1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

KHẢO SÁT SỰ HIỂU BIẾT TRẦM CẢM TRÊN NGƯỜI THÂN VÀ SỰ TUÂN THỦ ĐIỀU TRỊ THUỐC CỦA BỆNH NHÂN TRẦM CẢM

106 198 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 106
Dung lượng 1,89 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Hiện nay, các phương tiện thông tin đại chúng có thể cung cấp những thông tin sai lệch, gây hiểu lầm về các rối loạn tâm thần bởi thường chỉ đề cập tới các mặt tiêu cực của bệnh. Tại Việt Nam chưa có nghiên cứu khảo sát về mức độ hiểu biết trầm cảm của người thân và đánh giá mối liên hệ giữa hiểu biết trầm cảm của người thân và sự tuân thủ điều trị thuốc của bệnh nhân trầm cảm. Chính vì thế, chúng tôi tiến hành đề tài “Khảo sát sự hiểu biết trầm cảm trên người thân và sự tuân thủ thuốc của bệnh nhân trầm cảm” Đề tài được thực hiện tại Bênh viện Tâm thần Thành phố Hồ Chí Minh

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ Y TẾ

ĐẠI HỌC Y DƯỢC THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

-

HÀ THANH TÚ

KHẢO SÁT SỰ HIỂU BIẾT TRẦM CẢM TRÊN NGƯỜI THÂN

VÀ SỰ TUÂN THỦ ĐIỀU TRỊ THUỐC CỦA BỆNH NHÂN TRẦM CẢM

LUẬN VĂN THẠC SĨ DƯỢC HỌC

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH – NĂM 2019

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ Y TẾ

ĐẠI HỌC Y DƯỢC THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

-

HÀ THANH TÚ

KHẢO SÁT SỰ HIỂU BIẾT TRẦM CẢM TRÊN NGƯỜI THÂN

VÀ SỰ TUÂN THỦ ĐIỀU TRỊ THUỐC CỦA BỆNH NHÂN TRẦM CẢM

Ngành: Dược lý và Dược lâm sàng

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi cam đoan đây là công trình nghiên cứu của tôi Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác

Hà Thanh Tú

Trang 4

Luận văn thạc sĩ – Khóa 2017-2019 Chuyên ngành: Dược lý và Dược lâm sàng Mã số: 8720205

KHẢO SÁT SỰ HIỂU BIẾT TRẦM CẢM TRÊN NGƯỜI THÂN

VÀ SỰ TUÂN THỦ ĐIỀU TRỊ THUỐC CỦA BỆNH NHÂN TRẦM CẢM

Hà Thanh Tú Thầy hướng dẫn: PGS TS Nguyễn Ngọc Khôi

Mục tiêu: Khảo sát mức độ hiểu biết trầm cảm của người thân bệnh nhân trầm cảm

và các yếu tố có liên quan; khảo sát mức độ tuân thủ điều trị thuốc và các yếu tố có liên quan; đánh giá sự cải thiện triệu chứng trầm cảm và các yếu tố có liên quan

Phương pháp: Cắt ngang mô tả Phỏng vấn trên 120 người thân và 120 bệnh nhân

trầm cảm tại Bệnh viện Tâm thần Thành phố Hồ Chí Minh, từ 11/02/2019 đến 01/08/2019 Hiểu biết trầm cảm của người thân được đánh giá bằng bộ câu hỏi DLIT Sự tuân thủ của bệnh nhân được đánh giá bằng bộ câu hỏi MMAS-8 Sự cải thiện của bệnh nhân được được đánh giá dựa theo hướng dẫn của APA

Kết quả: Trung bình tổng điểm hiểu biết về trầm cảm của người thân bệnh nhân là

14,48 ± 3,8; tổng điểm hiểu biết về trầm cảm có liên hệ với giới tính, trình độ học vấn và nghề nghiệp người thân, nơi cư trú, tiền sử gia đình có người mắc trầm cảm 64,8% bệnh nhân tuân thủ điều trị; mức độ tuân thủ có liên hệ với nơi cư trú, bệnh mắc kèm, tác dụng không mong muốn khi điều trị, số thuốc điều trị trầm cảm, mức

độ quan tâm nhắc nhở bệnh nhân, hiểu biết của người thân về trầm cảm nói chung

và về điều trị trầm cảm nói riêng 50% bệnh nhân có cải thiện; mức độ cải thiện có liên hệ với mức độ trầm cảm và mức độ tuân thủ điều trị

Kết luận: Người thân bệnh nhân trầm cảm có kiến thức về nhận biết dấu hiệu và

các ảnh hưởng của trầm cảm, nhưng lại thiếu kiến thức về các liệu pháp điều trị trầm cảm Bệnh nhân trầm cảm tuân thủ điều trị, tuy nhiên mức độ cải thiện chưa cao Cần tiến hành thêm nghiên cứu về các yếu tố ảnh hưởng đến cải thiện của bệnh nhân và cải tiến bộ câu hỏi đánh giá cải thiện của bệnh nhân

Từ khóa: hiểu biết trầm cảm, tuân thủ điều trị, cải thiện, DLIT, MMAS-8

Trang 5

Master’s thesis – Academic course 2017-2019 Speciality: Pharmacology and Clinical Pharmacy Speciality course: 8720205

INVESTIGATING DEPRESSION LITERACY OF CAREGIVERS

AND MEDICATION ADHERENCE OF DEPRESSION PATIENTS

Ha Thanh Tu Supervisor: Assoc Prof Nguyen Ngoc Khoi, PhD

Objectives: Investigating depression literacy of depression patient’s carers and

related factors; investigating medication adherence of depression patients and related factors; investigating remission in depression and related factors

Method: Cross-sectional study 120 caregivers and 120 depression patients at Ho

Chi Minh Psychiatric Hospital were interviewed, from Feb 11th 2019 to Aug 1st 2019 Depression literacy of caregivers was evaluated by DLIT questionnaire Using MMAS-8 questionnaire to assess medication adherence of depression patients Remission in depression was evaluated according to APA’s Guideline

Results: Mean depression literacy score of carrier is 14.48 ± 3.8 There are

statistically significant associations between literacy score and caregiver’s sex, education level, job, residence, family history of depression 64.8% of patients complied with treatment; the patient’s adherence is related to residence, comorbidity, adverse drug reactions, number of depression drugs, level of care for patient, caregiver’s depression literacy and knowledge about depression treatments 50% of patients responded to the treatment; the remission in depression is related to patient’s depressive level and medication adherence

Conclusions: Caregivers are knowledgable about recognizing symptoms and impact

of depression, but have limited knowledge about depression management Although depression patients are highly compliant to treatments, the remission rate remains low.The research team proposes to conduct further researches on the factors that affect remission in depression and improve the remission assessment tool

Key words: depression literacy, medication adherence, remission, DLIT, MMAS-8

Trang 6

MỤC LỤC

ĐẶT VẤN ĐỀ 1

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN 3

1.1 Trầm cảm 3

1.1.1 Khái niệm và đặc điểm lâm sàng 3

1.1.2 Dịch tễ học của bệnh trầm cảm 4

1.1.3 Nguyên nhân, cơ chế bệnh sinh, yếu tố nguy cơ của bệnh trầm cảm 4

1.1.4 Tiêu chuẩn chẩn đoán 5

1.1.5 Điều trị bệnh trầm cảm 7

1.2 Hiểu biết về sức khỏe tâm thần nói chung và trầm cảm nói riêng 9

1.2.1 Hiểu biết về sức khỏe tâm thần 9

1.2.2 Hiểu biết trầm cảm 10

1.3 Sự tuân thủ điều trị thuốc 13

1.4 Đánh giá sự cải thiện ở bệnh nhân trầm cảm 16

CHƯƠNG 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 18

2.1 Đối tượng nghiên cứu 18

2.2 Phương pháp nghiên cứu 19

2.2.1 Thiết kế nghiên cứu 19

2.2.2 Cỡ mẫu 19

2.2.3 Phương pháp thu thập dữ liệu 20

2.2.4 Thiết kế bộ câu hỏi để thu thập thông tin đặc điểm nhân khẩu học của bệnh nhân và người thân bệnh nhân 24

Trang 7

2.2.5 Thiết kế bộ câu hỏi để đánh giá hiểu biết trầm cảm của người thân

bệnh nhân 24

2.2.6 Bộ câu hỏi đánh giá tuân thủ thuốc 27

2.2.7 Thiết kế bộ câu hỏi để đánh giá sự cải thiện của bệnh nhân trầm cảm 29 2.2.8 Xử lý thống kê 30

2.3 Y đức 34

CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ 35

3.1 Xây dựng các bộ câu hỏi khảo sát 35

3.1.1 Bộ câu hỏi đánh giá hiểu biết trầm cảm 35

3.1.2 Bộ câu hỏi đánh giá tuân thủ thuốc 42

3.1.3 Bộ câu hỏi đánh giá cải thiện ở bệnh nhân trầm cảm 44

3.2 Khảo sát trên người thân và bệnh nhân trầm cảm 48

3.3 Đặc điểm nền của người thân và bệnh nhân trầm cảm 49

3.3.1 Đặc điểm nền của người thân bệnh nhân trầm cảm 49

3.3.2 Đặc điểm nền của bệnh nhân trầm cảm 50

3.4 Hiểu biết trầm cảm của người thân bệnh nhân trầm cảm 54

3.4.1 Đánh giá hiểu biết trầm cảm của người thân bệnh nhân 54

3.4.2 Các yếu tố liên quan đến hiểu biết trầm cảm của người thân bệnh nhân 55 3.5 Sự tuân thủ điều trị thuốc của bệnh nhân trầm cảm 57

3.5.1 Đánh giá tỷ lệ tuân thủ điều trị thuốc của bệnh nhân trầm cảm 57

3.5.2 Các yếu tố liên quan đến sự tuân thủ điều trị thuốc của bệnh nhân 58

3.6 Sự cải thiện của bệnh nhân trầm cảm 61

3.6.1 Đánh giá tỷ lệ cải thiện của bệnh nhân trầm cảm 61

Trang 8

3.6.2 Các yếu tố liên quan đến sự cải thiện của bệnh nhân trầm cảm 62

CHƯƠNG 4 BÀN LUẬN 65

4.1 Hiểu biết trầm cảm của người thân bệnh nhân trầm cảm 65

4.1.1 Đánh giá hiểu biết trầm cảm của người thân bệnh nhân 65

4.1.2 Các yếu tố liên quan đến hiểu biết trầm cảm của người thân bệnh nhân 67 4.2 Sự tuân thủ của bệnh nhân trầm cảm 69

4.2.1 Đánh giá tỷ lệ tuân thủ điều trị thuốc của bệnh nhân trầm cảm 69

4.2.2 Các yếu tố liên quan đến sự tuân thủ của bệnh nhân 70

4.3 Sự cải thiện của bệnh nhân trầm cảm 73

4.3.1 Đánh giá tỷ lệ cải thiện của bệnh nhân trầm cảm 73

4.3.2 Các yếu tố liên quan đến sự cải thiện của bệnh nhân trầm cảm 74

CHƯƠNG 5 KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 76

5.1 Kết luận 76

5.1.1 Về hiểu biết trầm cảm của người thân bệnh nhân trầm cảm 76

5.1.2 Về mức độ tuân thủ của bệnh nhân trầm cảm 76

5.1.3 Về tỷ lệ cải thiện của bệnh nhân trầm cảm 76

5.2 Đề nghị 77

5.3 Hạn chế của đề tài 77

TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Trang 9

DANH MỤC BẢNG

Bảng 1.1 Nguyên tắc điều trị trầm cảm 8

Bảng 1.2 Các nghiên cứu tương tự đánh giá hiểu biết về trầm cảm 11

Bảng 1.3 Các biện pháp đo lường tuân thủ điều trị 14

Bảng 1.4 Các nghiên cứu đánh giá liên quan giữa hiểu biết trầm cảm và sự tuân thủ điều trị thuốc ở bệnh nhân 15

Bảng 2.5 Đối tượng nghiên cứu 18

Bảng 2.6 Các bước tiến hành nghiên cứu và phương pháp thu thập số liệu 21

Bảng 2.7 Depression Literacy Questionnaire (DLIT) 25

Bảng 2.8 Khai báo các biến trong đề tài nghiên cứu 31

Bảng 2.9 Giá trị và ý nghĩa một số kiểm định thực hiện trong nghiên cứu 33

Bảng 3.10 BCHKST I – Hiểu biết trầm cảm 35

Bảng 3.11 Bảng điều chỉnh cách diễn đạt nội dung khảo sát hiểu biết trầm cảm 37

Bảng 3.12 BCHKST II – Hiểu biết trầm cảm 38

Bảng 3.13 Kết quả kiểm tra độ tin cậy BCHKST II – Hiểu biết trầm cảm 40

Bảng 3.14 Kết quả kiểm tra độ tin cậy bộ câu hỏi đánh giá tuân thủ thuốc 43

Bảng 3.15 BCHKST I - Sự cải thiện trầm cảm 44

Bảng 3.16 Bảng điều chỉnh cách diễn đạt nội dung đánh giá cải thiện 45

Bảng 3.17 BCHKST II – Sự cải thiện trầm cảm 46

Bảng 3.18 Kết quả kiểm tra độ tin cậy BCHKST II – Sự cải thiện trầm cảm 47

Bảng 3.19 Các đặc điểm của người thân bệnh nhân trầm cảm 49

Bảng 3.20 Các đặc điểm của bệnh nhân trầm cảm 51

Bảng 3.21 Kết quả đánh giá hiểu biết trầm cảm của người thân bệnh nhân 54

Trang 10

Bảng 3.22 Các yếu tố liên quan đến hiểu biết trầm cảm của người thân bệnh nhân

Trang 11

DANH MỤC HÌNH Hình 3.1 Tỷ lệ % người thân bệnh nhân trả lời đúng từng câu hỏi 54 Hình 3.2 Tỷ lệ tuân thủ điều trị của bệnh nhân trầm cảm 57 Hình 3.3 Tỷ lệ cải thiện của bệnh nhân trầm cảm 61

Trang 12

DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT

Từ viết tắt Nghĩa tiếng Anh Nghĩa tiếng Việt

APA American Psychiatric

Association

Hiệp hội Tâm lý học Hoa Kỳ

DALY Disability-Adjusted Life Year Số năm sống mất đi đã hiệu

chỉnh theo mức độ tàn tật DLIT Depression Literacy

Questionnaire

Bộ câu hỏi đánh giá hiểu biết trầm cảm

DSM-V Diagnostic and Statistical

Manual of Mental Disorders, Fifth Edition

Trang 13

LỜI CẢM ƠN

Đầu tiên, em xin gửi lời cảm ơn chân thành đến Thầy PGS.TS Nguyễn Ngọc Khôi Cảm ơn Thầy đã tận tình hướng dẫn, giúp đỡ em trong suốt thời gian qua Mọi thứ đối với em đều rất mới mẻ, không có Thầy em không nghĩ rằng mình có thể hoàn thành được đề tài này

Cảm ơn các bác sĩ cùng các chị điều dưỡng, thư kí y khoa của Bệnh viện Tâm thần Thành phố Hồ Chí Minh, mọi người đã tạo điều kiện tốt nhất cho em trong quá trình lấy số liệu

Cám ơn những người bạn luôn sẵn sàng giúp đỡ em khi em gặp khó khăn

Lời cảm ơn đặc biệt dành cho người đặc biệt

Chân thành cảm ơn tất cả mọi người

Trang 14

ĐẶT VẤN ĐỀ

Trầm cảm hiện nay đang là một vấn đề tâm thần phổ biến và nghiêm trọng Theo WHO, có ít nhất 350 triệu người sống chung với trầm cảm trên toàn cầu [62] Trầm cảm là nguyên nhân hàng đầu gây ra tự sát, khoảng 75% tự sát là do trầm cảm, trong số đó có 15% tự sát thành công [4] Do tính phổ biến và hậu quả nghiêm trọng, trầm cảm đã trở thành một vấn đề lớn đối với sức khỏe cộng đồng, gây nhiều gánh nặng lên người thân bệnh nhân, bao gồm tài chính, nếp sống, thời gian nghỉ ngơi, tương tác gia đình, sức khỏe thể chất và tinh thần [12]

Năm 1997, Jorm và các cộng sự đã đề xuất thuật ngữ “Hiểu biết sức khỏe tâm thần” (Mental health literacy – MHL) để mô tả “kiến thức và niềm tin về rối loạn tâm thần giúp nhận biết, điều trị hoặc phòng ngừa” [26], [23] Định nghĩa này nhấn mạnh vai trò của sự nhận biết các vấn đề về sức khỏe tâm thần, tìm kiếm sự giúp đỡ và phòng ngừa của bệnh nhân cùng người thân, ví dụ: thành viên gia đình, giáo viên, bạn bè

Kể từ khi được mô tả, với các đặc điểm nổi trội trong việc đánh giá, tiếp cận, thuật ngữ MHL đã mở ra nhiều nghiên cứu đánh giá thực hiện trên các nhóm đối tượng khác nhau như dân số chung [26], [48], [25], học sinh - sinh viên [42], [49], [13], nhân viên y tế [34] Tuy nhiên, nghiên cứu đánh giá trên người thân bệnh nhân còn nhiều hạn chế [17], [12] Người thân bệnh nhân có vai trò quan trọng không chỉ hỗ trợ tài chính, sinh hoạt mà còn giúp theo dõi tình trạng bệnh nhân, giám sát bệnh nhân uống thuốc kịp thời, xác định các dấu hiệu sớm của bệnh, hỗ trợ về mặt tinh thần và giúp bệnh nhân tiếp cận được các dịch vụ sức khỏe [21] Người thân bệnh nhân có thể đảm nhận nhiều vai trò khác nhau, vì vậy có thể hiểu được rằng mức độ MHL sẽ ảnh hưởng đến tình trạng bệnh và khả năng phục hồi của bệnh nhân

Hiện nay, các phương tiện thông tin đại chúng có thể cung cấp những thông tin sai lệch, gây hiểu lầm về các rối loạn tâm thần bởi thường chỉ đề cập tới các mặt tiêu cực của bệnh Nghiên cứu của Kitchener và Jorm (2006) cho thấy MHL của người dân có thể được cải thiện thông qua đào tạo [32]

Trang 15

Hiện nay, tại Việt Nam chưa có nghiên cứu khảo sát về mức độ hiểu biết trầm cảm của người thân và đánh giá mối liên hệ giữa hiểu biết trầm cảm của người thân và

sự tuân thủ điều trị thuốc của bệnh nhân trầm cảm Chính vì thế, chúng tôi tiến hành

đề tài “Khảo sát sự hiểu biết trầm cảm trên người thân và sự tuân thủ thuốc của bệnh nhân trầm cảm” hướng đến các mục tiêu chính sau:

1 Khảo sát mức độ hiểu biết trầm cảm của người thân bệnh nhân trầm cảm và các yếu tố có liên quan

2 Khảo sát mức độ tuân thủ thuốc của bệnh nhân trầm cảm và các yếu tố có liên quan

3 Đánh giá mức độ cải thiện của bệnh nhân trầm cảm và các yếu tố có liên quan

Trang 16

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN

1.1 Trầm cảm

1.1.1 Khái niệm và đặc điểm lâm sàng

Trầm cảm là một rối loạn cảm xúc, có đặc điểm chung là bệnh nhân thấy buồn chán, mất hứng thú, cảm thấy tội lỗi hoặc giảm giá trị của bản thân, khó ngủ hoặc ngon miệng, khả năng làm việc kém và khó tập trung Trầm cảm là một vấn đề sức khỏe tâm thần phổ biến và nghiêm trọng Theo WHO (2017), có hơn 300 triệu người sống chung với trầm cảm trên toàn cầu, tăng 18% trong vòng 10 năm [62]

Ở Việt Nam, trầm cảm có tỷ lệ cao thứ hai trong số các rối loạn rối loạn tâm thần [56], chiếm 1,79% tổng DALY (số năm sống bị mất đi đã hiệu chỉnh theo mức độ tàn tật) [58]

Theo kết quả điều tra trên nhiều quốc gia, WHO nhận định tỷ lệ mắc bệnh là 10%/năm và tỷ lệ mắc trọn đời là 17%) Đến năm 2020, thiệt hại do trầm cảm sẽ đứng thứ 2 (sau nhồi máu cơ tim) và đến năm 2030 có thể dẫn đầu [63]

Trầm cảm có thể được điều trị, tuy nhiên chưa tới một nửa (ở nhiều nước là dưới 10%) nhận được sự chăm sóc và hỗ trợ cần thiết [62] Sự thiếu nguồn lực, thiếu các dịch vụ tâm thần, kỳ thị xã hội và thiếu hiểu biết về sức khỏe tâm thần tạo thành rào cản lớn trong tiếp cận điều trị các rối loạn tâm thần nói chung và trầm cảm nói riêng [24], [62]

Người bệnh trầm cảm sẽ dẫn đến gián đoạn học tập và khả năng lao động, rối loạn khả năng thích ứng, dần dần tách rời xã hội, chất lượng cuộc sống bị giảm sút sau mỗi giai đoạn trầm cảm Nghiêm trọng hơn là 20% bệnh nhân có thể tiến triển thành mạn tính Người bệnh có nguy cơ tự sát cao khi trầm cảm tái diễn Trầm cảm gia tăng còn thúc đẩy tình trạng lạm dụng rượu và ma túy, không chỉ gây ra thiệt hại cho cá nhân mà còn làm ảnh hưởng lớn đến chất lượng cuộc sống của gia đình và xã hội [63]

Trang 17

Do tính phổ biến và mức độ nghiêm trọng, trầm cảm đã trở thành một vấn đề lớn ảnh hưởng đến sức khỏe cộng đồng, đáng được quan tâm nghiên cứu trên nhiều lĩnh vực đặc biệt là hình thái lâm sàng, chẩn đoán, điều trị và nguy cơ tái phát

Bệnh nhân trầm cảm có thể gặp các dạng trầm cảm khác nhau, thậm chí với những triệu chứng và dấu hiệu nhận biết khác nhau tùy thuộc vào tuổi, giới tính, dân tộc và trình độ văn hóa Hiểu biết về sự khác biệt này là cần thiết nhằm tìm cách chữa trị thích hợp và kết thúc sự đau khổ cho bệnh nhân

1.1.2 Dịch tễ học của bệnh trầm cảm

Trầm cảm và lo âu là các bệnh tâm thần phổ biến nhất, có khoảng 10 – 15% dân số

có ít nhất 1 cơn trầm cảm trong bất kỳ giai đoạn nào đó của cuộc sống, xảy ra ở cả nam và nữ, ở mọi tầng lớp văn hóa, nghề nghiệp khác nhau, ở cả thành thị và nông thôn, không phân biệt nền kinh tế phát triển hay không phát triển

Trầm cảm có thể bắt đầu ở bất kỳ tuổi nào và thường nhất trong lứa tuổi 20 – 50, tuổi thường gặp nhất là 18 – 29 ở phụ nữ có nguy cơ cao mắc trầm cảm gấp 2 lần so với nam giới [63]

1.1.3 Nguyên nhân, cơ chế bệnh sinh, yếu tố nguy cơ của bệnh trầm cảm

Trầm cảm do nhiều nguyên nhân khác nhau có liên quan đến sự giảm truyền thần kinh các chất trung gian hóa học như norepinephrin, serotonin và dopamin

Những yếu tố nguy cơ liên quan đến bệnh trầm cảm gồm có [63]:

Tiền sử gia đình: trầm cảm và tự tử có khuynh hướng xảy ra với yếu tố tiền sử gia đình, khoảng 8 – 18% bệnh nhân với trầm cảm nặng có ít nhất bố/mẹ/anh/chị/em bị rối loạn cảm xúc

Tác động từ những biến cố: căng thẳng, những sự kiện tiêu cực của cuộc sống như:

ly dị, mất 1 người thân yêu, mất việc làm,… hoặc những thương tổn sớm xảy ra trong thời thơ ấu

Trang 18

Tình trạng kinh tế xã hội: trầm cảm thường gặp với những dân cư sống ở những vùng thành thị hơn là cư dân ở nông thôn

Tình trạng hôn nhân: tỷ lệ trầm cảm cao ở những người có mối quan hệ kém hoặc ly

dị, góa bụa

Bệnh tật: 1 số bệnh lý có liên quan đến trầm cảm như bệnh lý tuyến giáp, sự mất cân bằng nội tiết, nhiễm virus mạn tính ung thư và bệnh tim mạch

1.1.4 Tiêu chuẩn chẩn đoán

Theo DSM-V [6], rối loạn trầm cảm chủ yếu được định nghĩa như sau:

A Năm (hoặc hơn) các triệu chứng dưới đây, hiện diện trong suốt một khoảng thời gian 2 tuần và gây nên sự thay đổi so với chức năng trước đây Ít nhất 1 trong số các triệu chứng phải bao gồm: (1) khí sắc trầm cảm và (2) mất quan tâm hoặc hứng thú

Ghi chú: Không liệt kê các triệu chứng mà đã rõ ràng quy cho một bệnh lý y khoa khác

(1) Khí sắc trầm cảm hầu như cả ngày và gần như mỗi ngày, do chính bệnh nhân kể lại (VD: cảm thấy buồn, trống rỗng, vô vọng…) hoặc được quan sát bởi người khác (VD: dễ khóc) (Lưu ý: ở trẻ em và trẻ vị thành niên, có thể là khí sắc dễ bực tức) (2) Giảm quan tâm hứng thú rõ rệt ở tất cả, hoặc hầu như tất cả, các hoạt động hầu như cả ngày và gần như mỗi ngày (được BN kể lại hoặc được quan sát thấy bởi người khác)

(3) Sụt cân rõ rệt khi không ăn kiêng hoặc tăng cân (Vd: thay đổi 5% cân nặng hoặc hơn trong 1 tháng) hoặc giảm hoặc tăng ngon miệng gần như mỗi ngày (Lưu ý: ở trẻ em, có thể không tăng cân ở mức bình thường)

(4) Mất ngủ hoặc ngủ nhiều, xảy ra hầu như hàng ngày

Trang 19

(5) Kích động hoặc chậm chạp tâm thần – vận động hầu như hàng ngày (có thể quan sát thấy được bởi những người xung quanh, không phải hạn chế ở những cảm giác chủ quan thấy bồn chồn hoặc buồn bã trong lòng)

(6) Mệt mỏi hoặc mất sinh lực hầu như hàng ngày

(7) Cảm giác thấy mình vô dụng, không có giá trị hoặc tự thấy tội lỗi quá đáng, hoặc quá mức một cách không phù hợp (có thể là hoang tưởng) hầu như hàng ngày (không phải chỉ đơn thuần là ân hận, tự trách mình hoặc tự cảm thấy bản thân có lỗi khi mắc bệnh)

(8) Do dự, giảm năng lực tập trung và suy nghĩ, hầu như hàng ngày (có thể do chính bệnh nhân kể lại hoặc do người chung quanh thấy được)

(9) Ý nghĩ về cái chết tái diễn nhiều lần (nhưng không chỉ đơn thuần là bệnh nhân

sợ chết), ý tưởng tự tử tái diễn nhiều lần nhưng không có kế hoạch cụ thể nào, hoặc

có toan tính tự tử, hoặc có kế hoạch cụ thể để thực hiện việc tự tử

B Các triệu chứng gây nên sự đau khổ rõ rệt về mặt lâm sàng hoặc làm suy giảm các chức năng về mặt xã hội, nghề nghiệp hoặc các lĩnh vực quan trọng khác

C Giai đoạn này không gây ra bởi tác động sinh lý của một chất hoặc của một bệnh lý y khoa khác

Ghi chú: Các tiêu chuẩn A - C đại diện cho 1 giai đoạn trầm cảm chủ yếu

Ghi chú: Các đáp ứng đối với một mất mát to lớn (mất người thân, phá sản, tổn thất

do thiên tai, bệnh nặng hoặc tàn tật) có thể bao gồm cảm giác buồn rầu, sự nghiền ngẫm về mất mát, mất ngủ, ăn kém ngon và sụt cân như trong tiêu chuẩn A, có thể giống với một giai đoạn trầm cảm Mặc dù những triệu chứng này có thể hiểu được hoặc được coi là phù hợp với sự mất mát, nhưng sự hiện diện của một giai đoạn trầm cảm chủ yếu bên cạnh những đáp ứng bình thường với mất mát nên được xem xét cẩn trọng Quyết định này bắt buộc đòi hỏi thực hiện việc đánh giá về mặt lâm

Trang 20

sàng dựa trên tiền sử cá nhân cũng như các chuẩn mực văn hoá về sự biểu hiện đau khổ trong bối cảnh mất mát

D Giai đoạn trầm cảm chủ yếu này không được giải thích tốt hơn bởi rối loạn cảm xúc phân liệt, tâm thần phân liệt, rối loạn dạng phân liệt, rối loạn hoang tưởng hoặc phổ tâm thần phân liệt chuyên biệt hoặc không chuyên biệt và các rối loạn tâm thần khác

E Chưa từng có giai đoạn hưng cảm hoặc hưng cảm nhẹ

Ghi chú: Sự loại trừ này không được áp dụng nếu giai đoạn hưng cảm hoặc hưng cảm nhẹ gây ra do tác dụng của một chất hoặc do tác động sinh lý của một bệnh lý

trong Bảng 1.1 [63]:

Trang 21

để tiếp tục đánh giá, can thiệp phù hợp

Bước 4

Trầm cảm ở mức độ nặng và phức tạp,

đe dọa tới tính mạng, không quan tâm

chăm sóc bản thân

Dùng thuốc, can thiệp tâm lý với cường

độ cao, sốc điện (ECT), điều trị kết hợp, chăm sóc toàn diện và điều trị nội trú

Trang 22

1.1.5.2 Các thuốc chống trầm cảm

Có thể chia thuốc chống trầm cảm thành các nhóm chính [63]:

- Thuốc chống trầm cảm 3 vòng (tricyclic – antidepressant)

- Nhóm thuốc ức chế tái hấp thu serotonin chọn lọc

- Thuốc ức chế men monoamin oxydase

Thuật ngữ “Hiểu biết sức khỏe tâm thần” (Mental health literacy) được giới thiệu lần đầu vào năm 1997 bởi Jorm để mô tả “kiến thức và niềm tin về rối loạn tâm thần giúp nhận biết, điều trị hoặc phòng ngừa” [26], [23] Định nghĩa này nhấn mạnh vai trò của sự nhận biết các vấn đề về sức khỏe tâm thần, tìm kiếm sự giúp đỡ và phòng ngừa của những người trẻ tuổi cùng người thân, ví dụ: thành viên gia đình, giáo viên và bạn bè

Theo Jorm và cộng sự, Hiểu biết về sức khỏe tâm thần bao gồm ba lĩnh vực chính: khả năng nhận biết rối loạn cụ thể; kiến thức và niềm tin về tự điều trị và các hỗ trợ chuyên nghiệp sẵn có; thái độ khuyến khích sự thừa nhận và tìm kiếm giúp đỡ Ba lĩnh vực trên được chia thành sáu yếu tố sau:

Trang 23

(1) Khả năng nhận biết các rối loạn cụ thể;

(2) Biết cách tìm kiếm thông tin sức khỏe tâm thần;

(3) Kiến thức về các yếu tố nguy cơ và nguyên nhân;

(4) Kiến thức tự điều trị;

(5) Kiến thức về hỗ trợ chuyên nghiệp sẵn có;

(6) Thái độ khuyến khích sự thừa nhận và tìm kiếm giúp đỡ

1.2.2 Hiểu biết trầm cảm

Theo WHO [65] tính đến năm 2015 trầm cảm chiếm vị trí số 1 trong các rối loạn tâm thần (khoảng 4,4% dân số thế giới), cao hơn rối loạn lo âu (khoảng 3,6%) và các rối loạn tâm thần khác Do vậy nghiên cứu này sẽ tập trung vào đánh giá hiểu biết trầm cảm

“Hiểu biết trầm cảm” là một khái niệm chuyên biệt của MHL, được định nghĩa là

“khả năng nhận biết trầm cảm và đưa ra lựa chọn điều trị phù hợp”

Các nghiên cứu hiểu biết trầm cảm đã được thực hiện trên các nhóm đối tượng khác nhau như dân số chung [26], [25], [48], học sinh sinh viên [13], [49], nhân viên y tế [42] Tuy nhiên, nghiên cứu đánh giá trên người thân bệnh nhân còn nhiều hạn chế [12], [17]

Các nghiên cứu liên quan đánh giá hiểu biết trầm cảm được tóm tắt trong Bảng 1.2:

Trang 24

Bảng 1.2 Các nghiên cứu tương tự đánh giá hiểu biết về trầm cảm

STT Tác giả

(năm)

Đối tượng và phương pháp nghiên cứu

74

Phương pháp cắt ngang mô tả, sử dụng bộ câu hỏi tình huống

72% nhận ra vấn đề trầm cảm và 39% nhận biết đúng trầm cảm từ tình huống lâm sàng

Bác sĩ đa khoa và tư vấn viên được đánh giá có lợi (83%, 74%) hơn là bác sĩ tâm thần và nhà tâm lý học (51%, 49%)

Các liệu pháp điều trị chuẩn (thuốc chống trầm cảm, sốc điện…) bị đánh giá là có hại, trong khi các liệu pháp khác như tăng cường hoạt động thể chất và cộng đồng, thư giãn và kiểm soát stress, vitamin và chế độ ăn được đánh giá cao

Phương pháp nghiên cứu giống nhóm tác giả A Jorm

Có sự cải thiện về nhận biết trầm cảm và tăng thái độ tích cực với các liệu pháp trị liệu, bao gồm sự giúp đỡ từ chuyên gia sức khỏe tâm thần và thuốc chống trầm cảm

Phương pháp nghiên cứu giống nhóm tác

35,6% nhận biết trầm cảm, 64% cho rằng trầm cảm là bênh tâm thần, 60% nghĩ rằng người bị trầm cảm sẽ trở nên bạo lực hơn người bình thường

91,5% lựa chọn bác sĩ tâm thần có lợi 61% nghĩ căn bệnh là dấu hiệu của sự yếu

Trang 25

giả A Jorm đuối 16% muốn tránh xa họ

Phương pháp nghiên cứu giống nhóm tác giả A Jorm

32% nhận biết đúng trầm cảm, trong số này có 82,1% sẽ tìm kiếm sự giúp đỡ Cả 2 nhóm đều sẽ tìm sự giúp đỡ từ bác sĩ tâm thần, tư vấn viên, người thân và bạn thân Can thiệp được đánh giá có lợi nhất là các liệu pháp tự thân như thư giãn, tăng cường hoạt động thể chất, tập thể dục buổi sáng

và đọc sách tự lực

Nhóm không nhận biết trầm cảm cho rằng tham gia vào nhóm những người giống mình sẽ có lợi trong khi nhóm nhận biết trầm cảm cho rằng bệnh nhân nên đến bệnh viện gặp bác sĩ tâm thần

Phương pháp nghiên cứu giống nhóm tác giả A Jorm

Tỷ lệ nhận biết trầm cảm là 43,6%

Tỷ lệ cho rằng thuốc chống trầm cảm có lợi là 80,7%

Phần đông người thân cho rằng bác sĩ tâm thần, chuyên gia tâm lý học và sự thân thiết giữa các thành viên gia đình là có lợi

Trang 26

1.3 Sự tuân thủ điều trị thuốc

Sự tuân thủ điều trị được định nghĩa bởi WHO (2003) là “mức độ tuân theo của một người về việc điều trị bằng thuốc, chế độ ăn uống và/hoặc thực hiện thay đổi lối sống theo các hướng dẫn từ nhân viên y tế” [60] Theo đó, sự tuân thủ điều trị thuốc được hiểu cụ thể là việc dùng thuốc đúng cách và đúng chỉ định (gồm đúng liều, đúng thời điểm dùng thuốc và thời gian mua thuốc theo hướng dẫn trên toa)

Mặc dù liệu pháp tâm lý đã được chứng minh có hiệu quả trong điều trị trầm cảm, thuốc chống trầm cảm vẫn được sử dụng phổ biến nhất trên thế giới [60] Đối với các bệnh nhân trầm cảm, các khuyến cáo điều trị hiện hành đề nghị nên tiếp tục trong ít nhất 6 tháng khi đã giảm được triệu chứng Hơn nữa, đối với bệnh nhân bị trầm cảm tái phát trong vòng 5 năm, điều trị dài hạn cũng được đề xuất Ngoài việc chẩn đoán và điều trị tối ưu từ bác sĩ, hiệu quả điều trị còn được quyết định bởi sự tuân thủ điều trị thuốc của bệnh nhân Sự không tuân thủ điều trị thuốc là một rào cản lớn đến việc hồi phục của bệnh nhân [10] WHO (2003) còn nhận định rằng,

“cải thiện sự tuân thủ điều trị của bệnh nhân có thể mang lại hiệu quả cao hơn bất

kỳ cải thiện nào trong điều trị” [60]

Các phương pháp đo lường tuân thủ điều trị được phân thành 2 nhóm: trực tiếp

và gián tiếp Mỗi phương pháp đều có ưu điểm và nhược điểm riêng, được liệt kê và

trình bày trong Bảng 1.3 [43]:

Trang 27

Bảng 1.3 Các biện pháp đo lường tuân thủ điều trị

Trực tiếp

Quan sát trực tiếp Chính xác nhất Bệnh nhân có thể giấu thuốc trong

miệng sau đó vứt đi; khó áp dụng trong thực tế

Đo nồng độ thuốc

hoặc chất chuyển

hóa trong máu

Khách quan Sự chuyển hóa không đồng đều và “tuân

thủ áo choàng trắng” có thể cho ra kết quả sai lệch; đắt tiền; phải lấy máu

Đo nồng độ chỉ dấu

sinh học trong máu

Khách quan Đòi hỏi thiết bị định lượng đắt tiền; phải

Dễ xảy ra sai số khi thời gian giữa các lần tái khám tăng lên; dễ bị sai bởi bệnh nhân

Nhật ký dùng thuốc Dễ thực hiện Dễ bị chỉnh sửa bởi bệnh nhân

Theo dõi thuốc bằng

Trang 28

Chưa có nghiên cứu về mối liên quan giữa hiểu biết trầm cảm của người thân và sự tuân thủ điều trị thuốc ở bệnh nhân trầm cảm Các nghiên cứu tương tự được thể

hiện trong Bảng 1.4:

Bảng 1.4 Các nghiên cứu đánh giá liên quan giữa hiểu biết trầm cảm và sự tuân thủ

điều trị thuốc ở bệnh nhân

Nghiên cứu cắt ngang

Trang 29

1.4 Đánh giá sự cải thiện ở bệnh nhân trầm cảm

Mục tiêu điều trị khởi đầu cho trầm cảm là đạt được sự thuyên giảm và có lại đầy

đủ chức năng cũng như chất lượng cuộc sống [5]

Theo Hiệp hội Tâm lý học Hoa Kỳ (APA), sự cải thiện ở bệnh nhân trầm cảm được định nghĩa là: trong vòng ít nhất 3 tuần, không còn tâm trạng buồn bã và giảm hứng thú (là 1 trong 2 dấu hiệu bắt buộc phải có để chẩn đoán trầm cảm) và không có quá

3 triệu chứng còn lại của trầm cảm theo DSM-V [5]

Tuy nhiên, không ít bệnh nhân có sự giảm triệu chứng hoặc cải thiện các chức năng đáng kể nhưng không đầy đủ trong giai đoạn điều trị cấp Nhiều nghiên cứu đã cung cấp các bằng chứng thuyết phục rằng so với sự thuyên giảm không còn triệu chứng, thì ngay cả với các triệu chứng nhẹ còn sót lại sau đợt điều trị cũng có liên quan đến các tổn thương tâm lý xã hội đáng kể [28], nguy cơ tái phát tăng gấp 3 lần và đối với những bệnh nhân mới mắc thì dễ trở thành mạn tính trong tương lai [27] Các triệu chứng nhẹ còn sót lại này được chứng minh là một yếu tố dự báo tái phát trầm cảm mạnh mẽ hơn so với bệnh sử từng mắc nhiều đợt trầm cảm [5]

Do đó, điều quan trọng khi điều trị trầm cảm là không kết thúc sớm giai đoạn điều trị cấp cho những bệnh nhân chỉ đáp ứng một phần Trong suốt quá trình điều trị, cả đáp ứng của bệnh nhân và sự phù hợp của việc điều trị phải được theo dõi một cách thận trọng và có hệ thống, sử dụng các biện pháp đánh giá có hệ thống mức độ trầm trọng của triệu chứng, tác dụng không mong muốn, tuân thủ điều trị và tình trạng chức năng có thể tạo điều kiện cho việc xác định bệnh nhân chưa có đáp ứng hoàn toàn với điều trị hay không [5]

Nếu một bệnh nhân được xác định có đáp ứng điều trị không đầy đủ, cần đánh giá lại việc điều trị Thuốc phải được lựa chọn cẩn thận, liều dùng phải phù hợp và đủ thời gian dùng thuốc Tương tự, liệu pháp tâm lý phải được lựa chọn tốt cho bệnh nhân, được thực hiện khéo léo, được tiến hành trong một khoảng thời gian và tần suất thăm khám thích hợp [5]

Trang 30

Đáp ứng kém ngoài do việc điều trị chưa đầy đủ, còn có thể do nhiều yếu tố khác như: chẩn đoán không chính xác, các bệnh lý kèm theo không được giải quyết, lựa chọn phương pháp trị liệu không phù hợp, các yếu tố dược động dược lực ảnh hưởng đến tác động của thuốc, không tuân thủ điều trị, tác dụng phụ dai dẳng hoặc kém dung nạp, sự rắc rối giữa các yếu tố tâm lý xã hội và tâm lý học, bác sĩ điều trị chưa được đào tạo đầy đủ hoặc thiếu sự tương thích giữa bệnh nhân và bác sĩ [5] Đối với liệu pháp dùng thuốc, cần phải mất ít nhất 4 đến 6 tuần để có thể đi đến kết luận việc đáp ứng của bệnh nhân với một loại thuốc cụ thể Đối với những bệnh nhân không đáp ứng, cần phải đánh giá và thay đổi hướng điều trị (có rất ít bằng chứng hỗ trợ kéo dài liệu trình dùng thuốc chống trầm cảm sau hơn 6 tuần ở bệnh nhân không đáp ứng, ngoại trừ bệnh nhân trầm cảm mạn tính, bệnh nhân mắc đồng thời các rối loạn Trục I hoặc các bệnh lý khác có thể cần điều trị giai đoạn cấp lâu hơn) [5]

Đối với liệu pháp tâm lý, việc điều trị nên được đánh giá lại nếu không có sự cải thiện đáng kể sau một vài tháng (tùy thuộc vào loại liệu pháp) Bệnh nhân nên được đánh giá lại sau 3 đến 4 tháng để đảm bảo cải thiện đầy đủ Bất kể liệu pháp nào nếu thấy thiếu cải thiện sau một thời gian đều cần phải xem xét lại can thiệp và cân nhắc các lựa chọn điều trị khác [5]

Trang 31

CHƯƠNG 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1 Đối tượng nghiên cứu

Nghiên cứu được thực hiện trên 2 nhóm đối tượng là bệnh nhân trầm cảm và người thân bệnh nhân trầm cảm, với tiêu chuẩn chấp nhận và tiêu chuẩn loại trừ được thể

TP HCM, từ Tháng 2/2019 – Tháng 8/2019

Tuổi từ đủ 18 – 65

Là người đi cùng và là người chăm sóc chính cho bệnh nhân trầm cảm (Đối tượng 1)

Trang 32

2.2 Phương pháp nghiên cứu

2.2.1 Thiết kế nghiên cứu

Nghiên cứu cắt ngang mô tả

+ Z(1-α/2) = 1,96 với độ tin cậy 95%

+ SD: độ lệch chuẩn của các nghiên cứu trước, khoảng 3,28 điểm đến 4,48 điểm [7] → chọn SD = 4 điểm

+ d: sai số mong muốn so với giá trị thật của dân số Chọn d = 1 điểm

Vậy n ≥ 1,962 42

12 = 61,5

→ Phải khảo sát ít nhất 62 người thân bệnh nhân trầm cảm

Công thức xác định cỡ mẫu đánh giá sự tuân thủ điều trị của bệnh nhân:

n ≥ [Z(1-α/2)]2.p.(1−p)

Trong đó:

+ Z(1-α/2) = 1,96 với độ tin cậy 95%

+ p: tỷ lệ ước tính, dựa vào nghiên cứu trước đó Theo nghiên cứu của Khalaf Al Jumah và các cộng sự, tỷ lệ bệnh nhân tuân thủ điều trị là 47,1% → p = 0,471 [29] + d: Sai số mong muốn so với nghiên cứu trên Chọn d = 0,1

Vậy n ≥ (1,96

0,1)2 0,471 (1 − 0,471) = 95,7

→ Phải khảo sát ít nhất 96 bệnh nhân trầm cảm

Trang 33

Vì đặc thù của nghiên cứu nên sẽ tiến hành khảo sát cùng lúc trên ít nhất 96 cặp người thân và bệnh nhân trầm cảm

Cỡ mẫu dự kiến sẽ là khoảng 106 cặp người thân – bệnh nhân (lấy dư 10% so với

cỡ mẫu tối thiểu, phòng mất mẫu trong quá trình nghiên cứu)

Thực tế, nhóm nghiên cứu đã khảo sát trên 120 người thân và 120 bệnh nhân trầm cảm tại Bệnh viện Tâm thần Thành phố Hồ Chí Minh, từ 18/02/2019 đến 01/08/2019

Trong đó có 12 bệnh nhân khám lần đầu tại đây Việc phỏng vấn để đánh giá tuân thủ và cải thiện của bệnh nhân được thực hiện sau 7 – 9 tuần bằng cách phỏng vấn qua điện thoại, thu thập được đủ dữ liệu của cả 12 bệnh nhân này

2.2.3 Phương pháp thu thập dữ liệu

Đề tài được tiến hành theo các bước trong Bảng 2.6:

Trang 34

Bảng 2.6 Các bước tiến hành nghiên cứu và phương pháp thu thập số liệu

- Chuyển ngữ bộ câu hỏi đánh giá hiểu biết trầm

cảm từ bản gốc tiếng Anh: Depression Literacy Questionnaire (DLIT) của Kathy Griffiths

- Phỏng vấn trực tiếp người thân bệnh nhân tới khám bệnh tại Bệnh viện Tâm thần Thành phố

Hồ Chí Minh

- Người phỏng vấn: nghiên cứu viên, cộng tác viên (điều dưỡng) Cộng tác viên cần phải được hướng dẫn cách phỏng vấn và thực hành phỏng vấn thử dưới sự giám sát của nghiên cứu viên Đánh giá mức độ

hiểu biết trầm cảm của người thân bệnh nhân trầm cảm và các yếu tố có liên quan

Dùng các phép kiểm thống kê để đánh giá mức

độ hiểu biết trầm cảm của người thân bệnh nhân trầm cảm và các yếu tố ảnh hưởng

Trang 35

- Sử dụng bộ câu hỏi Morisky (MMAS-8) [40]

Bộ câu hỏi này đã được chuyển ngữ để phù hợp với dân số Việt Nam bởi Nguyễn Hương Thảo và Nguyễn Thắng năm 2015 [41]

- Đánh giá lại độ tin cậy

- Đối với các bệnh nhân tái khám, phỏng vấn cùng lúc với phỏng vấn người thân bệnh nhân trầm cảm Đối với các bệnh nhân khám lần đầu tại bệnh viện, việc đánh giá tuân thủ điều trị của bệnh nhân được đánh giá sau 7 – 9 tuần, bằng cách liên lạc qua điện thoại

Đánh giá mức độ tuân thủ điều trị thuốc của bệnh nhân trầm cảm và các yếu tố có liên quan

Theo thang điểm Morisky thì mức độ tuân thủ được phân loại như sau:

- Tuân thủ cao: bệnh nhân đạt 8 điểm

- Tuân thủ trung bình: bệnh nhân đạt 6 hoặc 7 điểm

- Tuân thủ thấp: bệnh nhân đạt từ 5 điểm trở xuống

Dùng các phép kiểm thống kê để đánh giá mức

độ tuân thủ điều trị thuốc của bệnh nhân trầm cảm và các yếu tố ảnh hưởng

Trang 36

độ cải thiện của bệnh nhân trầm cảm

- Dựa vào hướng dẫn của Hiệp hội Tâm lý học Hoa Kỳ [5], xây dựng bộ câu hỏi đánh giá cải thiện của bệnh nhân gồm 9 câu hỏi

- Kiểm tra cách diễn đạt, trình bày, chỉnh sửa cho phù hợp

- Đánh giá độ tin cậy

Phỏng vấn bệnh nhân trầm cảm

Phỏng vấn trực tiếp bệnh nhân ngay tại Khoa khám bệnh 1, thực hiện đồng thời với khảo sát sự tuân thủ điều trị của bệnh nhân

Đánh giá mức độ cải thiện của bệnh nhân trầm cảm và các yếu tố có liên quan

Bệnh nhân được xem là có cải thiện khi trả lời

“Không” ở cả 2 câu hỏi đầu tiên và nhiều hơn hoặc bằng 4 câu trong 7 câu còn lại

Dùng các phép kiểm thống kê để đánh giá mức

độ cải thiện của bệnh nhân trầm cảm và các yếu

tố ảnh hưởng

Trang 37

2.2.4 Thiết kế bộ câu hỏi để thu thập thông tin đặc điểm nhân khẩu học của

bệnh nhân và người thân bệnh nhân

Thiết kế bộ câu hỏi để thu thập các thông tin bệnh nhân và người thân bệnh nhân: tuổi người thân – bệnh nhân, giới tính người thân – bệnh nhân, nghề nghiệp người thân – bệnh nhân, nơi cư trú, trình độ học vấn người thân, mối quan hệ với bệnh nhân, mức độ quan tâm, nhắc nhở bệnh nhân uống thuốc, tiền sử gia đình có người mắc trầm cảm không, bệnh nhân khám lần đầu tại đây hay tái khám, bệnh nhân có khám tại đâu trước đây không, số thành viên trong gia đình, bệnh mắc kèm, số thuốc điều trị trầm cảm, tác dụng phụ gặp phải khi điều trị trầm cảm, mức độ trầm cảm của bệnh nhân

2.2.5 Thiết kế bộ câu hỏi để đánh giá hiểu biết trầm cảm của người thân

bệnh nhân

2.2.5.1 Chuyển ngữ Bộ câu hỏi Depression Literacy Questionnaire (DLIT)

Tổng hợp nội dung BCHKST (Bộ câu hỏi khảo sát thử) I – Hiểu biết trầm cảm

được dịch từ bản gốc tiếng Anh: Depression Literacy Questionnaire (DLIT) của

Kathy Griffiths (2004) [20] Bộ câu hỏi gồm 22 câu hỏi (dạng chọn “Đồng ý” hoặc

“Không đồng ý”) để xác định đối tượng nghiên cứu có trả lời đúng kiến thức về trầm cảm hay không Khi người được phỏng vấn trả lời đúng 1 câu sẽ được 1 điểm, sai được 0 điểm, điểm số cao thể hiện mức độ hiểu biết trầm cảm tốt Bộ câu hỏi đánh giá hiểu biết của đối tượng nghiên cứu ở ba lĩnh vực: hiểu biết về các dấu hiệu trầm cảm (9 câu), hiểu biết tác động của trầm cảm lên đời sống và sức khỏe của bệnh nhân (5 câu), hiểu biết về quản lý điều trị cho bệnh nhân (8 câu)

Bản gốc bộ câu hỏi được thể hiện ở Bảng 2.7:

Trang 38

Bảng 2.7 Depression Literacy Questionnaire (DLIT)

1 People with depression often speak in a rambling and disjointed

way

False

2 People with depression may feel guilty when they are not at fault True

3 Reckless and foolhardy behaviour is a common sign of depression False

4 Loss of confidence and poor self-esteem may be a symptom of

6 People with depression often hear voices that are not there False

7 Sleeping too much or too little may be a sign of depression True

8 Eating too much or losing interest in food may be a sign of

depression

True

9 Depression does not affect your memory and concentration False

10 Having several distinct personalities may be a sign of depression False

11 People may move more slowly or become agitated as a result of

their depression

True

12 Clinical psychologists can prescribe antidepressants False

13 Moderate depression disrupts a person’s life as much as multiple

sclerosis or deafness

True

14 Most people with depression need to be hospitalised False

15 Many famous people have suffered from depression True

Trang 39

16 Many treatments for depression are more effective than

18 Cognitive behavioural therapy is as effective as antidepressants

for mild to moderate depression

True

19 Of all the alternative and lifestyle treatments for depression,

vitamins are likely to be the most helpful

False

20 People with depression should stop taking antidepressants as

soon as they feel better

False

22 Antidepressant medications usually work straight away False Quá trình dịch bộ câu hỏi gốc dựa trên các hướng dẫn về dịch thuật và tương thích

đa văn hóa của Beaton và cộng sự [9]

Bộ câu hỏi gốc được dịch từ tiếng Anh sang tiếng Việt bởi hai Dược sĩ: một người biết mục đích của nghiên cứu và một người không được biết Hai bản dịch này sẽ được đối chiếu và thảo luận các điểm khác nhau để cùng đi đến một bản dịch thống nhất Bản dịch tiếng Việt được dịch ngược lại sang tiếng Anh bởi một bạn là Thạc sĩ khối ngành Khoa học tự nhiên Các điểm khác nhau giữa bản gốc và bản dịch ngược được thảo luận bởi một hội đồng gồm có: thầy hướng dẫn, nghiên cứu viên, các người dịch để đánh giá, chỉnh sửa bản tiếng Việt cho phù hợp, kết quả thu được

BCHKST I – Hiểu biết trầm cảm

2.2.5.2 Kiểm tra cách diễn đạt và hình thức trình bày

Mục đích: Kiểm tra BCHKST I – Hiểu biết trầm cảm về cách diễn đạt, trình bày

và tính phù hợp với mẫu khảo sát

Thực hiện trên 10 – 15 người

Trang 40

BCHKST I – Hiểu biết trầm cảm sau khi kiểm tra diễn đạt và hình thức trình bày, được điều chỉnh cho phù hợp để thành BCHKST II – Hiểu biết trầm cảm

2.2.5.3 Đánh giá độ tin cậy

BCHKST II – Hiểu biết trầm cảm được dùng để phỏng vấn thử trên 30 - 40 người

nhằm đánh giá độ tin cậy Mục đích để kiểm tra xem các câu hỏi nào thực sự đóng góp cho việc đánh giá hiểu biết trầm cảm

Phương pháp đánh giá độ tin cậy: sử dụng giá trị Cronbach’s alpha (α) và Hệ số tương quan biến – tổng:

- Giá trị α cho biết độ chặt chẽ mà các câu hỏi trong từng khái niệm tương quan với

nhau Giá trị α được trình bày trong Bảng 2.9 (mục 2.2.8.2)

- Hệ số tương quan biến – tổng xác định những câu hỏi không phân biệt được đối tượng có điểm số cao và đối tượng có điểm số thấp trong toàn bộ câu hỏi, từ đó loại

đi các câu hỏi không cần thiết

Tính hệ số tương quan biến – tổng cho tất cả các câu hỏi Loại các câu hỏi có Hệ số tương quan biến – tổng < 0,3 nếu cần thiết để đạt giá trị α > 0,6

BCHKST II – Hiểu biết trầm cảm sau khi thẩm định, loại đi các câu hỏi không phù hợp, thu được Bộ câu hỏi đánh giá hiểu biết trầm cảm

2.2.6 Bộ câu hỏi đánh giá tuân thủ thuốc

Sử dụng bộ câu hỏi đánh giá tuân thủ thuốc của Morisky (MMAS-8) [40] Bộ câu hỏi này đã được chuyển ngữ để phù hợp với dân số Việt Nam bởi Nguyễn Hương Thảo và Nguyễn Thắng năm 2015 [41] Bộ câu hỏi gồm có 8 câu, nội dung như sau:

Câu 1: Thỉnh thoảng bạn có quên uống thuốc không?

Câu 2: Người ta đôi khi bỏ dùng thuốc do nhiều lý do chứ không hẳn là vì quên

Suy nghĩ cẩn thận trong hai tuần trở lại đây, có khi nào bạn không dùng thuốc?

Ngày đăng: 26/11/2019, 09:16

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Trần Ngọc Đăng, Đỗ Văn Dũng, Huỳnh Hồ Ngọc Quỳnh (2011). “Tỷ lệ rối nhiễu tâm trí và các yếu tố liên quan của sinh viên khoa Y tế công cộng Đại học Y Dược TP. Hồ Chí Minh”, Tạp chí Y học TP Hồ Chí Minh, 15 (1), tr. 62-67 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tỷ lệ rối nhiễu tâm trí và các yếu tố liên quan của sinh viên khoa Y tế công cộng Đại học Y Dược TP. Hồ Chí Minh”, "Tạp chí Y học TP Hồ Chí Minh
Tác giả: Trần Ngọc Đăng, Đỗ Văn Dũng, Huỳnh Hồ Ngọc Quỳnh
Năm: 2011
2. Lê Thu Huyền, Huỳnh Hồ Ngọc Quỳnh (2011). “Tình trạng stress của sinh viên Y tế công cộng Đại học Y Dược thành phố Hồ Chí Minh và một số yếu tố liên quan”, Tạp chí Y học TP Hồ Chí Minh; 15(1), tr. 87-92 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tình trạng stress của sinh viên Y tế công cộng Đại học Y Dược thành phố Hồ Chí Minh và một số yếu tố liên quan”, "Tạp chí Y học TP Hồ Chí Minh
Tác giả: Lê Thu Huyền, Huỳnh Hồ Ngọc Quỳnh
Năm: 2011
3. Trương Khánh Ngân, Nguyễn Ngọc Khôi, Bùi Thị Hương Quỳnh, Nguyễn Như Hồ (2019), “Khảo sát việc sử dụng thuốc và tuân thủ điều trị ở bệnh nhân trầm cảm tại bệnh viện Đại học Y Dược TP. Hồ Chí Minh”, Tạp chí Y học Việt Nam, 477, tr. 73-76 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Khảo sát việc sử dụng thuốc và tuân thủ điều trị ở bệnh nhân trầm cảm tại bệnh viện Đại học Y Dược TP. Hồ Chí Minh”, "Tạp chí Y học Việt Nam
Tác giả: Trương Khánh Ngân, Nguyễn Ngọc Khôi, Bùi Thị Hương Quỳnh, Nguyễn Như Hồ
Năm: 2019
4. Vương Văn Tịnh (2010), “Một số nhận xét về dịch tễ học của trầm cảm”, Tạp chí Y học thực hành, 9, tr. 17-19.Tài liệu tiếng Anh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số nhận xét về dịch tễ học của trầm cảm”, "Tạp chí Y học thực hành
Tác giả: Vương Văn Tịnh
Năm: 2010
5. American Psychiatric Association (2010), Practice guideline for the treatment of patients with major depressive disorder, 3 rd edition, American Psychiatric Pub, p. 52 – 60 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Practice guideline for the treatment of patients with major depressive disorder
Tác giả: American Psychiatric Association
Năm: 2010
6. American Psychiatric Association (2013), Diagnostic and statistical manual of mental disorders (DSM-5®), American Psychiatric Pub, p. 160-161 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Diagnostic and statistical manual of mental disorders (DSM-5®)
Tác giả: American Psychiatric Association
Năm: 2013
7. Arafat S. Y., Ahmed S. &amp; Uddin S. (2018), “Depression literacy status in Bangladesh: a cross-sectional comparative observation”, J. Behavioral Health.2018, 7(2), p. 91-97 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Depression literacy status in Bangladesh: a cross-sectional comparative observation”, "J. Behavioral Health. "2018, 7
Tác giả: Arafat S. Y., Ahmed S. &amp; Uddin S
Năm: 2018
9. Beaton D. E., Bombardier C., Guillemin F., &amp; Ferraz M. B. (2000), “Guidelines for the process of cross-cultural adaptation of self-report measures”, Spine, 25 (24), p. 3186-3191 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Guidelines for the process of cross-cultural adaptation of self-report measures”, "Spine, 25
Tác giả: Beaton D. E., Bombardier C., Guillemin F., &amp; Ferraz M. B
Năm: 2000
10. Bonabi H. et al. (2016), “Mental health literacy, attitudes to help seeking, and perceived need as predictors of mental health service use: a longitudinal study”, The Journal of nervous and mental disease, 204 (4), p. 321-324 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Mental health literacy, attitudes to help seeking, and perceived need as predictors of mental health service use: a longitudinal study”, "The Journal of nervous and mental disease, 204
Tác giả: Bonabi H. et al
Năm: 2016
11. Burnam M. A., Wells K. B. &amp; Golding J. M. (1988), “Psychiatric disorder in a sample of the general population with and without chronic medical conditions”, Am J Psychiatry, 145, p. 976-98 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Psychiatric disorder in a sample of the general population with and without chronic medical conditions”, "Am J Psychiatry
Tác giả: Burnam M. A., Wells K. B. &amp; Golding J. M
Năm: 1988
12. Chen S., Wu Q., Qi C., Deng H., Wang X., He H. &amp; Liu T. (2017), “Mental health literacy about schizophrenia and depression: a survey among Chinese caregivers of patients with mental disorder”, BMC psychiatry, 17 (1), p. 89 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Mental health literacy about schizophrenia and depression: a survey among Chinese caregivers of patients with mental disorder”, "BMC psychiatry
Tác giả: Chen S., Wu Q., Qi C., Deng H., Wang X., He H. &amp; Liu T
Năm: 2017
13. Coles M. E., Ravid A., Gibb B., George-Denn D., Bronstein L. R. &amp; McLeod S. (2016), “Adolescent mental health literacy: young people's knowledge of depression and social anxiety disorder”, Journal of Adolescent Health, 58 (1), p. 57-62 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Adolescent mental health literacy: young people's knowledge of depression and social anxiety disorder”, "Journal of Adolescent Health
Tác giả: Coles M. E., Ravid A., Gibb B., George-Denn D., Bronstein L. R. &amp; McLeod S
Năm: 2016
14. Cronbach L. J. (1951), “Coefficient alpha and the internal structure of tests. psychometrika, 16 (3), p. 297-334 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Coefficient alpha and the internal structure of tests. "psychometrika
Tác giả: Cronbach L. J
Năm: 1951
15. Dancey C. P., Reidy J. (2004), Statistics without Maths for Psychology: using SPSS for Windows, Pearson Prentice Hall, London Sách, tạp chí
Tiêu đề: Statistics without Maths for Psychology: using SPSS for Windows
Tác giả: Dancey C. P., Reidy J
Năm: 2004
16. Durbin J., Watson G. S. (1951), “Testing for serial correlation in least squares regression II”, Biometrika, 38, p. 159-178 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Testing for serial correlation in least squares regression II”, "Biometrika
Tác giả: Durbin J., Watson G. S
Năm: 1951
17. Ediriweera H. W., Fernando S. M., &amp; Pai N. B. (2012), “Mental health literacy survey among Sri Lankan carers of patients with schizophrenia and depression”, Asian journal of psychiatry, 5 (3), p. 246-250 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Mental health literacy survey among Sri Lankan carers of patients with schizophrenia and depression”, "Asian journal of psychiatry
Tác giả: Ediriweera H. W., Fernando S. M., &amp; Pai N. B
Năm: 2012
18. Glezer A., Byatt N., Cook Jr R. &amp; Rothschild A. J. (2009), “Polypharmacy prevalence rates in the treatment of unipolar depression in an outpatient clinic”, Journal of affective disorders, 117 (1-2), p. 18-23 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Polypharmacy prevalence rates in the treatment of unipolar depression in an outpatient clinic”, "Journal of affective disorders
Tác giả: Glezer A., Byatt N., Cook Jr R. &amp; Rothschild A. J
Năm: 2009
19. Gomez-Restrepo C., Bohorquez A., Pinto M. D. et al. (2004), “The prevalence of and factors associated with depression in Colombia”, Revista Panamericana de Salud Pública, 16, p. 378-386 Sách, tạp chí
Tiêu đề: The prevalence of and factors associated with depression in Colombia”, "Revista Panamericana de Salud Pública
Tác giả: Gomez-Restrepo C., Bohorquez A., Pinto M. D. et al
Năm: 2004
20. Griffiths K. M., Christensen H., Jorm A. F., Evans K. &amp; Groves C. (2004), “Effect of web-based depression literacy and cognitive–behavioural therapy interventions on stigmatising attitudes to depression: Randomised controlled trial”, The British Journal of Psychiatry, 185 (4), p. 342-349 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Effect of web-based depression literacy and cognitive–behavioural therapy interventions on stigmatising attitudes to depression: Randomised controlled trial”, "The British Journal of Psychiatry
Tác giả: Griffiths K. M., Christensen H., Jorm A. F., Evans K. &amp; Groves C
Năm: 2004
21. Hsiao C. Y. &amp; Riper M. V. (2010), “Research on caregiving in Chinese families living with mental illness: a critical review”, Journal of Family Nursing, 16 (1), p. 68-100 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Research on caregiving in Chinese families living with mental illness: a critical review”, "Journal of Family Nursing
Tác giả: Hsiao C. Y. &amp; Riper M. V
Năm: 2010

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w