1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

THỰC HIỆN PHÁP LUẬT về dân QUÂN tự vệ của ủy BAN NHÂN dân PHƯỜNG từ THỰC TIỄN THÀNH PHỐ đà NẴNG

74 61 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 74
Dung lượng 1,16 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đặc điểm của thực hiện pháp luật về Dân quân tự vệ Một là, thực hiện pháp luật về DQTV là nhiệm vụ của toàn Đảng, toàn dân; trong đó lực lượng DQTV đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng s

Trang 1

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM

HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

THÁI ĐÌNH QUỐC

THỰC HIỆN PHÁP LUẬT VỀ DÂN QUÂN TỰ VỆ CỦA

ỦY BAN NHÂN DÂN PHƯỜNG

TỪ THỰC TIỄN THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

HÀ NỘI, năm 2019

Trang 2

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM

HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

THÁI ĐÌNH QUỐC

THỰC HIỆN PHÁP LUẬT VỀ DÂN QUÂN TỰ VỆ CỦA

UỶ BAN NHÂN DÂN PHƯỜNG

TỪ THỰC TIỄN THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:

PGS.TS LÊ VĂN LONG

HÀ NỘI, năm 2019

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác

TÁC GIẢ LUẬN VĂN

THÁI ĐÌNH QUỐC

Trang 4

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ THỰC HIỆN PHÁP LUẬT VỀ DÂN QUÂN TỰ VỆ CỦA UỶ BAN NHÂN DÂN PHƯỜNG 5

1.1 Khái niệm, đặc điểm, nhiệm vụ của Dân quân tự vệ 5

1.2 Khái niệm, đặc điểm, vai trò của thực hiện pháp luật về Dân quân tự vệ 10

1.3 Nội dung, chủ thể, hình thức thực hiện pháp luật về Dân quân tự vệ 14

1.4 Các yếu tố ảnh hưởng đến thực hiện pháp luật về dân quân tự vệ 20

CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG THỰC HIỆN PHÁP LUẬT VỀ DÂN QUÂN TỰ VỆ CỦA UỶ BAN NHÂN DÂN PHƯỜNG Ở THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG 25

2.1 Thực trạng quy định pháp luật về Dân quân tự vệ của Uỷ ban nhân dân phường 25

2.2 Điều kiện kinh tế, xã hội và tổ chức DQTV phường ở thành phố Đà Nẵng 29

2.3 Thực tiễn thực hiện pháp luật về Dân quân tự vệ của Ủy ban nhân dân phường ở Thành phố Đà Nẵng 31

2.4 Đánh giá về thực tiễn thực hiện pháp luật về Dân quân tự vệ của Uỷ ban nhân dân phường ở Thành phố Đà Nẵng 34

CHƯƠNG 3: QUAN ĐIỂM VÀ GIẢI PHÁP ĐỐI VỚI VIỆC THỰC HIỆN PHÁP LUẬT VỀ DÂN QUÂN TỰ VỆ CỦA UỶ BAN NHÂN DÂN PHƯỜNG

TỪ THỰC TIỄN Ở THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG 47

3.1 Quan điểm đối với việc thực hiện pháp luật về Dân quân tự vệ của UBND phường 47

3.2 Giải pháp đối với việc thực hiện pháp luật về Dân quân tự vệ của Ủy ban nhân dân phường 54

KẾT LUẬN 64

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 67

Trang 5

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

Trang 6

MỞ ĐẦU

1 Lý do lựa chọn đề tài

Trong xây dựng lực lượng vũ trang nhân dân, xây dựng DQTV rộng khắp có chất lượng cao, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc giữ vị trí, vai trò đặc biệt quan trọng Đây chính là sự kế thừa truyền thống kinh nghiệm tổ chức lực lượng vũ trang trong lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc là vấn đề hệ trọng đối với mọi quốc gia dân tộc có chủ quyền Trong quá trình phát triển lich sử nhân loại, giai cấp nào giữ địa vị trung tâm, thống trị xã hội củng đều coi trọng việc xây dựng nền quốc phòng, xây dựng lực lượng vũ trang, chăm lo phòng thủ quốc gia, giữ vững độc lập chủ quyền của đất nước Qui luật phát triển của dân tộc ta đã khẳng định: dựng nước phải đi đôi với giữ nước Ngày nay, quy luật đó được thể hiện ở sự kết hợp thực hiện 02 nhiệm vụ chiến lược “Xây dựng chủ nghĩa xã hội đi đôi với bảo vệ tổ quốc xã hội chủ nghĩa” Trên cơ sở vận dụng và phát triển sáng tạo học thuyết Mác - Lênin, tư tưởng quân sự Hồ Chí Minh về giai cấp và đấu tranh giai cấp, quan điểm bạo lực cách mạng, quan điểm về chiến tranh và quân đội, về bảo vệ Tổ quốc XHCN, đối với đảng cộng sản cầm quyền là dù trong hoàn cảnh nào cũng phải giữ vững sự lãnh đạo của đảng, tăng cường hiệu lực quản lý của nhà nước đối với sự nghiệp quốc phòng vào điều kiện lịch sử mới của đất nước và thời đại Xây dựng lực lượng vũ trang nhân dân vững mạnh về chính trị làm cơ sở nâng cao chất lượng tổng hợp và sức mạnh chiến đấu là quan điểm nhất quán của Đảng Cộng sản Việt Nam

Để tăng cường vai trò của UBND phường trong việc triển khai và thực hiện pháp luật về dân quân tự vệ trong giai đoạn phát triển hiện nay, nhằm đạt được các mục tiêu và theo các quy định của hiến pháp, cần có sự thống nhất

về các vấn đề chung như: Khái niệm, đặc điểm, nội dung, hình thức, phương

Trang 7

pháp, nguyên tắc quản lý đối với dân quân tự vệ, thực trạng quản lý nhà nước

về dân quân tự vệ hiện nay

Do vậy, việc nghiên cứu vai trò của UBND phường trong việc thực hiện pháp luật về dân quân tự vệ là yêu cầu cấp thiết Công trình nghiên cứu khoa học này được thực hiện với mong muốn đóng góp một phần nhỏ trong việc đề xuất những cơ sở lý luận, thực tiễn và kiến nghị những giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước đối với dân quân tự vệ trước yêu cầu hiện nay

2 Tình hình nghiên cứu đề tài

Vai trò UBND phường trong việc thực hiện pháp luật về dân quân tự vệ

là một trong những nội dung trọng tâm trong công tác quản lý nhà nước đối với lĩnh vực quốc phòng, được sự quan tâm đặc biệt trong lý luận và thực tiễn hiện nay Ở nước ta, cho đến nay, vấn đề này đã được đề cập nghiên cứu xem xét trên những nét chung nhất gắn liền với việc phân tích, luận giải những quan điểm và nguyên tắc xây dựng củng cố quốc phòng, bảo về Tổ quốc theo quan điểm và nguyên tắc Đảng ta và trong việc nghiên cứu vận dụng tư tưởng quân sự Hồ Chí Minh vào nghệ thuật quân sự trong chiến tranh bảo vệ Tổ quốc

Tuy vậy, trong những công trình nghiên cứu đó, vấn đề dân quân tự vệ chủ yếu được xem xét từ góc độ chính trị xã hội, chưa có tác phẩm riêng biệt nghiên cứu xem xét một cách hoàn diện vấn đề quản lý nhà nước nói chung,

về vai trò của UBND nói riêng đối với dân quân tự vệ Đặc biệt từ góc độ pháp lý, Luật nhà nước và Luật hành chính Trong lý luận và thực tiễn, khái niệm, nội dung, chủ thể hình thức, phương pháp, vấn đề quản lý bằng pháp luật đối với dân quân tự vệ …có vấn đề vẫn còn được hiểu theo nghĩa rộng, hẹp khác nhau và là vấn đề chưa thống nhất, cần được nghiên cứu xem xét

Trang 8

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

Trên cơ sở làm sáng tỏ những vấn đề lý luận, thực trạng “vai trò của UBND phường trong việc thực hiện pháp luật về dân quân tự vệ” và việc quản lý nhà nước đối với dân quân tự vệ ở cấp phường, trên cơ sở đó đưa ra những quan điểm, giải pháp thực hiện có hiệu quả trong thực hiện pháp luật

về dân quân tự vệ đáp ứng được yêu cầu nhiệm vụ mới của nước ta nói chung của thành phố Đà Nẵng nói riêng trong giai đoạn hiện nay

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Luận văn nghiên cứu những vấn đề lý luận và thực tiễn về “Vai trò của UBND phường trong việc thực hiện về pháp luật về dân quân tự vệ ở Đà Nẵng” Thời gian nghiên cứu, khảo sát là từ 2005 đến 2019

5 Phương pháp nghiên cứu

Luận văn được nghiên cứu bằng phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng và duy vật lịch sử cùng các phương pháp cụ thể khác như: hệ thống, phân tích, tổng hợp, so sánh pháp luật, phương pháp xã hội học… để làm sáng tỏ những vấn đề nghiên cứu

6 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn

Góp phần bổ sung thêm cơ sở lý luận và thực tiễn Khiến nghị những quan điểm, giải pháp cụ thể và là tài liệu tham khảo trong hoạt động thực tiễn

về vai trò của UBND phường trong việ thực hiện pháp luật về dân quân tự vệ

ở các địa phương khác, cho việc nghiên cứu và giảng dạy

7 Kết cấu của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, luận văn gồm 3 chương

Chương 1 Những vấn đề lý luận về thực hiện pháp luật về dân quân tự

vệ của UBND phường

Trang 9

Chương 2 Thực trạng thực hiện pháp luật về dân quân tự vệ của UBND phường ở thành phố Đà Nẵng

Chương 3 Quan điểm và giải pháp nâng cao vai trò của UBND phường

ở thành phố Đà Nẵng trong việc thực hiện pháp luật về dân quân tự vệ

Trang 10

CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ THỰC HIỆN PHÁP LUẬT VỀ DÂN

QUÂN TỰ VỆ CỦA UỶ BAN NHÂN DÂN PHƯỜNG

1.1 Khái niệm, đặc điểm, nhiệm vụ của Dân quân tự vệ

1.1.1 Khái niệm Dân quân tự vệ

Xuyên suốt quá trình hình thành và phát triển của dân quân tự vệ, Đảng

và Nhà nước ta thường xuyên ban hành các văn bản, chỉ thị, nghị quyết lãnh đạo việc tổ chức, xây dựng lực lượng dân quân tự vệ Theo đó, lần lượt các văn bản pháp luật đã được ban hành: Nghị định số 29-HĐBT ngày 29/02/1990 của Hội đồng Bộ trưởng về việc ban hành Điều lệ Dân quân tự vệ; Pháp lệnh số 45-L/CTN ngày 09/01/1996 của Chủ tịch nước về Dân quân tự

vệ năm 1996; Pháp lệnh số 19/2004/PL-UBTVQH11 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về Dân quân tự vệ năm 2004 và gần nhất là Luật Dân quân tự vệ năm do Quốc hội ban hành năm 2009 Các văn bản này đã góp phần tạo cơ

sở pháp lý để xây dựng lực lượng Dân quân tự vệ vững mạnh toàn diện cả về

tổ chức, huấn luyện, hoạt động và công tác bảo đảm theo chức năng, nhiệm

vụ chặt chẽ thống nhất với cơ chế “Đảng lãnh đạo, chính quyền điều hành, cơ quan quân sự làm tham mưu”

Đồng thời, các văn bản đã từng bước định hình và thống nhất về khái niệm dân quân tự vệ Tại Điều lệ Dân quân tự vệ năm 1990, dân quân tự vệ

“là lực lượng vũ trang quần chúng không thoát ly sản xuất, do Đảng Cộng sản Việt Nam tổ chức và lãnh đạo, là một trong ba thứ quân của lực lượng vũ trang nhân dân nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam” [3, Điều 1] Đến Pháp lệnh DQTV 1996, quy định tại Điều 1: “Dân quân tự vệ là lực lượng vũ trang quần chúng, không thoát ly sản xuất, công tác, là một bộ phận của lực lượng vũ trang nhân dân của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, sự quản lý, điều

Trang 11

hành của Chính phủ và của Uỷ ban nhân dân, sự chỉ đạo, chỉ huy trực tiếp của cơ quan quân sự các cấp; là một trong những công cụ chủ yếu để bảo vệ Đảng, bảo vệ Chính quyền, bảo vệ tính mạng tài sản của nhân dân, tài sản của Nhà nước ở cơ sở

Lực lượng này được tổ chức ở xã, phường, thị trấn gọi là dân quân; được tổ chức ở các cơ quan Nhà nước, đơn vị hành chính sự nghiệp, tổ chức kinh tế, tổ chức chính trị-xã hội gọi là tự vệ” [4, Điều 1 ]

Đến Pháp lệnh 2004 của UBTVQH, khái niệm DQTV được quy định tại Điều 1 như sau:

“1 Dân quân tự vệ là lực lượng vũ trang quần chúng không thoát ly sản xuất, công tác, là một bộ phận của lực lượng vũ trang nhân dân của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam, đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, sự quản lý, điều hành của Chính phủ và của Uỷ ban nhân dân các cấp, sự chỉ đạo, chỉ huy thống nhất của Bộ trưởng Bộ Quốc phòng và sự chỉ đạo, chỉ huy trực tiếp của cơ quan quân sự địa phương

Lực lượng này được tổ chức ở xã, phường, thị trấn gọi là dân quân; được tổ chức ở cơ quan nhà nước, đơn vị sự nghiệp, tổ chức kinh tế, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội (sau đây gọi chung là cơ quan, tổ chức) gọi là tự vệ

2 Lực lượng dân quân tự vệ bao gồm dân quân tự vệ nòng cốt và dân quân tự vệ rộng rãi” [ 5, Điều 1]

Đến Luật Dân quân tự vệ số 43/2009/QH12, khái niệm dân quân tự vệ được thể hiện qua vị trí, chức năng của lực lượng này:

“Điều 3 Vị trí, chức năng của dân quân tự vệ

Dân quân tự vệ là lực lượng vũ trang quần chúng không thoát ly sản xuất, công tác; là thành phần của lực lượng vũ trang nhân dân nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam; là lực lượng bảo vệ Đảng, bảo vệ chính

Trang 12

quyền, bảo vệ tính mạng, tài sản của nhân dân, tài sản của Nhà nước, làm nòng cốt cùng toàn dân đánh giặc ở địa phương, cơ sở khi có chiến tranh Lực lượng này được tổ chức ở xã, phường, thị trấn (sau đây gọi chung là cấp xã) gọi là dân quân; được tổ chức ở cơ quan của Nhà nước, tổ chức chính trị,

tổ chức chính trị - xã hội, đơn vị sự nghiệp, tổ chức kinh tế (sau đây gọi chung là cơ quan, tổ chức) gọi là tự vệ” [6, Điều 3 ]

Cũng tại Luật Dân quân tự vệ năm 2009 thì thành phần của dân quân tự

vệ cũng được tách ra hẳn thành một điều riêng, với nội dung là:

“1 Dân quân tự vệ gồm dân quân tự vệ nòng cốt và dân quân tự vệ rộng rãi

2 Dân quân tự vệ nòng cốt gồm:

a) Dân quân tự vệ cơ động;

b) Dân quân tự vệ tại chỗ;

c) Dân quân tự vệ phòng không, pháo binh, công binh, trinh sát, thông tin, phòng hóa, y tế.” [6, Điều 4 ]

Cụ thể:

Dân quân tự vệ nòng cốt là lực lượng gồm những công dân trong độ tuổi

thực hiện nghĩa vụ tham gia dân quân tự vệ, được tuyển chọn vào phục vụ có thời hạn trong các đơn vị dân quân tự vệ [6, Điều 5, Khoản 1 ].Trong thành

phần DQTV nòng cốt có lực lượng dân quân tự vệ thường trực, là lực lượng

dân quân tự vệ nòng cốt làm nhiệm vụ thường trực sẵn sàng chiến đấu tại các địa bàn trọng điểm về quốc phòng, an ninh [6, Điều 5, Khoản 5 ].Dân quân tự

vệ nòng cốt gồm:

Dân quân tự vệ cơ động là lực lượng thuộc dân quân tự vệ nòng cốt được

tổ chức thành các đơn vị sẵn sàng cơ động làm nhiệm vụ trên các địa bàn khi

có lệnh của cấp có thẩm quyền [6, Điều 5, Khoản 2 ]

Trang 13

Dân quân tự vệ rộng rãi là lực lượng gồm những công dân trong độ tuổi

thực hiện nghĩa vụ tham gia dân quân tự vệ đã được đăng ký, quản lý để sẵn sàng mở rộng lực lượng và huy động khi có lệnh của cấp có thẩm quyền [6, Điều 5, Khoản 6 ]

Dân quân tự vệ tại chỗ là lực lượng thuộc dân quân tự vệ nòng cốt được

tổ chức và hoạt động ở thôn, ấp, bản, buôn, phum, sóc, khóm, tổ dân phố (sau đây gọi chung là thôn) và ở cơ quan, tổ chức làm nhiệm vụ tại chỗ, sẵn sàng tăng cường cho dân quân tự vệ cơ động [6, Điều 5, Khoản 3 ]

Bên cạnh đó còn có dân quân tự vệ phòng không, pháo binh, công binh, trinh sát, thông tin, phòng hóa, y tế

1.1.2 Đặc điểm của Dân quân tự vệ

Thứ nhất, dân quân tự vệ Việt Nam là một lực lượng vì dân, của dân và

do toàn thể nhân dân tiến hành Từ thực tiễn quá trình hình thành, đấu tranh

và phát triển của lực lượng DQTV

DQTV là một lực lượng chiến lược trong sự nghiệp xây dựng và bảo

vệ Tổ quốc Là lực lượng nòng cốt trong xây dựng nền quốc phòng toàn dân và phong trào toàn dân đánh giặc trong chiến tranh bảo vệ Tổ quốc và trong thời bình tại địa phương Trong tình hình hiện nay, chúng ta phải đối phó với chiến lược “diễn biến hoà bình”, bạo loạn lật đổ và sẵn sàng chiến đấu chống mọi tình huống chiến tranh xâm lược của các thế lực thù địch thì vai trò của dân quân tự vệ càng được coi trọng

Lực lượng DQTV là một trong những công cụ chủ yếu để bảo vệ chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ của đất nước, trực tiếp ở từng địa phương bảo vệ Đảng, bảo vệ chính quyền, bảo vệ tính mạng, tài sản của nhân dân, tài sản của nhà nước ở cơ sở

Thứ hai, DQTV có sức mạnh tổng hợp do nhều yếu tổ tạo thành, được huy động từ nội lực; kết hợp giữa truyền thống với hiện đại Trong thời bình,

Trang 14

DQTV là lực lượng đông đảo tham gia xây dựng kinh tế, phát triển địa phương và cả nước Là lực lượng nòng cốt cùng toàn dân xây dựng nền quốc phòng toàn dân, thế trận quốc phòng toàn dân, phối hợp với các lực lượng khác đấu tranh làm thất bại chiến lược “diễn biến hoà bình”, bạo loạn lật đổ, phòng chống các tệ nạn xã hội, phòng chống thiên tai, địch hoạ bảo đảm an toàn cho nhân dân

Trong thời chiến, DQTV làm nòng cốt cho toàn dân đánh giặc, chiến đấu, tiêu hao, tiêu diệt lực lượng, phương tiện của địch, căng kéo, kìm chân, buộc địch phải sa lầy tại địa phương ; vận dụng linh hoạt các hình thức chiến thuật, các thủ đoạn chiến đấu, tạo thế, tạo lực cho bộ đội chủ lực, bộ đội địa phương chiến đấu, tham gia phục vụ chiến đấu giữ vững thế trận chiến tranh nhân dân

Thứ ba, DQTV được xây dựng toàn diện và từng bước hiện đại

1.1.3 Nhiệm vụ của Dân quân tự vệ

Dân quân tự vệ các cấp nói chung và trực tiếp là DQTV phường đề cao công tác thực hiện và đảm bảo thực hiện các nhiệm vụ đối với lực lượng DQTV, được pháp luật quy định rõ ràng, đó là:

- Sẵn sàng chiến đấu, chiến đấu và phục vụ chiến đấu để bảo vệ địa phương, cơ sở; phối hợp với các đơn vị bộ đội biên phòng, hải quân, cảnh sát biển và lực lượng khác bảo vệ chủ quyền, an ninh biên giới quốc gia và chủ quyền, quyền chủ quyền trên các vùng biển Việt Nam

- Phối hợp với các đơn vị Quân đội nhân dân, Công an nhân dân và lực lượng khác trên địa bàn tham gia xây dựng nền quốc phòng toàn dân, khu vực phòng thủ; giữ gìn an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội, bảo vệ Đảng, chính quyền, bảo vệ tính mạng, tài sản của nhân dân, tài sản của Nhà nước

Trang 15

- Thực hiện nhiệm vụ phòng, chống, khắc phục hậu quả thiên tai, dịch bệnh, tìm kiếm, cứu nạn, bảo vệ và phòng, chống cháy rừng, bảo vệ môi trường và nhiệm vụ phòng thủ dân sự khác

- Tuyên truyền, vận động nhân dân thực hiện chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước về quốc phòng, an ninh; tham gia xây dựng cơ sở vững mạnh toàn diện, xây dựng và phát triển kinh tế - xã hội tại địa phương, cơ sở

- Học tập chính trị, pháp luật, huấn luyện quân sự và diễn tập

- Thực hiện các nhiệm vụ khác theo quy định của pháp luật [6, Điều 8 ]

1.2 Khái niệm, đặc điểm, vai trò của thực hiện pháp luật về Dân quân tự vệ

1.2.1 Khái niệm thực hiện pháp luật về Dân quân tự vệ

Chúng ta đều biết Nhà nước đặt ra pháp luật là để điều chỉnh các quan hệ

xã hội theo chiều hướng mà nó mong muốn Theo đó, việc thực hiện pháp luật

là hoạt động không thể thiếu kể từ khi pháp luật xuất hiện Thực hiện pháp luật về DQTV trước hết là một trong những hình thức để thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của nhà nước, thể hiện bằng hành vi hợp pháp của các chủ thể pháp luật Đây là giai đoạn không thể thiếu và vô cùng quan trọng của cơ chế điều chỉnh pháp luật Tuy nhiên, thực hiện pháp luật về DQTV do nhiều chủ thể khác nhau thì sẽ tiến hành với nhiều các thức khác nhau, vì thế, bằng cách quy định quyền và nghĩa vụ pháp lý cho các chủ thể tham gia vào một quan

hệ xã hội nhất định, nhà nước có thể tác dộng lên các quan hệ xã hội, điều chỉnh chúng theo chiều hướng mà nhà nước mong muốn Do đó, pháp luật chỉ điều chỉnh hành vi hay xử sự của con người mà không thể điều chỉnh suy nghĩ hay tư tưởng của họ, bởi vì, không ai có thể “đọc” được hay dự đoán được chính xác ý nghĩ của người khác khi nó đang tồn tại trong đầu họ, tức là khi

nó chưa được thể hiện ra bên ngoài thành những hành vi hay xử sự cụ thể để

Trang 16

mà điều chỉnh Vì lý do này mà chỉ có thể căn cứ vào hành vi xác định hay xử

sự thực tế của một chủ thể nào đó rồi đối chiếu với các quy định cụ thể của pháp luật mà ta có thể xác định được là họ có thực hiện pháp luật về DQTV hay không hay không

Như vậy có thể kết luận rằng, thực hiện pháp luật về DQTV là một quá trình hoạt động có mục đích làm cho các quy định của pháp luật về DQTV đi vào thực tiễn cuộc sống, trở thành những hành vi thực tế hợp pháp của các chủ thể pháp luật

1.2.2 Đặc điểm của thực hiện pháp luật về Dân quân tự vệ

Một là, thực hiện pháp luật về DQTV là nhiệm vụ của toàn Đảng, toàn

dân; trong đó lực lượng DQTV đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, sự thống lĩnh của Chủ tịch nước, sự quản lý, điều hành của Chính phủ

mà trực tiếp là sự lãnh đạo, chỉ đạo của cấp ủy Đảng, chính quyền địa phương các cấp; sự chỉ huy thống nhất của Bộ trưởng Bộ Quốc phòng và sự chỉ huy trực tiếp của chỉ huy trưởng cơ quan quân sự địa phương;

Hai là, tổ chức và hoạt động của DQTV phải tuân thủ Hiến pháp và pháp

luật;

Ba là, thực hiện pháp luật về DQTV phải dựa vào dân, phát huy sức

mạnh tổng hợp của toàn dân và hệ thống chính trị để thực hiện nhiệm vụ;

Bốn là, tổ chức, biên chế của DQTV phải căn cứ vào yêu cầu nhiệm vụ

quốc phòng, an ninh, gắn với địa bàn và nhiệm vụ của đơn vị sản xuất, công tác;

Năm là, thực hiện pháp luật về DQTV phải bảo đảm thuận tiện cho chỉ

đạo, quản lý, chỉ huy và phù hợp với điều kiện kinh tế - xã hội của từng địa phương

Trang 17

1.2.3 Vai trò của thực hiện pháp luật về Dân quân tự vệ

Thực hiện pháp luật về DQTV giữ vai trò quan trọng trong công tác quốc phòng – an ninh của cả nước nói chung và của từng địa phương nói riêng Cụ thể, đó là:

1 Thực hiện pháp luật về DQTV đã cụ thể hóa, hiện thực hóa các đường lối, chủ trương, của Đảng và chính sách Nhà nước về xây dựng nền quốc phòng toàn dân, về xây dựng, củng cố và phát huy lực lượng DQTV, xứng đáng là lực lượng vũ trang của nhân dân

2 Thực hiện pháp luật về DQTV có quan hệ mật thiết đối với nền quốc phòng toàn dân Nếu thực hiện pháp luật về DQTV đúng đắn, hợp lý thì sẽ giúp củng

cố và nâng cao chất lượng của lực lượng DQTV, trở thành một trong những lực lượng chính yếu trong nền quốc phòng toàn dân, góp phần giữ vững an ninh – quốc phòng, an toàn chính trị, an sinh cho nhân dân Ngược lại, nếu thực hiện chưa tốt, chưa triệt để, còn hời hợt thì rất dễ dẫn đến hệ quả là lực lượng DQTV bị suy mỏng, thiếu về lượng, yếu về chất; từ đó ảnh hưởng rất lớn đến lực lượng vũ trang toàn dân, làm công tác quốc phòng an ninh của nước nhà suy giảm, tạo thời cơ cho các thể lực thù địch, phản động tranh thủ

chống phá chính quyền từ cơ sở,…

3 Thực hiện pháp luật về DQTV đã thể hiện sự quan tâm và đề cao của Đảng

và Nhà nước đối với lực lượng DQTV, thông qua các quy định nhằm đảm bảo các điều kiện về thu nhập, công tác, sinh hoạt, y tế,…qua đó khích lệ tinh thân, động viên để DQTV có thêm nguồn động lực mà ra sức công tác, phấn đấu cống hiến cho nhân dân, cho đất nước

4 Thực hiện pháp luật về DQTV có vai trò quan trọng đối với hệ thống cơ quan hành chính trong phối hợp thực hiện nhiệm vụ quốc phòng – an ninh

Trang 18

toàn dân toàn diện: Phân định rạch ròi trách nhiệm của các cơ quan nhà nước

từ trung ương đến địa phương trong công tác xây dụng, củng cố, phát triển lực lượng DQTV; Đặt ra yêu cầu phải nâng cao năng lực chuyên môn, trình độ kiến thức, hiểu biết pháp luật của đội ngũ cán bộ, công chức cấp cơ sở, từ đó giúp giải quyết nhanh chóng hiệu quả, các công việc chuyên môn thuộc phạm

vi chức năng được giao một cách đúng nguyên tắc, đúng quy định của pháp luật

5 Đối với mỗi cá nhân là công dân Việt Nam, thực hiện pháp luật về DQTV giúp mọi người nhận thức đúng đắn, đầy đủ vị trí, vai trò, trách nhiệm của mình đối với công tác xây dựng lực lượng DQTV nói riêng và cả nền quốc phòng toàn dân nói chung Thông qua thực hiện pháp luật về DQTV, người dân có điều kiện thuận lợi để biết được nguyên tắc, hình thức thực hiện các quyền và nghĩa vụ cũng như các hành vi bị nghiêm cấm Nếu không triển khai thực hiện pháp luật về DQTV thì có thể nhiều người dân sẽ không biết đến DQTV là gì, không biết các nghĩa vụ và trách nhiệm của mỗi cá nhân là sẽ như thế nào Nhìn trên phương diện này, để nội dung pháp luật về DQTV đến được với đông đảo người dân ở xã, phường, thị trấn thì việc tăng cường công tác phổ biến, tuyên truyền pháp luật về DQTV ở cơ sở là nhân tố giữ vai trò quyết định Bên cạnh đó, thực hiện pháp luật về DQTV còn giúp các cơ quan,

tổ chức, cá nhân cảm nhận rõ vai trò và tầm quan trọng của nó đối với sức mạnh phòng thủ quốc gia Từ sự nhận thức, hiểu biết về pháp luật về DQTV, các chủ thể sẽ chủ động hơn trong việc sử dụng các quy định của pháp luật về DQTV để góp phần củng cố, phát huy lực lượng DQTV từ địa phương cho đến cả nước

6 Tạo sự đồng thuận giữa các địa phương, vùng miền, hợp thành một thể thống nhất trong xây dựng và phát triển lực lượng DQTV Đến phần mình, DQTV giữ vững vai trò là lực lương xung kích không chỉ trong giữ gìn an

Trang 19

ninh quốc phong mà còn tích cực tham gia sản xuất, xây dựng kinh tế, văn hóa tại địa phương Từ đó góp phần thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, phát triển văn hóa, ổn định xã hội

Từ những vai trò trên, có thể đi đến kết luận rằng thực hiện pháp luật về DQTV giữ vai trò đặc biệt quan trọng đối với nền an ninh – quốc phòng toàn dân, toàn diện nói chung và đối với mọi mặt đời sống chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội nói riêng, góp phần thực hiện sứ mệnh thiêng liêng đó là bảo vệ nền độc lập của dân tộc, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của quốc gia

1.3 Nội dung, chủ thể, hình thức thực hiện pháp luật về Dân quân

tự vệ

1.3.1 Nội dung thực hiện pháp luật về Dân quân tự vệ

Nội dung thực hiện pháp luật về DQTV được quy định tại Luật DQTV năm 2009 và chi tiết hơn nữa đó là tại Nghị định số 03/2016/NĐ-CP ngày 05 tháng 01 năm 2016 của Chính phủ quy định chi tiết và biện pháp thi hành một

số điều của Luật DQTV Cụ thể:

- Nghị định này gồm 27 điều, quy định chi tiết, biện pháp thi hành một

số điều của Luật DQTV về: Tổ chức tự vệ trong doanh nghiệp; số lượng Chỉ huy phó BCH quân sự cấp xã; nhiệm vụ, quyền hạn, cơ chế phối hợp hoạt động của BCH quân sự Bộ, ngành Trung ương; con dấu của BCH quân sự xã, phường, thị trấn, BCH quân sự cơ quan, tổ chức ở cơ sở, BCH quân sự Bộ, ngành Trung ương; nguồn kinh phí; cấp xã trọng điểm về quốc phòng, an ninh, điều kiện thành lập Ban chỉ huy quân sự cơ quan, tổ chức ở cơ sở, phân cấp quản lý BCH quân sự cơ quan, tổ chức ở cơ sở, đơn vị DQTV; chế độ, chính sách đối với DQTV; hỗ trợ phương tiện, kinh phí đi lại cho DQTV khi thực hiện nhiệm vụ

- Nghị định áp dụng đối với công dân Việt Nam, cơ quan của Nhà nước,

Trang 20

tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội, đơn vị sự nghiệp, doanh nghiệp của Việt Nam, cá nhân, tổ chức kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài cư trú và hoạt động tại Việt Nam liên quan đến DQTV

- Nghị định quy định cụ thể về quyết định công dân thực hiện nghĩa vụ tham gia DQTV; quyết định công dân hoàn thành nghĩa vụ tham gia DQTV; giấy phép sử dụng vũ khí, công cụ hỗ trợ của DQTV; điều kiện tổ chức tự vệ trong doanh nghiệp; trình tự, thủ tục thành lập đơn vị tự vệ trong doanh nghiệp; thẩm quyền thành lập, giải thể đơn vị tự vệ trong doanh nghiệp; điều kiện thành lập BCH quân sự cơ quan, tổ chức ở cơ sở, xã, phường, thị trấn trọng điểm về quốc phòng, an ninh; số lượng Chỉ huy phó BCH quân sự cấp xã; nhiệm vụ, quyền hạn của BCH quân sự Bộ, ngành Trung ương; cơ chế hoạt động của BCH quân sự Bộ, ngành Trung ương; phân cấp quản lý Ban chỉ huy quân sự cơ quan, tổ chức ở cơ sở, đơn vị dân quân tự vệ; con dấu của BCH quân sự, trang phục, sao mũ, phù hiệu của dân quân tự vệ; tiêu chuẩn, định mức trang thiết bị ngi làm việc của Ban chỉ huy quân sự cấp xã; phụ cấp trách nhiệm quản lý, chỉ huy đơn vị; chế độ phụ cấp, bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, tiền ăn, công tác phí, trợ cấp của Chỉ huy phó Ban chỉ huy quân sự cấp xã; phụ cấp của Thôn đội trưởng; hỗ trợ phương tiện, chi phí đi lại cho dân quân tự vệ; chế độ phụ cấp thâm niên, phụ cấp đặc thủ quốc phòng, quân

sự, chế độ, chính sách đổi với dân quân tự vệ làm nhiệm vụ tham gia bảo vệ chủ quyền, quyền chủ quyền biển, đảo; chế độ, chính sách đối với dân quân chưa tham gia bảo hiểm y tế, bảo hiểm xã hội khi thực hiện nhiệm vụ bị ốm,

bị chết; chế độ, chính sách đối với dân quân chưa tham gia bảo hiểm y tế, bảo hiểm xã hội khi thực hiện nhiệm vụ bị tai nạn, bị chết; chế độ, chính sách đối với dân quân tự vệ bị chết, hy sinh, bị thương, chế độ bảo, tạp chí, nguồn kinh phí chi cho dân quân tự vệ; hiệu lực và trách nhiệm thi hành

- Theo Nghị định, mức phụ cấp trách nhiệm quản lý, chỉ huy đơn vị dân

Trang 21

quân tự vệ được tính và chi trả theo tháng, bằng mức lương cơ sở nhân với hệ

số quy định cụ thể: Tiểu đội trưởng, Khẩu đội trưởng: 0,10; Trung đội trưởng, Thôn đội trưởng: 0,12; Đại đội phó, Chính trị viên phó đại đội, Hải đội phỏ, Chính trị viên phó hải đội: (0,15; Đại đội trưởng, Chính trị viên đại đội, Hải đội trưởng, Chính trị viên hải đội, Trung đội trưởng dân quân cơ động: 0,20; Tiểu đoàn phó, Chính trị viên phó tiểu đoàn, Hải đoàn phó, Chính trị viên phó hài đoàn: 0,21; Tiểu đoàn trưởng, Chính trị viên tiểu đoàn, Hải đoàn trưởng, Chính trị viên hải đoàn, Chỉ huy phó, chính trị viên phó Ban chỉ huy quân sự cấp xã, Chỉ huy phó, Chính trị viên phó BCH quân sự Cơ quan, tổ chức cơ sở: 0,22; Chỉ huy trưởng, Chính trị viên BCH quân sự cấp xã, Chỉ huy trưởng, Chính trị viên BCH quân sự cơ quan, tổ chức ở cơ sở, Chỉ huy phó, Chính trị viên phó BCH quân sự Bộ, ngành Trung ương: 0,24; Chỉ huy trưởng, Chính trị viên BCH quân sự Bộ, ngành Trung Lương: 0,25 Thời gian được hưởng phụ cấp trách nhiệm tính từ ngày có quyết định bổ nhiệm và thực hiện cho đến khi có quyết định thôi giữ chức vụ đó; trường hợp giữ chức vụ từ 15 ngày trở lên trong tháng thì được hưởng phụ cấp cả tháng, giữ chức vụ dưới 15 ngày trong tháng thì được hưởng 50% phụ cấp trách nhiệm của tháng đó

- Nghị định cũng quy định chế độ phụ cấp, bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y

tế, tiền ăn, công tác phí, trợ cấp của Chỉ huy phó Ban chỉ huy quân sự cấp xã; phụ cấp của Thôn đội trưởng; hỗ trợ phương tiện, chi phí đi lại cho dân quân

tự vệ; chế độ phụ cấp thâm niên; chế độ phụ cấp đặc thủ quốc phòng, quân sự; chế độ, chính sách đối với dân quân tự vệ làm nhiệm vụ tham gia bảo vệ chủ quyền, quyền chủ quyền biển, đảo

- Nghị định nêu rõ, dân quân tự vệ trong thời gian làm nhiệm vụ tham gia bảo vệ chủ quyền, quyền chủ quyền biển, đảo của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam theo quyết định điều động của cấp có thẩm quyền được hưởng các chế độ, chính sách Cụ thể, đối với dân quân được trợ cấp ngày

Trang 22

công lao động, mức trợ cấp bằng hệ số 0,25 mức lương cơ sở, được hưởng tiêu chuẩn tiền ăn mỗi người mỗi ngày bằng 0,1 mức lương cơ sở Đối với thuyền trưởng, máy trưởng được trợ cấp thêm một khoản phụ cấp trách nhiệm mỗi người mỗi ngày bằng 0,08 mức lương cơ sở Đối với tự vệ được trả nguyên lương, các khoản phụ cấp hiện hưởng, phúc lợi theo chế độ hiện hành

và được hưởng thêm 50% lượng ngạch bậc tỉnh theo ngày thực tế huy động;

được hưởng tiêu chuẩn tiền ăn mỗi người mỗi ngày bằng 0,1 mức lương cơ

sở; nếu mức thực tế thấp hơn quy định trên thi được áp dụng chính sách như đối với dân quân

Bên cạnh đó, Nghị định cũng quy định cán bộ chiến sĩ dân quân tự vệ nếu bị chết, hy sinh, bị thương trong khi làm nhiệm vụ được xem xét, xác nhận là liệt sĩ, thương binh, người hưởng chính sách như thương binh theo quy định tại Pháp lệnh ưu đãi người có công với cách mạng

1.3.2 Chủ thể thực hiện pháp luật về Dân quân tự vệ

Theo quy định tại Điều 2 Luật DQTV năm 2009, chủ thể thực hiện pháp luật về DQTV bao gồm:

1 Công dân Việt Nam;

2 Cơ quan, tổ chức của Việt Nam;

3 Tổ chức, cá nhân nước ngoài cư trú và hoạt động trên lãnh thổ Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam có liên quan đến tổ chức và hoạt động của dân quân tự vệ [6, Khoản 2]

Bởi trong phạm vi nghiên cứu của luận văn này nên sẽ tập trung đi sâu hơn về một chủ thể là cơ quan hành chính nhà nước, đó là UBND phường

1.3.2.1 Vị trí của UBND phường trong bộ máy hành chính nhà nước

Vị trí, tính chất pháp lý của UBND phường được Điều 8 của Luật Tổ chức Chính quyền địa phương năm 2015 qui định Ủy ban nhân dân do Hội

Trang 23

đồng nhân dân cùng cấp bầu, là cơ quan chấp hành của Hội đồng nhân dân, cơ quan hành chính nhà nước ở địa phương, chịu trách nhiệm trước Nhân dân địa phương, Hội đồng nhân dân cùng cấp và cơ quan hành chính nhà nước cấp trên Có vai trò cơ bản: thực hiện các chủ trương, đường lối, chính sách, luật pháp của nhà nước để đi vào cuộc sống phải thông qua hoạt động của chính quyền phường, phải được thực hiện ở phường thành phong trào hành động nhân dân, thông qua những sáng kiến và nổ lực của nhân dân [ 9, Điều 8] UBND phường do HĐND phường bầu gồm có Chủ tịch, Phó Chủ tịch

và các Ủy viên, số lượng cụ thể Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân các cấp do Chính phủ quy định Giúp việc cho UBND phường còn có các bộ phận là cơ quan tham mưu cho UBND trong việc thực hiện nhiệm vụ quản lý của mình đồng thời chịu sự chỉ đạo của cơ quan chuyên môn nghiệp vụ cấp trên

Để thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn trong lĩnh vực xây dựng lực lượng DQTV ở địa phương UBND phường có Ban chỉ huy quân sự gồm Chỉ huy trưởng là thành viên Ủy ban nhân dân; Chỉ huy phó; Chính trị viên, Chính trị viên phó là cán bộ khiêm nhiệm

So với tính chất của các cơ quan chuyên môn thuộc UBND, Ban chỉ huy quân sự phường cũng thực hiện phần nhiệm vụ, quyền hạn như các cơ quan chuyên môn thuộc UBND, giúp Chủ tịch UBND tổ chức thực hiện công tác quốc phòng, nhưng dồng thời còn thực hiện niệm vụ chỉ huy các lực lượng vũ trang địa phương (Quân nhân dự bị, DQTV) trong việc tổ chức, xây dựng và thực hiện nhiệm vụ huấn luyện, sẵn sàng chiến đấu theo chỉ thị, mệnh lệnh của Chỉ huy trưởng Ban chỉ huy quân sự Quận, trên cơ sở quyết định, kế hoạch UBND cùng cấp giao

Trang 24

1.3.2.2.Vai trò của UBND phường trong việc thực hiện pháp luật về DQTV

Vai trò của UBND phường trong việc thực hiện pháp luật về DQTV là tác dụng, chức năng của UBND phường trong việc ra các quyết định hành chính và thực hiện các hoạt động tổ chức thực tiễn về quốc phòng

Hiện nay chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của chính quyền phường được điều chỉnh chủ yếu trong Chương IX Hiến pháp 2013 và Luật Tổ chức chính quyền địa phương năm 2015

Trong lĩnh vực quốc phòng, an ninh, trật tự, an toàn xã hội và thi hành pháp luật ở địa phương UBND phường thực hiện những nhiệm vụ và quyền hạn: tổ chức tuyên truyền, giáo dục xây dựng quốc phòng toàn dân, xây dựng làng xã chiến đấu trong khu vực phòng thủ địa phương; thực hiện công tác nghĩa vụ quân sự và tuyển quân theo kế hoạch; đăng ký, quản lý quân nhân

dự bị động viên; tổ chức thực hiện việc xây dựng, huấn luyện, sử dụng lực lượng dân quân tự vệ ở địa phương; thực hiện các biện pháp bảo đảm an ninh, trật tự, an toàn xã hội; xây dựng phong trào quần chúng bảo về an ninh Tổ quốc vững mạnh; thực hiện biện pháp phòng ngừa và chống tội phạm, các tệ nạn xã hội và các hành vi vi phạm pháp luật khác ở địa phương; quản lý hộ khẩu; tổ chức việc đăng ký tạm trú, quản lý việc đi lại của người nước ngoài ở địa phương

1.3.3 Hình thức thực hiện pháp luật về Dân quân tự vệ

Có 04 hình thức để thực hiện pháp luật về DQTV như sau:

1, Tuân thủ pháp luật về DQTV: Là hình thức thực hiện pháp luật về dân

quân tự vệ trong đó các chủ thể kiềm chế, giữ mình để không thực hiện những hành vi mà pháp luật cấm Ví dụ: chủ thể trốn không tham gia lực lượng dân quân tự vệ ở cơ quan tổ chức khi có yêu cầu Đây là hình thức thực hiện các quy phạm pháp luật cấm đoán trong thực tế và là hình thức thực hiện pháp

Trang 25

luật bằng không hành động

2, Thi hành (chấp hành) pháp luật về DQTV: Là hình thức thực hiện

pháp luật trong đó các chủ thể thực hiện các nghĩa vụ pháp lý của mình một cách chủ động bằng hành động tích cực Ví dụ như, các thanh niên trong độ tuổi thực hiện nghĩa vụ tham gia lực lượng tự vệ cơ quan hàng năm Đây là hình thức thực hiện các quy phạm pháp luật bắt buộc trong thực tế và là hình thức thực hiện pháp luật bằng hành động

3, Sử dụng (vận dụng) pháp luật về DQTV: Là hình thức thực hiện pháp

luật trong đó các chủ thể thực hiện quyền chủ thể của mình, tức là thực hiện những hành vị mà pháp luật cho phép Đây là hình thức thực hiện các quy phạm cho phép, vì vậy, chủ thể có thể thực hiện hoặc không thực hiện quyền của mình,

4, Áp dụng pháp luật về DQTV: Là hình thức thực hiện pháp luật trong

đó nhà nước (thông qua các cơ quan, tổ chức hoặc cá nhân có thẩm quyền) tổ chức cho các chủ thể khác thực hiện các quy định của pháp luật Như vậy, áp dụng pháp luật là hình thức thực hiện pháp luật có sự can thiệp của nhà nước hay là hình thức thực hiện pháp luật của các cơ quan, tổ chức và nhân viên nhà nước Trong 04 hình thức thực hiện pháp luật chỉ có hình thức này là luôn

có sự hiện diện của nhà nước thông qua các chủ thể có thẩm quyền theo quy định của pháp luật

1.4 Các yếu tố ảnh hưởng đến thực hiện pháp luật về dân quân tự

vệ

Đầu tiên, đó là sự lãnh đạo của cấp ủy Đảng, sự chỉ đạo của cấp trên

Đảng là hạt nhân lãnh đạo hệ thống chính trị ở nước ta, có nhiệm vụ lãnh đạo mọi hoạt động của nhà nước và xã hội, tập trung mọi nổ lực của toàn dân

Trang 26

xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Cho nên, sự lãnh đạo của cấp ủy Đảng, sự chỉ đạo của cấp trên tác động rất lớn đến vai trò của UBND phường trong việc thực hiện pháp luật về DQTV Dân quân tự vệ là lực lượng vũ trang ở địa phương, do các đảng bộ địa phương trực tiếp lãnh đạo về mọi mặt Nó là công

cụ chủ yếu đề thực hiện nhiệm vụ chuyên chính của giai cấp vô sản ở địa phương, có trách nhiệm rất vẻ vang và nặng nề, là lực lượng nòng cốt của toàn dân trong chiến đấu và sản xuất ở cơ sở, là lực lượng hậu bị hùng hậu của bộ đội thường trực Để dân quân tự vệ có thể hoàn thành vai trò và nhiệm

vụ ngày càng nặng nề của mình trong sự nghiệp xây dựng và phát triển đất nước hiện nay, việc tăng cường sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp và toàn diện của các cấp ủy và chi ủy đảng là vấn đề mấu chốt, quyết định nhất Đó cũng là nguyên tắc cơ bản trong việc xây dựng và chiến đấu của dân quân tự vệ Đồng thời nhờ lãnh đạo chặt chẽ và phát huy tác dụng của dân quân tự vệ, đảng bộ địa phương có thể hoàn thành tốt nhiệm vụ sản xuất đi đôi với nhiệm vụ chiến đấu

Thứ hai là, sự hoàn thiện của pháp luật DQTV trong vai trò của UBND phường về lĩnh vực DQTV

Trong lĩnh vực xây dựng lực lượng DQTV cũng như các lĩnh vực khác, yêu cầu pháp luật phải hoàn thiện và hoàn thiện như thế nào ? Cho nên sự hoàn thiện của pháp luật về xây dựng luật DQTV trong đó vai trò của UBND phường trong lĩnh vực DQTV của địa phương, ảnh hưởng rất lớn đến hiệu quả hoạt động của UBND phường trong việc thực hiện pháp luật về quốc phòng Sự hoàn thiện của pháp luật ở đây chính là tính khoa học, tính đồng bộ

và tính pháp lý cao

Thứ ba là, đó là nhận thức và tính tích cực của cán bộ, công chức Uỷ ban nhân dân phường trong việc thực hiện vai trò của mình trong thực hiện Luật DQTV

Trang 27

Có thể nói, nhận thức thiếu sâu sắc về vai trò, giá trị trong thực hiện Luật DQTV của cán bộ, công chức là lực cản lớn nhất đối với UBND phường trong việc thực hiện pháp luật về DQTV Vì vậy, chúng ta cần tăng cường cán

bộ cho các cơ quan tỉnh đội, huyện đội, là những cán bộ của quân đội thường trực cho các cấp ủy địa phương lãnh đạo về chính trị và tư tưởng, đồng thời làm tốt công tác bồi dưỡng, rèn luyện cán bộ dân quân tự vệ ở cơ sở Thực tế

ở nhiều nơi đã chứng minh, chỗ nào đội ngũ cán bộ cơ sở vững vàng, lãnh đạo và chỉ huy giỏi, quan tâm đời sống của dân quân tự vệ, được anh em và nhân dân địa phương yêu mến, tín nhiệm thì dân quân tự vệ chỗ ấy tin tưởng, phấn khởi đoàn kết, chiến đấu sản xuất và công tác tốt Phải kiện toàn, bồi dưỡng cán bộ về mọi mặt, tích cực xây dựng một đội ngũ cán bộ cơ sở có số lượng đầy đủ và có chất lượng vững chắc, theo đúng đường lối giai cấp của Đảng Hướng lựa chọn vào những dân quân tự vệ thuộc thành phần cơ bản đã được thử thách trong chiến đấu và công tác, cần chú trọng đưa phụ nữ và thanh niên mới lớn lên vào làm cán bộ lãnh đạo, chỉ huy dân quân tự vệ ở cơ

sở Công tác bồi dưỡng cán bộ chủ yếu là bồi dưỡng cán bộ về chính trị và tư tưởng, làm cho anh chị em có lập trường giai cấp kiên định, có nhiệt tình cách mạng sôi nổi, có ý chí chiến đấu cao, nẵm vững đường lối nhiệm vụ chính trị, đường lối quân sự, chủ trương chính sách và quan điểm chiến tranh nhân dân, các nguyên tắc chỉ đạo tác chiến du kích, chiến thuật, kỹ thuật chiến đấu du kích, cách lãnh đạo, chỉ huy và nghiệp vụ công tác chính trị, công tác quân sự đối với dân quân tự vệ Cần thực hiện chuyên môn hóa đến mức độ nhất định, bảo đảm không thay đổi luôn và cán bộ không kiêm nhiệm nhiều việc Cần thiết thực quan tâm đến đời sống tinh thần và vật chất của cán bộ, giúp đỡ anh

em giải quyết những khó khăn về tư tưởng, công tác và đời sống, nhất là trong những trường hợp khó khăn trong chiến đấu ác liệt

Trang 28

Nhận thức tư tưởng của dân quân tự vệ thường có quan hệ rất mật thiết với nhận thức tư tưởng của cán bộ, đảng viên và nhân dân địa phương, cán

bộ, đảng viên có thông suốt thì dân quân tự vệ mới thực sự thông suốt; nhân dân có nhận rõ và đồng tình thì công tác giáo dục dân quân tự vệ mới thuận lợi Cho nên cùng với việc giáo dục chính trị, tư tưởng cho dân quân tự vệ, phải chú trọng giáo dục cho cán bộ, đảng viên và nhân dân về đường lối, nhiệm vụ quân sự, vấn đề quốc phòng toàn dân đánh giặc, toàn dân xây dựng lực lượng vũ trang Tăng cường công tác giáo dục chính trị, lãnh đạo tư tưởng

là vấn đề quan trọng nhất để tăng cường sự lãnh đạo của các cấp ủy và chi ủy đảng đối với dân quân tự vệ, là then chốt quyết định thắng lợi của dân quân tự

vệ, trên mọi mặt chiến đấu và sản xuất Bất kỳ ở đâu và lúc nào nếu xem thường và làm không tốt công tác tư tưởng là làm yếu sự lãnh đạo của Đảng

Thứ tư là, ngân sách và điều kiện vật chất cho thực hiện vai trò của UBND phường trong việc thực hiện pháp luật về DQTV

Công tác bảo đảm ngân sách cho hoạt động của lực lượng DQTV có ảnh hưởng rất quan trọng đến xây dựng nền quốc phòng quốc dân, đến xây dựng khu vực phòng thủ địa phương Vì vậy, để xây dựng nền quốc phòng toàn dân vững mạnh, xây dựng khu vực phòng thủ vững chắc, các địa phương cần thực hiện tốt nhiệm vụ xây dựng lực lượng, bảo đảm hậu cần tại chỗ, bảo đảm sách chi cho công tác quốc phòng địa phương

Tiểu kết chương 1

DQTV là lực lượng nòng cốt trong xây dựng nền quốc phòng toàn dân và phong trào chiến tranh nhân dân bảo vệ Tổ quốc cũng như trong thời bình tại địa phương Ở bối cảnh tình hình hiện nay, bên cạnh sự nghiệp phát triển kinh tế xã hội, đất nước chúng ta luôn phải đối mặt với chiến lược “diễn biến hoà bình”, các hoạt động kích động, gây bạo loạn lật đổ, vì thế toàn Đảng toàn dân luôn đề cao sẵn sàng chiến đấu chống

Trang 29

mọi tình huống chống phá Đảng và Nhà nước, chiến tranh xâm lược của các thế lực thù địch Trong đó nổi bật là vai trò ngày càng được coi trọng của lực lượng DQTV

Thực hiện pháp luật về dân quân tự vệ là nhiệm vụ của toàn Đảng, toàn dân, trong đó lực lượng Dân quân tự vệ đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, sự thống lĩnh của Chủ tịch nước, sự quản lý, điều hành của Chính phủ mà trực tiếp là sự lãnh đạo, chỉ đạo của cấp ủy Đảng, chính quyền địa phương các cấp DQTV các cấp nói chung và trực tiếp là DQTV phường luôn phải đề cao công tác thực hiện và đảm bảo thực hiện các nhiệm vụ đối với lực lượng DQTV, được quy định tại các văn bản pháp luật về DQTV Theo đó, vai trò của UBND phường và Ban chỉ huy quân sự phường là chủ chốt trong tổ chức thực hiện nhiệm vụ chỉ huy các lực lượng vũ trang địa phương (quân nhân dự bị, DQTV) trong việc tổ chức, xây dựng và thực hiện nhiệm vụ huấn luyện, sẵn sàng chiến đấu theo chỉ thị, mệnh lệnh của Chỉ huy trưởng Ban chỉ huy quân sự quận, trên cơ sở quyết định, kế hoạch UBND cùng cấp giao

Trang 30

CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG THỰC HIỆN PHÁP LUẬT VỀ DÂN QUÂN TỰ VỆ CỦA UỶ BAN NHÂN DÂN PHƯỜNG Ở THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG

2.1 Thực trạng quy định pháp luật về Dân quân tự vệ của Uỷ ban nhân dân phường

Thực hiện pháp luật DQTV là một lĩnh vực xã hội rộng lớn, đa dạng, có liên quan đến mọi cấp, mọi ngành, mọi tổ chức chính trị xã hội và mọi tầng lớp nhân dân, có quan hệ sức mạnh phòng thủ của cả quốc gia, quyết định sự sinh tồn, an ninh ổn định, và pháp triển của đất nước Quốc hội, Chính phủ đã ban hành các văn bản quy pháp luật: Hiến pháp 2013, Luật tổ chức chính quyền địa phương năm 2015; Luật Nghĩa vụ quân sự sửa đổi, bổ sung một số điều năm 2005; Luật Quốc phòng năm 2005; Luật dân quân tự về năm 2009; Pháp lệnh về lực lượng dự bị động viên 1997; Pháp lệnh bảo vệ công trình quốc phòng, Khu quân sự năm 1994;… qui định rõ chức năng, nhiệm vụ của UBND các cấp trong lĩnh vực quốc phòng, làm cơ sở cho chính quyền điều hành có tổ chức các hoạt động xã hội có quan hệ đến việc giữ gìn ổn định chính trị, trật tự an toàn xã hội, bảo vệ độc lập, chủ quyền toàn vẹn lãnh thổ

và an ninh quốc gia

Cơ cấu chuyên môn thuộc UBND phường làm nhiệm vụ tham mưu, giúp UBND phường thực hiện chức năng quản lý nhà nước ở địa phương và thực hiện một số nhiệm vụ, quyền hạn của UBND phường trong lĩnh vực quốc phòng nói chung và DQTV nói riêng đó là Ban chỉ huy quân sự phường Theo Khoản 2 Điều 21 Luật DQTV năm 2009 thì Ban chỉ huy quân sự cấp xã

có chức năng và nhiệm vụ sau đây:

Một là, tham mưu cho cấp ủy Đảng, Ủy ban nhân dân cấp xã lãnh đạo, chỉ đạo, điều hành thực hiện nhiệm vụ quốc phòng, quân sự ở cơ sở; đăng ký, quản lý công dân trong độ tuổi thực hiện nghĩa vụ tham gia dân quân tự vệ,

Trang 31

công dân nam trong độ tuổi sẵn sàng nhập ngũ; tuyển chọn công dân nhập ngũ, quản lý lực lượng dự bị động viên theo quy định của pháp luật;

Hai là, xây dựng và tổ chức thực hiện kế hoạch về công tác quốc phòng, quân sự ở cơ sở; kế hoạch tổ chức lực lượng, huấn luyện và hoạt động của dân quân; kế hoạch xây dựng làng, xã chiến đấu; kế hoạch phòng thủ dân sự

và tham gia xây dựng kế hoạch khác có liên quan đến nhiệm vụ quốc phòng,

an ninh ở cơ sở;

Ba là, chủ trì, phối hợp với ban, ngành, đoàn thể tổ chức thực hiện công tác quốc phòng, quân sự theo sự lãnh đạo, chỉ đạo của cấp ủy Đảng, Ủy ban nhân dân cùng cấp và chỉ thị, mệnh lệnh, kế hoạch, hướng dẫn của cơ quan quân sự cấp trên;

Bốn là, phối hợp với ban, ngành, đoàn thể tuyên truyền, giáo dục quốc phòng, an ninh cho lực lượng vũ trang và nhân dân; tổ chức lực lượng dân quân, dự bị động viên tham gia xây dựng cơ sở vững mạnh toàn diện, thực hiện chính sách hậu phương quân đội;

Năm là, tổ chức huấn luyện, giáo dục chính trị, pháp luật cho dân quân; chỉ huy dân quân thực hiện nhiệm vụ quy định tại Điều 8 của Luật này;

Sáu là, tổ chức đăng ký, quản lý, bảo quản và sử dụng vũ khí, trang bị của các đơn vị dân quân thuộc quyền theo quy định của pháp luật;

Bảy là, tổ chức thực hiện kế hoạch bảo đảm hậu cần, kỹ thuật tại chỗ đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ quốc phòng, quân sự địa phương;

Tám là, giúp Ủy ban nhân dân cấp xã kiểm tra, sơ kết, tổng kết công tác quốc phòng, quân sự địa phương, công tác tổ chức và hoạt động của dân quân thuộc quyền [6, Điều 21, Khoản 2]

Theo Luật tổ chức chính quyền địa phương năm 2015 quy định chức năng nhiệm vụ của UBND phường về quốc phòng là:

Trang 32

- Nhiệm vụ thứ nhất là tuyên truyền giáo dục xây dựng quốc phòng toàn dân ở địa phương Giáo dục quốc phòng địa phương là một hình thức hoạt động xã hội có tác động trực tiếp đến trách nhiệm chính trị, trình độ tri thức và thể lực của mọi công dân Giáo dục quốc phòng toàn dân là một bộ phận của nền giáo dục quốc gia, có vị trí đặc biệt quan trọng, là điều kiện cơ bản của sự nghiệp quốc phòng ở địa phương và đối với sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa Muốn làm tốt công tác giáo dục quốc phòng ở địa phương phải có sự chỉ đạo, quản lý chặt chẽ để triển khai đồng bộ, có nội dung, chương trình phù hợp với từng đối tượng cho tất cả các cấp, các ngành Nghị định số 116/3007/NĐ-CP đã xác định vai trò, trách nhiệm của chính quyền các cấp, sự phối hợp hoạt động của các ban ngành, đoàn thể, thực hiện cơ chế Đảng lãnh đạo, chính quyền điều hành, cơ quan quân sự làm tham mưu đối với công tác giáo dục quốc phòng Để đạt được yêu cầu về giáo dục quốc phòng, vấn đề thiết thực cấp bách là phải tiến hành bồi dưỡng kiến thức quốc phòng cho cán bộ lãnh đạo, chỉ đạo ở các cấp Đó

là cơ sở để tổ chức thực hiện có hiệu quả công tác quốc phòng ở địa phương

- Nhiện vụ thứ hai, xây dựng khu vực phòng thủ địa phương vững chắc Trong hai cuộc kháng chiến giải phóng dân tộc, thế trận làng xã chiến đấu, chiến tranh nhân dân ở các huyện, tỉnh đã phát huy sức mạnh của nhân dân, lực lượng vũ trang địa phương đánh địch rộng khắp Sau khi nước nhà thống nhất, phát huy truyền thống và kinh nghiệm “xây dựng tỉnh là đơn vị chiến lược của chiến tranh nhân dân, xây dựng huyện là pháp đài quân sự” Nghị quyết số 28-NQ/TW ngày 22/9/2008 của Bộ Chính trị đã giao nhiệm vụ xây dựng tỉnh, thành phố thành khu vực phòng thủ vững chắc theo kế hoạch thống nhất của từng Quân khu và trong cả nước Xây dựng tỉnh, thành phố thành khu vực phòng thủ vững chắc là xây dựng “một tổ chức quốc phòng – an ninh địa phương theo địa bàn hành chính, là bộ phận hợp thành và là nền tảng của

Trang 33

thế trận phòng thủ toàn dân gắn với thế trận an ninh nhân dân của cả nước; được xây dựng vững mạnh về mọi mặt theo kế hoạch chung thống nhất, nhằm phát huy sức mạnh tổng hợp tại chỗ độc lập tự lực ngăn ngừa và đối phó với mọi tình huống của thời bình và thời chiến bảo vệ địa phương và cũng với các địa phương khác bảo vệ vững chắc Tổ quốc XHCN

- Nhiệm vụ thứ ba, thực hiện công tác NVQS và tuyển quân theo kế hoạch

- Nhiệm vụ thứ tư là quản lý quân nhân dự bị động viện

- Nhiệm vụ thứ năm là tổ chức thực hiện việc xây dựng, huấn luyện, sử dụng lực lượngDQTV Theo Điều 3 Luật DQTV năm 2009, Dân quân tự vệ là lực lượng vũ trang quần chúng không thoát ly sản xuất, công tác; là thành phần của lực lượng vũ trang nhân dân nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam; là lực lượng bảo vệ Đảng, bảo vệ chính quyền, bảo vệ tính mạng, tài sản của nhân dân, tài sản của Nhà nước, làm nòng cốt cùng toàn dân đánh giặc ở địa phương, cơ sở khi có chiến tranh; Được tổ chức ở khắp các xã, phường, thị trấn, cơ quan nhà nước, đơn vị hành chính, các doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế theo quy định của Chính phủ

DQTV có các nhiệm vụ: 1 Sẵn sàng chiến đấu, chiến đấu và phục vụ chiến đấu để bảo vệ địa phương, cơ sở; phối hợp với các đơn vị bộ đội biên phòng, hải quân, cảnh sát biển và lực lượng khác bảo vệ chủ quyền, an ninh biên giới quốc gia và chủ quyền, quyền chủ quyền trên các vùng biển Việt Nam; 2 Phối hợp với các đơn vị Quân đội nhân dân, Công an nhân dân và lực lượng khác trên địa bàn tham gia xây dựng nền quốc phòng toàn dân, khu vực phòng thủ; giữ gìn an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội, bảo vệ Đảng, chính quyền, bảo vệ tính mạng, tài sản của nhân dân, tài sản của Nhà nước; 3 Thực hiện nhiệm vụ phòng, chống, khắc phục hậu quả thiên tai, dịch bệnh, tìm kiếm, cứu nạn, bảo vệ và phòng, chống cháy rừng, bảo vệ môi trường và

Trang 34

nhiệm vụ phòng thủ dân sự khác; 4 Tuyên truyền, vận động nhân dân thực hiện chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước về quốc phòng, an ninh; tham gia xây dựng cơ sở vững mạnh toàn diện, xây dựng và phát triển kinh tế - xã hội tại địa phương, cơ sở; 5 Học tập chính trị, pháp luật, huấn luyện quân sự và diễn tập Ngoài ra còn thưc hiện các nhiệm

vụ khác theo quy định của pháp luật

2.2 Điều kiện kinh tế, xã hội và tổ chức DQTV phường ở thành phố

Đà Nẵng

2.2.1 Các điều kiện kinh tế, xã hội của thành phố Đà Nẵng

Đà Nẵng là thành phố trực thuộc Trung ương của Việt Nam được xếp vào đô thị loại 1, thỏa mãn các tiêu chí như tỷ lệ lao động phi nông nghiệp khu vực nội thành tối thiểu dạt 85% so với tổng lao động, cơ sở hạ tầng được đầu tư xây dựng đồng bộ và cơ bản hoàn chỉnh, Thành phố Đà Nẵng có những đặc điểm sau:

Thành phố có diện tích tự nhiên là 1.283.42 km2, trong đó, các quận nội thành chiếm diện tích 241,51 km2, các huyện ngoại thành chiếm diện tích 1.041.91 km2 Nằm ở vào khoảng trung tâm theo chiều dài đất nước, trên trục giao thông Bắc – Nam về đường bộ, đường sắt, đường biển và đường hàng không…

Các đơn vị hành chính của Thành phố Đà Nẵng bao gồm 06 quận, 2 huyện (trong đó gồm có huyện Hoàng Sa) với 45 phường, 11 xã, 2250 thôn và

tổ dân phố Tính đến năm 2013, dân số toàn thành phố đạt gần 951.000 người, năm 2009 TPĐN thực hiện Nghị quyết số 725/2009/UBTVQH12 ngày 16-01-

2009 của ủy ban phường vụ Quốc Hội về điều chỉnh nhiệm vụ, trật tự an toàn

XH và thi hành pháp luật tại địa phương thì UBND phường vẫn thực hiện theo điều 115 Luật tổ chức HĐND và UBND năm 2003 ( Điều 8, NQ 725 )

Trang 35

Từ năm 2005 đến nay, tình hình kinh tế-xã hội của thành phố có bước phát triển tương đối toàn diện, đạt tốc độ tăng trưởng khá, hiệu quả và sức cạnh tranh được nâng lên một bước Tốc độ tăng GDP của thành phố liên tục trong nhiều năm đạt bình quân 11%/năm

Trong các năm qua, thành phố đã xây dựng và triển khai có hiểu quả nhiều chương trình, chính sách như chương trình “Thành phố 5 không”,

“Thành phố 3 có”, phối hợp giúp đỡ gia đình đặc biệt nghèo, học sinh bỏ học… theo Chỉ thị số 24-CT/TU ngày 10/8/2009 của Thành ủy; Qua đó góp phần cải thiện và nâng cao đời sống của các đối tượng chính sách, đối tượng

xã hội và các tầng lớp nhân dân thành phố Số hộ nghèo của thành phố liên tục giảm qua các năm, tính đến cuối năm 2018, không còn hộ nghèo theo chuẩn mới của thành phố Sự nghiệp văn hóa – xã hội, giáo dục và đào tạo, khoa học và công nghệ, chăm sóc sức khỏe nhân dân tiếp tục phát triển; trình

độ dân trí của nhân dân thành phố từng bước được nâng cao

2.2.2 Tổ chức Dân quân tự vệ phường tại Thành phố Đà Nẵng

Cơ quan chỉ huy quân sự thành phố Đà Nẵng nói chung và Ban chỉ huy Quân sự phường nói riêng luôn vận dụng chính xác, đúng về lý, hợp về tình các chủ trương chính sách của Đảng, Nhà nước, quy định của pháp luật vào trong công tác tổ chức hoạt động lực lượng DQTV tại địa phương Đặc trưng nhất là nguyên tắc tổ chức và hoạt động của DQTV quy định tại Điều 6 Luật DQTV năm 2009:

“1 Dân quân tự vệ đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam,

sự thống lĩnh của Chủ tịch nước, sự quản lý, điều hành của Chính phủ mà trực tiếp là sự lãnh đạo, chỉ đạo của cấp ủy Đảng, chính quyền địa phương các cấp; sự chỉ huy thống nhất của Bộ trưởng Bộ Quốc phòng và sự chỉ huy trực tiếp của chỉ huy trưởng cơ quan quân sự địa phương

Trang 36

2 Tổ chức và hoạt động của dân quân tự vệ phải tuân thủ Hiến pháp và pháp luật; dựa vào dân, phát huy sức mạnh tổng hợp của toàn dân và hệ thống chính trị để thực hiện nhiệm vụ

3 Tổ chức, biên chế của dân quân tự vệ phải căn cứ vào yêu cầu nhiệm

vụ quốc phòng, an ninh, gắn với địa bàn và nhiệm vụ của đơn vị sản xuất, công tác; bảo đảm thuận tiện cho chỉ đạo, quản lý, chỉ huy và phù hợp với điều kiện kinh tế - xã hội của từng địa phương.”

2.3 Thực tiễn thực hiện pháp luật về Dân quân tự vệ của Ủy ban nhân dân phường ở Thành phố Đà Nẵng

2.3.1 Các văn bản pháp luật của thành phố Đà Nẵng liên quan đến việc thực hiện pháp luật về dân quân tự vệ của UBND phường

UBND thành phố Đà Nẵng đã ban hành quyết định số 839/QĐ-UBND ngày 27/01/2006 về việc thành lập Ban chỉ đạo công tác phòng không nhân dân TPĐN, Quyết định số 6194/QĐ-UBND ngày 11/9/2006 về ban hành kế hoạch triển khai thực hiện nhiệm vụ công tác phòng không nhân dân từ năm

2006 – 2010 Ban chỉ đạo phòng không nhân dân thành phố có quyết định số 4619/BCĐ ngày 10/7/2006 về ban hành quy chế hoạt động

Tháng 9/2008 sau khi có nghị quyết 28-NQ/TW của Bộ chính trị “về tiếp tục xây dựng tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương thành khu vực phòng thủ vững chắc trong tình hình mới” Thành ủy đã ban hành chương trình hành động số 35-Ctr/TU về thực hiện nghị quyết số 28-NQ/TV; UBND TP ban hành kế hoạch số 57/KH-UBND về tiếp tục XD TP thành khu vực phòng thủ vững chắc trong tình hình mới và ngày 13/3/2012 UBND TP tiếp tục ban hành kế hoách số 513/KHQH-QS về quy hoạch thế trận quân sự trong khu vực phòng thủ của TPĐN

Ban hành quyết định số 8091/QĐ-UBND về ban hành đề án tổ chức XD hoạt động của LLDQTV phòng không DQ cơ động TP giai đoạn 2008-2012;

Trang 37

Quyết định số 17/QĐ-UBND ngày 04/6/2014 về việc qui định chế độ chính sách đối với LLDQTV trên địa bàn TP và quyết định số 6805/QĐ-UBND ngàu 21/8/2012 về việc ban hành kế hoạch công tác giáo dục QP – an ninh giai đoạn 2012-2016 trên địa bàn TPĐN

2.3.2 Tổ chức bộ máy thực hiện pháp luật về Dân quân tự vệ của

UBND phường ở Thành phố Đà Nẵng

Chủ tịch UBND Thành phố có trách nhiệm chỉ đạo cơ quan quân sự cấp mình thực hiện các mệnh lệnh, chỉ thị của quân khu về xây dựng hoạt động tác chiến của lực lượng vũ trang địa phương, xây dựng lực lượng dự bị động viên, tuyển quân; lực lượng dân quân tự vệ và ban hành quyết định, kế hoạch công tác trên từng nhiệm vụ giao UBND quận tổ chức thực hiện Trên cơ sở

đó, chủ tịch UBND quận tiếp tục quán triệt triển khi nhiệm vụ đối với cơ quan quân sự cùng cấp và UBND các phường

Còn đối với UBND phường, thì Ban chỉ huy quân sự phường là cơ quan chuyên môn, giúp UBND thực hiện một số nhiệm vụ trong công tác quân sự - quốc phòng địa phương, quản lý lực lượng vũ trang địa phương, được điều chỉnh bởi Luật DQTV năm 2009

2.3.3 Công tác thực hiện pháp luật về Dân quân tự vệ của UBND phường ở Thành phố Đà Nẵng

Một là, tổ chức chỉ đạo thực hiện công tác Giáo dục an ninh quốc phòng Thành lập hội đồng Giáo dục QP- An ninh TP do 1 đồng chí phó chủ tịch UBND làm Chủ tịch, trưởng ngành QS, Công an, Sở giáo dục đạo tạo làm phó chủ tịch; quyết định ban hành kế hoạch công tác năm và từng giai đoạn; chỉ đạo hướng dẫn thành lập Hội đồng GDQP, an ninh cho Hội đồng NVQS cấp phường

Qua tổ chức, đến nay (số liệu tính đến năm 2018) toàn thành phố có gần

40 ngàn cán bộ, đảng viên được bồi dưỡng kiến thức quốc phòng, an ninh và

Ngày đăng: 27/11/2019, 10:33

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
10. Pháp lệnh số 45-L/CTN ngày 09/01/1996 của Chủ tịch nước về Dân quân tự vệ năm 1996 (Đã hết hiệu lực) Khác
11. Pháp lệnh số 19/2004/PL-UBTVQH11 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về Dân quân tự vệ năm 2004 (Đã hết hiệu lực) Khác
16. Nghị định 58/2010/NĐ-CP hướng dẫn Luật Dân quân tự vệ (Đã hết hiệu lực) Khác
17. Nghị định 74/2010/NĐ-CP quy định về phối hợp hoạt động giữa lực lượng dân quân tự vệ với lực lượng công an xã, phường, thị trấn, lực lượng kiểm lâm và các lực lượng khác trong công tác giữ gìn an ninh Khác
18. Nghị định 120/2013/NĐ-CP quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực quốc phòng, cơ yếu Khác
19. Nghị định 133/2015/NĐ-CP Quy định việc phối hợp của Dân quân tự vệ với các lực lượng trong hoạt động bảo vệ biên giới, biển, đảo; bảo vệ an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội ở cơ sở; bảo vệ và phòng, chống cháy rừng Khác
24. Thông tư liên tịch 102/2010/TTLT-BQP-BLĐTBXH-BNV-BTC hướng dẫn chế độ, chính sách đối với dân quân tự vệ và việc lập dự toán, chấp hành và quyết toán ngân sách cho công tác dân quân tự vệ do Bộ Quốc phòng - Bộ Lao động-Thương binh và Xã hội - Bộ Nội vụ - Bộ Tài chính ban hành Khác
25. Thông tư liên tịch 01/2013/TTLT-BNV-BQP hướng dẫn quy hoạch, đào tạo, bồi dưỡng và bố trí sử dụng Chỉ huy trưởng, Chỉ huy phó Ban chỉ huy quân sự xã, phường, thị trấn do Bộ trưởng Bộ Nội vụ - Bộ Quốc phòng ban hành Khác
26. Thông tư liên tịch 16/2016/TTLT-BYT-BQP quy định việc khám sức khỏe thực hiện nghĩa vụ quân sự do Bộ trưởng Bộ Y tế - Bộ Quốc phòng ban hành Khác
27. Thông tư 97/2010/TT-BQP hướng dẫn công tác thi đua, khen thưởng trong lực lượng dân quân tự vệ do Bộ trưởng Bộ Quốc phòng ban hành 28. Thông tư 193/2014/TT-BQP về Tiêu chuẩn TCVN/QS 1822:2014 vềtrang phục Dân quân tự vệ do Bộ Quốc phòng ban hành Khác
29. Thông tư 04/2015/TT-BQP quy định quản lý, sử dụng trang phục dân quân tự vệ do Bộ trưởng Bộ Quốc phòng ban hành Khác
30. Thông tư 148/2018/TT-BQP quy định về tuyển chọn và gọi công dân nhập ngũ do Bộ trưởng Bộ Quốc phòng ban hành Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w