức thực hiện trong công tác chỉ đạo, điều hành ở mỗi ngành, mỗi địa phương, sự tuân thủ của đối tượng bị tác
Trang 32động, tầm ảnh hưởng của chính sách, hiệu quả mang lại cho xã hội Đối tượng được đánh giá tổng kết về điều hành chỉ đạo thực thi chính sách không chỉ là hệ thống tổ chức các cơ quan nhà nước từ Trung ương đến cấp xã, mà còn mở rộng xem xét về chức năng, vai trò của các đoàn thể chính trị - xã hội ở các cấp trong quá trình tham gia tổ chức thực thi chính sách
Tùy theo tính chất, mức độ, quy mô và chu kỳ của chính sách có thể tiến hành đánh giá, tổng kết, việc thực hiện chính sách NCC được xác định là chính sách thường xuyên và lâu dài Khi đánh giá chính sách cần lưu ý: đánh giá toàn diện, khách quan, trung thực, trên phạm vi rộng, nhiều đối tượng bị tác động bởi chính sách, đánh giá tổng kết từ khâu lập kế hoạch đến công tác chỉ đạo, điều hành thực thi chính sách, đánh giá việc thực thi của các đối tượng tham gia thực hiện chính sách, bao gồm các đối tượng thụ hưởng lợi ích trực tiếp và gián tiếp từ chính sách
Trong thực tế hiện nay việc đánh giá, tổng kết, ở nhiều nơi, nhiều cấp, nhiều ngành có lúc vẫn còn mang tình hình thức, chung chung; không cụ thể, chưa chỉ
ra được đâu là những bất cập, hạn chế của chính sách để có điều chỉnh, bổ sung cho phù hợp; hoặc chưa đánh giá được yếu tố ảnh hưởng trong quá trình thực thi chính sách, hiệu quả mang lại từ chính sách Những kiến nghị, đề xuất ở cơ sở xuất phát thực tiễn cuộc sống của người dân vẫn chưa được sửa đổi, bổ sung kịp thời, hoặc không được ghi nhận
1.3 Những yêu cầu cơ bản đối với việc tổ chức thực hiện chính sách người có công
1.3.1 Yêu cầu thực hiện đúng mục tiêu chính sách người có công
Mục tiêu thực thi chính sách NCC được thể hiện trong các Nghị quyết của Đảng, trong Hiến pháp và được cụ thể hóa trong các văn bản quy phạm pháp luật của chính quyền địa phương
Do chính sách phản ánh lập trường, thái độ, cách hành xử của Nhà nước đối với vấn đề chính sách NCC Nên nó thể hiện rõ sự can thiệp tác động của
Trang 33Nhà nước đến các chủ thể trong thực tiễn đời sống xã hội, điều tiết vận động
họ và định hướng giúp họ hành động đạt tới các giá trị, mục tiêu phát triển mà Nhà nước xác lập để đáp ứng thỏa mãn nhu cầu thiết yếu trong đời sống xã hội Nói cách khác, cùng với mục tiêu định hướng thì các cách thức tác động của chính sách có vai trò định hướng quan trọng cho các chủ thể hành động
1.3.2 Yêu cầu bảo đảm tính hệ thống trong thực hiện chính sách người
có công
Thực hiện chính sách NCC với cách mạng đòi hỏi có sự tham gia của nhiều cấp, ngành từ Trung ương đến cơ sở; cùng với sự đồng thuận xã hội (1) Bảo đảm tính tuân thủ và thống nhất của hệ thống pháp luật;
(2) Đảm bảo các nội dung chính sách được thể hiện nhất quán xuyên suốt trong hệ thống các văn bản quy phạm pháp luật và các chế định pháp luật trong cùng một loại chính sách, hoặc giữa các ngành khác nhằm đáp ứng tính phù hợp và đồng bộ trên cơ sở bảo đảm tuân thủ tính thứ bậc của hệ thống các văn bản này
1.3.3 Yêu cầu bảo đảm tính pháp lý, khoa học và hợp lý trong thực hiện chính sách người có công
Tính pháp lý trong thực thi chính sách NCC là yêu cầu cơ bản để tham gia thực hiện chính sách Cùng với yêu cầu đảm bảo về tính pháp lý, việc thực thi chính sách NCC phải được tổ chức thực hiện đúng nguyên tắc và tiến hành theo một quy trình chặt chẽ để đảm bảo theo trình tự, chứ không thể tùy tiện hoặc duy
ý chí chủ quan làm phá vỡ các nguyên tắc và luật định
1.3.4 Yêu cầu bảo đảm lợi ích cho các đối tượng chính sách người
Trang 34của đời sống các đối tượng chính sách thông qua: chế độ phụng dưỡng, khám chữa bệnh, chăm sóc sức khỏe, hỗ trợ về nhà ở, chế độ đào tạo nghề, việc làm cho con em NCC
1.4 Các nhân tố ảnh hưởng đến thực hiện chính sách người có công
1.4.1 Nhân tố chính trị
Nhân tố chính trị ảnh hưởng rất lớn đến nội dung của chính sách NCC, thể hiện quan điểm, bản chất của quyền lực giai cấp đại diện cho lợi ích của toàn dân, ý chí, quyết tâm của Đảng và Nhà nước, của chế độ xã hội chủ nghĩa đối với người có công Quan điểm của Đảng ta đối với chính sách người có công là nhất quán, là sự thể hiện đạo lý “uống nước nhớ nguồn”, “ăn quả nhớ người trồng cây”, ghi nhớ và tôn vinh người có công điều này được thể hiện trong Hiến pháp và các Nghị quyết của Đảng Các chủ thể hoạt động trong bộ máy nhà nước là những cán bộ, công chức chịu sự điều chỉnh, chi phối bởi yếu tố quyền lực chính trị
Một khi đất nước duy trì môi trường hòa bình, ổn định và bảo đảm an ninh chính trị thì người dân sẽ đồng thuận và gia tăng lòng tin, ủng hộ Đảng
và Nhà nước, bản thân họ cũng yên tâm và hăng say trong lao động sản xuất Đây chính là cơ sở quan trọng tạo lập môi trường hấp dẫn nhằm thu hút các nhà đầu tư trong và ngoài nước yên tâm đầu tư dài hạn, giúp cho việc đóng góp ngân sách và tích lũy quỹ phúc lợi xã hội lớn hơn để duy trì và thực hiện tốt chính sách; và ngược lại
Các quy định hướng dẫn việc thực thi chính sách phải căn cứ và tuân thủ Hiến pháp, các quy định của pháp luật, lấy đó làm cơ sở pháp lý cao nhất để tất cả các tổ chức, cá nhân phải tuân theo trong quá tham gia và thực thi chính sách Vì chính sách đối với NCC trước hết phải thực hiện cho được mục tiêu của Đảng và Nhà nước đó là phục vụ vì lợi ích của cộng đồng, người dân và toàn xã hội Thực hiện tốt chính sách NCC với cách mạng sẽ đóng góp vào việc giữ gìn thể chế và bảo vệ sự ổn định chính trị - xã hội
Trang 351.4.2 Nhân tố kinh tế, xã hội
Yếu tố này có tác động rất lớn trong thực thi chính sách NCC Khi dân giàu có, nước mạnh, khả năng và tiềm lực kinh tế đủ lớn, thì cùng với chính sách Nhà nước và Nhân dân đóng góp sẽ hiệu quả hơn và việc huy động sức dân sẽ dễ dàng hơn trong việc chăm sóc NCC
1.4.3 Nhân tố nhận thức
Sự nhận thức đúng đắn, sâu sắc và đồng thuận ủng hộ của Nhân dân là yếu tố cốt lõi có vai trò đặc biệt quan trọng quyết định sự thành công của một chính sách Bởi người dân họ không chỉ là lực lượng trực tiếp tham gia hiện thực hóa mục tiêu của chính sách, mà họ còn trực tiếp thụ hưởng lợi ích mà chính sách mang lại Do vậy, một chính sách đáp ứng được nhu cầu thực tế của xã hội thì nó sẽ nhanh chóng đi vào lòng dân được Nhân dân ủng hộ, ngược lại một chính sách ra đời không thiết thực với đời sống người dân, không phù hợp với tình hình thực tế thì sẽ bị tẩy chay hoặc bỏ rơi không thực hiện
Hồ Chủ Tịch từng dạy: “Dễ trăm lần không dân cũng chịu, khó vạn lần dân liệu cũng xong”, một chính sách chỉ có thể thành công khi nó nhận được
sự ủng hộ của người dân, nếu bản thân chính sách đó không đem lại lợi ích cho đa số NCC, nếu Nhân dân chưa hiểu đúng mục đích của chính sách thì sẽ không ủng hộ và không thực hiện Nếu chính sách đáp ứng được những bức xúc nguyện vọng chính đáng của nhân dân thì nó sẽ được duy trì và phát triển,
vì nó đáp ứng được lợi ích do chính sách mang lại
1.4.4 Nhân tố năng lực tổ chức thực hiện
Tinh thần trách nhiệm và ý thức kỷ luật là yêu cầu rất quan trọng đối với mỗi cán bộ, công chức để thực hiện việc đưa chính sách của Nhà nước vào cuộc sống, không có năng lực thực tế thì việc chuyển tải, truyền đạt đưa ra những kế hoạch dự kiến không sát thực tế làm lãng phí nguồn lực, giảm hiệu lực, hiệu quả của chính sách
Việc giao tiếp, truyền đạt cho người thực thi về nội dung và yêu cầu của
Trang 36chính sách, nếu quan hệ giao tiếp không trọn vẹn thì hoạt động thực thi sẽ chệch hướng mà các nhà hoạch định mong muốn, nếu không nắm rõ nội dung yêu cầu đề ra, người dân không biết đến, hoặc hiểu sai, hiểu không đầy đủ về chính sách thì sẽ hạn chế về kết quả thực thi
Thành công của một chính sách phụ thuộc rất nhiều vào khả năng và sự hoạt động của cơ quan bộ máy hành pháp, đội ngũ thi hành chính sách Nếu
bộ máy quan liêu, hoạt động kém hiệu quả, cán bộ, công chức thiếu năng lực trách nhiệm và sự trong sạch thì nó sẽ gây khó cho thực hiện chính sách, ngăn chặn không cho chính sách phát huy, hoặc bóp méo chính sách
1.4.5 Nhân tố phong tục tập quán
Những đặc tính về phong tục tập quán nó có liên quan tới tính tự giác, thói quen, tính truyền thống, tính kỷ luật, tính cần cù sáng tạo … trong quá trình tham gia thực thi chính sách
Phong tục tập quán theo vùng, miền, văn hóa, sinh hoạt là những thói quen lâu đời, gần gủi, bền lâu, khó thay đổi được cộng đồng thừa nhận và tính
tự giác thực hiện được lưu truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác Sự ảnh hưởng của phong tục tập quán đến thực thi chính sách như là một hiện tượng
có tính quy luật, phong tục tập quán lạc hậu, phản tiến bộ sẽ trở thành lực cản trong việc thực thi chính sách, ngược lại phong tục, tập quán tốt đẹp, tiến bộ
sẽ đóng vai trò tích cực trong thực thi chính sách Vì vậy cán bộ, công chức cần thể hiện sự thân thiện, hòa đồng, gần gũi với Nhân dân để có được những thuận lợi nhất định, chẳng hạn như cùng ăn, ở với đồng bào dân tộc thiểu số
để tạo niềm tin, phát huy vai trò của các già làng, người có uy tín, phải biết nói được tiếng đồng bào dân tộc thì dễ dàng cho người truyền đạt lẫn người nghe, có như vậy mới truyền tải được chính sách vào cuộc sống đối với các đồng bào dân tộc thiểu số nói riêng và Nhân dân nói chung
1.4.6 Nhân tố về nguồn nhân lực, tài chính và cơ sở vật chất
Để thực thi chính sách thì vấn đề quyết định trực tiếp là đội ngũ cán bộ,
Trang 37công chức thực hiện Ở đó, vai trò người đứng đầu chỉ đạo, điều hành thực thi chính sách là hệ trọng Theo đó, việc phân công cán bộ, công chức thực thi chính sách NCC đòi hỏi là những người có trình độ, tâm huyết, đạo đức để đảm bảo chính sách, thể hiện năng lực được triển khai thực hiện đúng đối tượng và mục tiêu chính sách ban hành
Để thực hiện chính sách trong bối cảnh hội nhập và nền kinh tế thị trường hiện nay, Nhà nước phải tăng cường các nguồn lực vật chất, trong đó nguồn lực tài chính phải đảm bảo để hiện thực hóa các nội dung cần thiết như: mua sắm trang thiết bị, máy móc, phương tiện làm việc cho đội ngũ cán bộ, công chức; cơ sở chăm sóc, phụng dưỡng NCC; nguồn ngân sách ổn định hằng năm để chi trả cho các đối tượng và đầu tư, nâng cấp các di tích lịch sử, các nghĩa trang liệt sĩ, chi phí tìm và quy tập mộ liệt sĩ…
Tiểu kết chương 1
Chương 1 của luận văn đã góp phần hệ thống hóa một số vấn đề về lý luận, nội dung chủ yếu, đó là: Khái quát hóa lý luận, các nội dung về chính sách ưu đãi NCC, chính sách xã hội, các quan điểm, chủ trương của Đảng, chính sách của Nhà nước đối với NCC; vai trò, ý nghĩa, tầm quan trọng của chính sách NCC và luận giải sự cần thiết phải ban hành chính sách đối với NCC Từ việc làm rõ cơ sở lý luận về các bước trong thực thi chính sách NCC
và các nhân tố tác động đến quá trình thực thi chính sách NCC để cung cấp cách nhìn căn bản về các bước tổ chức thực thi chính sách Từ đây, Chương 1 cung cấp cơ sở lý luận làm chỗ dựa để nghiên cứu đánh giá thực trạng thực hiện chính sách đối với người có công trên địa bàn huyện Sơn Tây, tỉnh Quảng Ngãi trong giai đoạn từ năm 2013 - 2018
Trang 38CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH ĐỐI VỚI NGƯỜI CÓ CÔNG TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN SƠN TÂY, TỈNH QUẢNG NGÃI
2.1 Điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội của huyện Sơn Tây
2.1.1 Điều kiện tự nhiên
Sơn Tây là một huyện miền núi vùng cao của tỉnh Quảng Ngãi, cách thành phố Quảng Ngãi khoảng 80 km Phía Đông giáp huyện Sơn Hà (Quảng Ngãi), phía Tây giáp huyện Kon Plông (tỉnh Kon Tum), phía Nam giáp huyện Sơn Hà (Quảng Ngãi) và huyện Kon Plông (tỉnh Kon Tum), phía Bắc giáp huyện Nam Trà My (Quảng Nam)
Địa hình phức tạp, hiểm trở thấp dần từ Tây sang Đông Đồi núi có độ dốc cao, thung lũng hẹp, bị chia cắt bởi con sông lớn (sông ĐắkRin), và nhiều suối nhỏ; điểm cao nhất 1.606,3m các đỉnh thấp dần theo hướng Tây Bắc - Đông Nam Nhìn chung, địa hình ở đây rất dốc, hiểm trở, khó khăn cho sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp
Huyện Sơn Tây nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa, chịu ảnh hưởng khí hậu của cả vùng Duyên hải Nam Trung bộ và vùng Tây Nguyên, nên huyện có 2 mùa rõ rệt (mùa khô từ tháng 3 đến tháng 8, và mùa mưa từ tháng 9 đến tháng 02 năm sau) Nhiệt độ hàng năm bình quân từ 22,50C - 25,50C Tháng giêng là tháng lạnh nhất với nhiệt độ thấp nhất 80C, tháng sáu
là tháng nóng nhất với nhiệt độ 380C Độ ẩm hàng năm bình quân 88% - 90%, cao nhất 95% và thấp nhất 55%; Lượng mưa hàng năm bình quân 2.700 mm Tổng diện tích tự nhiên của huyện Sơn Tây 382,21 km2, trong đó có 92,9% diện tích đất tự nhiên được sử dụng cho nông nghiệp và chủ yếu là đất lâm nghiệp, đất rừng
Với đặc điểm tự nhiên của huyện Sơn Tây - một huyện miền núi vùng
Trang 39cao của tỉnh Quảng Ngãi có địa hình phức tạp, hiểm trở như vậy khiến cho đời sống người dân nơi đây gặp không ít khó khăn, nhất là lại càng khó khăn đối với gia đình và thân nhân của NCC Từ đặc điểm tự nhiên khách quan này cùng với vị trí của huyện Sơn Tây có tầm quan trọng việc giữ vững ổn định an ninh, quốc phòng của tỉnh và cả nước, nên phải đặc biệt quan tâm đầu tư và chú trọng đến việc thực hiện chính sách đối với NCC ở khía cạnh tạo cơ sở động lực, cung cấp chỗ dựa xây dựng niềm tin đối với Đảng và Nhà nước thông qua triển khai hiệu quả chính sách này để khắc phục hoàn cảnh, cải thiện đời sống, giữ vững ổn định cuộc sống và an ninh chính trị trên địa bàn huyện
2.1.2 Điều kiện kinh tế - xã hội
Sơn Tây là huyện miền núi, vùng cao trong 61 huyện nghèo (theo Nghị quyết 30a/2008/NQ-CP ngày 27 tháng 12 năm 2008 của Chính phủ) Toàn huyện có 09 đơn vị hành chính cấp xã, dân số toàn huyện có 7.126 hộ, với 21.352 nhân khẩu, gồm 03 dân tộc Kadong, Hre, và dân tộc kinh Trong đó, đồng bào dân tộc Kadong chiếm đa số (87,4%) Diện tích tương đối lớn so với dân số toàn huyện, đa số người dân sống rải rác trên các đồi núi, thưa thớt, mật độ dân số khoảng 56 người/km2 Một số khu vực Nhân dân sống tập trung như: xã Sơn Dung, Sơn Mùa, Sơn Tinh, Sơn Tân Dân số trong độ tuổi lao động toàn huyện có 14.365 lao động chiếm 67,2% tổng dân số: 78,2% lao động nông nghiệp và 21,8% lao động phi nông nghiệp
- Về kinh tế - xã hội: huyện Sơn Tây có tốc độ tăng trưởng kinh tế 13,8%
và thu nhập bình quân 12,5 triệu đồng/người/năm Hiện nay, tuy trên địa bàn huyện không còn hộ đói, nhưng tỷ lệ hộ nghèo và hộ cận nghèo còn cao tương ứng với 33% và 15,02% (tính đến cuối năm 2018)
Kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội được quan tâm đầu tư, cùng với các chương trình, chính sách của nhà nước hỗ trợ vùng miền núi khó khăn như
Trang 40chương trình 30a, 135, nông thôn mới…Hầu hết các tuyến đường quan trọng được đầu tư, nâng cấp góp phần thúc đẩy nhanh phát triển kinh tế - xã hội vùng miền núi, bảo đảm giao thông thông suốt trong mùa mưa lũ, tạo điều kiện thuận lợi cho giao thương hàng hóa từ đồng bằng lên miền núi Hiện nay trên địa bàn huyện gồm các tuyến đường: đường Trường Sơn Đông gần 40
km nối liền các huyện Nam Trà My (Quảng Nam), huyện Kon Plong (Kon Tum); 25 km đường tỉnh lộ 623; đường huyện 10 tuyến với tổng chiều dài 122,23 km, đã cứng hoá được 78,53 km đạt 64,25%; đường thôn, xóm 103
km, cứng hóa 38,26 km đạt 37%; còn lại là đường mòn dân tự tạo
Với đại bộ phận các thôn, xóm cơ sở hạ tầng còn chưa phát triển, nhất là phần lớn đường giao thông liên thôn, xóm là đường đất chưa được bê tông hóa nên đi lại rất khó khăn vào mùa mưa, đường vào các khu canh tác sản xuất chưa được đầu tư nên gặp khó khăn về vận chuyển khai thác các loại lâm sản cho Nhân dân
- Về văn hóa – xã hội: Chất lượng giáo dục miền núi được nâng lên, cơ
sở vật chất được tăng cường Đến nay 100% số xã, trường đã hoàn thành phổ cập giáo dục đúng độ tuổi, 95% số xã đạt chuẩn phổ cập trung học cơ sở Ngoài hệ thống các trường, còn có 01 trường phổ thông dân tộc nội trú, 4 trường trung học cơ sở bán trú tạo điều kiện cho con em đến trường được ăn,
ở tại trường hạn chế cơ bản tình trạng học sinh bỏ học, học “giã gạo” Công tác chăm sóc sức khỏe Nhân dân và thực hiện các chương trình quốc gia về y
tế, dân số, kế hoạch hóa gia đình có nhiều chuyển biến tích cực 100% số xã
có trạm y tế đạt chuẩn và bác sĩ làm việc Việc giữ gìn, phát huy giá trị văn hóa và xây dựng đời sống văn hóa cơ sở đạt nhiều kết quả 96% số thôn, khu dân cư được phủ sóng phát thanh; 74% số thôn, khu dân cư được phủ sóng truyền hình
Đặc điểm của người đồng bào dân tộc thiểu số trên địa bàn huyện Sơn