1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Thực hiện chính sách phát triển đội ngũ cán bộ, lãnh đạo, quản lý cấp xã là người dân tộc thiểu số tại huyện sơn tây, tỉnh quảng ngãi

81 73 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 81
Dung lượng 2,59 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Các nhân tố ảnh hưởng đến việc thực hiện chính sách phát triển đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý cấp xã là người dân tộc thiểu số ...29 CHƯƠNG 2: THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH PHÁT TRIỂN Đ

Trang 1

Ngành : Quản lý kinh tế

Mã số : 8 34 04 10

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC

TS HOÀNG DƯƠNG VIỆT ANH

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM

HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

ĐINH NHƯ TRƯỚC

THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH PHÁT TRIỂN

ĐỘI NGŨ CÁN BỘ, LÃNH ĐẠO, QUẢN LÝ CẤP XÃ

LÀ NGƯỜI DÂN TỘC THIỂU SỐ TẠI HUYỆN SƠN TÂY, TỈNH QUẢNG NGÃI

Chuyên ngành : Chính sách công

Mã số : 8 34 04 02

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:

PGS TS ĐÀO THỊ ÁI THI

HÀ NỘI, năm 2019

Trang 2

LỜI CAM ĐOAN

Đề tài nghiên cứu “Thực hiện chính sách phát triển đội ngũ cán bộ, lãnh

đạo, quản lý cấp xã là người dân tộc thiểu số tại huyện Sơn Tây, tỉnh Quảng Ngãi” là kết quả của quá trình nghiên cứu và khảo sát, đánh giá việc thực hiện

chính sách phát triển đội ngũ cán bộ, lãnh đạo, quản lý cấp xã là người dân tộc thiểu số tại huyện Sơn Tây, tỉnh Quảng Ngãi Cùng với sự hướng dẫn tận tình của PGS.TS Đào Thị Ái Thi Tôi xin cam đoan số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn Thạc sĩ Chính sách công về đề tài này là hoàn toàn trung thực, khách quan và không trùng lặp với các đề tài khác trong cùng lĩnh vực

Tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm về lời cam đoan này

Tác giả luận văn

Đinh Như Trước

Trang 3

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU Lỗi! Thẻ đánh dấu không được xác định CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ VIỆC THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH PHÁT TRIỂN ĐỘI NGŨ CÁN BỘ LÃNH ĐẠO, QUẢN LÝ CẤP XÃ LÀ NGƯỜI DÂN TỘC THIỂU SỐ ……… .……….7

1.1 Khái niệm, đặc điểm, vai trò, chức năng, nhiệm vụ cán bộ lãnh đạo, quản lý cấp

xã là người dân tộc thiểu số 7 1.2 Các tiêu chí để thực hiện chính sách phát triển đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý cấp xã là người dân tộc thiểu số 14 1.3 Các hoạt động thực hiện chính sách phát triển đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý cấp xã là người dân tộc thiểu số 22 1.4 Các nhân tố ảnh hưởng đến việc thực hiện chính sách phát triển đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý cấp xã là người dân tộc thiểu số 29

CHƯƠNG 2: THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH PHÁT TRIỂN ĐỘI NGŨ CÁN BỘ LÃNH ĐẠO, QUẢN LÝ CẤP XÃ LÀ NGƯỜI DÂN TỘC THIỂU SỐ TẠI HUYỆN SƠN TÂY, TỈNH QUẢNG NGÃI Lỗi! Thẻ đánh dấu không được xác định

2.1 Khái quát về đặc điểm tự nhiên, xã hội vùng dân tộc thiểu số tại huyện Sơn Tây

……….L ỗi! Thẻ đánh dấu không được xác định

2.2 Thực trạng thực hiện chính sách phát triển đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý cấp

xã là người dân tộc thiểu số tại huyện Sơn Tây Lỗi! Thẻ đánh dấu không được xác định

CHƯƠNG 3: ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH PHÁT TRIỂN ĐỘI NGŨ CÁN BỘ LÃNH ĐẠO, QUẢN LÝ CẤP XÃ LÀ NGƯỜI DÂN TỘC THIỂU SỐ TẠI HUYỆN SƠN TÂY, QUẢNG NGÃI HIỆN NAY

……….60 3.1 Thực hiện chính sách quy hoạch, đào tạo, bồi dưỡng cán bộ lãnh đạo, quản lý cấp xã là người dân tộc thiểu số 60

Trang 4

3.2 Đổi mới việc thực hiện chính sách công tác đề bạt, bố trí cán bộ lãnh đạo, quản

lý cấp xã là người dân tộc thiểu số, đặc biệt là người uy tín 64 3.3 Thực hiện chính sách đánh giá, phân loại cán bộ lãnh đạo, quản lý cấp xã là người dân tộc thiểu số 65 3.4 Đổi mới cách thức thực hiện chính sách khen thưởng, kỷ luật cán bộ, công chức ……….67 3.5 Tăng cường thực hiện chính sách kiểm tra, thanh tra, giám sát việc thực hiện công vụ của cán bộ lãnh đạo, quản lý cấp xã người dân tộc thiểu số 68 3.6 Thực hiện đúng đắn chế độ chính sách ưu đãi đối với cán bộ cấp xã người dân tộc thiểu số 69

KẾT LUẬN 72 TÀI LIỆU THAM KHẢO

Trang 5

Thực trạng cán bộ lãnh đạo, quản lý cấp xã là người dân tộc

43

2.8

Kết quả đào tạo, bồi dưỡng cán bộ lãnh đạo, quản lý cấp xã là người dân tộc thiểu số giai đoạn 2015 - 2018 45

Trang 6

2.9

Thực hiện chính sách phát triển của cấp trên về sự phù hợp giữa trình độ, năng lực của cán bộ lãnh đạo, quản lý cấp xã là người dân tộc thiểu số đối với các vị trí đang đảm nhận

49

Trang 7

1

PHẦN MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của Đề tài

Hiến pháp nước Cộng Hòa Xã hội Chủ Nghĩa Việt Nam năm 2013 và Luật tổ chức chính quyền địa phương năm 2015, xác định chính quyền cấp xã có chức năng bảo đảm việc chấp hành các chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước Những quyết định của Nhà nước và chính quyền các cấp khi ban hành, triển khai thực hiện phải đảm bảo phát huy mọi khả năng và tiềm năng của địa phương trên các phương diện như chính trị, kinh tế, văn hóa – xã hội, an ninh, quốc phòng, không ngừng cải thiện đời sống vật chất và tinh thần cho Nhân dân và làm tròn nghĩa vụ của địa phương với Nhà nước

Nhiệm vụ chính quyền cấp xã được Luật tổ chức chính quyền địa phương năm 2015 quy định Sự vững mạnh của chính quyền cấp xã là nền tảng cho sự vững mạnh của hệ thống chính quyền trong cả nước và ngược lại Mục tiêu của công nhiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, là đưa nước ta trở thành nước công nghiệp, có cơ

sở vật chất, kỹ thuật hiện đại, cơ cấu kinh tế hợp lý, quan hệ sản xuất tiến bộ, phù hợp với trình độ Thực hiện chính sách phát triển của lực lượng sản xuất, đời sống vật chất và tinh thần được nâng cao, quốc phòng an ninh vững chắc, dân giàu, nước mạnh, xã hội dân chủ, công bằng, văn minh

Trong xu thế hội nhập và toàn cầu hóa như hiện nay, đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý cấp xã người dân tộc thiểu số có một vai trò rất quan trọng, là lực lượng nòng cốt để điều hành hoạt động của bộ máy tổ chức chính quyền cấp xã ở vùng cao, miền núi, nơi có đông người dân tộc thiểu số đang sinh sống Vì thế, cán

bộ lãnh đạo, quản lý người dân tộc thiểu số là nhân tố có ý nghĩa chiến lược, quyết định sự thành bại của cuộc xây dựng và phát triển đất nước

Hồ Chí Minh từng khẳng định “Cán bộ là cái gốc của mọi công việc”,

“Muôn việc thành công hay thất bại đều do cán bộ tốt hay kém” Xuất phát từ quá trình đẩy mạnh công nhiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, việc thực hiện chính sách phát triển đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý cấp xã là người dân tộc thiểu số có ý nghĩa quan trọng tới sự phát triển bền vững của huyện Sơn Tây nói riêng

Trang 8

2

Trong quá trình lãnh đạo cách mạng, Đảng ta ngày càng thấm nhuần và quan tâm, chăm lo công tác cán bộ, Thực hiện chính sách phát triển đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý nói chung, cán bộ lãnh đạo, quản lý cấp xã là người dân tộc thiểu số có phẩm chất, năng lực nhằm đáp ứng yêu cầu công cuộc đổi mới nói riêng Nghị quyết Trung ương 3 Khóa VIII về chiến lược cán bộ nêu rõ “Cán bộ là nhân tố quyết định sự thành bại của cách mạng, là khâu then chốt trong công tác thực hiện chính sách phát triển Đảng”

Những năm qua huyện Sơn Tây đã được chú trọng thực hiện chính sách phát triển đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý cấp xã là người dân tộc thiểu số, tạo ra sự chuyển biến nhất định, góp phần thúc đẩy kinh tế - xã hội của huyện nhà phát triển Tuy nhiên, công tác cán bộ nói chung và việc Thực hiện chính sách phát triển đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý cấp xã người dân tộc thiểu số tại huyện Sơn Tây nói riêng vẫn còn nhiều hạn chế

Nghị quyết của Đại hội Đảng bộ tỉnh Quảng Ngãi lần thứ XIX khẳng định: tiếp tục Thực hiện chính sách phát triển đội ngũ cán bộ, đặc biệt Thực hiện chính sách phát triển đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý là người dân tộc thiểu số trẻ, có năng lực trên địa bàn tỉnh Quảng Ngãi, đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ thực hiện thắng lợi các mục tiêu nhiệm kỳ 2015 - 2020 và những năm tiếp theo trở thành nhiệm vụ cấp thiết; Đại hội Đảng bộ huyện Sơn Tây lần thứ XII, nhiệm kỳ 2015 – 2020 lại tiếp tục khẳng định điều này Xuất phát từ yêu cầu đó, tôi chọn đề tài “Thực hiện chính sách Thực hiện chính sách phát triển đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý cấp xã là người dân tộc thiểu số tại huyện Sơn Tây, tỉnh Quảng Ngãi” để làm Luận văn thạc sĩ của mình

2 Tổng quan tình hình nghiên cứu luận văn

Quan điểm nghiên cứu dựa trên cơ sở chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, của Đảng về vai trò, vị trí người cán bộ cách mạng, yêu cầu đào tạo, thực hiện chính sách phát triển đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý cấp xã là người dân tộc thiểu số, tìm hiểu những bài học kinh nghiệm về việc thực hiện chính sách phát triển nhân tài của dân tộc Từ đó xác định các yêu cầu, tiêu chuẩn của cán bộ lãnh

Trang 9

Luận văn có thể kế thừa những kết quả nghiên cứu để đưa ra những tiêu chuẩn để thực hiện chính sách phát triển đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý cấp xã là người dân tộc thiểu số phù hợp với xu thế phát triển nói chung và phù hợp với điều kiện, đặc trưng của huyện Sơn Tây

Công tác thực hiện chính sách phát triển đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý cấp xã là người dân tộc thiểu số nói chung, cũng như sự vận dụng lý luận vào tình hình thực tiễn đều là những công trình, sản phẩm có giá trị, có ý nghĩa về mặt lý luận và thực tiễn, là cơ sở để kế thừa cho việc nghiên cứu sau này Tuy nhiên, trong

xu thế hội nhập và toàn cầu hóa thì vấn đề thực hiện chính sách phát triển đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý cấp xã là người dân tộc thiểu số vẫn hết sức cấp thiết Hiện nay chưa có công trình nào nghiên cứu trực tiếp về vấn đề thực hiện chính sách phát triển cán bộ lãnh đạo, quản lý cấp xã là người dân tộc thiểu số tại huyện Sơn Tây, tỉnh Quảng Ngãi Việc chọn nghiên cứu đề tài này có ý nghĩa trong lý luận, thực tiễn, góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động của cả hệ thống chính trị cấp xã tại huyện Sơn Tây hiện tại và về sau

3 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu của luận văn

3.1 Mục đích của luận văn

Việc nghiên cứu luận văn để làm rõ cơ sở lý luận và thực trạng thực hiện chính sách phát triển của đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý cấp xã là người dân tộc thiểu số, nhằm đề xuất một những giải pháp thực hiện chính sách phát triển đội ngũ

Trang 10

4

cán bộ lãnh đạo, quản lý cấp xã là người dân tộc thiểu số tại huyện Sơn Tây, tỉnh Quảng Ngãi

3.2 Nhiệm vụ của luận văn

- Khảo sát, phân tích việc thực hiện chính sách phát triển cán bộ lãnh đạo, quản lý cấp xã là người dân tộc thiểu số tại huyện Sơn Tây, tìm ra những ưu điểm, những nguyên nhân hạn chế làm kìm hãm việc thực hiện chính sách phát triển cán

bộ lãnh đạo, quản lý cấp xã là người dân tộc thiểu số tại huyện Sơn Tây, tỉnh Quảng Ngãi ở mức độ thấp nhất

- Đề xuất một số giải pháp thực hiện chính sách phát triển cán bộ lãnh đạo, quản lý cấp xã là người dân tộc thiểu số tại huyện Sơn Tây tỉnh Quảng Ngãi

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận văn

4.1 Đối tượng nghiên cứu của luận văn

Luận văn nghiên cứu vấn đề thực hiện chính sách phát triển cán bộ lãnh đạo, quản lý cấp xã là người dân tộc thiểu số tại huyện Sơn Tây, tỉnh Quảng Ngãi

4.2 Phạm vi nghiên cứu của luận văn

- Phạm vi đối tượng: Nghiên cứu việc thực hiện chính sách phát triển chức vụ,

chức danh cán bộ lãnh đạo, quản lý cấp xã là người dân tộc thiểu số (gồm các chức vụ và các chức danh được quy định tại điểm a, b, c khoản 1, Điều 3 của Nghị định số 92/2009/NĐ-CP ngày 22/10/2009 và được sửa đổi, bổ sung năm 2013; luận văn không nghiên cứu chức danh Chủ tịch Hội đồng nhân dân xã, vì chức danh này do đồng chí

Bí thư hoặc Phó Bí thư kiêm nhiệm)

- Phạm vi không gian: Luận văn nghiên cứu cán bộ lãnh đạo, quản lý cấp xã

tại huyện Sơn Tây, tỉnh Quảng Ngãi

- Phạm vi thời gian: Từ năm 2015 đến tháng 12 năm 2018

5 Phương pháp nghiên cứu của luận văn

5.1 Phương pháp luận

Đề tài áp dụng chủ nghĩa duy vật lịch sử và duy vật biện chứng để tiếp cận

và phân tích các yếu tố ảnh hưởng tới vấn đề thực hiện chính sách phát triển đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý cấp xã là người dân tộc thiểu số

Trang 11

5

5.2 Phương pháp thu thập thông tin

Phương pháp thống kê: Số liệu thống kê thu thập được phân loại theo nhóm

nội dung; số liệu được xử lý bằng phần mềm Excel

Phương pháp so sánh: Thực hiện phương pháp so sánh để thu thập thông tin

về điều kiện cần và đủ về vấn đề thực hiện chính sách phát triển cán bộ lãnh đạo, quản lý cấp xã là người dân tộc thiểu số

Phương pháp phân tích tài liệu: Phân tích nội dung tài liệu để thu thập, thống kê,

so sánh, kết hợp nghiên cứu lý luận với tổng kết thực tiễn, nhằm làm rõ nội dung cơ bản của đề tài luận văn, bảo đảm tính khoa học và logic giữa các vấn đề được nêu ra Ngoài ra luận văn cũng kế thừa các kết quả của các công trình nghiên cứu có liên quan đến nội dung đề tài nhằm làm rõ những vấn đề chính của luận văn

6 Những đóng góp về khoa học, ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn

Kết quả nghiên cứu, đề tài góp phần khái quát và làm rõ thêm cơ sở lý luận về thực trạng thực hiện chính sách phát triển đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý cấp

xã là người dân tộc thiểu số tại huyện Sơn Tây, đồng thời tìm ra những bất cập, hạn chế, những yếu tố ảnh hưởng đến sự việc thực hiện chính sách phát triển đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý cấp xã là người dân tộc thiểu số tại huyện Sơn Tây, tỉnh Quảng Ngãi, những vấn đề đang đặt ra và những quan điểm, giải pháp bảo đảm để thực hiện chính sách phát triển đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý cấp xã là người dân tộc thiểu số tại huyện Sơn Tây trong hình hiện nay

Luận văn góp phần làm sáng tỏ, bổ sung lý luận về việc thực hiện chính sách phát triển đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý cấp xã là người dân tộc thiểu số, góp phần đẩy mạnh cải cách nền hành chính Nhà nước, xây dựng Nhà nước pháp quyền

xã hội chủ nghĩa Việt Nam

Kết quả nghiên cứu của Luận văn là tài liệu tham khảo có giá trị trong tổng kết thực tiễn về thực hiện chính sách phát triển đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý cấp xã là người dân tộc thiểu số nói chung, đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý cấp xã là người dân tộc thiểu số tại huyện Sơn Tây nói riêng

Trang 12

6

7 Kết cấu luận văn

Phần mở đầu, danh mục tài liệu tham khảo, kết luận, luận văn còn có:

Chương 1: Cở sở lý luận về việc thực hiện chính sách phát triển đội ngũ cán

bộ lãnh đạo, quản lý cấp xã người dân tộc thiểu số

Chương 2: Thực trạng thực hiện chính sách phát triển đội ngũ cán bộ lãnh

đạo, quản lý cấp xã là người dân tộc thiểu số tại huyện Sơn Tây, tỉnh Quảng Ngãi

Chương 3: Đề xuất một số giải pháp thực hiện chính sách phát triển đội ngũ

cán bộ lãnh đạo, quản lý cấp xã là người dân tộc thiểu số tại huyện Sơn Tây, tỉnh Quảng Ngãi

Trang 13

7

Chương 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ VIỆC THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH PHÁT TRIỂN

ĐỘI NGŨ CÁN BỘ LÃNH ĐẠO, QUẢN LÝ CẤP XÃ

LÀ NGƯỜI DÂN TỘC THIỂU SỐ

1.1 Khái niệm, đặc điểm, vai trò, chức năng, nhiệm vụ cán bộ lãnh đạo, quản lý cấp xã là người dân tộc thiểu số

1.1.1 Khái niệm

1.1.1.1 Khái niệm cán bộ

Cán bộ là một khái niệm được phổ biến nhiều quốc gia trên thế giới để chỉ những người được bầu, bổ nhiệm trong cơ quan Đảng và Nhà nước, do tính chất đặc thù của mỗi quốc gia, khái niệm cán bộ của các nước không đồng nhất Một số nước khác có quan niệm rộng hơn, cán bộ không chỉ bao gồm những người thực hiện trực tiếp các hoạt động quản lý Nhà nước mà còn bao gồm cả những người làm việc trong các cơ quan có tính chất công cộng

Tại Khoản 1 Điều 3 Nghị định 158/2007/NĐ-CP quy định danh mục các vị trí công tác và thời hạn định kỳ chuyển đổi với cán bộ, công chức, viên chức như sau: “Cán bộ, công chức, viên chức giữ chức vụ lãnh đạo, quản lý” là người được bầu cử hoặc được cấp có thẩm quyền bổ nhiệm và giữ chức vụ có thời hạn trong cơ quan Đảng, Nhà nước và được hưởng phụ cấp lãnh đạo Cán bộ là những người điều hành quyền lực Nhà nước, được bổ nhiệm theo các trình tự luật định, chịu sự điều chỉnh của Hiến Pháp, Luật cán bộ, công chức năm 2008 được sửa đổi, bổ sung năm 2013

1.1.1.2 Khái niệm lãnh đạo

Lãnh đạo là quá trình hoạt động của người mang tính định hướng, gây ảnh hưởng, tạo dựng niềm tin, thuyết phục người khác để họ đồng thuận trong việc thực hiện đường lối, chủ trương hướng tới mục tiêu cụ thể nào đó Người lãnh đạo có cái nhìn tổng quát hơn, hướng đến mục tiêu dài hạn, chú trọng vào các vấn đề trao đổi, giao tiếp, thúc đẩy, tạo động lực và thu hút nguồn nhân lực thực hiện mục tiêu đã

định hướng

Trang 14

8

1.1.1.3 Khái niệm quản lý

Quản lý là việc thực hiện các chức năng, quy trình, quy định trong khuôn khổ các thể chế được xác định như kế hoạch hóa, tổ chức, điều phối, kiểm soát các hoạt động để đạt được các mục tiêu của tổ chức Người quản lý làm cho nhân viên phải phục tùng, tuân thủ do thẩm quyền từ vị trí của họ có được

1.1.1.4 Khái niệm người dân tộc thiểu số

Dân tộc thiểu số là những dân tộc có số dân ít hơn so với dân tộc đa số ( có

số ít hơn với dân tộc Kinh) trên phạm vi lãnh thổ nước Việt Nam, được quy định Tại khoản 2 Điều 4 Nghị định số 05/2011/NĐ-CP

1.1.1.5 Khái niệm cán bộ lãnh đạo, quản lý cấp xã là người dân tộc thiểu số

Cán bộ lãnh đạo, quản lý cấp xã người dân tộc thiểu số, là những người dân

tộc ít người được bầu cử giữ chức vụ theo nhiệm kỳ trong Thường trực Hội đồng Nhân dân, Ủy ban Nhân dân, Bí thư, Phó Bí thư Đảng ủy, người đứng đầu tổ chức chính trị - xã hội được quy định Tại Điều 4, Khoản 3 Luật cán bộ, cán bộ năm 2008

Cơ cấu cán bộ lãnh đạo, quản lý cấp xã theo Điểm a; b; c, Khoản 2, Điều 61 của Luật cán bộ, công chức 2008, quy định các chức danh sau đây:

a) Bí thư, Phó Bí thư Đảng ủy;

b) Chủ tịch, Phó Chủ tịch Hội đồng Nhân dân;

c) Chủ tịch, Phó Chủ tịch Ủy ban Nhân dân;

Như vậy, người dân tộc thiểu số làm việc Nhà nước thuộc phạm vi điều chỉnh tại Khoản 3 Điều 4 và Điểm a; b; c Khoản 2 Điều 61 của Luật cán bộ, công chức năm

2008, là cán bộ lãnh đạo, quản lý cấp xã người dân tộc thiểu số

1.1.2 Đặc điểm dân tộc thiểu số, cán bộ lãnh đạo, quản lý cấp xã là người dân tộc thiểu số

1.1.2.1 Đặc điểm dân tộc thiểu số

Người dân tộc thiểu số là những tộc người luôn đoàn kết gắn bó mật thiết với nhau theo dòng tộc, sống theo làng, bản, họ có tiếng nói và phong tục tập quán riêng biệt, sống chủ yếu bằng nghề lao động chân tay, sản xuất tự cung, tự cấp, phương thức canh tác chủ đạo làm nương, rẫy và canh tác theo thói quen, cuộc sống nghèo

Trang 15

9

nàn, lạc hậu, thiếu thốn về vật chất, tinh thần so với người đa số, thiếu tính toán hợp

lý và mất cân đối giữa thu và chi, ít được cập nhật kiến thức về khoa học Về trình

độ chuyên môn, nghiệp vụ, trình đọ nhận thứ tiếp nhận, ứng dụng khoa học, kỹ thuật họ là những người tiếp cận muộn hơn so với dân tộc đa số

1.1.2.2 Đặc điểm của cán bộ cấp xã là người dân tộc thiểu số

Cán bộ lãnh đạo, quản lý cấp xã người dân tộc thiểu số là những người dân tộc ít người, họ trưởng thành về thể chất, về mặt xã hội, họ được bầu hoặc bổ nhiệm giữ một chức vụ theo nhiệm kỳ trong các cơ quan Đảng, chính quyền cấp xã, là những người tự làm chủ được hành vi, thái độ của mình và tự chịu trách nhiệm trước pháp luật với tư cách là một công dân Đồng thời họ trưởng thành về mặt xã hội được biểu hiện ở giá trị sản phẩm lao động được xã hội công nhận, thể hiện ở cuộc sống riêng tư, họ có đủ điều kiện hành vi trước pháp luật, có vị thế trong xã hội, đang giữ chức vụ hoặc trách nhiệm nhất định trong hệ thống hành chính cấp xã

để lãnh đạo, điều hành quyền lực của Nhà nước quản lý xã hội ở cấp xã Tuy nhiên, cán bộ lãnh đạo, quản lý cấp xã người dân tộc thiểu số năng lực công tác còn hạn chế, trình độ chuyên môn chưa được chuẩn hóa do việc tiếp cận muộn hơn so với dân tộc đa số

1.1.3 Vai trò, chức năng, nhiệm vụ của cán bộ lãnh đạo, quản lý cấp xã là người dân tộc thiểu số

chất, đời sống tinh thần,… Nếu không có cấp lãnh đạo, quản lý cơ sở họ sẽ khó

thống nhất về ý chí và hành động về mục tiêu cuộc sống tốt hơn Cấp xã là nơi hỗ trợ trực tiếp cho người dân khi họ gặp khó khăn, hoạn nạn, là nơi tạo điều kiện cho

Trang 16

Hoạt động lãnh đạo, quản lý ở cơ sở góp phần tạo dựng sức mạnh bền vững

của cả hệ thống chính trị

Nhờ có hoạt động lãnh đạo, quản lý ở cơ sở mà hoạt động của người dân và các

tổ chức đóng quân trên địa bàn mới đi vào nề nếp, kỷ cương, giảm nhẹ nhiệm vụ quản

lý, giám sát của cấp trên Sự hoạt động chuyên nghiệp, linh hoạt và tận tâm của cán bộ lãnh đạo, quản lý cấp cơ sở sẽ làm tăng uy tín của cả hệ thống chính trị Nếu hoạt động lãnh đạo, quản lý ở cơ sở yếu kém sẽ làm cho cả hệ thống chính trị cấp xã không bền vững, làm phai nhạt niềm tin của quần chúng vào cả hệ thống chính trị

1.1.3.2 Chức năng

Cán bộ lãnh đạo, quản lý cấp xã người dân tộc thiểu số là những người làm công tác chỉ đạo, lãnh đạo, tuyên truyền đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, thực hiện chức năng lãnh đạo, quản lý về lĩnh vực công tác được phân công và thực hiện các nhiệm vụ khác do cấp trên giao; trực tiếp tiếp xúc, lắng nghe ý kiến của Nhân dân, giải trình với Nhân dân, thực hiện chức năng lãnh đạo công tác Đảng, quản lý Nhà nước theo đúng chính sách và thẩm quyền được giao

1.1.3.3 Nhiệm vụ

Nhiệm vụ của cán bộ lãnh đạo, quản lý cấp xã người dân tộc thiểu số được quy định tại Quyết định số 04/2004/QĐ-BNV như sau:

* Bí thư, Phó Bí thư Đảng Ủy, Chi ủy, Thường trực đảng ủy xã, phường, thị trấn:

Chức trách: Là cán bộ chuyên trách công tác đảng ở Đảng bộ, chi bộ (nơi

chưa thành lập Đảng bộ) xã, phường, thị trấn, có trách nhiệm lãnh đạo, chỉ đạo hoạt

động thực hiện chức năng, nhiệm vụ của đảng bộ, chi bộ, cùng tập thể đảng ủy, chi ủy lãnh đạo toàn diện đối với hệ thống chính trị ở cơ sở trong việc thực hiện chủ

Trang 17

11

trương, đường lối của Đảng, chính sách và pháp luật của Nhà nước trên địa bàn xã, phường, thị trấn

Nhiệm vụ của Bí thư:

Nắm vững Cương lĩnh, Điều lệ Đảng, đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, nghị quyết và chỉ thị của cấp trên, chức năng, nhiệm vụ của đảng bộ, chi bộ cấp mình; nắm vững nhiệm vụ trọng tâm, giải quyết có hiệu quả công việc đột xuất; nắm chắc, nắm sát tình hình đảng bộ, tổ chức đảng trực thuộc và Nhân dân trên địa bàn; chịu trách nhiệm chủ yếu về các mặt công tác của đảng bộ

Điều hành các cuộc họp Ban Chấp hành, Ban Thường vụ, chỉ đạo và tổ chức chỉ đạo thực hiện các nghị quyết đề ra

Trong lãnh đạo thực hiện nguyên tắc tập trung dân chủ, chỉ đạo các hoạt động, giữ vai trò trung tâm đoàn kết, lãnh đạo toàn diện đối với các tổ chức trong hệ thống chính trị cấp xã

Lãnh đạo, kiểm tra việc tổ chức thực hiện các chỉ thị, nghị quyết của của đảng bộ cấp trên, của Ban Thường vụ Đảng ủy, Ban Chấp hành đảng bộ

Nhiệm vụ của Phó Bí thư Thường trực Đảng ủy:

Giúp Bí thư đảng ủy chuẩn bị nội dung các cuộc họp và dự thảo nghị quyết của Ban Chấp hành, Ban Thường vụ về các mặt công tác của đảng bộ

Tổ chức thông tin tình hình và chủ trương của Ban chấp hành, Ban thường

vụ cho các Ủy viên Ban chấp hành và tổ chức đảng trực thuộc

Tổ chức kiểm tra việc thực hiện nghị quyết, chỉ thị của cấp ủy cấp trên, của Ban Chấp hành và Ban Thường vụ đảng ủy

Tiêu chuẩn cụ thể:

Tuổi đời: Không được hơn 45 tuổi khi tham gia giữ chức vụ lần đầu

Học vấn: Có trình độ tốt nghiệp trung học phổ thông

Lý luận chính trị: Phải có trình độ Trung cấp hoặc Cao cấp

Chuyên môn, nghiệp vụ: Ở khu vực đồng bằng và đô thị có trình độ trung cấp chuyên môn trở lên, ở khu vực miền núi phải được bồi dưỡng kiến thức chuyên

môn (tương đương trình độ sơ cấp trở lên), nếu tham gia giữ chức vụ lần đầu phải

Trang 18

12

có trình độ trung cấp chuyên môn trở lên Phải có chứng chỉ bồi dưỡng nghiệp vụ công tác phát triển Đảng, quản lý Nhà nước, quản lý kinh tế

* Phó Chủ tịch Hội đồng nhân dân

Chức trách: Là cán bộ, công chức của Hội đồng nhân dân cấp xã, chịu trách

nhiệm lãnh đạo, chỉ đạo tổ chức thực hiện chức năng, nhiệm vụ bảo đảm Thực hiện chính sách phát triển kinh tế - xã hội, an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội trên địa bàn xã

Nhiệm vụ của Phó Chủ tịch Hội đồng nhân dân:

Phó Chủ tịch Hội đồng nhân dân là người tham mưu trực tiếp cho Chủ tịch Hội đồng nhân dân trong thực hiện nhiệm vụ, chịu sự phân công cụ thể và thay mặt Chủ tịch Hội đồng nhân dân giải quyết công việc khi được Chủ tịch Hội đồng nhân dân ủy quyền

Tiêu chuẩn Phó Chủ tịch Hội đồng nhân dân:

Quy định vệ độ tuổi của Phó Chủ tịch Hội đồng nhân dân cấp xã do Chủ tịch

Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quy định phù hợp với từng địa phương, nhưng nếu tham gia lần đầu phải đảm bảo làm việc được hai nhiệm kỳ

Học vấn: Phải tốt nghiệp trung học phổ thông (cấp 3)

Lý luận chính trị: Đối với khu vực miền núi (đặc biệt khó khăn) phải có chứng chỉ lý luận chính trị tương đương trình độ sơ cấp trở lên

Chuyên môn, nghiệp vụ: Với khu vực miền núi phải có chứng chỉ bồi dưỡng tương đương trình độ sơ cấp và cao hơn nữa Chuyên môn bồi dưỡng phải phù hợp với từng chức danh cán bộ lãnh đạo, quản lý cấp xã Đã qua lớp bồi dưỡng quản lý Nhà nước, quản lý kinh tế và kỹ năng hoạt động đại biểu Hội đồng nhân dân cấp xã

Chủ tịch, Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân

Chức trách: Là cán bộ, công chúc lãnh đạo Ủy ban nhân dân cấp xã, chịu

trách nhiệm trong việc điều hành hoạt động của Ủy ban nhân dân, trực tiếp điều

hành, quản lý các lĩnh vực kinh tế - xã hội, an ninh, quốc phòng trên địa bàn xã

Nhiệm vụ của Chủ tịch Ủy ban nhân dân:

Trang 19

Quyết định các vấn đề thuộc nhiệm vụ, quyền hạn của Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã, tham gia quyết định các vấn đề thuộc thẩm quyền tập thể Ủy ban nhân dân

Áp dụng các biện pháp cải tiến cách làm việc, quản lý, điều hành bộ máy hành chính cấp xã hoạt động có hiệu quả

Đấu tranh chống biểu hiện tiêu cực trong cán bộ, công chức trong bộ máy chính quyền cấp xã, thực hiện việc tiếp công dân, giải quyết kiến nghị, phản ánh, khiếu nại, tố cáo theo quy định của pháp luật; giải quyết và trả lời đầy đủ các kiến nghị của Ủy ban Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị - xã hội cấp xã

Tổ chức quản lý, điều hành hoạt động của trưởng thôn, công an viên quy định của pháp luật

Chịu trách nhiệm báo cáo việc thực hiện nhiệm vụ đối với Hội đồng nhân dân cấp xã và Ủy ban nhân dân cấp huyện

Triệu tập và chủ trì phiên họp của Ủy ban nhân dân cấp xã

Thực hiện chính sách khen thưởng, kỷ luật cán bộ, công chức theo sự phân cấp quản lý quản lý Nhà nước Bãi bỏ hoặc đình chỉ quy định trái pháp luật của trưởng thôn

Nhiệm vụ của Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân:

Tổ chức quản lý, chỉ đạo thực hiện nhiệm vụ theo khối công của Ủy ban nhân dân do Chủ tịch Ủy ban nhân dân phân công và ủy nhiệm khi Chủ tịch Ủy ban nhân

dân đi vắng, như khối công việc (khối kinh tế; tài chính; khối văn hoá - xã hội )

Tiêu chuẩn đối với Chủ tịch và Phó Chủ tịch Ủy ban Nhân dân:

Tuổi đời: Tuổi đời của Chủ tịch Ủy ban nhân dân và Phó chủ tịch Ủy ban nhân dân do Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quy định phù hợp với tình hình đặc

Trang 20

14

điểm của địa phương nhưng tuổi tham gia lần đầu phải đảm bảo làm việc ít nhất hai nhiệm kỳ

Học vấn: Có trình độ tốt nghiệp trung học phổ thông

Chính trị: Có trình độ trung cấp lý luận chính trị trở lên đối với khu vực đồng bằng, khu vực miền núi phải được bồi dưỡng lý luận chính trị tương đương trình độ

sơ cấp trở lên

Chuyên môn, nghiệp vụ: Có trình độ trung cấp chuyên môn trở lên Đối với

miền núi phải được bồi dưỡng kiến thức chuyên môn (tương đương trình độ sơ cấp

trở lên), nếu giữ chức vụ lần đầu phải có trình độ trung cấp chuyên môn trở lên

Chuyên môn phải phù hợp với đặc điểm kinh tế - xã hội của từng loại hình đơn vị hành chính cấp xã và đã được bồi dưỡng nghiệp vụ quản lý hành chính Nhà nước, quản lý kinh tế

1.2 Các tiêu chí để thực hiện chính sách phát triển đội ngũ cán bộ lãnh

đạo, quản lý cấp xã là người dân tộc thiểu số

Đề tài nghiên cứu về thực hiện chính sách phát triển đội ngũ cán bộ lãnh đạo,

quản lý cấp xã là người dân tộc thiểu số có khả năng giải quyết những vấn đề thuộc các lĩnh vực, đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội trong tình hình mới

Thực hiện chính sách phát triển cán bộ lãnh đạo, quản lý cấp xã người dân tộc thiểu

số được dựa trên tiêu chuẩn của đội ngũ cán bộ cấp xã, là những quy định cụ thể các yêu cầu về trình độ, năng lực, phẩm chất đạo đức…theo những tiêu chí nhất định đối

với từng chức danh riêng biệt

Thực hiện chính sách phát triển cán bộ lãnh đạo, quản lý cấp xã là người dân tộc thiểu số là tổng hợp những phẩm chất nhất định về sức khỏe, trí tuệ, khoa học, chuyên môn nghề nghiệp, phẩm chất đạo đức, ý chí, niềm tin, năng lực, luôn gắn bó với tập thể, với cộng đồng và khả năng thực hiện có hiệu quả nhiệm vụ được giao Trong thời kỳ công nhiệp hóa, hiện đại hóa đất nước yêu cầu đối với cán bộ lãnh đạo, quản lý cấp xã ngày càng cao, đòi hỏi người cán bộ lãnh đạo, quản lý cấp xã người dân tộc thiểu số không những có trình độ, phẩm chất theo tiêu chuẩn, mà còn phải gương mẫu, đi tiên phong về lý luận và thực tiễn, có tinh thần kỷ luật cao, có tư duy

Trang 21

15

khoa học, lý luận sắc bén, dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm, luôn gắn bó với tập thể, với cộng đồng, có kỹ năng tốt trong việc kết hợp tri thức khoa học, kinh nghiệm, kỹ năng thực tiễn một cách nhạy bén, linh hoạt, đồng thời luôn chấp hành nghiêm chỉnh chủ trương, đường lối, chính sách, pháp luật của Đảng và Nhà nước Thực hiện chính sách phát triển đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý cấp xã là người dân tộc thiểu số ngoài những yếu tố nêu trên còn phụ thuộc vào cơ cấu tỷ lệ hợp lý giữa các độ tuổi, giới tính giữa nam và nữ

Mỗi cán bộ lãnh đạo, quản lý cấp xã người dân tộc thiểu số không tồn tại một cách biệt lập mà phải đặt trong một chỉnh thể thống nhất của cả đội ngũ cán bộ cấp

xã Vì thế, quan điểm thực hiện chính sách phát triển đội cán bộ lãnh đạo, quản lý cấp xã là người dân tộc thiểu số phải được đặt trong mối quan hệ biện chứng giữa phát triển từng cán bộ lãnh đạo, quản lý với phát triển của cả đội ngũ cán bộ cấp xã

Thực hiện chính sách phát triển cán bộ lãnh đạo, quản lý cấp xã người dân tộc thiểu số là chỉ tiêu tổng hợp sự phát triển của từng cán bộ lãnh đạo, quản lý cấp

xã, thể hiện qua phẩm chất chính trị, đạo đức, lối sống, trình độ, năng lực, kỹ năng công tác, hiệu quả thực nhiệm vụ được phân công, cũng như cơ cấu hợp lý về độ

tuổi, về ngạch, bậc và số lượng

1.2.1 Tiêu chí về năng lực chuyên môn và kỹ năng công tác

Trình độ chuyên môn nghiệp vụ là điều cần thiết trong thực hiện các nhiệm

vụ của mỗi cán bộ lãnh đạo, quản lý Trình độ là mức độ về sự hiểu biết, về kỹ năng được xác định hoặc Thực hiện chính sách phát triển theo tiêu chuẩn nhất định nào

đó thể hiện ở văn bằng, chứng chỉ của cán bộ lãnh đạo, quản lý cấp xã người dân tộc thiểu số có được thông qua quá trình phấn đấu, học tập và rèn luyện

Về trình độ năng lực

Năng lực cũng là yếu tố rất quan trọng, năng lực quyết định hiệu quả công việc của đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý cấp xã người dân tộc thiểu số Năng lực là phẩm chất tâm lý phù hợp với những yêu cầu của một hoạt động nhất định, nó được hình thành từng mỗi cá nhân trong quá trình đào tạo, giáo dục, hoạt động thực tiễn, rèn luyện Năng lực được thể hiện là những người làm việc ít tốn sức lực, ít thời gian, ít

Trang 22

16

của cải mà kết quả mang lại rất tốt Việc phát hiện ra năng lực phải căn cứ vào những dấu hiệu như sự hứng thú đối với công việc, sự dễ dàng tiếp thu kỹ năng nghề nghiệp, hiệu suất lao động Năng lực thường bao gồm những tố chất cơ bản về đạo đức cách mạng, về tinh thần phục vụ Nhân dân, về trình độ kiến thức pháp luật, kinh tế, văn hóa, xã hội, sự am hiểu và nắm vững chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, thành thạo nghiệp vụ chuyên môn, kỹ thuật xử

lý thông tin, giải quyết tốt các vấn đề đặt ra trong quản lý Nhà nước một cách khoa học, minh bạch, dứt khoát, hợp lòng dân và không trái pháp luật Vì vậy, việc nâng cao hiểu biết và năng lực tổ chức thực hiện cho đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý cấp xã người dân tộc thiểu số là vấn đề quan trọng và cấp thiết trong mục tiêu Thực hiện chính sách phát triển đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý cấp xã là người dân tộc thiểu số như hiện nay

Về khả năng hoàn thành nhiệm vụ

Năng lực quyết định sự thành công trong công việc với mục đích cuối cùng

là hiệu quả, được thể hiện ở các mặt trình độ văn hóa, kiến thức quản lý Nhà nước,

trình độ chuyên môn nghiệp vụ

Trình độ văn hóa là sự tiếp thu đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước và tạo điều kiện thuận lợi cho việc áp dụng chủ trương, chính sách thực hiện

Trình độ quản lý hành chính Nhà nước tác động lên các quan hệ xã hội, là thủ pháp những nhà quản lý thường sử dụng trong phạm vi quyền hạn, nhiệm vụ của mình để giải quyết các vụ việc xảy ra cụ thể trong cuộc sống Hoạt động quản mang tính khoa học, nghệ thuật Để thực hiện tốt các hoạt động quản lý đòi hỏi đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý cấp xã người dân tộc thiểu số cần phải được đào tạo, bồi dưỡng những kiến thức cơ bản về quản lý Nhà nước thì mới có được những kỹ năng, phương pháp thực hiện nhiệm vụ được giao có hiệu quả

Trình độ chuyên môn nghiệp vụ là trình độ được đào tạo ở các lĩnh vực khác nhau theo cấp độ khác nhau được trang bị cho người học theo các chuyên ngành nhất định, được thể hiện qua hệ thống bằng cấp Chính quyền cấp xã là nơi trực tiếp

Trang 23

17

giải quyết những tình huống phát sinh, nếu đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý cấp xã người dân tộc thiểu số không có chuyên môn, nghiệp vụ, chỉ làm theo kinh nghiệm hoặc giải quyết mang tính chắp vá, tùy tiện thì hiệu quả sẽ không cao, thậm chí còn mắc sai phạm nghiêm trọng

1.2.2 Tiêu chí về phẩm chất chính trị, đạo đức, lối sống

Về phẩm chất đạo đức

Phẩm chất rất quan trọng đối với đội ngũ đội ngũ cán bộ cấp xã, cán bộ lãnh đạo, quản lý cấp xã người dân tộc thiểu số muốn xác lập được uy tín của bản thân đối Nhân dân, trước hết phải có phẩm chất đạo đức tốt Trong bối cảnh hiện nay, trình độ dân trí ngày một nâng cao, cộng với sự đòi hỏi quy luật phát triển của xã hội, thì đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý cấp xã người dân tộc thiểu số phải có chuyên môn, nghiệp vụ cơ bản Bên cạnh đó công tác quản lý xã hội cũng đòi hỏi người cán bộ lãnh đạo, quản lý cấp xã người dân tộc thiểu số phải tạo lập cho mình một uy tín đối với Nhân dân

Cán bộ lãnh đạo, quản lý cấp xã người dân tộc thiểu số phải luôn luôn gương mẫu, có lối sống lành mạnh, không tham nhũng, vụ lợi cá nhân, sống bê tha, cần có tinh thần chống tham nhũng, tận tụy phục vụ Nhân dân, tôn trọng Nhân dân, quan

hệ gần gũi, mật thiết với quần chúng Nhân dân, sâu sát với công việc, không quan liêu cửa quyền, gây phiền hà cho Nhân dân, tác phong làm việc phải khoa học, dân chủ, nói đi đôi với làm, làm nhiều hơn nói, đồng thời tiếp thu, lắng nghe ý kiến của mọi người

Yêu cầu về phẩm chất, đạo đức, lối sống của đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản

lý cấp xã người dân tộc thiểu số phải cao hơn so với người khác bởi vì cán bộ lãnh đạo, quản lý cấp xã người dân tộc thiểu số là công bộc của dân Đây là tiêu chuẩn hàng đầu và được xem là đương nhiên phải có, nếu thiếu phẩm chất đạo đức, dù có tài năng kiệt xuất cũng không thể là công bộc của dân được

Về phẩm chất chính trị

Phẩm chất chính trị là yếu tố đầu tiên, là điều kiện, là giá trị và tính chất tốt đẹp đối với mỗi người cán bộ lãnh đạo, quản lý cấp xã Để trở thành những người

Trang 24

18

cán bộ có năng lực trước hết phải là người có phẩm chất chính trị và được biểu hiện ở sự tin tưởng tuyệt đối với lý tưởng cách mạng, kiên định với mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội theo con đường mà Đảng và Bác Hồ đã lựa chọn, kiên quyết đấu tranh bảo vệ quan điểm của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, không dao động trước những khó khăn thử thách, có biện pháp đưa chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước đi vào thực tiễn cuộc sống của Nhân dân Cán bộ lãnh đạo, quản lý cấp xã người dân tộc thiểu số có phẩm chất chính trị tốt phải nghiêm chỉnh chấp hành đường lối, chỉ thị, nghị quyết của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, đấu tranh, kiên quyết chống lại suy nghĩ, biểu hiện sai trái trong đời sống xã hội, trái ngược với chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước Phẩm chất chính trị của người cán bộ lãnh đạo, quản lý cấp xã còn được biểu hiện thông qua làm việc với tinh thần trách nhiệm, hiệu quả công việc, có tinh thần độc lập, sáng tạo, không thụ động trong công việc, có ý chí cầu tiến, ham học hỏi, có thái độ tận tụy phục vụ Nhân dân, tinh thần trách nhiệm đối với đời sống Nhân dân

1.2.3 Tiêu chí về uy tín trong công tác

Uy tín là sự tín nhiệm, mến phục của mọi người và được phản ánh về phẩm chất, năng lực của một cá nhân nên nó quyết định uy tín Người cán bộ phải phải là người giỏi về chuyên môn, đạo đức tốt, sống gần gũi, hòa nhã, luôn lo sự nghiệp chung nhưng vẫn không quên trách nhiệm, tình cảm của mình với người thân Người cán bộ có uy tín sẽ làm cho người dưới quyền không chỉ phục tùng thậm chí

họ còn tự giác phục tùng với niềm tin mãnh liệt

Vì uy tín là kết quả tổng hợp của nhiều yếu tố thuộc về sự nỗ lực chủ quan của một người trên cả hai mặt phẩm chất và năng lực:

Sự gương mẫu về phẩm chất đạo đức, có lối sống trong sạch, tận tụy, khiêm tốn, “mình vì mọi người”, sự thấu hiểu và chia sẻ

Có học thức cao, năng lực lãnh đạo và quản lý giỏi, tầm hiểu biết sâu rộng về chính trị, trình độ nhận thức, vốn sống; có sự đổi mới và khả năng thích nghi, khát vọng và hoài bão

Trang 25

19

Có tinh thần trách nhiệm, có năng lực tổ chức, thể hiện ở chỗ hoàn thành xuất sắc chức vụ mà mình đảm trách Nắm vững kỹ năng lãnh đạo, ứng xử có văn hóa, có quan hệ đúng đắn với những người đồng nghiệp hoặc có quan hệ trực tiếp với mình, biết tự kiểm soát, tự kiềm chế Tóm lại, người cán bộ lãnh đạo quản lý đòi hỏi phải hội tụ đủ cả ba yếu tố: Tâm, Tầm và Tài

Sự phấn đấu rèn luyện của mỗi cá nhân sẽ tạo nên uy tín, bởi thế đối với người cán bộ lãnh đạo, quản lý cần phải giành lấy uy tín tuyệt đối trong tập thể bằng chính tài năng, nghị lực thực tế của mình, không phải bằng danh hiệu, chức vụ hoặc bằng thủ đoạn và tiểu xảo Nhân dân chỉ yêu quý những cán bộ có tư cách đạo đức tốt Muốn hướng dẫn họ, mình phải là người tiên phong đi đầu

Uy tín chưa hẳn đã tỉ lệ thuận với chức vụ Chức vụ chỉ là điều kiện khách quan để củng cố và nâng cao uy tín, còn uy tín là cái quyết định sự tồn tại của chức

vụ Nếu uy tín mất đi thì theo quy luật chức vụ cũng sẽ mất theo, chức vụ và uy tín

có mối quan hệ chặt chẽ với nhau, có thể hiểu như là mối quan hệ giữa hình thức và nội dung, chức vụ là hình thức, còn uy tín là nội dung

Có thể khẳng định, uy tín là do phẩm chất và năng lực của cá nhân quyết định và được thể hiện ở các yếu tố như khả năng tổ chức và chuyên môn giỏi; dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm và kiên định trong công việc; có quan hệ bình đẳng, tính tập thể và phát huy được sức mạnh tổng hợp; gương mẫu đi đầu trong mọi công tác; gần gũi, dân chủ, cởi mở với mọi người; tính chiến đấu, tự phê bình

và phê bình, sửa chữa khuyết điểm, không tranh công, đỗ lỗi

Người có uy tín còn là người biết lắng nghe, kể cả những lời nói trái, không

tự ái, sĩ diện, thành kiến, có bản lĩnh, dũng cảm, kiên cường, bảo vệ người ngay thẳng, trung thực, đấu tranh với những hành vi sai trái, những biểu hiện cơ hội, thực dụng, không nịnh bợ và cũng không thích ai nịnh bợ mình

Để xây dựng được uy tín đã khó, nhưng phấn đấu để giữ vững và nâng cao

uy tín lại càng khó hơn, vì trong mỗi cán bộ đều có cái tốt, cái xấu, uy tín thật là cái tốt, uy tín giả là cái xấu Bởi vậy, đòi hỏi người cán bộ phải có ý chí và nghị lực rất

Trang 26

20

cao, người ở cương vị càng cao cần phải hết sức chăm lo giữ gìn uy tín, vì uy tín không chỉ là uy tín cá nhân mà còn liên quan đến uy tín chung của tập thể

1.2.4 Tiêu chí thực hiện hiệu quả công việc được giao

Kỹ năng giải quyết công việc

Kỹ năng là khả năng vận dụng những kiến thức thu nhận được trong một lĩnh vực nào đó vào thực tế, kỹ năng công việc luôn luôn gắn với một hoạt động cụ thể ở một lĩnh vực cụ thể nhất định như kỹ năng thẩm định, kỹ năng chỉ đạo, lãnh đạo, kỹ năng phối hợp, chính là quá trình tư duy kết hợp với việc tích lũy kinh nghiệm học tập, bồi dưỡng, rèn luyện, công tác

Kỹ năng nghề nghiệp là tiêu chí quan trọng để thực hiện chính sách phát triển cán bộ lãnh đạo, quản lý cấp xã người dân tộc thiểu số khi thực thi nhiệm vụ nhất định Tuy nhiên, có những kỹ năng không thể thiếu đối với cán bộ lãnh đạo, quản lý phụ thuộc vào tính chất công việc mà họ đảm nhận, việc phân chia kỹ năng nghề nghiệp thành các nhóm là cơ sở để xác định nội dung bồi dưỡng kỹ năng cho các nhóm cán bộ lãnh đạo, quản lý cấp xã người dân tộc thiểu số khác nhau, căn cứ vào kết quả các kỹ năng hướng đến thì kỹ năng nghề nghiệp đối với cán bộ lãnh đạo, quản lý cấp xã người dân tộc thiểu số có thể chia thành các nhóm sau:

Kỹ năng đề xuất, ban hành, thực hiện, kiểm tra, thu thập, tổng hợp, phân tích, triển khai quyết định, kỹ năng phối hợp, kỹ năng nắm bắt dư luận xã hội

Nhóm kỹ năng quan hệ, giao tiếp, làm việc nhóm, lắng nghe, thuyết phục, tiếp dân

Nhóm kỹ năng tác nghiệp cá nhân như viết báo cáo, bố trí lịch công tác, lắng nghe, thuyết trình

Tất cả các kỹ năng nêu trên đều chịu ảnh hưởng bởi trình độ chuyên môn, khả năng và kinh nghiệm công tác của người cán bộ lãnh đạo, quản lý trong quá trình thi hành công vụ Đây là nội dung phức tạp trong quá trình thực hiện chính sách phát triển cán bộ lãnh đạo, quản lý, dễ gây nhầm lẫn với trình độ chuyên môn nghiệp vụ

Vì vậy, khi thực hiện chính sách phát triển theo tiêu chí này cần xác định các kỹ năng tốt phục vụ cho hoạt động, các kỹ năng chưa tốt, chưa đáp ứng được yêu cầu, các kỹ

Trang 27

21

năng cần thiết mà cán bộ lãnh đạo, quản lý cấp xã người dân tộc thiểu số chưa có, các

kỹ năng không cần thiết mà họ có

Thực hiện chính sách phát triển dịch vụ công là kết quả hoạt động hiệu quả lãnh đạo, quản lý và được biểu hiện đối với xã hội thông qua sự hài lòng, niềm tin của người dân đối với Đảng, Nhà nước được xác định thông qua các lĩnh vực kinh

tế, văn hóa, xã hội hiệu lực, hiệu quả Thực hiện chính sách phát triển cán bộ lãnh

đạo, quản lý cấp xã người dân tộc thiểu số phụ thuộc vào các yếu tố:

Một là, năng lực lãnh đạo, quản lý, kiến thức, kỹ năng và thái độ của họ đối với công việc

Hai là, phụ thuộc vào tổ chức và môi trường của tổ chức, đó là tính chất công việc, môi trường làm việc, điều kiện làm việc

Ba là, sự động viên, khuyến khích của của cấp trên, tạo động lực cho họ về chế độ, chính sách đãi ngộ và cơ hội thăng tiến Như vậy, muốn thực hiện chính sách phát triển dịch vụ công thì phải chú trọng cải thiện từ năng lực làm việc, đến môi trường làm việc của cơ quan hành chính, cũng như cách thức tổ chức công việc và chế độ, chính sách nhằm động viên, khuyến khích đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý cấp xã người dân tộc thiểu số hăng say, nhiệt tình làm việc đạt hiệu

quả cao

Tóm lại: Đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý cấp xã người dân tộc thiểu số có

phẩm chất chính trị, đạo đức cách mạng, có trình độ năng lực và có khả năng vận dụng đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước một cách có hiệu quả thì mới góp phần nâng cao đời sống kinh tế, văn hóa, xã hội của Nhân dân tại địa phương, góp phần phát triển xã hội công bằng, dân chủ, văn minh

1.2.5 Tiêu chí về năng lực tổ chức, quản lý

Năng lực là khả năng của một người được thể hiện qua việc xử lý tình huống, thực hiện một nhiệm vụ cụ thể nào đó Hiểu cách khác năng lực là khả năng phát triển, vận dụng tiềm lực của con người như kiến thức, kỹ năng, thái độ và các phẩm chất khác để đạt được các mục tiêu cụ thể trong các điều kiện xác định

Trang 28

22

Năng lực của cán bộ lãnh đạo, quản lý cấp xã người dân tộc thiểu số không phải là bất biến, năng lực chỉ được phát triển trong mọi hoàn cảnh, mọi môi trường Ở mỗi thời điểm khác nhau thì năng lực được thể hiện, phát huy tác dụng cũng khác nhau Vì năng lực luôn gắn liền với mục đích thực hiện chính sách phát triển của tổ chức ở mỗi lĩnh vực, điều kiện cụ thể Năng lực tổ chức quản lý bao gồm khả năng động viên và giải quyết các công việc, đó là khả năng tổ chức và phối hợp các hoạt động của các nhân viên, đồng nghiệp, khả năng làm việc và đưa

tổ chức tới mục tiêu, biết dự đoán, lập kế hoạch, tổ chức, chỉ huy, điều hành, phối hợp công việc và kiểm soát công việc Đây là năng lực đặc biệt cần thiết và quan trọng đối với cán bộ lãnh đạo, quản lý cấp xã người dân tộc thiểu số, vì năng lực thường được xem xét khi đề bạt, bổ nhiệm Cách nhận biết người có năng lực, tổ chức quản lý tốt có thể dựa vào những tiêu chuẩn mang tính định tính:

Biết mình nhất, nghĩa là biết mình qua nhận xét của người khác; biết người, nghĩa là biết nhìn nhận con người đúng với thực chất của họ và biết phát triển họ; có khả năng tiếp cận với những người khác, biết tập hợp những người khác nhau vào một tập thể theo nguyên tắc bổ sung cho nhau, biết giao việc cho người khác và kiểm tra việc thực hiện của họ; tháo vác, sáng kiến trong mọi tình huống, có những giải pháp sáng tạo; quyết đoán dám ra quyết định và dám chịu trách nhiệm

1.3 Các hoạt động thực hiện chính sách phát triển đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý cấp xã là người dân tộc thiểu số

1.3.1 Công tác quy hoạch, đào tạo, bồi dưỡng cán bộ lãnh đạo, quản lý cấp

xã là người dân tộc thiểu số

Công tác quy hoạch đội ngũ cán bộ nói chung và đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý cấp xã người dân tộc thiểu số nói riêng là việc làm thường xuyên và quan trọng, đây là quy trình được thực hiện hàng năm Quy hoạch tốt, đảm bảo tính khoa học và phù hợp với thực tế khách quan thì sẽ góp phần thúc đẩy việc thực hiện chính sách phát triển về mọi mặt trong công tác cán bộ, ngược lại sẽ gây lãng phí, thậm chí dẫn đến sai lầm

Trang 29

23

Quy hoạch cán bộ lãnh đạo, quản lý cấp xã người dân tộc thiểu số là quá trình thực hiện đồng bộ các quy trình, chủ trương, biện pháp nhằm tạo nguồn để Thực hiện chính sách phát triển đội ngũ cán bộ cấp xã, là việc bố trí, lập kế hoạch trong dài hạn, là sự sắp xếp đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý cấp xã người dân tộc thiểu số đang làm việc trong các cơ quan hoặc nguồn dự bị nhằm đảm bảo chủ động nguồn nhân lực cho xây dựng, lấp chỗ trống trong các cơ quan hoặc thay thế đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý cấp xã người dân tộc thiểu số đương nhiệm, nhằm bảo đảm thực hiện tốt nhiệm vụ trong thời gian tương lai nhất định

Quy hoạch đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý cấp xã người dân tộc thiểu số là việc lập dự án dự phòng và dự kiến bố trí, sắp xếp tổng thể đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý cấp xã người dân tộc thiểu số theo một ý định chung với một trình tự hợp lý trong một thời gian nhất định để làm cơ sở cho việc lập kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng, luân chuyển, bố trí, đề bạt hoặc giới thiệu cán bộ cấp xã ứng cử các chức danh cán bộ lãnh đạo, quản lý Việc đào tạo, bồi dưỡng cán bộ lãnh đạo, quản lý cấp

xã người dân tộc thiểu số được xác định là một nhiệm vụ thường xuyên, có ý nghĩa quan trọng, góp phần tích cực trong việc nâng cao trình độ chuyên môn, năng lực công tác, Thực hiện chính sách phát triển và hiệu quả làm việc của cán bộ cấp xã, hướng tới mục tiêu sự thay đổi về chất trong thực thi nhiệm vụ chuyên môn

Đào tạo, bồi dưỡng là quá trình trang bị cho cán bộ lãnh đạo, quản lý cấp xã người dân tộc thiểu số những kiến thức, kỹ năng cần thiết, trước hết là những kiến thức về pháp luật của Nhà nước, phương thức quản lý và các quy trình trong chỉ đạo, điều hành, phương pháp, kinh nghiệm quản lý, trang bị kiến thức, kỹ năng hoạt động theo chương trình quy định cho ngạch cán bộ cấp xã

Chính sách đào tạo của Nhà nước ta từng nhấn mạnh “Đào tạo, bồi dưỡng theo vị trí việc làm nhằm trang bị, cập nhật kiến thức, kỹ năng, phương pháp cần thiết để làm tốt công việc được giao”, được nêu tại Nghị định số 18/2010/NĐ-CP ngày 05/03/2010 của Chính phủ về đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức

Mục tiêu của đào tạo, bồi dưỡng cán bộ lãnh đạo, quản lý cấp xã người dân tộc thiểu số là nhằm trang bị kiến thức, kỹ năng, phương pháp thực hiện nhiệm vụ công

Trang 30

đi học, học phí, thời gian học, cơ chế đảm bảo sau đào tạo để tránh lãng phí

1.3.2 Công tác sử dụng, bố trí cán bộ lãnh đạo, quản lý cấp xã là người dân tộc thiểu số

Việc sử dụng, bố trí đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý cấp xã là người dân tộc thiểu số phải xuất phát từ nhiều yếu tố như chức năng, nhiệm vụ, công việc của từng

cơ quan, đơn vị Những căn cứ quan trọng để bố trí, sử dụng cán bộ là yêu cầu của công vụ và điều kiện nhân lực hiện có của cấp xã, việc bố trí, sử dụng cán bộ phải dựa vào những định hướng có tính nguyên tắc:

Thứ nhất, phải có tiền đề và quy hoạch cán bộ

Thứ hai, phải căn cứ vào mục tiêu hoạt động lãnh đạo, quản lý

Tuân thủ nguyên tắc khách quan, vô tư và công bằng khi thực hiện chính sách của Nhà nước, đây là căn cứ quan trọng để thực hiện chính sách Thực hiện chính sách phát triển cán bộ

Trang 31

25

Xây dựng chế độ phụ cấp công vụ phù hợp, thống nhất đối với cán bộ trong hệ thống chính trị cơ sở cấp xã, có chế độ phụ cấp và chính sách hỗ trợ kinh phí đối với cán bộ lãnh đạo, quản lý cấp xã đang công tác ở các xã vùng sâu, vùng xa, vùng biên giới, hải đảo có nhiều khó khăn và vùng có đồng bào dân tộc thiểu số sinh sống như

Nghị định số 167/2011/NĐ-CP đã thực hiện Tiến hành thực hiện đúng và kịp thời

các chính sách đối với đội ngũ cán bộ cấp xã là người dân tộc thiểu số, như thu hút, đãi ngộ nhân tài, khuyến khích đào tạo, bồi dưỡng, bố trí, tuyển dụng sinh viên tốt nghiệp đại học về công tác tại xã như Quyết định số 600/2010/QĐ-CP, Kịp thời động viên cán bộ nhiệt tình công tác, gắn bó với địa phương, đoàn kết, thống nhất trong đội ngũ cán bộ, ngăn chặn những tiêu cực

Bổ nhiệm phải dựa vào công tác quy hoạch cán bộ; quá trình đề bạt, bổ nhiệm phải coi trọng việc lấy phiếu tín nhiệm theo hướng mở rộng đối tượng tham gia, bảo đảm những người tham gia bỏ phiếu phải là những người biết việc, hiểu người, tránh

bè phái, cục bộ, định kiến, hẹp hòi, thiếu tính xây dựng Trước khi lấy phiếu tín nhiệm, cán bộ được dự kiến đề bạt, bổ nhiệm phải trình bày chương trình hành động của mình Người đứng đầu phải có ý thức trách nhiệm, công tâm, khách quan, phải vì lợi ích chung và thực hiện nghiêm túc nguyên tắc tập trung dân chủ, coi trọng ý kiến của tập thể Có quy chế phối hợp giữa người đứng đầu với cấp ủy, cán bộ lãnh đạo cơ quan đơn vị; nếu không chỉ đạo thực hiện tốt, sẽ dẫn đến cục bộ, bè phái, độc đoán, mất dân chủ, chạy quyền, chạy chức trong đề bạt và bổ nhiệm cán bộ; bổ nhiệm phải dựa vào yêu cầu công việc và nguồn nhân lực hiện có, đúng người, đúng việc

Cơ chế bố trí, phân công công tác

Trong quá trình thực hiện chính sách sử dụng đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản

lý cấp xã người dân tộc thiểu số cần chú ý đến việc bố trí đúng cán bộ, đây là một trong những nhân tố quan trọng góp phần nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ cấp

xã Việc sắp xếp đúng người, đúng việc sẽ phát huy tinh thần hăng say làm việc, năng lực, sở trường, kỹ năng công việc, khuyến khích tinh thần học tập và nâng cao trình độ chuyên môn, góp phần cho sự thành công chung trong việc lãnh đạo, quản

lý ở cấp xã Vì vậy, công tác phân công, bố trí cán bộ lãnh đạo, quản lý cấp có ảnh

Trang 32

26

hưởng rất lớn đối với việc thực hiện chính sách phát triển của đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý cấp xã là người dân tộc thiểu số Nghị quyết Trung ương 3 (khóa VIII) nhấn mạnh việc bố trí, sử dụng cán bộ lãnh đạo, quản lý như sau:

Bố trí phải đảm bảo đúng tiêu chuẩn, phù hợp với sở trường, điều đó có nghĩa là khi bổ nhiệm cán bộ lãnh đạo, quản lý phải xem xét cả hai yếu tố khách quan và chủ quan (tiêu chuẩn cán bộ và phẩm chất, năng lực, nguyện vọng )

Đề bạt, cân nhắc phải đúng lúc, đúng người, đúng việc, ngược lại việc bố trí, đề bạt không đúng có thể dẫn đến thừa, thiếu cán bộ lãnh đạo, quản lý cấp xã một cách giả tạo, công việc kém phát triển, tiềm lực không được phát huy

Chú ý kết hợp hài hòa về chế độ chính sách tiền lương và các đãi ngộ khác, thưởng, phạt rõ ràng, công bằng, kịp thời, phải căn cứ vào hiệu quả công tác của cán

bộ Trong tác phẩm “Sửa đổi lề lối làm việc” của Chủ tịch Hồ Chí Minh đề cập đến vấn đề thực hiện chính sách phát triển cán bộ, đã nêu lên 6 yêu cầu “ Phải biết rõ cán bộ; Phải cất nhắc cán bộ cho đúng; Phải khéo dùng cán bộ; Phải phân phối cán

bộ cho đúng; Phải giúp cán bộ cho đúng và phải giữ gìn cán bộ” Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng đã vạch ra ba chứng bệnh do cách Thực hiện chính sách phát triển cán

bộ sai lầm: “Mục đích khéo dùng cán bộ cốt để thực hành đầy đủ chính sách của Đảng và Chính phủ” Để “Khéo dùng” cán bộ, Bác Hồ yêu cầu phải thực hiện những điểm sau:

Theo Bác, cán bộ không nói không phải họ không có gì để nói mà vì không dám nói, họ sợ “Khiến cho cán bộ có gan nói, có gan đề ra ý kiến”

Cán bộ lãnh đạo, quản lý không phải mọi người đều có năng lực, có tài bộ lãnh đạo khéo như nhau Người lãnh đạo giỏi là biết nhìn nhận, tin cán bộ cấp dưới, dám giao nhiệm vụ cho họ, từ đó tạo được niềm tin cho cán bộ có gan phụ trách, có gan làm việc mạnh mẽ hơn

Bác còn yêu cầu, nếu ý kiến cấp dưới không đúng thì nên dùng thái độ thân thiết, giải thích cho họ hiểu “Không nên tự tôn tự đại mà phải nghe, phải hỏi ý kiến của cấp dưới”

Trang 33

vị trí việc làm được chính xác sẽ tạo điều kiện cho cán bộ lãnh đạo, quản lý cấp xã người dân tộc thiểu số phát huy được sở trường, hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao, đồng thời không bỏ sót nhân lực tốt, chọn nhầm nhân lực kém Nếu thực hiện chính sách phát triển cán bộ lãnh đạo, quản lý cấp xã người dân tộc thiểu số không đúng thì không những bố trí, sử dụng không đúng mà quan trọng hơn là mai một dần động lực phát triển, làm thui chột những tài năng, xói mòn niềm tin của Nhân dân, ảnh hưởng không nhỏ đến việc thực hiện nhiệm vụ chính trị của cấp xã

Thực hiện chính sách phát triển cán bộ lãnh đạo, quản lý cấp xã người dân tộc thiểu số để làm rõ phẩm chất chính trị, đạo đức, năng lực, trình độ chuyên môn, nghiệp vụ, kết quả thực hiện được giao Kết quả thực hiện là căn cứ để bố trí, bổ nhiệm, đào tạo, bồi dưỡng, khen thưởng, kỷ luật và thực hiện chính sách cán bộ của Nhà nước

Theo Luật cán bộ, công chức năm 2008 thì việc thực hiện chính sách phát triển cán bộ, công chức phải dựa vào các nội dung sau:

Việc chấp hành chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, việc thể hiện phẩm chất chính trị, đạo đức, lối sống, phong cách làm việc, năng lực công tác, tiến độ và kết quả thực hiện nhiệm vụ, tinh thần trách nhiệm trong thực hiện nhiệm vụ; có thái độ phục vụ Nhân dân tốt của cán bộ lãnh đạo, quản lý

Việc thực hiện chính sách phát triển cán bộ lãnh đạo, quản lý cấp xã người dân tộc thiểu số được thực hiện hàng năm, trước khi bổ nhiệm, quy hoạch, điều động, đào tạo, bồi dưỡng, khi kết thúc thời gian luân chuyển, biệt phái Khi thực hiện chính sách phát triển cán bộ lãnh đạo, quản lý cấp xã người dân tộc thiểu số

Trang 34

28

phải bảo đảm tính khách quan, toàn diện, tính lịch sử, cụ thể của từng xã, trên cơ sở

tự phê bình và phê bình, nguyên tắc tập trung dân chủ, công khai rõ ràng đối với cán

bộ lãnh đạo, quản lý cấp xã người dân tộc thiểu số được đánh giá, xếp loại Đảm tính khách quan, phát huy tính tập thể và cá nhân, lấy kết quả, hiệu quả hoàn thành nhiệm vụ làm thước đo chính trong việc thực hiện chính sách phát triển cán bộ lãnh đạo, lãnh đạo cấp xã

Thực hiện chính sách phát triển cán bộ lãnh đạo, quản lý cấp xã người dân tộc thiểu số được coi là tiền đề quan trọng nhất nhưng vẫn là khâu khó và yếu nhất, khó nhất là Thực hiện chính sách phát triển cái “tâm” cái “tầm” và bản lĩnh chính trị của người cán bộ cấp xã

1.3.4 Công tác kiểm tra, giám sát cán bộ lãnh đạo, quản lý cấp xã là người dân tộc thiểu số

Kiểm tra, giám sát cán bộ lãnh đạo, quản lý nhằm nắm chắc thông tin diễn biến tư tưởng, tiến trình tiến hành công việc, giúp cho cơ quan cấp trên phát hiện những vấn đề nảy sinh, kịp thời uốn nắn sửa chữa những sai sót, hạn chế sự lãng phí nguồn nhân lực, kiểm tra, giám sát để thực hiện chính sách phát triển năng lực của từng cán bộ, từ đó có hướng bố trí công việc phù hợp hoặc sắp xếp, đề bạt cán bộ lãnh đạo, quản lý cấp xã người dân tộc thiểu số hợp lý Đào tạo, bồi dưỡng cán bộ lãnh đạo, quản lý cấp xã người dân tộc thiểu số có năng lực kém, kịp thời đáp ứng công việc Kiểm tra để phát huy những ưu điểm, khắc phục những hạn chế, khuyết điểm, loại trừ những người thiếu năng lực thoái hóa, biến chất và ngăn chặn kẻ xấu lợi dụng chống phá tổ chức hệ thống chính trị ở cơ sở Kết quả kiểm tra là cơ sở khách quan để điều chỉnh và tác động, làm cho cán bộ lãnh đạo, quản lý cấp xã người dân tộc thiểu số luôn hoạt động đúng hướng, đúng nguyên tắc Ngoài ra tiếp tục tăng cường thay thế những cán bộ yếu kém, ở những nơi phát sinh điểm nóng, mất đoàn kết nội bộ, mọi phong trào yếu, kém Qua đó vận dụng hình thức thưởng, phạt nghiêm minh, ngăn chặn những tiêu cực, phát huy nhân tố tích cực, tạo dựng lòng tin của Nhân dân đối với Đảng và Nhà nước

Trang 35

chức gặp rủi ro trong công việc, chế độ tiền lương, bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế

Chế độ, chính sách là nhân tố ảnh hưởng trực tiếp đến việc thực hiện chính sách phát triển của cán bộ lãnh đạo, quản lý cấp xã người dân tộc thiểu số Vì chế độ, chính sách là do con người tạo ra và nó tác động mạnh mẽ đến hoạt động của con người, chế

độ, chính sách hợp lý sẽ là động lực thúc đẩy tích cực về tài năng, sáng tạo, nhiệt tình, trách nhiệm của mỗi người, nhưng nó cũng có thể kìm hãm hoạt động, làm thui chột tài năng, sáng tạo của cán bộ nếu chính sách không hợp lý Vì vậy, việc thực hiện chính sách phát triển của cán bộ lãnh đạo, quản lý cấp xã người dân tộc thiểu số phải gắn liền với đổi mới hệ thống cơ chế, chính sách Tiền lương là yếu tố quan trọng nhất, nó ảnh

Trang 36

30

hưởng trực tiếp đến quyền lợi cán bộ, công chức, trêm mọi phương diện vật chất để thực thi công việc, đồng thời cũng là sự đãi ngộ, là yếu tố ràng buộc họ với công việc

Khen thưởng, kỷ luật, Luật cán bộ, công chức năm 2008

Sự ổn định của hệ thống chính trị cấp xã chủ yếu là do hiệu suất và hiệu quả lãnh đạo, quản lý của can bộ cấp xã Tuy nhiên với đặc điểm là hoạt động bằng ngân sách Nhà nước, ràng buộc chặt chẽ về chế độ chức nghiệp, nên dễ nảy sinh sự trì trệ, thiếu sáng tạo trong đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý Chính vì thế công tác thi đua, khen thưởng là công cụ trực tiếp tác động đến động lực làm việc của đội ngũ

Việc xử lý cán bộ, công chức, viên chức mắc sai phạm trong quá trình thi hành công vụ, thực hiện quy chế làm việc, thực hiện công việc được giao là yếu tố không thể thiếu trong việc duy trì nề nếp làm việc, kỷ cương trật tự xã hội Vì vậy, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 34/2011/NĐ-CP ngày 07 tháng 05 năm 2011 về việc xử lý kỷ luật đối với cán bộ, công chức nhằm hệ thống hóa lại các quy định chung liên quan đến việc xem xét xử lý kỷ luật cán bộ, công chức Tại Điều 3, Nghị định số 34/2011/NĐ-CP ngày 07 tháng 05 năm 2011 quy định việc xử lý kỷ luật cán

bộ, công chức được áp dụng trong các trường hợp sau đây:

Vi phạm việc thực hiện nghĩa vụ, đạo đức và văn hóa giao tiếp của cán bộ công chức trong thi hành công vụ; những việc cán bộ, công chức không được làm quy định tại Luật cán bộ công chức; vi phạm pháp luật bị Tòa án kết án bằng bản án

Trang 37

31

có hiệu lực pháp luật; vi phạm quy định của pháp luật về phòng, chống tham nhũng; thực hành tiết kiệm, lãng phí; bình đẳng giới; phòng, chống tệ nạn mại dâm và các quy định khác của pháp luật liên quan đến cán bộ nhưng chưa đến mức bị truy cứu trách nhiệm hình sự

Ý thức tổ chức kỷ luật của cán bộ lãnh đạo, quản lý cấp xã người dân tộc thiểu

số thể hiện qua việc chấp hành và Thực hiện chính sách phát triển có hiệu quả thời giờ làm việc theo quy định của pháp luật, nội quy, quy định của cơ quan, đơn vị, tổ chức; không làm việc riêng, không đi muộn về sớm, không chơi games trong giờ làm việc; không sử dụng các chất có nồng độ cồn trong giờ hành chính, phải có mặt đúng giờ tại công sở theo giờ hành chính hoặc theo quy định cụ thể của cơ quan, tổ chức, đơn vị

Tiểu kết chương 1

Tóm lại, đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý cấp xã là nhân tố quyết định sự Thực hiện chính sách phát triển kinh tế - xã hội của địa phương Cấp xã là nơi hỗ trợ trực tiếp khi người dân gặp khó khăn, hoạn nạn, là nơi thuận lợi để tạo điều kiện cho người dân tham gia vào hệ thống chính trị, là đầu mối để triển khai, thực hiện chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước có hiệu quả, là nơi để người dân phản ánh nguyện vọng, nhu cầu cấp thiết với cấp trên để được hỗ trợ, giải quyết

Cán bộ lãnh đạo, quản lý cấp xã người dân tộc thiểu số là những người am hiểu về phong tục, tập quán nơi họ đang sống, đồng thời cũng là người trực tiếp tuyên truyền đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước

ăn sâu trong mọi tầng lớp Nhân dân, là người trực tiếp lắng nghe ý kiến của Nhân

Trang 38

32 dân, giải trình với Nhân dân, thực hiện chức năng lãnh đạo công tác Đảng, quản lý Nhà nước theo đúng chính sách và thẩm quyền được giao

Trang 39

33

Chương 2 THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH PHÁT TRIỂN ĐỘI NGŨ CÁN BỘ LÃNH ĐẠO,

QUẢN LÝ CẤP XÃ LÀ NGƯỜI DÂN TỘC THIỂU SỐ

TẠI HUYỆN SƠN TÂY, TỈNH QUẢNG NGÃI 2.1 Khái quát về đặc điểm tự nhiên, xã hội vùng dân tộc thiểu số tại huyện Sơn Tây

2.1.1 Điều kiện tự nhiên

Sơn Tây là huyện miền núi, thuộc diện một trong 62 huyện nghèo của cả nước, nằm trên Tỉnh lộ 623, cách thành phố Quảng Ngãi 85 km ở phía Tây Nam của tỉnh Quảng Ngãi Với ranh giới hành chính như sau:

Phía Đông giáp huyện: Xã Sơn Thượng, huyện Sơn Hà (Quảng Ngãi)

Phía Tây giáp huyện: Đăk Nên, huyện Kon PLong (Kon Tum)

Phía Nam giáp huyện: Xã Ngọc Tem, huyện Kon PLong (Kon Tum)

Phía Bắc giáp huyện: Xã Trà Vân, huyện Nam Trà My (Quảng Nam)

Huyện được chia làm 09 đơn vị hành chính cấp xã, có 42 thôn, 135 khu dân cư Tổng số hộ 5.348, với tổng dân số 20.445 người, số khẩu người đồng bào dân tộc thiểu số chiếm 97%; toàn huyện hộ nghèo chiếm tỷ lệ 49,48% và cận nghèo 7,8%

Diện tích tự nhiên của huyện là 38.149,23 ha, trong đó đất sản xuất nông, lâm nghiệp là 18.425 ha, chiếm 48,29% so với tổng diện tích đất của cả huyện; còn lại 19.724,23 ha là đất rừng phòng hộ của 03 loại rừng (rừng trồng; tự nhiên, rừng sản xuất)

2.1.2 Đặc điểm về kinh tế - xã hội

Trong những năm gần đây, tình hình kinh tế - xã hội của huyện đã phát triển rõ nét, tốc độ tăng trưởng kinh tế ở mức trung bình, cơ cấu kinh tế đã có những bước chuyển biến tích cực, đời sống của Nhân dân từng bước được cải thiện Trong lộ trình thực hiện chính sách phát triển nông thôn mới, Sơn Tây là một trong những huyện nghèo đứng thứ 12/13 các huyện của tỉnh Quảng Ngãi

Trang 40

34

Các hoạt động y tế, văn hóa, giáo dục luôn được quan tâm phát triển sâu rộng, các hoạt động đền ơn đáp nghĩa, từ thiện nhân đạo, xóa nghèo được thực hiện kịp thời Đời sống đại bộ phận người dân được cải thiện; các gia đình chính sách, gia đình có công với cách mạng đều được quan tâm, chăm lo và giả quyết chế độ kịp thời

Tốc độ tăng trưởng kinh tế năm 2015 đạt 0,7%/năm, GDP bình quân đầu người của huyện đạt khoảng 15 triệu đồng/người Cơ cấu các ngành kinh tế chuyển dịch theo hướng tích cực, tỷ trọng ngành dịch vụ và lâm nghiệp tăng, tỷ trọng ngành nông nghiệp giảm Đời sống vật chất và tinh thần của Nhân dân trong huyện được cải thiện và nâng lên, trong giai đoạn từ năm 2015 - 2018, thu nhập bình quân đầu người của dân cư tăng lên gấp 1,6 lần, tỷ lệ hộ nghèo giảm từ 60,5% năm 2015 xuống còn 49,48% tháng 12 năm 2018 Chủ trương của Đảng, chính sách, chương trình mục tiêu quốc gia về Thực hiện chính sách phát triển các lĩnh vực kinh tế - xã hội được thực hiện đạt kết quả tích cực như việc thực hiện phổ cập giáo dục Trung học cơ sở, kiên cố hóa phòng học các cấp đạt 80%, giảm

tỷ lệ trẻ em suy dinh dưỡng xuống còn 35,6%, giáo dục và đào tạo, y tế, chăm sóc sức khỏe Nhân dân, an sinh xã hội, văn hóa, thể dục thể thao, thông tin truyền thông đều đạt được kết quả nhất định

Hệ thống đường giao thông, điện lưới, thủy lợi, trường học, nhà sinh hoạt cộng đồng được nâng cấp, tạo điều kiện thuận lợi cho người dân trong việc sản xuất, sinh hoạt theo nhu cầu Một số công trình hạ tầng như đường trục chính, hạ tầng khu dân cư đang được triển khai xây dựng, là cơ sở thuận lợi tạo điều kiện cho sự Thực hiện chính sách phát triển kinh tế - xã hội của huyện trong giai đoạn tiếp theo

Xuất phát từ điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội của huyện, cùng với sự chỉ đạo, điều hành quyết liệt của các cấp ủy đảng, chính quyền, sự tham mưu của các ban, ngành, sự đồng lòng của Nhân dân trong triển khai thực hiện kế hoạch Thực hiện chính sách phát triển kinh tế - xã hội, Sơn Tây đã và đang có những bước Thực hiện chính sách phát triển vượt bậc, đạt được các thành tựu quan trọng về

Ngày đăng: 27/11/2019, 14:51

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w