1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Thực hiện chính sách đào tạo trung cấp lý luận chính trị tại trường chính trị tỉnh Quảng Nam

107 83 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 107
Dung lượng 2,76 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Về không gian Luận văn chủ yếu tập trung làm rõ việc thực hiện chính sách đào tạo trung cấp lý luận chính trị đối với đội ngũ cán bộ, công chức cấp cơ sở tham gia đào tạo trung cấp lý l

Trang 1

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM

HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

Trang 2

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM

HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng cá nhân tôi

Các số liệu, kết quả phản ánh trong luận văn là trung thực, chưa từng được ai công bố trong bất kì công trình nghiên cứu nào

Tác giả luận văn

Trần Văn Cam

Trang 4

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH ĐÀO TẠO TRUNG CẤP LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ TẠI CÁC TRƯỜNG CHÍNH TRỊ CẤP TỈNH 10

1.1 Một số khái niệm công cụ 10

1.1.1 Khái niệm “lý luận chính trị” và “đào tạo lý luận chính trị” 10

1.1.2 Khái niệm “chính sách đào tạo lý luận chính trị” 12

1.1.3 Khái niệm cán bộ cấp cơ sở 12

1.1.4 Khái niệm “công chức cấp cơ sở” 13

1.2 Chính sách đào tạo trung cấp lý luận chính trị tại các trường chính trị cấp tỉnh của Đảng và Nhà nước ta hiện nay 15

1.2.1 Cơ sở chính trị quy định chức năng, nhiệm vụ của trường chính trị cấp tỉnh trong đào tạo trung cấp lý luận chính trị 15

1.2.2 Về mục tiêu, tiêu chuẩn đối tượng đào tạo, thời gian đào tạo và khối lượng kiến thức toàn khóa trong đào tạo trung cấp lý luận chính trị tại các trường chính trị cấp tỉnh 17

1.2.3 Về quy chế quản lý đào tạo 20

1.3 Vị trí, ý nghĩa của việc thực hiện chính sách đào tạo trung cấp lý luận chính trị đối với đội ngũ cán bộ, công chức cấp cơ sở tại các trường chính trị cấp tỉnh 21

Tiểu kết chương 1 25

Chương 2 THỰC TRẠNG VIỆC THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH ĐÀO TẠO TRUNG CẤP LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ ĐỐI VỚI ĐỘI NGŨ CÁN BỘ, CÔNG CHỨC CẤP CƠ SỞ TẠI TRƯỜNG CHÍNH TRỊ TỈNH QUẢNG NAM GIAI ĐOẠN 2016 - 2019 26

2.1 Khái quát chung về trường chính trị tỉnh Quảng Nam 26

2.1.1 Vài nét lịch sử hình thành, phát triển của trường Chính trị tỉnh Quảng Nam26 2.1.2 Khái quát tổ chức, bộ máy của Trường Chính trị tỉnh Quảng Nam hiện nay 29 2.2 Nhận diện một số yếu tố thuận lợi đối với việc thực hiện chính sách đào tạo trung cấp lý luận chính trị cho đội ngũ cán bộ, công chức cấp cơ sở tại trường chính trị tỉnh Quảng Nam thời gian qua 32

2.2.1 Quảng Nam, một địa phương có những chuyển biến tích cực trong phát triển kinh tế - xã hội 32

Trang 5

2.2.2 Sự quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo của Tỉnh ủy, Ủy ban nhân dân tỉnh đối với

công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức 34

2.2.3 Năng lực thực thi chính sách của đội ngũ cán bộ, giảng viên, nhân viên Trường Chính trị tỉnh Quảng Nam ngày càng được nâng cao 36

2.3 Đánh giá việc thực hiện chính sách đào tạo trung cấp lý luận chính trị đối với đội ngũ cán bộ, công chức cấp cơ sở tại Trường Chính trị tỉnh Quảng Nam thời gian qua 37

2.3.1 Về kết quả đạt được và những hạn chế, bất cập 37

2.3.2 Nguyên nhân của ưu điểm và hạn chế, khuyết điểm 50

Tiểu kết chương 2 57

Chương 3 PHƯƠNG HƯỚNG VÀ CÁC GIẢI PHÁP TẠO ĐIỀU KIỆN NÂNG CAO HIỆU QUẢ VIỆC THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH ĐÀO TẠO TRUNG CẤP LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ ĐỐI VỚI ĐỘI NGŨ CÁN BỘ, CÔNG CHỨC CẤP CƠ SỞ TẠI TRƯỜNG CHÍNH TRỊ TỈNH QUẢNG NAM GIAI ĐOẠN TIẾP THEO 58

3.1 Phương hướng 58

3.1.1 Phương hướng chung 58

3.1.2 Nhiệm vụ cụ thể 59

3.2 Một số giải pháp tạo điều kiện nâng cao hiệu quả việc thực hiện chính sách đào tạo trung cấp lý luận chính trị đối với đội ngũ cán bộ, công chức cấp cơ sở tại Trường Chính trị tỉnh Quảng Nam giai đoạn tiếp theo 59

3.3 Khảo nghiệm tính cấp thiết, tính khả thi của các giải pháp 69

3.3.1 Mục đích 69

3.3.2 Kết quả khảo nghiệm tính cấp thiết, tính khả thi của các giải pháp thực hiện chính sách đào tạo tại Trường Chính trị tỉnh Quảng Nam được tổng hợp ở bảng 3.1 và 3.2 dưới đây 70

Tiểu kết chương 3 75

KHUYẾN NGHỊ VÀ KẾT LUẬN 77

1 Khuyến nghị 77

2 Kết luận 79 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Trang 6

DANH MỤC CÁC HÌNH, BẢNG, BIỂU

Hình 2.1 Sơ đồ tổ chức bộ máy của Trường Chính trị tỉnh

Bảng 2.1 Đội ngũ cán bộ, giảng viên, nhân viên Trường Chính

Bảng 2.2

Kết quả học tập cuối khóa của học viên các khóa đào tạo tập trung chương trình trung cấp lý luận chính trị - hành chính tại Trường Chính trị tỉnh Quảng Nam những năm 2016-2019

41

Bảng 2.3

Khảo sát kết quả thực hiện mục tiêu đào tạo, thời gian đào tạo, khối lượng kiến thức đào tạo toàn khóa và chất lượng giảng dạy, phục vụ giảng dạy trong đào tạo trung cấp lý luận chính trị đối với đội ngũ cán bộ, công chức cấp cơ sở tại Trường Chính trị tỉnh Quảng Nam thời gian qua

71

Bảng 3.2

Tổng hợp đánh giá tính khả thi của các giải pháp góp phần thực hiện tốt hơn chính sách đào tạo trung cấp lý luận chính trị đối với đội ngũ cán bộ, công chức cấp cơ

sở tại Trường Chính trị tỉnh Quảng Nam

72

Trang 7

Bảng 3.3

Tổng hợp đánh giá về tính cấp thiết theo thứ bậc của các giải pháp góp phần thực hiện tốt hơn chính sách đào tạo trung cấp lý luận chính trị đối với đội ngũ cán bộ, công chức cấp cơ sở tại Trường Chính trị tỉnh Quảng Nam

73

Bảng 3.4

Tổng hợp đánh giá về tính khả thi theo thứ bậc của các giải pháp góp phần thực hiện tốt hơn chính sách đào tạo trung cấp lý luận chính trị đối với đội ngũ cán bộ, công chức cấp cơ sở tại Trường Chính trị tỉnh Quảng Nam

75

Trang 8

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã từng khẳng định, cán bộ là cái gốc của mọi công việc, huấn luyện cán bộ là công việc gốc của Đảng Vì vậy, học tập chủ

nghĩa, dùi mài tư tưởng, nâng cao lý luận là những việc cần kíp của Đảng Nghị

quyết Hội nghị lần thứ 3 Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa VIII về "Chiến lược cán bộ thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước" cũng đã xác định: Cán bộ là nhân tố quyết định sự thành bại của cách mạng, gắn liền với vận mệnh của Đảng, của đất nước và chế độ, là khâu then chốt trong công tác xây dựng Đảng

Sự nghiệp đổi mới đất nước do Đảng ta khởi xướng và lãnh đạo đã và đang đạt được những thắng lợi to lớn, có ý nghĩa lịch sử Những thắng lợi đó không thể tách rời những đóng góp to lớn, quan trọng của đội ngũ cán bộ các cấp nói chung, cấp cơ

sở nói riêng

Thực tế cho thấy, trong những năm qua, cũng như đội ngũ cán bộ cấp cơ sở của

cả nước nói chung, đội ngũ cán bộ cấp cơ sở của tỉnh Quảng Nam đã có những chuyển biến quan trọng Trình độ, năng lực của đội ngũ cán bộ ngày càng được nâng cao, trong đó trình độ chuyên môn, lý luận chính trị cơ bản đạt chuẩn theo yêu cầu, số cán bộ có trình độ đại học, thạc sĩ ngày càng tăng, có kinh nghiệm trong công tác, được trẻ hóa qua từng giai đoạn Tuy nhiên, bên cạnh đó, đội ngũ cán bộ cấp cơ sở của tỉnh vẫn còn tồn tại một số yếu kém, bất cập nhất định, cụ thể là: có sự chênh lệch về trình độ giữa cán bộ vùng đồng bằng và miền núi, cả về năng lực cũng như trình độ chuyên môn, nghiệp vụ; trình độ lý luận chính trị của một số cán bộ chưa thực sự đáp ứng yêu cầu Tình trạng lúng túng trong xử lý công việc, thiếu tính chuyên nghiệp, kỹ năng trong xử lý các tình huống thực tiễn đặt ra; tâm lý thụ động, trông chờ, ỷ lại, tư tưởng trì trệ, bảo thủ có nơi, có lúc còn khá nặng nề Đặc biệt, trong giải quyết một số công việc liên quan đến người dân, không ít cán bộ chưa nắm chắc, hiểu sâu vấn đề, chưa giải đáp được những thắc mắc, yêu cầu của người dân; thêm vào đó, một số cán bộ còn bị suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối

Trang 9

sống, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”… đã gây nên không ít bất bình trong nhân dân, làm giảm uy tín của tổ chức đảng, chính quyền, giảm vai trò lãnh đạo, quản lý, điều hành của bộ máy ở cơ sở

Nhằm khắc phục thực trạng nêu trên, trong những năm gần đây, Tỉnh ủy Quảng Nam luôn đề cao, coi trọng và có nhiều cố gắng trong công tác đào tạo, bồi dưỡng, nâng cao trình độ cho đội ngũ cán bộ cấp cơ sở của tỉnh Thực hiện Kết luận số 37-KL/TW ngày 2/2/2009 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa X và Quyết định số 1374/QĐ-TTg ngày 12/8/2011 của Thủ tướng Chính phủ về phê duyệt "Kế hoạch đào tạo và bồi dưỡng cán bộ, công chức giai đoạn 2011-2015"; trong những năm qua, tỉnh Quảng Nam luôn đẩy mạnh công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, đặc biệt là đào tạo, bồi dưỡng, nâng cao trình độ cho cán bộ cấp cơ sở

Nghị quyết 04-NQ/TU ngày 30 tháng 6 năm 2011 của Tỉnh ủy "Về công tác cán bộ giai đoạn 2011-2015, định hướng đến năm 2020" đã xác định: Nâng cao chất lượng, hiệu quả, tạo sự chuyển biến sâu sắc trong công tác đào tạo, bồi dưỡng cán

bộ là giải pháp quan trọng bậc nhất trong việc nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức của tỉnh Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh Quảng Nam lần thứ XXI tiếp tục xác định: Xây dựng kết cấu hạ tầng, tạo môi trường đầu tư thuận lợi, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực là ba hướng đột phá trong tiến trình phấn đấu thực hiện mục tiêu đưa tỉnh Quảng Nam trở thành tỉnh công nghiệp theo hướng hiện đại Chủ trương đó đã thực sự đặt công tác đào tào, bồi dưỡng, nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ của tỉnh trở thành khâu đột phá của nhiệm vụ đột phá

Để góp phần thực hiện mục tiêu đẩy mạnh công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ của tỉnh nêu trên, trong nhiều năm qua, Trường Chính trị tỉnh Quảng Nam đã nỗ lực thực hiện chính sách đào tạo trung cấp lý luận chính trị trong thực tiễn thực hiện chức trách, nhiệm vụ được giao Với quyết tâm chính trị đó, trường đã đạt được những kết quả đáng ghi nhận Tuy nhiên, từ thực tế khách quan, có thể khẳng định, công tác đào tạo trung cấp lý luận chính trị của trường vẫn chưa thực sự đáp ứng được yêu cầu Thực trạng trên xuất phát từ nhiều nguyên nhân, trong đó, một trong những nguyên nhân cơ bản, không kém phần quan trọng là do việc thực hiện chính sách đào tạo

Trang 10

trung cấp lý luận chính trị cho đội ngũ cán bộ, công chức cấp cơ sở của trường còn có những bất cập, hạn chế nhất định

Nhằm tiếp tục khẳng định vị thế của một trường chính trị tỉnh, góp phần to lớn, thiết thực hơn nữa trong thực hiện mục tiêu đào tạo, bồi dưỡng cán bộ cấp cơ

sở của tỉnh trong thời gian tới, vấn đề đặt ra mang tính cấp thiết là đòi hỏi Trường Chính trị tỉnh Quảng Nam cần phải thực hiện tốt hơn nữa chính sách đào tạo trung cấp lý luận chính trị

Xuất phát từ vị trí, ý nghĩa và tầm quan trọng của vấn đề nêu trên, tôi chọn

đề tài: "Thực hiện chính sách đào tạo trung cấp lý luận chính trị tại Trường

Chính trị tỉnh Quảng Nam" làm luận văn tốt nghiệp thạc sĩ chuyên ngành Chính

sách công

2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài

Thực hiện chính sách đào tạo, bồi dưỡng lý luận chính trị nói chung, chính sách đào tạo trung cấp lý luận chính trị tại các trường chính trị cấp tỉnh nói riêng là một trong những vấn đề luôn được Đảng, Nhà nước, các cấp ủy đảng, chính quyền địa phương các cấp và các cơ quan chức năng đề cao, coi trọng Theo đó, vấn đề này cũng luôn được nhiều tập thể, cá nhân, nhất là đội ngũ các nhà khoa học quan tâm nghiên cứu và có những đóng góp nhất định

Nhìn chung, các công trình nghiên cứu trong chừng mực cũng đã góp phần làm rõ một cách có hệ thống những vấn đề lý luận và thực tiễn cơ bản, quan trọng liên quan đến đào tạo, bồi dưỡng lý luận chính trị và thực hiện chính sách đào tạo, bồi dưỡng lý luận chính trị như: vị trí, vai trò của công tác đào tạo, bồi dưỡng

lý luận chính trị; sự cần thiết phải thực hiện tốt chính sách đào tạo, bồi dưỡng lý luận chính trị; những vấn đề thực tiễn đặt ra đối với công tác đào tạo, bồi dưỡng

lý luận chính trị và thực hiện chính sách đào tạo, bồi dưỡng lý luận chính trị Trong tất cả các công trình nghiên cứu đã có những đóng góp quan trọng nêu trên, phải kể đến những công trình tiêu biểu như:

Trang 11

2.1 Về sách

- GS, TS Nguyễn Phú Trọng, PGS, TS Trần Xuân Sầm: “Luận cứ khoa học cho việc nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước”[21] ” Hai tác giả đã tập trung phân tích, lý giải, vạch

rõ hệ thống các căn cứ khoa học của việc nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, nhất

là đội ngũ cán bộ chủ chốt các cấp Trên cơ sở đó chủ động xây dựng phương hướng, giải pháp nhằm củng cố, phát triển đội ngũ cán bộ các cấp cả về số lượng và chất lượng, cũng như cơ cấu phù hợp với yêu cầu thực tiễn ngày càng cao của sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước

- PGS, TS Trương Thị Thông, PGS, TS Lê Kim Việt: “Bệnh quan liêu trong công tác cán bộ ở nước ta hiện nay - Thực trạng và giải pháp”[20] Hai tác giả đã có

sự đầu tư phân tích khá sâu sắc về nguồn gốc, thực trạng, nguyên nhân của bệnh quan liêu trong công tác cán bộ ở nước ta hiện nay; từ đó chủ động xây dựng hệ thống các giải pháp nhằm phòng ngừa, khắc phục căn bệnh nguy hiểm nêu trên; đặc biệt, cuốn sách còn tập trung phân tích, chỉ rõ những thiếu sót, khuyết điểm trong công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, nhất là căn bệnh quan liêu trong công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ Đặt ra yêu cầu về vai trò lãnh đạo của Đảng, quản lý, điều hành của Nhà nước trong phòng, chống bệnh quan liêu trong công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ

- PGS, TS Bùi Đình Phong: “Tư tưởng Hồ Chí Minh về cán bộ và công tác cán bộ”[16] Tác giả đã hệ thống hóa, có phân tích một cách khá sâu sắc tư tưởng

Hồ Chí Minh về cán bộ, công tác cán bộ, trong đó có công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ; làm rõ phương châm mà tư tưởng Hồ Chí Minh đã nêu ra và yêu cầu phải nghiêm túc quán triệt, tổ chức thực hiện: “làm nghề gì học nghề ấy”, “lấy tự học làm cốt”; đề cao trách nhiệm của Đảng, Nhà nước và hệ thống chính trị nói chung trong công tác cán bộ và đào tạo, bồi dưỡng cán bộ

- PGS, TS Nguyễn Thái Sơn: “Đổi mới công tác đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán

bộ chủ chốt cấp cơ sở”[19] Tác giả đã đề cập khá toàn diện, sâu sắc về công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ chủ chốt cấp cơ sở ở nước ta trong quá trình thực hiện sự

Trang 12

nghiệp đổi mới đất nước Đặc biệt, tác giả đã tập trung làm rõ vị trí, vai trò, tầm quan trọng của công tác đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ cấp cơ sở; mối quan hệ giữa công tác đào tạo, bồi dưỡng và chất lượng cán bộ; nội dung, phương thức đào tạo, bồi dưỡng; đánh giá khách quan, cụ thể những ưu điểm, khuyết điểm của công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ cấp cơ sở thời gian qua; đề xuất nhiều giải pháp cơ bản, quan trọng nhằm góp phần nâng cao chất lượng công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ cấp cơ

sở trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước; trong đó có giải pháp về việc tăng cường đầu tư của Nhà nước đối với công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ nói chung, đào tạo, bồi dưỡng cán bộ chủ chốt cấp cơ sở nói riêng

2.2 Về luận án, luận văn

- Cầm Thị Lai: "Đào tạo, bồi dưỡng lý luận chính trị, hành chính cho đội ngũ cán bộ chuyên trách cấp xã ở các tỉnh Tây Bắc hiện nay”[9] Luận án đã tiếp cận khá toàn diện và sâu sắc về vị trí, vai trò của công tác đào tạo, bồi dưỡng cán

bộ cấp xã; thực trạng công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ cấp xã của các tỉnh vùng Tây Bắc; đặc biệt, công trình nghiên cứu đã phản ánh khá sinh động về đặc điểm đối tượng, nội dung, phương pháp đào tạo, bồi dưỡng đối với một nhóm đối tượng có tính đặc thù là cán bộ chuyên trách các tỉnh vùng miền núi Tây Bắc; trên cơ sở đó, tác giả đã đề xuất một số giải pháp cơ bản, quan trọng nhằm góp phần nâng cao chất lượng công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ cấp xã ở các tỉnh vùng Tây Bắc trong thời gian tới

2.2.2 Luận văn thạc sỹ

Nguyễn Thị Thu Hiền: "Công tác bồi dưỡng cán bộ chủ chốt cấp cơ sở ở tỉnh Vĩnh Phúc trong giai đoạn hiện nay"[8]

Trang 13

Có thể khẳng định, các nội dung cụ thể trong các công trình nghiên cứu đó, trong chừng mực nhất định, có giá trị tham khảo lớn đối với việc thực hiện đề tài

“Thực hiện chính sách đào tạo trung cấp lý luận chính trị tại Trường Chính trị tỉnh Quảng Nam”

Tuy nhiên, qua kết quả tìm tòi, nghiên cứu của bản thân, có thể thấy cho đến thời điểm hiện nay vẫn chưa có công trình nghiên cứu nào nghiên cứu một cách cụ thể việc “Thực hiện chính sách đào tạo trung cấp lý luận chính trị tại Trường Chính trị tỉnh Quảng Nam”

Vì lẽ đó, việc tác giả chọn chủ đề này để nghiên cứu là cần thiết, sản phẩm từ việc nghiên cứu đề tài sẽ có ý nghĩa nhất định về mặt lý luận và thực tiễn đối với công tác đào tạo, bồi dưỡng lý luận chính trị nói chung, việc thực hiện chính sách đào tạo trung cấp lý luận chính trị đối với đội ngũ cán bộ, công chức cấp cơ sở tại Trường Chính trị tỉnh Quảng Nam nói riêng

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

3.1 Mục đích nghiên cứu

Hình thành khung lý luận tạo cơ sở đánh giá thực trạng và đề xuất phương hướng, những giải pháp chủ yếu nhằm tạo điều kiện nâng cao hiệu quả việc thực hiện chính sách đào tạo trung cấp lý luận chính trị đối với đội ngũ cán bộ, công chức cấp cơ sở của trường trong thời gian tới

Trang 14

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

- Hệ thống hóa cơ sở l ý luận về thực hiện chính sách đào tạo trung cấp lý luận chính trị tại các trường chính trị cấp tỉnh;

- Đánh giá thực trạng việc thực hiện chính sách đào tạo trung cấp lý luận chính trị đối với đội ngũ cán bộ, công chức cấp cơ sở tại Trường Chính trị tỉnh Quảng Nam giai đoạn 2016 đến năm 2019;

- Đề xuất phương hướng và một số giải pháp chủ yếu nhằm nâng cao hiệu quả việc thực hiện chính sách đào tạo trung cấp lý luận chính trị đối với đội ngũ cán bộ, công chức cấp cơ sở tại Trường Chính trị tỉnh Quảng Nam giai đoạn tiếp theo

4 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu

4.1 Đối tượng nghiên cứu

Thực hiện chính sách đào tạo trung cấp lý luận chính trị tại Trường Chính trị tỉnh Quảng Nam

4.2.2 Về không gian

Luận văn chủ yếu tập trung làm rõ việc thực hiện chính sách đào tạo trung cấp

lý luận chính trị đối với đội ngũ cán bộ, công chức cấp cơ sở tham gia đào tạo trung cấp lý luận chính trị các khóa tập trung tại Trường Chính trị tỉnh Quảng Nam trên các nội cơ bản, quan trọng sau đây:

- Chức năng, nhiệm vụ của trường chính trị cấp tỉnh trong đào tạo trung cấp

lý luận chính trị đối với đội ngũ cán bộ, công chức cấp cơ sở;

- Mục tiêu, tiêu chuẩn đối tượng đào tạo, thời gian đào tạo và khối lượng

Trang 15

kiến thức toàn khóa trong đào tạo trung cấp lý luận chính trị đối với đội ngũ cán

bộ, công chức cấp cơ sở tại các trường chính trị cấp tỉnh;

- Quy chế đào tạo

- Chu trình thực hiện chính sách đào tạo trung cấp lý luận chính trị tại các trường chính trị cấp tỉnh

5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu

5.1 Cơ sở lý luận

Đề tài được thực hiện trên nền lý luận về chính sách và phân tích chính sách công ở Việt Nam và quan điểm, chủ trương chính sách đào tạo cán bộ, công chức của Đảng và Nhà nước Việt Nam hiện nay

5.2 Phương pháp nghiên cứu

* Điều tra bằng bảng hỏi

Phiếu trưng cầu gồm các câu hỏi đóng và mở về thực tiễn việc thực hiện chính sách đào tạo trung cấp lý luận chính trị đối với đội ngũ cán bộ, công chức cấp cơ sở tại Trường Chính trị tỉnh Quảng Nam thời gian qua; tính khả thi của phương hướng

và những giải pháp luận văn đề xuất

Đối tượng khảo sát: tập thể cán bộ lãnh đạo, quản lý các khoa, phòng và cán

bộ, công chức cấp cơ sở đang tham gia đào tạo trung cấp lý luận chính trị ở các lớp tập trung tại trường

* Tham khảo ý kiến chuyên gia

Tham vấn ý kiến chuyên gia nhằm lấy ý kiến, kiểm nghiệm tính đúng đắn, hợp

lý của việc thực hiện chính sách đào tạo trung cấp lý luận chính trị đối với đội ngũ cán bộ, công chức cấp cơ sở tại Trường Chính trị tỉnh Quảng Nam thời gian qua, tính khả thi của phương hướng và những giải pháp luận văn đề xuất

Trang 16

6.2 Ý nghĩa thực tiễn

- Cung cấp một số khía cạnh có tính tham khảo cho các cấp độ chủ thể lãnh đạo, quản lý trong việc thực hiện và nâng cao chất lượng thực hiện chính sách đào tạo trung cấp lý luận chính trị đối với đội ngũ cán bộ, công chức cấp cơ sở

- Ở chừng mực nhất định, có thể làm tài liệu tham khảo cho những ai quan tâm đến chủ đề phân tích chính sách công ở nước ta hiện nay

7 Cấu trúc của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục các tài liệu tham khảo và phụ lục, luận văn được kết cấu theo 3 chương:

Chương 1 Cơ sở lý luận về thực hiện chính sách đào tạo trung cấp lý luận chính trị tại các trường chính trị cấp tỉnh;

Chương 2 Thực trạng việc thực hiện chính sách đào tạo trung cấp lý luận chính trị đối với đội ngũ cán bộ, công chức cấp cơ sở tại Trường Chính trị tỉnh Quảng Nam giai đoạn 2016 - 2019;

Chương 3 Phương hướng và một số giải pháp nhằm thực hiện tốt hơn chính sách đào tạo trung cấp lý luận chính trị đối với đội ngũ cán bộ, công chức cấp cơ sở tại Trường Chính trị tỉnh Quảng Nam giai đoạn tiếp theo

Trang 17

Chương 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH ĐÀO TẠO TRUNG CẤP

LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ TẠI CÁC TRƯỜNG CHÍNH TRỊ CẤP TỈNH 1.1 Một số khái niệm công cụ

1.1.1 Khái niệm “lý luận chính trị” và “đào tạo lý luận chính trị”

1.1.1.1 Khái niệm “lý luận chính trị”

Theo Từ điển tiếng Việt, Lý luận là hệ thống những tri thức về tự nhiên, xã hội được tích lũy trong quá trình hoạt động lịch sử của con người

Như chúng ta đã biết, theo quan niệm mác.xít, bằng hoạt động thực tiễn và thông qua hoạt động thực tiễn cải tạo thế giới, con người mới có khả năng nhận thức được thế giới Sự nhận thức của con người về thế giới là một quá trình đi từ cảm tính đến lý tính Cụ thể là, lúc đầu con người chỉ thu nhận những tài liệu của thế giới thông qua cảm tính, kinh nghiệm; sau đó con người tiến hành so sánh, phân tích, tổng hợp, khái quát hóa, trừu tượng hóa , hình thành lý luận khoa học về thế giới - phản ánh bản chất, quy luật vận động của các sự vật, hiện tượng trong thế giới Với cách tiếp cận đó, chúng ta có thể đi đến kết luận, nhờ hoạt động thực tiễn

và thông qua hoạt động thực tiễn cải tạo thế giới, nhận thức, lý luận của con người được hình thành, phát triển, trong đó lý luận là cấp độ phát triển cao của quá trình nhận thức của con người, là sự phản ánh hiện thực khách quan ở trình độ cao của con người, gọi là nhận thức lý tính

“Lý luận” là hệ thống tri thức được rút ra từ quá trình tổng kết thực tiễn khoa học, được khái quát bằng phương pháp khoa học làm cơ sở khoa học cho các hoạt động thực tiễn của con người

Thông qua hoạt động thực tiễn cải tạo thế giới, con người sáng tạo ra lý luận Đến lượt nó, lý luận tác động trở lại và ngày càng có vị trí, vai trò to lớn trong quá trình hoạt động thực tiễn cải tạo thế giới của con người Hoạt động thực tiễn cải tạo thế giới của con người diễn ra ở nhiều lĩnh vực khác nhau Mỗi lĩnh vực cụ thể đều phải có lý luận cụ thể cho riêng mình, đều có nhu cầu khách quan về sự phát triển lý luận cho riêng mình Lý luận trong lĩnh vực chính trị- lý luận chính trị ra đời, phát triển cũng không nằm ngoài quỹ đạo chung đó

Trang 18

“Lý luận chính trị” có thể được hiểu là hệ thống các quan điểm, chủ trương, đường lối, chính sách của một chính đảng, một giai cấp xoay quanh vấn đề giành, giữ và thực thi quyền lực nhà nước

1.1.1.2 Khái niệm“Đào tạo lý luận chính trị”

Lý luận chính trị mang tính đảng, mang tính giai cấp rõ rệt Nó được thể hiện

cụ thể trong hệ thống các quan điểm, chủ trương, đường lối, chính sách của một chính đảng, một giai cấp xoay quanh vấn đề giành, giữ và thực thi quyền lực nhà nước Lý luận chính trị có vai trò quan trọng đối với thực tiễn hoạt động chính trị Nâng cao nhận thức lý luận chính trị là cơ sở định hướng cho hành động chính trị vận động đúng hướng và đạt mục tiêu đặt ra Muốn nâng cao nhận thức lý luận chính trị, đòi hỏi cần phải đào tạo, giáo dục lý luận chính trị

Công tác đào tạo lý luận chính trị cho đội ngũ cán bộ, đảng viên là một bộ phận cơ bản, quan trọng trong công tác tư tưởng của Đảng nhằm thực hiện việc truyền bá chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, Cương lĩnh, đường lối, quan điểm của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước trong đội ngũ cán bộ, đảng viên

Đào tạo lý luận chính trị nhằm hình thành thế giới quan, phương pháp luận khoa học, nhận thức tư tưởng, nâng cao bản lĩnh chính trị, niềm tin và năng lực hoạt động thực tiễn cho đội ngũ cán bộ, đảng viên đáp ứng yêu cầu của cách mạng trong các thời kỳ lịch sử Thông qua đó, nó đóng vai trò rất quan trọng trong việc hình thành, phát triển và hoàn thiện đường lối chính trị, đảm bảo cho sự lãnh đạo của Đảng đối với toàn xã hội; đồng thời, thông qua công tác này mà chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước thấm sâu vào quần chúng, góp phần nâng cao nhận thức chính trị cho cán bộ, đảng viên và toàn thể nhân dân Nói

về vai trò của công tác giáo dục lý luận chính trị, Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ rõ:

“Không có lý luận chính trị thì chí khí kém cương quyết, không trông xa thấy rộng, trong lúc đấu tranh dễ lạc phương hướng, kết quả là “mù chính trị”, thậm chí hủ hóa, xa rời cách mạng”

Trang 19

Từ sự phân tích về vai trò của đào tạo lý luận chính trị nêu trên, có thể hiểu:

“Đào tạo lý luận chính trị” là quá trình hoạt động làm cho người được đào tạo nắm vững hệ thống các quan điểm, chủ trương, đường lối, chính sách của một chính đảng, một giai cấp xoay quanh vấn đề giành, giữ và thực thi quyền lực nhà nước

1.1.2 Khái niệm “chính sách đào tạo lý luận chính trị”

Từ nội dung các khái niệm “lý luận chính trị” và “đào tạo lý luận chính trị” như đã trình bày ở trên, có thể hiểu khái niệm về chính sách đào tạo lý luận chính trị như sau:

Chính sách đào tạo lý luận chính trị là chương trình hành động của một chính đảng, một giai cấp nào đó trong đào tạo lý luận chính trị nhằm làm cho đối tượng đào tạo nắm vững hệ thống các quan điểm, chủ trương, đường lối, chính sách của chính đảng đó, của giai cấp đó xoay quanh vấn đề giành, giữ và thực thi quyền lực nhà nước

1.1.3 Khái niệm cán bộ cấp cơ sở

Thuật ngữ cán bộ xuất hiện khá sớm trong đời sống chính trị-xã hội Việt Nam Lúc đầu, thuật ngữ cán bộ dùng để chỉ một lớp người thoát ly gia đình đi làm cách mạng Họ là những chiến sĩ cách mạng, sẵn sàng chịu đựng gian khổ, hy sinh để phục vụ cho sự nghiệp đấu tranh giành độc lập, tự do cho dân tộc Về sau, do sự phát triển của nhận thức, thuật ngữ "cán bộ" còn được dùng để chỉ những người giữ những chức vụ, chức danh trong bộ máy cơ quan Đảng, Nhà nước, các tổ chức chính trị - xã hội Họ là bộ khung, nòng cốt của một tổ chức Tên gọi "cán bộ" thể hiện sự trân trọng của quần chúng, nhân dân đối với những người có chức, danh trong các tổ chức Đảng, Nhà nước, các tổ chức chính trị - xã hội, đã từng để lại dấu

ấn tốt đẹp trong tâm trí của quần chúng, nhân dân ta từ khi có Đảng lãnh đạo

Cho đến nay, thuật ngữ "cán bộ" được hiểu ở nhiều nghĩa khác nhau trong từng giai đoạn lịch sử cụ thể

Đại từ điển tiếng Việt do tác giả Nguyễn Như Ý chủ biên đưa ra khái niệm

“cán bộ” theo hai cách hiểu khác nhau: (1) "cán bộ” là những người làm việc và ăn lương nhà nước; (2) “cán bộ” là những người giữ chức vụ trong các cơ quan Đảng, Nhà nước và các tổ chức chính trị - xã hội

Trang 20

Với cách tiếp cận nêu trên, có thể hiểu một cách chung nhất rằng: Cán bộ là khái niệm dùng để chỉ những người có chức vụ, có vị trí, vai trò nòng cốt, quan trọng trong

tổ chức Đảng, Nhà nước, các tổ chức chính trị - xã hội, ảnh hưởng nhất định đến hoạt động của tổ chức, các quan hệ trong lãnh đạo, chỉ huy, quản lý, điều hành, góp phần định hướng sự phát triển của tổ chức

Điều 4, Luật Cán bộ, công chức 2008 đã viết: Cán bộ là công dân Việt Nam, được bầu cử, phê chuẩn, bổ nhiệm giữ chức vụ, chức danh theo nhiệm kỳ trong cơ quan của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội ở Trung ương,

ở tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương (gọi chung là cấp tỉnh), ở huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh (gọi chung là cấp huyện), trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước

Từ sự phân tích cụ thể như trên, có thể hiểu, “cán bộ cấp cơ sở” là những người được bẩu cử, bổ nhiệm vào một chức danh, giữ một chức vụ trong bộ máy Đảng, chính quyền, đoàn thể của hệ thống chính trị cấp cơ sở Họ là bộ khung, nòng cốt, những người đứng đầu, giữ các trọng trách cơ bản của các tổ chức trong hệ thống chính trị cấp cơ sở

1.1.4 Khái niệm “công chức cấp cơ sở”

- Như chúng ta đã biết, “Công chức nhà nước” là những người làm việc trong cơ quan nhà nước do tuyển dụng, bầu hoặc bổ nhiệm, giữ một nghĩa vụ nhất định hoặc tiến hành những hoạt động cụ thể nào đó để phục vụ việc thực hiện một chức vụ nhất định do Nhà nước trả lương theo chức vụ hoặc loại hoạt động đó

- Từ nội dung khái niệm nêu trên, có thể thấy rõ, công chức nhà nước có những đặc trưng chủ yếu sau:

+ Công chức nhà nước bao giờ cũng là người thực hiện một công vụ nào đó của Nhà nước Họ phải gánh vác một nghĩa vụ nhất định đối với Nhà nước và do vậy họ cũng được trao những quyền hạn nhất định để hoàn thành nghĩa vụ của mình Trong quá trình thực hiện công cụ của mình, công chức chỉ được hành động trong phạm vi quyền hạn được giao

Trang 21

+ Hoạt động thi hành công vụ của công chức không trực tiếp sản xuất ra của cải vật chất Nó là những hoạt động thuộc lĩnh vực quản lý nhà nươc nói chung + Công chức được hưởng lương do ngân sách nhà nước trả

Về phân loại công chức nhà nước, Điều 1 Pháp lệnh sửa đổi, bổ sung một số điều Pháp lệnh cán bộ, công chức năm 1998 được Uỷ ban Thường vụ Quốc hội thông qua ngày 29/4/2003 quy định: Cán bộ, công chức quy định tại Pháp lệnh này

là công dân Việt Nam trong biên chế, bao gồm:

Những người do bầu cử để đảm nhiệm chức vụ theo nhiệm kỳ trong cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị, chính trị - xã hội ở trung ương; ở tỉnh, thành phố Trực thuộc Trung ương (gọi chung là cấp tỉnh); ở huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh (gọi chung là cấp huyện);

Những người được tuyển dụng, bổ nhiệm, hoặc giao nhiệm vụ thường xuyên làm việc trong tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội ở Trung ương, cấp tỉnh, cấp huyện;

Những người được tuyển dụng, bổ nhiệm, vào một ngạch công chức hoặc giao giữ một công vụ thường xuyên trong các cơ quan nhà nước ở trung ương, cấp tỉnh, cấp huyện;

Những người được tuyển dụng, bổ nhiệm vào một ngạch viên chức hoặc giao giữ một công vụ thường xuyên trong đơn vị sự nghiệp của nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội;

Thẩm phán toà án nhân dân, kiểm sát viên viện kiểm sát nhân dân;

Người được tuyển dụng, bổ nhiệm, hoặc giao nhiệm vụ thường xuyên làm việc trong cơ quan, đơn vị thuộc Quân đội nhân dân mà không phải là sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, công nhân quốc phòng, làm việc trong cơ quan, đơn vị thuộc Công an nhân dân mà không phải là sĩ quan, hạ sĩ quan chuyên nghiệp;

Những người do bầu cử để đảm nhiệm chức vụ theo nhiệm kỳ trong Thường trực Hội đồng nhân dân, Uỷ ban nhân dân; Bí thư, Phó bí thư Đảng uỷ; người đứng đầu tổ chức chính trị - xã hội ở xã, phường, thị trấn (gọi chung là cấp xã);

Những người được tuyển dụng, giao giữ một chức danh chuyên môn nghiệp

vụ thuộc Uỷ ban nhân dân

Trang 22

Như vậy, “công chức cấp cơ sở” là những người đứng đầu các cơ quan Đảng, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội và những người được tuyển dụng, giao giữ một chức danh chuyên môn nghiệp vụ trong các cơ quan nhà nước của cấp cơ sở nói chung và Uỷ ban nhân dân cấp xã nói riêng

1.2 Chính sách đào tạo trung cấp lý luận chính trị tại các trường chính trị cấp tỉnh của Đảng và Nhà nước ta hiện nay

1.2.1 Cơ sở chính trị quy định chức năng, nhiệm vụ của trường chính trị cấp tỉnh trong đào tạo trung cấp lý luận chính trị

Chính sách đào tạo trung cấp lý luận chính trị tại các trường chính trị cấp tỉnh của Đảng và Nhà nước ta được thể hiện trong các văn kiện, văn bản chính trị, pháp lý có liên quan đến đào tạo, bồi dưỡng lý luận chính trị nói chung, đào tạo trung cấp lý luận chính trị tại các trường chính trị cấp tỉnh nói riêng Trong

đó, cần đặc biệt chú ý đến các văn kiện đại hội đại biểu toàn quốc của Đảng, chỉ thị, nghị quyết, quyết định, quy định của Bộ Chính trị, Ban Bí thư, Ban Chấp hành Trung ương và các quyết định của Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh liên quan đến việc chỉ đạo về nội dung đào tạo trung cấp lý luận chính trị đối với các trường chính trị cấp tỉnh Chính sách đào tạo trung cấp lý luận của mỗi trường chính trị tỉnh còn được thể hiện trong các văn bản lãnh đạo, chỉ đạo của Tỉnh ủy, Ủy ban nhân dân tỉnh liên quan đến đào tạo, bồi dưỡng lý luận chính trị nói chung, đào tạo trung cấp lý luận chính trị của tỉnh nói riêng Trong tất cả các nội dung thuộc về chính sách đào tạo trung cấp lý luận chính trị tại các trường chính trị cấp tỉnh của Đảng và Nhà nước ta, đều xác định yêu cầu cần tập trung nghiên cứu, lĩnh hội và tổ chức thực hiện tốt các nội dung cơ bản, chủ yếu, quyết định trực tiếp đến chất lượng thực thi chính sách đào tạo như sau:

- Cơ sở chính trị cao nhất quy định chức năng, nhiệm vụ của trường chính trị cấp tỉnh trong đào tạo trung cấp lý luận chính trị trong thời gian gần đây chính là Quyết định số 184-QĐ/TW ngày 3/9/2008 của Ban Bí thư về chức năng, nhiệm

vụ, tổ chức bộ máy của trường chính trị tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương, và Quy định số 09-QĐi/TW ngày 13-11-2018 của Ban Bí thư về chức năng, nhiệm vụ,

tổ chức bộ máy của trường chính trị tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương

Trang 23

Theo Quyết định số 184-QĐ/TW, trường chính trị tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương là đơn vị sự nghiệp trực thuộc tỉnh uỷ, thành uỷ và uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố, đặt dưới sự lãnh đạo trực tiếp và thường xuyên của ban thường vụ tỉnh uỷ, thành ủy, có chức năng tổ chức đào tạo, bồi dưỡng cán bộ lãnh đạo, quản lý của hệ thống chính trị cấp cơ sở, cán bộ, công chức ở địa phương về lý luận chính trị - hành chính; đường lối, các nghị quyết, chỉ thị của Đảng, chính sách và pháp luật của Nhà nước; kiến thức và chuyên môn, nghiệp vụ về công tác xây dựng đảng, chính quyền, Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể chính trị - xã hội; kiến thức về pháp luật và quản lý nhà nước và một số lĩnh vực khác

-Về nhiệm vụ, trường chính trị tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương thực hiện nhiệm vụ đào tạo, bồi dưỡng cán bộ lãnh đạo, quản lý của Đảng, chính quyền, đoàn thể nhân dân cấp cơ sở (xã, phường, thị trấn và các đơn vị tương đương); trưởng, phó phòng, ban, ngành, đoàn thể cấp huyện và tương đương; trưởng, phó phòng của sở, ban, ngành, đoàn thể cấp tỉnh và tương đương; cán bộ dự nguồn các chức danh trên; cán bộ, công chức cấp cơ sở và một số đối tượng khác về Chủ nghĩa Mác - Lênin, Tư tưởng Hồ Chí Minh; về đường lối của Đảng, chính sách và pháp luật của Nhà nước; về nghị quyết, chỉ thị của Đảng và Nhà nước và một số lĩnh vực khác Đào tạo trung cấp lý luận chính trị - hành chính cho cán bộ lãnh đạo, quản lý của hệ thống chính trị cấp cơ sở; cán bộ, công chức, viên chức ở địa phương

Quy định số 09-QĐi/TW tiếp tục khẳng định và bổ sung:

- Về vị trí, chức năng, trường chính trị tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương (gọi chung là trường chính trị cấp tỉnh) là đơn vị sự nghiệp trực thuộc tỉnh ủy, thành

ủy, đặt dưới sự lãnh đạo trực tiếp và thường xuyên của ban thường vụ tỉnh ủy, thành

ủy Trường có chức năng tổ chức đào tạo, bồi dưỡng cán bộ lãnh đạo, quản lý của

hệ thống chính trị cấp cơ sở, cán bộ, công chức, viên chức ở địa phương về lý luận chính trị - hành chính; chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; kiến thức và chuyên môn, nghiệp vụ về công tác xây dựng Đảng, chính quyền, Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể chính trị - xã hội; kiến thức về một số lĩnh vực khác; tham gia tổng kết thực tiễn, nghiên cứu khoa học về xây dựng Đảng, xây dựng hệ thống chính trị ở địa phương

Trang 24

Về nhiệm vụ, đào tạo, bồi dưỡng cán bộ lãnh đạo, quản lý của Đảng, chính quyền, các đoàn thể chính trị - xã hội cấp cơ sở (xã, phường, thị trấn và các đơn vị tương đương); trưởng, phó phòng, ban, ngành, Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể chính trị - xã hội cấp huyện và tương đương; trưởng, phó phòng của sở, ban, ngành, các đoàn thể chính trị - xã hội cấp tỉnh và tương đương; cán bộ được quy hoạch vào các chức danh trên; cán bộ, công chức, viên chức cấp cơ sở và một số đối tượng khác về chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; về chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; kiến thức về một số lĩnh vực khác Đào tạo trung cấp lý luận chính trị - hành chính theo tiêu chuẩn chức vụ lãnh đạo, quản lý cấp phòng và tương đương

1.2.2 Về mục tiêu, tiêu chuẩn đối tượng đào tạo, thời gian đào tạo và khối lượng kiến thức toàn khóa trong đào tạo trung cấp lý luận chính trị tại các trường chính trị cấp tỉnh

1.2.2.1 Mục tiêu

Có thể khẳng định rằng, việc xác định mục tiêu, đối tượng, tiêu chuẩn, thời gian đào tạo và khối lượng kiến thức toàn khóa trong đào tạo trung cấp lý luận chính trị đóng vị trí, vai trò quan trọng nhất của toàn bộ chính sách, nó chính là sáng kiến ban hành chính sách, là mục tiêu đặt ra, là yêu cầu cần phải hướng tới thực hiện để đạt được mục tiêu chính sách

Hiện tại, mục tiêu, đối tượng, tiêu chuẩn, thời gian đào tạo và khối lượng kiến thức toàn khóa trong đào tạo trung cấp lý luận chính trị đối với đội ngũ cán bộ, công chức cấp cơ sở tại các trường chính trị cấp tỉnh được quy định tại Quyết định số 1479/QĐ-HVCTQG ngày 21 tháng 4 năm 2014 của Giám đốc Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh về việc ban hành Chương trình đào tạo trung cấp lý luận chính trị - hành chính, Theo đó:

Nhằm trang bị cho cán bộ lãnh đạo, quản lý ở cơ sở những kiến thức cơ bản và cần thiết về lý luận chính trị - hành chính; củng cố, nâng cao bản lĩnh chính trị, phẩm chất đạo đức, trình độ lãnh đạo, quản lý; kỹ năng tổ chức thực hiện nhiệm vụ được Đảng, Nhà nước và nhân dân giao phó

Cụ thể là:

Trang 25

a Về kiến thức:

Trang bị cho học viên những kiến thức cơ bản và cần thiết về chủ nghĩa Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; quan điểm, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước , một số nội dung khoa học hành chính và kỹ năng lãnh đạo, quản lý

Mác-b Về kỹ năng:

Trang bị cho học viên biết vận dụng kiến thức lý luận của chủ nghĩa Lênin, phong cách và đường lối, quan điểm của Đảng vào thực tiễn công tác của mình, một số kỹ năng lãnh đạo, quản lý, nghiệp vụ về công tác Đảng, chính quyền, Mặt trận Tổ quốc và đoàn thể nhân dân nhằm nâng cao năng lực tổ chức thực tiễn,

Mác-tổ chức quần chúng thực hiện nhiệm vụ chính trị ở cơ sở

c.Về thái độ:

Góp phần củng cố, nâng cao niềm tin của học viên vào chủ nghĩa Mác-Lênin,

tư tưởng Hồ Chí Minh, sự nghiệp đổi mới đất nước do Đảng ta khởi xướng và lãnh đạo; kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, nâng cao năng lực và phẩm chất, đạo đức của cán bộ lãnh đạo, quản lý ở cơ sở

1.2.2.2 Đối tượng và tiêu chuẩn đào tạo

a Đối tượng đào tạo

Cán bộ lãnh đạo, quản lý đương chức, dự nguồn của Đảng, chính quyền, Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể nhân dân cấp cơ sở

b Tiêu chuẩn đối tượng đào tạo

- Có trình độ học vấn tốt nghiệp trung học phổ thông hoặc tương đương trở lên

- Có đủ sức khỏe để học tập

- Được tổ chức Đảng, chính quyền, đoàn thể cử đi học

1.3.2.3 Thời gian đào tạo và khối lượng kiến thức toàn khóa

Thời gian đào tạo toàn khóa: 6 tháng x 22 ngày x 8 tiết = 1056 tiết;

Chương trình đào tạo bao gồm 7 học phần Các phần học và nội dung đào tạo được phân bổ theo thứ tự, đảm bảo tính khoa học, kèm theo những quy định cụ thể về quy trình trong tổ chức thực hiện như sau:

Trang 26

STT PHẦN

SỐ BÀI

THỜI GIAN TOÀN KHÓA

4 IV Đường lối, chính sách của Đảng,

Nhà nước Việt Nam về các lĩnh vực

của đời sống xã hội

14 123 60 16 47

5 V Một số kỹ năng lãnh đạo, quản lý

của cán bộ lãnh đạo, quản lý ở cơ sở

7 VII Nghiên cứu thực tế cuối khóa,

ôn thi tốt nghiệp, thi tốt nghiệp hoặc

viết tiểu luận cuối khóa

Trang 27

1.2.3 Về quy chế quản lý đào tạo

Ngày 21-4-2016, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh ban hành Quyết định số 1855/QĐ-HVCTQG kèm theo bộ Quy chế quản lý đào tạo của trường chính trị tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương gồm:

- Quy chế Tuyển sinh đào tạo Trung cấp lý luận chính trị - hành chính của trường chính trị tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương;

- Quy chế Học viên học Trung cấp lý luận chính trị - hành chính của trường chính trị tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương;

- Quy chế Chủ nhiệm lớp Trung cấp lý luận chính trị - hành chính của trường chính trị tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương;

- Quy chế Đánh giá và quản lý kết quả học tập của học viên Trung cấp lý luận chính trị - hành chính của trường chính trị tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương;

- Quy chế Quản lý bằng tốt nghiệp Trung cấp lý luận chính trị - hành chính của trường chính trị tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương;

- Quy chế Giảng viên trường chính trị tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương;

- Quy chế Giảng viên kiêm nhiệm, giảng viên thỉnh giảng của trường chính trị tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương;

- Quy chế Hoạt động nghiên cứu khoa học của trường chính trị tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương;

- Quy chế Thao giảng, dự giờ của trường chính trị tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương;

- Quy chế Hoạt động thanh tra giáo dục của trường chính trị tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương

Ngày 02-5-2019, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh đã ban hành Quyết định số 2252-QĐ/HVCTQG kèm theo bộ Quy chế quản lý đào tạo của trường chính trị tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương thay thế Quyết định số 1855/QĐ-HVCTQG ngày 21 tháng 4 năm 2016 của Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh kèm bộ Quy chế quản lý đào tạo của trường chính trị tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương

Trang 28

Bộ Quy chế quản lý đào tạo mới ban hành gồm 04 quy chế quy định về đào tạo Trung cấp lý luận chính trị - hành chính; quy chế giảng viên; quy chế nghiên cứu khoa học và quy chế thanh tra đào tạo, bồi dưỡng của trường chính trị tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương Trong đó có bổ sung nhiều nội dung mới so với

bộ quy chế trước đây

Những nội dung trong hai bộ quy chế nêu trên cũng chính là những nội dung chính sách đào tạo trung cấp lý luận chính trị của các trường chính trị tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương, đòi hỏi cần phải quán triệt và tổ chức thực hiện nghiêm túc trong quá trình đào tạo

1.3 Vị trí, ý nghĩa của việc thực hiện chính sách đào tạo trung cấp lý luận chính trị đối với đội ngũ cán bộ, công chức cấp cơ sở tại các trường chính trị cấp tỉnh

Vị trí, ý nghĩa của việc thực hiện chính sách đào tạo trung cấp lý luận chính trị đối với đội ngũ cán bộ, công chức cấp cơ sở tại các trường chính trị cấp tỉnh xuất phát

từ vị trí, chức năng, nhiệm vụ của đội ngũ cán bộ, công chức cấp cơ sở Theo đó:

Vị trí, chức năng, nhiệm vụ của đội ngũ cán bộ, công chức cấp cơ sở được khái quát qua những nội dung chủ yếu sau đây:

Một là, lãnh đạo, quản lý các lĩnh vực của đời sống xã hội trên địa bàn Cấp cơ

sở là cấp cuối cùng trong hệ thống tổ chức 4 cấp của Đảng, chính quyền, Mặt trận

và các tổ chức chính trị - xã hội ở Việt Nam Do vậy, cấp cơ sở là cấp tiếp xúc trực tiếp với nhân dân trong mọi vấn đề liên quan đến các lĩnh vực của đời sống xã hội Theo đó, cán bộ, công chức cấp cơ sở là những người trực tiếp lãnh đạo, quản lý tất

cả các lĩnh vực liên quan đến đời sống xã hội tại địa phương, cơ sở, từ phát triển kinh tế, văn hóa, cho đến giữ vững ổn định chính trị, an ninh, quốc phòng, trật tự an toàn xã hội, góp phần nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân, phát huy dân chủ, thực hiện tiến bộ, công bằng xã hội

Hai là, lãnh đạo, quản lý việc triển khai, quán triệt đường lối, chủ trương của

Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước trên địa bàn Cán bộ, công chức cấp cơ

sở là những người trực tiếp triển khai, tổ chức thực hiện đường lối, chủ trương của

Trang 29

Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước trên mọi lĩnh vực của đời sống xã hội tại địa phương, cơ sở, đồng thời có trách nhiệm lãnh đạo, quản lý, theo dõi, kiểm tra, đánh giá kết quả tổ chức thực hiện, đảm bảo các chủ trương, chính sách đó được tổ Thực hiện chính sách đào tạo trung cấp lý luận chính trị đối với đội ngũ cán

bộ, công chức cấp cơ sở tại các trường chính trị cấp tỉnh là hoạt động có mục đích, được thực hiện theo một quy trình có kế hoạch cụ thể, chặt chẽ, đảm bảo tính tổ chức, tính lý luận, tính thực tiễn, tính nguyên tắc

Thực hiện tốt chính sách nêu trên có vai trò tạo ra những điều kiện, tiền đề, động lực góp phần làm cho quá trình đào tạo vận hành theo đúng mục tiêu đặt ra Việc thực hiện chính sách này bao gồm nhiều nội dung; trong đó cần tập trung mọi

nỗ lực vào việc thực hiện những nội dung cơ bản, quan trọng như: mục tiêu, tiêu chuẩn đối tượng đào tạo, thời gian đào tạo, khối lượng kiến thức toàn khóa và quy chế đào tạo trong đào tạo trung cấp lý luận chính trị đối với đội ngũ cán bộ, công chức cấp cơ sở tại các trường chính trị cấp tỉnh

Tổ chức thực hiện đúng định hướng, đúng quy định, phát huy hiệu lực, hiệu quả trong đời sống xã hội

Ba là, lãnh đạo, quản lý chiến lược đại đoàn kết dân tộc; củng cố, tăng cường

mối quan hệ mật thiết giữa Đảng, Nhà nước và Nhân dân Ngoài nhiệm vụ quan trọng đối với việc lãnh đạo, quản lý, tổ chức thực hiện, kiểm tra, giám sát, thanh tra, kiểm soát quá trình thực hiện đường lối, chủ trương, chính sách, pháp luật của Đảng, Nhà nước như đã trình bày ở trên, đội ngũ cán bộ, công chức cấp cơ sở còn là trung tâm đoàn kết toàn dân, là tấm gương lôi cuốn, cổ vũ các tầng lớp xã hội và nhân dân tham gia tích cực các phong trào hành động cách mạng ở địa bàn dân cư;

là người đưa đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước

đi vào cuộc sống; vận dụng sáng tạo đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước tại địa phương, cơ sở; tổ chức kiểm nghiệm đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước đúng, sai trong thực tiễn, nhất

là củng cố lòng tin của các tầng lớp xã hội, đồng bào dân tộc, tôn giáo… đối với sự lãnh đạo của Đảng, quản lý của Nhà nước, với sự nghiệp cách mạng, với chế độ,

Trang 30

trên cơ sở đó thực hiện sự đồng thuận xã hội, một trong những nhân tố đặc biệt quan trọng, quyết định sự thành công của sự nghiệp đổi mới, đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và hội nhập quốc tế

Thực hiện chính sách đào tạo lý luận chính trị cho đội ngũ cán bộ các cấp nói chung, thực hiện chính sách đào tạo trung cấp lý luận chính trị nói riêng đối với đội ngũ cán bộ, công chức cấp cơ sở tại các trường chính trị cấp tỉnh là một trong những yếu tố quan trọng hàng đầu góp phần nâng cao chất lượng đào tạo lý luận chính trị cho đội ngũ cán bộ, công chức cấp cơ sở; thông qua đó làm cho đội ngũ này có thêm điều kiện cần thiết, quan trọng để thực hiện và hoàn thành tốt chức năng, nhiệm vụ của mình tại địa phương, cơ sở

Chính vì vậy, Quy định số 54-QĐ/TW ngày 12-5-1999 của Bộ Chính trị về chế độ học tập lý luận chính trị trong Đảng đã đưa ra mục tiêu: Tạo sự chuyển biến mạnh mẽ về chất lượng, hiệu quả của công tác đào tạo, bồi dưỡng lý luận chính trị, góp phần xây dựng đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý các cấp có đủ phẩm chất chính trị, đạo đức và năng lực, phong cách làm việc hiệu quả đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa

1.4 Chu trình thực hiện chính sách đào tạo trung cấp lý luận chính trị tại các trường chính trị cấp tỉnh

Chu trình thực hiện chính sách đào tạo trung cấp lý luận chính trị tại các trường chính trị cấp tỉnh gồm có 7 bước như sau:

Bước 1: xây dựng kế hoạch đào tạo Đây là bước có ý nghĩa hết sức quan trọng và cần thiết trong thực hiện chính sách đào tạo Bởi vì tổ chức thực hiện chính sách đào tạo là quá trình lâu dài và rất phức tạp, do đó đòi hỏi cần phải có kế hoạch

Kế hoạch phải được xây dựng trước khi đưa chính sách đào tạo vào thực tiễn công tác đào tạo Kế hoạch đào tạo bao gồm các bước sau đây:

- Kế hoạch về tổ chức điều hành các khoa, phòng của trường trong công tác đào tạo

- Kế hoạch thời gian triển khai thực hiện công tác đào tạo

- Kế hoạch kiểm tra, đôn đốc việc thực hiện công tác đào tạo

Trang 31

- Dự kiến việc thực hiện các nội dung, quy chế, cũng như tổ chức và điều hành quá trình đào tạo

Bước 2: phổ biến, tuyên truyền kế hoạch đào tạo Để làm tốt bước này, đòi hỏi cần có sự đầu tư về trình độ chuyên môn, phẩm chất chính trị, trang thiết bị kỹ thuật… Phải thực sự coi đây là yêu cầu của thực tế khách quan Cần lưu ý là, công tác tuyên truyền cần phải được thực hiện thường xuyên dưới nhiều hình thức đa dạng, phong phú và thực sự có hiệu quả

Bước 3: tổ chức phân công phối hợp thực hiện kế hoạch đào tạo Thực hiện

kế hoạch đào tạo là công việc chung của các khoa phòng, các cá nhân trong tập thể nhà trường; do vậy, cần phải có sự phân công phối hợp hợp lý mới có thể đảm bảo hoàn thành tốt nhiệm vụ Hơn nữa, các hoạt động thực hiện mục tiêu đào tạo là hết sức phức tạp, đan xen, thúc đẩy nhau, kìm hãm nhau, vì thế cần phối hợp giữa các khoa phòng, các cá nhân có trách nhiệm Nếu chủ động, sáng tạo thực hiện hoạt động này theo tiến trình công tác đào tạo thì chắc chắn sẽ đạt được hiệu quả cao

Bước 5: điều chỉnh kế hoạch đào tạo Đây là việc làm cần thiết đòi hỏi cần phải được thực hiện thường xuyên trong quá trình tổ chức thực hiện công tác đào tạo Việc điều chỉnh kế hoạch đào tạo phải bảo đảm đáp ứng mục tiêu đào tạo ban đầu theo kế hoạch, chỉ điều chỉnh các biện pháp, cơ chế thực hiện mục tiêu đào tạo Hoạt động điều chỉnh đòi hỏi cần phải thực hiện hết sức thận trọng, chính xác Bước 6: theo dõi, kiểm tra, đôn đốc việc thực hiện kế hoạch đào tạo Hoạt động theo dõi, kiểm tra, đôn đốc việc thực hiện kế hoạch đào tạo nhằm đảm bảo cho việc thực hiện kế hoạch đào tạo đúng theo yêu cầu và sử dụng có hiệu quả các

Trang 32

nguồn lực Nếu hoạt động này được tiến hành thường xuyên sẽ giúp nhà quản lý nắm vững được tình hình thực hiện kế hoạch đào tạo, thông qua đó có những kết luận chính xác Hoạt động này cũng giúp cho các đối tượng thực hiện kế hoạch đào tạo nhận ra những hạn chế của mình để điều chỉnh, bổ sung, hoàn thiện nhằm nâng cao hiệu quả việc thực hiện kế hoạch đào tạo

Bước 7: đánh giá, tổng kết rút kinh nghiệm Yêu cầu đặt ra là bước này phải được tiến hành liên tục trong thời gian duy trì kế hoạch đào tạo Trong quá trình thực hiện hoạt động này, có thể đánh giá từng phần hay toàn bộ hoạt động thực hiện kế hoạch đào tạo Việc đánh giá phải được tiến hành đối với tất cả các tập thể, cá nhân

có liên quan một cách khách quan, trung thực và có những kết luận cụ thể, rõ rang Tiểu kết chương 1

Thực hiện chính sách đào tạo trung cấp lý luận chính trị đối với đội ngũ cán

bộ, công chức cấp cơ sở tại các trường chính trị cấp tỉnh là hoạt động có mục đích, được thực hiện theo một quy trình có kế hoạch cụ thể, chặt chẽ, đảm bảo tính tổ chức, tính lý luận, tính thực tiễn, tính nguyên tắc

Thực hiện tốt chính sách nêu trên có vai trò tạo ra những điều kiện, tiền đề, động lực góp phần làm cho quá trình đào tạo vận hành theo đúng mục tiêu đặt ra Việc thực hiện chính sách này bao gồm nhiều nội dung; trong đó cần tập trung mọi

nỗ lực vào việc thực hiện những nội dung cơ bản, quan trọng như: mục tiêu, tiêu chuẩn đối tượng đào tạo, thời gian đào tạo, khối lượng kiến thức toàn khóa và quy chế đào tạo trong đào tạo trung cấp lý luận chính trị đối với đội ngũ cán bộ, công chức cấp cơ sở tại các trường chính trị cấp tỉnh

Trang 33

Chương 2 THỰC TRẠNG VIỆC THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH ĐÀO TẠO TRUNG CẤP

LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ ĐỐI VỚI ĐỘI NGŨ CÁN BỘ, CÔNG CHỨC CẤP CƠ SỞ TẠI TRƯỜNG CHÍNH TRỊ TỈNH QUẢNG NAM

GIAI ĐOẠN 2016 - 2019 2.1 Khái quát chung về trường chính trị tỉnh Quảng Nam

2.1.1 Vài nét lịch sử hình thành, phát triển của trường Chính trị tỉnh Quảng Nam

Ngày 06 tháng 11 năm 1996, Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa IX, kỳ họp thứ 10 ban hành Nghị quyết về việc chia tách tỉnh Quảng Nam - Đà Nẵng thành hai đơn vị hành chính trực thuộc Trung ương: tỉnh Quảng Nam và thành phố Đà Nẵng Ngày 01 tháng 01 năm 1997, Ban Thường vụ lâm thời Tỉnh ủy Quảng Nam ban hành Quyết định số 27/QĐ-TV về việc thành lập Trường Chính trị tỉnh Quảng Nam, quy định chức năng, nhiệm vụ, tổ chức, bộ máy biên chế

và mối quan hệ công tác của trường Tuy nhiên, đến cuối tháng 02, đầu tháng 03 năm 1997, cũng như các đơn vị khác của tỉnh, đội ngũ cán bộ, giảng viên, nhân viên trường chính trị tỉnh mới bắt đầu chuyển từ thành phố Đà Nẵng vào làm việc chính thức tại thị xã Tam Kỳ, tỉnh Quảng Nam

Tại thời điểm lúc bấy giờ, trên danh nghĩa, trường mới chỉ thành lập về mặt hành chính, địa điểm làm việc chưa được xác định rõ; một cơ quan thực hiện chức năng đào tạo, bồi dưỡng lý luận chính trị và nghiên cứu khoa học phục vụ công tác đào tạo, bồi dưỡng lý luận chính trị của tỉnh đang trong hoàn cảnh không đủ người, không trụ sở làm việc, giảng dạy, học tập, thậm chí cũng không có chỗ ở chính thức Khó khăn lớn nhất của trường lúc bấy giờ là đội ngũ giảng viên thiếu nghiêm trọng Toàn thể đội ngũ cán bộ, giảng viên, nhân viên của trường là 24 người Hầu hết cán bộ, giảng viên, nhân viên chuyển từ Trường Chính trị thành phố Đà Nẵng vào, trong tình hình chung là đã lớn tuổi, hoàn cảnh gia đình còn nhiều khó khăn Chính thực tiễn đó đã tác động, ảnh hưởng không tốt đến tư tưởng, tinh thần làm việc, phấn đấu trong công tác của đại đa số cán bộ, giảng viên và nhân viên của trường

Trang 34

Để tháo gỡ những khó khăn, thách thức nêu trên, Chi ủy, Ban Giám hiệu nhà trường xác định cần phải nhanh chóng giải quyết dứt điểm các vấn đề tồn đọng sau khi chia tách trường, nhất là tập trung giải quyết chế độ lợi ích liên quan đến những cán bộ, giảng viên và nhân viên chuyển từ Trường Chính trị thành phố Đà Nẵng vào Tập trung động viên, đẩy mạnh công tác tư tưởng để mọi người yên tâm làm việc, cống hiến, nỗ lực xây dựng tâm thế tất cả vì nhiệm vụ chính trị được giao, quyết tâm nhanh chóng triển khai thực hiện nhiệm vụ đào tạo, bồi dưỡng và nghiên cứu khoa học phục vụ đào tạo, bồi dưỡng lý luận chính trị; chủ động khắc phục khó khăn, thách thức, ổn định nơi ăn, ở, làm việc, tập trung mọi điều kiện tốt nhất cho việc thực hiện nhiệm vụ chính trị được giao

Trong điều kiện chưa có địa điểm chính thức, ổn định để mở lớp, lãnh đạo trường đã chủ động phối hợp với các sở, ban, ngành, các địa phương để tháo gỡ khó khăn này Được sự đồng ý của Thường vụ Huyện ủy, Thường trực Ủy ban nhân dân huyện Thăng Bình, trường đã phối hợp với Trung tâm Bồi dưỡng chính trị huyện làm một địa điểm mang tính chất cố định để tiến hành mở các khóa đào tạo trung cấp lý luận chính trị tập trung Đồng thời trường còn chủ động mở nhiều lớp đào tạo tại chức tại nhiều địa phương khác nhau trên địa bàn tỉnh Với những nỗ lực đầy trách nhiệm đó, tính đến hết tháng 12 năm 2.000, trường đã mở được 8 lớp trung cấp lý luận chính trị và 1 lớp trung cấp quản lý nhà nước với tổng cộng 748 học viên Cũng trong năm 1997, trường đã chủ động cùng với Trường Chính trị thành phố Đà Nẵng hoàn thành các lớp còn lại giữa hai trường

Đối với công tác bồi dưỡng, trường đã tổ chức giảng dạy, bồi dưỡng cho 2 lớp bồi dưỡng kiến thức Quản lý nhà nước ngạch chuyên viên với 196 học viên; hoàn thành mở lớp bồi dưỡng kiến thức Quản lý nhà nước trong thời lượng cấp tốc 12 ngày cho đội ngũ cán bộ cấp xã, trưởng thôn ở 10 huyện, thị trên địa bàn tỉnh với trên 800 học viên Phối hợp với Ủy ban Dân số - Kế hoạch hóa gia đình tỉnh mở 1 lớp bồi dưỡng kiến thức dân số cho 104 học viên Phối hợp với Ban Dân vận Tỉnh

ủy mở 1 lớp bồi dưỡng kiến thức dân vận cho cán bộ dân vận cấp huyện, xã với thời lượng 7 ngày, trên 100 học viên Hoàn thành tốt các lớp bồi dưỡng chuyên đề Nghị quyết Đại hội VIII ở 13 huyện, thị với trên 1.800 học viên

Trang 35

Bên cạnh công tác đầu tư phát triển nguồn nhân lực nội tại, công tác đào tạo, bồi dưỡng và nghiên cứu khoa học phục vụ đào tạo, bồi dưỡng lý luận chính trị luôn được nhà trường quan tâm đẩy mạnh trên thực tế Theo kết quả thống kê, từ đầu năm 1997 đến cuối năm 2000, trường đã tổ chức giảng dạy thành công với tổng số

14 lớp trung cấp lý luận chính trị (cả tập trung và không tập trung), 12 lớp trung cấp hành chính nhà nước (chủ yếu là không tập trung) và 13 lớp Quản lý nhà nước ngạch chuyên viên Nhiều hội thảo khoa học theo chuyên đề phục vụ công tác đào tạo, bồi dưỡng lý luận chính trị đã được lãnh đạo trường tổ chức công phu, nghiêm túc Chất lượng của các hội thảo đã được lãnh đạo tỉnh đánh giá có giá trị cao về mặt lý luận, cũng như thực tiễn Với những nỗ lực vượt bậc đó, Trường Chính trị tỉnh Quảng Nam đã góp phần đặc biệt quan trọng vào sự nghiệp phát triển kinh tế -

xã hội của một tỉnh vừa mới tái lập Ghi nhận, động viên, khuyến khích nhằm tạo động lực tinh thần phấn đấu của tập thể nhà trường, đầu năm 2001, Chủ tịch nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã quyết định phong tặng Trường Chính trị tỉnh Quảng Nam đạt Huân chương Lao động hạng nhì; nhiều tập thể, cá nhân cán

bộ, giảng viên, nhân viên của trường còn được Tỉnh ủy, Ủy ban nhân dân tỉnh, Hiệu trưởng trường tặng danh hiệu chiến sĩ thi đua cấp tỉnh và nhiều bằng khen, giấy khen Từ thực tế khách quan, có thể khẳng định, đây thực sự là niềm vinh dự lớn mà Trường Chính trị tỉnh Quảng Nam đáng được đón nhận, tất yếu phải được đón nhận

Từ năm 2001 đến năm 2008 là một chặng đường dài của quá trình tiếp tục phát triển của Trường Chính trị tỉnh Quảng Nam Về tổ chức Đảng, từ việc thành lập chi bộ Trường Chính trị tỉnh trong những ngày đầu đã phát triển thành Đảng bộ Trường chính trị tỉnh Tổ chức bộ máy Ban Giám hiệu, các khoa, phòng luôn được củng cố, phát triển, hoàn thiện Đội ngũ cán bộ, giảng viên, nhân viên ngày càng phát triển cả về số lượng và chất lượng Công tác đào tạo, bồi dưỡng và nghiên cứu khoa học phục vụ đào tạo, bồi dưỡng đều được đẩy mạnh trên thực tế và liên tiếp giành được những kết quả đáng ghi nhận: Đảng bộ trường và nhiều chi bộ trực thuộc Đảng bộ trường nhiều năm liền đạt danh hiệu trong sạch vững mạnh và trong sạch vững mạnh tiêu biểu; xuất hiện nhiều tập thể khoa, phòng đạt danh hiệu lao động xuất sắc, xuất sắc tiêu biểu, được Ủy ban nhân dân tỉnh tặng Bằng khen, nhiều tập thể và cá nhân được Hiệu trưởng nhà trường công nhận chiến sĩ thi đua cơ sở và

Trang 36

tặng giấy khen Hơn nữa, xuất hiện ngày càng nhiều những cá nhân đạt những thành tích đặc biệt, được Thủ tướng Chính phủ tặng Bằng khen, được Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh công nhận Chiến sĩ thi đua tỉnh Quảng Nam

Từ cuối năm 2008 cuối năm 2009 là thời kỳ thoái trào đáng ghi nhớ trong tiến trình lịch sử hình thành và phát triển của Trường Chính trị tỉnh Quảng Nam Do những sai lầm trong công tác lãnh đạo, chỉ đạo của Đảng ủy, do những yếu kém, thiếu trách nhiệm trong công tác quản lý, điều hành của Ban Giám hiệu nhà trường, Trường Chính trị tỉnh Quảng Nam đã vi phạm nghiêm trọng trong chi tiêu tài chính công và đã bị các cơ quan chức năng kiểm tra, thanh tra, xử lý kỷ luật Thêm vào

đó, nội bộ trường rơi vào tình trạng lục đục mất đoàn kết, ảnh hưởng nghiêm trọng đến chất lượng, hiệu quả thực thi chức trách, nhiệm vụ được giao Hậu quả kéo theo

là, năm 2009, Đảng bộ trường bị xếp loại cuối năm thuộc vào loại đảng bộ yếu kém, kết quả thi đua của các chi bộ trực thuộc đảng bộ trường, tập thể trường, các khoa, phòng và từng cá nhân cán bộ, giảng viên, nhân viên cũng bị sụt giảm lớn

Từ năm 2010 đến nay, trên tinh thần nhìn thẳng vào sự thật, đánh giá đúng sự thật, chủ động, kiên quyết khắc phục những khó khăn, sai lầm; Trường Chính trị tỉnh Quảng Nam đã từng bước vượt qua thách thức, phát huy nội lực, phấn đấu vươn lên, hoàn thành và hoàn thành tốt mọi nhiệm vụ được giao Đặc biệt trong thời gian này, trường đã tập trung đẩy mạnh công tác phát triển nguồn nhân lực của trường và đã đạt được những kết quả đáng ghi nhận: chất lượng đội ngũ cán bộ, giảng viên, nhân viên của trường được nâng lên rõ rệt; theo đó chất lượng đào tạo, bồi dưỡng, nghiên cứu khoa học cũng ngày càng được nâng cao Tất cả những nỗ lực nêu trên đã góp phần củng cố, nâng cao vị thế, uy tín của trường, tiếp tục đóng góp tích cực vào quá trình thực tiễn thực hiện đổi mới, đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế của tỉnh nhà

2.1.2 Khái quát tổ chức, bộ máy của Trường Chính trị tỉnh Quảng Nam hiện nay

2.1.3.1 Lãnh đạo gồm: Hiệu trưởng và 2 Phó Hiệu trưởng;

2.1.3.2 Cơ cấu tổ chức: Có 4 khoa và 3 phòng:

- Khoa Lý luận Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh gồm: Trưởng khoa (do 01 Phó Hiệu trưởng kiêm nhiệm) và 01 Phó trưởng khoa

Trang 37

- Khoa Xây dựng Đảng gồm: Trưởng khoa và 01 Phó trưởng khoa

- Khoa Dân vận gồm: 01 Phó - Phụ trách khoa

- Khoa Nhà nước và pháp luật gồm: Trưởng khoa và 01 Phó trưởng khoa

- Phòng Đào tạo gồm: Trưởng phòng và 01 Phó trưởng phòng

- Phòng Nghiên cứu khoa học - Thông tin - Tư liệu gồm: Trưởng phòng

- Phòng Tổ chức - Hành chính - Quản trị gồm: Trưởng phòng và 01 Phó trưởng phòng

2.1.3.3 Về biên chế

Tổng số cán bộ, giảng viên, nhân viên hiện có của Trường Chính trị tỉnh Quảng Nam là 44 người, trong đó có 37 giảng viên 100% đội ngũ giảng viên đều đạt chuẩn theo quy định, trong đó có 01 Phó hiệu trưởng tham gia nghiên cứu sinh,

có 33 giảng viên đạt trình độ thạc sĩ chuyên môn, đa số đã qua đào tạo cao cấp lý luận chính trị

Hình 2.1 Sơ đồ tổ chức bộ máy của Trường Chính trị tỉnh Quảng Nam

Trang 38

Bảng 2.1 Đội ngũ cán bộ, giảng viên và nhân viên Trường Chính trị tỉnh Quảng Nam hiện nay

TT Nội dung Tổng

số

Trình độ chuyên môn

Trình độ lý luận chính trị Tổng số cán bộ lãnh

đạo, quản lý, giảng

viên và nhân viên

44 Thạc

Đại học

Cao đẳng

Cao cấp

Trung cấp

Sơ cấp Khác

Trang 39

2.2 Nhận diện một số yếu tố thuận lợi đối với việc thực hiện chính sách đào tạo trung cấp lý luận chính trị cho đội ngũ cán bộ, công chức cấp cơ sở tại trường chính trị tỉnh Quảng Nam thời gian qua

2.2.1 Quảng Nam, một địa phương có những chuyển biến tích cực trong phát triển kinh tế - xã hội

Quảng Nam là một tỉnh thuộc vùng duyên hải Nam Trung bộ, nằm ở trung độ

cả nước; phía Bắc giáp tỉnh Thừa Thiên - Huế và thành phố Đà Nẵng; phía Nam giáp tỉnh Quảng Ngãi, phía Đông giáp biển Đông, phía Tây giáp tỉnh Kon Tum và tỉnh Sê Kông (Lào); cách thành phố Hà Nội hơn 800km về phía Bắc, cách thành phố Hồ Chí Minh hơn 800km về phía Nam; Tổng diện tích tự nhiên của tỉnh là 10.438,37km2 Quảng Nam có hai thành phố (Tam Kỳ và Hội An); nổi tiếng với hai

di sản văn hóa thế giới (phố cổ Hội An và Thánh địa Mỹ Sơn); có trên 260 di tích văn hóa - lịch sử, trong đó có gần 20 di tích xếp hạng quốc gia; có đường bờ biển dài 125km, với 3 cửa biển thông ra bên ngoài (Cửa Đại - Hội An, Cửa An Hòa và Cửa Lở - huyện Núi Thành); có vùng đặc quyền kinh tế biển rộng lớn, hình thành nhiều ngư trường với nguồn lợi hải sản cao; có quần đảo Cù Lao Chàm, giàu tiềm năng phát triển kinh tế nhờ có yến sào và điều kiện phát triển du lịch (đặc biệt, năm

2014, Cù Lao Chàm được mệnh danh là khu dự trữ sinh quyển thế giới) Quảng Nam còn có Sâm Ngọc Linh, được công nhận là sản phẩm quốc gia với giá trị ngày càng lớn

Tổng dân số Quảng Nam tính đến cuối tháng 12 năm 2015 là 1.468.063 người Mật độ dân số khoảng 180 người/km2 Dân số trẻ, lực lượng lao động dồi dào; chuyển dịch cơ cấu lao động tiếp tục diễn ra theo hướng tích cực

Thời gian đầu sau khi được tái lập, Quảng Nam được xếp vào diện một trong những tỉnh nghèo nhất của cả nước, với thực trạng là tỉnh thuần nông, kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội của tỉnh còn kém phát triển, công nghiệp, dịch vụ chưa được đầu tư phát triển, chưa phát huy được tiềm năng của tỉnh, thu nhập bình quân đầu người còn thấp, nhất là ở miền núi (chỉ đạt 1,7 triệu đồng/ người/năm) Thêm vào

đó, Quảng Nam cũng là một trong những địa phương luôn gánh lấy những hậu quả

Trang 40

nặng nề của các cuộc chiến tranh để lại Thế nhưng, với quyết tâm phấn đấu vươn lên, tiếp tục khẳng định bề dày văn hóa - lịch sử của một địa phương “khúc ruột miền Trung”, từ Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XIX đến Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XXI, cán bộ và nhân dân tỉnh Quảng Nam đã chủ động vạch ra mục tiêu và quyết tâm hành động nhằm đổi mới cơ cấu kinh tế tỉnh nhà theo hướng đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa, phấn đấu đến năm 2020, Quảng Nam sẽ xác lập được trên thực tế một cơ cấu kinh tế: công nghiệp - dịch vụ - nông nghiệp, cơ bản trở thành tỉnh công nghiệp Thực hiện mục tiêu đó, trong những năm qua, trên cơ sở đổi mới tư duy, lựa chọn đúng khâu đột phá, đổi mới cách nghĩ, cách làm, nêu cao quyết tâm, củng cố, tăng cường sự đoàn kết, thống nhất trong đảng bộ, sự đồng thuận trong nhân dân, tạo nên sức mạnh to lớn, tổ chức thực hiện thành công mọi phong trào hành động cách mạng Nhờ vậy, tình hình kinh tế - xã hội của tỉnh luôn có những chuyển biến tích cực: cơ cấu kinh tế của tỉnh đã chuyển dịch theo hướng tiến bộ, phù hợp; tốc độ tăng trưởng GDP bình quân năm 2010 - 2015 là 10-11%, tỷ lệ hộ nghèo giảm còn 17,5% Cơ cấu kinh tế năm 2015 như sau: Tỷ trọng ngành nông nghiệp trong GRDP giảm từ 22,4% năm 2010 xuống còn khoảng 16%; công nghiệp xây dựng tăng từ 39,4% năm 2010 lên 42% vào năm 2015; dịch vụ tăng từ 38,2% năm 2010 lên 42% vào năm 2015 Giá trị sản xuất công nghiệp và xây dựng duy trì được tốc độ tăng trưởng bình quân 14,7%/năm; trong đó, giá trị sản xuất công nghiệp tăng bình quân hơn 15,2%/năm Nhiều sản phẩm công nghiệp của tỉnh đã khẳng định được vị thế trên thị trường, nhất là ô tô, giày da, may mặc, bia, nước giải khát, điện sản xuất, linh kiện điện tử, vật liệu xây dựng

Theo Báo cáo số 122/BC-UBND, ngày 24-8-2018 của Ủy ban nhân dân tỉnh Quảng Nam về kết quả 03 năm thực hiện kế hoạch phát triển kinh tế xã hội giai đoạn 2016 - 2020:

- Kinh tế có sự tăng trưởng khá Cơ cấu kinh tế chuyển dịch theo hướng tích cực Tỷ trọng ngành nông - lâm - thủy sản trong GRDP giảm từ 14,6% năm 2015 xuống còn khoảng hơn 11% năm 2018, các ngành phi nông nghiệp tăng từ 85,3% lên gần 89%, GRDP bình quân đầu người đạt 60 triệu đồng, tăng 19 triệu đồng so

Ngày đăng: 27/11/2019, 14:44

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
[1]. Ban Bí thư Trung ương (2008), Quyết định số 184-QĐ/TW ngày 03 tháng 9 năm 2008 của Ban Bí thư Trung ương Đảng về chức năng, nhiệm vụ, tổ chức bộ máy của trường chính trị tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quyết định số 184-QĐ/TW ngày 03 tháng 9 năm 2008 của Ban Bí thư Trung ương Đảng về chức năng, nhiệm vụ, tổ chức bộ máy của trường chính trị tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương
Tác giả: Ban Bí thư Trung ương
Nhà XB: Hà Nội
Năm: 2008
[2]. C. Mác và Ph. Ăngghen (1993), Toàn tập, Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Toàn tập
Tác giả: C. Mác, Ph. Ăngghen
Nhà XB: Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia
Năm: 1993
[3]. Đảng bộ tỉnh Quảng Nam (2010), Nghị quyết Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh lần thứ XX, Quảng Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị quyết Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh lần thứ XX
Tác giả: Đảng bộ tỉnh Quảng Nam
Năm: 2010
[4]. Đảng bộ tỉnh Quảng Nam (2015), Nghị quyết Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh lần thứ XXI, Quảng Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị quyết Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh lần thứ XXI
Tác giả: Đảng bộ tỉnh Quảng Nam
Nhà XB: Quảng Nam
Năm: 2015
[5]. Đảng Cộng sản Việt Nam (1997), Văn kiện Hội Nghị lần thứ ba Ban Chấp hành Trung ương khóa VIII, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.14 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Hội Nghị lần thứ ba Ban Chấp hành Trung ương khóa VIII
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 1997
[6]. Đảng Cộng sản Việt Nam (2001), Văn kiện Hội Nghị lần thứ năm Ban Chấp hành Trung ương khóa IX, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.15 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Hội Nghị lần thứ năm Ban Chấp hành Trung ương khóa IX
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2001
[7]. Đảng Cộng sản Việt Nam (2004), Các Nghị quyết Trung ương, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.16 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các Nghị quyết Trung ương
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2004
[8]. Nguyễn Thị Thu Hiền (2011), Công tác bồi dưỡng cán bộ chủ chốt cấp cơ sở ở tỉnh Vĩnh Phúc trong giai đoạn hiện nay, Luận văn Thạc sĩ Xây dựng Đảng, Học viện Chính trị - Hành chính quốc gia Hồ Chí Minh, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Công tác bồi dưỡng cán bộ chủ chốt cấp cơ sở ở tỉnh Vĩnh Phúc trong giai đoạn hiện nay
Tác giả: Nguyễn Thị Thu Hiền
Nhà XB: Học viện Chính trị - Hành chính quốc gia Hồ Chí Minh
Năm: 2011
[9]. Cầm Thị Lai (2012), Đào tạo, bồi dưỡng lý luận chính trị, hành chính cho đội ngũ cán bộ chuyên trách cấp xã ở các tỉnh Tây Bắc hiện nay, Luận án tiến sĩ Xây dựng Đảng, Học viện chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đào tạo, bồi dưỡng lý luận chính trị, hành chính cho đội ngũ cán bộ chuyên trách cấp xã ở các tỉnh Tây Bắc hiện nay
Tác giả: Cầm Thị Lai
Nhà XB: Học viện chính trị quốc gia Hồ Chí Minh
Năm: 2012
[10]. Đặng Thị Bích Liên (2009), Mô hình quản lý cơ sở đào tạo, bồi dưỡng chính trị cấp huyện trong giai đoạn hiện nay, Luận án tiến sĩ chuyên ngành Quản lý giáo dục, Trường Đại học Sư phạm, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Mô hình quản lý cơ sở đào tạo, bồi dưỡng chính trị cấp huyện trong giai đoạn hiện nay
Tác giả: Đặng Thị Bích Liên
Nhà XB: Trường Đại học Sư phạm
Năm: 2009
[11]. Hồ Chí Minh (1995), Toàn tập, tập 1, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Toàn tập, tập 1
Tác giả: Hồ Chí Minh
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 1995
[12]. Hồ Chí Minh (1995), Toàn tập, tập 2, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Toàn tập, tập 2
Tác giả: Hồ Chí Minh
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 1995
[13]. Hồ Chí Minh (2002), Toàn tập, tập 12, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Toàn tập
Tác giả: Hồ Chí Minh
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2002
[14]. Hồ Chí Minh (2004), Toàn tập, tập 5, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Toàn tập, tập 5
Tác giả: Hồ Chí Minh
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2004
[15]. Hồ Chí Minh (2004), Toàn tập, tập 6, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Toàn tập, tập 6
Tác giả: Hồ Chí Minh
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2004
[16]. Bùi Đình Phong (2002), Tư tưởng Hồ Chí Minh về cán bộ và công tác cán bộ, Nxb Lao động, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tư tưởng Hồ Chí Minh về cán bộ và công tác cán bộ
Tác giả: Bùi Đình Phong
Nhà XB: Nxb Lao động
Năm: 2002
[17]. Quốc hội nước Cộng hòa xã hội Chủ nghĩa Việt Nam (2008), Luật Cán bộ, công chức, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Luật Cán bộ, công chức
Tác giả: Quốc hội nước Cộng hòa xã hội Chủ nghĩa Việt Nam
Nhà XB: Hà Nội
Năm: 2008
[19]. Nguyễn Thái Sơn (2001), Đổi mới công tác đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ chủ chốt, Nxb Lý luận chính trị, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đổi mới công tác đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ chủ chốt
Tác giả: Nguyễn Thái Sơn
Nhà XB: Nxb Lý luận chính trị
Năm: 2001
[20]. Trương Thị Thông, Lê Kim Việt (2014), Bệnh quan liêu trong công tác cán bộ ở nước ta hiện nay - Thực trạng, nguyên nhân và giải pháp, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bệnh quan liêu trong công tác cán bộ ở nước ta hiện nay - Thực trạng, nguyên nhân và giải pháp
Tác giả: Trương Thị Thông, Lê Kim Việt
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2014
[21]. Nguyễn Phú Trọng, Trần Xuân Sầm (2003), Luận cứ khoa học cho việc nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Luận cứ khoa học cho việc nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước
Tác giả: Nguyễn Phú Trọng, Trần Xuân Sầm
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2003

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm