Qua nghiên cứu và đánh giá kết quả thực tiễn của luận văn này hiện nay chưa có mối liên kết ràng buộc nào giữa bệnh viện và doanh nghiệp nhằm tăng cường hiệu quả sử dụng các phương tiện kỹ thuật phục vụ chẩn đoán và điều trị, mà chỉ là sự liên kết nhỏ lẻ khi có nhu cầu của riêng từng phía được đề xuất đưa ra. Bởi vậy học viên đã đề xuất mô hình liên kết giữa bệnh viện và các doanh nghiệp dựa trên lý thuyết thị trường kéo và nhu cầu kéo.
Trang 1NHẰM TĂNG CƯỜNG HIỆU QUẢ SỬ DỤNG CÁC PHƯƠNG TIỆN
KỸ THUẬT PHỤC VỤ CHẨN ĐOÁN VÀ ĐIỀU TRỊ
(NGHIÊN CỨU TRƯỜNG HỢP TẠI BỆNH VIỆN BỆNH NHIỆT ĐỚI TRUNG ƯƠNG)
LUẬN VĂN THẠC SĨ CHUYÊN NGÀNH: QUẢN LÝ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ
Hà Nội - 2018
Hà Nội - 2018
Trang 2NHẰM TĂNG CƯỜNG HIỆU QUẢ SỬ DỤNG CÁC PHƯƠNG TIỆN
KỸ THUẬT PHỤC VỤ CHẨN ĐOÁN VÀ ĐIỀU TRỊ
(NGHIÊN CỨU TRƯỜNG HỢP TẠI BỆNH VIỆN BỆNH NHIỆT ĐỚI TRUNG ƯƠNG)
Trang 3MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 6
1 Lý do chọn đề tài 6
2 Tổng quan tình hình nghiên cứu 7
3 Mục tiêu nghiên cứu 9
4 Phạm vi nghiên cứu 9
5 Mẫu khảo sát 10
6 Câu hỏi nghiên cứu 10
7 Giả thuyết nghiên cứu 10
8 Phương pháp nghiên cứu 11
9 Kết cấu của Luận văn 12
CHƯƠNG 1 13
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ MÔ HÌNH LIÊN KẾT 13
GIỮA BỆNH VIỆN VÀ DOANH NGHIỆP 13
1.1 Những khái niệm cơ bản có liên quan đến khoa học và công nghệ 14
1.1.1 Khái niệm khoa học 14
1.1.2 Khái niệm công nghệ 17
1.1.3 Kết quả nghiên cứu 19
1.2 Những khái niệm cơ bản có liên quan đến liên kết 22
1.2.1 Khái niệm liên kết 22
1.2.1 Khái niệm mô hình liên kết 23
1.2.3 Đặc điểm hoạt động KH&CN của ngành y tế 24
1.3 Các yếu tố tác động đến mối liên kết giữa bệnh viên và doanh nghiệp 28
1.3.1 Chính sách của Nhà nước 28
1.3.2 Nhu cầu từ bệnh viện 29
1.3.3 Nhu cầu từ doanh nghiệp 30
1.4 Đặc điểm về liên kết hoạt động KH&CN của ngành y tế 30
1.4.1 Định hướng liên kết giữa bệnh viện và doanh nghiệp 30
1.4.2 Chính sách thúc đẩy sự liên kết giữa bệnh viện và doanh nghiệp 31 1.4.3 Rủi ro khi liên kết giữa bệnh viện và các doanh nghiệp 31
Tiểu kết chương 1 32
Trang 4CHƯƠNG 2 33
ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG MỐI LIÊN KẾT 33
GIỮA BỆNH VIỆN VÀ CÁC DOANH NGHIỆP 33
2.1 Hiện trạng mối liên kết giữa các doanh nghiệp trong ngành y tế 33
2.2 Đánh giá thực trạng liên kết giữa bệnh viện và các doanh nghiệp trong ngành y tế Việt Nam 38
2.3 Hiện trạng về hoạt động khoa học và công nghệ của Bệnh viện Bệnh Nhiệt đới Trung ương 40
2.3.1 Giới thiệu chung về Bệnh viện Bệnh Nhiệt đới Trung ương 40
2.3.2 Thực trạng liên kết giữa Bệnh viện Bệnh nhiệt đới Trung ương và các doanh nghiệp trong nghiên cứu khoa học 45
2.3 Nguyên nhân những hạn chế về hoạt động khoa học và công nghệ của Bệnh viện Bệnh Nhiệt đới Trung ương 60
2.3.1 Những bất cập về chính sách 60
2.3.2 Những hạn chế về quản lý 60
Tiểu kết chương 2 61
CHƯƠNG 3 63
XÂY DỰNG MÔ HÌNH LIÊN KẾT GIỮA BỆNH VIỆN VÀ DOANH NGHIỆP TRÊN CƠ SỞ LÝ THUYẾT NHU CẦU KÉO 63
NHẰM NÂNG CAO HIỆU QUẢ SỬ DỤNG CÁC PHƯƠNG TIỆN 63
KỸ THUẬT PHỤC VỤ CHẨN ĐOÁN VÀ ĐIỀU TRỊ BỆNH 63
3.1 Một số mô hình liên kết giữa Trường Đại học với doanh nghiệp trên thế giới và Việt Nam 63
3.2 Đề xuất giải pháp xây dựng mô hình mối liên kết giữa bệnh viện và các doanh nghiệp 72
3.2.1 Xây dựng mô hình Trung tâm Nghiên cứu ứng dụng và triển khai 72
3.2.2 Đánh giá về mô hình TTNCƯD&TK trực thuộc bệnh viện 81
Tiểu kết chương 3 85
KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 87
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 90
Trang 5LỜI CẢM ƠN
Trong quá trình học tập và làm luận văn tốt nghiệp, tôi đã nhận được sự giúp đỡ tận tình của Quý thầy, cô giáo, Ban Lãnh đạo, các Cán bộ Khoa Khoa học Quản lý, Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội và các đồng nghiệp, bạn bè Đến nay, tôi đã hoàn thành luận văn tốt nghiệp, tôi xin bày tỏ sự trân trọng và lời cảm ơn thầy Vũ Cao Đàm đã tận tình giúp đỡ, hướng dẫn tôi thực hiện thành công luận văn này
Tôi xin cảm ơn các thầy, cô giáo Khoa Khoa học Quản lý, Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội đã giúp tôi hoàn thành chương trình học tập
Tôi xin cám ơn các đồng nghiệp, bạn bè đã ủng hộ, giúp đỡ và động viên tôi trong suốt quá trình học tập Tôi xin cảm ơn gia đình và những người thân đã động viên và tạo điều kiện cho tôi hoàn thành tốt các công việc trong suốt thời gian qua
Trong quá trình hoàn thành luận văn, mặc dù đã hết sức cố gắng nhưng cũng không tránh khỏi thiếu sót, rất mong nhận được sự thông cảm của Quý thầy cô và các đồng nghiệp
Xin trân trọng cảm ơn./
Tác giả luận văn
Đặng Thị Hoàng Ánh
Trang 6MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Hiện nay, công tác quản lý nghiên cứu khoa học (NCKH) nói chung và hoạt động KH&CN ngành Y tế nói riêng đang nổi lên một vấn đề cần được quan tâm đó là các kết quả NCKH chưa thật sự đi vào sản xuất, kinh doanh của các doanh nghiệp; hay nói cách khác là các doanh nghiệp chưa "mặn mà" với các kết
quả nghiên cứu của các nhà khoa học trong nước
Ðiều này cũng đồng nghĩa với việc những kết quả NCKH trong nước nói chung và kết quả NCKH trong y tế nói riêng gặp nhiều khó khăn trong việc triển khai; trong khi các doanh nghiệp không mấy quan tâm đến các kết quả nghiên cứu trong nước mà nhập khẩu những sản phẩm, thiết bị, công nghệ của nước ngoài trong khi hiệu quả sử dụng trên thực tế lâm sàng có nhiều bất cập
mà chỉ có các nhà nghiên cứu mới có thể có điều kiện phân tích và đánh giá
Tuy nhiên trong quá trình hiện đại hóa, công nghiệp hóa đất nước, hầu hết các bệnh viện chỉ tập trung vào việc cơ cấu lại tổ chức, trang bị đủ trang thiết bị để phục vụ công tác chẩn đoán và điều trị bệnh Còn các vấn đề nghiên cứu của bệnh viện ít được quan tâm, đặc biệt là các mối liên kết với các đối tác bên ngoài nhằm đẩy mạnh hợp tác trong lĩnh vực nghiên cứu và ứng dụng các thành tựu KH&CN Mối quan hệ giữa các tổ chức KH&CN trong bệnh viện với các tổ chức trong và ngoài bệnh viện đã có nhưng thực sự rất lỏng lẻo và hầu như không có hiệu quả với các bên Trong việc nghiên cứu hay ứng dụng các thành tựu KH&CN để nâng cao hiệu quả của hoạt động y tế đến nay hầu hết các chính sách hiện hành cũng như các thiết chế quản lý trong các bệnh viện chỉ tập trung vào khía cạnh tài chính mà bỏ qua sự liên kết giữa các tổ chức KH&CN trong bệnh viện với các tổ chức doanh nghiệp
và các đối tác bên ngoài Với mục tiêu thúc đẩy việc xây dựng mô hình liên kết giữa bệnh viện và doanh nghiệp nhằm tăng cường nhu cầu trao đổi thông tin hai chiều về các phương tiện chẩn đoán và điều trị được sát thực hơn để từ
đó nhà sản xuất nâng cao hiệu quả sử dụng các sản phẩm Chính từ ý nghĩa trên tôi lựa chọn nghiên cứu đề tài: XÂY DỰNG MÔ HÌNH LIÊN KẾT GIỮA
Trang 7BỆNH VIỆN VÀ DOANH NGHIỆP NHẰM TĂNG CƯỜNG HIỆU QUẢ SỬ DỤNG CÁC PHƯƠNG TIỆN KỸ THUẬT PHỤC VỤ CHẨN ĐOÁN VÀ ĐIỀU TRỊ (NGHIÊN CỨU TRƯỜNG HỢP TẠI BỆNH VIỆN BỆNH NHIỆT ĐỚI TRUNG ƯƠNG)
2 Tổng quan tình hình nghiên cứu
Chủ đề mối liên kết giữa bệnh viện và doanh nghiệp trong nghiên cứu
và triển khai chưa được các nhà khoa học trực tiếp quan tâm, các nghiên cứu
có liên quan gián tiếp đế mối liên kết giữa bệnh viện và doanh nghiệp trong nghiên cứu và triển khai có thể điểm:
Trần Trí Đức (1998), Các vấn đề liên quan đến việc sáp nhập các tổ chức KH&CN vào doanh nghiệp tiến hành nghiên cứu cơ sở khoa học thương
mại hoá các sản phẩm của hoạt động nghiên cứu và triển khai ở Việt Nam Nghiên cứu này cho rằng thương mại hoá hoạt động KH&CN là quá trình chuyển hoá các NCKH, kết quả khoa học thành sản phẩm bán ở thị trường và đưa các quy trình công nghệ áp dụng vào thực tiễn Nghiên cứu cũng đã đề xuất một số biện pháp mang tính định hướng và những nguyên tắc chung nhằm thúc đẩy thương mại hoá KQNC ở nước ta Những biện pháp này bao gồm, tăng cường xúc tiến năng lực thương mại hoá sản phẩm NCKH với các doanh nghiệp, thúc đẩy bảo vệ sở hữu công nghiệp, khuyến khích thành lập các doanh nghiệp KH&CN Đây cũng là một hình thức hình thành doanh nghiệp trung gian giúp các nhà NCKH và doanh nghiệp có thể tìm đến nhau một cách nhanh nhất, hiệu quả nhất
Trong các nghiên cứu về thị trường công nghệ ở Việt Nam, Viện Chiến lược và Chính sách KH&CN (2003) cho thấy, kết quả nghiên cứu của các tổ chức NCKH ở Việt Nam khó thương mại hoá Nghiên cứu chỉ ra một số nguyên nhân cơ bản: (1) sản phẩm của các tổ chức R&D ở nước ta thường ở mức công nghệ chưa hoàn chỉnh, ngoài ra, không có nhiều kết quả nghiên cứu thoả mãn các điều kiện để cấp pa-tăng; (2) những công nghệ tương đối hoàn chỉnh của các tổ chức R&D ở nước ta thường chỉ áp dụng được ở quy mô nhỏ đến vừa; và (3) công tác tiếp thị công nghệ của các tổ chức R&D chưa làm tốt
Trang 8Tỷ lệ các kết quả R&D được thương mại hoá hoặc được ứng dụng vào sản xuất, kinh doanh ở Việt Nam còn thấp và số liệu chưa thống nhất
Đề tài NCKH cấp Bộ “Nghiên cứu cơ sở lý luận và thực tiễn cho việc xây dựng chính sách thúc đẩy thương mại hóa kết quả NCKH của các tổ chức KH&CN Việt Nam” thực hiện năm 2013 do Viện Chiến lược và Chính sách
KH&CN chủ trì, TS Nguyễn Quang Tuấn là chủ nhiệm Trong phạm vi nghiên cứu của đề tài đã thực hiện được các nội dung: Nêu được cơ sở lý luận cho việc thực hiện chính sách thúc đẩy thương mại hóa kết quả NCKH và phát triển công nghệ của các tổ chức KH&CN Việt Nam; Nêu được cơ sơ thực tiễn cho việc thực hiện chính sách thúc đẩy thương mại hóa kết quả NCKH và phát triển công nghệ của các tổ chức KH&CN Việt Nam Tuy nhiên, cách tiếp cận của đề tài còn theo phương thức khoa học đẩy, do đó yếu
tố thị trường kéo chưa được đề cập và làm rõ vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy thương mại hóa kết quả nghiên cứu Chính bởi vậy mà các doanh nghiệp không nhận thấy mục đích chung cho sự phát triển của doanh nghiệp Bởi doanh nghiệp muốn phát triển thì phụ thuộc vào nhu cầu của thị trường
để mở rộng phạm vi thị trường Trong khi đó các nhà nghiên cứu lại chú tâm quá nhiều vào khía cạnh khoa học, xa rời nhu cầu thị trường dẫn đến nhiều kết quả nghiên cứu không thể thương mại hóa được
Như vậy, có thể thấy chủ đề mối liên kết giữa bệnh viện và doanh nghiệp trong nghiên cứu và triển khai chưa được nghiên cứu tại Việt Nam Từ
đó cho thấy việc đề tài mà Luận văn tiến hành nghiên cứu có:
- Ý nghĩa lý thuyết: Kết quả nghiên cứu của đề tài chỉ ra những bất cập
trong mối liên kết giữa bệnh viện và các doanh nghiệp để từ đó đưa ra những
cơ sở lý thuyết và giải pháp để xây dựng được mô hình liên kết giữa tổ chức KH&CN trong bệnh viện với các doanh nghiệp, tổ chức nước ngoài nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng các phương tiện kỹ thuật phục vụ chẩn đoán và điều trị bệnh
- Ý nghĩa thực tiễn: Thông qua việc phân tích những hạn chế trong mối
liên kết giữa tổ chức KH&CN trong bệnh viện và các doanh nghiệp cũng như
Trang 9nhu cầu thực tiễn của các bên từ đó có những chính sách, hình thức xây dựng
mô hình liên kết linh hoạt, hiệu quả giữa tổ chức KH&CN trong bệnh viện với các doanh nghiệp nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng các phương tiện kỹ thuật phục vụ chẩn đoán và điều trị bệnh
3 Mục tiêu nghiên cứu
Luận văn chỉ ra những tồn tại, khó khăn tạo ra những rào cản cho việc thương mại hóa kết quả nghiên cứu và triển khai (R&D) để từ đó tìm ra những giải pháp,hành lang chính sách để xây dựng được mối liên kết giữa tổ chức KH&CN trong bệnh viện với các doanh nghiệp nhằm nâng cao hiệu quả
sử dụng các phương tiện kỹ thuật trong chẩn đoán và điều trị bệnh
Nhiệm vụ:
- Hệ thống hóa một số vấn đề lý luận và thực tiễn về chính sách xây dựng mối liên kết giữa tổ chức KH&CN trong bệnh viện với các doanh nghiệp nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng các phương tiện kỹ thuật trong chẩn đoán và điều trị bệnh Tập trung phân tích, đánh giá tỷ lệ các kết quả nghiên cứu được hợp tác, liên kết với các doanh nghiệp để triển khai nghiên cứu và
tỷ lệ các kết quả nghiên cứu được thương mại hóa nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng các phương tiện kỹ thuật trong chẩn đoán và điều trị bệnh
- Nghiên cứu kinh nghiệm quốc tế và các ngành khác về mô hình liên kết giữa các doanh nghiệp
- Phân tích và đánh giá thực trạng mối liên kết giữa tổ chức KH&CN trong bệnh viện với các doanh nghiệp
- Đưa ra khuyến nghị khắc phục những yếu tố hạn chế trong mối liên kết giữa tổ chức KH&CN trong bệnh viện với các doanh nghiệp nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng các phương tiện kỹ thuật trong chẩn đoán và điều trị bệnh
4 Phạm vi nghiên cứu
- Giới hạn thời gian: từ năm 2014 đến năm 2017
- Phạm vi nội dung: nghiên cứu mối liên kết giữa Bệnh viện Bệnh Nhiệt đới Trung ương và các doanh nghiệp trong hoạt động nghiên cứu khoa
Trang 10học nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng các phương tiện khoa học kỹ thuật phục
- Phân tích và đánh giá thực trạng mối liên kết giữa tổ chức KH&CN trong bệnh viện với các doanh nghiệp
- Đưa ra các quan điểm và các khuyến nghị về giải pháp chính sách nhằm xây dựng mối liên kết giữa các tổ chức KH&CN trong bệnh viện với các doanh nghiệp nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng các phương tiện kỹ thuật trong chẩn đoán và điều trị bệnh
5 Mẫu khảo sát
Bệnh viện Bệnh Nhiệt đới Trung ương
6 Câu hỏi nghiên cứu
Câu hỏi chủ đạo:
Bệnh viện và doanh nghiệp cần hình thành các hình thức quan hệ theo mô hình nào để nâng cao hiệu quả sử dụng các phương tiện kỹ thuật phục vụ chẩn đoán và điều trị bệnh?
Câu hỏi chi tiết:
1) Bệnh viện cần có quan hệ với doanh nghiệp nào?
2) Cần xác lập mối quan hệ giữa bệnh viện và các doanh nghiệp trên những nguyên tắc căn bản nào để nhận biết hiệu quả sử dụng các phương tiện
kỹ thuật phục vụ chẩn đoán và điều trị do các doanh nghiệp cung cấp 3) Cần sử dụng những biện pháp nào để hình thành mô hình liên kết giữa bệnh viện và doanh nghiệp để nâng cao hiệu quả sử dụng các phương tiện
kỹ thuật phục vụ chẩn đoán và điều trị do các doanh nghiệp cung cấp
7 Giả thuyết nghiên cứu
6.1 Giả thuyết chủ đạo
Trang 11Xây dựng mô hình Trung tâm nghiên cứu ứng dụng và triển khai trực thuộc bệnh viện (là mô hình Trung tâm nghiên cứu độc lập, tự chủ một phần
về tài chính và nhân lực) làm cầu nối liên kết, hợp tác giữa bệnh viện và doanh nghiệp trong nghiên cứu và triển khai các hoạt động nghiên cứu khoa học
- Sử dụng triết lý “Thị trường kéo” để hình thành mối liên kết giữa bệnh viện và doanh nghiệp nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng các phương tiện
kỹ thuật phục vụ chẩn đoán và điều trị do các doanh nghiệp cung cấp
- Xây dựng mô hình các Viện nghiên cứu, các Trung tâm nghiên cứu
trực thuộc bệnh viện để đẩy mạnh hoạt động nghiên cứu và là cầu nối với các
doanh nghiệp nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng các phương tiện kỹ thuật phục
vụ chẩn đoán và điều trị bệnh
- Xây dựng mối quan hệ giữa bệnh viện và các doanh nghiệp dựa trên nguyên tắc: tự do giao kết hợp đồng; nguyên tắc tự nguyện, bình đẳng, thiện chí, hợp tác, trung thực và ngay thẳng
8 Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp nghiên cứu tài liệu: nghiên cứu các tài liệu liên quan đến các công trình NCKH được liên kết với các doanh nghiệp và kết quả thương mại các kết quả NCKH Các tài liệu chủ yếu được Luận văn kế thừa
và phân tích gồm: Tài liệu liên quan đến khoa học và công nghệ, thương mại hóa kết két quả nghiên cứu, lý thuyết “Thị trường kéo”, các văn bản quy phạm pháp luật có liên quan đến chủ đề nghiên cứu của Luận văn như thông
tư số 55/2015/TTLT-BTC-BKHCN, Thông tư số 28/2014/TT-BKHCN…
Trang 12- Phương pháp phân tích, tổng hợp, so sánh số liệu trong Báo cáo tổng kết nghiệm thu các đề tài nghiên cứu khoa học các năm 2014, 2015, 2016,
2017 do Bệnh viện Bệnh Nhiệt đới TW phát hành, các số liệu có liên quan đến liên kết giữa bệnh viện và doanh nghiệp…
- Phương pháp phỏng vấn sâu: trong quá trình thực hiện Luận văn, tác giả đã tiến hành thu thập thông tin định tính bằng phương pháp phỏng vấn sâu, kết quả phỏng vấn sâu thể hiện trong nội dung của Luận văn Cách phỏng vấn: tác giả gửi trước câu hỏi và trực tiếp nghe người được phỏng vấn trả lời
9 Kết cấu của Luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và khuyến nghị, danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của luận văn gồm 3 chương:
- Chương 1 Cơ sở lý luận về mô hình liên kết giữa các tổ chức KH&CN trong bệnh viện với các doanh nghiệp
- Chương 2 Đánh giá thực trạng mối liên kết giữa các KH&CN trong bệnh viện với các doanh nghiệp
- Chương 3 Xây dựng mô hình liên kết giữa các tổ chức KH&CN trong bệnh viện với các doanh nghiệp trên cơ sở lý thuyết thị trường kéo
Trang 13và bền vững của mỗi quốc gia Thực tế đã cho thấy từ nhiều thập kỷ qua, đặc biệt là những thập kỷ gần đây, việc sáng tạo, chuyển giao tri thức và thương mại hóa kết quả nghiên cứu KH&CN từ các trường đại học và các tổ chức nghiên cứu công đến doanh nghiệp đã góp phần tạo nên sự phát triển mạnh
mẽ về kinh tế - xã hội của các quốc gia như Hoa Kỳ, Nhật Bản, Hàn Quốc và một số nước EU Các trường đại học và các tổ chức nghiên cứu công là nguồn chính để tạo ra tri thức và các sáng chế có thể thương mại hóa Sự thành công của hoạt động này được biểu hiện ở những công bố khoa học, số lượng bằng sáng chế được công bố, li-xăng, các doanh nghiệp KH&CN mới được thành lập, lượng việc làm được tạo ra, sự luân chuyển lao động nghiên cứu, ở mức
độ đóng góp cho tăng trưởng kinh tế và các lợi ích xã hội khác Hiện nay nhiều quốc gia trên thế giới đã áp dụng một tập hợp các biện pháp trực tiếp và gián tiếp để hỗ trợ từ sáng tạo tri thức đến chuyển giao tri thức và thương mại hóa kết quả nghiên cứu công Nhờ đó, cách thức mà các trường đại học và các
tổ chức nghiên cứu công ở Việt Nam hiện nay tham gia với doanh nghiệp để biến khoa học từ phòng thí nghiệm ra thị trường đang được đẩy nhanh Đặc biệt trong lĩnh vực y tế đang cần sự thay đổi mạnh mẽ về tư duy, cách thức và
sự hỗ trợ rất lớn từ phía Nhà nước và sự mạnh dạn của các doanh nghiệp để cho kết quả nghiên cứu khoa học trong ngành y tế đem lại lợi ích thiết thực cho người dân Bởi vậy, luận văn này dựa vào thực tế của bệnh viện công đề xuất giải pháp xây dựng mô hình liên kết bệnh viện với doanh nghiệp nhằm
Trang 14nâng cao hiệu quả sử dụng các phương tiện kỹ thuật phục vụ cho chẩn đoán
và điều trị được nghiên cứu tại Bệnh viện Bệnh Nhiệt đới Trung ương
1.1 Những khái niệm cơ bản có liên quan đến khoa học và công nghệ
1.1.1 Khái niệm khoa học
Khoa học là hệ thống những tri thức về mọi loại quy luật của vật chất
và sự vận động của vật chất, những quy luật của tự nhiên, xã hội, tư duy Khoa học là một hoạt động xã hội nhằm tìm tòi, phát hiện quy luật của sự vật
và hiện tượng và vận dụng các quy luật ấy để sáng tạo ra nguyên lý các giải pháp tác động vào các sự vật và hiện tượng nhằm biến đổi trạng thái của chúng Khoa học là một hình thái ý thức xã hội, tồn tại mang tính độc lập tương đối với các hình thái ý thức xã hội khác (ở đối tượng và hình thức và hình thức phản ánh và mang một chức năng xã hội riêng biệt)
Sheldon (1997) cho rằng khoa học là một hoạt động trí tuệ được thực
hiện bởi con người, được thiết kế để khám phá cách thức hoạt động, tồn tại của sự vật – hiện tưởng
Theo Vũ Cao Đàm khoa học còn được hiểu là một hoạt động xã hội
nhằm tìm tòi, phát hiện quy luật của sự vật và hiện tượng và vận dụng các quy luật ấy để sáng tạo ra nguyên lý các giải pháp tác động vào sự vật hoặc hiện tượng, nhằm biến đổi trạng thái của chúng
Nghiên cứu khoa học (NCKH) là sự tìm kiếm những điều mà khoa học chưa biết; hoặc là phát hiện bản chất sự vật, phát triển nhận thức khoa học về thế giới; hoặc là sáng tạo phương pháp mới và phương tiện kỹ thuật mới để làm biến đổi sự vật phục vụ cho mục tiêu hoạt động của con người NCKH là loại hoạt động đặc biệt Nó đặc biệt ở chỗ đó là công việc tìm kiếm những điều chưa biết và người nghiên cứu hoàn toàn không thể hình dung được, hoặc không thể hình dung thật chính xác kết quả dự kiến Có thể nói, NCKH
là sự tìm tòi, khám phá trong một thế giới hoàn toàn chưa được biết đến, và kết quả tìm kiếm ra sao cũng không thể dự kiến trước một cách chi tiết
NCKH gồm có nghiên cứu cơ bản và nghiên cứu ứng dụng
Trang 15Nghiên cứu cơ bản là những nghiên cứu nhằm phát hiện thuộc tính, cấu trúc, động thái của sự vật, tương tác trong nội bộ sự vật và mối liên hệ giữa sự vật và các sự vật khác
Nghiên cứu ứng dụng là sự vận dụng quy luật được phát hiện từ nghiên cứu cơ bản để giải thích một sự vật; tạo ra những nguyên lý mới về các giải pháp và áp dụng chúng vào sản xuất và đời sống Giải pháp có thể được hiểu theo nghĩa rộng có thể là một giải pháp về công nghệ, về vật liệu, về tổ chức
và quản lý (theo Vũ Cao Đàm, Phương pháp luận NCKH, Nxb Khoa học và
kỹ thuật, 2006)
Theo Earl R Babbie (1986), NCKH là cách thức: (1) Con người tìm
hiểu các hiện tượng khoa học một cách có hệ thống; và (2) Là quá trình áp dụng các ý tưởng, nguyên lý để tìm ra các kiến thức mới nhằm giải thích cá
sự vật hiện tượng
Theo Armstrong và Sperry (1994), NCKH dựa vào việc ứng dụng các
phương pháp khoa học để phát hiện ra những cái mới về bản chất sự vật, về thế giới tự nhiên và xã hội, và để sáng tạo phương pháp và phương tiện kỹ thuật mới cao hơn, giá trị hơn Hình thức nghiên cứu này cung cấp thông tin
và lý thuyết khoa học nhằm giải thích bản chất và tính chất của thế giới Kết quả của NCKH tạo ra những ứng dụng cho thực tiễn Hoạt động NCKH được tài trợ bởi các cơ quan chính quyền, các tổ chức tài trợ xã hội Hoạt động NCKH được phân loại tùy lĩnh vực học thuật và ứng dụng NCKH là một tiêu chí được sử dụng rộng rãi trong đánh giá vị thế của các cơ sở học thuật
Như vậy, NCKH là hoạt động tìm hiểu, xem xét, điều tra hoặc thử nghiệm, dựa trên những số liệu, tài liệu, kiến thức đạt được từ thực nghiệm,
để phát hiện ra cái mới về bản chất sự vật, về thế tự nhiên và xã hội
Trong điều kiện ngày nay, khoa học đóng vai trò cực kỳ quan trọng trong việc tạo ra cơ sở vật chất của xã hội, hoàn thiện các quan hệ xã hội và hình thành con người mới
NCKH có mục tiêu chủ yếu là tìm kiếm câu trả lời cho các câu hỏi đặt
ra, nói cách khác là tìm kiếm kiến thức và sự hiểu biết Tuy nhiên, nếu ta có
Trang 16thể chia sẻ, phổ biến thông tin, kiến thức mà ta có được thông qua nghiên cứu
sẽ có hiệu quả cao hơn rất nhiều Nói cách khác, bản chất của NCKH là một quá trình vận dụng các ý tưởng, nguyên lý và phương pháp khoa học để tìm ra các kiến thức mới nhằm mô tả, giải thích hay dự báo các sự vật, hiện tượng trong thế giới khách quan Nghiên cứu có nghĩa là trả lời những câu hỏi mang tính học thuật hoặc thực tiễn; làm hoàn thiện và phong phú thêm các tri thức khoa học; đưa ra các câu trả lời để giải quyết các vấn đề trong thực tiễn
Với cách nhìn như vậy, NCKH còn có vai trò làm thay đổi cách nhìn nhận vấn đề của người đọc, thuyết phục người đọc tin vào bản chất khoa học
và kết quả thực nghiệm nhằm đưa người đọc đến quyết định và hành động phù hợp để cải thiện tình hình của các vấn đề đặt ra theo chiều hướng tốt hơn
Hoạt động NC&TK theo UNESCO là một chuỗi các hoạt động bao gồm nghiên cứu, triển khai và đổi mới công nghệ Trong đó:
- Nghiên cứu bao gồm NCCB và NCƯD, trong đó NCCB chia thành NCCB thuần túy và NCCB định hướng; NCCB định hướng lại chia thành NCCB nền tảng và nghiên cứu chuyên đề
- Triển khai bao gồm 3 giai đoạn: tạo vật mẫu - prototype, tạo quy trình
- làm pilot để tạo công nghệ và làm thí điểm loạt nhỏ - sản xuất thử loạt 0 hay làm “Sêri 0”
- Đổi mới công nghệ bao gồm CGCN và phát triển công nghệ
Theo UNESCO: “NC&TK là các hoạt động sáng tạo được thực hiện một cách có hệ thống để tăng cường vốn tri thức, bao gồm tri thức về con người, văn hóa, xã hội và sử dụng vốn tri thức này để tìm ra các ứng dụng mới”
Hoạt động NC&TK còn bao hàm một loại hình hoạt động khác nữa có chức năng phục vụ cho tất cả các loại hình hoạt động KH&CN nói trên, đó là hoạt động dịch vụ KH&CN
Có nhiều cách phân loại NCKH, trong đó có 3 cách phân loại thường dùng là: phân loại theo chức năng của nghiên cứu (mô tả, giải thích, giải pháp, dự báo), phân loại theo phương pháp thu thập thông tin phục vụ
Trang 17nghiên cứu (thư viện, điền dã, labô) và phân loại theo tính chất của sản phẩm nghiên cứu (NCCB, NCƯD và triển khai thực nghiệm)
1.1.2 Khái niệm công nghệ
Công nghệ là tập hợp những hiểu biết để tạo ra các giải pháp kỹ thuật được áp dụng vào sản xuất và đời sồng Ngày nay công nghệ được coi là sự kết hợp giữa phần cứng và phần mềm Phần cứng là trang thiết bị, phần mềm
là bao gồm: thành phần con người, thành phần thông tin, thành phần tổ chức
Công nghệ là sự thay đổi, việc sử dụng, và kiến thức về các công cụ, máy móc, kỹ thuật, kỹ năng nghề nghiệp, hệ thống, và phương pháp tổ chức, nhằm giải quyết một vấn đề, cải tiến một giải pháp đã tồn tại, đạt một mục đích, hay thực hiện một chức năng cụ thể Công nghệ cũng có thể chỉ là một tập hợp những công cụ như vậy, bao gồm máy móc, những sự sắp xếp, hay những quy trình Công nghệ ảnh hưởng đáng kể lên khả năng kiểm soát và thích nghi của con người cũng như của những động vật khác vào môi trường tự nhiên của mình Thuật ngữ có thể được dùng theo nghĩa chung hay cho những lĩnh vực cụ thể, ví dụ như "công nghệ xây dựng", "công nghệ thông tin"
Tùy vào từng ngữ cảnh mà thuật ngữ công nghệ có thể được hiểu:
Công cụ hoặc máy móc giúp con người giải quyết các vấn đề;
Các kỹ thuật bao gồm các phương pháp, vật liệu, công cụ và các tiến trình để giải quyết một vấn đề;
Các sản phẩm được tạo ra phải hàng loạt và giống nhau
Sản phẩm có chất lượng cao và giá thành hạ
Ở Việt Nam, cho đến nay công nghệ thường được hiểu là quá trình tiến hành một công đoạn sản xuất là thiết bị để thực hiện một công việc (do đó công nghệ thường là tính từ của cụm thuật ngữ như: quy trình công nghệ, thiết
bị công nghệ, dây chuyển công nghệ) Cách hiểu này có xuất xứ từ định nghĩa trong từ điển kỹ thuật của Liên Xô trước đây: “công nghệ là tập hợp các phương pháp gia công, chế tạo, làm thay đổi trạng thái, tính chất, hình dáng nguyên, vật liệu hay bán thành phẩm sử dụng trong quá trình sản xuất để tạo
Trang 18ra sản phẩm hoàn chỉnh” Theo những quan niệm này, công nghệ chỉ liên quan đến sản xuất vật chất.
Nghiên cứu bao gồm "hoạt động sáng tạo được thực hiện một cách có
hệ thống nhằm làm giàu tri thức, bao gồm tri thức về con người, văn hóa và
xã hội, và sử dụng vốn tri thức này để tạo ra những ứng dụng mới."[1] Hoạt động nghiên cứu được dùng để thiết lập hay xác nhận các dữ kiện, tái xác nhận kết quả của công trình trước đó, giải quyết những vấn đề mới hay đang tồn tại, chứng minh các định lý, hay phát triển những lý thuyết mới Mục đích chính yếu của nghiên cứu cơ bản (khác với nghiên cứu ứng dụng) là thu thập
dữ kiện, phát kiến, diễn giải, hay nghiên cứu và phát triển những phương pháp và hệ thống vì mục tiêu thúc đẩy sự phát triển tri thức nhân loại Các hình thức nghiên cứu bao gồm: khoa học, nhân văn, nghệ thuật, kinh tế, xã hội, kinh doanh, thị trường Cách tiếp cận nghiên cứu trong những lĩnh vực khác nhau có thể rất khác nhau
Nghiên cứu khoa học dựa vào việc ứng dụng các phương pháp khoa học, khai thác trí tò mò Hình thức nghiên cứu này cung cấp thông tin và lý thuyết khoa học nhằm giải thích bản chất và tính chất của thế giới Nó có thể giúp tạo ra những ứng dụng thực tiễn Hoạt động NCKH được tài trợ bởi các
cơ quan chính quyền, các tổ chức tài trợ, và các nhóm tư nhân, bao gồm nhiều công ty Hoạt động NCKH có thể được phân loại tùy theo lĩnh vực học thuật
và ứng dụng NCKH là một tiêu chí được sử dụng rộng rãi trong đánh giá vị thế của một cơ sở học thuật NCKH là một họat động tìm kiếm, xem xét, điều tra, hoặc thử nghiệm Dựa trên những số liệu, tài liệu, kiến thức,… đạt được
từ các thí nghiệm NCKH để phát hiện ra những cái mới về bản chất sự vật, về thế giới tự nhiên và xã hội, và để sáng tạo phương pháp và phương tiện kỹ thuật mới cao hơn, giá trị hơn Con người muốn làm NCKH phải có kiến thức nhất định về lĩnh vực nghiên cứu và cái chính là phải rèn luyện cách làm việc
tự lực, có phương pháp từ lúc ngồi trên ghế nhà trường
NCKH là một dạng hoạt động xã hội và có các đặc điểm sau:
Tính mới mẻ Tính thông tin Tính khách quan
Trang 19Tính tin cậy Tính rủi ro Tính kế thừa
Tính cá nhân Tính kinh phí
1.1.3 Kết quả nghiên cứu
Kết quả nghiên cứu được hiểu có thể là các sản phẩm hữu hình (như máy móc, thiết bị, vật liệu, v.v…) hoặc các sản phẩm vô hình (như quy trình công nghệ, sáng chế, giải pháp hữu ích, bí quyết kỹ thuật/công nghệ, công thức hóa học, phần mềm máy tính, v.v…) KQNC chính là sản phẩm của hoạt động nghiên cứu, vì vậy KQNC cần được xem xét trong quá trình của hoạt động nghiên cứu
Tiếp cận từ các giai đoạn của nghiên cứu, theo tác giả Vũ Cao Đàm, KQNC được xác định bao gồm:
Nghiên cứu cơ bản (fundamental research hoặc basic reseach) là
những nghiên cứu nhằm phát hiện thuộc tính, cấu trúc, động thái các sự vật, phát hiện, phát minh, dẫn đến việc hình thành một hệ thống lý thuyết có giá trị tổng quát Sản phẩm của nghiên cứu cơ bản có thể là các khám phá, phát hiện, phát kiến, phát minh, và thường dẫn đến việc hình thành một hệ thống lý
thuyết có ảnh hưởng đến một hoặc nhiều lĩnh vực khoa học
Nghiên cứu ứng dụng (applied research) là sự vận dụng các quy luật
đã được phát hiện từ nghiên cứu cơ bản để giải thích sự vật, tạo dựng các nguyên lý công nghệ mới, nguyên lý sản phẩm mới và nguyên lý dịch vụ mới,
áp dụng chúng vào sản xuất và đời sống Sản phẩm của nghiên cứu ứng dụng
có thể là những giải pháp mới về tổ chức, quản lý, công nghệ, vật liệu, sản phẩm Một số giải pháp hữu ích về công nghệ có thể trở thành sáng chế Sáng chế là loại thành tựu trong khoa học, kỹ thuật và công nghệ, trong khoa học
xã hội và nhân văn không có sản phẩm loại này
Triển khai (technological experimental development cũng gọi là experimental development, nói tắt là development) còn gọi là triển khai thực
nghiệm là sự vật dụng các quy luật (thu được từ nghiên cứu cơ bản) và các nguyên lý công nghệ hoặc nguyên lý vật liệu (thu được từ nghiên cứu ứng dụng) để đưa ra những hình mẫu (prototype) về một phương diện kỹ thuật
Trang 20mới, sản phẩm mới, dịch vụ mới với những tham số đủ mang tính khả thi về mặt kỹ thuật Hoạt động triển khai gồm 3 giai đoạn:
- Tạo vật mẫu (Prototype) là giai đoạn thực nghiệm nhằm tạo ra được
sản phẩm, chưa quan tâm đến quy trình sản xuất và quy mô áp dụng;
- Tạo công nghệ còn gọi là giai đoạn thử nghiệm (pilot) là giai đoạn tìm kiếm và thử nghiệm công nghệ để sản xuất ra sản phẩm theo mẫu (prototype) vừa thành công ở giai đoạn thứ nhất;
- Sản xuất thử loạt nhỏ (sản xuất serie 0) là giai đoạn kiểm chứng độ
tin cậy của công nghệ trên quy mô nhỏ
Tiếp cận từ quy trình NCKH thông thường tại các cơ sở nghiên cứu, trong trường đại học và tại các cơ sở sản xuất hay doanh nghiệp, bao gồm các bước: xác định vấn đề nghiên cứu hay ý tưởng nghiên cứu (idea), tìm hiểu cơ
sở khoa học và thực tiễn của vấn đề nghiên cứu (research), sử dụng các phương pháp nghiên cứu để giải quyết vấn đề nghiên cứu (Solutions), rồi từ
đó chọn kết quả nghiên cứu để công bố (product) Tuy nhiên, tại mỗi bước triển khai có thể có sự khác biệt nhất định Khác biệt đầu tiên là sản phẩm của
2 loại quy trình nghiên cứu là khác nhau Đối với các cơ sở nghiên cứu, sản phẩm có thể là quy luật khoa học, quy trình công nghệ, phát minh, sáng chế, giải pháp hữu ích, bài báo, tài liệu khoa học, v.v… Đối với các cơ sở sản xuất, sản phẩm đầu ra của quy trình nghiên cứu (R&D) là sản phẩm hàng hóa Một điểm khác biệt nữa là các sản phẩm đầu ra của cơ sở sản xuất sẽ phụ thuộc vào định hướng chiến lược của doanh nghiệp trong khi đó, đầu vào của các cơ
sở nghiên cứu là đơn đặt hàng nghiên cứu, từ nhu cầu thị trường, hoặc từ mục tiêu nghiên cứu của các nhà khoa học
Theo một cách tiếp cận khác, KQNC xem xét trong quy trình của hoạt động R&D thì KQNC được xem như là sản phẩm của mỗi công đoạn trong quá trình R&D theo chiều xuôi hay ngược Quá trình R&D xuôi trải qua các công đoạn sau: Ý tưởng => Nghiên cứu => Thử nghiệm => Hoàn thiện và nhân rộng Quá trình R&D ngược trải qua các quá trình sau: Công nghệ hoàn
Trang 21thiện => Phân tích để tìm ra bí quyết công nghệ => Thử nghiệm => Hoàn thiện và nhân rộng
Theo cách hiểu phổ biến nhất, thương mại hóa KQNC chính là việc làm cho KQNC thành sản phẩm hàng hóa sẵn sàng bán trên thị trường và “sinh lợi” Tuy nhiên, không phải KQNC nào cũng trở thành sản phẩm hàng hóa và sinh lời Vì vậy, chúng tôi phân tích các KQNC theo các giai đoạn của nghiên cứu và theo 02 khía cạnh của việc thương mại hóa là đem lại lợi ích trực tiếp (đem lại nhiều lợi nhuận về mặt kinh tế) và đem lại lợi ích gián tiếp (truyền tải kiến thức, thông tin cho nhiều người trong xã hội) Như vậy, các nghiên cứu ứng dụng và triển khai đem lại “lợi ích kinh tế”, vì thế có khả năng thương mại hóa được Phân tích này giải thích cho việc trong các tài liệu nghiên cứu, thuật ngữ “thương mại hóa công nghệ”, “thương mại hóa kết quả R&D” được sử dụng để chỉ ra việc “thương mại hóa KQNC”, đồng thời cũng làm rõ thuật ngữ “thương mại hóa KQNC” được hiểu cụ thể là thương mại hóa kết quả R&D (sản phẩm công nghệ)
Theo Hội đồng nghiên cứu Australia (Australian Research Council) [3], thuật ngữ thương mại hóa kết quả nghiên cứu gắn với sáng chế và đổi
mới, quá trình đổi mới công nghệ bao gồm các giai đoạn: nghiên cứu và triển khai, phát triển công nghệ, thương mại hóa, trong đó phát triển công nghệ
(technology development) là độc lập với nghiên cứu và triển khai (R&D), mặc
dù cả hai cụm từ này đều có thành tố “development”3 Về thuật ngữ “thương mại hóa” kết quả nghiên cứu nói chung (bao gồm cả nghiên cứu cơ bản và nghiên cứu ứng dụng trong mọi lĩnh vực khoa học), khi tiếp cận từ quyền SHTT, cần lưu ý:
- Các kết quả nghiên cứu cơ bản trong tất cả mọi lĩnh vực khoa học không phải là đối tượng để thương mại hóa;
- Các kết quả nghiên cứu ứng dụng trong lĩnh vực khoa học xã hội và nhân văn không phải là đối tượng để thương mại hóa;
- Các kết quả nghiên cứu ứng dụng trong lĩnh vực khoa học tự nhiên là
có thể được thương mại hóa
Trang 22- Trong lĩnh vực khoa học y dược, thì công nghệ dược, công nghệ y tế (thể hiện ở dạng vật thể, ví dụ thiết bị y tế)… là có thể được thương mại hóa, nhưng công nghệ y tế (thể hiện ở dạng phương pháp, ví dụ phương pháp chẩn đoán, chữa bệnh cho người) là không thể được thương mại hóa, pháp luật về SHTT loại phương pháp chẩn đoán, chữa bệnh cho người ra khỏi đối tượng của sáng chế
- Kết quả nghiên cứu là giải pháp kỹ thuật được bảo hộ thông qua việc cấp bằng độc quyền sáng chế (gọi tắt là patent), như vậy kết quả nghiên cứu
là các đối tượng khác của quyền SHTT (ví dụ kiểu dáng công nghiệp, bí mật kinh doanh…) không thuộc đối tượng nghiên cứu của bài viết này
Tóm lại, thương mại hóa kết quả nghiên cứu được hiểu là quá trình đưa sáng chế là kết quả nghiên cứu ứng dụng thành sản phẩm hàng hoá và gắn với thị trường (được thực hiện bởi các công ty vệ tinh thuộc tổ chức R&D – nơi sáng tạo nên sáng chế - hoặc chuyển giao sáng chế cho các tổ chức khác nhằm mục đích thương mại)
1.2 Những khái niệm cơ bản có liên quan đến liên kết
1.2.1 Khái niệm liên kết
Về bản chất, liên kết chính là hình thức hợp tác, cộng tác và phối hợp cùng tham gia vào một công việc mà cả hai phía đều cùng có ý tưởng muốn được triển khai, áp dụng cùng với nhau để thực hiện những biện pháp nhằm thúc đẩy các hoạt động sản xuất kinh doanh theo chiều hướng có lợi cho các bên tham gia liên kết Thông qua việc tận dụng tiềm năng hoặc những điểm mạnh của các bên tham gia, các hoạt động liên kết được thực thi nhằm phát huy những điểm mạnh và khắc phục những điểm yếu của các doanh nghiệp Giải thích theo một cách khác, liên kết kinh tế giống như tạo ra một tổ chức
có quy mô lớn hơn với nhiều sức mạnh hơn khi thực hiện các hoạt động kinh doanh Liên kết kinh tế giúp họ mở rộng việc trao đổi thông tin, tìm hiểu về các hoạt động có liên quan còn lại trong chuỗi giá trị, tìm cách dịch chuyển sang những hoạt động khác có mức lợi nhuận hấp dẫn hơn hoặc là tìm cách nâng cấp những hoạt động của mình nhằm mục đích đạt được mức lợi nhuận
Trang 23cao hơn Quan hệ liên kết có thể được tổ chức với các cấp độ khác nhau, song phương, đa phương Liên kết kinh tế có nhiều hình thức và quy mô tổ chức khác nhau, tương ứng với nhu cầu sản xuất, kinh doanh của các đơn vị thành viên tham gia liên kết Những hình thức phổ biến là hiệp hội sản xuất và tiêu thụ, nhóm sản xuất, nhóm vệ tinh, hội đồng sản xuất và tiêu thụ theo ngành hoặc theo vùng, liên đoàn xuất nhập khẩu… Liên kết kinh tế được thực hiện trên cơ sở nguyên tắc tự nguyện, bình đẳng, cùng có lợi thông qua hoặc thông qua hợp đồng kinh tế ký kết giữa các bên tham gia và trong khuôn khổ pháp luật của các nhà nước Mục tiêu của liên kết kinh tế là tạo ra mối quan hệ kinh
tế ổn định thông qua các hợp đồng kinh tế hoặc các quy chế hoạt động để tiến hành phân công sản xuất chuyên môn hoá và hiệp tác hoá, nhằm khai thác tốt tiềm năng của từng đơn vị tham gia liên kết; hoặc để cùng nhau tạo thị trường chung, phân định hạn mức sản lượng cho từng đơn vị thành viên, giá cả cho từng loại sản phẩm nhằm bảo vệ lợi ích của nhau, cùng giúp nhau để có khoản thu nhập cao nhất
1.2.1 Khái niệm mô hình liên kết
Mô hình là một sự đơn giản hóa, đại diện cho một hệ thống thực với một công cụ cụ thể để nghiên cứu hành vi của nó Con người dùng mô hình đó để
nghiên cứu thực nghiệm nhằm tìm ra các quy luật hoạt động của hệ thống
Chuyển giao công nghệ là chuyển giao các quy trình, kỹ thuật, phương pháp thực hiện… cho doanh nghiệp, cũng chính là quan hệ cung cầu giữa bên mua và bên bán Đối với chủ thể đơn vị nghiên cứu này, có 2 cách chuyển giao: (1) chuyển giao công nghệ tiên tiến cho trung gian công nghệ hoặc (2) trực tiếp chuyển giao công nghệ này cho doanh nghiệp
Mối liên kết trực tiếp giữa bệnh viện và doanh nghiệp dựa trên cơ
sở hợp đồng Với những thực tiễn lâm sàng được phát hiện tại bệnh viện,
cùng với nhu cầu điều trị bệnh của bệnh viện, đồng thời với mục tiêu phát triển của các doanh nghiệp nên bệnh viện và các doanh nghiệp đã cùng tìm đến nhau để bắt tay ký kết hợp đồng hỗ trợ lẫn nhau, cùng thực hiện và phát triển mục tiêu, kế hoạch đã định về nghiên cứu những sản phẩm mới theo nhu
Trang 24cầu thị trường Như vậy, một khi doanh nghiệp đã tài trợ cho nghiên cứu thì bản thân doanh nghiệp đã tự nguyện chấp nhận những rủi ro, thất bại trong nghiên cứu Và đồng thời bệnh viện cũng mặc định việc chấp nhận áp dụng những thành tựu mới, công nghệ mới của nghiên cứu mà doanh nghiệp đưa vào thực tiễn trong phạm vi hoạt động của bệnh viện
Nhà nước phải như là "bà đỡ" cho các kết quả nghiên cứu bằng cách
mua lại các kết quả nghiên cứu, từ đó đầu tư triển khai vào thực tế sản xuất và kinh doanh Làm được như vậy, sẽ dần tạo nên một thị trường mua bán, trao đổi công nghệ
Nhà nước đồng thời tạo lập những chính sách, chính sách thiết thực để thúc đẩy mối liên kết, hợp tác trong tam giác phát triển giữa ba nhà (nhà khoa học, nhà quản lý, nhà doanh nghiệp), để họ xích lại gần nhau hơn vì những mục tiêu, quyền lợi của mỗi bên và cho cả sự phát triển chung của nền y học
Nhà nước tạo điều kiện cho phép hình thành những tổ chức trung gian chuyên môi giới mua, bán và làm các dịch vụ chuyển giao KH và CN từ nhà nghiên cứu tới doanh nghiệp Theo kinh nghiệm của các nước phát triển, những tổ chức trung gian này rất quan trọng để liên kết giữa cung và cầu về công nghệ, kết nối từ nhà khoa học tới doanh nghiệp và ngược lại
1.2.3 Đặc điểm hoạt động KH&CN của ngành y tế
Y - Dược là một ngành khoa học, một khoa học có vai trò, nhiệm vụ đặc biệt cao cả, đó là chăm sóc sức khoẻ cho con người - mục tiêu và động lực của quá trình phát triển; Quá trình phát triển do chính con người thực hiện
và nhằm mục đích nâng cao chất lượng đời sống con người Vì vậy hoạt động KH&CN trong lĩnh vực Y tế cũng có những đặc điểm riêng biệt
Các hoạt động nghiên cứu cũng như triển khai thường phải gắn liền với thực nghiệm mà đối tượng chính là con người với ba hình thức chính:
1- Thử nghiệm lâm sàng: là những nghiên cứu trên đối tượng là người bệnh Loại nghiên cứu này bao gồm việc thử nghiệm một sản phẩm hóa dược nhằm điều trị bệnh mới hay một biện pháp ức chế vi rút, dự phòng các vi rút
Trang 25có thể xâm nhập trên người bệnh nhằm đánh giá hiệu quả, mức độ đáp ứng sản phẩm hóa dược trong quá trình điều trị hay dự phòng trên
2- Thử nghiệm thực địa: là việc can thiệp trên người chưa bị mắc bệnh Loại nghiên cứu này chủ yếu nhằm đánh giá hiệu quả, mức độ tạo ra kháng thể nhằm nâng cao khả năng đề kháng, mức độ dự phòng của con người trước tác động của môi trường Để nghiên cứu có tính xác hợp người ta thường chỉ
sử dụng thử nghiệm thực địa để đánh giá các giải pháp can thiệp dự phòng cho các bệnh phổ biến hay bệnh trầm trọng, có nguy cơ lây nhiễm nhanh Các thử nghiệm vaccine là một loại thử nghiệm thực địa phổ biến nhất
3- Can thiệp cộng đồng: tương tự như thử nghiệm thực địa nhưng có đặc điểm là biện pháp can thiệp được áp dụng cho một nhóm cộng đồng chứ không phải có một cá nhân đơn lẻ Can thiệp cộng đồng áp dụng nhằm đánh giá hiệu quả của việc cải tạo vệ sinh môi trường sống tại địa bàn cộng đồng trong việc phòng chống bệnh điển hình xuất hiện trong khu vực cộng đồng dân cư sinh sống
Như vậy các hoạt động KH&CN cũng như bản thân các cá nhân, tổ chức trong lĩnh vực y tế rất dễ bị ảnh hưởng bởi các yếu tố như các quy định của pháp luật, dư luận cộng đồng vì liên quan đến sức khỏe cộng đồng cũng như sức khỏe tính mạng của cá nhân người bệnh trong phạm vị cộng đồng sinh sống
Các nghiên cứu thường mất rất nhiều thời gian, công tác thử nghiệm, theo dõi tiến trình phát triển, mức độ đáp ứng thuốc của nghiên cứu thường rất khó khăn vì số lượng bệnh nhân lớn mới có thể đảm bảo độ chính xác và khả năng đáp ứng thuốc trên diện rộng mặt bệnh Vì vậy đương nhiên nghiên cứu can thiệp trên cộng đồng cũng đòi hỏi lượng đầu tư tài chính lớn
Trong hoạt động nghiên cứu và triển khai đặc biệt trong lĩnh vực y tế, nguy cơ sự cố hoặc rủi ro của nghiên cứu là rất lớn vì có liên quan đến tính mạng con người Đây cũng là rào cản lớn khiến các tổ chức KH&CN trong lĩnh vực y tế không dám mạnh dạn đưa nghiên cứu vào thử nghiệm lâm sàng
Trang 26một cách đại trà Còn các doanh nghiệp ở Việt Nam đa phần là doanh nghiệp nhỏ và vừa nên chưa đủ năng lực để mạo hiểm đầu tư vào lĩnh vực này
Mối liên kết hợp tác giữa bệnh viện và doanh nghiệp được hiểu như là những giao dịch, thỏa thuận, ký kết giữa bệnh viện và các doanh nghiệp vì lợi ích của cả hai bên Đẩy mạnh việc hợp tác này và khai thác giá trị của những kết quả NCKH có thể giúp bệnh viện tháo gỡ những khó khăn về tài chính trong việc triển khai NCKH và giúp các doanh nghiệp đạt được hoặc duy trì ưu thế cạnh tranh trong thị trường năng động ngày nay, đồng thời đóng góp cho sự tăng trưởng kinh tế của quốc gia và đáp ứng đòi hỏi, nhu cầu của thị trường
Có thể định nghĩa mối liên kết hợp tác giữa bệnh viện và doanh nghiệp
là tất cả mọi hình thức tương tác trực tiếp hay gián tiếp, có tính chất cá nhân hay tổ chức giữa bệnh viện và các doanh nghiệp nhằm hỗ trợ lẫn nhau vì lợi ích của cả hai: hợp tác trong nghiên cứu và phát triển, kích thích sự vận động năng động qua lại của các nhà chuyên môn, nghiên cứu viên đang làm việc tại bệnh viện và trong các doanh nghiệp nhằm đẩy mạnh việc thương mại hóa các kết quả nghiên cứu; xây dựng các chương trình nghiên cứu chuyên sâu…phù hợp với thực tiễn lâm sàng của bệnh nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng các phương tiện kỹ thuật trong chẩn đoán và điều trị bệnh
Phương tiện kỹ thuật phục vụ trong chẩn đoán và điều trị của ngành y
tế được hiểu là các phương tiện về trang thiết bị, dụng cụ y tế, dược, hóa chất, sinh phẩm, quy trình công nghệ, các kỹ thuật mới giúp cho chẩn đoán và điều trị khỏi bệnh, cải thiện chất lượng cuộc sống của người bệnh trong quá trình điều trị Nhưng trong phạm vị nghiên cứu của luận văn này, học viên đi sâu nghiên cứu về các phương tiện kỹ thuật được hợp tác liên kết nghiên cứu với các công ty dược phẩm nhằm mục đích nâng cao hiệu quả sử dụng các phương tiện kỹ thuật phục vụ cho công tác chẩn đoán và điều trị bệnh Bởi hầu hết các đề tài nghiên cứu KH&CN trong 4 năm (2014 – 2017) được nghiên cứu, đánh giá tại Bệnh viện Bệnh Nhiệt đới Trung ương chủ yếu là các
đề tài NCKH liên quan đến các sản phẩm về dược
Trang 27- Hiệu quả là khả năng tạo ra kết quả mong muốn hoặc khả năng sản xuất ra sản lượng mong muốn Khi cái gì đó được coi là có hiệu quả, nó có nghĩa là nó có một kết quả mong muốn hoặc mong đợi, hoặc tạo ra một ấn tượng sâu sắc, sinh động
Về mặt y học, hiệu quả sử dụng các phương tiện kỹ thuật phải liên quan đến việc chẩn đoán, điều trị bệnh giúp thể trạng người bệnh tốt hơn, cải thiện chất lượng sống của người bệnh trong giai đoạn điều trị bệnh khả quan hơn và khả năng đáp ứng với các phương tiện kỹ thuật trong quá trình chẩn đoán và điều trị đạt mức cao hơn những cách thông thường; hiệu quả sử dụng trong y học cũng được hiểu là tỷ lệ tử vong trong điều trị bệnh thấp, số ngày điều trị trung bình của bệnh càng được thu ngắn lại, số lần thay đổi phác đồ điều trị
và thay đổi thuốc ít hơn trước
- Hiệu quả sử dụng các phương tiện kỹ thuật được đánh giá trên khả năng, mức phù hợp khi sử dụng, tần suất sử dụng, tỉ lệ đáp ứng của các phương tiện kỹ thuật phục vụ cho chẩn đoán và điều trị bệnh đạt yêu cầu
- Hiệu quả sử dụng phương tiện kỹ thuật phản ánh trình độ khai thác,
sử dụng các phương tiện kỹ thuật vào hoạt động chẩn đoán và điều trị bệnh nhằm mục tiêu cải thiện tình trạng bệnh ở mức độ tối đa và tạo ra lợi ích về kinh tế đối với người sử dụng cũng như các doanh nghiệp Các doanh nghiệp đều cố gắng sao cho các phương tiện kỹ thuật dùng trong chẩn đoán và điều trị bệnh được đưa vào sử dụng hợp lý để kiếm lợi nhuận cao nhất đồng thời luôn tìm các nguồn tài trợ, mở rộng sản xuất kinh doanh cả về chất và lượng, đảm bảo các mục tiêu mà doanh nghiệp đề ra
- Tiêu chí đánh giá hiệu quả sử dụng các phương tiện kỹ thuật phục vụ chẩn đoán và điều trị bệnh cũng dựa trên tỷ lệ phần trăm mức độ đáp ứng của người bệnh, mức độ cải thiện tình trạng bệnh, khả năng biến chứng thấp nhất,
tỷ lệ tác dụng phụ khi sử dụng các phương tiện kỹ thuật trong chẩn đoán và điều trị bệnh thấp, tỷ lệ tử vong ở mức tối thiểu, số ngày điều trị bệnh giảm, chất lượng sống của người bệnh tốt hơn trước Đồng thời ta cũng có thể đánh giá hiệu quả sử dụng các phương tiện kỹ thuật dựa trên giá thành sản phẩm
Trang 28khi đưa vào thực tiễn so với giá thành của sản phẩm nhập ngoại và thu nhập bình quân của người dân
Bên cạnh việc nhìn nhận vào hiệu quả sử dụng các phương tiện kỹ thuật phục
vụ trong y tế thì việc đánh giá công nghệ y tế cũng được coi là một tiêu chí để đánh giá hiệu quả sử dụng phương tiện kỹ thuật trong ngành y Đánh giá công nghệ y tế có vai trò và ý nghĩa đặc biệt quan trọng bởi đây là lĩnh vực nghiên cứu, đánh giá các tác động của các công nghệ y tế, can thiệp y tế (bao gồm thuốc, vắc xin, quy trình y tế, thiết bị y tế, dịch vụ y tế và cả các can thiệp y tế công cộng) về nhiều khía cạnh như y học, xã hội học và kinh tế học… Mục tiêu chính của đánh giá công nghệ y tế là giúp các nhà hoạch định chính sách đưa ra quyết định lựa chọn và triển khai các công nghệ y tế, can thiệp y tế phù hợp nhất với điều kiện, hoàn cảnh cụ thể Ở nhiều quốc gia trên thế giới, đánh giá công nghệ y tế đã và đang được coi là công cụ quan trọng đối với quá trình xác định ưu tiên và phân bổ nguồn lực y tế, đặc biệt trong việc quyết định các công nghệ y tế nào được bảo hiểm y tế thanh toán Ở Việt Nam, trong bối cảnh các nguồn lực dành cho y tế ngày càng trở nên khan hiếm, đánh giá công nghệ y tế cần được phát triển và ứng dụng trong quá trình lập
kế hoạch, quản lý và hoạch định chính sách y tế Chiến lược quốc gia bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khỏe nhân dân giai đoạn 2011 - 2020, tầm nhìn đến năm 2030 (Ban hành kèm theo Quyết định số 122/QĐ-TTg ngày 10/01/2013)
đã nêu rõ là trong giai đoạn tới một trong các nhiệm vụ quan trong của hệ thống y tế là “Xây dựng các tiêu chuẩn và triển khai công tác đánh giá công nghệ y tế để xác định các can thiệp y tế có hiệu lực, hiệu quả, chi phí thấp, bảo đảm chất lượng dịch vụ y tế”
1.3 Các yếu tố tác động đến mối liên kết giữa bệnh viên và doanh nghiệp
1.3.1 Chính sách của Nhà nước
Đảng, Quốc hội, Chính phủ, Nhà nước ngày càng đề cao vai trò của công tác chăm sóc sức khỏe nhân dân đối với việc thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội, nâng cao chất lượng cuộc sống của nhân dân, đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước Nhiều chính sách của Đảng, Nhà
Trang 29nước đã xác định đầu tư cho sức khỏe là đầu tư trực tiếp cho phát triển bền vững của xã hội
Hệ thống pháp luật liên quan đến công tác y tế ngày càng được hoàn thiện; nhiều Luật, Nghị định của Chính phủ, Quyết định của Thủ tướng Chính phủ, Thông tư hướng dẫn của các Bộ đã được ban hành, tạo hành lang pháp lý
rõ ràng, minh bạch cho quá trình xây dựng và phát triển hệ thống y tế ngang tầm với khu vực và thế giới Các chính sách hỗ trợ y tế tuyến xã, huyện, chương trình mục tiêu quốc gia mới đã được triển khai mạnh mẽ trong những năm gần đây tạo môi trường thuận lợi để thực hiện công bằng trong chăm sóc sức khỏe và phát triển y tế ở nông thôn, vùng sâu, vùng xa Việc hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa đã tạo động lực cho việc đổi mới quản lý, nâng cao hiệu suất hoạt động của các bệnh viện công lập trên cả nước, đồng thời cũng tạo thuận lợi để phát triển hệ thống y tế tư nhân Bên cạnh đó, hệ thống bệnh viện công cũng dần phải đổi mới theo nhu cầu của thị trường Lấy người bệnh là trung tâm Khoảng cách về chính sách hoạt động, thái độ phục vụ, chăm sóc y tế trong bệnh viện công và bệnh viện
tư dần được rút ngắn Đổi mới đầu tư công theo hướng đa dạng hóa các hình thức đầu tư (BOT, BT, BO, PPP), tăng cường thu hút các nguồn vốn đầu tư ngoài nhà nước vào kết cấu hạ tầng Các chính sách cải cách, tự chủ trong hoạt động y tế đã tạo điều kiện thuận lợi hơn để các bệnh viện công lập nói chung và các hoạt động KH&CN nói riêng được mở rộng liên kết hợp tác Tuy nhiên hiện nay các văn bản pháp quy chủ yếu chỉ tập trung vào vấn đề tự chủ tài chính và còn nhiều rào cản trong thực tiễn chưa được quy định trong khung pháp lý nên mối liên hệ giữa tổ chức KH&CN trong bệnh viện với các doanh nghiệp vẫn chưa thực sự hiệu quả và chặt chẽ, chưa đáp ứng được nhu
cầu giữa các bên
1.3.2 Nhu cầu từ bệnh viện
Về phía bệnh viện, do thiếu điều kiện về trang thiết bị nghiên cứu, thiếu kinh phí để triển khai các ý tưởng khoa học, triển khai thực nghiệm, hoàn thiện công nghệ từ các đề tài nghiên cứu nên hoạt động nghiên cứu thường
Trang 30diễn ra rất khó khăn, nhiều khi thời gian nghiên cứu bị kéo dài do thiếu kinh phí, thủ tục hành chính để công nhận kết quả nghiên cứu mất nhiều thời gian nên khi kết quả được công nhận thì không đáp ứng kịp với tình hình thực tế, diễn biến của mặt bệnh Vì vậy, những kết quả nghiên cứu chưa được thương mại hóa, hoặc việc thương mại hóa kết quả nghiên cứu không đạt được như mong muốn
1.3.3 Nhu cầu từ doanh nghiệp
Về phía các doanh nghiệp do thiếu thông tin cập nhật về diễn biến lâm sàng thực tế và khả năng nghiên cứu của các nhà chuyên môn trong nước, thiếu
sự tin cậy đối với các sản phẩm còn mang tính "nghiên cứu", chưa được thử nghiệm nên chưa mạnh dạn đầu tư vào các hoạt động nghiên cứu trong bệnh viện, hoặc sợ rằng kết quả nghiên cứu không được công nhận hoặc thời gian công nhận bị kéo dài nên các doanh nghiệp thường chọn phương án nhập khẩu các sản phẩm đã được công nhận, đã được đưa vào ứng dụng ở nước ngoài, hoặc do các cơ quan tổ chức nước ngoài nghiên cứu, thử nghiệm và triển khai tại Việt Nam để bảo đảm, ít mạo hiểm và rủi ro hơn
1.4 Đặc điểm về liên kết hoạt động KH&CN của ngành y tế
1.4.1 Định hướng liên kết giữa bệnh viện và doanh nghiệp
Định hướng phát triển của bệnh viện phụ thuộc vào hoạt động chuyên khoa trên nền bệnh cảnh và diễn biến tình hình bệnh trong thời gian gần nhất
và sự dự đoán phát triển mặt bệnh trong tương lai Bên cạnh đó, xu hướng phát triển của các mặt bệnh cũng phần nào đặt ra cho bệnh viện có những định hướng phát triển phù hợp với thực tiễn trong từng giai đoạn, mà những định hướng này thì các doanh nghiệp bên ngoài ít khi nắm bắt được thông tin ngay từ đầu Phải đến khi triển khai, đề xuất trên tất cả các hoạt động chung của bệnh viện thì doanh nghiệp mới phần nào biết được nhưng cũng không thật sự sâu sắc và sát sao Trong khi đó các doanh nghiệp lại có những định hướng phát triển khác so với định hướng phát triển của ngành y tế nói chung
và của từng bệnh viện nói riêng Doanh nghiệp chỉ quan tâm làm sao đẩy mạnh được doanh số bán hàng, tiếp thị những sản phẩm mới đến các bệnh
Trang 31viện, cơ sở y tế với những hiệu quả ứng dụng đã được công nhận trên thế giới chứ cũng không cần biết có phù hợp với mặt bệnh hiện có tại Việt Nam hay không Chính bởi vậy mà khi xuất hiện những mặt bệnh mới, những bệnh tái nổi hoặc bệnh kết hợp với những bệnh cảnh khác, các bệnh viện chuyên khoa đều phải nghiên cứu và kiểm soát lại các trang thiết bị, dược phẩm, hóa chất sinh phẩm xét nghiệm, thuốc xem có thể dùng để chẩn đoán và điều trị bệnh hay không để từ đó xây dựng nên cách thức chẩn đoán bệnh, phác đồ điều trị mới phù hợp với mặt bệnh hiện có
1.4.2 Chính sách thúc đẩy sự liên kết giữa bệnh viện và doanh nghiệp
Hiện nay, Việt Nam vẫn chưa có chính sách rõ ràng để thúc đẩy sự liên kết giữa bệnh viện và các doanh nghiệp Sự liên kết này chủ yếu là do nhu cầu thị trường từ phía người bệnh đang điều trị tại bệnh viện Cả bệnh viện và doanh nghiệp đều dựa trên cùng một đối tượng khách hàng là những người bệnh Hai tổ chức này có mối liên quan, hỗ trợ qua lại với nhau trên cùng đối tượng khách hàng và nằm dưới sự quản lý chung của Nhà nước Nhưng Nhà nước lại có những quy định ràng buộc khiến cho mối liên kết này bị cản trở, gặp nhiều khó khăn Chính vì thế để có thể thúc đẩy được mối liên kết này phát triển thì Nhà nước cần có chính sách hoạt động rõ ràng, tạo điều kiện để bệnh viện cũng như các doanh nghiệp có thể liên kết với nhau chặt chẽ hơn, ràng buộc lợi ích nhiều hơn trong nghiên cứu KH&CN
1.4.3 Rủi ro khi liên kết giữa bệnh viện và các doanh nghiệp
Đó là do sự ràng buộc về các mặt lợi ích và trách nhiệm của hai bên còn lỏng lẻo nên mức độ rủi ro sẽ cao hơn Bệnh viện liên kết với các doanh nghiệp nhằm mục đích mua các trang thiết bị y tế, công nghệ, dược phẩm, sinh phẩm y tế để phục vụ cho hoạt động chuyên môn của bệnh viện hay cũng như tận dụng mối liên kết này để phần nào tìm được nguồn kinh phí hỗ trợ cho các hoạt động NCKH trong bệnh viện Các doanh nghiệp dựa vào bệnh viện để phân phối, tiêu thụ các sản phẩm, mặt hàng mà doanh nghiệp có Chính vì mối quan hệ giữa cung và cầu này mà tưởng chừng như là mối quan
hệ khăng khít nhưng lại cũng rất lỏng lẻo Bởi hiện nay với nền kinh tế mở,
Trang 32cạnh tranh nên bệnh viện cũng có nhiều sự lựa chọn khác nhau với nhiều tính năng sử dụng, mức giá khác nhau Chính vì thế mà mỗi doanh nghiệp đều có những thế mạnh riêng của mình để giữ vững được vị trí thế mạnh trong môi trường cạnh tranh ngày nay
Để có thể tạo sự liên kết chặt chẽ, hiệu quả giữa tổ chức KH&CN trong bệnh viện với các doanh nghiệp thì năng lực quản lý của Ban lãnh đạo bệnh viện cũng như tổ chức KH&CN trong bệnh viện phải tốt, nhanh nhạy và có sự đầu tư quan tâm để có thể vừa đảm bảo cân bằng giữa lợi ích của các bên liên quan vừa đảm bảo nhiệm vụ chuyên môn, đồng thời nâng cao được chất lượng hoạt động chuyên môn của bệnh viện cũng như đem lại lợi ích cho người dân trong công tác chăm sóc và bảo vệ sức khỏe nhân dân
2 Mối liên kết giữa bệnh viện và doanh nghiệp
3 Các yếu tố tác động đến mối liên kết giữa bệnh viện và doanh nghiệp
Trang 332.1 Hiện trạng mối liên kết giữa các doanh nghiệp trong ngành y tế
Từ trước đến nay, thực trạng Nhà nước phải chi hàng nghìn tỷ đồng mỗi năm cho hoạt động NCKH trong ngành y tế nói riêng và cho hoạt động NCKH nói chung, nhưng rất ít kết quả nghiên cứu được ứng dụng vào sản xuất hay trở thành sản phẩm thương mại trên thị trường Đây thực sự vẫn là niềm trăn trở của những người làm quản lý KH&CN và người làm nghiên cứu KHCN chân chính Các doanh nghiệp và các tổ chức KH&CN trong bệnh viện chưa có được mối liên kết đáng ra cần phải có
Trong khi các tổ chức KH&CN trong bệnh viện phải loay hoay đi kêu gọi, tìm kiếm các doanh nghiệp hỗ trợ kinh phí, trang thiết bị kỹ thuật cho các hoạt động nghiên cứu thì cũng không ít doanh nghiệp cũng đang phải vật lộn
đi tiếp thị bên ngoài thị trường những sản phẩm KH&CN được nhập khẩu ở nước ngoài để được đưa vào sử dụng Trong khi đó có cả những sản phẩm có khả năng sản xuất ngay tại trong nước hoặc đang được nghiên cứu với những tính năng, hiệu quả ưu việt hơn cả những sản phẩm nhập khẩu Chính bởi vậy, nhiều lúc các tổ chức KH&CN trong bệnh viện thường bị thiếu kinh phí hoàn thiện các sản phẩm nên đã chậm một nhịp so với guồng quay thương mại; nhà
Trang 34doanh nghiệp thì lại chưa đủ tin tưởng vào năng lực nghiên cứu của các tổ chức KH&CN trong bệnh viện nên chưa mạnh dạn hợp tác đầu tư, mạo hiểm liên kết nghiên cứu Chính vì vậy mà các doanh nghiệp thường chủ yếu nhập khẩu những công nghệ, sản phẩm y dược, trang thiết bị y tế thuộc tầm trung
và tầm thấp từ bên ngoài về hoặc nhập khẩu từ những nước phát triển chậm hơn so với các cường quốc đi đầu trong phát triển KH&CN trong lĩnh vực y
tế, hoặc mua lại những kết quả nghiên cứu hết thời hạn bảo hộ để sản xuất
So sánh từ kinh nghiệm của các nước có nền KH&CN phát triển và Việt Nam, các chuyên gia đã chỉ ra một trong những hạn chế dẫn đến thực trạng kể trên là do Việt Nam đang rất thiếu các tổ chức trung gian làm vai trò cầu nối, kết nối, điều tiết và hài hòa nhu cầu, lợi ích giữa cung và cầu trong nghiên cứu, triển khai KH&CN Đó là các trung tâm chuyển giao công nghệ,
mô hình vườn ươm KH&CN để hỗ trợ nhà khoa học hoàn thiện các sản phẩm, dịch vụ của mình để có thể thương mại hóa, định giá công nghệ, kết nối với doanh nghiệp và kết nối các bài toán nhằm giải quyết các vấn đề trong sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp tới các nhà khoa học
Những nghiên cứu nhằm tìm ra các biện pháp thúc đẩy thương mại hoá kết quả R&D ở Việt Nam bắt đầu được Viện Chiến lược và Chính sách KH&CN nghiên cứu từ khá sớm, từ khi bắt đầu manh nha hình thành lực lượng doanh nghiệp công nghệ vào đầu những năm 2000
Với tiến trình hội nhập trong giai đoạn mới Việt Nam đã mở rộng quan
hệ hợp tác kinh tế đối ngoại với nhiều quốc gia phát triển trên thế giới Tiếp nối những thành quả hội nhập đầy tự hào, sau khi gia nhập WTO vào tháng 1/2007, Việt Nam đã đẩy nhanh tiến trình đàm phán để đi đến hoàn thành và chuẩn bị ký kết 6 hiệp định FTA tiếp theo trong năm 2015, bao gồm Hiệp định Đối tác kinh tế xuyên Thái Bình Dương (TPP) Thực tiễn này mở ra một loạt vấn đề cụ thể về chính sách thương mại hóa kết quả nghiên cứu cho các nhà nghiên cứu trong nước
Thương mại hóa kết quả nghiên cứu: Mô hình kinh doanh quan trọng
hơn sản phẩm (Báo điện tử Vietnambiz ngày 18/8/2018 – Ngọc Vũ) đã chỉ ra ở
Trang 35Việt Nam còn thiếu sự kết hợp giữa nhà khoa học và người bán hàng Nhà khoa học vô cùng vất vả để nghiên cứu ra một sản phẩm tốt nhưng rồi không biết làm thế nào để bán được hàng
Để việc nghiên cứu và kinh doanh trở thành một chuỗi liên kết thì mô hình kinh doanh, mô hình liên kết hợp tác nghiên cứu theo nhu cầu thị trường còn quan trọng hơn sản phẩm nghiên cứu đơn thuần theo khoa học Người bán hàng sẽ hỗ trợ nhà khoa học đánh trúng tâm lý người tiêu dùng Ngược lại, nhà khoa học cũng phải đặt mình vào địa vị nhà thương mại Nhiều nhà khoa học cho rằng mình không có kỹ năng bán hàng và phó thác việc bán hàng cho bộ phận kinh doanh Phải nghĩ rằng, nếu sản phẩm của mình mà chính mình không thuyết phục được người mua thì có thể bán được cho ai? Một người hiểu sản phẩm lại hiểu tâm lý khách hàng sẽ có cách khớp được quy trình đưa sản phẩm từ phòng thí nghiệm ra thị trường
Trong khi có hàng loạt kết quả NCKH công nghệ được cất vào tủ, thì các doanh nghiệp đang đau đáu đi tìm những công trình nghiên cứu có thể biến thành sản phẩm mang lại giá trị cho cộng đồng Cuộc trốn tìm này đã tồn
tại nhiều năm nay (Thương mại hóa kết quả NCKH công nghệ: Giải bài toán
“trốn tìm”, Báo Doanhnhansaigon.vn 21/11/2018 – Phương Thanh)
Để giải bài toán “trốn tìm” này không chỉ là trách nhiệm của các đơn vị nghiên cứu, không chỉ của doanh nghiệp, và không riêng của cơ quan chức năng, mà phải là một sự phối hợp toàn diện từ tất cả các bên Nói cách khác, cần một sự hợp tác để xây dựng mối quan hệ chặt chẽ giữa 3 nhà: Nhà nước - nhà doanh nghiệp - nhà khoa học Đó cũng là "công thức" phát triển mang tính quốc tế
Trên thực tế, ở Việt Nam, việc chuyển đổi những kết quả NCKH công nghệ trở thành những sản phẩm có thể thương mại hóa còn rất gian nan Quá trình này được ví như việc vượt qua một “thung lũng tử thần” Khái quát hóa thách thức của quá trình này gọi là ba lỗ hổng: (1) Lỗ hổng khám phá công nghệ; (2) Lỗ hổng thương mại hóa; và (3) Lỗ hổng thành lập doanh nghiệp khởi nghiệp sáng tạo
Trang 36Để phát triển một công nghệ cần khắc phục ba lỗ hổng sau mới có thể tiếp cận được thị trường thương mại
Lỗ hổng khám phá công nghệ cản trở việc đánh giá tính khả thi thương mại của những khám phá khoa học tiên tiến Để khắc phục được lỗ hổng này, các tổ chức KH&CN cần chuyển đổi các khái niệm và thuật ngữ khoa học thành ngôn ngữ thông thường, chứng minh khái niệm và phát triển các nguyên mẫu sẵn sàng tung ra thị trường cũng như nghiên cứu các bằng sáng chế có liên quan Việc thúc đẩy các tổ chức KH&CN tiết lộ và thương mại hoá những khám phá của họ cũng là một thách thức đối với nhiều doanh nghiệp do một loạt các yếu tố nghề nghiệp, tổ chức và văn hóa
Lỗ hổng thương mại hóa nằm giữa một cơ hội kinh doanh khả thi và một doanh nghiệp sẵn sàng nhận đầu tư Để khắc phục được lỗ hổng này, các
tổ chức nghiên cứu KH&CN cần phát triển một chính sách để tạo ra giá trị, xây dựng một mô hình kinh doanh có thể nắm bắt được một phần giá trị đó và xác định thị trường mục tiêu Các công nghệ được tổ chức KH&CN nghiên cứu phát triển ở giai đoạn đầu ít khi có sẵn các yếu tố trên, tạo ra một lỗ hổng thương mại hóa giữa các nhà sáng chế và doanh nhân khởi nghiệp
Cuối cùng, việc khởi động một doanh nghiệp khởi nghiệp sáng tạo tại một tổ chức KH&CN tạo ra một loạt các thách thức liên quan đến việc thành lập và tài trợ của doanh nghiệp Lỗ hổng thành lập doanh nghiệp khởi nghiệp sáng tạo chỉ có thể được khắc phục khi quyền sở hữu công nghệ được bảo hộ, một đội ngũ quản lý dày dặn kinh nghiệm cam kết khởi nghiệp và nguồn tài trợ hạt giống được bảo đảm Nếu không có tất cả ba yếu tố trên, các nhà đầu
tư chuyên nghiệp sẽ không thể cam kết tài trợ cho sự ra đời của doanh nghiệp khởi nghiệp
Thúc đẩy hoạt động khai thác, thương mại hóa kết quả nghiên cứu cho Việt Nam (tạp chí KH&CN Việt Nam, ngày cập nhật 20/09/2013) bài viết đưa
ra giải pháp kết nối giữa 3 nhà trong việc thương mại hóa kết quả nghiên cứu cho Việt Nam bao gồm: nhà nghiên cứu, nhà nước và nhà doanh nghiệp Nhà nghiên cứu trong các tổ chức KH&CN và nhà doanh nghiệp cần phải có tiếng
Trang 37nói chung trong quá trình thực hiện các công trình nghiên cứu sao cho mục đích nghiên cứu gắn liền với những nhu cầu hiện tại của người tiêu dùng Nhà nước đứng ra với vai trò điều tiết vĩ mô và có những hỗ trợ cần thiết cho nhà nghiên cứu cũng như nhà doanh nghiệp để đưa kết quả nghiên cứu vào áp
dụng trong thực tế
Thương mại hóa kết quả NCKH: Con đường đau khổ (tạp chí Tia sáng
ngày cập nhật 11/12/2014) bài viết nêu ra thực trạng số lượng kết quả nghiên cứu của Việt Nam được ứng dụng vào trong thực tế, bên cạnh đó tác giả đưa
ra những dẫn chứng trong thực tế để chứng minh cho việc chuyển kết quả nghiên cứu thành sản phẩm là một con đường đau khổ Bên cạnh việc thiếu những chính sách hỗ trợ thì chính việc nghiên cứu thiếu định hướng thị trường cũng là một nguyên nhân sâu xa dẫn tới những kết quả nghiên cứu sau khi được nghiệm thu thì sẽ không được mấy người quan tâm
Chính sách nhà nước thúc đẩy thương mại hóa KQNC khoa học và phát triển công nghệ sử dụng ngân sách nhà nước” (Nguyễn Quang
Tuấn (tập 3, số 3, 2014), Tạp chí Chính sách và Quản lý KH&CN) Tác giả đề cập đến một số chính sách cơ bản thúc đẩy hoạt động thương mại hóa kết quả nghiên cứu chưa đi sâu vào việc định hướng thị trường kéo Các chính sách đưa ra mặc dù có tính khoa học tuy nhiên chưa phù hợp với tình hình hiện tại của Việt Nam
Vấn đề chính sách thương mại hóa kết quả nghiên cứu cũng được một
số luận văn thạc sỹ quản lý KH&CN đề cập đến, đó là: Vũ Ngọc Dương (2012), Chính sách phát triển công nghệ theo hướng thị trường kéo nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh cho các doanh nghiệp nhỏ và vừa (nghiên cứu trường hợp các doanh nghiệp sản xuất công nghệ nhỏ và vừa tỉnh Hải Dương); Đào Trường Giang, (2013), Chính sách đổi mới công nghệ theo hướng thị trường kéo nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh cho các doanh nghiệp viễn thông (nghiên cứu trường hợp GTEL, Bộ Công An); Đào Việt Hà (2010), Thực hành chính sách thị trường kéo kích thích nhu cầu đổi mới công nghệ ở các doanh nghiệp công nghiệp (nghiên cứu trường hợp nhóm ngành
Trang 38dệt tỉnh Nam Định); Lê Thị Hải Yến (2015), Nghiên cứu giải pháp chính sách thúc đẩy thương mại hóa kết quả nghiên cứu của các viện trong lĩnh vực cơ điện nông nghiệp” ; Phạm Nguyệt Minh (2015), Nhận diện rào cản trong hoạt động thương mại hóa kết quả nghiên cứu tại Viện Hàn lâm KH&CN Việt Nam Các luận văn thạc sĩ nêu trên đã phần nào chỉ ra vai trò của việc thương mại hóa kết quả R&D theo định hướng thị trường kéo, tuy nhiên phạm vi xem xét nghiên cứu mới chỉ dừng lại ở các doanh nghiệp nhỏ và vừa, hoặc trong lĩnh vực một ngành, một địa phương, một tổ chức nghiên cứu
Như vậy, có thể thấy rằng hiện nay các kết quả nghiên cứu chưa đi vào đời sống thực tế là bao trong khi đó thì chúng ta vẫn đang phải bỏ rất nhiều kinh phí để mua công nghệ của nước ngoài về sử dụng Đây cũng là lỗ hổng
“chảy máu chất xám” mà các nhà quản lý trăn trở nhiều và đang dần từng bước tháo gỡ Chính vì thế việc xây dựng mô hình liên kết giữa các tổ chức KH&CN với các doanh nghiệp nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng các phương tiện kỹ thuật là hết sức cần thiết Bởi chỉ có sự liên kết chặt chẽ mới tạo điều kiện thuận lợi, rút ngắn khoảng cách giữa các nhà nghiên cứu với các doanh nghiệp
2.2 Đánh giá thực trạng liên kết giữa bệnh viện và các doanh nghiệp trong ngành y tế Việt Nam
Môi trường của các doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực y tế là vô cùng cạnh tranh và đòi hỏi sự phát triển liên tục, không ngừng Chúng ta hiện đang ở trong ‘nền kinh tế y tế mới’, khi mà áp lực về giá thuốc, chất lượng thuốc, các kết quả nghiên cứu khoa học trong y khoa đang đòi hỏi ngày một cao, nhu cầu chăm sóc sức khỏe trên toàn cầu, cùng với khả năng kỹ thuật số
và phân tích đang thúc đẩy ngành này tới một môi trường sinh thái mới định hình bởi sự hợp tác, chất lượng và giá trị của người tiêu dùng
Sự thay đổi này đòi hỏi một phương pháp tiếp cận chiến lược; phương pháp có thể giúp các tổ chức KH&CN trong bệnh viện và doanh nghiệp hiểu được xu hướng thị trường, và xây dựng mô hình liên kết phù hợp với sự phát
Trang 39triển chung của xu thế xã hội tạo lợi ích tối đa cho cả tổ chức KH&CN trong bệnh viện và doanh nghiệp
Những năm qua ngành y tế đã tập trung đầu tư hơn cho các hoạt động nghiên cứu nhưng trên thực tế hoạt động nghiên cứu ở các bệnh viện chỉ dưới hình thức làm để đăng ký thi đua, hô hào cho có, chỉ một số ít nghiên cứu mang tính ứng dụng và có khả năng triển khai áp dụng vào thực tế Hoạt động NCKH trong bệnh viện vẫn có nhưng chưa thực sự chất lượng và chưa đáp ứng được nhu cầu phát triển Nhiều công nghệ mới trong nghiên cứu của bệnh viện mới chỉ dừng lại ở việc sử dụng thành quả nghiên cứu có được từ các đề tài nghiên cứu khác ở nước ngoài hoặc chỉ là một số cải tiến cho phù hợp với thực tế của việc sử dụng nghiên cứu khác chứ chưa phải là một kết quả nghiên cứu mới trong quá trình nghiên cứu, cải tiến Việc thúc đẩy hoạt động NCKH trong các bệnh viện tuyến trung ương đã vậy thì đối với các bệnh viện tuyến tỉnh, trung tâm y tế huyện xã thì hoạt động NCKH chỉ mang tính hình thức cho có
Để tìm hiểu nguyên nhân dẫn đến thực chất ít có đề tài nghiên cứu được hình thành và triển khai từ trung tâm y tế tuyến dưới, tác giả Luận văn
đã tiến hành phỏng vấn sâu và thu được kết quả như sau:
- Thứ nhất là nhân lực làm NCKH còn hạn chế về trình độ
chuyên môn: đối với các trung tâm y tế tuyến huyện, xã trình độ chuyên môn của đội ngũ bác sĩ, điều dưỡng còn rất thấp bởi việc trau dồi kiến thức không được làm thường xuyên Mà trong lĩnh vực y khoa thì kiến thức cần phải thường xuyên được cập nhật và thực hành liên tục thì mới đảm bảo được tay nghề và đáp ứng được với sự tiến triển của bệnh
- Thứ hai là hạn chế về cơ sở vật chất: Tại các trung tâm y tế
huyện, xã để được trang bị những trang thiết bị tối thiểu phục vụ cho công tác chăm sóc sức khỏe ban đầu đã là rất khó khăn huống chi là các trang thiết bị, công nghệ hiện đại
Trang 40- Thứ ba là hạn chế trong việc tiếp cận thường xuyên với các mặt
bệnh, nhiều loại bệnh khác nhau là rất ít Bởi do số lượng bệnh nhân ở tuyến đầu thường ít và không tập trung trên một mặt bệnh nên việc tiếp cận thường xuyên với sự đa dạng các mặt bệnh là không nhiều, không phong phú và đa dạng Chính bởi vậy mà cán bộ làm công tác chuyên môn sẽ khó nhận định, chẩn đoán được bệnh
- Thứ tư là hạn chế về nguồn cung cấp thuốc, sinh phẩm, hóa
chất dùng cho chẩn đoán và điều trị bệnh ban đầu là rất hạn chế bởi Bộ Y tế và Vụ Bảo hiểm y tế có quy định về việc sử dụng và phân loại thuốc sử dụng đối với các cơ sở y tế tuyến đầu và tuyến sau Chính bởi vậy mà các bệnh viện, trung tâm y tế tuyến đầu chỉ được sử dụng những loại thuốc ít đặc hiệu, loại thuốc cơ bản nhất, phổ biến nhất để điều trị
(Nguồn: kết quả phỏng vấn của tác giả Luận văn)
Với những hạn chế trên có thể thấy rằng để thúc đẩy hoạt động NCKH tại các bệnh viện tuyến tỉnh và trung tâm y tế huyện xã dường như là không thể thực hiện được
2.3 Hiện trạng về hoạt động khoa học và công nghệ của Bệnh viện Bệnh Nhiệt đới Trung ương
2.3.1 Giới thiệu chung về Bệnh viện Bệnh Nhiệt đới Trung ương
Bệnh viện Bệnh Nhiệt đới Trung ương được hình thành trên tiền thân là Nhà thương Cống Vọng (1911) Nhà thương Cống Vọng được xây dựng để dành cho điều trị những bệnh nhân mắc bệnh truyền nhiễm, lây lan trong khu vực Bệnh viện là một cơ sở thực hành của Trường Y khoa Đông Dương (nơi đào tạo các y sĩ Đông Dương)
Đến năm 1945 xảy ra cuộc đảo chính Nhật – Pháp, bệnh viện được đổi tên thành Hospital René Robin à Bach Mai và sau này đổi tên thành Bệnh viện Bạch Mai Năm 1954 thủ đô Hà Nội được hoàn toàn giải phóng Mọi cơ quan công sở đều có các đoàn cán bộ từ căn cứ kháng chiến trở về tiếp quản Lúc