1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Công tác Quản lý nhà nước của Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch Sở Du lịch đối với doanh nghiệp lữ hành quốc tế, nghiên cứu trường hợp Sở Du lịch Hà Nội

96 139 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 96
Dung lượng 1,43 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Hà Nội là một trong những địa bàn du lịch trọng điểm của cả nước, tập trung một số lượng lớn các doanh nghiệp lữ hành, đặc biệt là lữ hành quốc tế. Từ năm 2015 tới nay, Sở Du lịch là cơ quan quản lý nhà nước về du lịch đã hoàn thiện bộ máy tổ chức, đóng vai trò là cơ quan chuyên môn giúp UBND thành phố Hà Nội thực hiện tốt chức năng quản lý Nhà nước chuyên ngành về du lịch, tăng cường hiệu lực, hiệu quả công tác quản lý nhà nước đối với hoạt động kinh doanh lữ hành và hướng dẫn du lịch, xử lý nghiêm những tổ chức, cá nhân có các hành vi vi phạm pháp luật trong kinh doanh lữ hành và hoạt động hướng dẫn du lịch. Tuy nhiên, quản lý nhà nước về du lịch vẫn còn nhiều tồn tại, hạn chế cần tháo gỡ, trong đó tập trung vào hai vấn đề chính: Chính sách phát triển còn chậm so với thực tiễn phát triển và thiếu nguồn nhân lực, cán bộ quản lý. Trước những điều kiện và thực trạng đó, luận văn đề xuất những giải pháp thiết thực nhằm phát huy tốt vai trò của cơ quan quản lý nhà nước tại địa phương thông qua Sở Du lịch, để đưa du lịch trở thành ngành kinh tế mũi nhọn.

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

-

ĐINH KHÁNH TÙNG

CÔNG TÁC QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC CỦA SỞ VĂN HÓA, THỂ THAO VÀ DU LỊCH/ SỞ DU LỊCH

ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP LỮ HÀNH QUỐC TẾ,

NGHIÊN CỨU TRƯỜNG HỢP SỞ DU LỊCH HÀ NỘI

LUẬN VĂN THẠC SĨ DU LỊCH

Hà Nội - 2018

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

-

ĐINH KHÁNH TÙNG

CÔNG TÁC QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC CỦA SỞ VĂN HÓA, THỂ THAO VÀ DU LỊCH/ SỞ DU LỊCH

ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆPLỮ HÀNH QUỐC TẾ,

NGHIÊN CỨU TRƯỜNG HỢP SỞ DU LỊCH HÀ NỘI

Luận văn Thạc sĩ chuyên ngành Du lịch

Mã số: Thí điểm

Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Trần Thị Minh Hoà

Hà Nội - 2018

Trang 3

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 7

1 Lý do chọn đề tài 7

2 Tình hình nghiên cứu 9

3 Mục tiêu và nhiệm vụ của đề tài 12

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 13

5 Phương pháp nghiên cứu 13

6 Những đóng góp của luận văn 14

7 Kết cấu luận văn 15

CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ CÔNG TÁC QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ DU LỊCH ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP LỮ HÀNH QUỐC TẾ 16

1.1 Khái niệm về du lịch và quản lý nhà nước về du lịch 16

1.1.1 Khái niệm về du lịch 16

1.1.2 Quản lý nhà nước về du lịch 17

1.1.3 Quản lý nhà nước đối với doanh nghiệp lữ hành quốc tế 24

1.2 Kinh nghiệm quản lý nhà nước đối với doanh nghiệp lữ hành quốc tế ở một số quốc gia va ̀ thành phố trên thế giới 30

1.2.1 Thái Lan va ̀ Thủ đô Bangkok 31

1.2.2 Trung Quốc va ̀ Thủ đô Bắc Kinh, thành phố Thượng Hải 33

1.2.3 Malaysia và Thủ đô Kuala Lumpur 34

1.2.4 Singapore 36

1.2.5 Một số bài học kinh nghiệm trong công tác quản lý nhà nước đối với doanh nghiệp lữ hành quốc tế 37

Tiểu kết chương 1 40

CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG CÔNG TÁC QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI

DOANH NGHIỆP LỮ HÀNH QUỐC TẾ CỦA SỞ DU LỊCH HÀ NỘI 41

2.1 Tổng quan về hệ thống doanh nghiệp kinh doanh lữ hành quốc tế trên địa bàn Thành phố Hà Nội 41

Trang 4

2.1.1 Thực trạng hoạt động du lịch của Hà Nội 41

2.1.2 Thực trạng hệ thống doanh nghiệp kinh doanh lữ hành quốc tế trên địa bàn Thành phố Hà Nội 45

2.2 Nội dung quản lý nhà nước đối với doanh nghiệp lữ hành quốc tế trên địa bàn Hà Nội 47

2.2.1 Lịch sử hình thành, cơ cấu tổ chức của Sở Du lịch Hà Nội 47

2.2.2 Nội dung quản lý nhà nước về du lịch đối với doanh nghiệp kinh doanh lữ hành quốc tế của Sở Du lịch Hà Nội 50

2.2.3 Công cụ quản lý hoạt động kinh doanh lữ hành quốc tế của Sở Du lịch Hà Nội 54

2.3 Đánh giá chung về công tác quản lý nhà nước đối với doanh nghiệp lữ hành quốc tế của Sở Du lịch Hà Nội 60

2.3.1 Thuận lợi và kết quả đạt được 60

2.3.2 Hạn chế và nguyên nhân hạn chế trong việc triển khai hoạt động quản lý nhà nước đối với doanh nghiệp LHQT 65

CHƯƠNG 3 MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM HOÀN THIỆN CÔNG TÁC QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP LỮ HÀNH QUỐC TẾ

CỦA SỞ DU LỊCH HÀ NỘI 71

3.1 Định hướng, mục tiêu phát triển doanh nghiệp lữ hành quốc tế của Hà Nội 71

3.2 Đề xuất giải pháp nhằm hoàn thiện công tác quản lý nhà nước đối với doanh nghiệp lữ hành quốc tế 72

3.2.1 Tăng cường quản lý nhà nước bằng pháp luật 72

3.2.2 Phát huy hiệu quả chính sách hỗ trợ, nâng cao hiệu quả công tác quản lý nhà nước 73

3.2.3 Phát triển nguồn nhân lực trong khối cơ quan quản lý 76

3.2.4 Tăng cường công tác thanh, kiểm tra 77

3.3 Một số kiến nghị 78

3.3.1 Đối với Chính phủ 78

3.3.2 Đối với Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch 80

3.3.3 Đối với các cơ quan, ban ngành trên địa bàn Hà Nội 82

Trang 5

Tiểu kết chương 3 86 KẾT LUẬN 87 TÀI LIỆU THAM KHẢO 89 PHỤ LỤC

Trang 6

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

1 APEC Hiệp hội kinh tế châu Á- Thái Bình Dương

2 GDP Tổng sản phẩm quốc nội

3 LHQT Lữ hành quốc tế

4 TAT Cơ quan Du lịch Quốc gia Thái Lan

5 TCDL Tổng cục Du lịch

6 UBND Uỷ ban Nhân dân

7 UNWTO Tổ chức Du lịch Thế giới của Liên Hợp Quốc

8 VHTTDL Văn hóa, Thể thao và Du lịch

9 WTO Tổ chức Thương mại Thế giới

Trang 7

DANH MỤC BẢNG BIỂU

Bảng 2.1 Số lượng du khách đến Hà Nội giai đoạn 2013 - 2017 41 Bảng 2.2 Công suất sử dụng phòng trung bình toàn khối khách sạn trên địa bàn thành phố Hà Nội giai đoạn 2013-2017 42 Bảng 2.3 Tổng thu từ du lịch của Thành phố Hà Nội các năm gần đây 43 Bảng 2.4 Loại hình doanh nghiệp LHQT trên địa bàn Hà Nội (2013-2017) 45

Trang 8

DANH MỤC HÌNH VẼ, ĐỒ THỊ

Hình 2.1 Tỷ lệ tăng trưởng doanh nghiệp lữ hành quốc tế giai đoạn 2013-2017 46 Hình 2.2 Tổ chức bộ máy hoạt động của Sở Du lịch Hà Nội 49 Hình 2.3 Phân công nhiệm vụ quản lý nhà nước đối với 50 doanh nghiệp LHQT tại Sở Du lịch Hà Nội 50 Hình 2.4 Đánh giá hiệu quả công tác tuyên truyền phổ biến pháp luật của Sở Du lịch Hà Nội 55 Hình 2.5 Đánh giá hoạt động quản lý, thẩm định giấy phép cho doanh nghiệp kinh doanh LHQT 56 Hình 2.6 Đánh giá hoạt động tiếp thu và phản hồi ý kiến, kiến nghị của doanh nghiệp kinh doanh LHQT 60

Trang 9

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Du lịch đã và đang trở thành một ngành kinh tế mũi nhọn của nhiều quốc gia

và vùng lãnh thổ, được coi là một ngành kinh tế mang tính tổng hợp, góp phần thúc đẩy sự phát triển của nhiều ngành kinh tế khác, tạo công ăn việc làm, mở rộng giao lưu văn hoá và xã hội giữa các địa phương, giúp nâng cao hiểu biết, tăng cường tình đoàn kết, hữu nghị, hoà bình giữa các dân tộc, vùng miền

Những năm qua, ngành Du lịch đã có bước phát triển rõ rệt và đạt được những kết quả quan trọng, rất đáng khích lệ Hạ tầng du lịch và cơ sở vật chất kỹ thuật ngành Du lịch ngày càng phát triển Loại hình sản phẩm, dịch vụ du lịch ngày càng phong phú và đa dạng Chất lượng và tính chuyên nghiệp từng bước được nâng cao Lực lượng doanh nghiệp du lịch lớn mạnh cả về số lượng và chất lượng, tạo được một số thương hiệu có uy tín ở trong nước và quốc tế, bước đầu hình thành một số địa bàn và khu du lịch trọng điểm

Năm 2017, tổng lượng khách quốc tế đến Việt Nam đạt gần 13 triệu lượt khách quốc tế, tăng 30% so với cùng kỳ năm 2016, phục vụ 73,2 triệu lượt khách nội địa, tổng thu từ khách du lịch đat hơn 510.900 tỷ đồng Đây được coi là kỳ tích của ngành Du lịch trong suốt lịch sử phát triển của mình Sự phát triển của ngành

Du lịch đã và đang góp phần thúc đ ẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế và xuất khẩu tại chỗ; bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hoá, tài nguyên thiên nhiên; tạo nhiều việc làm, nâng cao đời sống nhân dân; đẩy mạnh quá trình hội nhập quốc tế, quảng

bá hình ảnh đất nước, con người Việt Nam

Nắm bắt được xu thế đó, trong quá trình đổi mới và hội nhập quốc tế, ngày 16/1/2017, Bộ Chính trị ban hành nghị quyết số 08-NQ/TW về phát triển du lịch trở thành ngành kinh tế mũi nhọn Đây là một Nghị quyết có ý nghĩa lịch sử đối với sự nghiệp phát triển du lịch Nghị quyết số 08 của Bộ Chính trị đã xác định phát triển

Du lịch trở thành ngành kinh tế mũi nhọn là định hướng chiến lược quan trọng để phát triển đất nước, tạo động lực thúc đẩy sự phát triển của các ngành, lĩnh vực khác Phát triển du li ̣ch là trách nhi ệm của cả hệ thống chính trị, các cấp, các ngành,

Trang 10

của toàn xã hội, có sự lãnh đạo, chỉ đạo chặt chẽ của các cấp ủy đảng; phát huy mạnh mẽ vai trò động lực của doanh nghiệp và cộng đồng dân cư, sự quản lý thống nhất của Nhà nước; tập trung nguồn lực quốc gia cho phát triển du lịch

Hà Nội là Thủ đô, trung tâm chính trị - hành chính quốc gia, nơi đặt trụ sở của các cơ quan trung ương của Đảng, Nhà nước và các tổ chức chính trị - xã hội,

cơ quan đại diện ngoại giao, tổ chức quốc tế; là trung tâm lớn về văn hóa, giáo dục, khoa học và công nghệ, kinh tế và giao dịch quốc tế của cả nướckhông chỉ là trung tâm chính trị - hành chính quốc gia, trung tâm lớn về văn hóa, khoa học, giáo dục, kinh tế và giao dịch quốc tế, một động lực phát triển của vùng đồng bằng Sông Hồng và cả nước (Khoản 2, Điều 2 Luật Thủ đô), giữ vị thế là một trong những trung tâm du lịch hàng đầu của cả nước Trong những năm qua, hoạt động du lịch Thủ đô tiếp tục duy trì được nhịp độ phát triển, ngànhDu lịch Thủ đô đã khẳng định vai trò, vị trí là ngành kinh tế lớn, tốc độ tăng trưởng ổn định với quy mô hoạt động ngày càng mở rộng, đóng góp có hiệu quả vào chuyển dịch cơ cấu kinh tế Thành phố Năm 2017, Hà Nội đón gần 24 triệu lượt khách, tăng 9% so với năm 2016 Trong đó khách du lịch quốc tế ước đạt 4,95 triệu lượt khách (tăng 23% so với năm 2016); khách du lịch quốc tế đến có lưu trú đạt 3,533 triệu lượt khách (tăng 22% so với năm 2016) Tổng thu từ khách du lịch ước đạt 70.958 tỷ đồng (tăng 15% so với năm 2016)

Bên cạnh những tiềm năng và thế mạnh của điểm đến, vai trò của hoạt động quản lý nhà nước về du lịch cũng làm nên thành công chung của ngành Du lịch Thủ

đô Từ tháng 9/2015, quản lý hoạt động du lịch do Sở Du lịch Hà Nội phụ trách Với việc hoàn thiện và vận hành cơ quan quản lý nhà nước chuyên trách mảng du lịch, trong những năm gần đây, Hà Nội luôn được đánh giá là nơi có các hoạt động quản lý nhà nước về du lịch khá tốt so với các địa phương khác trong cả nước Theo thống kê của các cơ quan chức năng, số lượng doanh nghiệp LHQT tại Hà Nội lớn nhất cả nước, với hơn 700 doanh nghiệp đang hoạt động, chiếm hơn 40% tổng số các doanh nghiệp LHQT trong cả nước Lực lượng doanh nghiệp lữ hành trên địa bàn Hà Nội tăng nhanh về số lượng, đa dạng về loại hình đòi hỏi công tác quản lý

Trang 11

nhà nước đối với các doanh nghiệp lữ hành trên địa bàn Hà Nội ngày càng phải hoàn thiện, tạo môi trường pháp lý thông thoáng cho các hoạt động kinh doanh du lịch, thúc đẩy ngành Du lịch Thủ đô phát triển

Vì vậy, việc nghiên cứu hoạt động quản lý nhà nước đối với các doanh nghiệp lữ hành trên địa bàn Hà Nội là một việc làm hết sức cần thiết nhằm nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước, tạo điều kiện cho hoạt động kinh doanh du lịch Hà Nội phát triển Đây là những lý do tác giả lựa chọn đề tài “Công tác quản lý nhà nước của Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch/ Sở Du lịch đối với doanh nghiệp lữ hành quốc tế, nghiên cứu trường hợp Sở Du lịch Hà Nội” để làm đề tài nghiên cứu cho luận văn tốt nghiệp thạc sỹ chuyên ngành Du lịch của mình

2 Tình hình nghiên cứu

Vấn đề quản lý hoạt động du lịch nói chung và kinh doanh lữ hành nói riêng

đã được nhiều nhà khoa học quan tâm nghiên cứu, bàn luận Nhiều đề tài khoa học

đã được công bố có giá trị lý luận và thực tiễn cao góp phần ứng dụng vào việc tăng cường quản lý và phát triển ngành Du lịch trên phạm vi cả nước Cách tiếp cận phổ biến ở một số đề tài nghiên cứu về quản lý nhà nước về du lịch là thường được lồng ghép vào nội dung các công trình nghiên cứu về phát triển du lịch hoặc đưa ra bàn luận trong phần giải pháp, các đề xuất, kiến nghị Có thể kể đến một số công trình khoa học tiêu biểu như sau:

Nguyễn Thị Thanh Hiền (1995), Quản lý nhà nước về du lịch trong giai đoạn phát triển mới của nền kinh tế Việt Nam, Luận văn thạc sỹ khoa học kinh tế,

Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh Luận văn đã phân tích đặc điểm, vai trò của ngành Du lịch trong giai đoạn đầu phát triển nền kinh tế thị trường Việt Nam, đánh giá thực trạng quản lý nhà nước về du lịch nói chung và đề xuất những giải pháp cụ thể nhằm góp phần nâng cao hiệu lực quản lý nhà nước về du lịch ở một địa phương cụ thể

Trịnh Đặng Thanh (2004), Quản lý nhà nước bằng pháp luật đối với hoạt động du lịch ở Việt Nam hiện nay, Luận án tiến sĩ Luật học, Học viện Chính trị

Quốc gia Hồ Chí Minh Luận án đã đưa ra cơ sở lý luận về sự cần thiết phải quản lý

Trang 12

nhà nước bằng pháp luật đối với hoạt động du lịch; Phân tích, đánh giá thực trạng

và đề xuất những giải pháp nhằm hoàn thiện quản lý nhà nước bằng pháp luật đối với hoạt động du lịch trước yêu cầu mới

Bùi Thúy Hằng (2014), Quản lý nhà nước đối với các doanh nghiệp du lịch trên địa bàn Hải Phòng, Luật văn thạc sỹ, Đại học Quốc gia Hà Nội Luận văn đã hệ

thống hóa cơ sở lý luận về quản lý nhà nước và vai trò của quản lý nhà nước về du lịch, Phân tích, đánh giá thực trạng quản lý nhà nước đối với các doanh nghiệp du lịch trên địa bàn Hải Phòng, đồng thời đề xuất giải pháp và kiến nghị nhằm nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước đối với các doanh nghiệp du lịch trên địa bàn Hải Phòng

Lê Phương Dung (2015), Nghiên cứu công tác quản lý nhà nước về du lịch của tỉnh Bắc Ninh, Luận văn thạc sỹ, Đại học Quốc gia Hà Nội Luận văn hệ thống

hóa và làm sáng tỏ thêm những vấn đề lý luận cơ bản về hoạt động du lịch và quản

lý nhà nước đối với hoạt động du lịch của chính quyền cấp tỉnh

Phạm Thị Nhung (2017), Nghiên cứu công tác quản lý nhà nước về du lịch của tỉnh Bắc Ninh, Luận văn thạc sỹ, Đại học Quốc gia Hà Nội Bên cạnh việc phân

tích vai trò, thực trạng quản lý nhà nước về du lịch của tỉnh Vĩnh Phúc, luận văn đã nêu nhiều phương hướng, giải pháp và kiến nghị nhằm hoàn thiện quản lý nhà nước đối với hoạt động du lịch ở Vĩnh Phúc hiện nay

Nhiều công trình nghiên cứu khoa học cũng nghiên cứu về du lịch trên địa bàn Hà Nội, gắn với những nghiên cứu cụ thể sau:

Nguyễn Thu Hạnh (2006), Tổ chức khai thác không gian kiến trúc cảnh quan các khu di tích lịch sử văn hóa thuộc Thành phố Hà Nội và phụ cận nhằm phục vụ cho chiến lược phát triển du lịch Thủ đô, Đề tài Khoa học cấp Bộ Đề tài của tác giả

đề cập đến công tác quản lý nhà nước ở khía cạnh khai thác không gian kiến trúc cảnh quan các công trình di tích lịch sử văn hóa của Hà Nội và các vùng phụ cận nhằm góp phần định hình chiến lược phát triển du lịch lâu dài và bền vững của Thủ

đô Hà Nội

Đỗ Thị Nhài (2008), Hoạt động quản lý nhà nước đối với các doanh nghiệp

du lịch trên địa bàn Hà Nội, Luận văn Thạc sỹ, Đại học Quốc gia Hà Nội Luận văn

Trang 13

đã hệ thống hóa một số cơ sở lý luận về quản lý nhà nước đối với hoạt động du lịch

và doanh nghiệp du lịch; tập trung nghiên cứu thực trạng hoạt động quản lý nhà nước đối với doanh nghiệp du lịch trên địa bàn Hà Nội hiện nay dưới các góc độ: tổ chức bộ máy quản lý nhà nước, tổ chức các doanh nghiệp du lịch, thực trạng hoạt động quản lý nhà nước đối với doanh nghiệp du lịch trên địa bàn Hà Nội Trên cơ

sở đó đưa ra những đánh giá về thuận lợi, khó khăn, thời cơ, thách thức và các giải pháp về chính sách vĩ mô, cũng như các kiến nghị đối với các cấp có thẩm quyền từ Trung ương đến chính quyền và các ban ngành của Thành phố Hà Nội

Mai Tiến Dũng (2011), Phát triển nhân lực ngành Du lịch Thủ đô và các địa phương phụ cận, Báo cáo tham luận Hội thảo quốc gia lần II "Đào tạo nhân lực du

lịch theo nhu cầu xã hội" Báo cáo đi sâu vào lĩnh vực quản lý nhà nước trong phát triển nguồn nhân lực ngành du lịch trên địa bàn Thủ đô gắn kết với các địa bàn xung quanh Hà Nội như một mạng lưới liên kết vùng mà tâm điểm là Hà Nội Từ thực trạng, xu hướng phát triển nguồn nhân lực cho ngành kinh tế du lịch của Thủ đô và các vùng phụ cận, tác giả đã đưa ra những giải pháp chủ yếu nhằm góp phần từng bước nâng cao chất lượng đội ngũ nhân lực này trong bối cảnh hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng

Nguyễn Thị Cẩm Thúy (2012), Phát triển thị trường du lịch Hà Nội , Luận

văn Thạc sĩ, Trung tâm đào tạo, bồi dưỡng giảng viên lý luận chính trị Tác giả đã khái quát một số vấn đề lý luận và thực tiễn về thị trường du lịch Hà Nội; tổng quan một số kinh nghiệm về thị trường du lịch ở một số tỉnh, thành trong nước trước khi

đi sâu phân tích những điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội, những nội lực, ngoại lực

để phát triển thị trường du lịch Hà Nội Trên cơ sở đó làm sáng tỏ thực trạng du lịch

Hà Nội trong những năm gần đây, chỉ ra những điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội và thách thức của thị trường du lịch Hà Nội Từ đó tác giả kiến nghị các giải pháp và các định hướng cơ bản nhằm phát triển thị trường du lịch Hà Nội đến năm 2020

Nguyễn Thị Doan (2015), Quản lý Nhà nước về vấn đề du lịch trên địa bàn

Hà Nội, Luận văn thạc sỹ, Đại học Quốc gia Hà Nội, đưa ra một vài nhận định, dự

báo về xu hướng phát triển du lịch trên địa bàn Hà Nội đến năm 2030 Đồng thời đề

Trang 14

xuất một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả công tác quản lý nhà nước về du lịch trên địa bàn Hà Nội

Bùi Phú Mỹ (2015), Nghiên cứu công tác quản lý nhà nước về du lịch tại khu vực phố cổ Hà Nội, Luận văn thạc sỹ, Đại học Quốc gia Hà Nội Luận văn đã hệ

thống một cách chọn lọc về lý luận công tác quản lý nhà nước về du lịch, phân tích và đánh giá thực trạng công tác quản lý nhà nước về du lịch trên địa bàn phố cổ Hà Nội

từ 1999 đến nay Tuy nhiên, chỉ giới hạn trong việc đề xuất một số giải pháp, kiến nghị để hoàn thiện công tác quản lý nhà nước về du lịch tại phố cổ Hà Nội

Tuy nhiên, trong quá trình khảo sát, tác giả luận văn nhận thấy vấn đề quản

lý nhà nước đối với doanh nghiệp lữ hành nói riêng, đặc biệt là doanh nghiệp LHQT chưa nhiều Ngay cả với những nghiên cứu về hoạt động du lịch của Hà Nội, các đề tài chủ yếu tập trung nghiên cứu các vấn đề chuyên môn như các giải pháp phát triển du lịch ở Hà Nội, nghiên cứu sự phát triển, hoạt động của ngành Du lịch dưới

sự tác động của quản lý nhà nước của chính quyền địa phương Vì vậy, cách tiếp cận gắn hoạt động quản lý nhà nước từ cơ quan chuyên môn (Sở Du lịch Hà Nội), với loại hình doanh nghiệp đặc thù (doanh nghiệp LHQT) là điểm mới của luận văn này so với các công trình, đề tài khoa học từ trước tới nay, góp phần hệ thống hóa

và phát triển lý luận cho đề tài nghiên cứu, từ đó vận dụng để nghiên cứu và nhận định thực trạng, đề xuất giải pháp hoàn thiện quản lý đối với hoạt động kinh doanh LHQT trên địa bàn Hà Nội

3 Mục tiêu và nhiệm vụ của đề tài

Mục tiêu nghiên cứu của đề tài là nghiên cứu thực trạngcông tác quản lý nhà nước đối với các doanh nghiệp kinh doanh LHQT trên địa bàn Thành phố Hà Nội

để từ đó đề xuất một số giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước đối với doanh nghiệp kinh doanh lữ hành nói riêng, kinh doanh LHQT nói chung

Để thực hiện mục tiêu nghiên cứu nói trên, đề tài cần hướng tới giải quyết nhiệm vụ quan trọng sau đây:

- Hệ thống hóa một số vấn đề lý luận cơ bản về quản lý nhà nước đối với các doanh nghiệp kinh doanh LHQT

Trang 15

- Đánh giá thực trạng công tác quản lý nhà nước về đối với các doanh nghiệp kinh doanh LHQT trên địa bàn Hà Nội Từ đó đánh giá những mặt tích cực cũng như những hạn chế, tồn tại trong việc quản lý nhà nước về du lịch đối với doanh nghiệp LHQT trên địa bàn Thành phố

- Đề xuất những giải pháp nhằm hoàn thiện công tác quản lý nhà nước về du lịch đối với các doanh nghiệp kinh doanh LHQT trên địa bàn Hà Nội

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Với đề tài “Công tác quản lý nhà nước của Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch/

Sở Du lịch đối với doanh nghiệp lữ hành quốc tế, nghiên cứu trường hợp Sở Du lịch

Hà Nội”, luận văn xác định đối tượng nghiên cứu ở đề tài này là công tác quản lý nhà nước về du lịch đối với doanh nghiệp LHQT trên địa bàn thành phố Hà Nội

Phạm vi nghiên cứu của đề tài:

Về nội dung: Luận văn thạc sỹ này sẽ giới hạn tập trung nghiên cứu nội dung quản lý đối với các doanh nghiệp kinh doanh LHQT của Sở Du lịch Hà Nội

Về không gian: Giới hạn nghiên cứu trên địa bàn Thủ đô Hà Nội

Về thời gian: Giới hạn sử dụng dữ liệu nghiên cứu thực trạng trong thời gian 2015-6/2018, gắn với thời gian từ khi Sở Du lịch Hà Nội được thành lập, và đề xuất

giải pháp hướng tới năm 2020 và những năm tiếp theo

5 Phương pháp nghiên cứu

Trong luận văn của mình, tác giả sử dụng những phương pháp nghiên cứu cơ bản sau:

- Các phương pháp thu thập dữ liệu:

+ Các phương pháp thu thập dữ liệu thứ cấp: Nguồn dữ liệu thứ cấp từ các

kết quả nghiên cứu, sách, báo trong và ngoài nước, tạp chí, trang website điện tử, các tài liệu, báo cáo của các cơ quan quản lý nhà nước về du lịch thành phố Hà Nội,

UNBD thành phố Hà Nội,…

+ Các phương pháp thu thập dữ liệu sơ cấp:

Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi: Phương pháp điều tra bằng bảng

hỏi là một phương pháp phỏng vấn viết, được thực hiện cùng một lúc với

Trang 16

nhiều người theo một bảng hỏi in sẵn Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi trong luận văn này được tác giả thực hiện với nhóm đối tượng là nhà quản lý/ chủ doanh nghiệp LHQT trên địa bàn Hà Nội Tác giả luận vănxây dựng bảng hỏi và gửi phiếu điều tra trực tuyến trên mạng internet để thu thập dữ liệu Kết quả điều tra được tác giả trích dẫn trong luận văn

và thống kê chi tiết tại Phụ lục

Phương pháp phỏng vấn sâu: Là phương pháp thu thập thông tin dựa

trên cơ sở giao tiếp bằng lời có tính đến mục đích đặt ra Đối tượng thực hiện phỏng vấn trong luận văn là đại diện Sở Du lịch Hà Nội, lãnh đạo phòng Quản lý lữ hành (trực thuộc Sở Du lịch Hà Nội) về công tác quản

lý lữ hành trên địa bàn thành phố Đồng thời tiến hành phỏng vấn sâu 9 lãnh đạo doanh nghiệp du lịch kinh doanh LHQT trên địa bàn thành phố

để thu thập thông tin phản hồi, đánh giá về hiệu quả hoạt động quản lý nhà nước trong lĩnh vực du lịch, nhằm mang lại những thông tin, dữ liệu

đa dạng phục vụ cho việc viết luận văn

- Các phương pháp xử lý dữ liệu: Luận văn sử dụng các phương pháp tổng

hợp; phân tích tư liệu, số liệu, các kết quả đánh giá, điều tra xã hội học cũng như các khảo sát thực tế; phương pháp so sánh và dự báo

6 Những đóng góp của luận văn

Tiếp cận theo đề tài “Công tác quản lý nhà nước của Sở Văn hóa, Thể thao và

Du lịch/ Sở Du lịch đối với doanh nghiệp lữ hành quốc tế, nghiên cứu trường hợp

Sở Du lịch Hà Nội”, luận văn sẽ đưa ra phân tích, đánh giá vai trò của phát triển ngành Du lịch trong tổng thể cơ cấu nền kinh tế ở phạm vi một thành phố đó là địa bàn Hà Nội gắn liền với vai trò và tác động của các chính sách, hoạt động quản lý nhà nước

Tập trung khảo sát, đánh giá thực trạng của công tác quản lý nhà nước về du lịch trên địa bàn Hà Nội gắn riêng với khối doanh nghiệp, đặc biệt là doanh nghiệp kinh doanh LHQT trên tất cả các khía cạnh của công tác quản lý nhà nước cũng như các mặt của đời sống kinh tế Du lịch Thủ đô, gồm những việc làm được, chưa làm

Trang 17

được, nguyên nhân thành công và hạn chế Từ đó tác giả luận văn mong muốn đề cập và lý giải vấn đề nghiên cứu một cách bao quát, trực tiếp và đầy đủ nhất cả về

lý luận cũng như thực tiễn nghiên cứu

Đề xuất, kiến nghị những giải pháp mới nhằm hoàn thiện công tác quản lý nhà nước về du lịch trên địa bàn Hà Nội Đó là các giải pháp chưa từng được nhắc tới trong các luận văn, đề tài trước hoặc đã được đề cập nhưng ở luận văn này giải pháp

đó phải mang nội hàm mới, phù hợp với tình hình, bối cảnh kinh tế - xã hội và thực tiễn nghiên cứu đã có nhiều thay đổi

7 Kết cấu luận văn

Ngoài những phần chung là mở đầu và kết luận, nội dung chính của đề tài

“Công tác quản lý nhà nước của Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch/ Sở Du lịch đối với doanh nghiệp lữ hành quốc tế, nghiên cứu trường hợp Sở Du lịch Hà Nội” được kết cấu như sau:

Chương 1 Cơ sở lý luận và thực tiễn về công tác quản lý nhà nước đối với doanh nghiệp LHQT;

Chương 2 Thực trạng công tác quản lý nhà nước đối với doanh nghiệp LHQT của Sở Du lịch Hà Nội;

Chương 3 Giải pháp nhằm hoàn thiện công tác quản lý nhà nước về du lịch trên địa bàn Hà Nội

Trang 18

CHƯƠNG 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ CÔNG TÁC QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC

VỀ DU LỊCH ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP LỮ HÀNH QUỐC TẾ

1.1 Khái niệm về du lịch và quản lý nhà nước về du lịch

1.1.1 Khái niệm về du lịch

Du lịch đã trở thành một hiện tượng kinh tế - xã hội phổ biến Nhiều quan điểm cho rằng thuật ngữ du lịch bắt nguồn từ tiếng Hy Lạp: Tonos nghĩa là “Đi một vòng Thuật ngữ này được đưa vào hệ ngữ La tinh thành Turnur và sau đó thành Tour trong tiếng Pháp với nghĩa là đi vòng quanh, cuộc dạo chơi Theo Robert Langquar (1980), từ Tourism (du lịch) lần đầu tiên được sử dụng trong tiếng Anh vào khoảng năm 1800 và được quốc tế hoá, nhiều nước đã sử dụng trực tiếp mà không dịch nghĩa Trong tiếng Việt, thuật ngữ du lịch là một từ gốc Hán - Việt, tạm hiểu là đi chơi, trải nghiệm

Mặc dù hoạt động du lịch đã có nguồn gốc hìn thành từ rất lâu và phát triển với tốc độ rất nhanh, song cho đến nay, trong nhiều công trình nghiên cứu về du lịch, các chuyên gia vẫn nhận định khái niệm “Du lịch” được hiểu rất khác nhau tại các quốc gia khác nhau và từ nhiều góc độ khác nhau

Về mặt khái niệm, định nghĩa của Hội nghị quốc tế về thống kê du lịch ở Otawa, Canada diễn ra vào tháng 6/1991 có đưa ra khái niệm: “Du lịch là hoạt động của con người đi tới một nơi ngoài môi trường thường xuyên (nơi ở thường xuyên của mình) trong một khoảng thời gian ít hơn thời gian đã được các tổ chức du lịch quy định trước, mục đích của chuyến đi không phải là để tiến hành các hoạt động kiếm tiền trong phạm vi vùng tới thăm” [11, tr19]

Nhìn nhận từ góc độ kinh tế và kinh doanh của du lịch, trong cuốn Giáo trình kinh tế du lịch của nhóm tác giả Nguyễn Văn Đính, Trần Thị Minh Hòa (Khoa Du lịch và Khách sạn, Trường Đại học Kinh tế Quốc dân Hà Nội), Du lịch được hiểu là

“một ngành kinh doanh bao gồm các hoạt động tổ chức hướng dẫn du lịch, sản xuất, trao đổi hàng hóa và dịch vụ của những doanh nghiệp, nhằm đáp ứng các nhu cầu

về đi lại lưu trú, ăn uống, tham quan, giải trí, tìm hiểu và các nhu cầu khác của

Trang 19

khách du lịch Các hoạt động đó phải đem lại lợi ích kinh tế chính trị - xã hội thiết thực cho nước làm du lịch và cho bản thân doanh nghiệp” [11,tr19 – 20]

Ở Việt Nam, Luật Du lịch năm 2017 cũng nêu rõ khái niệm về du lịch như sau: “Du lịch là các hoạt động có liên quan đến chuyến đi của con người ngoài nơi

cư trú thường xuyên trong thời gian không quá 01 năm liên tục nhằm đáp ứng nhu cầu tham quan, nghỉ dưỡng, giải trí, tìm hiểu, khám phá tài nguyên du lịch hoặc kết hợp với các mục đích hợp pháp khác” [22, Điều 3]

1.1.2 Quản lý nhà nước về du lịch

1.1.2.1 Khái niệm về quản lý nhà nước

Với khái niệm quản lý nhà nước, hiện nay có nhiều cách hiểu khác nhau Theo nghĩa chung nhất, quản lý nhà nước vừa là chức năng, vừa là quyền hạn và nhiệm vụ của nhà nước Nó được hiểu là việc Nhà nước sử dụng quyền lực chung

đã được thể chế hóa tác động thường xuyên và liên tục đến các quá trình, lĩnh vực hay quan hệ xã hội nhằm đạt được mục đích quản lý

Có thể định nghĩa quản lý nhà nước theo hai bình diện:

- Theo nghĩa rộng: Quản lý nhà nước là hoạt động tổ chức, điều hành của hệ thống các cơ quan trong bộ máy nhà nước, nghĩa là bao hàm cả sự tác động, tổ chức của quyền lực nhà nước trên các phương diện lập pháp, hành pháp và tư pháp

- Theo nghĩa hẹp: Quản lý nhà nước được hiểu là hoạt động chấp hành và điều hành của các cơ quan hành chính nhà nước, đó là quá trình tổ chức, điều hành của hệ thống cơ quan hành chính nhà nước đối với các quá trình xã hội và hành vi của con người theo pháp luật nhằm đạt được những mục tiêu yêu cầu nhiệm vụ quản lý nhà nước

Dù được hiểu theo nghĩa rộng hay nghĩa hẹp, bản chất của quản lý nhà nước chính là tính quyền lực xã hội đã được thể chế hóa Đó là sự tác động của các cơ quan có thẩm quyền, đại diện cho nhà nước đến đối tượng quản lý và các quan hệ

xã hội thông qua phương pháp chủ yếu là thuyết phục và cưỡng chế Tính quyền lực nhà nước được thể hiện rõ nhất trong trường h ợp nếu các tổ chức, cá nhân không tự giác, tự nguyện tuân thủ thực thi hiệu lực, hiệu quả hoạt động quản lý nhà nước sẽ

Trang 20

được đảm bảo thực hiện bằng sức mạnh cưỡng chế Đây là đặc trưng cơ bản cho phép phân biệt quản lý nhà nước với các hoạt động quản lý xã hội thông thường khác không phải là quản lý nhà nước Trong Luận văn này, tác giả sử dụng khái niệm quản lý nhà nước theo cả hai nghĩa r ộng và hẹp, tùy theo từng vấn đề, phạm

vi, góc độ tiếp cận khác nhau để xem xét, lý giải vấn đề

Quản lý nhà nước về du lịch là “làm chức năng quản lý vĩ mô về du lịch, không làm chức năng chủ quản, không làm chức năng kinh doanh thay các doanh nghiệp du lịch Việc quản lý đó được thông qua các công cụ quản lý vĩ mô, nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế khác nhau hoạt động trên lĩnh vực kinh tế du lịch Quản lý nhà nước về du lịch là nhằm đưa du lịch phát triển theo hướng chung của tiến trình phát triển của đất nước” [11,tr 328]

Sự khác biệt của quản lý nhà nước đối với quản lý kinh doanh ở chỗ quản lý nhà nước có tổ chức quyền lực nhà nước, đặt các đơn vị sản xuất kinh doanh vào các mối quan hệ và điều chỉnh các mối quan hệ đó bằng các công cụ khác nhau, trong đó công cụ pháp luật là chính

1.1.2.2 Nội dung quản lý nhà nước về du lịch

Công tác quản lý nhà nước về du lịch là phát triển du lịch bền vững, góp phần quan trọng vào giá trị tổng sản phẩm xã hội, tạo việc làm và thực hiện các mục tiêu về phát triển kinh tế - xã hội của quốc gia và địa phương Đối với doanh nghiệp, mục tiêu chủ yếu của quản lý nhà nước đối với doanh nghiệp nói chung và đối với doanh nghiệp nói riêng là nhằm tạo môi trường hoạt động thuận lợi, bình đẳng, cạnh tranh; đảm bảo để doanh nghiệp tuân thủ pháp luật; bảo đảm hiệu lực, hiệu quả của quản lý nhà nước đối với doanh nghiệp

Trong quá trình thực thi, công tác quản lý nhà nước về du lịch phải được triển khai đầy đủ các nội dung sau:

- Quản lý nhà nước về định hướng, chiến lược phát triển du lịch: Nội dung này bao gồm việc đề ra và ban hành các quan điểm, chủ trương, chính sách vĩ mô; các mục tiêu tổng quát, chương trình, kế hoạch phát triển du lịch dài hạn; xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật về du lịch, quy hoạch và tổ chức thực hiện quy hoạch…

Trang 21

- Quản lý nhà nước đối với các cơ sở hoạt động kinh doanh du dịch: Cơ sở hoạt động kinh doanh du lịch là các doanh nghiệp, tập thể, tổ chức, cá nhân, hộ gia đình tham gia thị trường du lịch nhằm thu lợi Các cơ sở hoạt động kinh doanh du lịch vừa là chủ thể phát triển du lịch vừa là đối tượng quản lý của nhà nước về du lịch bởi vậy đòi hỏi họ phải có đăng ký kinh doanh và làm các nghĩa vụ đối với nhà nước, xã hội Việc quản lý các cơ sở này là tất yếu khách quan nhằm duy trì trật tự,

kỷ cương pháp luật, tạo ra sân chơi bình đẳng về quyền và nghĩa vụ của mọi cá nhân, tổ chức trong lĩnh vực kinh doanh du lịch

- Quản lý nhà nước đối với luồng khách và hoạt động của khách du lịch: Khách du lịch cũng là đối tượng cần được quản lý chặt chẽ Việc quản lý khách du dịch có hai góc độ Góc độ thứ nhất nhằm thống kê, nắm bắt tình hình phát triển thị trường du lịch, phân tích dự báo thị trường để có giải pháp thu hút khách, khai thác thị trường phục vụ mục đích tăng trưởng du lịch Góc độ thứ hai, quản lý các hoạt động của khách du lịch nhằm nắm bắt nhu cầu, thái độ và đánh giá, phân khúc thị trường du khách nhằm phục vụ tốt nhất cho từng nhóm đối tượng, đáp ứng nhu cầu phong phú, đa dạng của du khách Hơn thế nữa, quản lý tốt hoạt động của du khách cũng là để phòng chống các hành vi vi phạm pháp luật trong lĩnh vực du lịch

- Quản lý nhà nước đối với các tuyến, các điểm du lịch: Các điểm, tuyến du lịch chính là điểm đến, là nơi thu hút và thỏa mãn nhu cầu của khách Bởi vậy quản

lý tốt các tuyến, điểm du lịch có ý nghĩa rất quan trọng nhằm tạo và duy trì các luồng khách đến với du lịch Quản lý các tuyến, điểm du lịch là nội dung mang tính phức hợp trong quản lý nhà nước về du lịch ở một địa danh, một công trình hay một chuỗi các địa danh, công trình du lịch nào đó bao gồm đầy đủ các nội dung quy hoạch và thực hiện quy hoạch, quản lý luồng khách và hoạt động của khách, quản lý các đơn vị, cơ sở hoạt động kinh doanh du lịch, quản lý an ninh – trật tự…

- Quản lý nhà nước đối với các ngành, các cơ quan có thẩm quyền và liên quan đến du lịch: Các ngành, cơ quan có thẩm quyền và liên quan đến du lịch vừa là chủ thể vừa là đối tượng của quản lý nhà nước Mỗi một ngành, cơ quan phụ trách từng mảng, nội dung quản lý nhà nước khác nhau, có nhiều mối quan hệ ngang và

Trang 22

dọc, cùng phối hợp, hỗ trợ đồng thời kiểm soát và chế ước lẫn nhau Việc quản lý tốt các cơ quan này nhằm phát huy tốt chức trách, nhiệm vụ của họ và tránh tình trạng lạm quyền, hạn chế các tiêu cực phát sinh trong quản lý nhà nước về du lịch

- Quản lý nhà nước về phát triển nguồn nhân lực cho ngành Du lịch: Đây cũng

là nội dung không thể thiếu trong quản lý nhà nước về du lịch Du lịch ngày càng phát triển đòi hỏi chất lượng, hiệu quả của nguồn nhân lực cho du lịch ngày càng phải được nâng cao Các hoạt động dạy nghề, đào tạo, bồi dưỡng nghiệp vụ, kỹ năng, ngoại ngữ… cho đội ngũ tham gia vào thị trường du lịch cũng như quản lý du lịch ngày càng nở rộ và yêu cầu phải được quản lý một cách thống nhất, chuẩn hóa

1.1.2.3 Công cụ quản lý nhà nước về du lịch

Công cụ quản lý là những phương tiện mà nhà nước sử dụng để tác động lên mọi chủ thể kinh tế nhằm thực hiện mục tiêu quản lý nhà nước Các công cụ quản lý nhà nước về du lịch là những phương tiện mà nhà nước sử dụng để tác động lên mọi chủ thể tham gia vào hoạt động du lịch nhằm thực hiện mục tiêu quản lý nhà nước

về du lịch

Công cụ để quản lý nhà nước về du lịch: Các cơ quan, tổ chức có thẩm quyền thực hiện quản lý ngành Du lịch bằng hệ thống ̣các quy đ ịnh của pháp luật và văn bản dưới luật, các công cụ quản lý khác như chính sách, chiến lược, kế hoạch phát triển du lịch, cơ sở vật chất và tài chính, bộ máy quản lý (yếu tố con người)… nhằm bảo đảm sự phát triển du lịch theo định hướng của nền kinh tế thị trường

Về luật pháp, hệ thống pháp luật là tổng thể các quy định do Nhà nước ban hành, tạo thành một hệ thống thống nhất, bao gồm những văn bản luật và những văn bản quản lý nhà nước (văn bản pháp quy dưới luật) Các văn bản luật và văn bản pháp quy đều chứa đựng các quy phạm pháp luật có tính chất bắt buộc chung đối với toàn xã hội hoặc một nhóm trong xã hội và được thực hiện lâu dài Hệ thống các văn bản pháp luật của một đất nước, thông thường bao gồm: Hiến pháp, các đạo luật, bộ luật, Nghị quyết của Quốc hội, Pháp lệnh, Nghị quyết của Ủy ban thường

vụ Quốc hội; lệnh quyết định của Chủ tịch nước; nghị quyết, nghị định của Chính phủ; quyết định, chỉ thị của Thủ tướng Chính phủ; quyết định, chỉ thị, thông tư của

Trang 23

các Bộ, cơ quan ngang Bộ; quyết định, chỉ thị của ủy ban nhân dân các cấp Riêng với ngành Du lịch, hành lang pháp lý quan trọng nhất để quản lý nhà nước hiệu quả

là Luật Du lịch (2005) và mới đây nhất là Luật Du lịch sửa đổi (2017) Với tính chất liên ngành đặc thù, có liên quan đến nhiều lĩnh vực, trong quá trình triển khai các hoạt động kinh doanh du lịch, cơ quan quản lý nhà nước vẫn phải tham chiếu với các luật hiện hành liên quan đến những lĩnh vực như ngoại giao, thương mại, quản

lý doanh nghiệp, an ninh, giao thông vận tải, y tế…

Về chính sách, vai trò của quản lý nhà nước được phát huy trong việc thể chế hóa đường lối, chủ trương của Đảng và Nhà nước trở thành phương thức lãnh đạo, thông qua các chính sách, công cụ kinh tế vĩ mô như ổn định tiền tệ, kiềm chế lạm phát, cân bằng cán cân thanh toán trong nước và quốc tế… Nhà nước đảm bảo môi trường du lịch an toàn, ổn định, điều tiết và bảo đảm kinh tế tăng trưởng để không tác động tới doanh nghiệp cũng như khách du lịch Đồng thời xây dựng và thực thi

hệ thống chính sách phát triển du lịch phù hợp bao gồm chính sách dài hạn và chính sách cấp bách, thể hiện trong chiến lược, quy hoạch, các chương trình, đề án phát triển du lịch cấp quốc gia và cụ thể ở từng địa phương Những văn bản về quy hoạch, kế hoạch phát triển du lịch là công cụ quản lý vĩ mô quan trọng để từ đó ngành du lịch xây dựng các kế hoạch hàng năm, kế hoạch ngắn hạn, kế hoạch trung hạn và kế hoạch dài hạn…

Với cơ quan quản lý nhà nước ở địa phương, các văn bản quy phạm pháp luật về du lịch là cơ sở, công cụ để thực thi nhiệm vụ Ngoài văn bản pháp luật, các đơn vị này còn triển khai nội dung quản lý nhà nước dựa vào những chiến lược, quy hoạch phát triển hoạt động du lịch phù hợp quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế –

xã hội cả nước và của địa phương, kế hoạch triển khai theo giai đoạn và từng năm

để điều tiết các thành phần kinh tế khác hoạt động theo kế hoạch định hướng đề ra Đồng thời, đơn vị cấp Sở (Sở VHTTDL, Sở Du lịch) là cơ quan quản lý nhà nước thực hiện các thủ tục hành chính liên quan tới du lịch, trong đó có doanh nghiệp kinh doanh du lịch, tổ chức các hoạt động thanh tra, kiểm tra … để hoạt động kinh doanh du lịch đảm bảo chất lượng và đúng theo quy định của luật pháp

Trang 24

Để những chính sách được thực thi, một công cụ quan trọng để quản lý nhà nước về du lịch đạt hiệu quả là bộ máy tổ chức, cán bộ quản lý du lịch các cấp Mới đây nhất, Luật Du lịch 2017 dành hẳn một chương (Chương 8) để nói về quản lý nhà nước về du lịch Trong đó có phân cấp trách nhiệm quản lý nhà nước về du lịch của Chính phủ, Bộ và các cơ quan ngang Bộ, UBND các cấp Dưới sự phân công phân nhiệm của UBND tỉnh, thành phố, cơ quan chuyên môn chính thực hiện việc quản lý nhà nước được giao cho Sở VHTTDL, Sở Du lịch Tại đây, các cán bộ, công chức tại các phòng, ban chuyên môn sẽ thực thi các nhiệm vụ quản lý ngành

du lịch theo chức trách và phân công phân nhiệm Ngoài ra, quản lý nhà nước về du lịch tại địa phương còn có sự tham gia của các ban ngành như ngành Công an quản

lý về trật tự an ninh, việc xuất nhập cảnh của khách du lịch, việc khai báo tạm trú, tạm vắng đối với khách du lịch của các cơ sở lưu trú du lịch; ngành Văn hóa quản lý các hoạt động văn hóa trong du lịch, đầu tư các sản phẩm văn hóa phục vụ du lịch bằng nguồn vốn nhà nước; ngành Y tế quản lý công tác vệ sinh an toàn thực phẩm; ngành Giao thông Vận tải có các quy định về vận chuyển hành khách; ngành Tài chính quy định về các chính sách thuế đối với các doanh nghiệp du lịch…

1.1.2.4 Phân cấp quản lý nhà nước về du lịch ở Việt Nam

Từ khi nhà nước ra đời với tư cách là một công cụ quyền lực chung để duy trì trật tự xã hội thì bất cứ lĩnh vực nào của đời sống xã hội đều phải được quản lý bởi Nhà nước Du lịch là một hiện tượng, một dạng hay lĩnh vực, ngành kinh tế - xã hội tổng hợp bởi vậy nó ngày càng đòi hỏi có sự quản lý chặt chẽ của Nhà nước

Xuất phát từ lý luận chung về quản lý nhà nước như trên, chúng ta có thể hiểu Quản lý nhà nước về du lịch là sự tác động có tổ chức và điều chỉnh liên tục bằng quyền lực công cộng chủ yếu thông qua pháp luật dựa trên nền tảng của thể chế chính trị nhất định đối với các quá trình, các hoạt động du lịch nhằm đạt được hiệu quả và mục tiêu kinh tế - xã hội do nhà nước đặt ra

Dưới góc độ hành chính - kinh tế, quản lý nhà nước về du lịch được hiểu là hoạt động, là quá trình chỉ đạo, điều hành, điều chỉnh các mối quan hệ xã hội phát sinh trong lĩnh vực kinh doanh du lịch bằng việc thông qua hệ thống pháp luật, các

Trang 25

chủ thể quản lý nhà nước (các cơ quan có thẩm quyền) tác động tới các đối tượng quản lý trong quá trình kinh doanh hoạt động du lịch nhằm định hướng cho hoạt động du lịch vận động, phát triển theo mục tiêu kinh tế - xã hội do nhà nước đặt ra

Như vậy, có thể hình dung trong quản lý nhà nước về du lịch có các thành tố sau đây:

- Chủ thể quản lý: Là các cơ quan đại diện của Nhà nước hoặc được Nhà nước trao quyền, ủy quyền, đây là các chủ thể duy nhất trong quản lý nhà nước

- Đối tượng (khách thể) quản lý: Là các hoạt động, quan hệ xã hội phát sinh trong lĩnh vực du lịch

- Mục đích qu ản lý nhà nước v ề du lịch: Đảm bảo ngành Du lịch phát triển theo một trật tự chung, nhằm bảo đảm lợi ích mỗi cá nhân, tổ chức cũng như lợi ích chung của toàn xã hội

Việc phân cấp về quản lý nhà nước về du lịch tại Việt Nam được thực hiện như sau: Cơ quan quản lý nhà nước về du lịch ở Trung ương là Bộ VHTTDL Cơ quan Du lịch Quốc gia của Việt Nam là Tổng cục Du lịch UBND tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình và theo sự phân cấp của Chính phủ có trách nhiệm thực hiện quản lý nhà nước về du lịch tại địa phương

Cụ thể, Bộ VHTTDL là cơ quan của Chính phủ, thực hiện chức năng quản lý nhà nước về văn hóa, gia đình, thể dục, thể thao và du lịch trong phạm vi cả nước; quản lý nhà nước các dịch vụ công thuộc lĩnh vực văn hóa, gia đình, thể dục, thể thao và du lịch theo quy định của pháp luật (Theo Nghị định số 79/2017/ND-CP ngày 27/7/2017)

Các Bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ quản lý các lĩnh vực kinh tế - xã hội như Bộ Tài chính, Ngân hàng Nhà nước, Bộ Kế hoạch - Đầu tư… Các bộ, ngành có liên quan tạo điều kiện phát triển du lịch như Hàng không, Hải quan, Ngoại giao, Công an… trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình có trách nhiệm phối hợp với Bộ VHTTDL thực hiện quản lý nhà nước về du lịch, tạo điều kiện thuận lợi cho việc phát triển du lịch

Cơ quan Du lịch Quốc gia của Việt Nam là Tổng cục Du lịch Theo đó, Tổng cục Du lịch là tổ chức trực thuộc Bộ VHTTDL, thực hiện chức năng tham mưu,

Trang 26

giúp Bộ trưởng Bộ VHTTDL quản lý nhà nước và tổ chức thực thi pháp luật về du lịch trong phạm vi cả nước, quản lý các dịch vụ công về du lịch theo quy định của pháp luật Tổng cục Du lịch có tư cách pháp nhân, có con dấu hình Quốc huy, có tài khoản riêng tại Kho bạc nhà nước và trụ sở tại thành phố Hà Nội

UBND tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình và theo sự phân cấp của Chính phủ có trách nhiệm thực hiện quản lý nhà nước về du lịch tại địa phương Cơ quan chuyên môn phụ trách du lịch ở các địa phương hiện nay là Sở VHTTDL và Sở Du lịch Theo đó, Sở Du lịch là cơ quan chuyên môn thuộc UNBD, giúp UBND thực hiện chức năng quản lý nhà nước về

du lịch trên địa bàn các tỉnh, thành phố Còn Sở VHTTDL là cơ quan chuyên môn thuộc UBND, có chức năng tham mưu, giúp UBND thực hiện quản lý nhà nước về: Văn hóa, gia đình, thể dục, thể thao, du lịch và quảng cáo (trừ quảng cáo trên báo chí, mạng thông tin máy tính và xuất bản phẩm) ở địa phương, các dịch vụ công thuộc lĩnh vực quản lý của Sở và thực hiện một số nhiệm vụ, quyền hạn theo sự ủy quyền của UBND và theo quy định của pháp luật Hiện nay, trên cả nước có 13 địa phương bao gồm Hà Nội, Thành phố Hồ Chí Minh, Đà Nẵng, Quảng Ninh, Hải Phòng, Quảng Bình, Thừa Thiên Huế, Khánh Hòa, Bà Rịa - Vũng Tàu, Kiên Giang, Ninh Bình, Bình Định có thành lập riêng Sở Du lịch Còn lại ở 50 địa phương có

Sở VHTTDL quản lý chung các lĩnh vực văn hóa, thể thao và du lịch

Kể từ năm 2007, việc quản lý nhà nước về du lịch được phân cấp xuống tận các quận, huyện, phường, xã Tại cấp quận, huyện, phòng Văn hóa – Thông tin hoặc phòng Kinh tế - Hạ tầng là cơ quan chuyên môn, có chức năng tham mưu, giúp UBND cấp huyện thực hiện quản lý nhà nước về du lịch trên điạ bàn huyện

1.1.3 Quản lý nhà nước đối với doanh nghiệp lữ hành quốc tế

1.1.3.1 Khái niệm kinh doanh lữ hành

Hiện nay, có nhiều cách tiếp cận về vấn đề kinh doanh lữ hành Cụ thể, ở cách tiếp cận theo nghĩa rộng thì lữ hành (travel) bao gồm tất cả những hoạt động di chuyển của con người, cũng như các hoạt động liên quan đến sự di chuyển đó Với cách hiểu này thì trong hoạt động du lịch bao gồm yếu tố lữ hành Kinh doanh lữ

Trang 27

hành khi ấy thuộc phạm vi doanh nghiệp đầu tư để thực hiện một, một số hoặc tất cả các công việc trong quá trình tạo ra và chuyển giao sản phẩm từ lĩnh vực sản xuất sang lĩnh vực tiêu dùng du lịch với mục đích hưởng hoa hồng hoặc lợi nhuận Kinh doanh lữ hành có thể là kinh doanh một hoặc nhiều hơn một, hoặc tất cả các dịch vụ

và hàng hóa thỏa mãn hầu hết các nhu cầu thiết yếu, đặc trưng và các nhu cầu khác của ngành Du lịch

Cách tiếp cận thứ hai được hiểu theo phạm vi hẹp hơn, phân biệt hoạt động kinh doanh lữ hành với các hoạt động kinh doanh du lịch khác như khách sạn, nhà hàng, vui chơi giải trí, người ta giới hạn hoạt động kinh doanh lữ hành chỉ bao gồm những hoạt động tổ chức các chương trình du lịch Một cách định nghĩa phổ biến hơn là căn cứ vào hoạt động tổ chức các chương trình du lịch của các doanh nghiệp

lữ hành Theo đó, các doanh nghiệp lữ hành đã tự tạo ra các sản phẩm của mình bằng cách tập hợp các sản phẩm riêng rẽ như dịch vụ khách sạn, vé máy bay, ô tô, tàu thủy và các chuyến tham quanh thành một sản phẩm (chương trình du lịch) hoàn chỉnh và bán cho khách du lịch với mức giá gộp Kinh doanh lữ hành khi đó ở vị trí trung gian, có vai trò phân phối sản phẩm trong du lịch Để thực hiện vai trò này, kinh doanh lữ hành phải đảm nhiệm ba chức năng: Thông tin, tổ chức và thực hiện Một doanh nghiệp kinh doanh lữ hành muốn tồn tại và phát triển phải mang lại lợi ích đồng thời cho khách du lịch, nhà cung cấp dịch vụ, điểm đến du lịch và cho chính bản thân doanh nghiệp

Theo đó, kinh doanh lữ hành bao gồm Kinh doanh lữ hành nội địa và Kinh doanh LHQT Trong cuốn giáo trình Quản trị kinh doanh lữ hành của các tác giả Nguyễn Văn Mạnh, Phạm Hồng Chương (NXB Kinh tế Quốc Dân, Hà Nội), định nghĩa doanh nghiệp lữ hành được nêu ra như sau: “Doanh nghiệp lữ hành là tổ chức kinh tế có tên riêng, có tài sản, có trụ sở ổn định, được đăng ký kinh doanh theo quy định của pháp luật nhằm mục đích lợi nhuận thông qua việc tổ chức xây dựng, bán

và thực hiện các chương trình du lịch cho khách du lịch Ngoài ra, doanh nghiệp lữ hành còn có thể tiến hành các hoạt động trung gian bán sản phẩm của các nhà cung cấp du lịch hoặc thực hiện các hoạt động kinh doanh tổng hợp khác đảm bảo phục

vụ các nhu cầu du lịch từ khâu đầu tiên đến khâu cuối cùng” [17, tr.52]

Trang 28

Cách hiểu này được quy định trong Luật Du lịch 2017: “kinh doanh dịch vụ

lữ hành là việc xây dựng, bán và tổ chức thực hiện một phần hoặc toàn bộ chương trình du lịch cho khách du lịch”[22, Điều 3] Theo điều 30, Luật Du lịch 2017, phạm vi kinh doanh dịch vụ lữ hành được quy định cụ thể như sau:

- Kinh doanh dịch vụ lữ hành nội địa phục vụ khách du lịch nội địa

- Kinh doanh dịch vụ LHQT phục vụ khách du lịch quốc tế đến Việt Nam và khách du lịch Việt Nam ra nước ngoài

- Doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ LHQT được kinh doanh dịch vụ LHQT và dịch vụ lữ hành nội địa, trừ trường hợp là doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài

- Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài chỉ được kinh doanh dịch vụ lữ hành quốc tế phục vụ khách du lịch quốc tế đến Việt Nam, trừ trường hợp điều ước quốc tế

mà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên có quy định khác

1.1.3.2 Doanh nghiệp lữ hành, doanh nghiệp lữ hành quốc tế

Xuất phát từ nhiều góc độ khác nhau trong việc nghiên cứu kinh doanh lữ hành dẫn đến nhiều các định nghĩa khác nhau về loại hình doanh nghiệp này Một cách định nghĩa phổ biến hơn là căn cứ vào hoạt động tổ chức các chương trình du lịch của các doanh nghiệp lữ hành Theo đó, các doanh nghiệp lữ hành đã tự tạo ra các sản phẩm của mình bằng cách tập hợp các sản phẩm riêng rẽ như dịch vụ khách sạn, vé máy bay, ô tô, tàu thủy và các chuyến tham quanh thành một sản phẩm (chương trình du lịch) hoàn chỉnh và bán cho khách du lịch với mức giá gộp Kinh doanh lữ hành khi đó ở vị trí trung gian, có vai trò phân phối sản phẩm trong du lịch Để thực hiện vai trò này, kinh doanh lữ hành phải đảm nhiệm ba chức năng: Thông tin, tổ chức và thực hiện Một doanh nghiệp kinh doanh lữ hành muốn tồn tại

và phát triển phải mang lại lợi ích đồng thời cho khách du lịch, nhà cung cấp dịch

vụ, điểm đến du lịch và cho chính bản thân doanh nghiệp

Kinh doanh lữ hành có thể là kinh doanh đại lý lữ hành, kinh doanh chương trình du lịch, kinh doanh lữ hành tổng hợp, kinh doanh lữ hành gửi khách, kinh doanh

lữ hành nhận khách, kinh doanh lữ hành kết hợp, kinh doanh LHQT, kinh doanh lữ hành nội địa Trong cuốn giáo trình Quản trị kinh doanh lữ hành, doanh nghiệp lữ

Trang 29

hành được hiểu “là tổ chức kinh tế có tên riêng, có tài sản, có trụ sở ổn định, được đăng ký kinh doanh theo quy định của pháp luật nhằm mục đích lợi nhuận thông qua việc tổ chức xây dựng, bán và thực hiện các chương trình du lịch cho khách du lịch Ngoài ra, doanh nghiệp lữ hành còn có thể tiến hành các hoạt động trung gian bán sản phẩm của các nhà cung cấp du lịch hoặc thực hiện các hoạt động kinh doanh tổng hợp khác đảm bảo phục vụ các nhu cầu du lịch từ khâu đầu tiên đến khâu cuối cùng” [17, tr.52] Theo cách định nghĩa này, các doanh nghiệp kinh doanh lữ hành khác nhau chủ yếu trên những phương diện: Quy mô và địa bàn hoạt động; Đối tượng khách; Mức độ tiếp xúc với khách du lịch; Mức độ tiếp xúc với các nhà cung cấp sản phẩm

du lịch Tuy nhiên, theo sự phân định của pháp luật hiện hành, kinh doanh lữ hành được chia theo hai loại hình là: Doanh nghiệp kinh doanh lữ hành nội địa và doanh nghiệp kinh doanh LHQT Sự phân định này không phải để phân biệt đối tượng khách du lịch mà còn có sự khác biệt về chính sách, quy định khác nhau, để góp phần

tổ chức hoạt động và quản lý doanh nghiệp hiệu quả hơn

Theo quy định của Luật Du lịch 2017, doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ LHQT phục vụ khách du lịch quốc tế đến Việt Nam và khách du lịch Việt Nam ra nước ngoài Pháp luật cũng quy định rõ điều kiện kinh doanh, giấy phép cũng như nghĩa vụ của các doanh nghiệp kinh doanh LHQT Cụ thể, tại Điều 31 Luật Du lịch 2017 nêu rõ, “Điều kiện kinh doanh dịch vụ LHQT bao gồm: Là doanh nghiệp được thành lập theo quy định của pháp luật về doanh nghiệp; Ký quỹ kinh doanh dịch vụ LHQT tại ngân hàng; Người phụ trách kinh doanh dịch vụ lữ hành phải tốt nghiệp cao đẳng trở lên chuyên ngành về lữ hành; trường hợp tốt nghiệp cao đẳng trở lên chuyên ngành khác phải có chứng chỉ nghiệp vụ điều hành du lịch quốc tế” [22, Điều 31]

Doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ LHQT phục vụ khách du lịch quốc tế đến Việt Nam có quyền và nghĩa vụ sau đây:

- Xây dựng, quảng cáo, bán và tổ chức thực hiện các dịch vụ du lịch, chương trình du lịch cho khách du lịch theo phạm vi kinh doanh du lịch trong giấy phép

- Thông báo về việc thay đổi người phụ trách kinh doanh dịch vụ lữ hành, gửi hồ sơ về người phụ trach kinh doanh dịch vụ lữ hành thay thế cho cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp giấy phép trong thời hạn 15 ngày kể từ khi thay đổi

Trang 30

- Cung cấp thông tin về chương trình, dịch vụ, điểm đến du lịch cho khách

du lịch

- Mua bảo hiểm cho khách du lịch trong thời gian thực hiện chương trình du lịch, trừ trường hợp khách du lịch đã có bảo hiểm cho toàn bộ chương trình du lịch

- Sử dụng hướng dẫn viên du lịch để hướng dẫn khách du lịch theo hợp đồng

lữ hành, chịu trách nhiệm về hoạt động của hướng dẫn viên du lịch trong thời gian hướng dẫn khách du lịch theo hợp đồng

- Chấp hành, phổ biến, hướng dẫn khách du lịch tuân thủ pháp luật, quy định của nơi đến du lịch, ứng xử văn minh, tôn trọng bản sắc văn hóa, phong tục tập quán của Việt Nam và nơi đến du lịch; Phối hợp với cơ quan nhà nước có thẩm quyền xử lý kịp thời các hành vi vi phạm pháp luật của khách du lịch trong thời gian tham gia chương trình du lịch

- Thực hiện chế độ báo cáo, thống kê, kế toán, lưu giữ hồ sơ theo quy định của pháp luật

- Áp dụng biện pháp bảo đảm an toàn tính mạng, sức khỏe, tài sản của khách

du lịch; Kịp thời thông cáo cho cơ quan nhà nước có thẩm quyền về tai nạn, rủi ro xảy ra với khách du lịch và có biện pháp khắc phụ hậu quả

- Quản lý khách du lịch theo chương trình du lịch đã thỏa thuận với khách

du lịch

- Hỗ trợ khách du lịch làm thủ tục nhập cảnh, xuất cảnh, quá cảnh, hải quan Đồng thời doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ LHQT phục vụ khách du lịch ra nước ngoài có quyền và nghĩa vụ: Sử dụng hướng dẫn viên du lịch quốc tế để đưa khách du lịch ra nước ngoài theo hợp đồng lữ hành, chịu trách nhiệm về hoạt động của hướng dẫn viên du lịch trong thời gian đưa khách du lịch ra nước ngoài

1.1.3.3 Quản lý nhà nước đối với doanh nghiệp lữ hành quốc tế

Doanh nghiệp LHQT chịu sự quản lý theo phân cấp, chức năng của các cơ quan, đơn vị từ Bộ VHTTDL, TCDL tới Sở Du lịch, Sở VHTTDL các địa phương Với những địa phương có cơ quan chuyên môn riêng – Sở Du lịch thì doanh nghiệp kinh doanh LHQT chịu sự quản lý trực tiếp của Sở Du lịch

Trang 31

Với những địa phương đã thành lập cơ quan chuyên môn là Sở Du lịch, hoạt động này được quy định như sau: Sở Du lịch có tư cách pháp nhân, có con dấu và tài khoản riêng theo quy định hiện hành của pháp luật, chịu sự chỉ đạo, quản lý về tổ chức, biên chế và hoạt động của UBND Thành phố; đồng thời chịu sự chỉ đạo, hướng dẫn, thanh tra, kiểm tra về chuyên môn, nghiệp vụ của Bộ VHTTDL

Là cơ quan chuyên môn thuộc UBND thành phố, Sở Du lịch thực hiện chức năng tham mưu, giúp UBND Thành phố thực hiện quản lý nhà nước về du lịch trên địa bàn Thành phố, các dịch vụ công thuộc lĩnh vực quản lý của Sở và thực hiện một số nhiệm vụ, quyền hạn theo phân công hoặc ủy quyền của UBND Thành phố, Chủ tịch UBND Thành phố

Đối với phạm vi quản lý doanh nghiệp kinh doanh LHQT, Sở Du lịch có những nhiệm vụ và quyền hạn sau:

- Hướng dẫn, kiểm tra và tổ chức thực hiện các văn bản quy phạm pháp luật, chính sách, quy hoạch, kế hoạch, đề án, dự án, chương trình sau khi được phê duyệt; thông tin, tuyên truyền, hướng dẫn, phổ biến, giáo dục, theo dõi thi hành pháp luật về các lĩnh vực thuộc phạm vi quản lý của Sở Du lịch

- Tổ chức thực hiện quản lý nhà nước về du lịch: Tổ chức công bố quy hoạch sau khi được phê duyệt; Tổ chức thực hiện điều tra, đánh giá, phân loại, xây dựng

cơ sở dữ liệu tài nguyên du lịch của Hà Nội theo quy định của Bộ VHTTDL

- Giúp UBND Thành phố quản lý nhà nước đối với các doanh nghiệp, tổ chức kinh tế tập thể, kinh tế tư nhân trong lĩnh vực du lịch; hướng dẫn và kiểm tra hoạt động đối với các hội và tổ chức phi chính phủ về lĩnh vực du lịch theo quy định của pháp luật Cấp, sửa đổi, bổ sung, cấp lại, gia hạn, thu hồi Giấy phép thành lập Văn phòng đại diện của doanh nghiệp du lịch nước ngoài đặt trên địa bàn Thành phố theo quy định của pháp luật và theo ủy quyền của UBND

- Thẩm định hồ sơ đề nghị cấp có thẩm quyền cấp giấy phép kinh doanh LHQT của các doanh nghiệp trên địa bàn Thành phố theo quy định của pháp luật.Tổ chức cấp, cấp lại, đổi, thu lại thẻ hướng dẫn viên du lịch; cấp, thu hồi giấy chứng nhận thuyết minh viên theo quy định của Bộ VHTTDL

Trang 32

- Xây dựng kế hoạch, chương trình xúc tiến du lịch và tổ chức thực hiện chương trình xúc tiến du lịch, sự kiện, hội chợ, hội thảo, triển lãm du lịch của Thành phố sau khi được phê duyệt Thực hiện hợp tác quốc tế trong lĩnh vực du lịch theo quy định của pháp luật và theo phân công hoặc ủy quyền của UBND Thành phố

- Kiểm tra, thanh tra, giải quyết khiếu nại, tố cáo, phòng, chống tham nhũng

và xử lý đối với tổ chức, cá nhân trong việc thực hiện các quy định của pháp luật về

du lịch theo quy định của pháp luật và theo sự phân công hoặc ủy quyền của UBND Thành phố

- Chủ trì hoặc phối hợp với các cơ quan liên quan tổ chức thực hiện các biện pháp phòng, chống, ngăn chặn các hoạt động vi phạm pháp luật về du lịch

- Tổ chức đào tạo, bồi dưỡng chuyên môn nghiệp vụ đối với cán bộ, công chức, viên chức hoạt động trong lĩnh vực du lịch trên địa bàn Thành phố

- Thực hiện công tác thông tin, báo cáo định kỳ và đột xuất về tình hình thực hiện nhiệm vụ được giao theo quy định với UBND Thành phố và Bộ VHTTDL Thực hiện công tác thi đua, khen thưởng trong hoạt động du lịch theo quy định của pháp luật về thi đua, khen thưởng

1.2 Kinh nghiệm quản lý nhà nước đối với doanh nghiệp lữ hành quốc tế ở một số quốc gia và thành phố trên thế giới

Mỗi nước, mỗi thành ph ố có những lợi thế nhất định và những chính sách, cung cách khác nhau trong quản lý, phát triển du lịch Một số quốc gia, nhất là trong khu vực lân cận, có xuất phát điểm và điều kiện tương tự nước ta, nhưng nhờ có chính sách đầu tư, cơ chế quản lý và những biện pháp phát triển du lịch thích hợp,

đã đưa ngành Du lịch phát triển rất hiệu quả

Về kinh nghiệm quốc tế trong việc quản lý lữ hành và hướng dẫn viên, đa số các nước đều có điều kiện kinh doanh Trong đó có quy định rõ về địa điểm kinh doanh (như Trung Quốc, Myanmar, Campuchia, Thái Lan, Cộng hòa Síp) Về ký quỹ, các nước Trung Quốc, Thái Lan… cũng đều có quy định chặt chẽ về ký quỹ và mức ký quỹ cao Đồng thời theo quy định, doanh nghiệp phải có giấy phép kinh doanh lữ hành mới được kinh doanh lữ hành

Trang 33

Trong luận văn này, tác giả có dẫn chứng một vài quốc gia trong khu vực Đông Nam Á và các nước láng giềng gần Việt Nam để lấy tham khảo kinh nghiệm quản lý kinh doanh du lịch nói chung, kinh doanh lữ hành quốc tế nói riêng

1.2.1 Thái Lan va ̀ Thủ đô Bangkok

Thái Lan là một trong những quốc gia có ngành Du lịch tăng trưởng mạnh và rất thành công ở châu Á, là thị trường cạnh tranh trực tiếp với du lịch Việt Nam trong khu vực Nếu như năm 2013, Thái Lan đón 26,7 triệu khách quốc tế và thu nhập của ngành Du lịch chiếm khoảng 9% tổng sản phẩm giá trị quốc nội (GDP), thì tới năm 2018, Chính phủ nước này đặt mục tiêu thu hút 37 triệu lượt du khách quốc tế và đạt doanh thu 94 tỷ USD toàn ngành năm 2018 Mức doanh thu từ du lịch sẽ chiếm khoảng 1/5 tổng sản phẩm trong nước (GDP) của nước này

Về tổ chức bộ máy, Cơ quan Du lịch Quốc gia Thái Lan (TAT) là cơ quan quản lý nhà nước cao nhất về du lịch, có trách nhiệm xúc tiến và phát triển du lịch Thái Lan TAT là cơ quan trực thuộc Chính phủ, hoạt động độc lập Đứng đầu cơ quan Du lịch Quốc gia là Thống đốc Giúp việc cho Thống đốc có Văn phòng Thống đốc, Hội đồng Tư vấn, Viện Đào tạo Khách sạn và Du lịch, Văn phòng Kinh doanh Du lịch Bangkok, Ban Quản lý hoạt động khu du lịch và Thanh tra Tài chính nội bộ… TAT hoạt động rất hiệu quả bởi có chiến lược nghiên cứu thị trường và xúc tiến quảng bá , từ đó đưa ra đ ịnh hướng và những giải pháp cụ thể cho các doanh nghiệp thực hiện TAT luôn phối hợp chặt chẽ với các bộ, ngành có liên quan đến du lịch để chỉ đạo triển khai các hoạt động du lịch của các doanh nghiệp; từ đó, thường xuyên đề xuất, trình Chính phủ phê duyệt các chính sách, chiến lược cho đến các chiến dịch, chương trình xúc tiến quảng bá từng thị trường khách, trong từng giai đoạn nhất định

Một trong những biện pháp hiệu quả đã giúp ngành Du lịch Thái Lan mang lại lợi nhuận cao nhất cho quốc gia này là các chiến dịch quảng bá và xúc tiến đa dạng các hoạt động du lịch Từ năm 2000, Chính phủ Thái Lan đã nhận thứ c ra điều

đó và chuyển mục tiêu phát triển du lịch bền vững, tập trung vào việc nâng cao

Trang 34

phần đóng góp tăng trưởng kinh tế của đất nước, bảo vệ môi trường bằng hàng loạt các chính sách như:

- Khôi phục và giữ gìn các tài nguyên du lịch, bảo vệ môi trường, văn hóa nghệ thuật thông qua việc ưu tiên phát triển du lịch bền vững

- Thúc đẩy hợp tác giữa khu vực nhà nước và tư nhân, phối hợp với cộng đồng địa phương trong quá trình khai thác, phát triển và quản lý tài nguyên du lịch

- Hỗ trợ phát triển các đối tượng cung cấp dịch vụ cho du khách thông qua việc áp dụng các tiến bộ về khoa học, đặc biệt là trong lĩnh vực công nghệ thông tin

- Tăng cường hợp tác với các nước láng giềng, phối hợp xúc tiến, quảng bá phát triển các hệ thống thông tin liên lạc, mạng lưới giao thông và các tiện ích phục

vụ du lịch

- Khuyến khích phát triển nguồn nhân lực, tăng cường đào tạo đội ngũ cán

bộ du lịch cả về số lượng và chất lượng; thực hiện nghiêm túc các quy định trong việc đảm bảo an ninh du khách và môi trường kinh doanh lành mạnh cho các doanh nghiệp du lịch

- Quan tâm đồng bộ các vấn đề liên quan đến du lịch như Hàng không, giao thông đường bộ, du lịch đường biển; thủ tục visa, tôn tạo cảnh quan, môi trường

du lịch…

Bangkok là một trong những thành phố đi đầu trong ngành Du lịch Thái Văn phòng Kinh doanh Du lịch Bangkok trực thuộc trực tiếp TAT, đồng bộ các chính sách đầu tư cho cơ sở vật chất, quảng bá, đảm bảo chất lượng và dịch cụ luôn hướng tới các tiêu chuẩn quốc tế Việc nâng cao vai trò quản lý của cơ quan phụ trách du lịch cũng đảm bảo từ chính quy ền, tổ chức du lịch chuyên nghiệp đến mỗi người dân, quảng bá hình ảnh đất nước thông qua nhiều kênh quốc tế Đồng thời luôn biết cách tao ra những sản phẩm du lich mới, tạo dựng môi trường du lịch thân thiện với

du khách

Điều quan trọng, chính sách phát triển Du lịch của Thái Lan hướng tới thúc đẩy kinh tế tư nhân phát triển, với nhiều cơ chế quản lý và sự hỗ trợ tối đa của TAT dành cho các doanh nghiệp lữ hành hay các doanh nghiệp tư nhân Ngoài những

Trang 35

quy định và cơ chế ràng buộc, hỗ trợ chặt chẽ của TAT đối với các doanh nghiệp

Du lịch trong nước, TAT hàng năm còn bỏ ra hơn 100 triệu USD dành cho việc quảng bá du lịch Thái Lan đến với các nước trên thế giới

Chính phủ Trung Quốc xác định Du lịch là một trong những trọng điểm tăng trưởng kinh tế mới, là một trong những động lực chính phục vụ chiến lược thúc đẩy chuyển đổi mô hình và nâng cấp cơ cấu của nền kinh tế Mục tiêu mà Trung Quốc đặt ra là đến năm 2020 đưa nước này trở thành một quốc gia phát triển du lịch lớn mạnh trên thế giới

Năm 2016, doanh thu từ khách quốc tế đạt mức tăng trưởng 5,6% so với năm

2015, đạt 120 tỷ USD, cao hơn 10,2 tỷ USD so với doanh thu từ hoạt động du lịch

ra nước ngoài Trong nửa đầu năm 2017, Trung Quốc đã đón 69,5 triệu lượt khách

du lịch, trong khi số lượng khách Trung Quốc ra nước ngoài du lịch là 62 triệu lượt

Về bộ máy tổ chức, cơ quan quản lý nhà nước về du lịch Trung Quốc là Cục

Du lịch Quốc gia Trung Quốc, trực thuộc Quốc Vụ viện (Chính phủ), gồm 2 bộ phận chính là Bộ phận Hành chính và Bộ phận Marketing, mỗi bộ phận do một Phó Cục trưởng phụ trách Chức năng, nhiệm vụ chủ yếu của Cục Du lịch Quốc gia gồm: Xây dựng, ban hành các chính sách du lịch và giám sát việc tuân thủ, thực hiện các chính sách đó; xây dựng chiến lược phát triển khu du lịch, phối hợp với các ban, ngành liên quan trong hoạt động đầu tư, phát triển du lịch; nghiên cứu và thu thập thông tin du lịch; cấp giấy phép hoạt động lữ hành; xúc tiến, quảng bá du lịch

ra nước ngoài

Chính phủ Trung Quốc đã thường xuyên xây dựng và hoàn thiện các cơ chế, chính sách để quản lý và phát triển tốt ngành du lịch Nổi bật là phương châm tăng cường phát triển du lịch Inbound (đưa khách du lịch quốc tế vào), khuyến khích du lịch nội địa, phát triển du lịch Outbound (đưa khách du lịch ra nước ngoài) vừa phải Không chỉ có nguồn khách quốc tế tăng trưởng mạnh, Trung Quốc cũng có lượng công dân đi du lịch nước ngoài phát triển ấn tượng và đang dẫn đầu về số lượng tại khu vực châu Á - Thái Bình Dương

Trang 36

Trong quá trình phát triển ngành, Trung Quốc chủ yếu phát triển mô hình nhà nước và lấy đó làm chủ đạo với hai nội dung chính:

- Nhà nước và các địa phương dựa vào bộ máy quản lý hành chính để định hướng chính sách phát triển của các doanh nghiệp du lịch, tổ chức và tuyên truyền xúc tiến, quản lý thị trường

- Phát huy tính chủ động của chính quyền địa phương, đặc biệt là cấp tỉnh trong việc phối hợp các lực lượng, phát triển mạnh du lịch các địa phương Nhằm thu hút du khách quốc tế và nội địa, ngành Du lịch Trung Quốc đã đưa ra những sản phẩm du lịch độc đáo, đa dạng với các chủ đề được sắp xếp theo từng năm Chẳng hạn, năm 1992 là Năm du lịch Trung Quốc lần thứ 1, năm 1993 là Năm du lịch phong cảnh, năm 1994 là Năm du lịch di tích văn vật cổ, năm 2002 là Năm du lịch văn hóa nghệ thuật dân gian, năm 2004 là Năm du lịch đời sống dân dã…

Những năm gần đây du lịch Bắc Kinh phát triển nhanh, năm 2016, Bắc Kinh đón hơn 171 triệu lượt khách du lịch, trong đó có 4,1 triệu khách quốc tế Hiện nay,

cơ quan phụ trách du lịch của Bắc Kinh là Ủy ban Phát triển Du lịch Thành phố Bắc Kinh, thường xuyên tổ chức các hoạt động xúc tiến, quảng bá du lịch địa phương tại trong nước và quốc tế

Thành phố Thượng Hải là thành phố hiện đại và lớn nhất Trung Quốc Có diện tích 5800 km2, thành phố là một hải cảng lớn của Trung Quốc và là biểu tượng của sự thần kỳ kinh tế Trung Quốc Thượng Hải có vai trò quan trọng trong sự phát triển kinh tế của Trung Quốc, là địa điểm thường xuyên tổ chức các hội chợ, triển lãm thế giới, khu vực Ngoài sự cởi mở, thông thoáng trong chính sách phát triển kinh tế, những tiềm năng du lịch của thành phố như sự kết hợp tuyệt vời giữa tính hiện đại và chất cổ điển truy ền thống, sư giao thoa giữa phong cách phương Đông

và phương Tây cũng được thành phố Thượng Hải khai thác để phát triển du lịch

1.2.3 Malaysia và Thủ đô Kuala Lumpur

Malaysia là quốc gia có ngành công nghiệp du lịch phát triển nhất trong khu vực ASEAN, đồng thời cũng là đất nước rất thành công trong việc tổ chức các hoạt động xúc tiến du lịch, đặc biệt là thương hiệu “Malaysia - Châu Á đích thực”

Trang 37

(Malaysia - Truly Asia) Trong kế hoạch phát triển kinh tế của Malaysia, du lịch được xác định là ngành mang lại nguồn ngoại tệ lớn nhất và tạo ra nhiều việc làm cho đất nước Trong khối ASEAN, Malaysia cũng được đánh giá là một trong những nước đứng đầu về du lịch trên cả 2 phương diện: thu hút khách du lịch đến Malaysia (inbound) và người Malaysia đi du lịch nước ngoài (outbound) Năm

2016, lượng khách đến Malaysia đạt 26,8 triệu lượt khách, với thời gian lưu trú trung bình của mỗi du khách vào khoảng 5-7 ngày

Chính phủ Malaysia đã sớm nhận thức tầm quan trọng của du lịch trong nền kinh tế nên đã có những bước tiến dài trong quản lý và phát triển du lịch, bằng những chính sách cơ chế hợp lý đã đưa ngành Du lịch phát triển dẫn đầu khu vực Đông Nam Á Chính cơ sở hạ tầng và mức tăng trưởng cao của nền kinh tế đã tạo thuận lợi cho du lịch phát triển Malaysia rất chú trọng phát triển du lịch sinh thái Thị trường thu hút khách trọng điểm là các nước trong khu vực, nhất là Singapore, Thái Lan, Nhật Bản, Đài Loan, Anh…

Về bộ máy quản lý, cơ quan quản lý nhà nước về du lịch Malaysia là Cục Xúc tiến Du lịch thuộc Bộ Văn hóa - Nghệ thuật và Du lịch, bao gồm các bộ phận:

Vụ Phát triển, Vụ Xúc tiến, Vụ Nghiên cứu và Đào tạo, Vụ quản lý Hội thảo quốc

tế, Vụ Tổng hợp, các Văn phòng đại diện ở nước ngoài và các Trung tâm Thông tin Malaysia đã đẩy mạnh khâu quảng bá sản phẩm du lịch trên cơ sở đa dạng hóa sản phẩm nhằm thỏa mãn nhu cầu khách hàng Mặt khác, Chính phủ thường xuyên đầu

tư nâng cấp cơ sở hạ tầng, thiết bị cho ngành du lịch với hàng trăm triệu Ringgit được đầu tư từ ngân sách, đồng thời duy trì, phát triển văn hóa dân tộc, bảo vệ môi trường sinh thái

Thủ đô Kuala Lumpur là trung tâm kinh tế, thương mại, tài chính, bảo hiểm, bất động sản, truyền thông và nghệ thuật của quốc gia Du lịch làm m ột ̣ thế m ạnh

và ngày càng đóng m ột vai trò quan trọng trong nền kinh tế theo định hướng dịch

vụ của thành phố Thành phố đã thu hút sự góp mặt của nhiều chuỗi khách sạn toàn cầu Đây là thành phố được viếng thăm nhiều thứ 6 trên thế giới với 8,9 triệu lượt

du khách mỗi năm trong thâp kỷ qua Du lịch Kuala Lumpur phát triển nhờ các đăc

Trang 38

trưng văn hóa và cách làm du l ịch của thành phố đó là : tính đa dạng văn hóa của thành phố, chi phí tương đối thấp, đồ ăn và mua sắm đa dạng và MICE (Du lịch hội nghị) Thủ đô Kuala Lumpur cũng là đ ịa chỉ mua sắm ưa chuộng của du khách từ nhiều nơi trên thế giới

1.2.4 Singapore

Vốn chỉ là môt ̣ quốc đảo nh ỏ nhưng Singapore đã biết phát huy triệt để tiềm năng, lợi thế về vị trí địa lý và nguồn lực con người để có những bước phát triển vượt bậc Theo Tổng cục Du lịch Singapore, trong năm 2017, lượng khách du lịch đến nước này tăng mạnh lên 6,2%, đạt mức 17,4 triệu người

Singapore có điểm xếp hạng tài nguyên thiên nhiên thấp hơn nhiều so với Việt Nam nhưng lại có cơ sở hạ tầng du lịch tốt như Vịnh Marina, Sentosa hay đường đua F1 Một trong những thành công c ủa Singapore thời gian qua phải nói đến sự thành công về chính sách phát tri ển du lịch Lịch sử phát triển ngành du lịch Singapore mớ i ch ỉ 50 năm trở lại đây nhưng đã tạo dấu ấn với hàng loạt con

số ấn tượng, từ số lượng khách tham quan, các điểm đến cho tới doanh thu hàng chục tỷ USD

Người Singapore không chỉ dừng lại ở du lịch mà còn tập trung quảng bá cho hoạt động kinh tế Hai thương hiệu cũ trước đây là YourSingapore của Tổng cục Du lịch Singapore (STB) và Future Ready Singapore của Bộ Phát triển Kinh tế Singapore (EDB) nay đã chính thức nhập thành thương hiệu truyền thông mới: Passion Made Possible Để có được kết qu ả như trên, phải nói đến sự thành công của Singapore trong việc hoạch định, xây dựng chiến lược và các kế hoạch phát triển du lịch phù hợp cho từng giai đoạn Từ năm 1965 đến nay, Singapore đã hoạch định chiến lược, xây dựng 6 kế hoạch phát triển du lịch khác nhau, đó là: “Kế hoạch

Du lịch Singapore” (năm 1968), “Kế hoạch Phát triển du lịch” (năm 1986), “Kế hoạch Phát triển chiến lược” (năm 1993), “Du lịch 21” (năm 1996), “Du lịch 2015” (năm 2005), “Địa giới du lịch 2020” (năm 2012)

Những thành công vư ợt bậc và kinh nghiệm quý báu trong phát triển du lịch của Singapore sẽ là bài học rất hữu ích cho quá trình h oạch định, xây dựng, triển

Trang 39

khai thực hiện chiến lược, kế hoạch phát triển du lịch của Việt Nam nói chung và của Thủ đô Hà Nôị cũng như các thành phố khác của Việt Nam

1.2.5 Một số bài học kinh nghiệm trong công tác quản lý nhà nước đối với doanh nghiệp lữ hành quốc tế

1.2.5.1 Một số bài học kinh nghiệm cho Việt Nam

Trong bối cảnh toàn cầu hóa kinh tế hiện nay, cạnh tranh quốc gia là yếu tố thật sự quan trọng trong việc hoạch định các chính sách vĩ mô Một số nước đã thành công trong cạnh tranh về du lịch với các nước khác, trở thành những điểm đến du lịch lớn trong khu vực Tại các nước này, việc phối hợp giữa các ngành: Ngoại giao, Công an, Thương mại, Hải quan, Du lịch khá chặt chẽ trong thực thi các chính sách về du lịch trên cơ sở chỉ đạo thống nhất của Chính phủ, đã tạo điều kiện cho du lịch phát triển mạnh mẽ Ðể tăng cường năng lực cạnh tranh LHQT của Việt Nam trong điều kiện hội nhập quốc tế, thời gian tới Chính phủ nên tiếp tục tạo môi trường vĩ mô ổn định, ban hành các cơ chế, chính sách, luật pháp về du lịch và liên quan du lịch phù hợp tiến trình đổi mới và hội nhập quốc tế, tạo hành lang pháp

lý cho các doanh nghiệp du lịch nói chung và LHQT nói riêng thuộc mọi thành phần kinh tế kinh doanh và cạnh tranh lành mạnh, bình đẳng

Một số kinh nghiệm trong công tác quản lý nhà nước về du lịch ở nước ta cần được xem xét đến là:

- Cần quản lý và phát huy tốt tài nguyên thiên nhiên, văn hóa và nguồn nhân lực: Nguồn tài nguyên thiên nhiên, văn hoá và nhân lực phục vụ cho du lịch của Việt Nam tương đối phong phú, có nhiều tiềm năng nhờ số lượng của các di sản thiên nhiên, di sản văn hoá, các loài động vật và sự dồi dào của nguồn nhân lực Tuy nhiên, thế mạnh này chưa được phát huy hiệu quả do những hạn chế trong việc bảo tồn và phát triển nguồn tài nguyên, môi trường, sự yếu kém trong công tác đào tạo nhân lực cũng như chính sách, biện pháp trong thúc đẩy hoạt động du lịch và thu hút khách quốc tế Báo cáo năng lực cạnh tranh du lịch 2017 của Diễn đàn Kinh

tế Thế giới (WEF) cũng cho thấy trong khu vực châu Á, đất nước này đang dẫn đầu châu Á về chỉ số cạnh tranh du lịch cũng như mức độ ưu tiên phát triển du lịch (mức 6), trong khi Việt Nam chỉ đạt 4 điểm

Trang 40

- Chính sách phát triển du lịch là một trong những nhân tố quyết định thành công của ngành Du lịch Việt Nam: chính sách phát triển du lịch tác động trực tiếp đến việc khai thác, bảo tồn các giá trị nguồn tài nguyên và môi trường thiên nhiên; nâng cao năng lực cạnh tranh, hiệu quả quảng bá, thu hút khách du lịch; thúc đẩy sự phát triển dịch vụ du lịch thông qua chính sách đầu tư cải thiện chất lượng cơ sở vật chất mang lại tiện nghi, tiện ích cho các hoạt động du lịch; tạo điều kiện dễ dàng về thủ tục và bảo đảm an ninh an toàn cho du khách viếng thăm… Điều cần lưu ý là hiệu năng của chính sách và trình độ phát triển có mối quan hệ tương tác, và do đó, các quốc gia có năng lực cạnh tranh thấp trên các lãnh vực tài nguyên, cơ sở hạ tầng

và môi trường kinh doanh du lịch thường cũng có vị thế yếu kém về khuôn khổ luật định liên quan đến phát triển ngành du lịch Việt Nam cần có xây dựng các chiến lược phát triển du lịch dài hơi để các nhà đầu tư chiến lược có thể đặt nền tảng kinh doanh cũng như yên tâm phát triển thị trường

- Những nhược điểm trong tính cách văn hoá thể hiện trong hoạt động kinh doanh du lịch Việt Nam là cần phải được nhìn nhận một cách nghiêm túc như là mối quan ngại của du khách: Hình ảnh của một xứ sở, quốc gia, dân tộc dưới con mắt du khách không phải chỉ được tạo dựng qua sự hoành tráng của các lễ hội hay

sự độc đáo, hấp dẫn của các công trình du lịch, mà quan trọng hơn là ở sự thể hiện nếp sống văn hóa thường nhật, qua thái độ phục vụ của các nhân viên ngành du lịch, qua lề lối kinh doanh và thái độ thân thiện, tinh thần hiếu khách của cư dân bản địa đối với du khách Ở Việt Nam nói chung, ngay cả Hà Nội nói riêng, dù cơ quan quản lý đã vào cuộc nhưng vẫn hay xảy ra tình trạng chèo kéo, chặt chém, chụp giật

du khách, sự xô bồ và hỗn tạp của các lễ hội hay tại các nơi chốn tôn nghiêm… làm cho hình ảnh của đất nước, địa phương bị tổn thương nghiêm trọng, đặc biệt là gây phức tạp, phiền hà, khó chịu cho du khách

1.2.5.2 Một số bài học kinh nghiệm cho Hà Nội

Từ những kinh nghiệm về quản lý du lịch trong và ngoài nước nêu trên, chúng ta có thể rút ra một số bài học dưới đây cho công tác quản lý du lịch trên địa bàn Thủ đô Hà Nội:

Ngày đăng: 25/11/2019, 21:12

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
2. Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch (2018), Hướng dẫn thực hiện Luật du lịch 2017 3. Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch (2014), Quyết định 3455/QĐ-BVHTTDL về việc Phê duyệt “Chiến lược marketing du lịch đến năm 2020” Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hướng dẫn thực hiện Luật du lịch 2017 " 3. Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch (2014), "Quyết định 3455/QĐ-BVHTTDL về việc Phê duyệt “Chiến lược marketing du lịch đến năm 2020
Tác giả: Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch (2018), Hướng dẫn thực hiện Luật du lịch 2017 3. Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch
Năm: 2014
8. Nguyễn Thị Doan (2015), Quản lý Nhà nước về vấn đề du lịch trên địa bàn Hà Nội, Luận văn thạc sỹ, Đại học Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quản lý Nhà nước về vấn đề du lịch trên địa bàn Hà Nội
Tác giả: Nguyễn Thị Doan
Năm: 2015
9. Lê Phương Dung (2015), Nghiên cứu công tác quản lý nhà nước về du lịch của tỉnh Bắc Ninh, Luận văn Thạc sỹ, Đại học Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu công tác quản lý nhà nước về du lịch của tỉnh Bắc Ninh
Tác giả: Lê Phương Dung
Năm: 2015
11. Nguyễn Văn Đính; Trần Thị Minh Hòa (2009), Giáo trình kinh tế Du lịch, NXB Đại học kinh tế Quốc dân, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình kinh tế Du lịch
Tác giả: Nguyễn Văn Đính; Trần Thị Minh Hòa
Nhà XB: NXB Đại học kinh tế Quốc dân
Năm: 2009
12. Vũ Mạnh Hà (2014), Giáo trình kinh tế du lịch, NXB Giáo Dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình kinh tế du lịch
Tác giả: Vũ Mạnh Hà
Nhà XB: NXB Giáo Dục
Năm: 2014
13. Nguyễn Thu Hạnh (2006), Tổ chức khai thác không gian kiến trúc cảnh quan các khu di tích lịch sử văn hóa thuộc Thành phố Hà Nội và phụ cận nhằm phục vụ cho chiến lược phát triển du lịch Thủ đô, Đề tài Khoa học cấp Bộ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tổ chức khai thác không gian kiến trúc cảnh quan các khu di tích lịch sử văn hóa thuộc Thành phố Hà Nội và phụ cận nhằm phục vụ cho chiến lược phát triển du lịch Thủ đô
Tác giả: Nguyễn Thu Hạnh
Năm: 2006
14. Bùi Thúy Hằng (2014), Quản lý nhà nước đối với các doanh nghiệp du lịch trên địa bàn Hải Phòng, Luật văn thạc sỹ, Đại học Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quản lý nhà nước đối với các doanh nghiệp du lịch trên địa bàn Hải Phòng
Tác giả: Bùi Thúy Hằng
Năm: 2014
15. Trần Thị Minh Hoà (2006), Giáo trình Thanh toán quốc tế trong du lịch, NXB Trường Đại học Kinh tế Quốc dân, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Thanh toán quốc tế trong du lịch, NXB Trường Đại học Kinh tế Quốc dân
Tác giả: Trần Thị Minh Hoà
Nhà XB: NXB Trường Đại học Kinh tế Quốc dân"
Năm: 2006
16. Nguyễn Thị Thanh Hiền (1995), Quản lý nhà nước về du lịch trong giai đoạn phát triển mới của nền kinh tế Việt Nam, Luận văn thạc sỹ khoa học kinh tế, Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quản lý nhà nước về du lịch trong giai đoạn phát triển mới của nền kinh tế Việt Na
Tác giả: Nguyễn Thị Thanh Hiền
Năm: 1995
17. Nguyễn Văn Mạnh, Phạm Hồng Chương (2009), Giáo trình Quản trị kinh doanh lữ hành, NXB Kinh tế Quốc Dân, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Quản trị kinh doanh lữ hành
Tác giả: Nguyễn Văn Mạnh, Phạm Hồng Chương
Nhà XB: NXB Kinh tế Quốc Dân
Năm: 2009
18. Bùi Phú Mỹ (2015), Nghiên cứu công tác quản lý nhà nước về du lịch tại khu vực phố cổ Hà Nội, Luận văn thạc sỹ, Đại học Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu công tác quản lý nhà nước về du lịch tại khu vực phố cổ Hà N
Tác giả: Bùi Phú Mỹ
Năm: 2015
19. Đỗ Thị Nhài (2008), Hoạt động quản lý nhà nước đối với các doanh nghiệp du lịch trên địa bàn Hà Nội, Luận văn Thạc sỹ, Đại học Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hoạt động quản lý nhà nước đối với các doanh nghiệp du lịch trên địa bàn Hà Nội
Tác giả: Đỗ Thị Nhài
Năm: 2008
20. Phạm Thị Nhung (2017), Nghiên cứu công tác quản lý nhà nước về du lịch của tỉnh Bắc Ninh, Luận văn thạc sỹ, Đại học Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu công tác quản lý nhà nước về du lịch của tỉnh Bắc Ninh
Tác giả: Phạm Thị Nhung
Năm: 2017
24. Trịnh Đặng Thanh (2004), Quản lý nhà nước bằng pháp luật đối với hoạt động du lịch ở Việt Nam hiện nay, Luận án tiến sĩ Luật học, Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quản lý nhà nước bằng pháp luật đối với hoạt động du lịch ở Việt Nam hiện nay
Tác giả: Trịnh Đặng Thanh
Năm: 2004
25. Trần Đức Thanh (2003), Nhập môn khoa học Du lịch, Nxb Đại học Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nhập môn khoa học Du lịch
Tác giả: Trần Đức Thanh
Nhà XB: Nxb Đại học Quốc gia
Năm: 2003
1. Bộ Chính trị (2017), Nghị quyết số 08-NQ/TW ngày 16 tháng 01 năm 2017 của Bộ Chính trị khóa XII về phát triển du lịch trở thành ngành kinh tế mũi nhọn Khác
4. Bộ Văn hóa Thể thao và Du lịch (2008), Tài liệu hội thảo phát triển nguồn nhân lực du lịch trong điều kiện nước ta gia nhập WTO Khác
5. Chính phủ (2012), Nghị định 41/2012/NĐ-CP về quy định vị trí việc làm trong đơn vị sự nghiệp công lập Khác
6. Chính phủ (2014), Nghị quyết số 92/NQ-CP về một số giải pháp đẩy mạnh phát triển du lịch Việt Nam trong thời kỳ mới Khác
7. Chính phủ (2017), Nghị quyết số 103/NQ-CP của Chính phủ: Ban hành Chương trình hành động của Chính phủ thực hiện Nghị quyết số 08-NQ/TW ngày 16 tháng 01 năm 2017 của Bộ Chính trị khóa XII về phát triển du lịch trở thành ngành kinh tế mũi nhọn Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w