1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Quản lý nhà nước về quy hoạch sử dụng đất trên địa bàn thị xã điện bàn, tỉnh quảng nam

87 104 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 87
Dung lượng 625,52 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Thực tế đó đã và đang đặt ra yêu cầu ngày càng cao về nhiệm vụ quản lý nhà nước về đất đai, mà ở đó, quy hoạch sử dụng đất và quản lý quy hoạch sử dụng đất là công cụ căn bản, biện pháp

Trang 1

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM

HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

Trang 2

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM

HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan: Luận văn này là công trình nghiên cứu thực sự của

cá nhân tôi, được thực hiện dưới sự hướng dẫn khoa học của GS,TS

Trương Bá Thanh

Các số liệu sử dụng trong luận văn có trích dẫn nguồn rõ ràng, không sao chép của người khác Các kết luận nghiên cứu trong Luận văn được đúc kết từ cơ sở lý luận đến thực tiễn của vấn đề luận văn cần giải quyết

Tôi xin chịu trách nhiệm về nghiên cứu của mình./

TÁC GIẢ

Nguyễn Đức Thọ

Trang 4

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1 CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ QUY HOẠCH SỬ DỤNG ĐẤT 9

1.1 Quản lý nhà nước về quy hoạch sử dụng đất 91.2 Nội dung quản lý nhà nước về quy hoạch sử dụng đất 15

CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ QUY HOẠCH SỬ DỤNG ĐẤT TRÊN ĐỊA BÀN THỊ XÃ ĐIỆN BÀN, TỈNH QUẢNG NAM 28

2.1 Khái quát chung về Thị xã Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam 282.2 Thực trạng quản lý nhà nước về quy hoạch sử dụng đất đối với Thị xã Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam 34

CHƯƠNG 3: GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ

SỬ DỤNG ĐẤT TRÊN ĐỊA BÀN THỊ XÃ ĐIỆN BÀN, 59

3.1 Quan điểm định hướng quản lý nhà nước về quy hoạch sử dụng đất hiện nay 593.2 Giải pháp hoàn thiện quản lý nhà nước về quy hoạch sử dụng đất đối với Thị xã Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam hiện nay 62

KẾT LUẬN 76 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

Trang 5

DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT

Trang 6

DANH MỤC BẢNG

Số hiệu

2.1 Dân số Thị xã Điện Bàn giai đoạn 2011 – 2017 32

2.2 Lao động đang làm việc trong các khu vực kinh tế trên

địa bàn thị xã Điện Bàn giai đoạn 2011 - 2017

34

2.3 Tăng trưởng kinh tế thời kỳ 2011 - 2017 42 2.4 Kết quả thực hiện kế hoạch sử dụng đất năm 2018 51 2.5 Tình hình giải quyết việc làm hàng năm 54

Trang 7

tế - xã hội và môi trường Thực tế đó đã và đang đặt ra yêu cầu ngày càng cao

về nhiệm vụ quản lý nhà nước về đất đai, mà ở đó, quy hoạch sử dụng đất và quản lý quy hoạch sử dụng đất là công cụ căn bản, biện pháp rất quan trọng của quản lý Nhà nước để xác lập tính thống nhất về định hướng sự phân bố quỹ đất và tổ chức quản lý khai thác quỹ đất tiết kiệm, hợp lý và hiệu quả trong mối tương quan với các nguồn lực khác nhằm phục vụ tốt các mục tiêu phát triển bền vững kinh tế - xã hội - môi trường - an ninh quốc phòng theo cấp quốc gia, cấp vùng và các cấp địa phương

Liên hệ đến Thị xã Điện Bàn (tỉnh Quảng Nam), những năm gần đây

hạ tầng giao thông được đầu tư đồng bộ, tốc độ phát triển đô thị tương đối nhanh góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội trên địa bàn thị xã này Theo đó, nhu cầu đất để mở rộng các dự án đầu tư sản xuất, kinh doanh thương mại dịch vụ ngày càng cao, hoạt động khai thác và phát triển quỹ đất

Trang 8

2

diễn ra khá sôi động Việc thực hiện các dự án đầu tư này tất yếu dẫn đến một diện tích khá lớn đất nông nghiệp phải thu hồi, làm ảnh hưởng cả hai mặt (tích cực và tiêu cực) trong công tác quản lý sử dụng đất ở địa phương này, nhất là ở địa bàn khu đô thị mới Điện Nam – Điện Ngọc: (1) Nhiều diện tích đất đã giao nhà đầu tư song chậm tiến độ triển khai do các biểu hiện cầm chừng, dở dang và kéo dài nên phải cho dừng kỹ thuật để chuyển cho chủ đầu

tư khác; (2) Một số dự án thực hiện chưa quan tâm đúng mức các hạng mục

hạ tầng kỹ thuật (thông tin, cấp điện, nước thải, ) và chưa khớp nối tốt hạ tầng giao thông, hạ tầng công cộng và các hạ tầng xã hội; (3) Một số dự án chưa tính toán phương án hỗ trợ người dân bị thu hồi đất về sinh kế bền vững; (4) Một số nhà đầu tư, sàn giao dịch bất động sản lợi dụng dự án chuyển nhượng quyền sử dụng đất để đầu cơ đất Cùng với những vấn đề đô thị hóa quá nóng bằng chính sách đổi đất lấy hạ tầng đô thị dẫn đến hiện trạng sử dụng đất khu vực Điện Bàn đang mang tính hình thức phân bổ đất dựa trên cơ

sở đẩy nhanh thủ tục chuyển mục đích quyền sử dụng từ đất nông nghiệp sang phi nông nghiệp; thiếu quy hoạch không gian mà chưa có hệ thống điều tra cơ bản để đánh giá khoa học các tác động của các yếu tố môi trường và xã hội…

Với những lý do nêu trên, tác giả đăng ký lựa chọn đề tài nghiên cứu

“Quản lý nhà nước về quy hoạch sử dụng đất trên địa bàn thị xã Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam” để thực hiện luận văn thạc sỹ chuyên ngành Quản lý kinh

tế

2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài luận văn

Quy hoạch sử dụng đất và quản lý nhà nước về lĩnh vực này là vấn đề thời sự nên đã nhận được sự quan tâm nghiên cứu của các nhà khoa học, các nhà quản lý và hoạch định chính sách Tiêu biểu có thể kể đến các công trình nghiên cứu xoay quanh vấn đề này dưới đây:

* Một số công trình nghiên cứu trong nước:

Trang 9

sở thiên nhiên của mọi quá trình sản xuất, nơi tìm được công cụ, nguyên liệu lao động, khoảng không gian lãnh thổ cần thiết đối với mọi ngành kinh tế và

là nơi sinh tồn, hoạt động của con người

Ở tài liệu nghiên cứu “Đánh giá các loại hình sử dụng đất chủ yếu trong nông lâm nghiệp góp phần định hướng sử dụng đất vùng trung tâm miền núi Bắc bộ Việt Nam” của tác giả Nguyễn Huy Phồn năm 1996, Viện

Khoa học Kỹ thuật Nông nghiệp, Hà Nội Công trình này đưa ra yêu cầu của

sử dụng đất bền vững phải bao hàm các tổ hợp công nghệ, chính sách và hoạt động để liên hợp hữu cơ giữa nguyên lý kinh tế - xã hội với sự quan tâm về môi trường nhằm đồng thời: duy trì hoặc nâng cao hiệu quả sản xuất, an toàn giảm rủi ro sản xuất, bảo vệ lâu bền tiềm năng nguồn lực tự nhiên và ngăn ngừa thoái hoá đất và nước và nhận được sự chấp nhận của xã hội

Đối với công trình “Quy hoạch sử dụng đất nông nghiệp” của tác giả

Đoàn Công Quỳ, Trường Đại học Nông nghiệp Hà Nội, 2006 Nghiên cứu này xác định vai trò của đất cần được nhìn nhận là môi trường sống, cơ sở của quá trình sản xuất, hình thành cân bằng sinh thái, kho tàng lưu trữ và cung cấp nguồn nước, không gian của sự sống, trung gian để bảo tồn, bảo tàng lịch sử

và là vật mang sự sống

Các nghiên cứu như: bài “Công tác quản lý đất đai - những vấn đề đang đặt ra”; của tác giả Phùng Văn Nghệ đăng trên tạp chí tài chính năm 2012; bài “Giải quyết triệt để vấn đề đất đai: một trong những tiền đề của quá trình tái cơ cấu nền kinh tế” của tác giả Đặng Kim Sơn; bài “Những điểm mới

Trang 10

4

về quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất là vấn đề then chốt của công tác quản lý nhà nước về đất đai” của tác giả Hạ Trương… Họ có cùng quan điểm khi lưu

ý rằng: bên cạnh cần cơ chế phối hợp chặt chẽ giữa nhiều cơ quan Nhà nước

có thẩm quyền để tiến hành quy hoạch, thì phải coi trọng giải quyết đảm bảo mối quan hệ hài hòa về lợi ích giữa các chủ thể: chính quyền cấp trung ương

và cấp địa phương, nhà doanh nghiệp đầu tư và cư dân chịu sự tác động ảnh hưởng của quy hoạch Trường hợp không thực hiện được/ khó thực hiện quy hoạch một khi nếu không đảm bảo lợi ích, nguyện vọng của nhân dân hoặc cùa địa phương vùng quy hoạch, dẫn tới tình huống diễn ra là quy hoạch có thể bị hủy bỏ hoặc tính cưỡng chế của quy hoạch sẽ bị lung lay Các tác giả đưa ra khuyến cáo rằng, một khi những quyền lợi của người sử dụng đất vẫn chưa thực sự được tôn trọng thì cần có sự điều chỉnh chính sách pháp luật về đất đai phù hợp

Đề tài nghiên cứu của Viện Nghiên cứu Quản lý đất đai – Tổng cục

quản lý đất đai, Bộ Tài nguyên và Môi trường: “Nghiên cứa đặc điểm và tính kế thừa của hệ thống chính sách, pháp luật đất đai từ năm 1945 đến nay nhằm góp phần hoàn thiện hệ thống chính sách, pháp luật đất đai ở Việt Nam” do ThS Nguyễn Thị Song Hiền làm chủ nhiệm Công trình này trình

bày một số vấn đề lý luận về sở hữu đất đai và các chính sách pháp luật đất đai của nước ta từ năm 1945 đến nay, giới thiệu một số kinh nghiệm một số nước trên thế giới về chính sách đất đai; qua đó nghiên cứu thực trạng hệ thống chính sách, pháp luật đất đai từ năm 1945 đến nay và đưa ra một số đề xuất phương án góp phần hoàn thiện chính sách, pháp luật đất đai nước ta nhằm phục vụ việc hoạch định chính sách Luật Đất đai năm 2013

Luận án tiến sỹ ngành Quản lý đất đai: "Nghiên cứu tác động của chính sách đất đai đến sự phát triển kinh tế xã hội huyện Vân Đồn, tỉnh Quảng Ninh" của tác giả Đặng Tiến Sĩ năm 2017, Học viện Nông nghiệp Việt

Trang 11

5

Nam, Hà Nội Luận án này nghiên cứu cung cấp góp phần làm rõ cơ sở khoa học về tác động của chính sách đất đai đối với sự phát triển kinh tế xã hội; nghiên cứu tình hình thực hiện chính sách đất đai và tác động của chính sách đất đai đối với sự phát triển kinh tế xã hội tại huyện Vân Đồn (Quảng Ninh) Qua đó đưa ra một số giải pháp về chính sách đất đai để tác động tích cực đến

sự phát triển kinh tế xã hội huyện Vân Đồn

* Một số công trình nghiên cứu của quốc tế:

Tài liệu nghiên cứu “Land evaluation and farming system analysis for land use planning Working document” năm 1990 của FAO Tổ chức này xác định: Sử dụng đất sản xuất nông nghiệp trên cơ sở cân nhắc các mục tiêu phát triển kinh tế xã hội, tận dụng tối đa lợi thế so sánh về điều kiện sinh thái (mà không làm ảnh hưởng bất lợi đến môi trường) là nguyên tắc cơ bản để đảm bảo cho khai thác và sử dụng tài nguyên đất bền vững Do đó, đất nông nghiệp cần được sử dụng theo nguyên tắc “đầy đủ và hợp lý” Mặt khác, phải

có các quan điểm tiếp cận đúng và phù hợp với hoàn cảnh, điều kiện cụ thể nhằm tạo cơ sở thực hiện sử dụng đất nông nghiệp đạt hiệu quả cao về kinh tế

Trang 12

có đề tài nào nghiên cứu trùng lặp Song với những công trình vừa nêu trên lại

có giá trị kế thừa tham khảo tốt Chính vì vậy, nghiên cứu quản lý nhà nước

về quy hoạch sử dụng đất trên địa bàn thị xã Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam là cần thiết và có ý nghĩa thời sự

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

3.1 Mục đích nghiên cứu

Đề xuất các giải pháp hoàn thiện, tăng cường quản lý nhà nước về quy hoạch sử dụng đất đối với Thị xã Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam hiện nay

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

- Nghiên cứu cơ sở lý luận về quy hoạch sử dụng đất và quản lý nhà nước về quy hoạch sử dụng đất

- Nghiên cứu, đánh giá thực trạng quản lý nhà nước về quy hoạch sử dụng đất trên địa bàn thị xã Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam

- Đề xuất các giải pháp hoàn thiện, tăng cường quản lý nhà nước về quy hoạch sử dụng đất trên địa bàn Thị xã Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam hiện nay

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

4.1 Đối tượng nghiên cứu

Quản lý nhà nước về quy hoạch sử dụng đất

4.2 Phạm vi nghiên cứu

- Phạm vi nội dung:

Nghiên cứu quản lý nhà nước về quy hoạch sử dụng đất

- Phạm vi không gian:

Trang 13

7

Nghiên cứu quản lý nhà nước về quy hoạch sử dụng đất tại địa bàn Thị

xã Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam

- Phạm vi thời gian:

Nghiên cứu thời gian từ năm 2011 đến năm 2017

5 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu

5.1 Phương pháp luận

Đề tài luận văn được triển khai nghiên cứu dựa trên cơ sở phương pháp luận khoa học theo quan điểm của chủ nghĩa Mác – Lenin, tư tưởng Hồ Chí Minh

5.2 Phương pháp nghiên cứu

- Phương pháp tiếp cận hệ thống

- Phương pháp phân tích văn bản thứ cấp và thu thập, xử lý thông tin sơ cấp để làm rõ vấn đề nghiên cứu

- Phương pháp phân tích tổng hợp, thống kê, so sánh

6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn

Góp phần tư vấn chính sách trong quản lý nhà nước về quy hoạch sử dụng đất đai hiện nay

Trang 14

8

7 Kết cấu của luận văn

Bên cạnh phần Mở đầu, Kết luận và tài liệu tham khảo, kết cấu nội dung của luận văn gồm có 3 chương:

Chương 1 Cơ sở lý luận về quản lý nhà nước về quy hoạch sử dụng đất Chương 2 Thực trạng quản lý nhà nước về quy hoạch sử dụng đất trên địa bàn thị xã Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam

Chương 3.Giải pháp hoàn thiện, tăng cường quản lý nhà nước về quy hoạch sử dụng đất đối với Thị xã Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam hiện nay

Trang 15

9

CHƯƠNG 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ QUY HOẠCH SỬ

DỤNG ĐẤT

1.1 Quản lý nhà nước về quy hoạch sử dụng đất

1.1.1 Khái niệm, vai trò và đặc điểm quy hoạch sử dụng đất

* Khái niệm về quy hoạch sử dụng đất

Đất đai, theo tác giả Nguyễn Đình Bồng, “đó là một diện tích cụ thể của bề mặt trái đất, bao gồm tất cả các cấu thành của môi trường sinh thái ngay trên và dưới bề mặt đó bao gồm khí hậu, bề mặt, thổ nhưỡng, dạng địa hình, nước mặt (hồ, sông), nước ngầm, tập đoàn thực vật và động vật, trạng thái định cư của con người, những kết quả do hoạt động của con người trong quá khứ và hiện tại để lại” [4; tr 35-39] Vai trò của đất đai luôn được khẳng định, nếu lao động là cha thì đất đai là mẹ sinh sản ra mọi của cải vật chất trên thế giới này (Petty, năm 1962) Song, để phát huy vai trò của đất đai cho sự phát triển phải dựa vào sự đánh giá có hệ thống về tiềm năng của quốc gia/ vùng miền, tính thay đổi trong sử dụng đất (SDĐ) và những điều kiện kinh tế – xã hội nhất định; nói cách khác, tất yếu là phải quy hoạch SDĐ để thực hiện các sự lựa chọn cho việc SDĐ tốt nhất phù hợp với yêu cầu thiết yếu của con người về bảo vệ nguồn tài nguyên thiên nhiên trong tương lai

Quy hoạch SDĐ là một hệ thống công cụ của Nhà nước để tổ chức SDĐ hợp lý, hiệu quả thông qua việc bố trí, phân bổ đất đai cho các mục đích

sử dụng và định hướng tổ chức SDĐ trong các đơn vị hành chính lãnh thổ, các ngành, tổ chức đơn vị và người SDĐ trên cơ sở dự báo theo quan điểm sinh thái, bền vững trong từng thời kỳ nhằm nâng cao hiệu quả sản xuất xã hội

Trang 16

10

Tại Khoản 2, Điều 1 Luật đất đai năm 2013 xác định: “Quy hoạch SDĐ là việc phân bổ và khoanh vùng đất đai theo không gian sử dụng cho các mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội, quốc phòng, an ninh, bảo vệ môi trường và thích ứng biến đổi khí hậu trên cơ sở tiềm năng đất đai và nhu cầu SDĐ của các ngành, lĩnh vực đối với từng vùng kinh tế - xã hội và đơn vị hành chính trong một khoảng thời gian xác định” [11]

Hệ thống quy hoạch SDĐ được hợp thành từ quy hoạch SDĐ quốc gia cùng với quy hoạch SDĐ các vùng và địa phương để điều chỉnh các quá trình kinh tế xã hội Quy hoạch SDĐ quốc gia là căn cứ định hướng xác lập quy hoạch SDĐ cấp tỉnh Dựa trên cơ sở quy hoạch SDĐ cấp tỉnh để xác lập quy hoạch SDĐ cấp huyện

* Vai trò của quy hoạch sử dụng đất

Quy hoạch SDĐ thực hiện đồng thời hai chức năng: điều chỉnh các mối quan hệ đất đai và tổ chức SDĐ (tư liệu sản xuất của xã hội kết hợp với bảo vệ môi trường đất) Thông qua hai chức năng căn bản này, vai trò của quy hoạch SDĐ có ý nghĩa to lớn trong công tác quản lý và SDĐ

Quy hoạch SDĐ trước hết là nhằm tạo cơ sở quản lý thống nhất của nhà nước đối với đất đai Bằng quy hoạch SDĐ, nhà nước thực hiện được quyền pháp lý định đoạt về đất đai, nắm quỹ đất về từng loại đất và đảm bảo

cơ sở cho việc chuyển mục đích SDĐ, giao đất, thuê đất, tạo sự minh bạch, công bằng và dân chủ khi triển khai thực hiện các dự án, chủ động phân bổ quỹ đất hợp lý để phát triển các ngành/ lĩnh vực, nhất là lĩnh vực phát triển kết cấu hạ tầng cho công nghiệp, dịch vụ, đô thị

Các quy định về quy hoạch SDĐ là một bộ phận quan trọng của ngành luật đất đai, là công cụ quản lý nhà nước mang tính pháp lý quan trọng để quản lý và SDĐ có hiệu quả và bảo vệ môi trường sinh thái Nên đối với Nhà nước, quy hoạch SDĐ phải đảm bảo việc SDĐ hợp lý, tiết kiệm, đạt các mục

Trang 17

kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội, quốc phòng - an ninh của cả nước và các địa phương để đạt được các mục tiêu kinh tế – xã hội đặt ra Đồng thời, thông qua quy hoạch SDĐ để định hướng cho quá trình xây dựng cơ sở hạ tầng, đường giao thông, các công trình quan trọng phục vụ cho việc phát triển kinh

tế và lợi ích của cộng đồng Quy hoạch SDĐ là căn cứ để xác định với mức giá phù hợp đối với từng loại đất một cách chính xác kịp thời, đồng thời là cơ

sở định hướng cho các nhà đầu tư tiếp cận vốn đất đai, đóng góp đắc lực vào

sự phát triển kinh tế - xã hội của quốc gia, vùng và các địa phương

Quy hoạch SDĐ xác lập ổn định về mặt pháp lý cho công tác quản lý nhà nước về đất đai, tạo cho người SDĐ đúng với quy hoạch và không làm tổn hại đến lợi ích chính đáng của người SDĐ xung quanh (Bằng quy hoạch SDĐ để ràng buộc các đối tượng SDĐ chỉ được phép sử dụng đúng mục đích và phạm vi ranh giới của mình) Nó làm cơ sở để tiến hành giao cấp đất và đầu tư để phát triển sản xuất, đảm bảo an ninh lương thực, phục vụ nhu cầu dân sinh, văn hoá- xã hội

Quy hoạch SDĐ là cơ sở lên kế hoạch SDĐ để cân đối việc sử dụng quỹ đất trong cả nước phù hợp đối với từng ngành, từng vùng và địa phương

để phục vụ tốt nhất quá trình phát triển kinh tế – xã hội theo hướng bền vững Đồng thời, nhờ đó giúp cho quản lý nhà nước trong quá trình bố trí sắp xếp, sử dụng các loại đất một cách khoa học, tận dụng tốt tiềm năng SDĐ (tránh sử dụng quá mức dẫn đến cạn kiệt) góp phần khắc phục các mâu thuẫn, giảm thiểu sự chồng chéo gây lãng phí đất trong quy hoạch sử dụng các loại đất của

Trang 18

12

các ngành cũng như ngăn chặn hiện tượng tiêu cực về đất đai, tạo điều kiện phát triển kinh tế xã hội và bảo vệ môi trường

Quy hoạch SDĐ không chỉ để đảm bảo cho việc sử dụng đất tiết kiệm

và hiệu quả, mà còn để phù hợp với các điều kiện về đất đai, khí hậu, thổ nhưỡng và từng ngành sản xuất Quy hoạch SDĐ cùng với việc thống kê từng loại đất là căn cứ để đảm bảo Nhà nước tổ chức thực hiện việc phân phối và phân phối lại đất đai một cách hiệu quả theo các mục đích sử dụng khác nhau đối với từng loại đất trong quá trình phát triển kinh tế – xã hội Chẳng hạn, vai trò của quy hoạch SDĐ đối với thiết kế đô thị được thể hiện ở chỗ: quy hoạch SDĐ là cơ sở để nhà nước xác định tầm chiến lược về vị trí, quy mô và cơ cấu

sử dụng toàn bộ quỹ đất như: việc bố cục không gian trong vùng quy hoạch

đô thị (bố cục, quy mô SDĐ, các chỉ tiêu chiếm đất xây dựng, đất hành lang xanh, giao thông đô thị, công trình hạ tầng kỹ thuật và xã hội, nhà ở…) Trước tình hình về sự áp lực quá tải về mật độ dân số, tắc nghẽn giao thông, hủy hoại môi trường và nhiều vấn đề kinh tế - xã hội phức tạp khác, quy hoạch SDĐ là một trong giải pháp cốt lõi để tạo điều kiện tối ưu cho việc thiết

kế phát triển đô thị bền vững

Quy hoạch SDĐ là công cụ quản lý nhà nước chặt chẽ và định hướng quá trình SDĐ tiết kiệm và đúng mục đích, bảo vệ nguồn tài nguyên, môi trường Quy hoạch SDĐ đảm bảo độ che phủ thực vật của hệ sinh thái bền vững, góp phần bảo vệ môi trường và sự đa dạng sinh học

* Đặc điểm của quy hoạch sử dụng đất:

Quy hoạch SDĐ do nhà nước lập và phê duyệt trên cơ sở khoa học, thể hiện sự tính toán kỹ lưỡng, phân bổ đất đai cụ thể về số lượng và chất lượng,

vị trí, không gian cho các mục tiêu kinh tế - xã hội Quy hoạch SDĐ là cơ sở khoa học của cả quá trình quản lý và SDĐ

Trang 19

13

Quy hoạch SDĐ được lập theo những nguyên tắc cơ bản đã được quy định của Luật Đất đai hiện hành, nên nó có đặc điểm là phải đảm bảo phù hợp với chiến lược, quy hoạch tổng thể, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội, quốc phòng, an ninh; quy hoạch SDĐ của cấp dưới phải phù hợp với quy hoạch, kế hoạch SDĐ của cấp trên; quy hoạch, kế hoạch SDĐ của cấp trên phải thể hiện nhu cầu SDĐ của cấp dưới

Quy hoạch SDĐ là nhiệm vụ quản lý của nhà nước mang tính chiến lược dài hạn (thường là từ 10 năm trở lên), nó là nền tảng để lập kế hoạch SDĐ một cách phù hợp với thực trạng của từng địa phương

1.1.2 Khái niệm quản lý nhà nước về quy hoạch sử dụng đất

Quản lý nhà nước về đất đai là các hoạt động quản lý thuộc thẩm quyền của nhà nước và Chính phủ về tài nguyên đất và SDĐ, bao hàm cả về ý nghĩa kinh tế và môi trường với mục đích thúc đẩy quản lý hiệu quả, bền vững

Quản lý nhà nước về đất đai tập trung vào cách thức, cơ chế do nhà nước xây dựng và thực hiện chính sách đất đai và quản lý đất đai cho tất cả các loại đất không phân biệt quyền SDĐ Cụ thể hơn, đây là quá trình Nhà nước quản lý đất đai thuộc sở hữu của Nhà nước và giao đất cho các mục đích

Như vậy, quản lý nhà nước về quy hoạch SDĐ là tổng thể các cách

thức, cơ chế và biện pháp do nhà nước thiết lập để quản lý việc thực hiện quy hoạch SDĐ đã được phê duyệt nhằm mục đích SDĐ hợp lý, tiết kiệm và hiệu

Trang 20

14

quả trong một không gian và thời gian xác định, thúc đẩy sự phát triển kinh tế

- xã hội, quốc phòng, an ninh và bảo vệ môi trường bền vững

1.1.3 Mối quan hệ chủ yếu giữa quy hoạch sử dụng đất với quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế xã hội trong quản lý nhà nước

Quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế xã hội là công cụ quản lý Nhà nước ở tầm vĩ mô tổng thể, cung cấp căn cứ khoa học cho việc thiết kế quá trình phát triển kinh tế - xã hội ở từng thời kỳ, từng giai đoạn Trong quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế xã hội này được Nhà nước thông qua bao hàm sự chỉ dẫn định hướng vào các nhiệm vụ chủ yếu về vấn đề SDĐ

Còn bản thân quy hoạch SDĐ lại là một bộ phận rất quan trọng của tổng thể kinh tế - xã hội dưới góc nhìn quy hoạch; nhiệm vụ chủ yếu của quy hoạch SDĐ là căn cứ vào yêu cầu phát triển kinh tế – xã hội – môi trường –

an ninh quốc phòng cùng với các điều kiện tự nhiên kinh tế xã hội của từng vùng, địa phương để xác lập, điều chỉnh cơ cấu và phương hướng SDĐ cụ thể theo hướng thống nhất, hợp lý và tiết kiệm, thiết kế các phương án chi tiết về quy hoạch SDĐ thực hiện có lộ trình dưới sự quản lý điều hành của Nhà nước Ở thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa và tái cấu trúc nền kinh tế, việc SDĐ gắn liền với những điều chỉnh lớn giữa nông thôn và thành thị, giữa nông nghiệp và công nghiệp, giữa đất sản xuất và các loại đất chuyên dùng khác… Do đó, quy hoạch SDĐ là công cụ và giải pháp chiến lược huyết mạch, tạo lập cơ sở quyết định cho quy hoạch, kế hoạch phát triển các chuyên ngành, thể hiện ý chí của Nhà nước về sự phát triển, như: quy hoạch đô thị; quy hoạch phát triển nông nghiệp nông thôn; và các quy hoạch ngành, lĩnh vực khác

Nói cách khác, mối quan hệ chủ yếu giữa quy hoạch SDĐ với quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế xã hội trong quản lý Nhà nước được thể hiện tập trung ở chỗ: quy hoạch SDĐ là sự cụ thể hóa quy hoạch tổng thể phát

Trang 21

15

triển kinh tế xã hội; và các nội dung của quy hoạch SDĐ được xác lập trên cơ

sở điều hòa thống nhất với quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế – xã hội, góp phần hiện thực hóa quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế – xã hội

1.2 Nội dung quản lý nhà nước về quy hoạch sử dụng đất

1.2.1 Nội dung chung của quản lý nhà nước về quy hoạch sử dụng đất

Nhà nước ta quản lý đất đai theo quy hoạch và pháp luật, nên việc lập quy hoạch SDĐ và quản lý quy hoạch SDĐ là một trong những nội dung rất quan trọng trong công tác quản lý nhà nước về đất đai nhằm bảo đảm đất đai được quản lý thống nhất, sử dụng hợp lý, tiết kiệm và phục vụ hiệu quả cho phát triển kinh tế - xã hội Quy hoạch SDĐ chính là công việc của tất cả các

cơ quan quản lý đất đai và các tổ chức, cá nhân sử dụng đất của Nhà nước

Dựa trên cơ sở pháp lý hiện hành của Luật đất đai năm 2013; Nghị định

số 43/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Đất đai; Nghị định số 01/2017/NĐ- CP ngày 06/01/2017 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số nghị định quy định chi tiết thi hành Luật Đất đai, nội dung chung của quản lý nhà nước về quy hoạch

SDĐ bao gồm:

- Ban hành văn bản quy phạm pháp luật về quản lý, SDĐ và tổ chức thực hiện văn bản đó Pháp luật điều chỉnh hoạt động quy hoạch SDĐ thông qua quy định trách nhiệm của mỗi cơ quan, mỗi ngành, mỗi đơn vị trong xây dựng quy hoạch SDĐ

- Điều tra, đánh giá tài nguyên đất; khảo sát, đo đạc, lập bản đồ hiện trạng SDĐ và bản đồ quy hoạch SDĐ

- Tuyên truyền giáo dục chính sách pháp luật về đất đai và phổ biến công khai rộng rãi quy hoạch SDĐ đã phê duyệt

Trang 22

16

- Quản lý quy hoạch SDĐ thông qua các giải pháp tổ chức thực hiện quy hoạch SDĐ phù hợp với đặc điểm của địa bàn quy hoạch; quản lý việc giao đất, cho thuê đất, thu hồi đất, chuyển mục đích SDĐ; quản lý việc bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi thu hồi đất… nhằm bảo đảm cho các quy hoạch

đó có hiệu lực trong thực tế

Việc quản lý quy hoạch SDĐ được thể hiện bằng việc công bố quy hoạch SDĐ và kỳ quy hoạch SDĐ là 10 năm Trong thời hạn không quá 30 ngày làm việc, kể từ ngày được cơ quan Nhà nước có thẩm quyền quyết định hoặc xét duyệt, quy hoạch SDĐ phải được công bố công khai theo quy định của pháp luật đất đai

Việc thực hiện hoạt động điều chỉnh quy hoạch SDĐ áp dụng ở các

trường hợp khi: (1) Có sự điều chỉnh mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội, quốc

phòng, an ninh đã được cơ quan Nhà nước có thẩm quyền quyết định, xét duyệt mà sự điều chỉnh đó làm thay đổi cơ cấu SDĐ; (2) Do tác động của thiên tai, chiến tranh làm thay đổi mục đích, cơ cấu, vị trí, diện tích SDĐ; (3)

Có sự điều chỉnh quy hoạch SDĐ của cấp trên trực tiếp làm ảnh hưởng tới quy hoạch SDĐ của cấp mình; (4) Có sự điều chỉnh địa giới hành chính của địa phương

Về nội dung điều chỉnh quy hoạch SDĐ, quy hoạch SDĐ chi tiết gồm: (1) Bổ sung, điều chỉnh hoặc huỷ bỏ các công trình, dự án trong kỳ quy hoạch; (2) Thay đổi cơ cấu các loại đất trong nhóm đất nông nghiệp; thay đổi

vị trí, diện tích các khu đất đã khoanh định theo chức năng trong nhóm đất phi nông nghiệp; thay đổi chỉ tiêu đưa đất chưa sử dụng vào sử dụng; (3) Giải pháp tổ chức thực hiện điều chỉnh quy hoạch SDĐ Hồ sơ xét duyệt điều chỉnh quy hoạch SDĐ và quy hoạch SDĐ chi tiết được nộp tại cơ quan quản

lý đất đai cùng cấp với cơ quan có thẩm quyền quyết định, xét duyệt điều chỉnh quy hoạch SDĐ hoặc quy hoạch SDĐ chi tiết để thẩm định (hồ sơ gồm

Trang 23

17

có: Tờ trình của UBND cấp lập quy hoạch SDĐ hoặc quy hoạch SDĐ chi tiết hoặc Ban Quản lý khu công nghệ cao, khu kinh tế trình cơ quan nhà nước có thẩm quyền xét duyệt, điều chỉnh quy hoạch SDĐ hoặc quy hoạch SDĐ chi tiết; Báo cáo thuyết minh điều chỉnh quy hoạch SDĐ hoặc quy hoạch SDĐ chi tiết; Bản đồ quy hoạch SDĐ của khu vực cần điều chỉnh đối với trường hợp điều chỉnh quy hoạch SDĐ hoặc bản đồ quy hoạch SDĐ chi tiết đối với trường hợp cần điều chỉnh quy hoạch SDĐ chi tiết) Đối với điều chỉnh quy hoạch SDĐ vào mục đích quốc phòng, an ninh thì hồ sơ nộp tại Bộ Tài nguyên và Môi trường để thẩm định Cơ quan nhà nước có thẩm quyền quyết định, phê duyệt quy hoạch SDĐ của cấp nào thì có thẩm quyền quyết định, phê duyệt điều chỉnh quy hoạch SDĐ của cấp đó

- Thanh tra, kiểm tra, giám sát, theo dõi, đánh giá việc chấp hành quy định của pháp luật về đất đai và xử lý vi phạm pháp luật về đất đai

1.2.2 Phân cấp quản lý nhà nước theo thẩm quyền đối với quy hoạch

sử dụng đất

Căn cứ cơ sở pháp lý hiện hành của Luật đất đai năm 2013; Nghị định

số 43/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Đất đai; Nghị định số 01/2017/NĐ- CP ngày 06/01/2017 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số nghị định quy định chi tiết thi hành Luật Đất đai…, cụ thể là:

- Ở Trung ương:

Quốc hội quyết định quy hoạch SDĐ cấp quốc gia Chính phủ phê duyệt quy hoạch SDĐ cấp tỉnh; quy hoạch, kế hoạch SDĐ lĩnh vực quốc phòng và lĩnh vực an ninh

Chính phủ tổ chức, chỉ đạo việc thực hiện quy hoạch SDĐ của cả nước; kiểm tra việc thực hiện quy hoạch SDĐ của cấp tỉnh

Trang 24

18

Bộ Tài nguyên và Môi trường có trách nhiệm công bố công khai toàn

bộ tài liệu về quy hoạch SDĐ của cả nước đã được Quốc hội quyết định tại trụ

sở cơ quan Bộ trong suất kỳ quy hoạch SDĐ; đăng Công báo; công bố trên mạng thông tin quản lý nhà nước của Chính phủ và trích đăng trên một báo hàng ngày của Trung ương

Bộ Tài nguyên và Môi trường có trách nhiệm tổng hợp kết quả thực hiện kế hoạch SDĐ hàng năm của cả nước để báo cáo Chính phủ trước ngày 15/3 năm sau

lý nhà nước của cấp tỉnh và trích đăng trên báo của địa phương

UBND cấp tỉnh phê duyệt quy hoạch SDĐ cấp huyện và kiểm tra việc thực hiện quy hoạch, kế hoạch SDĐ của các đơn vị cấp huyện trực thuộc mình quản lý

UBND cấp tỉnh quyết định giao đất, cho thuê đất, thu hồi đất, chuyển mục đích SDĐ phải theo đúng quy hoạch SDĐ đã được xét duyệt

Chủ tịch UBND cấp tỉnh có trách nhiệm phát hiện và xử lý kịp thời các trường hợp vi phạm quy hoạch, kế hoạch SDĐ tại địa phương mình

Hàng năm, UBND cấp tỉnh có trách nhiệm báo cáo kết quả thực hiện

kế hoạch SDĐ của địa phương đến ngày 31/12 cho Bộ Tài nguyên và Môi trường trước ngày 15/02 năm sau

Trang 25

19

Sở Tài nguyên và Môi trường tổ chức kiểm tra, thanh tra việc thực hiện quy hoạch, kế hoạch SDĐ tại địa phương; phát hiện và xử lý theo thẩm quyền hoặc đề nghị cơ quan nhà nước có thẩm quyền xử lý các vi phạm về quy hoạch, kế hoạch SDĐ Trường hợp phát hiện nhu cầu thực tế cần điều chỉnh quy hoạch, kế hoạch SDĐ thì báo cáo UBND cấp tỉnh về nhu cầu đó

- Ở cấp huyện:

+ UBND cấp huyện trình HĐND cùng cấp thông qua quy hoạch SDĐ cấp huyện trước khi trình UBND cấp tỉnh phê duyệt Nên việc lập quy hoạch SDĐ cấp huyện, căn cứ vào: Quy hoạch SDĐ cấp tỉnh; Quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội của cấp tỉnh, cấp huyện; Điều kiện tự nhiên, kinh tế

- xã hội của cấp huyện; Hiện trạng SDĐ, tiềm năng đất đai và kết quả thực hiện quy hoạch SDĐ cấp huyện kỳ trước; Nhu cầu SDĐ của các ngành, lĩnh vực, của cấp huyện, của cấp xã; Định mức SDĐ; Tiến bộ khoa học và công nghệ có liên quan đến việc SDĐ Về mặt nội dung của quy hoạch SDĐ cấp huyện phải bao gồm: (a) Định hướng SDĐ 10 năm; (b) Xác định diện tích các loại đất đã được phân bổ trong quy hoạch SDĐ cấp tỉnh và diện tích các loại đất theo nhu cầu SDĐ của cấp huyện và cấp xã; (c) Xác định các khu vực SDĐ theo chức năng sử dụng đến từng đơn vị hành chính cấp xã; (d) Xác định diện tích các loại đất đã xác định tại điểm b khoản này đến từng đơn vị hành chính cấp xã; (đ) Lập bản đồ quy hoạch SDĐ cấp huyện; đối với khu vực quy hoạch đất trồng lúa, khu vực quy hoạch chuyển mục đích SDĐ quy định tại các điểm a, b, c, d và e khoản 1 Điều 57 của Luật đất đai 2013 thì thể hiện chi tiết đến từng đơn vị hành chính cấp xã; (e) Giải pháp thực hiện quy hoạch SDĐ

Phòng Tài nguyên và Môi trường có trách nhiệm công bố công khai toàn bộ tài liệu về quy hoạch SDĐ của cấp huyện đã được xét duyệt tại trụ sở

Trang 26

+ UBND cấp huyện quyết định giao đất, cho thuê đất, thu hồi đất, chuyển mục đích SDĐ phải theo đúng quy hoạch SDĐ đã được xét duyệt Chủ tịch UBND cấp huyện có trách nhiệm phát hiện và xử lý kịp thời các trường hợp vi phạm quy hoạch, kế hoạch SDĐ tại địa phương mình

+ Phòng Tài nguyên và Môi trường tổ chức kiểm tra, thanh tra việc thực hiện quy hoạch, kế hoạch SDĐ tại địa phương; phát hiện và xử lý theo thẩm quyền hoặc đề nghị cơ quan nhà nước có thẩm quyền xử lý các vi phạm

về quy hoạch, kế hoạch SDĐ Trường hợp phát hiện nhu cầu thực tế cần điều chỉnh quy hoạch, kế hoạch SDĐ thì báo cáo UBND cấp huyện về nhu cầu đó

+ Hàng năm, UBND cấp huyện có trách nhiệm báo cáo kết quả thực hiện kế hoạch SDĐ của địa phương đến ngày 31/12 cho UBND cấp tỉnh trước ngày 31/01 năm sau

- Ở cấp xã:

UBND cấp xã có trách nhiệm công bố công khai toàn bộ tài liệu về quy hoạch SDĐ chi tiết và các dự án, công trình đầu tư đã được xét duyệt tại trụ

sở UBND xã, phường, thị trấn trong suốt kỳ quy hoạch SDĐ Cơ quan quản

lý đất đai các cấp có trách nhiệm công bố công khai quy hoạch SDĐ của địa phương tại trụ sở cơ quan và trên phương tiện thông tin đại chúng Việc công

bố công khai tại trụ sở UBND và cơ quan quản lý đất đai được thực hiện trong suốt thời gian của kỳ quy hoạch SDĐ có hiệu lực

Trang 27

21

UBND cấp xã tổ chức, chỉ đạo thực hiện quy hoạch SDĐ cấp huyện, kế hoạch SDĐ của địa phương xã; phát hiện, ngăn chặn các hành vi SDĐ trái với quy hoạch, kế hoạch SDĐ đã được công bố

UBND cấp xã có trách nhiệm theo dõi việc thực hiện quy hoạch SDĐ cấp huyện, kế hoạch SDĐ tại địa phương xã Khi phát hiện những trường hợp SDĐ không đúng quy hoạch, kế hoạch đã được công bố thì xử lý theo thẩm quyền hoặc đề nghị với cơ quan nhà nước có thẩm quyền để xử lý Chủ tịch UBND cấp xã chịu trách nhiệm chính về việc không ngăn chặn, không xử lý kịp thời, để xảy ra trường hợp SDĐ không đúng quy hoạch, kế hoạch SDĐ đã được xét duyệt tại địa phương

Hàng năm, UBND cấp xã có trách nhiệm báo cáo kết quả thực hiện kế hoạch SDĐ của địa phương đến ngày 31/12 cho UBND cấp huyện trước ngày

15 tháng 01 năm sau

Cán bộ địa chính cấp xã tổ chức kiểm tra, thanh tra việc thực hiện quy hoạch SDĐ cấp huyện, kế hoạch SDĐ tại địa phương xã; phát hiện và xử lý theo thẩm quyền hoặc đề nghị cơ quan nhà nước có thẩm quyền xử lý các vi phạm về quy hoạch, kế hoạch SDĐ

Trường hợp phát hiện nhu cầu thực tế cần điều chỉnh quy hoạch SDĐ thì tham mưu đề xuất UBND cấp xã báo cáo đến UBND cấp huyện về nhu cầu đó Trường hợp quy hoạch, kế hoạch SDĐ đã được công bố có diện tích đất phải thu hồi mà Nhà nước chưa thực hiện việc thu hồi đất, bồi thường, giải phóng mặt bằng thì người SDĐ được tiếp tục sử dụng theo mục đích đã xác định trước khi công bố quy hoạch, kế hoạch SDĐ; nếu người SDĐ không còn nhu cầu sử dụng thì Nhà nước thu hồi đất và bồi thường hoặc hỗ trợ theo luật định Nhà nước nghiêm cấm mọi hoạt động tự ý xây dựng, đầu tư bất động sản trong khu vực đất phải thu hồi để thực hiện quy hoạch, kế hoạch SDĐ Trường hợp có nhu cầu cải tạo sửa chữa nhà ở, công trình gắn liền với đất

Trang 28

22

phải thu hồi mà làm thay đổi quy mô, cấp công trình hiện có thì phải được cơ quan Nhà nước có thẩm quyền cho phép Diện tích đất ghi trong kế hoạch SDĐ đã được công bố phải thu hồi để thực hiện dự án, công trình hoặc phải chuyển mục đích SDĐ mà sau 3 năm không được thực hiện theo kế hoạch thì

cơ quan Nhà nước có thẩm quyền xét duyệt kế hoạch SDĐ phải điều chỉnh hoặc huỷ bỏ và công bố

1.3 Kinh nghiệm của một số quốc gia về quản lý quy hoạch sử dụng đất

Đất đai ngày nay là một nguồn tài nguyên lớn, một nguồn lực lớn để phát triển quốc gia - nếu chúng được khai thác, sử dụng đúng, tiết kiệm và hợp lý Và năng lực quản lý quy hoạch SDĐ là nhằm tạo ra những khu vực định cư đáng sống với hạ tầng giao thông, kỹ thuật đầy đủ và ngày càng hiện đại, môi trường sống văn minh, xanh sạch Tuy nhiên, trong thực tiễn có những quốc gia thành công, biến đất nước họ thành những đô thị và những làng mạc đáng sống cho người dân và điều kiện để phát triển bền vững Nhưng cũng không ít quốc gia ở các châu lục đã thất bại trong việc này, nguồn lực không còn nữa và sai lầm thì không sửa chữa được

Liên hệ đến Thị xã Điện Bàn (Quảng Nam) của nước ta trong bối cảnh

đã và đang nâng cấp đô thị trước yêu cầu xây dựng và phát triển đô thị bền vững, nên việc tham khảo kinh nghiệm của Hàn Quốc, Hà Lan cũng như Trung Quốc trong việc quản lý về phát triển đô thị sinh thái, đô thị bền vững, nhất là ở khía cạnh quản lý Nhà nước về quy hoạch sử dụng đất ở địa phương

là cần thiết

1.3.1 Kinh nghiệm của Hàn Quốc

Ở Hàn Quốc, việc lập quy hoạch SDĐ thực hiện theo các cấp: quốc

gia, cấp tỉnh, vùng thủ đô; cấp huyện, vùng đô thị cơ bản Quy hoạch cấp quốc gia do Bộ trưởng Bộ Đất đai, Giao thông và Hàng hải phê duyệt, quy

Trang 29

23

hoạch SDĐ cấp tỉnh do tỉnh phê duyệt, quy hoạch đất cấp huyện hoặc quy hoạch đô thị cơ bản do Tỉnh trưởng phê duyệt Quốc hội không can thiệp vào quá trình xét duyệt quy hoạch SDĐ Theo đó, quy hoạch SDĐ được thực hiện

từ tổng thể tới chi tiết Quy hoạch cấp tỉnh, vùng thủ đô phải căn cứ trên cơ sở quy hoạch cấp quốc gia; quy hoạch cấp huyện, vùng đô thị phải căn cứ vào quy hoạch cấp tỉnh Kỳ quy hoạch đối với cấp quốc gia, cấp tỉnh là 20 năm, quy hoạch SDĐ vùng đô thị cơ bản và kế hoạch SDĐ là 10 năm Sau 5 năm sẽ tiến hành rà soát để điều chỉnh cho phù hợp với yêu cầu phát triển và thị trường

Việc lập quy hoạch, kế hoạch SDĐ có tổ chức lấy ý kiến nhân dân Sau khi quy hoạch được phê duyệt sẽ được công khai và phổ biến đến nhân dân Chính quyền các cấp có trách nhiệm tiếp thu, giải trình ý kiến nhân dân về quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất và tổ chức thực hiện quy hoạch, kế hoạch

đó Nhà nước có chính sách bảo đảm tính khả thi của quy hoạch, ví dụ: hỗ trợ đối với các khu vực bảo tồn, các khu vực cần bảo vệ như miễn thuế, không phải thực hiện nghĩa vụ quân sự, được hỗ trợ đời sống…

1.3.2 Kinh nghiệm của Trung Quốc

Ở Trung Quốc, kỳ quy hoạch SDĐ của các cấp theo quy định của Luật

đất đai năm 1999 của Trung Quốc là 10 năm Quy hoạch SDĐ được lập theo

4 cấp: cấp quốc gia, cấp tỉnh (thành phố trực thuộc trung ương, thành phố thuộc tỉnh), cấp huyện và cấp xã Bộ Đất đai và Tài nguyên quốc gia và Cơ quan quản lý đất đai thuộc UBND cấp tỉnh đều có trách nhiệm chung là tổ chức lập và thực hiện quy hoạch đất quốc gia, quy hoạch tổng thể SDĐ; tham gia vào việc thẩm tra quy hoạch tổng thể đô thị trình Quốc vụ viện phê chuẩn

Nhìn chung, Bộ Đất đai và Tài nguyên quốc gia chỉ đạo và thẩm tra quy hoạch tổng thể SDĐ của địa phương; còn UBND cấp tỉnh phê duyệt, chỉ đạo và thẩm định quy hoạch tổng thể SDĐ của thành phố (thuộc tỉnh), huyện

Trang 30

24

Cơ quan quản lý đất đai thuộc UBND cấp huyện căn cứ vào quy hoạch tổng thể SDĐ của cấp trên, tổ chức lập và thực hiện quy hoạch tổng thể SDĐ và các quy hoạch chuyên ngành có liên quan cấp huyện Phòng tài nguyên đất đai cấp xã lập và thực hiện quy hoạch tổng thể SDĐ cấp xã, hợp tác và hỗ trợ làm tốt công tác lấy ý kiến quần chúng đối với quy hoạch Chính phủ phê duyệt quy hoạch SDĐ cấp quốc gia, các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương, các thành phố thuộc tỉnh nhưng có trên 1 triệu dân (như: Nam Ninh, Quảng Châu), các đặc khu kinh tế (như: Thâm Quyến, Chu Hải) UBND cấp tỉnh phê duyệt quy hoạch SDĐ của các đơn vị hành chính cấp huyện và quy hoạch SDĐ của cấp xã

Việc lập quy hoạch SDĐ phải bảo đảm tuân thủ triệt để nhiều nguyên tắc, như: SDĐ phải tiết kiệm, đem lại hiệu quả sử dụng cao nhất; bảo đảm sự cân bằng giữa nhu cầu và lợi ích SDĐ của các ngành kinh tế, xã hội và các địa phương; tăng cường bảo vệ môi trường, phát triển sinh thái tự nhiên nhằm duy trì và nâng cao chất lượng sống cho người dân của cả nước… Tuy nhiên, nguyên tắc quan trọng nhất là bảo vệ nghiêm ngặt 120 triệu ha đất canh tác Điều này được thể hiện rõ và xuyên suốt trong hệ thống pháp luật về đất đai của Trung Quốc Theo đó, trong quy hoạch SDĐ cấp quốc gia phải xác định được diện tích đất canh tác cần bảo vệ nghiêm ngặt theo quy định của Nhà nước, trong đó phải chỉ rõ diện tích đất canh tác cơ bản (chiếm 80% tổng diện tích canh tác) có chất lượng tốt nhất cần được duy trì vĩnh cửu và không được phép chuyển đổi mục đích sử dụng dưới bất cứ lý do gì

Hàng năm, căn cứ vào quy hoạch SDĐ được duyệt, Chính phủ giao chỉ tiêu chuyển mục đích SDĐ nông nghiệp sang mục đích khác cho từng tỉnh Trên cơ sở đó, UBND cấp tỉnh phân bổ cụ thể cho từng đơn vị hành chính cấp huyện và UBND cấp huyện phân bổ kế hoạch SDĐ đến từng đơn vị xã để thực hiện Việc chuyển mục đích SDĐ canh tác sang sử dụng vào các mục

Trang 31

25

đích khác phi nông nghiệp phải được phê duyệt tại cấp tỉnh và Chính phủ Trường hợp quy hoạch, kế hoạch SDĐ bị vi phạm thì tùy mức độ vi phạm mà người đứng đầu địa phương sẽ bị xử lý hành chính hoặc sẽ bị truy cứu trách nhiệm hình sự, đất bị vi phạm sẽ bị thu hồi (kể cả trường hợp đã đầu tư)

1.3.3 Kinh nghiệm của Hà Lan

Ở Hà Lan, việc lập quy hoạch, kế hoạch SDĐ phải trên cơ sở kết quả

khảo sát đánh giá các tham số ở các địa phương: tham số kỹ thuật (chất lượng đất, đặc điểm địa hình, hiện trạng sử dụng, các khả năng cải thiện với bên ngoài ); tham số kinh tế (tiềm năng phát triển kinh tế); tham số văn hoá - xã hội (công trình văn hoá, nghệ thuật, bảo tồn các truyền thống văn hoá ); các giá trị và tiêu chuẩn xã hội; tham số môi trường (mức độ ô nhiễm nước và đất, không khí) Việc đưa ra quy hoạch, kế hoạch SDĐ trên cơ sở kết quả khảo sát các tham số này sẽ giúp chính quyền có được cái nhìn tổng quát và chi tiết nhất về đặc điểm của từng vùng, lãnh thổ; từ đó đưa ra bản quy hoạch, kế hoạch SDĐ phù hợp, hiệu quả và có tính bền vững

Quyền quyết định quy hoạch SDĐ cấp quốc gia thuộc về Nghị viện và Chính phủ Giúp việc cho các cơ quan này có Ủy ban Quy hoạch Không gian Nhà nước, Cơ quan Quy hoạch không gian Nhà nước và Hội đồng tư vấn quy hoạch không gian Tại cấp tỉnh, Ủy ban Quy hoạch không gian tỉnh và Cơ quan quy hoạch không gian tỉnh là các cơ quan chuyên môn giúp việc cho Hội đồng tỉnh và Ban chấp hành Hội đồng tỉnh về đất đai Tại địa phương có Phòng Quy hoạch cấp huyện, Hội đồng Huyện và Ban Chấp hành Hội đồng huyện Tuy nhiên, chỉ có các huyện lớn mới có Phòng Quy hoạch cấp huyện Các huyện khác thuê các chuyên gia tư vấn tư nhân thực hiện các công việc quy hoạch như khảo sát, tư vấn và lập kế hoạch Huyện có 2 loại sơ đồ dùng cho chính sách quy hoạch là Sơ đồ bố trí tổ chức và Sơ đồ quy hoạch SDĐ

Trang 32

26

Hội đồng huyện sau khi thông qua Sơ đồ sẽ báo cáo lên Ban chấp hành Hội đồng tỉnh và Cơ quan Quy hoạch không gian nhà nước

1.3.4 Một số bài học kinh nghiệm rút ra

Đất đai ngày nay là một nguồn tài nguyên lớn, một nguồn lực lớn để phát triển quốc gia - nếu chúng được khai thác, sử dụng đúng, tiết kiệm và hợp lý Và năng lực quản lý quy hoạch SDĐ là nhằm tạo ra những khu vực định cư đáng sống với hạ tầng giao thông, kỹ thuật đầy đủ và ngày càng hiện đại, môi trường sống văn minh, xanh sạch Từ kinh nghiệm của một số quốc gia điển hình nêu trên, có thể rút ra một số bài học có giá trị tham khảo, đó là:

- Việc lập quy hoạch SDĐ phải trên cơ sở kết quả khảo sát đánh giá các tham số kỹ thuật - kinh tế - văn hoá, xã hội - môi trường từ thực tiễn các địa phương để đảm bảo quy hoạch SDĐ đạt tầm nhìn tổng thể đến đặc điểm của từng vùng, lãnh thổ

- Quy hoạch SDĐ và điều chỉnh quy hoạch này cần có sự tham vấn của các bên liên quan (người dân, doanh nghiệp, nhà đầu tư, các tổ chức xã hội)

và trách nhiệm giải trình của chính quyền nhằm phù hợp với yêu cầu phát triển, bảo đảm cân bằng giữa nhu cầu và lợi ích SDĐ của các ngành kinh tế,

xã hội và các địa phương; bảo vệ môi trường và phát triển sinh thái tự nhiên;

để bảo đảm xử lý hài hòa giữa lợi ích xã hội, lợi ích của người dân và lợi ích của nhà đầu tư; lợi ích ngắn hạn, trung hạn và dài hạn; lợi ích chính trị, kinh

Trang 33

27

Tiểu kết chương 1

Trên cơ sở đề cập khái niệm, vai trò, đặc điểm của quy hoạch SDĐ và mối quan hệ chủ yếu giữa quy hoạch SDĐ với quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế xã hội, chương 1 xác định: Quản lý nhà nước về quy hoạch SDĐ là tổng thể các cách thức, cơ chế và biện pháp do nhà nước thiết lập để quản lý việc thực hiện quy hoạch SDĐ đã được phê duyệt nhằm mục đích SDĐ hợp

lý, tiết kiệm và hiệu quả trong một không gian và thời gian xác định, thúc đẩy

sự phát triển kinh tế - xã hội, quốc phòng, an ninh và bảo vệ môi trường bền vững Qua đó trình bày cơ bản các nội dung quản lý nhà nước về quy hoạch SDĐ theo pháp luật hiện hành; đồng thời, chương 1 thông qua kinh nghiệm của một số quốc gia về quản lý quy hoạch SDĐ để rút ra một số bài học có giá trị tham khảo Đây là cơ sở góp phần hệ thống hóa cơ sở lý luận về quy hoạch SDĐ và quản lý nhà nước về quy hoạch SDĐ

Trang 34

28

CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ QUY HOẠCH SỬ DỤNG ĐẤT TRÊN ĐỊA BÀN THỊ XÃ ĐIỆN BÀN, TỈNH QUẢNG NAM

2.1 Khái quát chung về Thị xã Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam

Thị xã Điện Bàn có địa bàn trải từ 15050' đến 15057' vĩ độ Bắc và từ

1080 đến 108020’ kinh độ Đông Thị xã Điện Bàn được chia thành 20 đơn vị hành chính trực thuộc bao gồm: 07 phường (Vĩnh Điện, Điện An, Điện Ngọc, Điện Nam Bắc, Điện Nam Trung, Điện Nam Đông, Điện Dương) và 13 xã (Điện Phong, Điện Trung, Điện Quang, Điện Phước, Điện Thọ, Điện Hồng, Điện Tiến, Điện Hòa, Điện Thắng Bắc, Điện Thắng Trung, Điện Thắng Nam, Điện Minh, Điện Phương)

Diện tích tự nhiên 21.497,00 ha Điện Bàn có địa thế thấp dần từ Tây sang Đông, mức độ chia cắt trung bình Địa hình của Điện Bàn được chia ra thành ba dạng chính: (1) Địa hình ven biển chủ yếu là cồn cát và bãi cát ven biển chạy dài từ Bắc xuống Nam với diện tích khoảng 5.300 ha chiếm 25% diện tích toàn Thị xã Vùng này gồm các phường Điện Ngọc, Điện Nam Bắc, Điện Nam Trung, Điện Nam Đông, Điện Dương; (2) Địa hình đồng bằng bao gồm hầu hết các xã đồng bằng ở khu vực trung tâm và phía Tây của Thị xã với diện tích khoảng 15.500 ha chiếm 73% tổng diện tích tự nhiên Đây là vùng địa hình phân bố dân cư và đất nông nghiệp chủ yếu của thị xã; (3) Địa hình gò đồi phân bố chủ yếu ở xã Điện Tiến và một phần xã Điện Thọ có diện tích khoảng 395 ha chiếm 2% diện tích tự nhiên, độ dốc biến thiên từ 80-200, độ cao tuyệt đối trung bình từ 8 - 10 m, hiện tại được sử dụng chủ yếu vào mục đích lâm nghiệp Như vậy, Điện Bàn ngoài khu vực gò đồi ở Điện Tiến phía Tây của Thị xã có độ cao tuyệt đối trên 10m, còn lại hầu hết là địa hình bằng

Trang 35

Do thị xã ven biển nên có ảnh hưởng của khí hậu ven biển miền Trung

và thuộc khu vực có chế độ khí hậu nhiệt đới ẩm, gió mùa với 02 mùa rõ rệt: mùa khô từ tháng 01 đến tháng 8 với lượng mưa chiếm 20% ÷ 25% lượng mưa trung bình năm, thường xảy ra hạn hán, nắng nóng, giông tố; mùa mưa bắt đầu từ tháng 9 đến tháng 12, lượng mưa khoảng 75% ÷ 70% lượng mưa trung bình cả năm và cũng thường gây ra lũ, lụt Đa phần diện tích Điện Bàn trong vùng trũng nên chịu tác động mạnh từ bão, lũ

Về tài nguyên nước, nguồn nước mặt của thị xã được cung cấp chủ yếu

từ hệ thống 5 con sông chính nêu trên và các hệ thống sông nhỏ khác như sông Thanh Quýt, sông La Thọ, sông Hà Sấu

Tài nguyên đất trên địa bàn Thị xã Điện Bàn (theo số liệu thống kê đến năm 2017) có tổng diện tích đất tự nhiên toàn thị xã là 21.632,43 ha, gồm có

4 nhóm đất chính: (1) Nhóm đất cát biển (C) có diện tích 5.591,05 ha chiếm 26,04% diện tích tự nhiên; (2) Nhóm đất phù sa (P) có diện tích 14.958,85 ha chiếm 69,67% ha diện tích tự nhiên; (3) Nhóm đất mặn (M) có diện tích 485,24 ha chiếm 2,26% diện tích tự nhiên; (4) Nhóm đất xói mòn trơ sỏi đá

Trang 36

30

(E) có diện tích khoảng 435,86 ha, chiếm 2,03% diện tích tự nhiên Trong 21.632,43 ha diện tích đất tự nhiên của toàn thị xã Điện Bàn, phân theo mục đích sử dụng năm 2017 gồm có: 54,23% diện tích tự nhiên là đất nông nghiệp (11.730,93 ha); 40,99% diện tích tự nhiên là đất phi nông nghiệp (8.866,52 ha) gồm đất ở, đất chuyên dùng, đất tôn giáo, nghĩa trang nghĩa địa và đất phi nông nghiệp khác; 4,78% diện tích tự nhiên là đất chưa sử dụng (1.034,98 ha), chủ yếu là đất bãi ven sông, đất cát ven biển, phân bố manh mún… Nhìn chung, đất đai Thị xã Điện Bàn khá tốt, có độ phì nhiêu cao, nhóm đất phù sa chiếm đến 69,67% tổng diện tích đất, cho phép thâm canh nông nghiệp theo chiều sâu, nâng cao năng suất, chất lượng cây trồng Với địa hình tương đối bằng phẳng của khu vực vùng cát phía Đông ven biển của Điện Bàn và có cấu trúc địa chất bền vững nên thuận lợi cho việc xây dựng phát triển đô thị - công nghiệp, cùng với bờ biển cát trắng, nước trong, sông nước hiền hòa, thuận lợi cho và khai thác du lịch Tuy nhiên, ở một số khu vực đất bị nhiễm mặn, chua phèn, xói lở ven sông cần có biện pháp khắc phục cải tạo; các khu đất màu, chân ruộng cao cần có biện pháp thủy lợi hợp lý, tăng hiệu quả SDĐ

Vị trí địa lý của Điện Bàn có: phía Bắc giáp huyện Hòa Vang và quận Ngũ Hành Sơn (Thành phố Đà Nẵng), phía Nam giáp huyện Duy Xuyên, phía Đông Nam giáp Thành phố Hội An, phía Đông giáp biển Đông, phía Tây giáp huyện Đại Lộc Đây là thị xã đồng bằng ven biển phía Bắc của tỉnh Quảng Nam và nhờ nằm cách tỉnh lỵ Tam Kỳ 48 km về phía Bắc, cách thành phố Đà Nẵng 25 km về phía Nam Trong Quy hoạch xây dựng Vùng kinh tế trọng điểm miền Trung được phê duyệt, Thủ tướng Chính phủ đã xác định: Cụm đô thị Đà Nẵng - Chân Mây - Hội An - Điện Nam - Điện Ngọc được là cụm đô thị động lực của vùng, là điểm cuối ra biển của tuyến Hành lang kinh tế Đông Tây trên tuyến QL9 qua cửa khẩu Lao Bảo và QL4D qua cửa khẩu Nam Giang

Trang 37

31

Ngày 11/3/2015, Ủy ban Thường vụ Quốc hội đã ban hành Nghị quyết

Số 889/NQ- UBTVQH13 về việc công nhận huyện Điện Bàn thành thị xã và thành lập 07 phường thuộc thị xã Điện Bàn

Theo đó, mạng lưới giao thông trên địa bàn Thị xã được đầu tư khá

hoàn chỉnh Với 04 trục dọc: Quốc lộ 1A (đã mở rộng), đường cao tốc Đà

Nẵng - Quảng Ngãi đã thi công (đoạn Đà Nẵng – Tam Kỳ đã hoàn thành và đưa vào sử dụng, có điểm đối nối xuống thị xã Điện Bàn), tuyến du lịch ven biển Đà Nẵng - Hội An (ĐT 603B), tuyến từ cảng Đà Nẵng qua Khu công nghiệp Điện Nam - Điện Ngọc và các cụm công nghiệp đến Hội An (ĐT 603 -

607A); 08 trục ngang: Trục nối Hội An qua phường Vĩnh Điện đi huyện Đại

Lộc (ĐT 608 -609); đường nối Đà Nẵng qua đồi Bồ Bồ ra trục ĐT 608 - 609 (ĐT 605); đường nối Quốc lộ 1A đi 3 xã Gò Nổi (ĐT 610B); đường nối Quốc

lộ 1A đi các phường vùng cát (ĐT 603, ĐT 607B, ĐH 7, ĐH 8, ĐH 9); Có tuyến đường sắt Bắc Nam chạy qua dài 17,8km… Nên Thị xã Điện Bàn là nơi

có nhiều tiềm năng kinh tế nổi bật, quan trọng đối với tỉnh Quảng Nam và cả khu vực Mà cụ thể là các ưu thế trong phát triển của Điện Bàn thể hiện qua vai trò của nơi giao thoa kinh tế giữa thành phố Đà Nẵng và thành phố Hội

An, kết nối gắn liền các hoạt động kinh tế, thương mại và du lịch quốc gia, quốc tế thông qua hệ thống cảng hàng không quốc tế Đà Nẵng, cảng Tiên Sa, khu công nghiệp Điện Nam – Điện Ngọc, hệ thống di sản văn hóa thế giới Hội An – Mỹ Sơn, Chính vì vậy, nhiều năm qua, Điện Bàn đang có những bước tiến ổn định về nhiều mặt gắn với sự phát triển kinh tế - xã hội và sự biến chuyển trong cơ cấu ngành nghề sản xuất, dịch vụ ở đây là yếu tố tác động mạnh mẽ đến cơ cấu SDĐ của Thị xã

Dân số toàn Thị xã Điện Bàn năm 2017 [26] là 209.711 người, mật độ dân số trung bình 969 người/km2 (xem Bảng 2.1) Trong đó, dân số đô thị 80.657 người chiếm 38,5% và dân số nông thôn 129.054 người chiếm

Trang 38

32

61,5% Tổng số hộ dân cư là 55.505 hộ, song dân cư phân bố không đều, nơi tập trung đông dân nhất là phường Vĩnh Điện (4.234 người/km2) và các xã nằm dọc Quốc lộ 1A (1.300 - 2.000 người/km2), nơi có mật độ dân cư thấp nhất là xã Điện Tiến (503 người/km2) Tỷ lệ tăng tự nhiên 8,97‰ Số người nhập cư 1.452 người và xuất cư là 1.308 người Dân số của thị xã có cơ cấu dân số trẻ, độ tuổi từ 15 - 49 chiếm tỷ trọng lớn, số người trong độ tuổi lao động toàn Thị xã năm 2017 là 131.227 người (số người từ 5 - 17 tuổi chiếm 21,8%; từ 18 - 49 tuổi chiếm 46,4%) Trong lao động sản xuất, nhân dân Điện Bàn cần cù, sáng tạo, tích lũy được nhiều kinh nghiệm trong sản xuất nông nghiệp, công nghiệp, phát triển làng nghề; được Đảng và Nhà nước phong tặng danh hiệu Anh hùng trong thời kỳ đổi mới Tuy nhiên, chất lượng nguồn nhân lực của Thị xã còn thấp, lao động được đào tạo nghề chiếm tỷ lệ nhỏ trong các doanh nghiệp Dân số nông thôn vẫn còn cao, chưa hình thành đầy đủ nếp sống đô thị

Bảng 2.1: Dân số Thị xã Điện Bàn giai đoạn 2011 – 2017

Đơn vị tính: người

Nguồn: Niên giám thống kê thị xã Điện Bàn năm 2017

Tại Điện Bàn, quy hoạch SDĐ nằm tập trung chủ yếu ở 3 khu vực bao

gồm: Đô thị mới Điện Nam - Điện Ngọc (từ đầu năm 2011 đến nay có 4 dự án

tích cực triển khai như khu đô thị số 3, khu đô thị số 9, khu đô thị Bách Đạt,

khu phố chợ Điện Nam Trung ); khu vực đô thị dọc trục quốc lộ (gồm Điện

Phương, Điện Minh, Điện An, Vĩnh Điện, Điện Thắng Trung, Điện Thắng

Trang 39

33

Nam, Điện Thắng Bắc) và khu vực các xã xây dựng nông thôn mới Điện Bàn

hiện có trên 50 dự án đã và đang được đầu tư xây dựng tạo ra các đô thị mới, các khu du lịch ven biển, cùng với hệ thống giao thông đồng bộ Riêng Đô thị mới Điện Nam Điện Ngọc (theo báo cáo của Phòng Tài nguyên và Môi trường Thị xã Điện Bàn [16]), trong số 2.245ha đất được giao quản lý, đến nay Đô thị mới Điện Nam Điện Ngọc có 1.123ha đất triển khai thực hiện các

dự án Hiện có 22 dự án đã cơ bản hoàn thành, 22 dự án đang triển khai xây dựng, 2 dự án đầu tư theo hình thức BT, các dự án còn lại đang hoàn thiện thủ tục đầu tư Tuy nhiên, đồng thời kèm theo đó là quá trình thu hẹp đất nông nghiệp trong khi mật độ dân số đông, khiến gia tăng số hộ gia đình không có đất sản xuất, nhiều vấn đề phức tạp liên quan đến đất đai, như: thu hồi đất, bồi thường, giải phóng mặt bằng, chuyển đổi mục đích SDĐ, cấp giấy chứng nhận quyền SDĐ, tranh chấp đất đai,…) Tổng số hộ theo thống kê phải được

bố trí tái định cư là 6.000 hộ Hơn nữa, số lao động có trình độ chuyên môn kỹ thuật còn ít, tỷ lệ dân cư và lao động sống bằng nghề nông ở Điện Bàn vẫn còn cao (xem thêm bảng 2.2); và lao động thiếu việc làm ở khu vực nông thôn còn lớn, thu nhập có hạn, thiếu vốn; số hộ nghèo theo thống kê đến năm 2017 còn 1.193 hộ, chiếm 2,15% (trong đó thành thị 351 hộ và nông thôn 842 hộ); 1.492 hộ cận nghèo chiếm 2,69% Số hộ nghèo tập trung nhiều nhất ở các xã nông thôn: Điện Phước 3,09%, Điện Phong 2,88%, Điện Thắng Bắc 2,76%, Điện Thọ 2,59% [26]

Trang 40

Nguồn: Niên giám thống kê thị xã Điện Bàn năm 2017

Tình hình trên hiện đã và đang tác động mạnh đến công tác quản lý nhà nước về đất đai và đặc biệt là công tác quản lý quy hoạch SDĐ trên địa bàn

Kể từ sau khi Luật Đất đai năm 2013 có hiệu lực thi hành, ở phạm vi quốc gia Bộ Tài nguyên và Môi trường đã kịp thời tham mưu cho Chính phủ ban hành 13 Nghị định; chủ trì và phối hợp với các Bộ, ngành ban hành 48 Thông tư, Thông tư liên tịch… Điển hình có thể nêu ra là: Nghị định

số 43/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành

Ngày đăng: 26/11/2019, 15:01

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w