1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Hoàn thiện công tác tổ chức đấu thầu xây lắp của Viện Khoa học xã hội Việt Nam

113 163 3

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 113
Dung lượng 724,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

trạng đấu thầu công khai chưa được nhiều; các quy trình tổ chức đấu thầu chưađược thực hiện đúng quy định; chất lượng đội ngũ cán bộ làm công tác đấu thầuchưa cao; chất lượng hồ sơ mời t

Trang 1

PHẦN MỞ ĐẦU

1 Sự cần thiết nghiên cứu đề tài

Viện Khoa học xã hội Việt Nam là cơ quan nghiên cứu khoa học trực thuộcChính phủ có chức năng nghiên cứu những vấn đề cơ bản về khoa học xã hội ViệtNam, cung cấp luận cứ khoa học cho việc hoạch định đường lối, chiến lược, quyhoạch và chính sách phát triển nhanh, bền vững theo định hướng xã hội chủ nghĩa;

tổ chức tư vấn và đào tạo sau đại học về khoa học xã hội; tham gia phát triển tiềmlực khoa học của cả nước

Trong những năm gần đây, Đảng và Nhà nước đã có sự quan tâm lớn đốivới sự nghiệp khoa học nói chung và Viện Khoa học xã hội Việt Nam nói riêng Sựquan tâm đó thể hiện ở việc Nhà nước đầu tư ngày càng lớn cho sự nghiệp khoahọc của Viện Khoa học xã hội Việt Nam, trong đó nguồn vốn đầu tư cho cơ sở vậtchất chiếm một tỷ trọng đáng kể, đặc biệt là việc đầu tư xây dựng mới và cải tạo,nâng cấp các trụ sở làm việc của các Viện Nghiên cứu trực thuộc Viện Khoa học xãhội Việt Nam

Tăng cường quản lý vốn đầu tư cho các dự án đầu tư xây dựng để nâng caohiệu quả sử dụng vốn, tiết kiệm, chống lãng phí là một chủ trương lớn của Đảng vàNhà nước ta hiện nay Một trong những hoạt động để nâng cao hiệu quả sử dụngvốn đầu tư xây dựng đó là công tác đấu thầu

Công tác đấu thầu có ý nghĩa hết sức quan trọng đối với các dự án đầu tưxây dựng nói riêng và sự phát triển lành mạnh của nền kinh tế nói chung Trongnhững năm qua, công tác đấu thầu của nước ta đã đạt được những hiệu quả nhấtđịnh, bước đầu các dự án đầu tư xây dựng thông qua đấu thầu đã chọn được cácđơn vị có đủ năng lực kỹ thuật, tài chính, nhân sự và kinh nghiệm để thực hiện cáchạng mục theo yêu cầu, đồng thời tiết kiệm chi phí cho các dự án Tuy nhiên, côngtác đấu thầu ở nước ta thực sự chưa được hoàn thiện, đa số các dự án đầu tư xâydựng chưa tuân thủ nghiêm túc các quy định của Nhà nước về đấu thầu như: tình

Trang 2

trạng đấu thầu công khai chưa được nhiều; các quy trình tổ chức đấu thầu chưađược thực hiện đúng quy định; chất lượng đội ngũ cán bộ làm công tác đấu thầuchưa cao; chất lượng hồ sơ mời thầu chưa đảm bảo, thời gian tổ chức đấu thầu cònkéo dài.

Đối với Viện Khoa học xã hội Việt Nam, trong những năm qua, công tácđấu thầu nói chung và công tác đấu thầu của các dự án đầu tư xây dựng nói riêng

đã được thực hiện phù hợp với các quy định của Nhà nước Thông qua công tácđấu thầu, các chủ đầu tư đã lựa chọn được các nhà thầu có đủ năng lực kinhnghiệm để thực hiện các hạng mục, đồng thời tiết kiện được nhiều chi phí cho Nhànước Tuy nhiên, công tác đấu thầu của Viện Khoa học xã hội Việt Nam vẫn còntồn tại một số vấn đề như: đội ngũ cán bộ làm công tác đấu thầu còn rất ít, vì vậy,khi tổ chức đầu thầu các chủ đầu tư còn rất lúng túng; việc tổ chức đấu thầu côngkhai chưa được nhiều, chất lượng hồ sơ mời thầu chưa cao, thời gian triển khai và

tổ chức đấu thầu còn chậm

Trong những năm tới, Viện Khoa học xã hội Việt Nam sẽ được đầu tư nângcấp các cơ sở làm việc hiện có và xây dựng mới một số cơ sở làm việc Vì vậy,công tác quản lý các dự án đầu tư xây dựng của Viện Khoa học xã hội Việt Namcần được hoàn thiện, đặc biệt là công tác đấu thầu để đáp ứng được với tình hìnhthực tế nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng vốn đầu tư xây dựng của nhà nước

Xuất phát từ những vấn đề nêu trên, tác giả xin chọn đề tài: “Hoàn thiện công tác tổ chức đấu thầu xây lắp của Viện Khoa học xã hội Việt Nam” làm đề

tài nghiên cứu cho bản luận văn của mình

Trang 3

chủ yếu của nó Từ đó, đưa ra một số biện pháp và kiến nghị nhằm hoàn thiệncông tác tổ chức đấu thầu xây lắp của Viện Khoa học xã hội Việt Nam

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu: Luận văn tập trung nghiên cứu công tác đấuthầu xây lắp của Viện Khoa học xã hội Việt Nam trong các năm qua

Phạm vi nghiên cứu: nghiên cứu khâu tổ chức đấu thầu xây lắp củaViện Khoa học xã hội Việt Nam trong những năm qua (từ năm 2001  2006)

4 Phương pháp nghiên cứu

Luận văn sử dụng phương pháp duy vật biện chứng, duy vật lịch sử, lýthuyết hệ thống, điều tra, phương pháp phân tích tổng hợp, phân tích thống

kê, so sánh, …

5 Những đóng góp khoa học của luận văn

- Vận dụng những vấn đề cơ bản về công tác đấu thầu để làm rõ đượccông tác tổ chức đấu thầu xây lắp của Viện Khoa học xã hội Việt Nam;

- Phân tích, đánh giá thực trạng công tác tổ chức đấu thầu xây lắp củaViện Khoa học xã hội Việt Nam đã thực hiện trong những năm qua nhằm pháthiện ra những vấn đề cần nghiên cứu, giải quyết;

- Đề xuất những giải pháp nhằm hoàn thiện công tác tổ chức đấu thầuxây lắp của Viện Khoa học xã hội Việt Nam;

6 Giới thiệu khái quát kết cấu của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo, luận văn được chialàm 3 chương:

Chương 1: Những vấn đề chung về công tác đấu thầu.

Chương 2: Phân tích thực trạng công tác tổ chức đấu thầu xây lắp của

Viện Khoa học xã hội Việt Nam

Trang 4

Chương 3: Giải pháp hoàn thiện công tác tổ chức đấu thầu xây lắp của

Viện Khoa học xã hội Việt Nam

CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ CÔNG TÁC ĐẤU THẦU

1.1 Khái niệm, phân loại và vai trò của đấu thầu

1.1.1 Khái niệm về đấu thầu

Đấu thầu là quá trình lựa chọn nhà thầu đáp ứng các yêu cầu của bênmời thầu để thực hiện gói thầu thuộc các dự án đầu tư trên cơ sở bảo đảm tínhcạnh tranh, công bằng, minh bạch và hiệu quả kinh tế

Hoạt động đấu thầu bao gồm các hoạt động của các bên liên quan trongquá trình lựa chọn nhà thầu

1.1.2 Phân loại đấu thầu

1.1.2.1 Các hình thức đấu thầu

- Đấu thầu trong nước

Đấu thầu trong nước là quá trình lựa chọn nhà thầu đáp ứng các yêucầu của bên mời thầu với sự tham gia của các nhà thầu trong nước

- Đấu thầu quốc tế

Đấu thầu quốc tế là quá trình lựa chọn nhà thầu đáp ứng các yêu cầucủa bên mời thầu với sự tham gia của các nhà thầu trong nước và nước ngoài

1.1.2.2 Các hình thức lựa chọn nhà thầu

- Đấu thầu rộng rãi

4

Trang 5

Đấu thầu rộng rãi là hình thức lựa chọn nhà thầu không hạn chế về sốlượng nhà thầu tham dự Trước khi phát hành hồ sơ mời thầu, bên mời thầuphải đăng tải các thông tin về đấu thầu trên tờ báo về đấu thầu, trang thông tinđiện tử về đấu thầu của cơ quan quản lý nhà nước về đấu thầu và các phươngtiện thông tin đại chúng khác để các nhà thầu biết thông tin tham dự.

- Đấu thầu hạn chế

Đấu thầu hạn chế là hình thức lựa chọn nhà thầu mà bên mời thầu mờimột số nhà thầu (tối thiểu là 5) có đủ kinh nghiệm và năng lực tham gia đấuthầu

- Tự thực hiện

Trang 6

Hình thức tự thực hiện là hình thức được áp dụng trong trường hợp chủđầu tư là nhà thầu có đủ năng lực và kinh nghiệm để thực hiện gói thầu thuộc

dự án do mình quản lý và sử dụng

- Lựa chọn nhà thầu trong trường hợp đặc biệt

Trường hợp gói thầu có đặc thù riêng biệt mà không thể áp dụng cáchình thức lựa chọn nhà thầu nêu trên thì chủ đầu tư phải lập phương án lựachọn nhà thầu, bảo đảm mục tiêu cạnh tranh và hiệu quả kinh tế trình Thủtướng Chính phủ xem xét, quyết định

1.1.2.3 Các phương thức đấu thầu

- Phương thức đấu thầu một túi hồ sơ

Phương thức đầu thầu một túi hồ sơ được áp dụng đối với hình thứcđấu thầu rộng rãi và đấu thầu hạn chế cho gói thầu mua sắm hàng hoá, xâylắp, gói thầu EPC Nhà thầu nộp hồ sơ dự thầu gồm đề xuất về kỹ thuật và đềxuất về tài chính theo yêu cầu của hồ sơ mời thầu Việc mở thầu được tiếnhành một lần

- Phương thức đấu thầu hai túi hồ sơ

Phương thức đấu thầu hai túi hồ sơ được áp dụng đối với đấu thầu rộngrãi và đấu thầu hạn chế trong đấu thầu cung cấp dịch vụ tư vấn Nhà thầu nộp

đề xuất về kỹ thuật và đề xuất về tài chính riêng biệt theo yêu cầu của hồ sơmời thầu Việc mở thầu được tiến hành hai lần; trong đó, đề xuất về kỹ thuật

sẽ được mở trước để đánh giá, đề xuất về tài chính của tất cả các nhà thầu có

đề xuất kỹ thuật được đánh giá là đáp ứng yêu cầu được mở sau để đánh giátổng hợp Trường hợp gói thầu có yêu cầu kỹ thuật cao thì đề xuất về tài chínhcủa nhà thầu đạt số điểm kỹ thuật cao nhất sẽ được mở để xem xét, thươngthảo

6

Trang 7

- Phương thức đấu thầu hai giai đoạn

Phương thức đấu thầu hai giai đoạn được áp dụng đối với hình thức đấuthầu rộng rãi, đấu thầu hạn chế cho gói thầu mua sắm hàng hoá, xây lắp, góithầu EPC có kỹ thuật, công nghệ mới, phức tạp, đa dạng và được thực hiệntheo trình tự sau đây:

- Trong giai đoạn một, theo hồ sơ mời thầu giai đoạn một, các nhà thầunộp đề xuất về kỹ thuật, phương án tài chính nhưng chưa có giá dự thầu; trên

cơ sở trao đổi với từng nhà thầu tham gia giai đoạn này sẽ xác định hồ sơ mờithầu giai đoạn hai

- Trong giai đoạn hai, theo hồ sơ mời thầu giai đoạn hai, các nhà thầu

đã tham gia giai đoạn một được mời nộp hồ sơ dự thầu giai đoạn hai bao gồm:

đề xuất về kỹ thuật; đề xuất về tài chính, trong đó có giá dự thầu; biện phápbảo đảm dự thầu

1.1.3 Các nguyên tắc tổ chức đấu thầu

1.1.3.1 Các dự án phải tổ chức đấu thầu

Các dự án sau đây phải thực hiện việc đấu thầu để lựa chọn nhà thầucung cấp dịch vụ tư vấn, mua sắm hàng hoá, xây lắp:

- Dự án sử dụng vốn nhà nước từ 30% trở lên cho mục tiêu đầu tư pháttriển, bao gồm:

+ Dự án đầu tư xây dựng mới, nâng cấp mở rộng các dự án đã đầu tưxây dựng;

+ Dự án đầu tư để mua sắm tài sản kể cả thiết bị, máy móc không cầnlắp đặt;

Trang 8

+ Dự án quy hoạch phát triển vùng, quy hoạch phát triển ngành, quyhoạch xây dựng đô thị, nông thôn;

+ Dự án nghiên cứu khoa học, phát triển công nghệ, hỗ trợ kỹ thuật;+ Các dự án khác cho mục tiêu đầu tư phát triển;

- Dự án sử dụng vốn nhà nước để mua sắm tài sản nhằm duy trì hoạtđộng thường xuyên của cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị– xã hội, tổ chức chính trị xã hội – nghề nghiệp, đơn vị vũ trang nhân dân;

- Dự án sử dụng vốn nhà nước để mua sắm tài sản nhằm phục vụ việccải tạo, sửa chữa lớn các thiết bị, dây chuyền sản xuất, công trình, nhà xưởng

đã đầu tư của doanh nghiệp nhà nước

1.1.3.2 Phát hành hồ sơ mời thầu

Hồ sơ mời thầu được phát hành khi có đủ các điều kiện sau đây;

- Kế hoạch đấu thầu được duyệt;

- Hồ sơ mời thầu được duyệt;

- Thông báo mời thầu hoặc danh sách nhà thầu được mời tham gia đấuthầu đã được đăng tải theo quy định

1.1.3.3 Bảo đảm dự thầu

Khi tham gia đấu thầu gói thầu cung cấp hàng hoá, xây lắp, gói thầuEPC, nhà thầu phải thực hiện biện pháp bảo đảm dự thầu trước thời điểmđóng thầu Trường hợp áp dụng phương thức đấu thầu hai giai đoạn, nhà thầuthực hiện biện pháp bảo đảm dự thầu trong giai đoạn hai

Giá trị bảo đảm dự thầu được quy định trong hồ sơ mời thầu theo mộtmức xác định căn cứ tính chất của từng gói thầu cụ thể nhưng không vượt quá3% giá gói thầu được duyệt

8

Trang 9

Thời gian có hiệu lực của bảo đảm dự thầu bằng thời gian hiệu lực của

hồ sơ dự thầu cộng thêm ba mươi ngày

Trường hợp cần gia hạn hiệu lực của hồ sơ dự thầu, bên mời thầu phảiyêu cầu nhà thầu gia hạn tương ứng hiệu lực bảo đảm dự thầu; trong trườnghợp này, nhà thầu không được thay đổi nội dung hồ sơ dự thầu đã nộp baogồm cả giá dự thầu và phải gia hạn tương ứng hiệu lực của bảo đảm dự thầu.Trường hợp nhà thầu từ chối gia hạn hiệu lực của hồ sơ dự thầu thì bên mờithầu phải hoàn trả bảo đảm dự thầu cho nhà thầu

Bảo đảm dự thầu được trả lại cho các nhà thầu không trúng thầu trongthời gian không quá ba mươi ngày kể từ ngày thông báo kết quả đấu thầu Đốivới nhà thầu trúng thầu, bảo đảm dự thầu được hoàn trả sau khi nhà thầu thựchiện biện pháp bảo đảm thực hiện hợp đồng

Nhà thầu không được nhận lại bảo đảm dự thầu trong các trường hợpsau đây:

- Rút hồ sơ dự thầu sau khi đóng thầu mà hồ sơ dự thầu vẫn còn hiệulực;

- Trong thời hạn ba mươi ngày kể từ khi nhận được thông báo trúngthầu của bên mời thầu mà không tiến hành hoặc từ chối tiến hành thươngthảo, hoàn thiện hợp đồng hoặc đã thương thảo, hoàn thiện xong nhưng từchối ký hợp đồng mà không có lý doa chính đáng;

- Không thực hiện biện pháp bảo đảm thực hiện hợp đồng theo quyđịnh

1.1.3.4 Nguyên tắc đánh giá hồ sơ dự thầu

Việc đánh giá hồ sơ dự thầu phải căn cứ vào tiêu chuẩn đánh giá hồ sơ

dự thầu và các yêu cầu khác trong hồ sơ mời thầu để bảo đảm lựa chọn được

Trang 10

nhà thầu có đủ năng lực, kinh nghiệm, có giải pháp khả thi để thực hiện góithầu.

Việc đánh giá hồ sơ dự thầu ngoài việc phải căn cứ vào các yêu cầutrên còn phải căn cứ vào hồ sơ dự thầu đã nộp và các tài liệu giải thích làm rõ

hồ sơ dự thầu của nhà thầu

Việc đánh giá hồ sơ dự thầu phải tuân theo đúng trình tự

1.1.3.5 Phương pháp đánh giá hồ sơ dự thầu

Phương pháp đánh giá hồ sơ dự thầu phải được thể hiện thông qua tiêuchuẩn đánh giá trong hồ sơ mời thầu Tiêu chuẩn đánh giá trong hồ sơ dự thầugồm tiêu chuẩn đánh giá về năng lực, kinh nghiệm trong trường hợp không ápdụng sơ tuyển; tiêu chuẩn đánh giá về mặt kỹ thuật; tiêu chuẩn đánh giá tổnghợp đối với gói thầu dịch vụ tư vấn hoặc các nội dung để xác định chi phí trêncùng một mặt bằng về kỹ thuật, tài chính, thương mại để so sánh, xếp hạngcác hồ sơ dự thầu đối với gói thầu mua sắm hàng hoá, xây lắp, gói thầu EPC.Đối với gói thầu dịch vụ tư vấn thì sử dụng phương pháp chấm

điểm để đánh giá về mặt kỹ thuật Khi xây dựng tiêu chuẩn đánh giá phải xác định mức yêu cầu tối thiểu về mặt kỹ thuật nhưng không được quy định thấp hơn 70% tổng số điểm về mặt kỹ thuật; trường hợp gói thầu có yêu cầu kỹ thuật cao thì mức yêu cầu tối thiểu về mặt kỹthuật phải quy định không thấp hơn 80% Việc xây dựng tiêu chuẩn đánh giá để so sánh, xếp hạng hồ sơ dự thầu được thực hiện theo quy định sau đây:

- Đối với gói thầu dịch vụ tư vấn không yêu cầu kỹ thuật cao thì sửdụng thang điểm tổng hợp để xếp hạng hồ sơ dự thầu Trong thang điểm tổnghợp phải bảo đảm nguyên tắc tỷ trọng điểm về kỹ thuật không thấp hơn 70%

10

Trang 11

tổng số điểm của thang điểm tổng hợp Hồ sơ dự thầu của nhà thầu có số điểmtổng hợp cao nhất được xếp thứ nhất;

- Đối với gói thầu dịch vụ tư vấn có yêu cầu kỹ thuật cao thì nhà thầu

có hồ sơ dự thầu đạt điểm kỹ thuật cao nhất được xếp thứ nhất để xem xét đềxuất về mặt tài chính

Đối với gói thầu mua sắm hàng hoá, xây lắp, gói thầu EPC thì sử dụngphương pháp chấm điểm hoặc phương pháp đánh giá theo tiêu chí “đạt”,

“không đạt” để đánh giá về mặt kỹ thuật Khi xây dựng tiêu chuẩn đánh giá vềmặt kỹ thuật là thang điểm, phải xác định mức yêu cầu tối thiểu về mặt kỹthuật nhưng bảo đảm không được quy định thấp hơn 70% tổng số điểm vềmặt kỹ thuật; trường hợp yêu cầu kỹ thuật cao thì mức yêu cầu tối thiểukhông được quy định thấp hơn 80% Đối với các hồ sơ dự thầu đã vượt quađánh giá về mặt kỹ thuật thì căn cứ vào chi phí trên cùng một mặt bằng về kỹthuật, tài chính, thương mại để so sánh, xếp hạng Hồ sơ dự thầu của nhà thầu

có chi phí thấp nhất trên cùng một mặt bằng được xếp thứ nhất

1.1.3.6 Đấu thầu qua mạng

Đấu thầu qua mạng được thực hiện trực tuyến thông qua hệ thốngmạng Việc đăng tải thông báo mời thầu, phát hành hồ sơ mời thầu, nộp hồ sư

dự thầu, đánh giá hồ sơ dự thầu và thông báo kết quả lựa chọn nhà thầu đượcthực hiện trên hệ thống mạng đấu thầu quốc gia do cơ quan quản lý nhà nước

về đấu thầu xây dựng và thống nhất quản lý

1.1.3.7 Các nguyên tắc về thời gian trong đấu thầu

- Thời gian sơ tuyển nhà thầu tối đa là ba mươi ngày đối với đấu thầutrong nước, bốn mươi lăm ngày đối với đấu thầu quốc tế kể từ ngày phát hành

hồ sơ mời sơ tuyển đến khi có kết quả sơ tuyển được duyệt;

Trang 12

- Thời gian thông báo mời thầu tối thiểu mười ngày trước khi phát hành

hồ sơ mời thầu;

- Thời gian chuẩn bị hồ sơ dự thầu tối thiểu là mười lăm ngày đối vớiđấu thầu trong nước, ba mươi ngày đối với đấu thầu quốc tế kể từ ngày pháthành hồ sơ mời thầu đến thời điểm đóng thầu;

- Thời gian có hiệu lực của hồ sơ dự thầu tối đa là một trăm tám mươingày kể từ thời điểm đóng thầu; trường hợp cần thiết có thể yêu cầu gia hạnthời gian có hiệu lực của hồ sơ dự thầu nhưng không quá ba mươi ngày;

- Thời gian đánh giá hồ sơ dự thầu tối đa là bốn mươi lăm ngày đối vớiđấu thầu trong nước, sáu mươi ngày đối với đấu thầu quốc tế kể từ ngày mởthầu đến khi chủ đầu tư có báo cáo về kết quả đấu thầu trình người có thẩmquyền xem xét, quyết định;

- Thời gian thẩm định tối đa là hai mươi ngày cho việc thực hiện đốivới từng nội dung về kế hoạch đấu thầu, hồ sơ mời thầu, kết quả lựa chọn nhàthầu Đối với gói thầu thuộc thẩm quyền phê duyệt của Thủ tướng Chính phủ,thời gian thẩm định tối đa là ba mươi ngày cho việc thực hiện đối với từng nộidung về kế hoạch đấu thầu, kết quả lựa chọn nhà thầu

1.1.3.8 Các quy định chung về tiêu chuẩn đánh giá hồ

sơ dự thầu

- Quy định chung tiêu chuẩn đánh giá về mặt kỹ thuật

Trường hợp sử dụng phương pháp chấm điểm

+ Sử dụng thang điểm tối đa (100, 1.000, ) để xây dựng tiêu chuẩnđánh giá về mặt kỹ thuật Mức điểm yêu cầu tối thiểu về mặt kỹ thuật đượcquy định tuỳ theo tính chất của từng gói thầu nhưng phải bảo đảm không thấphơn 70% tổng số điểm về mặt kỹ thuật; đối với gói thầu có yêu cầu kỹ thuật

12

Trang 13

cao không thấp hơn 80%;

Đối với gói thầu lựa chọn tổng thầu xây dựng (trừ gói thầu lựa chọntổng thầu thiết kế) còn phải quy định mức điểm yêu cầu tối thiểu cho từng nộidung công việc bảo đảm không thấp hơn 70% mức điểm tối đa tương ứng

+ Đối với gói thầu mua sắm hàng hoá, xây lắp, hồ sơ dự thầu được coi

là đáp ứng yêu cầu về mặt kỹ thuật khi đạt số điểm không thấp hơn mức điểmyêu cầu tối thiểu về mặt kỹ thuật

Đối với gói thầu lựa chọn tổng thầu xây dựng (trừ gói thầu lựa chọntổng thầu thiết kế), hồ sơ dự thầu được coi là đáp ứng yêu cầu về mặt kỹ thuậtkhi số điểm được đánh giá cho từng nội dung công việc không thấp hơn mứcđiểm yêu cầu tối thiểu tương ứng và điểm tổng hợp của các nội dung khôngthấp hơn mức điểm yêu cầu tối thiểu về mặt kỹ thuật của cả gói thầu

Trường hợp sử dụng tiêu chí “đạt”, “không đạt”

+ Tiêu chuẩn đánh giá

Tuỳ theo tính chất của gói thầu mà xác định mức độ yêu cầu đối vớitừng nội dung Đối với các nội dung được coi là các yêu cầu cơ bản của hồ sơmời thầu, chỉ sử dụng tiêu chí “đạt” hoặc “không đạt” Đối với các nội dungyêu cầu không cơ bản, ngoài tiêu chí “đạt” hoặc “không đạt”, được áp dụngthêm tiêu chí “chấp nhận được” nhưng không được vượt quá 30% tổng số cácnội dung yêu cầu trong tiêu chuẩn đánh giá

+ Một hồ sơ dự thầu được đánh giá là đáp ứng yêu cầu về mặt kỹ thuậtkhi có tất cả nội dung yêu cầu cơ bản đều được đánh giá là “đạt”, các nộidung yêu cầu không cơ bản được đánh giá là “đạt” hoặc “chấp nhận được”

- Tiêu chuẩn đánh giá hồ sơ dự thầu đối với gói thầu mua sắm hàng hoáTiêu chuẩn đánh giá hồ sơ dự thầu đối với gói thầu mua sắm hàng hóa

Trang 14

gồm tiêu chuẩn đánh giá về năng lực và kinh nghiệm của nhà thầu, tiêu chuẩnđánh giá về mặt kỹ thuật và cách xác định chi phí trên cùng một mặt bằng(giá đánh giá), cụ thể như sau:

Tiêu chuẩn đánh giá về năng lực và kinh nghiệm của nhà thầu áp dụngđối với gói thầu không tiến hành sơ tuyển, bao gồm:

+ Kinh nghiệm thực hiện các gói thầu tương tự tại Việt Nam và ở nướcngoài; kinh nghiệm hoạt động trong lĩnh vực sản xuất, kinh doanh chính;

+ Năng lực sản xuất và kinh doanh, cơ sở vật chất kỹ thuật, trình độ cán

bộ chuyên môn;

+ Năng lực tài chính: tổng tài sản, tổng nợ phải trả, vốn lưu động,doanh thu, lợi nhuận, giá trị hợp đồng đang thực hiện dở dang và các chỉ tiêukhác

Việc xác định mức độ yêu cầu cụ thể đối với từng tiêu chuẩn cần căn cứtheo yêu cầu của từng gói thầu

Các tiêu chuẩn đánh giá được sử dụng tiêu chí “đạt”, “không đạt” Nhàthầu “đạt” cả 3 nội dung nêu trên thì được đánh giá là đáp ứng yêu cầu vềnăng lực và kinh nghiệm

Tiêu chuẩn đánh giá về mặt kỹ thuật

Tiêu chuẩn đánh giá về mặt kỹ thuật bao gồm các nội dung về khả năngđáp ứng các yêu cầu về số lượng, chất lượng đối với hàng hóa nêu trong hồ sơmời thầu, cụ thể:

+ Đặc tính, thông số kỹ thuật của hàng hóa, tiêu chuẩn sản xuất và cácnội dung khác;

+ Tính hợp lý và hiệu quả kinh tế của các giải pháp kỹ thuật, biện pháp

14

Trang 15

tổ chức cung cấp hàng hóa;

+ Khả năng lắp đặt thiết bị và năng lực cán bộ kỹ thuật;

+ Mức độ đáp ứng các yêu cầu về bảo hành;

+ Khả năng thích ứng về mặt địa lý;

+ Tác động đối với môi trường và biện pháp giải quyết;

+ Khả năng cung cấp tài chính (nếu có yêu cầu);

+ Các yếu tố khác về điều kiện thương mại, tài chính, thời gian thựchiện, đào tạo chuyển giao công nghệ (nếu có)

Nội dung xác định giá đánh giá

Việc xác định giá đánh giá là xác định chi phí trên cùng một mặt bằng

về kỹ thuật, tài chính, thương mại và các yếu tố khác nhằm so sánh, xếp hạngcác hồ sơ dự thầu Phương pháp xác định giá đánh giá phải được nêu trongtiêu chuẩn đánh giá Việc xác định giá đánh giá thực hiện theo trình tự sauđây:

+ Chuyển đổi giá đề nghị trúng thầu sang một đồng tiền chung (nếu có)

để làm căn cứ xác định giá đánh giá;

+ Đưa các chi phí về một mặt bằng để xác định giá đánh giá, bao gồm:

* Các điều kiện về mặt kỹ thuật như: tiến độ thực hiện; công suất, hiệu

Trang 16

suất của máy móc thiết bị; mức tiêu hao điện năng, nguyên nhiên vật liệu; chiphí vận hành, duy tu, bảo dưỡng, tuổi thọ và các yếu tố kỹ thuật khác tùy theotừng gói thầu cụ thể;

* Điều kiện tài chính, thương mại;

* Ưu đãi trong đấu thầu quốc tế (nếu có);

* Các yếu tố khác

Tuỳ theo tính chất của từng gói thầu mà quy định các yếu tố để xácđịnh giá đánh giá cho phù hợp Hồ sơ dự thầu có giá đánh giá thấp nhất đượcxếp thứ nhất

- Tiêu chuẩn đánh giá hồ sơ dự thầu đối với gói thầu xây lắp

Tiêu chuẩn đánh giá hồ sơ dự thầu đối với gói thầu xây lắp gồm tiêuchuẩn đánh giá về năng lực và kinh nghiệm của nhà thầu, tiêu chuẩn đánh giá

về mặt kỹ thuật và nội dung xác định giá đánh giá, cụ thể như sau:

Tiêu chuẩn đánh giá về năng lực và kinh nghiệm của nhà thầu áp dụngđối với gói thầu không tiến hành sơ tuyển, bao gồm:

+ Kinh nghiệm thực hiện các gói thầu tương tự ở Việt Nam, ở vùng địa

lý và hiện trường tương tự;

+ Năng lực kỹ thuật: số lượng, trình độ cán bộ, công nhân kỹ thuật trựctiếp thực hiện gói thầu và số lượng thiết bị thi công sẵn có, khả năng huy độngthiết bị thi công để thực hiện gói thầu;

+ Năng lực tài chính: tổng tài sản, tổng nợ phải trả, vốn lưu động,doanh thu, lợi nhuận, giá trị hợp đồng đang thực hiện dở dang và các chỉ tiêukhác

Việc xác định mức độ yêu cầu cụ thể đối với từng tiêu chuẩn quy định

16

Trang 17

nêu trên phải căn cứ theo yêu cầu của từng gói thầu

Các tiêu chuẩn này được sử dụng theo tiêu chí “đạt”, “không đạt” Nhàthầu “đạt” cả 3 nội dung nêu trên thì được đánh giá là đáp ứng yêu cầu vềnăng lực và kinh nghiệm

Tiêu chuẩn đánh giá về mặt kỹ thuật

Tiêu chuẩn đánh giá về mặt kỹ thuật bao gồm các nội dung về mức độđáp ứng đối với các yêu cầu về hồ sơ thiết kế kỹ thuật và tiên lượng kèm theo,

+ Mức độ đáp ứng các yêu cầu về bảo hành;

+ Các biện pháp bảo đảm chất lượng;

+ Khả năng cung cấp tài chính (nếu có yêu cầu);

+ Tiến độ thi công;

+ Các nội dung khác (nếu có)

Nội dung xác định giá đánh giá

Việc xác định giá đánh giá là xác định chi phí trên cùng một mặt bằng

về kỹ thuật, tài chính, thương mại và các yếu tố khác nhằm so sánh, xếp hạngcác hồ sơ dự thầu Phương pháp xác định giá đánh giá phải được nêu trongtiêu chuẩn đánh giá Việc xác định giá đánh giá thực hiện theo trình tự sau

Trang 18

+ Chuyển đổi giá đề nghị trúng thầu sang một đồng tiền chung (nếu có)

để làm căn cứ xác định giá đánh giá;

+ Đưa các chi phí về một mặt bằng để xác định giá đánh giá, bao gồm:

* Các điều kiện về mặt kỹ thuật như: tiến độ thực hiện; chi phí quản lý,vận hành, duy tu, bảo dưỡng, tuổi thọ công trình và các yếu tố kỹ thuật kháctùy theo từng gói thầu cụ thể;

* Điều kiện tài chính, thương mại;

* Ưu đãi trong đấu thầu quốc tế (nếu có);

* Các yếu tố khác

Tuỳ theo tính chất của từng gói thầu mà quy định các yếu tố để xácđịnh giá đánh giá cho phù hợp Hồ sơ dự thầu có giá đánh giá thấp nhất đượcxếp thứ nhất

1.1.3.9 Quy định chung về sửa lỗi và hiệu chỉnh sai

lệch trong quá trình xác định giá đánh giá

Trang 19

cộng, trừ, nhân, chia không chính xác:

* Trường hợp không nhất quán giữa đơn giá và thành tiền thì lấy đơngiá làm cơ sở pháp lý cho việc sửa lỗi;

* Trường hợp không nhất quán giữa bảng giá tổng hợp và bảng giá chitiết thì lấy bảng giá chi tiết làm cơ sở pháp lý cho việc sửa lỗi

+ Đối với các lỗi khác:

* Cột thành tiền được điền vào mà không có đơn giá tương ứng thì đơngiá được xác định bổ sung bằng cách chia thành tiền cho số lượng;

* Khi có đơn giá nhưng cột thành tiền bỏ trống thì thành tiền sẽ đượcxác định bổ sung bằng cách nhân số lượng với đơn giá;

* Nếu một nội dung nào đó có điền đơn giá và thành tiền nhưng bỏtrống số lượng thì số lượng bỏ trống được xác định bổ sung bằng cách chiathành tiền cho đơn giá của nội dung đó Trường hợp số lượng được xác định

bổ sung nêu trên khác với số lượng nêu trong hồ sơ mời thầu thì được coi làsai lệch về phạm vi cung cấp và được hiệu chỉnh theo số lượng của hồ sơ mờithầu;

* Lỗi nhầm đơn vị: sử dụng dấu "," (dấu phảy) thay cho dấu "." (dấuchấm) và ngược lại thì được sửa lại cho phù hợp theo cách viết của Việt Nam

Lỗi số học được tính theo tổng giá trị tuyệt đối, không phụ thuộc vàoviệc giá dự thầu tăng lên hay giảm đi sau khi sửa

Sau khi sửa lỗi theo nguyên tắc trên, bên mời thầu sẽ thông báo bằngvăn bản cho nhà thầu Nhà thầu phải có văn bản thông báo cho bên mời thầu

về việc chấp nhận sửa lỗi nêu trên Nếu nhà thầu không chấp nhận việc sửa lỗithì hồ sơ dự thầu của nhà thầu đó sẽ bị loại

Trang 20

- Hiệu chỉnh các sai lệch

Hiệu chỉnh các sai lệch là việc điều chỉnh những nội dung thiếu hoặcthừa trong hồ sơ dự thầu so với yêu cầu của hồ sơ mời thầu cũng như điềuchỉnh những khác biệt giữa các phần của hồ sơ dự thầu; giữa đề xuất kỹ thuật

và đề xuất tài chính; giữa con số và chữ viết; giữa nội dung trong đơn dự thầu

và các phần khác của hồ sơ dự thầu Việc hiệu chỉnh sai lệch được thực hiệnnhư sau:

+ Trường hợp có những sai lệch về phạm vi cung cấp thì phần chàothiếu sẽ được cộng thêm vào, phần chào thừa sẽ được trừ đi theo nguyên tắcnếu không thể tách ra trong giá dự thầu của nhà thầu đang tiến hành sửa sailệch thì lấy mức giá chào cao nhất đối với nội dung này (nếu chào thiếu) vàlấy mức giá chào thấp nhất (nếu chào thừa) trong số các hồ sơ dự thầu khácvượt qua bước đánh giá về mặt kỹ thuật Trong trường hợp chỉ có một nhàthầu duy nhất vượt qua bước đánh giá về mặt kỹ thuật thì tiến hành sửa sailệch trên cơ sở ấy mức giá của nhà thầu này (nếu có) hoặc của các hồ sơ dựthầu hoặc trong dự toán, tổng dự toán hoặc trong giá gói thầu được duyệt theonguyên tắc lấy mức giá cao nhất (đối với chào thiếu) hoặc thấp nhất (đối vớichào thừa) để áp dụng cho các nội dung nêu trên;

+ Trường hợp có sai lệch giữa những nội dung thuộc đề xuất kỹ thuật

và nội dung thuộc đề xuất tài chính thì nội dung thuộc đề xuất kỹ thuật sẽ là

cơ sở pháp lý cho việc hiệu chỉnh sai lệch;

+ Trường hợp không nhất quán giữa con số và chữ viết thì lấy chữ viếtlàm cơ sở pháp lý cho việc hiệu chỉnh sai lệch;

+ Trường hợp có sự sai khác giữa giá ghi trong đơn dự thầu (không kểgiảm giá) và giá trong biểu giá tổng hợp thì được coi đây là sai lệch và việc

20

Trang 21

hiệu chỉnh sai lệch này được căn cứ vào giá ghi trong biểu giá tổng hợp saukhi được hiệu chỉnh và sửa lỗi theo biểu giá chi tiết

1.1.4 Vai trò của đấu thầu

Đấu thầu là một hoạt động đóng vai trò rất quan trọng trong một nềnkinh tế Nó có tác dụng làm giảm bớt các hoạt động mang tính tiêu cực và làmtrong sạch một nền kinh tế Đấu thầu có tác dụng thúc đẩy sự phát triển củamột nền kinh tế thông qua việc tự hoàn thiện và phát triển của các nhà thầu

Trong hoạt động đấu thầu thường có mặt hai chủ thể kinh tế chính đó làChủ dự án và các nhà thầu, ngoài ra có thể có một hoặc một vài chủ thể kinh

tế phụ khác như các tổ chức tư vấn giúp chủ dự án trong công tác tổ chức đấuthầu, khi đó các tổ chức tư vấn cũng là một nhà thầu

Đối với các chủ dự án, khi tổ chức đấu thầu sẽ giúp cho các chủ dự ánlựa chọn được nhà thầu có đủ năng lực, kinh nghiệm để thực hiện công việcđồng thời tiết kiệm được kinh phí đầu tư

Đối với các nhà thầu, do tính cạnh tranh trong đấu thầu buộc các nhàthầu phải không ngừng tự hoàn thiện mình nhằm nâng cao khả năng cạnhtranh trong việc tham gia đấu thầu các dự án và các gói thầu Chính vì vậy màhoạt động đấu thầu có vai trò thúc đẩy các nhà thầu ngày càng phát triển

1.2 Quy trình tổ chức đấu thầu

Tất cả các gói thầu khi tổ chức đấu thầu đều phải thực hiện các bước cơbản theo quy trình tổ chức đầu nêu tại sơ đồ 1.1

Đối với các gói thầu mua sắm hàng hóa, gói thầu EPC có giá trị góithầu từ ba trăm tỷ đồng trở lên, gói thầu xây lắp có giá trị gói thầu từ hai trăm

tỷ đồng trở lên phải được tiến hành sơ tuyển Quy trình sơ tuyển nhà thầuđược thực hiện như sơ đồ 1.2

Trang 22

Sơ đồ 1.1 Quy trình tổ chức đấu thầu

“Nguồn: Quốc hội 2005; Chính phủ 2008”

riêng hoặc duyệt

trong báo cáo

KTKT của dự án.

- Hồ sơ mời thầu và

tiêu chuẩn đánh giá

hồ sơ dự thầu.

- Các nội dung khác

(B) Người có thẩm quyền hoặc cấp

có thẩm quyền:

Thẩm định và phê duyệt:

- Kế hoạch đấu thầu.

- Hồ sơ mời thầu

và tiêu chuẩn đánh giá hồ sơ dự thầu các dự án nhóm A, B, C.

- Các nội dung khác.

(C) Chủ đầu tư/bên mời thầu tổ chức đấu thầu:

1- Đấu thầu rộng rãi:

- Thông báo mời thầu trên các phương tiện thông tin đại chúng.

- Bán hồ sơ mời thầu.

- Nhà thầu chuẩn bị hồ sơ dự thầu.

- Bên mời thầu nhận hồ sơ dự thầu và đóng thầu.

- Mở thầu

2- Đấu thầu hạn chế:

- Bán hồ sơ mời cho các nhà thầu theo danh sách được duyệt.

- Nhà thầu chuẩn bị hồ sơ dự thầu.

- Nhận hồ sơ dự thầu và đóng thầu.

- Nhà thầu chuẩn bị hồ sơ dự thầu (hồ

sơ báo giá).

- Nhận hồ sơ báo giá và quy định thời hạn hết nhận báo giá.

- Mở các báo giá và lập văn bản tiếp nhận các báo giá

(D) Chủ đầu tư/bên mời thầu và Tư vấn hoặc Tổ chuyên gia giúp việc đấu thầu:

- Đánh giá hồ sơ dự thầu

và trình duyệt kết quả đấu thầu.

(E) Người có thẩm quyền hoặc cấp có thẩm quyền:

Thẩm định và phê duyệt kết quả đấu thầu.

Trang 23

Sơ đồ 1.2 Quy trình tổ chức sơ tuyển nhà thầu

“Nguồn: Quốc hội 2005; Chính phủ 2008”

1.3 Các nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng đấu thầu 1.3.1 Các nhân tố khách quan

tiêu chuẩn đánh giá

hồ sơ dự sơ tuyển.

- Các nội dung khác

(B) Người có thẩm quyền hoặc cấp có thẩm quyền:

Thẩm định và phê duyệt:

- Hồ sơ mời sơ tuyển nhà thầu và tiêu chuẩn đánh giá hồ sơ dự sơ tuyển của nhà thầu các

dự án nhóm A, B, C.

- Các nội dung khác.

(C) Chủ đầu tư/bên mời thầu tổ chức sơ tuyển nhà thầu:

- Thông báo mời sơ tuyển nhà thầu trên các phương tiện thông tin đại chúng.

- Phát hành hồ sơ mời sơ tuyển.

- Nhà thầu chuẩn bị

hồ sơ dự sơ tuyển.

- Bên mời thầu nhận

hồ sơ dự sơ tuyển.

- Mở hồ sơ dự sơ tuyển.

(D) Chủ đầu tư/bên mời thầu và Tư vấn hoặc

Tổ chuyên gia giúp việc đấu thầu:

- Đánh giá hồ sơ dự sơ tuyển nhà thầu và trình duyệt kết quả.

(E) Người có thẩm quyền hoặc cấp có thẩm quyền:

Thẩm định và phê duyệt kết quả sơ tuyển nhà thầu.

Trang 24

- Về cơ chế, chính sách, pháp luật nói chung: hệ thống các quy phạmpháp luật chưa thật rõ ràng, đầy đủ; vẫn còn chồng chéo, thiếu nhất quán,thiếu đồng bộ, tính pháp lý chưa cao, thiếu chế tài cần thiết… và việc thay đổicòn chưa có lộ trình rõ ràng, khó dự đoán Bên cạnh đó, các văn bản hướngdẫn thường ban hành chậm, nhiều khi đưa ra rất sát với thời điểm thực hiện,thậm chí có những văn bản khó hiểu, văn bản còn tham chiếu quá nhiều gâykhó khăn khi vận dụng chính sách Ngoài ra, hiệu lực và hiệu quả thực thipháp luật rất yếu; vẫn có nhiều cá nhân coi thường và vi phạm pháp luậtkhông được xử lý nghiêm và kịp thời.

- Về cơ chế đấu thầu nói riêng: Hệ thống pháp luật về đấu thầu cònchưa đồng bộ, nhiều điều bất cập; các biện pháp chế tài đối với các sai phạmtrong đấu thầu chưa được pháp luật quy định đầy đủ và cụ thể, nên khó khăntrong việc đề xuất xử lý Hoạt động đấu thầu là một lĩnh vực rất phức tạptrong khi việc xây dựng và ban hành các các văn bản quản lý thiếu đồng bộ,mới đáp ứng được yêu cầu trước mắt mà chưa có tính dài hạn Một số vấn đềmới nảy sinh chưa được đề cập kịp thời

- Khả năng xử lý hành chính của nước ta tương đối chậm và chưa tốt.Chính sự chậm trễ này đã làm chất lượng công tác đấu thầu không cao Việcquản lý hành chính cũng chưa tốt, lệ giấy tờ còn rất quan liêu, nhiều tầng nấc

- Nền kinh tế của nước ta đang trong giai đoạn xây dựng nền kinh tế thịtrường nên nền kinh tế chưa được hoàn chỉnh, còn tồn tại nhiều bất cập tiêucực trong nền kinh tế như môi trường cạnh tranh chưa thực sự lành mạnh,chưa thực sự công bằng Điều này ảnh hưởng rất lớn đến quá trình tổ chứcđấu thầu, nhiều nhà thầu trúng thầu là do có mối quan hệ tốt với chủ đầu tư.Vấn đề quản lý thông tin về các nhà thầu cũng chưa được tốt, thông thườngnăng lực và kinh nghiệm của nhà thầu nêu trong hồ sơ dự thầu còn thiếu chínhxác so với năng lực thực của các nhà thầu dẫn đến khi đã trúng thầu các nhà

24

Trang 25

thầu mới bộc lộ sự yếu kém của mình làm ảnh hưởng đến chất lượng và tiến

độ thực hiện gói thầu

1.3.2 Các nhân tố chủ quan

- Công tác lập, thẩm định và phê duyệt thiết kế kỹ thuật, tổng dự toánvẫn còn tình trạng chưa tuân thủ các quy định về nội dung; thiết kế khôngchuẩn, áp dụng sai định mức, đơn giá Việc thẩm định và phê duyệt chỉ quantâm tới tổng mức vốn đầu tư, không quan tâm đến hiệu quả, điều kiện vậnhành của dự án Mặt khác trong quá trình thẩm định mặc dù thuê các tổ chức

tư vấn thẩm định nhưng chất lượng kết quả thẩm định chưa cao, một sốtrường hợp đơn vị tư vấn không sâu sát với thực tế dẫn tới tính toán lựa chọnquy mô và lựa chọn thiết bị không chuẩn Những điều đó là nguyên nhân dẫnđến ách tắc trong quá trình tổ chức đấu thầu và khối lượng thay đổi, phát sinhnhiều trong quá trình triển khai thực hiện gói thầu Trong khi đó, các công tácnày thường do các đơn vị tư vấn thực hiện Khi chất lượng của sản phẩm tưvấn không đạt yêu cầu, Bên chủ đầu tư chưa có hình thức xử lý đối với cácđơn vị tư vấn

- Hình thức đấu thầu rộng rãi chưa được áp dụng phổ biến trong các dự

án, các hình thức đấu thầu khác như: đấu thầu hạn chế, chỉ định thầu vẫncòn được áp dụng nhiêu Đây là nhân tố nẩy sinh nhiều tiêu cực trong đấuthầu làm ảnh hưởng đến chất lượng công tác đấu thầu

- Hồ sơ mời thầu còn nhiều tình trạng lập còn sơ sài, thiếu chính xáchoặc không đủ thông tin và chất lượng đánh giá hồ sơ dự thầu cũng chưa caodẫn đến việc phải chỉnh sửa lại mất rất nhiều thời gian

- Vấn đề quản lý hợp đồng sau đấu thầu còn nhiều bất cập, có nhữnggói thầu được tổ chức đấu thầu, sau đó, khi thực hiện lại thay đổi thiết kế,thay đổi dự toán và chủng loại vật tư, vật liệu làm phát sinh giá trị hợp đồng

Trang 26

Nhiều khi giá trị phát sinh làm vượt giá gói thầu đã được phê duyệt, có nhiềunhà thầu khi đấu thầu bỏ giá rất thấp để được trúng thầu, sau đó trong quátrình thực hiện sẽ tìm cách đề nghị chủ đầu tư thay đổi thiết kế, thay đổi dựtoán và chủng loại vật tư, vật liệu để làm tăng giá trị hợp đồng Khi đó sẽ làmảnh hưởng đến chất lượng công tác đấu thầu

- Năng lực quản lý điều hành của chủ đầu tư và của đội ngũ cán bộ làmcông tác đấu thầu còn nhiều bất cập:

+ Do làm việc trong giai đoạn chuyển đổi từ cơ chế tập trung, bao cấpsang cơ chế thị trường có sự quản lý của nhà nước nên một số cán bộ quản lýcũng như tổ chức thực hiện vẫn giữ nề nếp làm việc cũ, các vị trí quản lý quantrọng thường được giao cho những người đã làm việc lâu năm trong cơ quan,mặc dù những người này có thể không có năng lực cao và thiếu kinh nghiệmtrong công tác quản lý dự án cũng như công tác đấu thầu Các đối tượng trẻ cónăng lực thường không được giao trọng trách dẫn đến việc không sử dụnghợp lý các cán bộ làm giảm năng lực quản lý và tổ chức thực hiện

+ Đội ngũ cán bộ làm công tác thẩm định, giám sát, kiểm tra công tácđấu thầu cũng còn thiếu về số lượng, năng lực kinh nghiệm không đáp ứngđược công việc được giao Trong quá trình làm việc còn nể nang, né tránhkhông đưa ra các kiến nghị xử lý nghiêm các trường hợp sai phạm, điều nàyảnh hưởng rất lớn đến hiệu quả công tác đấu thầu

- Chế độ thông tin, báo cáo thống kê chưa tốt: Việc tổng hợp báo cáotình hình thực hiện công tác đấu thầu còn chậm, chất lượng báo cáo chưa cao,chưa phản ánh đúng hiện trạng triển khai thực hiện công tác đấu thầu

26

Trang 27

CHƯƠNG 2 PHÂN TÍCH THỰC TRẠNG CÔNG TÁC TỔ CHỨC ĐẤU THẦU XÂY LẮP CỦA VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT

NAM

2.1 GIỚI THIỆU KHÁI QUÁT VỀ VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM

2.1.1 Quá trình hình thành và phát triển của Viện Khoa

học xã hội Việt Nam

Viện Khoa học xã hội Việt Nam kể từ cơ quan tiền thân được thành lậpnăm 1953 đến nay đã có lịch sử hình thành và phát triển liên tục trên 50 năm.Trong khoảng thời gian hơn nửa thế kỷ ấy, Viện đã có bước trưởng thành vàphát triển về mọi mặt, có những đóng góp quan trọng vào sự nghiệp xây dựng

và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa cũng như sự nghiệp phát triểnkhoa học và công nghệ nước nhà nói chung, sự nghiệp phát triển khoa học xãhội và nhân văn nói riêng

Ngày 2/12/1953, Ban nghiên cứu Lịch sử - Địa lý – Văn học đượcthành lập theo Quyết định số 34/NQ/TW của Ban Chấp hành Trung ươngĐảng Lao động Việt Nam, từ giữa năm 1954 được đổi tên thành Ban nghiêncứu Văn học - Lịch sử - Địa lý, gọi tắt là Ban nghiên cứu Văn - Sử - Địa

Sau ngày miền Bắc nước ta được giải phóng và chuyển sang nhiệm vụkhôi phục kinh tế sau chiến tranh, thực hiện công cuộc cải tạo xã hội chủnghĩa và xây dựng chủ nghĩa xã hội làm cho miền Bắc ngày càng vững mạnh,thống nhất nước nhà Đây là thời kỳ đòi hỏi đất nước ta phải phát triển mạnh

mẽ khoa học và công nghệ nói chung, KHXH & NV nói riêng

Trang 28

Ngày 4 tháng 3 năm 1959, Chủ tịch nước Việt Nam Dân chủ Cộnghòa đã ký Sắc lệnh số 01/SL thành lập Ủy ban Khoa học Nhà nước trực thuộcHội đồng Chính phủ Ban Khoa học xã hội nằm trong cơ cấu tổ chức của Ủyban Khoa học Nhà nước

Ngày 11/10/1965, Ủy ban thường vụ Quốc hội đã quyết định tách Ủyban Khoa học Nhà nước thành 2 cơ quan độc lập: Ủy ban Khoa học và Kỹthuật Nhà nước và Viện Khoa học xã hội (Quyết định số 165/TVQH ngày11/10/1965 của Quốc hội )

Ngày 19/6/1967, Ủy ban thường vụ Quốc hội đã ra Quyết định số47/TVQH về việc chuyển Viện Khoa học Xã hội thành Ủy ban Khoa học Xãhội Việt Nam

Thực hiện Nghị quyết Đại hội VI, Nghị quyết 26 của Bộ Chính trị vềkhoa học và công nghệ trong sự nghiệp đổi mới, Ủy ban KHXH Việt Nam (từnăm 1993 là Trung tâm Khoa học xã hội và Nhân văn Quốc gia) đã có mộtbước chuyển dịch quan trọng, đánh dấu việc đổi mới tư duy, khắc phục sựchậm trễ của khoa học xã hội do Đại hội VI đề ra

Ngày 15 tháng 01 năm 2004, Chính phủ đã ban hành Nghị định số26/2004/NĐ-CP về việc đổi tên Trung tâm Khoa học xã hội và Nhân văn quốcgia thành Viện Khoa học xã hội Việt Nam

Trong hơn 50 năm xây dựng và phát triển, Viện Khoa học xã hội ViệtNam đã có nhiều đóng góp về mặt khoa học, được Đảng và Chính phủ đánhgiá cao, góp phần quan trọng vào việc hoạch định các chủ trương, đường lốichính sách của Đảng và Nhà nước trong từng thời kỳ và góp phần vào việcphát triển nền văn hoá, khoa học nước nhà

2.1.2 Chức năng, nhiệm vụ của Viện Khoa học xã hội

Việt Nam

28

Trang 29

Viện Khoa học xã hội Việt Nam có trách nhiệm thực hiện nhiệm vụ,quyền hạn của cơ quan thuộc Chính phủ theo quy định tại Nghị định số26/2004/NĐ-CP ngày 15/1/2004 của Chính phủ quy định chức năng, nhiệm

vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của cơ quan thuộc Chính phủ, có nhữngnhiệm vụ, quyền hạn cụ thể sau đây:

- Trình Chính phủ và Thủ tướng Chính phủ chiến lược, quy hoạch, cácchương trình, kế hoạch dài hạn, 5 năm, hàng năm của Viện và tổ chức thựchiện sau khi được phê duyêt;

- Tổ chức nghiên cứu những vấn đề khoa học xã hội của Việt Nam, khuvực và thế giới; tổng kết thực tiễn, từng bước phát triển lý luận về chủ nghĩa

xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam; giải đáp những vấn

đề khoa học xã hội của cả nước và từng vùng phục vụ cho sự phát triển kinh

tế - xã hội, văn hoá, môi trường và con người Việt Nam; cung cấp luận cứkhoa học cho việc hoạch định đường lối, chiến lược, quy hoạch và chính sáchtrong quá trình đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá;

- Tổ chức sưu tầm, nghiên cứu những di sản văn hoá của các dân tộcViệt Nam; bảo tồn và phát huy những tinh hoa văn hoá của dân tộc;

- Kết hợp nghiên cứu với đào tạo trong lĩnh vực khoa học xã hội; thựchiện đào tạo thạc sĩ và tiến sĩ khoa học xã hội theo quy định của pháp luật;tham gia phát triển nguồn nhân lực có trình độ cao theo yêu cầu của cả nước,ngành, vùng, địa phương và doanh nghiệp;

- Thẩm định và tham gia thẩm định về mặt khoa học xã hội các chươngtrình, dự án phát triển kinh tế - xã hội theo yêu cầu của Chính phủ, Thủ tướngChính phủ, các Bộ, Ngành, địa phương và doanh nghiệp;

- Tổ chức tư vấn và thực hiện dịch vụ công theo quy định của phápluật;

Trang 30

- Hợp tác nghiên cứu và đào tạo về khoa học xã hội với các tổ chứcquốc tế, các Viện, Trường đại học và cá nhân các nhà khoa học nước ngoàitheo quy định của pháp luật;

- Tổ chức điều tra cơ bản, phân tích, dự báo kinh tế - xã hội đáp ứngyêu cấu phát triển đất nước;

- Tổ chức thông tin khoa học xã hội, góp phần phổ biến tri thức khoahọc, nâng cao trình độ dân trí;

- Tham gia xây dựng, quy hoạch chiến lược, quy hoạch và chính sáchphát triển khoa học xã hội của cả nước, từng vùng và địa phương;

- Quản lý tổ chức bộ máy, biên chế, tài sản, kinh phí và chịu tráchnhiệm về quyết định các dự án đầu tư thuộc thẩm quyền theo quy định củapháp luật;

- Thực hiện các nhiệm vụ khác do Thủ tướng Chính phủ giao

30

Trang 31

Sơ đồ: 2.1: Cơ cấu tổ chức của Viện Khoa học xã hội Việt Nam

CHÍNH PHỦ

VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM

Khối cơ quan chức

2 Trung tâm Phân tích và Dự báo

3 Tạp chí Khoa học

xã hội Việt Nam

Các tổ chức nghiên cứu khoa học1 Bảo tàng Dân tộc học VN

9 Viện NC Châu Âu

10 Viện NC Con người

11 Viện NC Hán Nôm

12 Viện NC MT & PTBV

13 Viện NC Trung Quốc 14 Viện NC Tôn giáo

15 Viện NC Văn hóa

Trang 32

9 Viện NC Châu Âu

10 Viện NC Con người

11 Viện NC Hán Nôm

12 Viện NC MT & PTBV

13 Viện NC Trung Quốc 14 Viện NC Tôn giáo

15 Viện NC Văn hóa

Trang 33

2.2 THỰC TRẠNG CÔNG TÁC TỔ CHỨC ĐẤU THẦU CỦA VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM

2.2.1 Tổng quan về công tác đấu thầu của Viện Khoa

học xã hội Việt Nam

Theo phân cấp, Chủ tịch Viện Khoa học xã hội Việt Nam là cấp quyếtđịnh đầu tư các dự án đầu tư xây dựng cơ sở nghiên cứu và giảng dậy của cácViện Nghiên cứu trực thuộc, các dự án đầu tư chiều sâu trang thiết bị tăngcường năng lực nghiên cứu và phục vụ nghiên cứu nhóm B (Từ 7 đến 200 tỷđồng) và nhóm C (dưới 7 tỷ đồng) căn cứ trên cơ sở quy hoạch phát triển củaViện Khoa học xã hội Việt Nam nói riêng, cũng như của ngành Khoa học xãhội nói chung Giúp việc cho Chủ tịch Viện Khoa học xã hội Việt Nam trongcông tác này là Phòng Đầu tư xây dựng Năm 2000, Phòng Đầu tư xây dựngchỉ là một tổ chuyên viên với 3 chuyên viên, hai kỹ sư xây dựng và một cửnhân kinh tế Năm 2001, Phòng Đầu tư xây dựng được thành lập với số ngườiban đầu là 3 người Đến nay, Phòng Đầu tư xây dựng có 5 cán bộ, bao gồm 3

kỹ sư xây dựng, 1 trung cấp xây dựng, 1 cử nhân kinh tế

Thông thường, Chủ tịch Viện Khoa học xã hội Việt Nam giao cho thủtrưởng của các đơn vị sử dụng dự án làm chủ đầu tư dự án Để quản lý thựchiện dự án, chủ đầu tư thường sử dụng hình thức trực tiếp quản lý thực hiện

dự án Chủ đầu tư có thể thành lập Ban Quản lý dự án hoặc không thành lậpBan quản lý dự án mà sử dụng đội ngũ cán bộ trong bộ máy của mình có đủnăng lực chuyên môn để giúp chủ đầu tư quản lý thực hiện dự án

Trong giai đoạn từ năm 2000 đến năm 2006, Viện Khoa học xã hội ViệtNam đã thực hiện 11 dự án, bao gồm 06 dự án xây dựng và 5 dự án đầu tưchiều sâu Trong đó, có 2 dự án nhóm B và 9 dự án nhóm C Thực hiện tổng

số 130 gói thầu, bao gồm: 24 gói thầu xây lắp, 45 gói thầu thiết bị và 61 góithầu tư vấn (Phụ lục 1)

Trang 34

Công tác tổ chức đấu thầu của Viện Khoa học xã hội Việt Nam rất đadang, áp dụng nhiều phương thức đấu thầu Phương thức đấu thầu rộng rãi là

7 gói thầu (chiếm tỷ lệ là 5,38 % tổng số gói thầu thực hiện), phương thức đấuthầu hạn chế là 12 gói thầu (chiếm tỷ lệ là 9,23 % tổng số gói thầu thực hiện),phương thức chào hàng cạnh tranh là 30 gói thầu (chiếm tỷ lệ là 23,08 % tổng

số gói thầu), phương thức chỉ định thầu là 81 gói thầu (chiếm tỷ lệ là 62,31 %tổng số gói thầu) Tổng số kinh phí tiết kiệm được trong việc tổ chức đấu thầu

là 7.078 triệu đồng (giảm 5,78 % so với dự toán được duyệt) Trong đó, cácgói thầu xây lắp tiết kiệm được 5.001 triệu đồng (giảm 6,18% so với dự toánđược duyệt), các gói thầu thiết bị tiết kiệm được 2.060 triệu đồng (giảm 5,58

% so với dự toán được duyệt) và các gói thầu tư vấn tiết kiệm được 17 triệuđồng (giảm 0,37 % so với dự toán được duyệt)

2.2.2 Phân tích thực trạng công tác đấu thầu xây lắp của Viện Khoa học

xã hội Việt Nam

Trong giai đoạn từ năm 2000 đến năm 2006, Viện Khoa học xã hội ViệtNam đã tổ chức đấu thầu tổng số 24 gói thầu xây lắp, bao gồm 2 gói thầu đấuthầu rộng rãi, 8 gói thầu đấu thầu hạn chế, 2 gói thầu chào hàng cạnh tranh và

12 gói thầu chỉ định thầu Tổng giá trị dự toán được duyệt là 80.874 triệuđồng, tổng giá trị trúng thầu là 75.873 triệu đồng, tổng giá trị giảm do đấuthầu là 5.001 triệu đồng (giảm 6,18 % so với tổng giá trị dự toán các gói thầu

đã được phê duyệt), chi tiết như Phụ lục 2 Trong khuôn khổ luận văn này, tácgiả chỉ đi sâu vào phân tích thực trạng công tác tổ chức đấu thầu các gói thầuxây lắp nói trên thông qua các dự án đầu tư và các hình thức tổ chức đấu thầu

2.2.2.1 Kế hoạch đấu thầu

Lập kế hoạch đấu thầu:

Tất cả các dự án đầu tư xây dựng của Viện Khoa học xã hội Việt Namkhi triển khai thực hiện đều được lập kế hoạch đấu thầu Đối với các dự ánnhóm C, có quy mô và tính chất đơn giản nên kế hoạch đấu thầu của dự án

33

Trang 35

thường được lập và phê duyệt cùng Dự án Đối với các dự án nhóm B, do cóquy mô lớn và tính chất phức tạp nên khi lập và phê duyệt dự án đầu tư thìthiết kế và dự toán của dự án chưa được lập Do đó kế hoạch đấu thầu của dự

án thường được lập và phê duyệt sau khi thiết kế và dự toán của dự án đãđược phê duyệt

Kế hoạch đấu thầu của dự án thường bao gồm: Tên gói thầu, giá góithầu, nguồn vốn thực hiện gói thầu, phương thức đấu thầu, hình thức lựa chọnnhà thầu, thời gian tổ chức đấu thầu, loại hợp đồng và thời gian thực hiện hợpđồng Ví dụ kế hoạch đấu thầu của dự án Mở rộng Bảo tàng Dân tộc học ViệtNam được Chủ tịch Viện Khoa học xã hội Việt Nam phê duyệt ngày10/7/2006 có các nội dung chính như Phụ lục 6

Kế hoạch đấu thầu của dự án do chủ đầu tư tổ chức lập căn cứ trên thiết

kế và dự toán của dự án đã được phê duyệt Các gói thầu xây lắp hầu hết được

áp dụng hình thức đấu thầu rộng rãi, một số gói thầu có quy mô nhỏ (giá trịgói thầu nhỏ hơn 2 tỷ đồng) được áp dụng hình thức đấu thầu hạn chế; Cácgói thầu thiết bị hầu hết được áp dụng hình thức chào hàng cạnh tranh, một sốgói thầu thiết bị có cả phần lắp đặt có giá trị lớn thì được áp dụng hình thứcđấu thầu rộng rãi, một số gói thầu thiết bị có giá trị nhỏ (giá trị gói thầu nhỏhơn 500 triệu đồng) được áp dụng hình thức chỉ định thầu; tất cả các gói thầu

tư vấn được áp dụng hình thức chỉ định thầu

Thẩm định, phê duyệt kế hoạch đấu thầu:

Kế hoạch đấu thầu của dự án được Phòng Đầu tư xây dựng thẩm địnhtrước khi phê duyệt Các nội dung chính khi tiến hành thẩm định kế hoạch đấuthầu của dự án bao gồm:

- Cơ sở pháp lý (đảm bảo dự án đủ điều kiện để triển khai thực hiện);

- Các nguyên tắc phân chia gói thầu;

Trang 36

- Giá trị gói thầu;

- Hình thức tổ chức đấu thầu;

- Thời gian tổ chức đấu thầu;

- Hình thức hợp đồng, thời gian thực hiện hợp đồng;

- Tính khả thi của việc tổ chức đấu thầu theo kế hoạch đấu thầu và phùhợp với thực tế thực hiện dự án

Một số nhận xét về việc tổ chức lập, thẩm định và phê duyệt kế hoạch đấu thầu của các dự án

Nhìn chung, kế hoạch đấu thầu của các dự án đều được lập, thẩm định

và phê duyệt trước khi tổ chức đấu thầu cho các gói thầu Nội dung kế hoạchđấu thầu của các dự án được lập đầy đủ và đúng quy định, các gói thầu đượcphân chia hợp lý và được áp dụng các hình thức lựa chọn nhà thầu theo đúngquy định Tuy nhiên, công tác kế hoạch đấu thầu của Viện Khoa học xã hộiViệt Nam vẫn còn tồn tại một số hạn chế sau:

- Số lượng các gói thầu áp dụng hình thức đấu thầu rộng rãi chưa đượcphổ biến Trong giai đoạn 2000 – 2006 chỉ có 02 gói thầu được áp dụng hìnhthức đấu thầu rộng rãi trên tổng số 24 gói thầu xây lắp được tổ chức đấu thầu,đạt 8,33 % (Phụ lục 2) Trong khi đó hình thức này là hình thức mang lại hiệuquả cao nhất cho công tác đấu thầu

- Kế hoạch đấu thầu của các dự án thường phải thay đổi, có những dự

án kế hoạch đấu thầu phải điều chỉnh và phê duyệt lại rất nhiều lần do giá góithầu chưa có phần dự phòng trượt giá hay thay đổi thiết kế, dự toán nên trongthời gian từ khi kế hoạch đấu thầu được phê duyệt đến khi gói thầu được tổchức đấu thầu nếu có trượt giá hay thay đổi thiết kế, dự toán sẽ dẫn đến giágói thầu thay đổi và khi đó kế hoạch đấu thầu phải lập và phê duyệt lại

35

Trang 37

- Kế hoạch đấu thầu của một số dự án được lập chưa hợp lý về mặt thờigian tổ chức đấu thầu khi phối hợp cùng các gói thầu khác trong cùng một dự án.

2.2.2.2 Tổ chức đấu thầu

* Đấu thầu rộng rãi:

- Tóm tắt gói thầu: (Phụ lục 3 - gói thầu số 1 và số 2).

- Quá trình tổ chức đấu thầu:

Hai gói thầu được tổ chức đấu thầu rộng rãi nêu trên thuộc 2 dự ánnhóm B của Viện Khoa học xã hội Việt Nam

+ Gói thầu thứ 1: Hoàn thiện, điện, nước của Tổ hợp công trình: "Viện

Thông tin KHXH, Thư viện Tổng hợp, Viện Khoa học xã hội Việt Nam"

Tổ hợp công trình được đầu tư theo quyết định số 289/TTg ngày15/5/1995 của Thủ tướng Chính phủ bao gồm hai toà nhà được đầu tư thành 2giai đoạn, giai đoạn 1 là đầu tư xây dựng toà nhà 15 tầng làm trụ sở làm việccủa Viện Khoa học xã hội Việt Nam và 10 Viện trực thuộc Giai đoạn 2 là đầu

tư xây dựng toà nhà 14 tầng làm trụ sở làm việc của Viện Thông tin KHXH vàThư viện tổng hợp của Viện Khoa học xã hội Việt Nam Giai đoạn 1 đã kếtthúc đưa vào sử dụng vào 12/2005, hiện nay Viện Khoa học xã hội Việt Namđang tiến thực hiện dự án đối với giai đoạn 2

Giai đoạn 1 của dự án đã triển khai thực hiện trong một thời gian dài từnăm 1995 đến năm 2005 Vì vậy, dự án trải qua nhiều chủ đầu tư: khi chuẩn bịđầu tư dự án thì chủ đầu tư là Viện trưởng Viện Thông tin KHXH trực thuộcViện Khoa học xã hội Việt Nam, đến khi dự án triển khai thực hiện thì trựctiếp Giám đốc Trung tâm KHXH và NVQG (nay là Chủ tịch Viện Khoa học

xã hội Việt Nam) làm chủ đầu tư của dự án, đến khi gần kết thúc dự án thìChủ tịch Viện Khoa học xã hội Việt Nam giao cho Chánh Văn phòng ViệnKhoa học xã hội Việt Nam làm chủ đầu tư của dự án Trong quá trình triển

Trang 38

khai thực hiện dự án Viện Khoa học xã hội Việt Nam có thành lập một Banquản lý dự án giúp chủ đầu tư quản lý thực hiện dự án, bao gồm một kỹ sưxây dựng làm Trưởng ban, hai cán bộ kỹ thuật và một kế toán dự án.

Tại thời điểm tổ chức thực hiện gói thầu nêu trên thì chủ đầu tư của dự

án là Giám đốc Trung tâm KHXH và NVQG (nay là Chủ tịch Viện Khoa học

xã hội Việt Nam) Vì vậy, người có thẩm quyền quyết định đầu tư được ủyquyền cho một Phó Giám đốc Trung tâm (nay là Phó Chủ tịch)

Lập, thẩm định và phê duyệt hồ sơ mời thầu

Sau khi Kế hoạch đấu thầu điều chỉnh của dự án được cấp quyết địnhđầu tư phê duyệt ngày 26/6/2000, chủ đầu tư tiến hành lập HSMT Do không

đủ số lượng cán bộ cũng như không đủ năng lực để tự thực hiện nên chủ đầu

tư đã thuê đơn vị tư vấn là Công ty Tư vấn Xây dựng dân dụng Việt Nam lậpHSMT và đánh giá HSDT cho các gói thầu nêu trên

Căn cứ vào thiết kế và dự toán đã được phê duyệt, đơn vị tư vấn tiếnhành lập HSMT giúp chủ đầu tư HSMT bao gồm các nội dung sau:

- Giới thiệu khái quát về dự án và gói thầu gồm: thời gian và địa điểmthực hiện, chủ đầu tư, nguồn vốn thực hiện, các hồ sơ pháp lý…

- Các điều kiện tiên quyết loại bỏ hồ sơ dự thầu;

- Các yêu cầu về năng lực, kinh nghiệm của nhà thầu;

- Các yêu cầu về kỹ thuật, bao gồm yêu cầu theo hồ sơ thiết kế kỹ thuậtkèm theo bảng tiên lượng, chỉ dẫn kỹ thuật và các yêu cầu cần thiết khác;

- Yêu cầu về mặt tài chính, thương mại, bao gồm các chi phí để thựchiện gói thầu, giá chào và biểu giá chi tiết, phương thức và điều kiện thanhtoán, nguồn tài chính, đồng tiền dự thầu và các điều khoản nêu trong điều kiệnchung và điều kiện cụ thể của hợp đồng;

37

Trang 39

- Tiêu chuẩn đánh giá

Sau khi Ban quản lý dự án giúp chủ đầu tư kiểm tra lại chủ đầu tư gửiHSMT đến Phòng Đầu tư xây dựng thẩm định và Cấp quyết định đầu tư phêduyệt

Mời thầu, tiếp nhận hồ sơ dự thầu và mở thầu

Trong thời gian này, chủ đầu tư tiến hành đăng báo thông báo mời thầutrong ba số liên tiếp Sau khi HSMT được phê duyệt, ngày 7/7/2000 chủ đầu

tư tiến hành bán HSMT cho các nhà thầu đến đăng ký mua

Trong thời gian các nhà thầu chuẩn bị HSDT, đơn vị tư vấn giúp chủđầu tư xây dựng tiêu chuẩn và phương pháp đánh giá HSDT (gọi tắt là bảngđiểm), bảng điểm bao gồm các tiêu chí được xây dựng căn cứ theo các yêucầu về năng lực kinh nghiệm, kỹ thuật và tài chính đã nêu trong HSMT Bảngđiểm được Phòng Đầu tư xây dựng thẩm định và được cấp quyết định đầu tưphê duyệt trước thời điểm mở thầu

Ngày 24/7/2000 có 07 nhà thầu nộp HSDT, ngày 25/7/2000 chủ đầu tưtiến hành mở thầu công khai có sự tham gia của đại diện đơn vị tư vấn đấuthầu, đại diện cấp quyết định đầu tư và đại diện các nhà thầu tham dự Sau khi

mở thầu, chủ đầu tư sẽ ký tắt vào các trang bản gốc của các HSDT, một bộbản sao của các HSDT được bàn giao cho đơn vị tư vấn để tiến hành đánh giáHSDT, các bộ còn lại sẽ được chủ đầu tư lưu theo chế độ mật

Đánh giá hồ sơ dự thầu

Sau khi đánh giá sơ bộ các HSDT, trong số 07 hồ sơ dự thầu tham dự

có 03 hồ sơ dự thầu bị loại bỏ do không đủ điều kiện về năng lực và kinhnghiệm theo yêu cầu của HSMT Còn lại 04 HSDT đủ điều kiện về năng lực,kinh nghiệm được đơn vị tư vấn đưa vào đánh giá chi tiết

Trang 40

Trong phần đánh giá chi tiết 04 HSDT, cả 04 HSDT đều đạt đủ điểm kỹthuật và được đưa vào đánh giá ở bước tiếp theo là bước đánh giá về giá dựthầu của các HSDT.

Sau khi xác định giá đánh giá của 04 HSDT thì HSDT của Tổng công

ty xây dựng và phát triển hạ tầng có giá đánh giá thấp nhất và được đơn vị tưvấn kiến nghị là đơn vị trúng thầu Ngày 29/9/2000, đơn vị Tư vấn lập báocáo đánh giá HSDT và báo cáo kết quả với chủ đầu tư Chủ đầu tư kiểm tra lại

và làm tờ trình Phòng Đầu tư thẩm định và cấp quyết định đầu tư phê duyệtvào ngày 19/10/2000

Thẩm định kết quả đấu thầu:

Phòng Đầu tư xây dựng tiếp nhận toàn bộ hồ sơ và tiến hành thẩm định

Do số lượng cán bộ ít nên kết quả đấu thầu chỉ do một kỹ sư xây dựng thẩmđịnh và một kỹ sư kinh tế xây dựng kiểm tra lại trước khi trình cấp quyết địnhđầu tư phê duyệt

Cán bộ thẩm định tiến hành thẩm định:

- Các căn cứ pháp lý của việc tổ chức đấu thầu;

- Quy trình và các mốc thời gian trong quá trình tổ chức đấu thầu;

- Nội dung đánh giá các HSDT của đơn vị Tư vấn

Ngày 30/10/2000, Phòng Đầu tư xây dựng có báo cáo kết quả thẩmđịnh kết quả đấu thầu trình cấp quyết định đầu tư Phòng Đầu tư xây dựng báocáo kết quả thẩm định như sau:

- Gói thầu đủ cơ sở pháp lý để tổ chức đấu thầu;

- Quy trình và các mốc thời gian nhìn chung là đảm bảo, riêng thời gianđánh giá HSDT quá dài, vượt quy định của nhà nước Tổng thời gian đánh giáHSDT kể từ ngày mở thầu đến ngày chủ đầu tư có báo cáo trình kết quả đấu

39

Ngày đăng: 27/11/2019, 09:18

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w