1.2 Mục tiêu của nghiên cứu Mục tiêu của nghiên cứu nhằm đánh giá tổng thể về hiện trạng NTTS của các xã ven đầm phá Tam Giang – Cầu Hai đồng thời đánh giá và dự báo diễn biến CLN, phân
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
THỪA THIÊN HUẾ
Cần Thơ, 2019
Trang 2CÔNG TRÌNH ĐƯỢC HOÀN THÀNH TẠI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
Có thể tìm hiểu luận án tại thư viện:
Trung tâm Học liệu, Trường Đại học Cần Thơ
Thư viện Quốc gia Việt Nam
Trang 3DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH ĐÃ CÔNG BỐ
1 Trương Văn Đàn, Nguyễn Thành Luân, Mạc Như Bình, Vũ Ngọc Út (2018) Xây
dựng chỉ số chất lượng nước đầm phá Tam Giang – Cầu Hai phục vụ hoạt động nuôi tôm Tạp chí Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn, (15): 94-102
2 Trương Văn Đàn, Nguyễn Thành Luân, Mạc Như Bình, Vũ Ngọc Út (2018) Phân
vùng chất lượng nước nuôi trồng thủy sản ở đầm Cầu Hai, tỉnh Thừa Thiên Huế Tạp
chí khoa học Trường Đại học Cần Thơ, 54(6B): 120-128
3 Trương Văn Đàn, Nguyễn Thành Luân, Mạc Như Bình, Phạm Thị Ái Niệm, Hà Nam
Thắng, Vũ Ngọc Út (2018) Điều tra hiện trạng NTTS lợ mặn cao triều, ở xã Phú Mỹ,
huyện Phú Vang, tỉnh Thừa Thiên Huế, Việt Nam Tạp chí khoa học Trường Đại học
Cần Thơ, 54(7B): 126-137
4 Trương Văn Đàn và Vũ Ngọc Út (2015) Ứng dụng hệ thống thông tin địa lý (GIS)
nghiên cứu hiện trạng hữu cơ và vi sinh nước ở đầm Sam Chuồn thuộc xã Phú Mỹ, huyện Phú Vang, tỉnh Thừa Thiên Huế phục vụ hoạt động nuôi tôm Tạp chí khoa học
Đại học Huế, 104(5): 67-78
5 Trương Văn Đàn, Vũ Ngọc Út và Mạc Như Bình (2015) Ứng dụng hệ thống thông tin
địa lý (GIS) phân vùng chất lượng nước nuôi trồng thủy sản ở phá Tam Giang, tỉnh Thừa Thiên Huế Tạp chí khoa học Đại học Huế, 104(5): 53-65
Trang 4Chương 1: GIỚI THIỆU 1.1 Đặt vấn đề
Trong những năm gần đây, đã có nhiều chương trình và dự án nghiên cứu về môi trường vùng đầm phá như Dự án “Nghiên cứu phát triển bền vững vùng đầm phá ở tỉnh Thừa Thiên Huế” giai đoạn 1998 - 2003 do Vùng Nord Pas de Calais Pháp tài trợ (Thua Thien Hue-Vietnam, 2003) và Dự án “Quản lý tổng hợp vùng ven bờ” giai đoạn 2001 -
2005 do Hà Lan tài trợ (CZMC/RIKZ, 2003)… Những dự án này đã thu thập được các
dữ liệu về chất lượng nước (CLN), tình trạng ô nhiễm và đa dạng sinh học của sông Hương và hệ thống đầm phá Tam Giang – Cầu Hai Tuy nhiên các dự án này chưa liên kết được bức tranh hiện trạng với diễn biến CLN cũng như chưa dự báo được diễn biến CLN trong tương lai phục vụ hoạt động NTTS Vì vậy, các nhà quản lý rất khó để thông tin chính xác về CLN và định hướng phát triển nghề nuôi thủy sản trên vực nước này Bên cạnh đó, diễn biến dịch bệnh bùng phát ở nhiều địa phương nuôi tôm ven đầm phá làm thiệt hại lớn cho người nuôi Nguyên nhân gây ra dịch bệnh là do thức ăn, con giống, quản lý…và một trong những nguyên nhân lớn nhất là vấn đề ô nhiễm môi trường nước Nguồn nước ven phá đưa vào nuôi không được thông tin cụ thể về chất lượng và tình trạng ô nhiễm
Mặt khác, hiện trạng CLN đầm phá Tam Giang – Cầu Hai đang phải đối mặt với
những vấn đề hữu cơ, sự phú dưỡng và ô nhiễm vi khuẩn (Nguyễn Văn Hợp và ctv.,
2005) Nguyên nhân chính gây ra những vấn đề đó là các nguồn thải từ các hoạt động NTTS và nông nghiệp vì chúng đóng góp chủ yếu trên 98% vào tải lượng ô nhiễm hữu
cơ và các chất dinh dưỡng Điều này càng khẳng định thêm sự cần thiết phải đánh giá CLN hiện tại và dự báo CLN trong tương lai để có một quy hoạch phát triển NTTS và bảo vệ môi trường nước đầm phá bền vững
Chính vì những lý do trên, đánh giá và dự báo CLN cho NTTS ở đầm Tam Giang – Cầu Hai là cần thiết
1.2 Mục tiêu của nghiên cứu
Mục tiêu của nghiên cứu nhằm đánh giá tổng thể về hiện trạng NTTS của các xã ven đầm phá Tam Giang – Cầu Hai đồng thời đánh giá và dự báo diễn biến CLN, phân vùng CLN làm cơ sở cho việc quy hoạch vùng nuôi tôm ven đầm phá hợp lý và hiệu quả
1.3 Ý nghĩa của nghiên cứu
1.3.1 Ý nghĩa khoa học
Đây là một hướng đi mới trong lĩnh vực nghiên cứu về môi trường nước cho NTTS Kết quả của đề tài sẽ bổ sung dẫn liệu về hiện trạng NTTS và môi trường nước ở đầm phá Tam Giang – Cầu Hai làm cơ sở để quy hoạch, phát triển NTTS trong khu vực này
Đề tài còn cung cấp công cụ mới trong việc đánh giá, phân vùng và dự báo CLN vùng đầm phá
Trang 51.3.2 Ý nghĩa thực tiễn
Kết quả của đề tài cung cấp cho các nhà quản lý và người dân hiện trạng NTTS và CLN ở đầm phá Tam Giang – Cầu Hai phục vụ hoạt động nuôi thủy sản ở đây Việc lượng hóa được CLN sẽ giúp cho các nhà quản lý dễ dàng hơn trong việc ra các quyết định liên quan đến các hoạt động NTTS thuộc khu vực họ quản lý Bên cạnh đó, kết quả
dự báo giúp các nhà quản lý có định hướng quy hoạch NTTS trong tương lai hiệu quả
1.4 Nội dung nghiên cứu
- Khảo sát hiện trạng NTTS ven đầm phá Tam Giang – Cầu Hai
- Đánh giá CLN ở đầm phá Tam Giang – Cầu Hai
- Xây dựng chỉ số CLN và áp dụng đánh giá ở đầm phá Tam Giang – Cầu Hai
- Dự báo diễn biến CLN trong tương lai ở một số khu NTTS tập trung ven đầm phá Tam Giang – Cầu Hai thông qua mô hình MIKE 21
1.5 Điểm mới của luận án
Luận án đã cung cấp được dẫn liệu mới nhất về hiện trạng NTTS và CLN vùng đầm phá Tam Giang – Cầu Hai với sự hỗ trợ của công nghệ GIS Đề tài đã xây dựng được bộ chỉ số CLN (WQITGCH) và bộ chỉ số CLN hiệu chỉnh (WQITGCHhieuchinh) dành riêng cho đầm phá Tam Giang – Cầu Hai để đánh giá CLN nuôi tôm Kết quả đề tài cũng xây dựng được mô hình dự báo CLN vùng đầm phá Tam Giang – Cầu Hai cho hoạt động NTTS và dữ liệu dự báo theo thời gian ở các khu NTTS tập trung ven đầm phá
Trang 6Chương 2: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2.1 Phương pháp điều tra hiện trạng NTTS
Các thông tin thuộc tính về hiện trạng NTTS ở các xã ven đầm phá Tam Giang – Cầu Hai được khảo sát bằng bảng câu hỏi soạn sẵn Từ kết quả khảo sát thông tin thứ cấp cho thấy có 3 mô hình sản xuất thủy sản ven đầm phá là nuôi lồng, nuôi ao đất, nuôi chắn sáo thuộc 5 huyện Phong Điền, Quảng Điền, Hương Trà, Phú Vang và Phú Lộc,
do đó 90 hộ từ 3 mô hình sản xuất này thuộc 9 xã của 5 huyện, phân bố từ Bắc đến Nam đầm phá được chọn để khảo sát
2.2 Phương pháp đánh giá CLN thông qua từng thông số
2.2.1 Phương pháp thu, bảo quản và phân tích mẫu nước
Nghiên cứu được thực hiện ở đầm phá Tam Giang – Cầu Hai với các thông số môi trường nghiên cứu bao gồm: nhiệt độ, pH, oxy hòa tan (DO), độ mặn, độ kiềm, tổng chất rắn lơ lửng (TSS), tổng chất rắn hòa tan (TDS), nhu cầu oxy sinh hóa (BOD5), N-NH3, N-NO3-, P-PO43-, Tổng coliform Dụng cụ thu mẫu nước được sử dụng là Bathometer Tần suất thu mẫu:
Đề tài đã tiến hành thu mẫu 5 đợt/năm bao gồm mùa khô (18/5/2017 và 18/8/2017), mùa mưa (16-18/02/2017; 16-18/10/2017 và 16-18/12/2017), với 44 điểm/lần để nghiên cứu CLN theo mùa
16-Mẫu liên tục được thu tại 4 trạm (Tam Giang, Thuận An, Trường Hà, Tư Hiền) với
2 mùa/năm bao gồm mùa khô (9-15/5/2017) và mùa mưa (12-18/11/2017), với 7 ngày liên tục/trạm/mùa, mỗi 3 giờ thu mẫu 1 lần để nghiên cứu CLN theo ngày đêm Ban ngày được thu lúc 6h, 9h, 12h và 15h Ban đêm được thu lúc 0h, 3h, 18h và 21h
Việc thu mẫu được tiến hành dựa trên bản đồ nền đầm phá Tam Giang – Cầu Hai Điểm thu mẫu được định vị toạ độ bằng hệ thống GPS với hệ tọa độ VN-2000
Chức năng dẫn đường “go to XY” của GPS được sử dụng để đến chính xác điểm
cần khảo sát Mẫu nước sau khi đo các yếu tố tại hiện trường, được cho vào lọ đựng mẫu 500mL và bảo quản Mẫu nước phân tích BOD5, TSS và TC được bảo quản ở nhiệt độ
từ 4-50C với thời gian tối đa là 24 giờ đối với BOD5, 48 giờ đối với TSS và 1 tuần đối với TC
Phương pháp cấy và pha loãng được sử dụng để phân tích yếu tố BOD5 Phương pháp khối lượng và phương pháp MPN lần lượt được sử dụng để phân tích yếu tố TSS
và tổng coliform Các yếu tố còn lại được đo trực tiếp thông qua các máy móc và thiết
bị tương ứng như nhiệt độ (nhiệt kế), pH (máy Hanna HI 98017), DO (máy Extech DO 600), độ mặn (khúc xạ kế), độ kiềm (test độ kiềm, Sera, Đức), TDS (máy TDS 039), N-NH3 (Máy Hanna HI 700), N-NO3- (Máy Hanna HI 96728), P-PO43- (Máy Hanna HI 713)
Trang 72.2.2 Cơ sở đánh giá CLN đầm phá Tam Giang – Cầu Hai thông qua từng thông số
Việc đánh giá CLN ở đầm phá Tam Giang – Cầu Hai phục vụ hoạt động NTTS được thực hiện bằng cách so sánh với Quy chuẩn kỹ thuật Quốc gia về cơ sở nuôi tôm nước lợ - điều kiện bảo đảm vệ sinh thú y, bảo vệ môi trường và an toàn thực phẩm (QCVN 02-19:2014/BNNPTNT) gọi tắt là QCVN02-19:2014; Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về CLN mặt (QCVN 08-MT:2015/BTNMT) gọi tắt là QCVN08-MT:2015, cột A1 cho mục đích bảo tồn động thực vật thủy sinh Ngoài ra, nghiên cứu còn sử dụng các căn cứ khoa học của các tác giả nghiên cứu về lĩnh vực CLN cho NTTS để thảo luận, đánh giá cho khu vực nghiên cứu
2.3 Phương pháp đánh giá CLN thông qua chỉ số CLN WQI
2.3.1 Phương pháp xây dựng chỉ số CLN đầm phá WQI TGCH
2.3.1.1 Phương pháp lấy ý kiến chuyên gia
Phương pháp Delphi (Linstone and Turoff, 2002) được sử dụng để xây dựng chỉ
số CLN đầm phá Tam Giang – Cầu Hai phục vụ cho hoạt động nuôi tôm
Các giai đoạn chính trong xây dựng chỉ số CLN đầm phá Tam Giang – Cầu Hai được thể hiện theo Hình 2.1
Hình 2.1: Các giai đoạn xây dựng chỉ số CLN
Hệ thống gồm 2 câu hỏi được xây dựng và gửi đến 74 chuyên gia về CLN NTTS (bao gồm 25,7% cán bộ quản lý NTTS và 74,3% giảng viên về NTTS ở các Viện, Trường Thủy sản toàn quốc) Câu hỏi thứ nhất nhằm mục đích xác định các yếu tố môi trường nước đầm phá Tam Giang - Cầu Hai quan trọng đối với hoạt động nuôi tôm và trọng số của từng yếu tố (wi) Câu hỏi thứ 2 nhằm chuyển giá trị đo được của từng yếu
tố quan trọng sang điểm số từ 0-100 (xác định chỉ số phụ qi)
Tính chỉ số CLN (WQI) và phân loại CLN
Ý kiến chuyên gia
Số liệu quan trắc
Trang 82.3.1.2 Phương pháp xác định các yếu tố quan trọng
Điểm số của các yếu tố trong câu hỏi 1 được tính giá trị trung bình Căn cứ vào thang điểm đánh giá ở câu hỏi 1, những yếu tố có điểm số trung bình nhỏ hơn hoặc bằng
3 là quan trọng cho hoạt động nuôi tôm ở đầm phá Tam Giang – Cầu Hai
2.3.1.3 Phương pháp xác định trọng số các yếu tố quan trọng
Trọng số các yếu tố được xác định thông qua điểm xếp hạng của mỗi yếu tố, trọng
số trung gian và trọng số chính thức của mỗi yếu tố
Dựa trên tiêu chí tính toán đơn giản và mô tả được tầm quan trọng của các thông
số tính toán, công thức trung bình cộng có trọng số (Brown et al., 1970; Prati et al.,
1971) được sử dụng để tính chỉ số CLN đầm phá Tam Giang – Cầu Hai
xử lý sơ bộ trước khi nuôi tôm; mức 4 (26-50): nước ô nhiễm vừa, xử lý kỹ trước khi nuôi tôm; mức 5 (0-25): nước ô nhiễm nặng, không thể nuôi tôm
2.4 Phương pháp dự báo CLN thông qua mô hình toán
Phương pháp kế thừa: Đề tài kế thừa có chọn lọc các kết quả nghiên cứu về môi
trường, khí tượng thủy văn, kinh tế xã hội…có liên quan đến khu vực nghiên cứu từ các
dự án của Phòng thí nghiệm trọng điểm quốc gia về động lực học sông biển (Viện Khoa học Thủy lợi Việt Nam) và từ đề tài cấp tỉnh Thừa Thiên Huế mã TTH-2011-KC11 năm
2014 và một số đơn vị có liên quan khác
Phương pháp khảo sát thực địa: Công tác khảo sát thực địa được thực hiện nhằm
đánh khảo sát địa hình, thủy văn dòng chảy và CLN tại các nguồn thải và trên đầm phá…
Trang 9phục vụ dự báo CLN Đối với dữ liệu địa hình đáy đầm phá, số liệu mực nước, lưu lượng, CLN trên đầm phá và các điểm nguồn đổ vào đầm phá được thực hiện trong 2 đợt (tháng 5 và 11) năm 2017
Phương pháp mô hình toán: Sử dụng mô hình thủy lực (MIKE 21-HD) và mô
hình chất lượng nước (MIKE 21-ECOLAB) để đánh giá đặc trưng thủy lực, động lực học, dự báo chất lượng môi trường của hệ thống đầm phá Tam Giang – Cầu Hai Mô hình toán sau khi được hiệu chỉnh và kiểm định, tiến hành dự báo CLN trong tương lai theo kịch bản phát triển nuôi trồng thủy sản tỉnh Thừa Thiên Huế đến năm 2020 tại quyết định số 621/QĐ-UBND ngày 18 tháng 3 năm 2011 về “Điều chỉnh quy hoạch NTTS đến năm 2015 và định hướng đến năm 2020”
Hình 2.2: Sơ đồ thực hiện dự báo CLN bằng mô hình MIKE 21
2.5 Phương pháp phân tích và xử lý số liệu
Số liệu được xử lý bằng phần mềm IBM SPSS v.20.0 Kiểm định dữ liệu thống kê
ở mức ý nghĩa α = 0,05
Tương quan Pearson và phân tích thành phần chính (PCA) được thực hiện bằng phần mềm R v.3.5.0 và RStudio v.1.1.453
Dữ liệu địa hình, thủy lực, CLN
Thiết lập mô hình thủy lực
MIKE 21-HD
Thiết lập mô hình sinh thái MIKE 21-ECOLAB
Hiệu chỉnh mô hình MIKE 21
Kiểm định mô hình
MIKE 21
Dự báo CLN đầm phá Tam Giang – Cầu Hai
Trang 10Chương 3: KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 3.1 Hiện trạng NTTS ven đầm phá Tam Giang – Cầu Hai
Theo thống kê của Sở NNNPTNT tỉnh Thừa Thiên Huế (2017), diện tích NTTS ven đầm phá Tam Giang – Cầu Hai là 4.215 ha Đối tượng nuôi chủ yếu là tôm sú
(Penaeus monodon), tôm chân trắng (Litopenaeus vannamei), cua (Scylla paramamosain), cá dìa (Siganus guttatus) và cá kình (Siganus canaliculatus) với tổng
tỷ lệ là 64,7% Phương thức nuôi chủ yếu là bán thâm canh (mô hình nuôi ao đất và lồng) và quảng canh cải tiến (nuôi chắn sáo) Mật độ nuôi khá thấp với tôm (dưới 5 con/m2), cá (3-5 con/m2), cua (2 con/m2) Thời gian nuôi từ 1-3 vụ/năm Thời gian nuôi
vụ 1 (tháng 2-5), nuôi vụ 2 (tháng 5-8) và vụ 3 (tháng 8-12) Thức ăn chủ yếu sử dụng thức ăn công nghiệp, thức ăn tươi (tôm, cá tạp), thức ăn tự chế biến và thức ăn khác Nước thải sau nuôi, người dân chủ yếu không xử lý mà thải trực tiếp ra môi trường với
tỷ lệ 73,3% Tình hình dịch bệnh 5 năm gần đây tăng lên với 93,3% hộ dân trả lời Nguyên nhân gây bệnh chủ yếu là do nguồn nước bị nhiễm bẩn bởi chất hữu cơ và vi sinh vật có hại với tỷ lệ 44,3% Hiệu quả sản xuất NTTS ven đầm phá Tam Giang – Cầu Hai với mô hình nuôi bán thâm canh có năng suất 1 - 3 tấn/ha/năm và quảng canh cải tiến là <1 tấn/ha/năm
3.2 Đánh giá CLN đầm phá Tam Giang – Cầu Hai
3.2.1 Lựa chọn các yếu tố môi trường ảnh hưởng đến CLN đầm phá Tam Giang – Cầu Hai
Qua phân tích thành phần chính (PCA) các yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng nước đầm phá Tam Giang – Cầu Hai, nghiên cứu đã xác định được 11 yếu tố bao gồm: TSS, BOD5, tổng coliform, N-NH3, N-NO3-, P-PO43-, DO, độ kiềm, độ mặn, TDS và pH Các yếu tố này đã giải thích được 79,7% sự biến đổi về CLN ở đầm phá Tam Giang – Cầu Hai
3.2.2 Đánh giá CLN đầm phá Tam Giang – Cầu Hai thông qua từng thông số 3.2.1.1 Đánh giá nhóm các thông số cơ bản (pH, DO, độ mặn, độ kiềm, TDS)
a Theo thời gian
Yếu tố pH: Giá trị pH ở đầm phá Tam Giang – Cầu Hai biến động theo ngày đêm
khá lớn từ 6,93-8,56 và ban ngày cao hơn ban đêm có ý nghĩa thống kê với p<0,05 Theo mùa, pH trung bình mùa khô là 7,61±0,593 và mùa mưa với 7,27±0,529 Giá trị pH có
xu hướng tăng dần từ mùa mưa đến mùa khô và sai khác giữa các mùa có ý nghĩa thống
kê (p<0,05)
Yếu tố DO: Hàm lượng DO trong khu vực đầm phá Tam Giang – Cầu Hai đo
được vào ban ngày cao hơn ban đêm Hàm lượng DO trung bình ban ngày là 6,38±0,961 mg/L và ban đêm là 5,74±0,998 mg/L Theo mùa, hàm lượng DO trung bình mùa khô
Trang 11là 5,58±0,880 mg/L và mùa mưa là 5,06±0,799 mg/L Như vậy, DO có xu hướng giảm dần từ mùa khô cho đến mùa mưa và sai khác giữa các mùa có ý nghĩa thống kê (p<0,05)
Yếu tố độ mặn: Độ mặn ban ngày cao hơn ban đêm, tuy nhiên sự sai khác này
không có ý nghĩa thống kê (p>0,05) Độ mặn trung bình ban ngày là 15,5±7,81‰ và ban đêm là 14,6±7,71‰ Độ mặn trung bình mùa khô (14,1±6,94‰) cao hơn mùa mưa (10,2±5,57‰) và có ý nghĩa thống kê (p<0,05) Độ mặn có xu hướng tăng dần từ mùa mưa đến mùa khô
Yếu tố độ kiềm: Độ kiềm trung bình ban ngày cao hơn ban đêm, tuy nhiên mức
chênh lệch rất nhỏ, chỉ khoảng 2 mg/L và sai khác không có ý nghĩa thống kê (p>0,05)
Độ kiềm trung bình ban ngày là 64,5±22,48 mg/L và ban đêm là 62,2±22,36 mg/L Theo mùa, độ kiềm trung bình mùa khô là 61,9±22,79 mg/L và mùa mưa là 46,9±19,60 mg/L
Độ kiềm mùa khô cao hơn mùa mưa có ý nghĩa thống kê (p<0,05)
Yếu tố TDS: Hàm lượng TDS biến động theo ngày đêm không lớn Hàm lượng
TDS trung bình ban ngày là 15.384±7.728 mg/L và ban đêm là 14.455±7.631 mg/L Theo mùa, hàm lượng TDS trung bình mùa khô (13.581±7.433 mg/L) cao hơn mùa mưa (9.669±5.917 mg/L) có ý nghĩa thống kê (p<0,05) Do TDS có quan hệ mật thiết với độ mặn, độ mặn càng cao thì hàm lượng TDS càng lớn Do đó, mùa khô với độ mặn cao hơn mùa mưa nên hàm lượng TDS sẽ cao hơn mùa mưa
b Theo không gian
Yếu tố pH: Vào mùa khô, hầu hết diện tích đầm phá đều có pH phù hợp với tiêu
chuẩn nuôi tôm (pH=7-9) (Bộ NNPTNT, 2014), chỉ có 2,34% diện tích đầm phá, phân
bố quanh khu vực cửa sông Ô Lâu (quanh các điểm TG1-3) có pH<7 không phù hợp cho nuôi tôm Vào mùa mưa, vùng diện tích có pH thấp (pH<7) tăng lên đến 26,14% diện tích đầm phá, tập trung chủ yếu ở phía bắc phá Tam Giang (quanh các điểm TG1-9,16), đầm Sam Chuồn (quanh điểm SC19-21), Cầu Hai (CH38,42,44)
Hình 3.1: Biến động pH mùa khô Hình 3.2: Biến động pH mùa mưa
Trang 12Yếu tố DO: Phần diện tích có DO thấp hơn 5 mg/L tập trung nhiều vào mùa mưa
với 44,27%, chủ yếu ở đầm Hà Trung – Thủy Tú, quanh các khu NTTS, kênh nước thải
và nơi nước ít xáo trộn Trong khi đó, mùa khô chỉ có 6,25% diện tích đầm phá có DO <5 mg/L
Yếu tố độ mặn: Vùng diện tích có độ mặn thấp (dưới 5‰) không phù hợp cho
nuôi tôm tập trung chủ yếu ở bắc phá Tam Giang, quanh các điểm TG1-3 (mùa khô) với diện tích 914,3ha chiếm 4,23% và quanh các điểm TG1-9, gần các cửa sông Hương (TG16), sông Truồi (CH38), kênh nước thải nông nghiệp (SC20,24) (mùa mưa) với 3686,59ha chiếm 17,06% diện tích đầm phá
Yếu tố độ kiềm: Mùa mưa, vùng đầm phá có độ kiềm thấp (<60 mg/L) không phù
hợp cho lấy nước nuôi tôm (60-180 mg/L) chiếm chủ yếu với 18.979,45 ha (87,87% diện tích đầm phá), chỉ một phần nhỏ diện tích ở gần các cửa biển Thuận An, Tư Hiền
và đầm Hà Trung – Thủy Tú có độ kiềm cao hơn 60 mg/L Mùa khô, phần diện tích không phù hợp cho nuôi tôm đã giảm xuống so với mùa mưa, chỉ còn 34,21% diện tích Hình 3.3: Biến động DO mùa khô Hình 3.4: Biến động DO mùa mưa
Hình 3.5: Biến động độ mặn mùa khô Hình 3.6: Biến động độ mặn mùa
mưa
Trang 13đầm phá và tập trung chủ yếu ở phía bắc phá Tam Giang, gần cửa sông Hương, sông Truồi, sông Đại Giang
Yếu tố TDS: Hầu hết diện tích đầm phá Tam Giang – Cầu Hai có hàm lượng TDS
phù hợp cho hoạt động nuôi tôm (5.000-35.000 mg/L), ngoại trừ phần diện tích nhỏ với 4,32% diện tích (mùa khô) và 17,28% diện tích (mùa mưa) có TDS thấp, dưới 5.000 mg/L Phần diện tích có TDS thấp phân bố quanh các điểm TG1-6 (phần diện tích mặt nước thuộc xã Quảng Thái, Quảng Lợi, Điền Hải, Điền Hòa), TG16 (phần diện tích mặt nước thuộc xã Hương Phong, Thuận An), SC20,24 (phần diện tích mặt nước thuộc xã Phú An, Phú Mỹ), CH38 (phần diện tích mặt nước thuộc xã Lộc Điền, Lộc An, Vinh Hà)
3.2.2.2 Đánh giá nhóm các thông số hữu cơ
Hình 3.8: Biến động độ kiềm mùa khô
Hình 3.9: Biến động TDS mùa khô Hình 3.10: Biến động TDS mùa mưa