1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Hoàn thiện công tác xây dựng kế hoạch sản xuất kinh doanh tại Công ty Thông tin di động

116 75 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 116
Dung lượng 1,52 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Các phương án kế hoạch với các sản phẩm khác nhau theo thời gian chiến lược, chương trình, dự án, kế hoạch tác nghiệp… là công cụ để điều hành và chỉ huy sản xuất, là cơ sở xác định nhiệ

Trang 1

CHÚ THÍCH THUẬT NGỮ VÀ CÁC CHỮ VIẾT TẮT

VNPT Tập đoàn Bưu chính Viễn thông Việt Nam

VinaPhone Công ty Dịch vụ viễn thông

Viettel Tổng Công ty Điện tử Viễn thông Quân đội

S-Fone Công ty cổ phần dịch vụ bưu chính viễn thông Sài Gòn

HT Mobile Công ty cổ phần viễn thông Hà Nội

EVN Công ty điện tử viễn thông điện lực

GSM Global System for Mobile Communications

CDMA Code Division Multiple Access

MSC Mobile Services Switching Center

Trang 2

PHẦN MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Đối với doanh nghiệp, kế hoạch hoá là khâu đầu tiên, bộ phận quan trọngcủa công tác quản lý Hoạt động này giúp doanh nghiệp hoạch định các mục tiêuhoạt động, dự báo các khả năng và nguồn lực, xác định và đánh giá các phương

án hoạt động nhằm thực hiện các mục tiêu sản xuất kinh doanh Các phương án

kế hoạch với các sản phẩm khác nhau theo thời gian (chiến lược, chương trình,

dự án, kế hoạch tác nghiệp…) là công cụ để điều hành và chỉ huy sản xuất, là cơ

sở xác định nhiệm vụ và mối quan hệ công tác giữa các bộ phận và giữa nhữngngười lao động trong quá trình thực thi các nhiệm vụ sản xuất kinh doanh

Nước ta đang hội nhập mạnh mẽ vào nền kinh tế khu vực và thế giới vớiđỉnh cao là việc gia nhập tháng 11/2006 Cùng với quá trình hội nhập, môitrường kinh doanh ngày càng trở nên biến động và mang tính cạnh tranh cao.Thực tế cho thấy, để phát triển bền vững và đạt được tối đa mục tiêu đã đề ratrong phạm vi nguồn lực hữu hạn, càng trong môi trường cạnh tranh cao, càngđòi hỏi doanh nghiệp phải có kế hoạch kinh doanh cụ thể Việc lập các mụcđích, quyết định các mục tiêu của Công ty, huy động các nguồn lực thực hiện vàxác định cách đánh giá việc thực hiện các mục tiêu đó, giúp công ty tận dụngcác cơ hội để tăng khả năng thành công và dự phòng các rủi ro có thể xảy ra

Viễn thông là một ngành trong hệ thống kết cấu hạ tầng của nền kinh tếquốc dân, có vai trò là ngành kinh tế mũi nhọn của đất nước, phải phát triểntrước một bước so với các ngành kinh tế khác Trong đó, dịch vụ thông tin diđộng là một trong những dịch vụ viễn thông cơ bản Cùng với quá trình hội nhập

và phát triển, thị trường viễn thông Việt Nam đang và sẽ có nhiều biến động lớntheo hướng tự do hơn, mở cửa hơn Trong lĩnh vực kinh doanh dịch vụ thông tin

di động, tính đến thời điểm hiện nay, ngoài bốn nhà cung cấp là Công ty Thôngtin di động VMS-MobiFone, Công ty dịch vụ viễn thông VinaPhone, và Công tyđiện tử viễn thông quân đội (Viettel), Công ty cổ phần viễn thông Hà Nội (HTMobile) khai thác công nghệ GSM, có thêm 03 doanh nghiệp cung cấp dịch vụtheo chuẩn công nghệ CDMA là Công ty cổ phần dịch vụ bưu chính viễn thôngSài gòn (S-Fone), Công ty điện tử viễn thông điện lực (EVN Telecom)

Công ty Thông tin di động Việt nam (Vietnam Mobile Telecom ServiceCompany - VMS) là doanh nghiệp trực thuộc Tổng công ty Bưu chính Viễnthông Việt nam, nay là Tập đoàn Bưu chính Viễn thông Việt nam - VNPT Đượcthành lập tháng 04/1993, sự ra đời của Công ty đã đánh dấu một cột mốc quan

Trang 3

trọng trong sự phát triển của lĩnh vực thông tin di động nói riêng và của ngànhbưu chính - viễn thông nói chung Là doanh nghiệp đầu tiên kinh doanh loạihình dịch vụ thông tin di động, Công ty Thông tin di động đã sớm khẳng địnhđược vị thế của mình, nhanh chóng chiếm lĩnh được thị trường, kinh doanh cólãi, đưa thương hiệu dịch vụ MobiFone trở thành thương hiệu có uy tín trên thịtrường

Để tiếp tục tăng trưởng và phát triển, giữ vững vị trí dẫn đầu trong môitrường kinh doanh mang tính cạnh tranh cao trong thời gian tới, đòi hỏi Công tyThông tin di động phải đặc biệt chú trọng thực hiện tốt công tác kế hoạch Cáccán bộ quản trị, đặc biệt là các cán bộ quản trị cấp cao, cần nhận thức đầy đủ vaitrò, tầm quan trọng của công tác kế hoạch hoá để vận dụng trong quản trị điềuhành hoạt động doanh nghiệp Chính vì lý do đó, tác giả đã lựa chọn đề tài

“Hoàn thiện công tác xây dựng kế hoạch sản xuất kinh doanh tại Công ty Thông tin di động” Mặc dù đây là một vấn đề quan trọng và cấp thiết đối với

Công ty nhưng cho tới nay vẫn chưa có tài liệu nghiên cứu cụ thể về công tácxây dựng kế hoạch tại Công ty Thông tin di động

3 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của đề tài là công tác xây dựng kế hoạch sản xuất-kinh doanh hàng năm tại Công ty Thông tin di động trong giai đoạn từ năm

2003 - 2007

4 Phương pháp nghiên cứu

Sử dụng một số phương pháp nghiên cứu kinh tế đặc trưng như phươngpháp phân tích tổng hợp, phương pháp hệ thống, phương pháp thống kê, so sánh,khảo sát thực nghiệm

5 Các kết quả đã nghiên cứu cho đến nay

Cho đến nay, chưa có tài liệu nghiên cứu cụ thể nào về công tác xây dựng

kế hoạch kinh doanh tại Công ty Thông tin di động trên cơ sở những lý luậnchung về công tác xây dựng kế hoạch trong doanh nghiệp

6 Kết cấu của luận văn

Trang 4

Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, luận vănđược chia thành ba chương:

- Chương I: Lý luận chung về công tác xây dựng kế hoạch kinh doanh củadoanh nghiệp viễn thông

- Chương II: Thực trạng công tác xây dựng kế hoạch sản xuất - kinh doanhcủa Công ty Thông tin di động

- Chương III: Một số giải pháp hoàn thiện công tác xây dựng kế hoạch sảnxuất - kinh doanh tại Công ty Thông tin di động

Trang 5

ƯƠ NG I

LÝ LUẬN CHUNG VỀ CÔNG TÁC XÂY DỰNG KẾ HOẠCH

KINH DOANH CỦA DOANH NGHIỆP VIỄN THÔNG

I KẾ HOẠCH HOÁ HOẠT ĐỘNG KINH DOANH CỦA DOANH NGHIỆP

1 Khái niệm chung về kế hoạch hoá hoạt động kinh doanh

Kế hoạch hoá từ lâu đã được coi như là một công cụ để thiết lập cũng nhưthực hiện các quyết định chiến lược Tuy nhiên vai trò này không phải lúc nàocũng được thừa nhận một cách nhất quán, nó có thể là công cụ quản lý khôngthể thiếu được đối với đối tượng này, nhưng lại là nguyên nhân dẫn tới sự cứngnhắc đối với đối tượng khác Kế hoạch hoá có nhiều ý nghĩa khác nhau và đãtừng là chủ đề của nhiều ý kiến trái ngược, cho dù nó liên quan đến doanhnghiệp hay là nền kinh tế quốc dân

Hiểu một cách tổng quát nhất, kế hoạch hoá là một phương thức quản lýtheo mục tiêu Nó là hoạt động của con người trên cơ sở nhận thức và vận dụngcác quy luật xã hội và tự nhiên, đặc biệt là các quy luật kinh tế để tổ chức quản

lý các đơn vị kinh tế - kỹ thuật, các ngành, các lĩnh vực hoặc toàn bộ nền sảnxuất xã hội theo những mục tiêu thống nhất

Theo cách hiểu trên, kế hoạch hoá được thực hiện ở nhiều quy mô vàphạm vi khác nhau như: kế hoạch hoá theo vùng, địa phương, kế hoạch hoángành, lĩnh vực, kế hoạch hoá doanh nghiệp Kế hoạch hoá hoạt động sản xuất-kinh doanh của doanh nghiệp (gọi tắt là kế hoạch hoá doanh nghiệp) được xácđịnh là một phương thức quản lý doanh nghiệp theo mục tiêu, nó bao gồm toàn

bộ các hành vi can thiệp một cách có chủ định của các nhà lãnh đạo và quản lýdoanh nghiệp vào các lĩnh vực sản xuất kinh doanh của đơn vị mình nhằm đạtđược những mục tiêu đã đề ra Hay nói cách khác, kế hoạch hoá doanh nghiệp làmột quy trình ra quyết định cho phép xây dựng một hình ảnh mong muốn vềtrạng thái tương lai của doanh nghiệp và quá trình tổ chức triển khai thực hiệnmong muốn đó

Như vậy, kế hoạch hoá trong doanh nghiệp là thể hiện kỹ năng tiên đoánmục tiêu phát triển và tổ chức quá trình thực hiện mục tiêu đặt ra Công tác nàybao gồm các hoạt động:

- Lập kế hoạch: đây là khâu giữ vị trí quan trọng hàng đầu trong công tác kếhoạch hoá doanh nghiệp, nó là quá trình xác định các mục tiêu, chỉ tiêu kếhoạch và đề xuất chính sách giải pháp áp dụng Kết quả của việc lập kế

Trang 6

hoạch là một bản kế hoạch của doanh nghiệp được hình thành và nó chính

là cơ sở cho việc thực hiện các công tác sau của kế hoạch hoá Bản kếhoạch doanh nghiệp là hệ thống các phương hướng, nhiệm vụ, mục tiêu vàcác chỉ tiêu nguồn lực vật chất, nguồn lực tài chính cần thiết cho việc thựchiện mục tiêu phát triển doanh nghiệp đặt ra trong thời kỳ kế hoạch nhấtđịnh Kế hoạch doanh nghiệp chính là thể hiện ý đồ phát triển của các nhàlãnh đạo và quản lý đối với hoạt động sản xuất kinh doanh của doanhnghiệp và các giải pháp thực thi

Mặc dù là định hướng tương lai, nhưng việc lập kế hoạch khác với việc dựbáo và xác định triển vọng Quá trình dự báo thường nhằm mục đích trả lời

câu hỏi cái gì sẽ xảy ra thông qua con đường ngoại suy, việc xác định triển

vọng cũng trả lời câu hỏi trên nhưng bằng con đường nội suy Kế hoạchngoài các nội dung trên còn xác định cái mà chúng ta sẽ làm để đạt mụctiêu

Như vậy, có thể hiểu bản kế hoạch doanh nghiệp được hình thành thôngqua những câu hỏi mang tính bản chất của nó như sau: (1) Trạng thái củadoanh nghiệp hiện tại, kết quả và những điều kiện hoạt động kinh doanh?(2) Hướng phát triển của doanh nghiệp? (3) Làm thế nào để sử dụng cóhiệu quả nguồn lực của doanh nghiệp nhằm đạt được các mục tiêu đã đề ra?

- Tổ chức thực hiện kế hoạch, kiểm tra, điều chỉnh và đánh giá kế hoạch lànhững hành động tiếp sau của công tác kế hoạch hoá nhằm đưa kế hoạchvào thực tế hoạt động của doanh nghiệp Đây là quá trình tổ chức, phối hợphoạt động của các bộ phận, các nguồn lực của doanh nghiệp, triển khai cáchoạt động khác nhau theo các mục tiêu kế hoạch đặt ra Quá trình triển khai

kế hoạch không chỉ đơn thuần là xem xét những hoạt động cần thiết củadoanh nghiệp mà nó còn thể hiện ở khả năng dự kiến, phát hiện những điềubất ngờ có thể xuất hiện trong quá trình hoạt động và khả năng ứng phó với

nó Quá trình kiểm tra, theo dõi, điều chỉnh kế hoạch giúp doanh nghiệpkhông chỉ xác định được tất cả những rủi ro trong hoạt động của mình màcòn có khả năng quản lý rủi ro với sự hỗ trợ của việc tiên đoán có hiệu quả

và xử lý những rủi ro đó trong quá trình thực hiện mục tiêu đặt ra Công tácđánh giá kế hoạch sẽ là cơ sở giúp cho doanh nghiệp xây dựng nhữngphương án kế hoạch tiếp sau một cách chính xác và sát thực hơn

2 Phân loại kế hoạch hoá trong doanh nghiệp

Đứng trên mỗi góc độ khác nhau, kế hoạch hoá trong doanh nghiệp đượcphân chia thành những loại khác nhau

Trang 7

2.1 Kế hoạch hóa theo mục tiêu

Kế hoạch hoá theo mục tiêu là việc phân đoạn kế hoạch theo từng côngviệc cụ thể nhằm hoàn thành mục tiêu tại một thời điểm xác định Kế hoạch hoátheo mục tiêu thường có tại các doanh nghiệp xây lắp, cung cấp dịch vụ tư vấn,

2.2 Kế hoạch hoá theo thời gian

Đây là thể hiện việc phân đoạn kế hoạch theo thời gian cần thiết để thựchiện chỉ tiêu đặt ra Theo góc độ này, kế hoạch doanh nghiệp bao gồm ba bộphận cấu thành:

- Kế hoạch dài hạn bao trùm lên khoảng thời gian dài khoảng 10 năm Quá trình

soạn lập kế hoạch dài hạn được đặc trưng bởi:

+ Môi trường liên quan được hạn chế bởi thị trường mà doanh nghiệp đã

có mặt;

+ Dự báo trên cơ sở ngoại suy từ quá khứ, bao gồm xu hướng dự tính củanhu cầu, giá cả và hành vi cạnh tranh;

+ Chủ yếu nhấn mạnh các ràng buộc về tài chính;

+ Sử dụng rộng rãi các phương pháp kinh tế lượng để dự báo

Cần lưu ý rằng kế hoạch dài hạn không đồng nghĩa với kế hoạch chiếnlược vì kế hoạch chiến lược bao trùm nội dung khác không phải chỉ đứng trêngóc độ thời gian

- Kế hoạch trung hạn cụ thể hoá những định hướng của kế hoạch dài hạn ra các

khoảng thời gian ngắn hơn, thường là 3 hoặc 5 năm

- Kế hoạch hàng năm: thường được gọi là kế hoạch sản xuất - kinh doanh Kế

hoạch sản xuất - kinh doanh đề ra các chỉ tiêu cụ thể phải đạt được trong năm kếhoạch, đồng thời bao gồm các phương pháp cụ thể sử dụng nguồn lực của doanhnghiệp để đạt được mục tiêu Kế hoạch năm phản ánh mọi hoạt động của doanhnghiệp dự kiến thực hiện trong năm kế hoạch như tiêu thụ, sản xuất, kỹ thuậtcông nghệ, tiền lương,…

- Kế hoạch quý, 06 tháng: là việc chia nhỏ kế hoạch năm nhằm tiến hành các

phân tích, đánh giá tình hình thực hiện trong thời gian qua, đề ra những công

Trang 8

việc cần thực hiện để hoàn thành kế hoạch năm, hoặc điều chỉnh kế hoạch theothực tế Nhìn chung, kế hoạch quý, 06 tháng chỉ bao gồm các chỉ tiêu chủ yếu,quan trọng trong kế hoạch của doanh nghiệp như sản xuất, doanh thu, đầu tư,…

- Kế hoạch tác nghiệp tháng, tuần, ngày: là việc chia nhỏ các kế hoạch quý

nhằm phân tải hoạt động của doanh nghiệp một cách hợp lý Đồng thời giúp cáccấp quản trị phát hiện kịp thời các đột biến trong quá trình kinh doanh để có giảipháp

Việc phân chia thời hạn của các kế hoạch chỉ mang tính tương đối, nhất làđối với những điều kiện thị trường hiện nay thay đổi với tốc độ nhanh hơn nhiều

so với cách đây vài thập kỷ Do vậy, trong những lĩnh vực mà điều kiện thịtrường biến động nhiều (chu kỳ thay đổi công nghệ ngày càng nhanh, vòng đờisản phẩm ngày càng ngắn,…) thì những kế hoạch từ 3 đến 5 năm cũng có thểcoi là dài hạn

Ba loại kế hoạch ngắn, trung và dài hạn cần phải được liên kết chặt chẽvới nhau và không được phủ nhận lẫn nhau Cần thiết phải nhấn mạnh đến tầmquan trọng của việc giải quyết mối quan hệ giữa các loại kế hoạch theo thời gian

vì trên thực tế, đã nảy sinh nhiều lãng phí từ các quyết định theo những tìnhhuống trước mắt mà không đánh giá được ảnh hưởng của các quyết định này đốivới các mục tiêu dài hạn hơn Nhiều kế hoạch ngắn hạn đã không những khôngđóng góp gì cho một kế hoạch dài hạn mà còn gây nhiều trở ngại, hay có nhữngđòi hỏi nhiều đối với các kế hoạch dài hạn Ví dụ như nếu một doanh nghiệp nhỏnhận một đơn đặt hàng lớn mà không tính đến ảnh hưởng của đơn đặt hàng tớikhả năng sản xuất hay cung cấp tiền mặt của doanh nghiệp thì điều đó có thể cảntrở tới khả năng tương lai để trang trải tài chính cho mở rộng một cách hệ thống,

đủ để tạo ra những thay đổi trong chương trình dài hạn của doanh nghiệp Trongnhiều trường hợp quyết định sa thải một số công nhân không có lý do chínhđáng có thể cản trở mục tiêu dài hạn của công ty trong việc phát triển mộtchương trình nhân sự đúng đắn và có hiệu quả

Để thực hiện được mối quan hệ giữa kế hoạch dài, trung và ngắn hạn, cácnhà lãnh đạo chủ chốt các doanh nghiệp nên thường xuyên xem xét và sửa đổicác quyết định trước mắt xem chúng có phục vụ các chương trình dài hạn haykhông và các nhà quản lý cấp dưới nên được thông báo một cách thường xuyên

về kế hoạch dài hạn của doanh nghiệp sao cho các quyết định của họ phù hợpvới các mục tiêu dài hạn của doanh nghiệp

2.3 Kế hoạch hoá theo cấp độ

Trang 9

Xét về nội dung, tính chất hay cấp độ của kế hoạch hoá, chúng ta có thểchia hệ thống kế hoạch doanh nghiệp làm hai bộ phận: kế hoạch chiến lược và

kế hoạch chiến thuật (hay kế hoạch tác nghiệp)

- Kế hoạch chiến lược

Khái niệm chiến lược xuất phát từ tiếng Hy Lạp và xuất hiện đầu tiêntrong lĩnh vực quân sự Chiến lược có nghĩa là “nghệ thuật của tướng lĩnh” đểtìm ra con đường đúng đắn nhất giành chiến thắng Lập kế hoạch chiến lược chodoanh nghiệp phổ biến vào những năm 1960 đối với các doanh nghiệp lớn khi

mà hoạt động của chúng trở nên phức tạp hơn, đồng thời cạnh tranh gay gắt hơn,

đa dạng hơn trong khi các tiến bộ về khoa học công nghệ trở nên tăng tốc hơnkhiến cho các doanh nghiệp khó khăn trong việc lựa chọn mục tiêu phát triểncông nghệ và sản phẩm mới, thâm nhập thị trường, lựa chọn các phương thứcphát triển …

Kế hoạch chiến lược áp dụng trong các doanh nghiệp là định hướng lớncho phép doanh nghiệp thay đổi, cải thiện, củng cố vị thế cạnh tranh của mình

và những phương pháp cơ bản để đạt được mục tiêu đó Soạn lập kế hoạch chiếnlược không phải từ những kỳ vọng mà doanh nghiệp muốn đạt tới mà là xuấtphát từ khả năng thực tế của doanh nghiệp và như vậy nó là sự phản ứng củadoanh nghiệp đối với hoàn cảnh khách quan bên trong và bên ngoài của hoạtđộng doanh nghiệp

Thường thì kế hoạch chiến lược được soạn thảo cho thời gian dài, tuy vậy

nó không đồng nghĩa với kế hoạch dài hạn Nhiều doanh nghiệp đã dựa vàonhững kế hoạch chiến lược ngắn hạn Nói đến kế hoạch chiến lược không phải lànói đến góc độ thời gian của kế hoạch mà nói đến tính chất định hướng của kếhoạch và bao gồm toàn bộ mục tiêu tổng thể phát triển doanh nghiệp Tráchnhiệm soạn thảo kế hoạch chiến lược trước hết là của lãnh đạo doanh nghiệp, vì

kế hoạch chiến lược đòi hỏi trách nhiệm rất cao, quy mô hoạt động rộng lớn củacác nhà quản lý

- Kế hoạch chiến thuật

Kế hoạch chiến thuật là công cụ cho phép chuyển các định hướng chiếnlược thành các chương trình áp dụng cho các bộ phận của doanh nghiệp trongkhuôn khổ các hoạt động của doanh nghiệp, nhằm thực hiện được các mục tiêucủa kế hoạch chiến lược Kế hoạch tác nghiệp được thể hiện cụ thể ở những bộphận kế hoạch riêng biệt trong tổng thể hoạt động kinh doanh như: kế hoạch sảnxuất, kế hoạch marketing, kế hoạch tài chính, nhân sự của doanh nghiệp

Trang 10

Kế hoạch chiến lược tập trung vào các lĩnh vực có liên quan trực tiếp đếntương lai của doanh nghiệp, trong khi đó kế hoạch tác nghiệp liên quan đến tất

cả các lĩnh vực và tất cả các bộ phận của doanh nghiệp, quy trình kế hoạch hoáchiến lược đòi hỏi chủ yếu là sự tham gia của các nhà lãnh đạo trong khi kếhoạch tác nghiệp huy động tất cả các cán bộ phụ trách bộ phận

3 Vai trò của kế hoạch hoá đối với hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp

Trong nền kinh tế thị trường, các doanh nghiệp hoạt động tuân theo cácquy luật kinh tế khách quan, hay còn gọi là cơ chế thị trường Do đó, những dấuhiệu thị trường là cơ sở để các doanh nghiệp quyết định và thực hiện hành vi sảnxuất, kinh doanh của mình Tuy vậy, kế hoạch hoá vẫn hết sức cần thiết và hữuhiệu của các doanh nghiệp Sở dĩ như vậy xuất phát từ vai trò của kế hoạch hoátrong quản lý doanh nghiệp Những vai trò chính được thể hiện như sau:

- Kế hoạch hoá giúp cho doanh nghiệp ứng phó với những thay đổi của môi

trường kinh doanh: Trong nền kinh tế thị trường, môi trường kinh doanhthường xuyên biến động, tác động mạnh đến doanh nghiệp Đồng thờitrong bản thân doanh nghiệp, các mối quan hệ tương tác giữa các bộ phận,các hoạt động khác nhau cũng vô cùng chặt chẽ Kế hoạch hoá giúp nhàquản trị phác thảo bức tranh tổng thể của doanh nghiệp, các lực lượng tácđộng từ bên ngoài, các mối quan hệ đan xen bên trong Nhờ đó, khi mỗiyếu tố thay đổi, doanh nghiệp có thể nhận thức nhanh chóng điều đó cóảnh hưởng gì, cần giải quyết như thế nào để tận dụng cơ hội hoặc giảmthiểu rủi ro

- Kế hoạch hoá giúp doanh nghiệp khai thác các nguồn lực, tập trung vào

việc thực hiện các mục tiêu của doanh nghiệp Kế hoạch hoá là nhằm đạtđược các mục tiêu của doanh nghiệp, cho nên chính các hoạt động củacông tác kế hoạch hoá là tập trung sự chú ý vào những mục tiêu này.Thông qua sự tập trung vào mục tiêu, các nguồn lực của doanh nghiệpđược khai thác tối đa

- Kích thích sự tham gia một cách chủ động của các thành viên trong doanh

nghiệp vào hoạt động kinh doanh Việc lập kế hoạch không chỉ giúp cáccấp quản trị, mà toàn thể nhân viên trong doanh nghiệp suy nghĩ, đề xuấtcác ý tưởng, giải pháp nhằm phát triển và nâng cao hiệu quả sản xuất kinhdoanh Mặt khác, kế hoạch được Hội đồng quản trị hay Giám đốc Công typhê duyệt và giao cho các đơn vị trực thuộc, là nhiệm vụ của đơn vị Đểhoàn thành nhiệm vụ, toàn thể đơn vị đó phải chủ động tham gia vào quátrình triển khai thực hiện kế hoạch, đánh giá, điều chỉnh,…

Trang 11

- Tạo ra sự phối hợp tốt giữa các bộ phận trong doanh nghiệp Kế hoạch

hoá là hệ thống bao gồm kế hoạch chung của doanh nghiệp và các bộphận trực thuộc Các kế hoạch bộ phận này có những chỉ tiêu riêng nhưnggiữa chúng có quan hệ mật thiết với nhau mà tác dụng của nó không gìngoài việc hướng tới hoàn thành kế hoạch chung Trong quá trình kếhoạch hoá, giữa các bộ phận thường xuyên có những mâu thuẫn mà kếtquả của nó dẫn tới việc các cấp quản trị phải điều hoà, giải quyết Chínhbởi vậy, kế hoạch hoá giúp các bộ phận có xu hướng phối hợp tốt vớinhau trong hoạt động

- Tạo ra hệ thống kiểm tra có hiệu quả hoạt động sản xuất - kinh doanh của

doanh nghiệp Kết quả sản xuất kinh doanh được so sánh với kế hoạch đã

đề ra, phân tích đánh giá nguyên nhân dẫn tới việc hoàn thành hay khônghoàn thành kế hoạch Do đó, nó trở thành hệ thống kiểm tra tự nhiên, chitiết, đầy đủ và có hiệu quả đối với mọi hoạt động sản xuất kinh doanh củadoanh nghiệp

II KẾ HOẠCH SẢN XUẤT - KINH DOANH CỦA DOANH NGHIỆP

1 Các bộ phận của kế hoạch sản xuất - kinh doanh

Kế hoạch sản xuất - kinh doanh đề ra các chỉ tiêu cụ thể phải đạt đượctrong năm kế hoạch Nó cũng đưa ra kế hoạch hành động, tức là các biện phápphải tổ chức thực hiện để đạt được những chỉ tiêu đó

Kế hoạch sản xuất - kinh doanh thông thường bao gồm các bộ phận chínhsau:

- Kế hoạch sản xuất và tiêu thụ sản phẩm;

- Kế hoạch khoa học - công nghệ;

- Kế hoạch xây dựng cơ bản và sửa chữa lớn;

- Kế hoạch lao động tiền lương;

- Kế hoạch cung ứng - vật tư;

- Kế hoạch giá thành sản phẩm;

- Kế hoạch tài chính

1.1 Kế hoạch sản xuất và tiêu thụ sản phẩm

- Vị trí

Trang 12

Kế hoạch sản xuất và tiêu thụ sản phẩm chiếm vị trị chủ đạo trong kếhoạch sản xuất kinh doanh hàng năm Mọi bộ phận kế hoạch khác đều phải bắtđầu và dựa vào kế hoạch tiêu thụ và sản xuất để mà lập các chỉ tiêu kế hoạch bộphận.

- Các chỉ tiêu của kế hoạch tiêu thụ và sản xuất sản phẩm

+ Danh mục các mặt hàng, sản phẩm hoặc dịch vụ sẽ sản xuất và tiêu thụtrong năm kế hoạch

+ Tên từng mặt hàng dịch vụ, chất lượng quy cách và số lượng sẽ tiêu thụtrong năm kế hoạch

+ Tổng doanh thu từ tiêu thụ sản phẩm, dịch vụ

Để có những chỉ tiêu này, nội dung công tác kế hoạch bao gồm các việcsau:

+ Xác định danh mục mặt hàng sản phẩm, dịch vụ sẽ sản xuất kinh doanhnăm kế hoạch

+ Xác định số lượng từng sản phẩm, dịch vụ sẽ tiêu thụ

+ Xác định số lượng từng mặt hàng sẽ sản xuất sau khi cân đối số tiêu thụvới tồn kho đầu năm cuối năm

+ Phân phối nhiệm vụ kế hoạch sản xuất cho các đơn vị sản xuất

+ Phân phối nhiệm vụ sản xuất cho các quý, tháng trong năm

- Căn cứ để lập kế hoạch tiêu thụ và sản xuất sản phẩm

Để lập kế hoạch tiêu thụ và sản xuất sản phẩm, nhà xây dựng kế hoạchphải dựa vào một số căn cứ nhất định Những căn cứ quan trọng nhất là:

+ Chiến lược kinh doanh trong dài hạn

+ Phân tích tình hình tiêu thụ mặt hàng, dịch vụ năm trước, kỳ trước

+ Đơn đặt hàng hoặc hợp đồng đã ký

+ Dự đoán sự thay đổi của cầu

+ Cân đối quan hệ cung cầu

+ Năng lực sản xuất của doanh nghiệp

Tuỳ thuộc vào ngành nghề, lĩnh vực kinh doanh và loại mặt hàng dịch vụ

cụ thể mà doanh nghiệp này dựa vào căn cứ này nhiều, dựa vào căn cứ khác íthơn Với tất cả các doanh nghiệp, không thể bỏ qua căn cứ năng lực sản xuất củachính bản thân doanh nghiệp

Trang 13

Trong các căn cứ chủ yếu nói trên, việc phân tích tình hình tiêu thụ nămtrước cũng như đơn đặt hàng đã có được thống kê một cách chính xác và khôngmất nhiều thời gian Năng lực sản xuất của doanh nghiệp cũng là yếu tố có thểkiểm soát chính xác được đối với người lập kế hoạch Các yếu tố về cầu và cânđối cung cầu trên thị trường là những yếu tố rất khó kiểm soát và dự báo chínhxác Chính vì vậy, việc lập kế hoạch có chính xác, hiệu quả hay không phụ thuộcnhiều vào trình độ của người lập kế hoạch, kinh nghiệm, sự nhạy bén và khảnăng nắm bắt, tổng hợp thông tin để biết cách sử dụng hợp lý hệ thống các căn

cứ nói trên

Một trong những căn cứ quan trọng mà các doanh nghiệp đều phải xemxét khi lập kế hoạch sản xuất, đó là năng lực sản xuất của chính doanh nghiệp.Bởi bên cạnh việc căn cứ nhu cầu thị trường, thì người lập kế hoạch phải căn cứvào năng lực của doanh nghiệp có thể đáp ứng nhu cầu ở mức độ nào, cả về sốlượng và chất lượng, để cân đối xây dựng kế hoạch sản xuất cho doanh nghiệp

Vì năng lực sản xuất là đại lượng động, nó thay đổi khi điều kiện sản xuất thayđổi, quy mô tái đầu tư máy móc hay đào tạo cho người lao động của doanhnghiệp,… nên người lập kế hoạch phải rà soát lại năng lực sản xuất của doanhnghiệp mình trước khi lập kế hoạch tiêu thụ và sản xuất sản phẩm

Năng lực sản xuất của doanh nghiệp là khả năng tối đa về sản xuất sảnphẩm trong một năm và được đo bằng đơn vị hiện vật Năng lực sản xuất là mộtđại lượng động, nó thay đổi theo sự thay đổi của điều kiện sản xuất Khi máymóc thiết bị được mua sắm thêm hoặc nâng cấp, hiện đại hoá, khi công nhânđược đào tạo bồi dưỡng làm trình độ chuyên môn tay nghề nâng lên, thì nănglực sản xuất của doanh nghiệp cũng tăng lên và ngược lại

Năng lực sản xuất của một doanh nghiệp được tính toán theo công thứctổng quát sau:

Nhi: năng suất định mức mỗi giờ của Si tương ứng

Tki: thời gian hoạt động của Si trong một năm (quy theo giờ)

- Phương pháp tính các chỉ tiêu

Trang 14

Tuỳ thuộc vào đặc điểm của hoạt động sản xuất - kinh doanh, sản phẩmkinh doanh mà áp dụng các phương pháp tính khác nhau

Đối với doanh nghiệp hoạt động trong ngành nghề mà không có ngườimau, người bán chi phối thị trường, kế hoạch sản xuất và tiêu thụ sản phẩm làtích số giữa kết quả sản xuất tiêu thụ năm hiện tại nhân với tốc độ tăng trưởngcủa cầu trên thị trường

Đối với các doanh nghiệp sản xuất, kinh doanh sản phẩm dịch vụ theođơn đặt hàng thì thì kế hoạch sản xuất và tiêu thụ là tổng các đơn đặt hàng củakhách hàng dự kiến năm kế hoạch

Đối với một số doanh nghiệp đặc thù, hoạt động mang tính độc quyền nhưđiện nước, dầu mỏ,… kế hoạch sản xuất và tiêu thụ được xác định theo năng lựcsản xuất của doanh nghiệp

- Phân phối kế hoạch sản xuất, tiêu thụ sản phẩm cho các đơn vị trực thuộc

và theo quý, tháng trong năm

Sau khi hoàn thành kế hoạch tiêu thụ sản phẩm, doanh nghiệp phải cânđối với sản phẩm tồn kho (nếu có) để xác định chính xác kế hoạch sản xuất.Trên cơ sở năng lực sản xuất của các đơn vị trực thuộc, hiệu quả sản xuất, tiếtkiệm chi phí vận chuyển, bán hàng,… doanh nghiệp giao kế hoạch sản xuất vàtiêu thụ cho từng đơn vị

Việc xác lập kế hoạch quý, tháng được xây dựng căn cứ vào:

+ Đơn đặt hàng

+ Nhu cầu thị trường mang tính mùa vụ

+ Các ngày lễ, tết

+ Năng lực sản xuất của đơn vị trực thuộc và toàn doanh nghiệp

+ Loại hình sản xuất của doanh nghiệp

Có ba phương pháp chính để phân phối kế hoạch tiêu thụ và sản xuất:phương pháp song song, phương pháp trực tiếp và phương pháp hỗn hợp (kếthợp cả hai phương pháp trên)

1.2 Kế hoạch khoa học - công nghệ

- Vị trí

Kế hoạch khoa học - công nghệ chiếm vị trí trung tâm trong kế hoạch sảnxuất kinh doanh của doanh nghiệp Nó quyết định chủng loại, số lượng và chấtlượng sản phẩm mà doanh nghiệp cung cấp trên thị trường Mặc dù xuất phát từ

Trang 15

việc đáp ứng yêu cầu của kế hoạch sản xuất và tiêu thụ, nhưng kế hoạch khoahọc - công nghệ lại quyết định có đáp ứng hay đáp ứng ở mức độ nào yêu cầu

đó Các kế hoạch khác được xây dựng theo kế hoạch khoa học - công nghệ

Kế hoạch khoa học - công nghệ nhằm hai mục tiêu: nâng cao hiệu quảkinh doanh và thực hiện kế hoạch chiến lược của doanh nghiệp

- Các nội dung chủ yếu

Kế hoạch khoa học - công nghệ dự kiến những biện pháp tổ chức - kỹthuật kết thúc giai đoạn nghiên cứu chuẩn bị, sẽ đưa vào triển khai trong năm kếhoạch Nó có thể bao gồm:

+ Hệ thống máy móc, dây chuyền sản xuất được đầu tư đưa vào hoạt độngtrong năm kế hoạch Trong đó phản ánh các chỉ tiêu như tiêu chuẩn thiết

bị, chi tiết chủng loại sản phẩm, số lượng sản xuất theo thiết kế, chi phívận hành khai thác,…

+ Phương pháp sản xuất, tổ chức quản lý mới sẽ được ứng dụng, hiệu quảđối với hoạt động sản xuất kinh doanh có liên quan

+ Lượng hóa nguồn lực cần thiết để triển khai

- Căn cứ lập kế hoạch khoa học - công nghệ

Việc lập kế hoạch khoa học cần căn cứ vào nhiều yếu tố Trong đó thôngthường dựa trên những căn cứ chủ yếu sau:

+ Nhu cầu thị trường và kế hoạch sản xuất tiêu thụ

+ Định hướng phát triển khoa học - công nghệ của Chính phủ, ngành,doanh nghiệp cấp trên

+ Khả năng nghiên cứu, phát triển, ứng dụng và tích hợp với các nguồn lực

và cơ sở vật chất hiện có của doanh nghiệp

+ Tiến độ triển khai thực hiện đối với từng nội dung / dự án cụ thể

- Phương pháp xác định các chỉ tiêu của kế hoạch khoa học - công nghệ

Các chỉ tiêu phản ánh đầu ra của kế hoạch khoa học - công nghệ được xácđịnh căn cứ vào tính năng kỹ thuật, công suất thiết kế của dây chuyền máy móc,thiết bị

Các chỉ tiêu phản ánh nguồn lực cần thiết để triển khai dự án như chi phítriển khai thực hiện xét theo giá đấu thầu hoặc chi phí cho các dự án tương tự đãthực hiện gần đây

1.3 Kế hoạch xây dựng cơ bản và sửa chữa lớn

Trang 16

- Vị trí

Kế hoạch xây dựng cơ bản và sửa chữa lớn nhằm nâng cao năng lực sảnxuất của doanh nghiệp, cải thiện điều kiện làm việc, nâng cao năng suất laođộng đáp ứng yêu cầu của kế hoạch sản xuất và tiêu thụ sản phẩm

- Các nội dung chủ yếu

Kế hoạch xây dựng cơ bản và sửa chữa lớn bao gồm các dự án xây mớihoặc cải tạo nhà xưởng, văn phòng làm việc, các dự án duy tu bảo dưỡng, nângcấp, mở rộng năng lực sản xuất của hệ thống máy móc, dây chuyền thiết bị hiệncó,… và kinh phí, tiến độ thực hiện

- Căn cứ lập kế hoạch xây dựng cơ bản và sửa chữa lớn

Thông thường việc lập kế hoạch xây dựng cơ bản và sửa chữa lớn dựatrên những căn cứ chủ yếu sau:

+ Nhu cầu thị trường và kế hoạch sản xuất tiêu thụ

+ Kế hoạch phát triển doanh nghiệp

+ Tình trạng máy móc, thiết bị

+ Điều kiện, môi trường làm việc hiện tại của người lao động

+ Tiến độ triển khai thực hiện đối với từng nội dung / dự án cụ thể, kinhphí dự kiến

- Phương pháp xác định các chỉ tiêu của kế hoạch xây dựng cơ bản và sửa chữa lớn

Các chỉ tiêu phản ánh đầu ra của kế hoạch xây dựng cơ bản và sửa chữalớn được xác định căn cứ vào công suất dự kiến của máy móc, thiết bị sau khisửa chữa, nâng cấp; mức độ phục vụ người lao động trong quá trình làm việc,

Các chỉ tiêu phản ánh nguồn lực cần thiết để triển khai dự án như chi phítriển khai thực hiện tính theo các định mức xây dựng cơ bản Nhà nước banhành, hoặc theo giá đấu thầu các dự án tương tự đã thực hiện gần đây

1.4 Kế hoạch lao động tiền lương

- Vị trí

Kế hoạch lao động tiền lương là một bộ phận của kế hoạch sản xuất kinhdoanh của doanh nghiệp Nó xác định những chỉ tiêu về lao động và tiền lương,bảo đảm thực hiện kế hoạch sản xuất sản phẩm và dịch vụ Kế hoạch này cónhiệm vụ không ngừng khai thác những khả năng tiềm tàng trong doanh nghiệp,nhằm giảm tiêu hao thời gian lao động cho sản xuất một đơn vị sản phẩm, nhờ

Trang 17

đó mà tăng năng suất lao động, giảm được chi phí tiền lương trên 1 đơn vị sảnphẩm thông qua kế hoạch hoá những chỉ tiêu về lao động và tiền lương Côngtác lập kế hoạch lao động tiền lương là một trong những công việc quan trọngthuộc chức năng của phòng lao động tiền lương.

- Các chỉ tiêu chủ yếu: được xác định theo trình tự và phương pháp như sau

+ Lập kế hoạch áp dụng các biện pháp tổ chức, kỹ thuật nhằm tăng năngsuất lao động

Là những biện pháp đưa ra nhằm giảm tiêu hao lao động, giảm chi phítiền lương trên một đơn vị sản phẩm Chúng được lập nên trên cơ sở những đềxuất, sáng kiến của cán bộ, công nhân, qua đó người quản trị kế hoạch lao độngtiền lương thiết kế thành những giải pháp và triển khai thực hiện đảm bảo hiệuquả

+ Lập kế hoạch sử dụng thời gian lao động của công nhân

Kế hoạch sử dụng thời gian lao động của công nhân là việc tính toán, đưa

ra số ngày làm việc bình quân của một công nhân sản xuất trong năm kế hoạch.Đây là căn cứ để xác định số lao động và quỹ tiền lương năm kế hoạch

Kế hoạch này được lập dưới dạng bảng cân đối thời gian lao động của mộtcông nhân Thực chất của việc này là xác định tổng số ngày vắng mặt bình quâncủa một công nhân theo các lý do như: nghỉ phép, nghỉ ốm, nghỉ thai sản, nghỉhội họp,… (những ngày còn lại đã có chế độ nhà nước quy định) Phương pháplập cho mỗi loại như sau:

 Số ngày nghỉ phép được tính bình quân gia quyền theo số công nhân

có số ngày phép giống nhau thuộc các nhóm khác nhau

 Số ngày nghỉ ốm được tính bằng số ngày nghỉ ốm của toàn bộ laođộng trong năm trước kết hợp với hiệu quả của các biện pháp cải tiếnđiều kiện làm việc doanh nghiệp thực hiện trong năm kế hoạch

 Số ngày nghỉ thai sản được lập dựa trên kế hoạch nghỉ sinh của chị em

đã đăng ký và chế độ nhà nước quy định

 Số ngày nghỉ khác (hội họp, học nghị quyết, tập quân sự, tập huấnnghiệp vụ,…) được tính theo thực tế năm trước

 Số ngày nghỉ lễ, nghỉ cuối tuần: theo quy định của Nhà nước và củadoanh nghiệp

Trang 18

Tổng hợp các ngày nghỉ nêu trên ta có tổng số ngày vắng mặt dự kiến của

1 công nhân trong năm Từ đó tính được số ngày làm việc của 1 công nhân trongnăm kế hoạch

Độ dài làm việc bình quân ngày thông thường là 8 giờ / ngày Đối với một

số doanh nghiệp do điều kiện làm việc độc hại thì có chế độ riêng

Số ngày làm việc bình quân và độ dài làm việc bình quân một ngày củamỗi công nhân là căn cứ để tính toán số công nhân sản xuất chính

+ Lập kế hoạch số lượng lao động

Kế hoạch số lượng lao động có nhiệm vụ xác định số lao động theo từngloại, tại từng bộ phận để đảm bảo thực hiện kế hoạch sản xuất kinh doanh Vềcăn bản, lao động trong một doanh nghiệp có thể phân thành hai loại: lao độngtrực tiếp và lao động gián tiếp

 Lao động gián tiếp

Lao động gián tiếp bao gồm tất cả những nhân viên và những nhà quản lý

ở các phòng ban quản lý doanh nghiệp như nhân viên quản lý hành chính, quản

lý nghiệp vụ, kỹ thuật Lao động gián tiếp cũng bao gồm cả những người quản

lý ở các phân xưởng làm nhiệm vụ chỉ huy sản xuất hoặc quản lý kỹ thuật ởphân xưởng như ban quản đốc, kỹ thuật viên,…

Việc xây dựng kế hoạch số lượng lao động gián tiếp tương đối định tính vìlượng lao động gián tiếp thường không có sự thay đổi lớn Trường hợp nếu cóngười về hưu hoặc chuyển công tác thì có kế hoạch tuyển dụng thay thế Trườnghợp có sự thay đổi lớn về sản lượng hoặc công nghệ sản xuất thì tiến hành bổsung lao động cho các bộ phận liên quan Số lượng lao động bổ sung được tínhtoán một cách định tính dựa trên chiến lược phát triển và mức độ quan trọng củacông việc mà lao động bổ sung đảm nhiệm

 Lao động trực tiếp

Lao động trực tiếp gồm tất cả các công nhân sản xuất, kể cả sản xuấtchính và sản xuất phụ Công nhân chính trực tiếp tham gia vào chế biến, giacông, sản xuất sản phẩm Công nhân phụ phục vụ cho công nhân chính như sửachữa máy móc thiết bị hoặc sửa chữa, phục vụ điện nước và công nhân của cácphân xưởng phụ như phân xưởng cơ khí - sửa chữa, phân xưởng sản xuất hơinước

Xác định số công nhân chính trực tiếp là nội dung then chốt và phức tạpnhất của công tác lập kế hoạch số lượng lao động trong doanh nghiệp Sở dĩ nhưvậy vì đây là lực lượng trực tiếp thực hiện kế hoạch sản xuất kinh doanh của

Trang 19

doanh nghiệp Kế hoạch sản xuất kinh doanh lại luôn khác nhau giữa các năm,

cả về quy mô cũng như nội dung, cơ cấu, do vậy số công nhân sản xuất chínhcần phải được tính toán lại

- Căn cứ để lập kế hoạch lao động tiền lương

+ Các mức lao động: như định mức năng suất (Mns – quy định số sản phẩmtối thiểu phải làm ra trong một ca sản xuất cho một hoặc một nhóm côngnhân), định mức thời gian (Mtg – quy định thời gian tối đa để sản xuất /hoàn thành một đơn vị sản phẩm / một công việc), định mức phục vụ(Mpv – quy định mỗi máy / số đối tượng phải đồng thời phục vụ để đảmbảo tiến độ sản xuất chung)

+ Hệ số thực hiện mức (h)

+ Quỹ thời gian có mặt làm việc bình quân 1 công nhân (F)

+ Kế hoạch sản xuất (Q) của loại sản phẩm, hoặc sản phẩm quy ước

- Phương pháp xác định các chỉ tiêu chủ yếu

+ Phương pháp xác định số công nhân chính

Tuỳ thuộc vào tính chất công việc thực hiện, dây chuyền sản xuất (sảnxuất từ đầu đến cuối một loại sản phẩm hay đảm nhận một khâu gia công củanhiều loại sản phẩm khác nhau) và mức lao động cho từng công việc, có côngthức xác định khác nhau:

 Đối với trường hợp ban hành mức năng suất: số công nhân chính (S)được xác định như sau:

Trang 20

Số máy (thiết bị) trong bộ phận

sẽ có số công nhân chính cần thiết cho toàn bộ nhà máy, xí nghiệp

Việc xác định số lượng công nhân phụ được dựa vào định mức phục vụcông nhân chính hoặc định mức phục vụ máy Công nhân phụ là công nhân phục

vụ cho quá trình sản xuất, cho công nhân chính gồm công nhân sửa chữa máymóc thiết bị của phân xưởng như thợ nguội, thợ điện hoặc công nhân vậnchuyển bán thành phẩm giữa các dây chuyền sản xuất Đây là đối tượng mà nhucầu về số lượng ít biến động theo hàng năm nhưng thực tế lại thường xuyên biếnđộng do công nhân phụ thường có xu hướng chuyển sang các công việc đòi hỏi

ít sức lực hoặc được hưởng lương cao hơn

+ Xác định đơn giá tiền lương

Đơn giá tiền lương được dùng làm căn cứ để xác định quỹ lương thựchiện và cả để dự tính quỹ lương kế hoạch

 Các loại đơn giá tiền lương

Đơn giá tiền lương là số tiền lương được phép chi cho một đơn vị sảnphẩm sản xuất ra hoặc cho 1 đồng giá trị sản phẩm hàng hoá bán ra (còn gọi làdoanh thu)

Thông thường đơn giá tiền lương trả cho một sản phẩm được áp dụng chocác doanh nghiệp / bộ phận trực tiếp sản xuất, gia công hàng hoá, dịch vụ

Đơn giá tiền lương cho một đồng doanh thu (để tiện tính toán thường địnhmức cho 1000 đồng doanh thu) Đơn giá này thường để dùng tính toán cho cácđơn vị trực thuộc tổng công ty (theo hình thức khoán doanh thu) Hình thức nàycũng được áp dụng rộng rãi trong các doanh nghiệp sản xuất dịch vụ như doanhnghiệp xây dựng, bưu điện, và các ngành sản xuất dịch vụ khác

 Phương pháp xác định các loại đơn giá tiền lương

Đơn giá tiền lương trên 1000 đồng doanh thu: Được xác định bằng mộttrong hai cách: dựa trên quỹ lương kế hoạch và doanh thu kế hoạch, hoặc dựa

Trang 21

trên quỹ lương thực hiện và doanh thu thực hiện năm trước có điều chỉnh chophù hợp với điều kiện của năm kế hoạch.

Cách 1: dựa trên quỹ lương và doanh thu kế hoạch Công thức xác định như sau:

Quỹ lương kế hoạch

Lgmin - là lương tối thiểu của doanh nghiệp

Si - là số lượng lao động hưởng hệ số lương cấp bậc giống nhau

Hi - hệ số cấp bậc lương của nhóm lao động thứ i

n - số nhóm lao động có hệ số lương cấp bậc giống nhau

Công thức trên áp dụng đối với doanh nghiệp nhà nước vận dụng chế độ lươngnhà nước quy định Đối với các loại hình doanh nghiệp không áp dụng chế độlương theo quy định của nhà nước thì quỹ lương kế hoạch được xác định nhưsau :

Trang 22

Trong đó k là hệ số điều chỉnh theo giá sinh hoạt bình quân do doanh nghiệp tựxác định.

Đơn giá tiền lương theo sản phẩm: có hai loại như sau

- Đơn giá tiền lương sản phẩm cá nhân trực tiếp: là đơn giá mà doanh nghiệp

dựa vào đó và số sản phẩm cá nhân trực tiếp làm ra trong tháng để tính lươngtrực tiếp cho từng công nhân hàng tháng Đơn giá này được xác định dựa vàomức năng suất hoặc mức thời gian và mức lương ngày:

Mức lương ngày

nếu là quy định mức năng suất

Đcn =

Mức năng suất / cahoặc,

Đcn = Mtg x Mức lương giờ nếu là quy định mức thời gian

- Đơn giá tiền lương sản phẩm tập thể: muốn áp dụng hình thức trả lương này

phải có đơn giá lương sản phẩm của tập thể Đơn giá tiền lương sản phẩm củaphân xưởng, công trường, đội xe là đơn giá trả lương của công ty cho phânxưởng, tính cho 1 đơn vị sản phẩm cuối cùng của phân xưởng hay công trường,còn gọi là đơn giá lương tổng hợp, vì nó bao gồm tiền lương của cả tập thể phânxưởng

Đơn giá tiền lương tổng hợp là đơn giá tiền lương theo sản phẩm cuốicùng của phân xưởng Nó được xác định như sau:

Đi = Mth x Lg (1 + k)Trong đó Đi là đơn giá tiền lương tổng hợp của phân xưởng theo sản phẩm i;

Mth là mức lao động tổng hợp của sản phẩm i: là tổng các mức laođộng công nghệ (Mcn), mức lao động phục vụ (Mpv), mức lao độngquản lý (Mql)

Lg là mức tiền lương bình quân 1 giờ công: được xác định bằng mứclương tháng chia cho số giờ làm việc / tháng của mỗi công nhân

k là tổng các hệ số phụ cấp đưa vào đơn giá lương: được tính theophần trăm trên lương chính hoặc tiền lương tối thiểu Bao gồm các loạinhư phụ cấp đắt đỏ, phụ cấp khu vực, phụ cấp độc hại, phụ cấp làm ca

ba, phụ cấp làm thêm giờ, phụ cấp trách nhiệm,

+ Xác định quỹ tiền lương năm kế hoạch:

Trang 23

Quỹ lương năm kế hoạch của doanh nghiệp được xác định theo công thứcsau:

Q L =

n

i 1

Q i x Đ i + Quỹ lương bổ sung

Trong đó, Qi là số lượng theo kế hoạch sản xuất sản phẩm i;

Đi là đơn giá lương tổng hợp cho 1 đơn vị sản phẩm i;

n- số loại sản phẩm sản xuất năm kế hoạch

Quỹ lương bổ sung là phần quỹ lương nằm ngoài quỹ lương sản phẩm,dùng để trả cho những ngày nghỉ việc được hưởng lương và lương trả cho nhữnglao động mà thời gian công tác của họ chưa tính vào đơn giá lương tổng hợp vàcác khoản khác, cụ thể bao gồm:

- Tiền lương trả cho những ngày nghỉ việc được hưởng lương (TL1), dựavào bảng cân đối thời gian lao động của công nhân

TL1 =

Số ngày vắng mặt theo

lý do nghỉ phép, hộihọp, công tác

x

Mức lươngbình quânngày

x Số công nhân

- Tiền lương trả cho bộ máy quản lý doanh nghiệp (TL2)

- Các loại phụ cấp chưa đưa vào đơn giá lương tổng hợp (TL3)

- Tiền lương trả cho các phân xưởng phụ, phụ trợ (TL4)

- Dự phòng bổ sung tiền lương nâng bậc đối với doanh nghiệp nhà nước(TL5)

- Các khoản dự phòng khác nếu có

1.5 Kế hoạch cung ứng vật tư

- Vị trí

Kế hoạch cung ứng vật tư là một bộ phận hợp thành của kế hoạch sản xuất

- kinh doanh Nhiệm vụ của kế hoạch này là phải lập kế hoạch cung ứng hợp lý,giảm tồn đọng vật tư (bao gồm nguyên nhiên vật liệu, bán thành phẩm muangoài, phụ tùng dự trữ,…) trong kho dài ngày làm tăng vốn lưu động, có kếhoạch sử dụng vật tư tiết kiệm nhất

- Các chỉ tiêu chủ yếu của kế hoạch cung ứng vật tư: bao gồm

+ Xác định các mức tiêu hao vật tư cho 1 đơn vị sản phẩm

+ Lập kế hoạch số lượng vật tư cần dùng, cần mua

Trang 24

+ Xác định lượng dự trữ vật tư hợp lý

+ Lập biểu đồ cung ứng các loại vật tư

- Căn cứ xây dựng kế hoạch cung ứng vật tư

+ Định mức tiêu hao vật tư

+ Kế hoạch sản xuất tiêu thụ sản phẩm

+ Thời gian hoàn thành một đơn hàng mua vật tư

- Phương pháp xác định các chỉ tiêu chủ yếu

+ Xác định định mức tiêu hao vật tư cho 1 đơn vị sản phẩm

Định mức tiêu hao vật tư cho một đơn vị sản phẩm thường không có sựbiến động lớn qua các năm Tuy vậy, trước khi tiến hành xây dựng kế hoạchhàng năm, cần tiến hành rà soát lại các định mức này nhằm giảm bớt lượng vật

tư dự trữ thừa / thiếu không cần thiết Đồng thời đây là chỉ tiêu quan trọng đốivới việc giảm giá thành đơn vị sản phẩm

Các phương pháp định mức tiêu hao vật tư bao gồm

 Phương pháp thống kê

Dựa vào số liệu thống kê về mức tiêu dùng nguyên vật liệu cho 1 đơn vịsản phẩm để định mức tiêu hao nguyên vật liệu cho năm sau Phương pháp nàythường chỉ được sử dụng trong trường hợp các yếu tố ảnh hưởng tới mức tiêuhao trong năm kế hoạch không có biến động đáng kể

Để tạo động lực tiết kiệm vật tư tiêu hao tại các bộ phận sản xuất, thôngthường người ta sử dụng mức tiêu dùng vật tư trung bình tiên tiến của hai nămgần nhất làm định mức tiêu hao vật tư năm kế hoạch Cách tính mức tiêu dùngvật tư trung bình tiên tiến như sau:

Bước 1: Thu thập số liệu thống kê về sử dụng vật tư 2 năm gần nhất (theo tháng,

quý, ) Giả sử, nếu doanh nghiệp thực hiện thống kê mức tiêu hao vật tư hàngtháng, ta có 24 số M1 đến M24

Bước 2: Chọn 75% số liệu tốt nhất (giả sử là các số từ M1 đến M18) và tính bìnhquân Mbq1

Bước 3: Từ dãy số trên, chọn ra các số Mi với điều kiện Mi ≥ Mbq1 và lấy bìnhquân lần thứ hai Mbq2 Đây chính là mức tiêu dùng vật tư trung bình tiên tiến củahai năm trước và lấy làm định mức tiêu hao bình quân kế hoạch

 Phương pháp thử nghiệm – thí nghiệm

Trang 25

Theo phương pháp này, người ta xác định mức tiêu hao vật tư trong phòngthí nghiệm hoặc trong quy mô một phân xưởng sản xuất thử Phương pháp này

áp dụng cho đối với trường hợp sản phẩm mới đưa vào sản xuất, do đó chưa thể

có số liệu thống kê trong quá khứ

 Phương pháp phân tích – tính toán

Nội dung của phương pháp này là xây dựng mức tiêu hao vật tư cho 1 đơn

vị sản phẩm dựa vào mức tiêu hao lý thuyết và phân tích lượng tiêu hao do thực

tế sản xuất tạo ra (chỉ tính các tiêu hao hợp lý)

 Phương pháp thử nghiệm – sản xuất

Nội dung của phương pháp này là xác định mức tiêu hao vật tư trong điềukiện thiết kế các biện pháp loại trừ tổn thất và các điều kiện tốt nhất cho sử dụngvật tư Các bước thực hiện phương pháp bao gồm:

Bước 1: Thiết kế các biện pháp loại trừ tổn thất bất hợp lý và điều kiện sử dụng

phương pháp thống kê các số liệu đã theo dõi được

+ Phương pháp xác định số lượng vật tư cần dùng, cần mua năm kế hoạchSau khi xác định được định mức tiêu hao vật tư, khối lượng vật tư cầndùng phục vụ kế hoạch sản xuất kinh doanh được xác định bằng công thức:

Vij = aijQj + aijPj – Vi thu hồi

Trong đó:

Vij: số lượng vật tư i cần dùng cho sản xuất sản phẩm j;

aij: định mức tiêu hao vật tư i cho một đơn vị sản phẩm j;

Qj: số lượng thành phẩm j theo kế hoạch sản xuất;

Pj: số lượng sản phẩm hỏng không sửa được gây tổn thất vật tư

Pj = (T.Qj)/100 với T là tỷ lệ sản phẩm hỏng theo định mức

Vi thu hồi: số lượng vật tư i thu hồi lại được từ phế phẩm

Số lượng vật tư i cần mua năm kế hoạch xác định dựa vào lượng vật tưtồn kho đầu kỳ và cuối kỳ:

Trang 26

Dự trữ vật tư cho sản xuất nhằm đảm bảo cho sản xuất liên tục Xác định

dự trữ vật tư hợp lý có ý nghĩa quan trọng đối với hiệu quả sử dụng vốn lưuđộng

Có hai dạng dự trữ vật tư là dự trữ vật tư thường xuyên và dự trữ vật tư

bảo hiểm Dự trữ thường xuyên là dự trữ vật tư tại kho bãi để đảm bảo cho sản

xuất liên tục giữa hai đợt cung ứng liền nhau theo hợp đồng Dự trữ thườngxuyên tương đối tính bằng ngày Dự trữ bảo hiểm là dự trữ vật tư để sử dụngtrong trường hợp dự trữ thường xuyên trong kho bãi đã hết mà đợt vật tư phảicung ứng theo kế hoạch chưa về

Phương pháp xác định mức dự trữ kế hoạch cho mỗi dạng có sự khácnhau:

 Xác định mức dự trữ thường xuyên: có thể tính bằng số ngày đảm bảovật tư cho sản xuất hoặc tính số lượng vật tư cần dự trữ cụ thể Nếutính bằng số lượng, công thức xác định như sau:

Dtx = Mbqn x Ncc

Mbqn: là mức tiêu dùng bình quân ngày của vật tư i;

Ncc: là số ngày cung cấp cách nhau giữa hai đợt liền kề;

 Xác định mức dự trữ bảo hiểm:

Dbh = Nbh x Mbqn

Nbh: là số ngày dự trữ bảo hiểm, phụ thuộc vào việc cung ứng thực tế sai lệch

so với kế hoạch thường xuyên hay không Số ngày này có thể được tínhdựa trên số ngày chênh lệch bình quân giữa kế hoạch cung ứng và thực tếnhập vật tư trong năm báo cáo hoặc theo thời gian cần thiết để có đợtcung ứng vật tư gấp:

Nbh = Ncb + Nvc + Nkt

Trang 27

với Ncb là số ngày cần để cho nhà cung ứng chuẩn bị nguyên vật liệu khi đặthàng, Nvc là số ngày vận chuyển từ địa điểm bán tới địa điểm giao hàng, Nkt là sốngày cần cho kiểm tra số chất lượng vật tư trước khi nhập kho.

+ Xác định tiến độ cung ứng vật tư

Trên thực tế, mặc dù có đầy đủ lượng dự trữ vật tư, tuy nhiên quá trìnhsản xuất vẫn gặp những chậm trễ, lãng phí thời gian, nguồn lực do vấn đề vật tưmang lại Sở dĩ như vậy vì, thông thường quá trình sản xuất thường có nhiều loạinguyên vật liệu khác nhau, kho dự trữ vật tư cách xa nơi sản xuất, hoặc thủ tụccung ứng không đảm bảo Chính vì lý do đó, cần xác định thời gian biểu cungứng vật tư nhằm san tải quản lý kho, phương tiện vận tải bốc dỡ

+ Lập kế hoạch tối ưu về dự trữ vật tư – hàng hoá

Đối với các doanh nghiệp sản xuất các loại hàng hóa mà sử dụng bánthành phẩm mua ngoài nhiều loại với số lượng lớn (như sản xuất ô tô, xe máy,hàng điện tử,…) cũng như các doanh nghiệp thương mại phải thường xuyên dựtrữ hàng để bán tối ưu nhất đảm bảo quay vòng vốn nhanh, đồng thời lại giảmchi phí đặt hàng và lưu kho thì việc tối ưu hoá dự trữ vật tư hàng hoá có ý nghĩađặc biệt quan trọng Trường hợp này có thể sử dụng mô hình Wilson để xác định

số lượng hàng cho 1 lần cung ứng (đợt nhập hàng) tối ưu

Số lượng đặt hàng tối ưu là số lượng làm cực tiểu tổng chi phí cho dự trữvật tư Tổng chi phí cho dự trữ vật tư bao gồm chi phí lưu kho, chi phí đặ mua

Khi đó tổng chi phí đi mua và nhập hàng 1 năm là:

Vi

C1 x

QVới Q/2 là số lượng lưu kho trung bình; C2 là chi phí lưu kho trung bình cho 1đơn vị hàng hoá - vật tư Tổng chi phí lưu kho 1 năm bằng:

Trang 28

C2 x

2Gọi TC là tổng chi phí dự trữ vật tư hàng hoá

Mô hình của Wilson có dạng:

Vi Q

TC = C1 x + C2 x

Q 2Đây là hàm số mà biến số là Q còn C1, C2, Vi là các thông số đã biết Phải xácđịnh Q sao cho hàm chi phí này đạt cực tiểu, hay:

Kế hoạch giá thành sản phẩm là bộ phận quan trọng của kế hoạch sản xuất

- kinh doanh hàng năm của doanh nghiệp Nó phản ánh một cách tổng hợp cácchỉ tiêu của các bộ phận kế hoạch khác Không những thế, kế hoạch giá thànhcòn có tác động ngược trở lại các bộ phận kế hoạch khác, thể hiện ở chỗ các bộphận kế hoạch khác phải thường xuyên tìm biện pháp cắt hoặc giảm thấp chi phí

Trang 29

của các khoản mục do bộ phận quản lý nhằm phục vụ mục tiêu chung, xuyênsuốt của doanh nghiệp là giảm giá thành đơn vị sản phẩm.

- Các chỉ tiêu chủ yếu của kế hoạch giá thành sản phẩm

Nhiệm vụ của kế hoạch giá thành là không ngừng tìm kiếm các khả nănggiảm bớt chi phí để hạ giá thành sản phẩm Nội dung của kế hoạch giá thành sảnphẩm bao gồm các chỉ tiêu chủ yếu sau:

+ Phân tích việc thực hiện kế hoạch giá thành năm báo cáo Tìm nguyênnhân vượt chi so với kế hoạch (hoặc so với năm trước), từ đó thiết kế cácbiện pháp hạ giá thành cho năm sau

+ Tính toán ảnh hưởng của từng biện pháp đến mức giảm giá thành và xácđịnh tổng mức giảm giá thành đơn vị sản phẩm

+ Lập kế hoạch giá thành đơn vị sản phẩm

+ Lập kế hoạch giá thành toàn bộ sản lượng hay dự toán tổng chi phí năm

kế hoạch

- Căn cứ lập kế hoạch giá thành sản phẩm: dựa vào các loại chi phí kinh

doanh để xác định giá thành Có nhiều cách phân loại chi phí sản xuất kinhdoanh khác nhau:

+ Phân loại chi phí sản xuất kinh doanh thành 5 yếu tố chi phí Việc phânloại được căn cứ vào nội dung kinh tế của chi phí, tức là chi vào việc gìthì phân vào loại đó Bao gồm:

 Chi phí nguyên vật liệu

 Chi phí nhân công

 Chi phí khấu hao tài sản cố định

 Chi phí dịch vụ mua ngoài

Trang 30

 Chi phí nguyên vật liệu trực tiếp

 Chi phí nhân công trực tiếp

 Chi phí sản xuất chung của phân xưởng

 Chi phí quản lý doanh nghiệp

 Chi phí bán hàng

Tác dụng của cách phân loại này là dùng để lập kế hoạch giá thành đơn vịsản phẩm; phân tích việc thực hiện kế hoạch giá thành, tìm biện pháp giảm chiphí - hạ giá thành sản phẩm; xác định cơ cấu giá thành, tìm trọng điểm hạ giáthành

+ Phân loại chi phí thành chi phí biến đổi và chi phí cố định: căn cứ vàomối quan hệ của loại chi phí với sự tăng giảm sản lượng, người ta chiathành hai loại

 Chi phí biến đổi là những chi phí có tăng giảm cùng tỷ lệ với sự tănggiảm số lượng sản phẩm, như chi phí nguyên vật liệu trực tiếp, chi phínhân công trực tiếp

 Chi phí cố định là chi phí khi tăng giảm sản lượng thì tổng chi phítrong năm không tăng giảm Ví dụ tiền thuê cửa hàng, khấu hao tài sản

cố định Những chi phí hoàn toàn cố định khi tăng giảm sản lượng rất

ít Có nhiều khoản chi phí mà khi tăng, giảm sản lượng thì mức chi cảnăm không thay đổi hoặc có tăng, giảm nhưng với tỷ lệ thấp hơn.Người ta gọi đây là các khoản chi tương đối cố định, như tiền lươngnhân viên quản lý,… Những khoản chi phí này đều nằm trong nhữngkhoản mục chi phí chung cho nhiều loại sản phẩm như chi phí chungphân xưởng, chi phí quản lý doanh nghiệp, chi phí bán hàng Vì vậy,các khoản mục này cũng được gọi là những khoản mục chi phí cố địnhnhưng thực chất là tương đối cố định Khi sản lượng tăng lên, các chiphí cố định là yếu tố góp phần làm giảm giá thành đơn vị sản phẩm.+ Phân loại chi phí thành chi phí trực tiếp và chi phí gián tiếp: dựa vàophương pháp đưa chi phí vào giá thành đơn vị sản phẩm

 Chi phí trực tiếp là những chi phí chi cho sản phẩm nào thì tính thẳngvào giá thành sản phẩm đó Các khoản mục chi phí nguyên vật liệutrực tiếp và chi phí nhân công trực tiếp chính là những chi phí trựctiếp cho sản phẩm và được tính vào giá thành sản phẩm đó

 Chi phí gián tiếp là những chi phí chi chung cho quản lý sản xuất kinhdoanh nhiều loại sản phẩm vì vậy không thể tính thẳng vào giá thành

Trang 31

từng loại sản phẩm mà phải gián tiếp đưa vào theo phương pháp phân

bổ Trong 5 khoản mục giá thành, các khoản mục chi phí chung phânxưởng, chi phí quản lý doanh nghiệp và chi phí bán hàng là nhữngkhoản mục chi phí gián tiếp

- Phương pháp lập kế hoạch giá thành đơn vị sản phẩm

Để lập kế hoạch giá thành đơn vị sản phẩm, người ta sử dụng cách phânloại chi phí thành 5 khoản mục Việc xác định chi phí cho từng khoản mục đượctiến hành như sau:

+ Chi phí nguyên vật liệu trực tiếp: bao gồm nguyên vật liệu chính, vật liệuphụ, nhiên liệu trực tiếp dùng trong công nghệ sản xuất sản phẩm xácđịnh theo công thức:

Định mức tiêu hao

Cnvl = x Giá kế hoạch của nguyên vật liệu

Đơn vị sản phẩmGiá kế hoạch của nguyên vật liệu bao gồm giá mua ghi trên hoá đơn bán hàng,chi phí vận chuyển, bốc dỡ, bảo quản tại kho bãi, tỷ lệ hao hụt trong phạm vicho phép

+ Chi phí nhân công trực tiếp: bao gồm tiền lương công nhân sản xuất vàtrích theo lương 19% Tiền lương công nhân sản xuất chính và phụ lấy từbảng đơn giá tiền lương tổng hợp

+ Chi phí chung phân xưởng: đây là khoản mục giá thành tổng hợp, baogồm nhiều yếu tố chi phí, có liên quan đến việc sản xuất nhiều loại sảnphẩm trong phân xưởng Vì vậy, chi phí này được đưa vào giá thànhbằng phương pháp phân bổ, theo các bước sau:

Bước 1: Lập dự toán chi phí chung phân xưởng cả năm

Bước 2: Phân bổ chi phí dự toán cho các loại sản phẩm

Bước 3: Tính chi phí chung trên 1 đơn vị sản phẩm

Dự toán chi phí chung phân xưởng lập theo 5 yếu tố chi phí, cụ thể

 Chi phí vật liệu, công cụ dùng chung trong phân xưởng, bao gồm: chivật liệu bảo hộ lao động, chi vật liệu sửa chữa bảo dưỡng máy, chi vănphòng phẩm, chi công cụ lao động nhỏ

Trang 32

 Chi phí nhân viên quản lý phân xưởng, bao gồm lương và trích theolương của nhân viên, cán bộ quản lý trong phân xưởng

 Chi phí khấu hao tài sản cố định của phân xưởng gồm nhà xưởng,công trình kiến trúc thuộc phạm vi phân xưởng như máy móc thiết bịchính, thiết bị động lực, phương tiện vận tải, truyền dẫn, công cụ dụng

cụ và tài sản cố định khác thuộc phạm vi phân xưởng

 Chi phí dịch vụ mua ngoài: gồm tiền điện, điện thoại, thuê dịch vụ vệsinh, bảo dưỡng,…

 Chi phí bằng tiền: tiếp khách, nước uống,…

Dự toán các yếu tố chi phí trên được lập dựa theo định mức, đơn giá và kếhoạch Sau khi dự toán, việc phân bổ cho các loại sản phẩm được căn cứ vàomột trong các tiêu thức tiền lương công nhân sản xuất, số giờ máy sử dụng đểsản xuất sản phẩm hoặc khối lượng sản phẩm tạo ra Việc chọn căn cứ nào đểphân bổ có liên quan đến mức độ chính xác của giá thành đơn vị sản phẩm Vìthế, phải chọn căn cứ phân bổ phù hợp với đặc điểm của quá trình sản xuất

Trong những ngành sản xuất mà quá trình sản xuất chủ yếu là quá trìnhlao động thủ công, người ta thường phân bổ tỷ lệ với tiền lương công nhân sảnxuất Với quá trình sản xuất sử dụng máy, thiết bị gia công là chủ yếu thì sảnphẩm nào chiếm số giờ máy cao hơn thì có tỷ lệ phân bổ chi phí chung nhiềuhơn Với đối với các đơn vị vận chuyển, khai thác thì việc phân bổ thực hiệntheo khối lượng sản phẩm

+ Chi phí quản lý doanh nghiệp: Dự toán chi phí quản lý doanh nghiệpđược lập theo 5 yếu tố:

 Chi phí vật liệu dùng chung trong doanh nghiệp bao gồm văn phòngphẩm, tài sản giá trị thấp như bàn ghế, tủ,…

 Chi phí nhân viên: bao gồm lương và các khoản trích theo lương củacán bộ và nhân viên quản lý

 Chi phí khấu hao tài sản cố định thuộc phạm vi của doanh nghiệp nhưvăn phòng, kho bãi, xe cộ,…

 Chi phí dịch vụ mua ngoài dùng chung trong doanh nghiệp như điệnnước, điện thoại,…

 Chi phí bằng tiền: bao gồm thuế, phí, lệ phí, lãi phải trả ngân hàng vềvay vốn lưu động, công tác phí, chi phí tiếp khách, hội nghị khánh tiết,tuyển dụng, đào tạo bồi dưỡng,…

Trang 33

Dự toán chi phí quản lý doanh nghiệp được phân bổ cho các loại sảnphẩm tỷ lệ với giá thành phân xưởng của các loại sản phẩm (đối với tổng bakhoản mục đầu tiên) và tỷ lệ với tiền lương công nhân sản xuất đối với cácngành sản xuất sản phẩm thực hiện thủ công là chính

+ Chi phí bán hàng: là khoản mục chi phí tổng hợp được đưa gián tiếp vàogiá thành các loại sản phẩm

Dự toán chi phí bán hàng bao gồm:

 Chi phí vật liệu, công cụ dùng trong bán hàng: gồm văn phòng phẩm,vật liệu bao gói, đồng phục bán hàng, dụng cụ bán hàng,…

 Chi phí nhân viên: lương và trích theo lương của nhân viên tiêu thụthuộc các đại lý, cửa hàng bán / giới thiệu sản phẩm

 Chi phí khấu hao tài sản cố định: khấu hao nhà, phương tiện vận tải,tài sản cố định thuộc hệ thống tiêu thụ

 Chi phí dịch vụ mua ngoài: điện, điện thoại, thuê vận chuyển tới nơingười mua yêu cầu

 Chi phí bằng tiền: chi quảng cáo, hội nghị khách hàng, chi khuyếnmại, hoa hồng bán hàng,…

Dự toán chi phí bán hàng phân bổ tỷ lệ với giá thành công xưởng của cácloại sản phẩm và dịch vụ bán ra ngoài

Giá thành công xưởng = Giá thành phân xưởng + Chi phí quản lý doanh nghiệp.Giá thành phân xưởng = Chi phí nguyên vật liệu trực tiếp + Chi phí nhân côngtrực tiếp + Chi phí chung phân xưởng

1.7 Kế hoạch tài chính

- Vị trí

Kế hoạch tài chính là một thành phần quan trọng của hệ thống kế hoạchsản xuất - kinh doanh Kế hoạch tài chính thể hiện một cách tổng hợp các quyếtđịnh, các chức năng và các chương trình của doanh nghiệp về việc sử dụng vàhuy động vốn Đồng thời, nó còn là phương tiện để thực hiện chính sách tàichính của doanh nghiệp

- Các chỉ tiêu chủ yếu của kế hoạch tài chính

+ Xác định các nhu cầu sử dụng tài chính

+ Xác định các nguồn vốn cơ bản và cơ cấu nguồn vốn

+ Thiết lập cơ chế phân bổ nguồn lực tài chính một cách hợp lý

Trang 34

- Căn cứ lập kế hoạch tài chính

+ Mục tiêu và định hướng phát triển doanh nghiệp

+ Kết quả phân tích tài chính hiện tại

+ Các chính sách tài chính của doanh nghiệp

+ Chỉ tiêu kế hoạch phát triển doanh nghiệp, chương trình hành động, + Thuế, lãi suất,…

- Phương pháp lập kế hoạch tài chính bao gồm những bước sau

Lập kế hoạch tài chính trước hết được bắt đầu bằng việc phân tích tàichính Phân tích tài chính được thực hiện dựa trên những báo cáo tài chính cơbản của doanh nghiệp như Bảng cân đối kế toán, Báo cáo kết quả kinh doanh,Báo cáo lưu chuyển tiền tệ

Lập kế hoạch tài chính dài hạn bao gồm kế hoạch tài trợ, kế hoạch đầu tư,

dự báo kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh, dự báo Bảng cân đối kế toán

Lập kế hoạch tài chính tác nghiệp: là việc lập các ngân sách tài chính nhưngân sách lưu chuyển tiền tệ, ngân sách hoạt động gồm ngân sách bán hàng, chiphí nguyên vật liệu, tiền lương, chi phí sản xuất chung, giá vốn hàng bán,…

2 Mối liên hệ giữa các bộ phận của kế hoạch

Các bộ phận kế hoạch nói trên có mối quan hệ qua lại hữu cơ với nhau,trong đó kế hoạch sản xuất và tiêu thụ sản phẩm là bộ phận chủ đạo, kế hoạchkhoa học - công nghệ là trung tâm

Kế hoạch khoa học - công nghệ là trung tâm bởi lẽ nó quyết định chủngloại sản phẩm doanh nghiệp cung ứng trên thị trường, chất lượng và số lượngsản phẩm doanh nghiệp có thể sản xuất trong năm Nói cách khác, kế hoạchkhoa học - công nghệ quy định kế hoạch sản xuất và tiêu thụ sản phẩm Kếhoạch khoa học - công nghệ ảnh hưởng trực tiếp tới kế hoạch xây dnựg cơ bản

và sửa chữa lớn, kế hoạch cung ứng vật tư, kế hoạch lao động tiền lương, kếhoạch giá thành

Kế hoạch sản xuất và tiêu thụ sản phẩm là căn cứ để xây dựng kế hoạchcung ứng vật tư, kế hoạch xây dựng cơ bản và sửa chữa lớn và kế hoạch giáthành Kế hoạch xây dựng cơ bản và sửa chữa lớn quyết định quy mô của kếhoạch lao động tiền lương, kế hoạch cung ứng vật tư, kế hoạch giá thành Tớilượt mình, kế hoạch lao động tiền lương và kế hoạch cung ứng vật tư ảnh hưởngtrực tiếp tới kế hoạch giá thành sản phẩm

Trang 35

Tất cả các bộ phận kế hoạch trên có vị trí, vai trò, chỉ tiêu khác nhau,nhưng cuối cùng đều được phản ánh trên kế hoạch tài chính Kế hoạch tài chính

là biểu hiện bằng tiền mọi hoạt động của doanh nghiệp

Hình số 01: Mối quan hệ giữa các bộ phận kế hoạch

Kế hoạch xây dựng cơ bản

Kế hoạch khoa học - công nghệ

Định mức lao

Định mức dự trữ

sx, mức vồn lưu động

Kế hoạch giá thành sản

phẩm

Kế hoạch tài chính Định mức lao

động tiền lương

Trang 36

III NHỮNG NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN VIỆC XÂY DỰNG KẾHOẠCH SẢN XUẤT – KINH DOANH CỦA DOANH NGHIỆP VIỄNTHÔNG VIỆT NAM

1 Đặc điểm về sản phẩm

Theo Pháp lệnh Bưu chính Viễn thông, dịch vụ viễn thông là dịch vụtruyền ký hiệu, tín hiệu, số liệu, chữ viết, âm thanh, hình ảnh hoặc các dạng kháccủa thông tin giữa các điểm kết nối của mạng viễn thông Xã hội ngày càng pháttriển thì các dịch vụ viễn thông ngày càng trở nên thiết yếu đối với đời sống kinh

tế xã hội

Dịch vụ viễn thông là sản phẩm vô hình, không nhìn thấy được, chỉ biếtđược chất lượng khi tiêu dùng Chất lượng dịch vụ phụ thuộc độ sẵn có của sảnphẩm, an toàn khi sử dụng, mức độ thoả mãn khi có nhu cầu và hướng dẫn sửdụng Do đó, để cung cấp dịch vụ chất lượng cao tới khách hàng, doanh nghiệpviễn thông phải chú trọng xây dựng kế hoạch bán hàng mạnh với kênh phânphối rộng khắp Đội ngũ nhân viên giao dịch chiếm tỷ lệ cao trong các doanhnghiệp viễn thông và cần được đào tạo thường xuyên

Sản phẩm của doanh nghiệp viễn thông là dịch vụ, mang tính không chiacắt được Quá trình sản xuất và quá trình tiêu thụ sản phẩm phải diễn ra đồngthời Do đó, trong kế hoạch sản xuất - kinh doanh không có kế hoạch tồn khosản phẩm

Dịch vụ viễn thông được tiêu dùng tại chỗ, do đó chịu ảnh hưởng của cácyếu tố địa lý, địa hình, trình độ phát triển kinh tế xã hội cũng như nhu cầu củakhách hàng tại các vùng địa lý khác nhau Điều này dẫn tới việc kế hoạch đầu tưmạng lưới viễn thông phải đảm bảo chi tiết theo từng vùng, miền Đầu tư khôngđược quá dàn trải, phải xuất phát từ nhu cầu tại các địa bàn khác nhau để có kếhoạch đầu tư cho từng vùng khác nhau

Quá trình tạo sản phẩm dựa hoàn toàn trên một hệ thống mạng lưới, trangthiết bị kỹ thuật, do đó kế hoạch khoa học - công nghệ, kế hoạch xây dựng vàsửa chữa lớn chiếm vị trí hết sức quan trọng

2 Đặc điểm về thị trường và khách hàng

Kể từ khi chính sách mở cửa nền kinh tế được thực hiện (năm 1986), nềnkinh tế Việt Nam đã đạt nhiều thành tựu to lớn Tổng sản phẩm trong nước(GDP) tăng lên từ 109 nghìn tỷ VND năm 1986 lên 393 nghìn tỷ VND năm

2006 Tốc độ phát triển GDP năm 2006 là 8,2% và năm 2007 là 8,5%

Trang 37

Sự phát triển của nền kinh tế đất nước tạo cơ hội cho thị trường viễnthông và các doanh nghiệp viễn thông phát triển Liên tục trong sáu năm, từ năm

2002 – 2007, thị trường viễn thông luôn tăng trưởng trên 30% mỗi năm, đặc biệttrong hai năm trở lại đây tốc độ tăng trưởng đã vọt lên trên 50%/năm Việt Namtrở thành quốc gia có ngành viễn thông tăng trưởng nhanh nhất thế giới Đồngthời, mức độ cạnh tranh trên thị trường cũng trở nên ngày càng gay gắt

Thị trường phát triển với tốc độ nhanh, tính cạnh tranh cao dẫn tới việccông tác dự báo trong xây dựng kế hoạch phải hết sức chuyên nghiệp, chính xác

Kế hoạch đầu tư mạng lưới phải được tăng cường về quy mô và đẩy nhanh tối

đa tiến độ thực hiện mới có thể đáp ứng yêu cầu thị trường Các kế hoạch cungứng vật tư, kế hoạch tài chính phải hợp lý không để các hoạt động tiêu thụ, đầu

tư bị ngưng trệ

Khách hàng sử dụng dịch vụ viễn thông là những tổ chức, nhóm người, cánhân có nhu cầu và có khả năng thanh toán khi được thoả mãn nhu cầu Trongmột thời gian dài trước đây, giá cước dịch vụ viễn thông rất cao so với mặt bằngthu nhập chung của xã hội, là dịch vụ xa xỉ Khách hàng sử dụng dịch vụ viễnthông giai đoạn này thường là những tổ chức, doanh nghiệp, cá nhân có thu nhậpcao và ổn định Đối với đối tượng này, yếu tố quan trọng là chất lượng dịch vụ

Tuy nhiên, thời điểm hiện nay, với việc mở cửa phá thế độc quyền củaTập đoàn Bưu chính Viễn thông (VNPT), các nhà khai thác viễn thông khác rađời Cạnh tranh tăng lên làm giá cước dịch vụ ngày càng giảm thấp Dịch vụviễn thông đã trở thành dịch vụ thiết yếu của đời sống xã hội Chính bởi vậy, bêncạnh việc đảm bảo chất lượng dịch vụ và mở rộng vùng phục vụ, tiến hành ứngdụng công nghệ mới nhằm đa dạng hoá dịch vụ, cung cấp các gói sản phẩm chocác đối tượng khách hàng khác nhau cũng trở thành mục tiêu sống còn củadoanh nghiệp viễn thông Công tác xây dựng kế hoạch sản xuất và tiêu thụ phảiđảm bảo phát triển kênh phân phối nhằm phục vụ khác hàng Ngân sách cho cáchoạt động marketing, quảng cáo cần được tăng cường nhằm giới thiệu tới kháchhàng các gói sản phẩm, dịch vụ mới Kế hoạch chăm sóc khách hàng cần đi vàochiều sâu, phân loại đối tượng khách hàng để chăm sóc, không thể mang tính đạitrà như trước

3 Đặc điểm về kỹ thuật công nghệ

Sản phẩm dịch vụ viễn thông được cung cấp trên cơ sở ứng dụng thànhtựu của công nghệ thông tin Đặc điểm của công nghệ thông tin là tốc độ pháttriển nhanh, chu kỳ sống của công nghệ ngắn Chính vì vậy, việc xây dựng kếhoạch khoa học - công nghệ hợp lý, năm trong một chiến lược công nghệ và sảnphẩm xác định có ý nghĩa quyết định sự tồn tại, phát triển của doanh nghiệp viễn

Trang 38

thông Kế hoạch khoa học - công nghệ phải đảm bảo trang thiết bị được đầu tưphải có tính kế thừa, có thể nâng cấp mở rộng

Dịch vụ viễn thông được cung cấp bởi hệ thống trang thiết bị, máy móc,đường truyền, máy thu phát,… Do đó trong kế hoạch xây dựng cơ bản và sửachữa lớn cần chi tiết phương án bảo dưỡng máy móc thiết bị, dự phòng hợp lýcác thiết bị thay thế trong trường hợp cần thiết Đội ngũ cán bộ kỹ thuật phải đủ

về số lượng, đào tạo chuyên sâu trong và ngoài nước

4 Đặc điểm về chi phí giá thành

Giá thành sản xuất ra một đơn vị giá trị sử dụng của sản phẩm viễn thông

ở những địa phương khác nhau là rất khác nhau, mà sản phẩm viễn thông đượctạo ra ở đâu thì được bán tại đó Trong cơ chế thị trường, đặc điểm này ảnhhưởng đáng kể đến tổ chức hoạt động của doanh nghiệp viễn thông, tới việchạch toán chi phí giá thành của doanh nghiệp

Trong giá thành sản phẩm viễn thông, chi phí về vật tư chiếm tỷ trọngkhông đáng kể, các khoản chi về khấu hao, tiền lương chiếm tỷ trọng chủ yếu

Thông thường tại các doanh nghiệp viễn thông, việc xác định giá thành sửdụng phương pháp tính trực tiếp Theo phương pháp này, giá thành đơn vị sảnphẩm dịch vụ viễn thông được xác định bằng cách lấy tổng chi phí sản xuất tậphợp được chia cho số lượng sản phẩm dịch vụ thực hiện trong kỳ

Trang 39

ƯƠ NG IITHỰC TRẠNG CÔNG TÁC XÂY DỰNG KẾ HOẠCH SẢN XUẤTKINH DOANH CỦA CÔNG TY THÔNG TIN DI ĐỘNG

I GIỚI THIỆU KHÁI QUÁT VỀ CÔNG TY THÔNG TIN DI ĐỘNG

1 Lịch sử hình thành và phát triển của Công ty Thông tin di động VMS

Công ty Thông tin di động (tên Tiếng Anh là Vietnam MobileTelecomunication Services Company, viết tắt là VMS), trụ sở chính tại 811AGiải Phóng, quận Hoàng Mai, Hà Nội, được thành lập ngày 16/04/1993 theoQuyết định số 321/QĐ-TCCBLĐ của Tổng cục trưởng Tổng cục Bưu điện (tiềnthân của Bộ Thông tin - Truyền thông ngày nay) Theo đó, VMS là doanhnghiệp nhà nước hạch toán độc lập, trực thuộc Tổng công ty Bưu chính - Viễnthông Việt Nam (nay là Tập đoàn Bưu chính - Viễn thông Việt Nam VNPT).Nhiệm vụ được giao là xây dựng và vận hành khai thác mạng lưới thông tin diđộng (bao gồm cả nhắn tin) hiện đại, sử dụng công nghệ tiên tiến, kết hợp nốimạng thông tin di động toàn cầu và khu vực, kết hợp nối mạng viễn thông cốđịnh Chức năng kinh doanh chính là cung cấp loại hình dịch vụ thông tin diđộng đa dạng: Điện thoại, nhắn tin, fax, truyền số liệu, báo động, báo cháy, cấpcứu,… phục vụ nhu cầu thông tin của lãnh đạo, chỉ đạo các ngành các cấp phục

vụ an ninh quốc phòng, kinh tế, văn hoá xã hội, y tế và phục vụ đời sống nhândân cả nước

Ngay trong giai đoạn đầu, Công ty đã có những bước tiến vững chắc,khẳng định vị trí của mình trên thị trường Đến hết năm 1994, chỉ sau gần 8tháng hoạt động, công ty đã có 3200 khách hàng Tuy vậy, với số vốn điều lệ chỉhơn 8 tỷ VND, công ty gặp phải rất nhiều khó khăn về vốn đầu tư phát triểnmạng lưới Đặc biệt, kinh nghiệm khai thác cũng như trình độ kỹ thuật điềuhành mạng lưới của đội ngũ cán bộ công nhân viên còn nhiều hạn chế Nhằmkhắc phục những điểm yếu này, VMS chủ trương tiến hành liên doanh, liên kếtvới các đối tác nước ngoài

Bước ngoặt lớn trong quá trình phát triển của công ty Thông tin di độngVMS được đánh dấu bằng hợp đồng hợp tác kinh doanh (BCC) với Tập đoànComvik / Kenvik của Thuỵ Điển Theo đó, phía Comvik / Kenvik góp 120 triệuUSD bằng máy móc, thiết bị mạng lưới; Đảm bảo kỹ thuật khai thác và quản lý,

tổ chức và đào tạo nhân viên Việt Nam và chuyển giao công nghệ để bên ViệtNam quản lý, khai thác tốt mạng lưới Kết thúc Hợp đồng Hợp tác kinh doanh

Trang 40

(10 năm), phía Việt Nam sẽ tiếp nhận và sở hữu toàn bộ tài sản phía nước ngoàiđầu tư theo Hợp đồng với giá tượng trưng là 01 USD.

Việc thực hiện Hợp đồng BCC với đối tác nước ngoài đã tạo điều kiệnthuận lợi cho VMS mở rộng vùng phủ sóng và khai thác, kinh doanh có hiệu quảdịch vụ thông tin di động Tốc độ tăng thuê bao, doanh thu, lợi nhuận hàng nămliên tục đạt mức cao

Ngày 19/05/2005, Hợp đồng BCC hết hiệu lực Theo Hợp đồng, Công tytiếp nhận toàn bộ tài sản trang thiết bị mạng lưới cũng như các tài sản khác phátsinh trong quá trình thực hiện Hợp đồng Hợp tác kinh doanh Phát huy nhữngthành công, kinh nghiệm tích luỹ được, đội ngũ cán bộ công nhân viên của Công

ty đã đoàn kết, phấn đấu, làm chủ được công nghệ kỹ thuật, sáng tạo và bài bảntrong kinh doanh Nhờ đó, Công ty đã vượt qua được khó khăn, tiếp tục đà tăngtrưởng cao hơn so với các năm trước Tính đến thời điểm kết thúc năm 2007,Công ty chiếm gần 40% thị phần thông tin di động, khẳng định vị trí số 1 trong

số các doanh nghiệp khai thác dịch vụ thông tin di động trên toàn quốc

Trong năm 2007, mạng thông tin di động MobiFone được đánh giá làmạng thông tin di động có chất lượng tốt nhất về chất lượng thoại, tính cước, chỉtiêu về dịch vụ hỗ trợ khách hàng theo kết quả đo kiểm được công bố chính thứccủa Cục Quản lý chất lượng Bưu chính Viễn thông và Công nghệ thông tin vớicác chỉ tiêu vượt trội so với tiêu chuẩn của ngành và kết quả đo kiểm của cácmạng thông tin di động khác

Cũng trong năm 2007, Công ty được người tiêu dùng bình chọn và trởthành nhà cung cấp duy nhất tại Việt Nam ba năm liên tiếp đoạt giải thưởngmạng TTDĐ tốt nhất trong năm cùng với hai giải thưởng khác dành cho mạng diđộng có dịch vụ chăm sóc khách hàng và dịch vụ phi thoại (VAS) tốt nhất tại Lễtrao giải Vietnam Mobile Awards do tạp chí E-chip Mobile tổ chức Đồng thời,Công ty được Tổ chức UNDP xếp hạng Top 20 trong danh sách 200 doanhnghiệp lớn nhất Việt Nam Các giải thưởng trên đây là sự đánh giá rất kháchquan từ phía khách hàng và xã hội đối với chất lượng mạng lưới và dịch vụ củamạng thông tin di động VMS-MobiFone

2 Các đặc điểm chủ yếu của Công ty trong sản xuất kinh doanh

2.1 Cơ cấu tổ chức quản lý

a/ Sự quản lý của Tập đoàn Bưu chính Viễn thông Việt Nam

Sau khi kết thúc Hợp đồng Hợp tác kinh doanh BCC, Công ty là doanhnghiệp 100% vốn nhà nước, hạch toán độc lập trực thuộc Tập đoàn Bưu chính -Viễn thông Việt Nam (VNPT) Do đó, ngoài việc phải tuân thủ các quy định của

Ngày đăng: 27/11/2019, 08:46

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w