1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Kết nối nguồn lực dựa vào cộng đồng nhằm hỗ trợ người nghèo tìm kiếm việc làm (ứng dụng tại phường Hồng Hải, thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh

125 115 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 125
Dung lượng 1,6 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Luận văn đã khái quát thực trạng nghèo của các hộ nghèo trên địa bàn phường Hồng Hải. Trên cơ sở đó xác định nhu cầu được hỗ trợ tìm kiếm việc làm của người nghèo và các nguồn lực hỗ trợ tại địa phương. Qua đó ứng dụng thực nghiệm một mô hình kết nối nguồn lực dựa vào cộng đồng nhằm hỗ trợ người nghèo tìm kiếm việc làm

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

==================

ĐẶNG HỮU DŨNG

KẾT NỐI NGUỒN LỰC DỰA VÀO CỘNG ĐỒNG

NHẰM HỖ TRỢ NGƯỜI NGHÈO TÌM KIẾM VIỆC LÀM

(ỨNG DỤNG TẠI PHƯỜNG HỒNG HẢI, THÀNH PHỐ HẠ LONG,

TỈNH QUẢNG NINH)

LUẬN VĂN THẠC SĨ CÔNG TÁC XÃ HỘI

Hà Nội – 2018

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

==================

ĐẶNG HỮU DŨNG

KẾT NỐI NGUỒN LỰC DỰA VÀO CỘNG ĐỒNG

NHẰM HỖ TRỢ NGƯỜI NGHÈO TÌM KIẾM VIỆC LÀM

(ỨNG DỤNG TẠI PHƯỜNG HỒNG HẢI, THÀNH PHỐ HẠ LONG,

TỈNH QUẢNG NINH)

LUẬN VĂN THẠC SĨ CÔNG TÁC XÃ HỘI

Chuyên ngành: Công tác xã hội

Mã số : 60.90.01.01

NGƯỜI HƯỚNG DẪN: PGS.TS TRỊNH VĂN TÙNG

Hà Nội – 2018

Trang 3

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

1 Lý do chọn đề tài 1

2 Tổng quan về tình hình nghiên cứu 2

3 Ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiễn của đề tài 10

4 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu 11

5 Đối tượng, khách thể và phạm vi nghiên cứu 11

6 Câu hỏi nghiên cứu và giả thuyết nghiên cứu 12

7 Phương pháp nghiên cứu 12

8 Bố cục của luận văn 13

CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ NGHIÊN CỨU KẾT NỐI HỖ TRỢ TÌM KIẾM VIỆC LÀM CHO NGƯỜI NGHÈO 14

1.1 Các khái niệm công cụ chính của đề tài 14

1.1.1 Cộng đồng và dựa vào cộng đồng 14

1.1.2 Nghèo 17

1.1.3 Việc làm và tìm kiếm việc làm 20

1.1.4 Nguồn lực hỗ trợ tìm kiếm việc làm: 22

1.1.5 Kết nối nguồn lực dựa vào cộng đồng trong hỗ trợ tìm kiếm việc làm 23

1.2 Một vài lý thuyết được ứng dụng trong nghiên cứu 26

1.2.1.Lý thuyết hệ thống sinh thái 26

1.2.2.Lý thuyết nhu cầu 27

1.3 Quan điểm chính của Nhà nước về hỗ trợ việc làm cho người nghèo và Chuẩn nghèo đa chiều của Việt Nam hiện nay (Quyết định QĐ số 59/2015 ngày 19 tháng 11 năm 2015 của Thủ tướng Chính phủ) 29

1.3.1 Quan điểm chính của Nhà nước về hỗ trợ việc làm cho người nghèo hiện nay 31

1.3.2 Chuẩn nghèo đa chiều của Việt Nam hiện nay 33

Trang 4

CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG NGHÈO, THỰC TRẠNG ĐỜI SÔNG, NHU CẦU VIỆC LÀM CỦA NGƯỜI NGHÈO VÀ NGUỒN LỰC HỖ TRỢ NGƯỜI NGHÈO TRONG TÌM KIẾM VIỆC LÀM TẠI PHƯỜNG HỒNG HẢI, THÀNH PHỐ HẠ LONG, TỈNH QUẢNG NINH 37

2.1 Đặc điểm của phường Hồng Hải, thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh 37

2.1.1 Đặc điểm địa lý 37 2.1.2 Đặc điểm kinh tế - xã hội 37

2.2 Thực trạng nghèo và thực trạng đời sống của các hộ nghèo tại phường Hồng Hải từ năm 2016 đến nay 40

2.2.1 Cơ cấu xã hội của người nghèo tại phường Hồng Hải từ 2016 đến nay 40 2.2.2 Đời sống của các hộ nghèo tại phường Hồng Hải theo chuẩn nghèo

đa chiều hiện nay 47 2.2.3 Nhu cầu được hỗ trợ tìm kiếm việc làm của người nghèo 49 2.2.4 Các nguồn lực hỗ trợ 54

CHƯƠNG 3: ỨNG DỤNG MÔ HÌNH CÔNG TÁC XÃ HỘI DỰA VÀO CỘNG ĐỒNG TRONG KẾT NỐI HỖ TRỢ TÌM KIẾM VIỆC LÀM CHO NGƯỜI NGHÈO PHƯỜNG HỒNG HẢI, THÀNH PHỐ HẠ LONG, TỈNH QUẢNG NINH 62

3.1 Mô hình dựa vào cộng đồng theo lý thuyết hệ thống sinh thái 62 3.2 Xác định nan đề của một nhóm thân chủ làm thực nghiệm hỗ trợ 63 3.3 Xác định nguồn lực của cộng đồng trong việc hỗ trợ nhóm thực nghiệm 65 3.4 Kế hoạch hỗ trợ tìm kiếm việc làm cho nhóm thực nghiệm dựa vào cộng đồng 71 3.5 Thực hiện kế hoạch hỗ trợ tìm kiếm việc làm cho nhóm thực nghiệm dựa vào cộng đồng 79 3.6 Kết thúc, lượng giá và chuyển giao 83

KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 87 TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Trang 5

DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT

Hội LHPN Hội Liên hiệp Phụ nữ

Trang 6

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Việt Nam đã và đang trải qua những thay đổi quan trọng về kinh tế - xã hội Có thể khẳng định rằng, chất lượng cuộc sống của người dân Việt Nam đã được cải thiện đáng kể, Việt Nam đã đạt được nhiều thành quả tiến bộ, quan trọng trong công cuộc xóa đói giảm nghèo, bảo đảm an sinh xã hội Tuy nhiên, trong quá trình vận động phát triển xã hội, bao giờ cũng có hai mặt tích cực và tiêu cực Những mặt không mong muốn là sự phân hoá giàu nghèo ngày càng gay gắt đã khiến cuộc sống của những người nghèo ngày càng khó khăn và xa cách với một xã hội phát triển Nghèo đói là một trong những vấn đề xã hội mang tính toàn cầu và nhận được sự quan tâm đặc biệt của không chỉ từng quốc gia riêng lẻ mà trên phạm vi toàn thế giới, bởi nghèo đói có tác động tiêu cực đến đời sống của người dân, an sinh xã hội và phát triển bền vững của xã hội Công tác xóa đói giảm nghèo trên toàn thế giới trong những năm gần đây đã đạt được nhiều thành tựu đáng kể, tuy nhiên tình trạng nghèo đói và phân hóa giàu nghèo vẫn còn tồn tại và ảnh hưởng rất nhiều đến chất lượng đời sống của nhiều

bộ phận dân cư các khu vực, các quốc gia và nhiều vùng miền trong từng nước

Việt Nam công cuộc đổi mới được triển khai từ năm 1986 đã tạo ra một bước ngoặt đối với công cuộc xóa đói giảm nghèo trên phạm vi cả nước, đặc biệt là các vùng nông thôn và vùng dân tộc thiểu số Từ một nước nghèo, sau 30 năm thực hiện công cuộc đổi mới, Việt Nam đã căn bản xóa được đói, giảm được nghèo, làm thay đổi bộ mặt kinh tế - xã hội và văn hóa của các vùng, các địa phương, tạo công ăn việc làm, tăng thu nhập cho hàng triệu hộ gia đình, tạo

ra sự bình đẳng trong tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản, từng bước thiết lập hệ thống an sinh xã hội và hưởng thụ các giá trị văn hóa ngày một tốt hơn

Chương trình giảm nghèo bền vững trong những năm gần đây đã đạt được kết quả đáng ghi nhận và đạt được mục tiêu đã đề ra Năm 2011 tỷ lệ hộ nghèo là 11,76%; năm 2012 là 9,6%; năm 2013 là 7,8%; năm 2014; cuối năm

2015 còn dưới 5% Tuy nhiên, công cuộc xóa đói giảm nghèo ở nước ta vẫn

Trang 7

chưa thực sự bền vững, tỷ lệ hộ tái nghèo, phát sinh nghèo cũng như tỷ lệ hộ cận nghèo vẫn còn rất cao và không có sự đồng đều giữa các vùng, các địa phương tạo nên một tương lai ít triển vọng về giảm nghèo ở nước ta trong những năm gần đây

Để công cuộc xóa đói giảm nghèo đạt hiệu quả hơn và mang tính bền vững đòi hỏi phải có sự kết hợp của rất nhiều yếu tố: đổi mới hệ thống chính sách, xây dựng các chương trình giảm nghèo phù hợp với từng vùng, từng địa phương Điều quan trọng hơn là công tác xã hội phải được coi trọng, được vận dụng hiệu quả vào xóa đói giảm nghèo, vì dù đã có chủ trương, chính sách đúng đắn, nhưng hoạt động công tác xã hội không hiệu quả, cũng chưa hẳn tạo nên sự thay đổi tích cực trong nhận thức của người dân, của cộng đồng về xóa đói giảm nghèo

Quảng Ninh đã có một số nghiên cứu về vấn đề liên quan đến xóa đói giảm nghèo và phát triển cộng đồng, tuy nhiên chưa có nghiên cứu nào đề cập đến kết nối nguồn lực nhằm tìm kiếm việc làm cho người nghèo Tin rằng kết nối nguồn lực dựa vào cộng đồng sẽ giải quyết những nhu cầu việc làm vượt ngoài tầm giúp đỡ của các cách hỗ trợ truyền thống, hơn thế nữa việc trợ giúp người nghèo tìm kiếm việc làm là vô cùng thực tế và nhân văn

Từ những lý do trên, tôi quyết định lựa chọn vấn đề “Kết nối nguồn lực

dựa vào cộng đồng nhằm hỗ trợ người nghèo tìm kiếm việc làm (ứng dụng tại

phường Hồng Hải, thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh)” với mong muốn sẽ

mang đến góc nhìn mới về XĐGN với vai trò kết nối nguồn lực trong cộng đồng dưới góc nhìn của CTXH và góp phần thúc đẩy giảm nghèo một cách bền vững tại địa phương

2 Tổng quan về tình hình nghiên cứu

2.1 Tình hình nghiên cứu trên thế giới

2.1.1 Tình hình nghiên cứu trên thế giới liên quan đến công tác xã hội trong việc kết nối nguồn lực dựa vào cộng đồng

Xoá đói giảm nghèo và vai trò của nhân viên công tác xã hội: Trong thực

tế tất cả các nơi trên thế giới, những người làm công tác xã hội lo ngại về đói

Trang 8

nghèo đã tăng lên, những nguồn lực thiếu, nguyên nhân của việc đẩy con người vào đói nghèo Ở cấp vi mô của thực hành hàng ngày, các nhân viên xã hội làm việc để đối phó với đói nghèo cùng với việc đánh giá rủi ro, làm việc một cách sáng tạo và sáng tạo để giúp người dân (cá nhân và cộng đồng) hiểu tình hình của họ và thay đổi hành vi và môi trường của họ Một vai trò quan trọng là phát triển cộng đồng, đòi hỏi kỹ năng phân tích cộng đồng, lập kế hoạch xã hội, tổ chức cộng đồng và hoạt động xã hội Phát triển cộng đồng đòi hỏi khả năng để thúc đẩy các cơ hội kinh tế cho người dân khu vực thông qua việc duy trì công nghiệp, phát triển doanh nghiệp địa phương, đào tạo việc làm Vai trò khác là cộng đồng thực hành giúp mọi người khám phá nguồn tài nguyên riêng của họ

và khả năng của mình để tạo ra ảnh hưởng và thay đổi tích cực Tầm quan trọng của điều này đã được nhấn mạnh bằng cách nhận ra rằng nghèo đói liên quan đến một tập hợp phức tạp của các tương tác giữa các đặc điểm cá nhân và một nguồn lực của cộng đồng và các cơ hội Vào những khó khăn, nhân viên xã hội đánh giá về rủi ro của các cá nhân và họ phải sử dụng khả năng và ảnh hưởng của họ để bảo vệ các nạn nhân của đói nghèo từ bản thân hoặc từ những người khác Ví dụ như tình trạng bạo lực gia đình, lạm dụng trẻ em hoặc sức khỏe tâm thần Nhân viên xã hội làm việc với những người nghèo đói và chứng kiến hành

vi của họ thay đổi tầm quan trọng của việc tích hợp lý thuyết về các giá trị chuyên nghiệp mà mọi người tôn trọng, sự lựa chọn và quyết định của mình Trong phương pháp này, cộng đồng thực hành kết hợp làm việc với các cá nhân

và gia đình có công việc cộng đồng, tập trung vào nguồn lực và cơ hội tăng cường cùng với năng lực cá nhân và cá nhân phát triển ra các nguyên nhân nghèo đói của họ Đó là điều cần thiết cho xóa đói giảm nghèo hiệu quả [59]

Công tác xã hội và xóa đói giảm nghèo: Được nghiên cứu tại Umuebu –

Nigeria: Các quan điểm và tiếng nói của các nhân viên xã hội ít khi tìm thấy trong việc lập kế hoạch và thực hiện chương trình xoá đói chứng minh các quan điểm

và tiếng nói của các nhân viên xã hội có thể đóng góp cho các chương trình giảm nghèo thành công ở Nigeria Xóa đói giảm nghèo là một trong những thách thức

Trang 9

của Ngân hàng Thế giới và một trong những mục tiêu của các Mục tiêu Phát triển Thiên niên kỷ Nghiên cứu này là một nguồn kiến thức cho các nhà hoạch định chính sách ở Nigeria, Ngân hàng Thế giới và cộng đồng quốc tế về những lợi ích của việc kết hợp các quan điểm và tiếng nói của các nhân viên xã hội trong việc lập

kế hoạch và thực hiện các chương trình xóa đói giảm nghèo

Christian Morrisson (2003), Bức tranh nghèo khổ trên thế giới: Trong phần

đầu bài viết, tác giả phân tích sự nhầm lẫn trong sử dụng thuật ngữ nghèo

“tương đối” (thuật ngữ dùng ở các nước phát triển) và nghèo “tuyệt đối” (thuật ngữ được áp dụng cho các nước xã hội chủ nghĩa trước đây và các nước đang phát triển) Khái niệm nghèo tuyệt đối chỉ tình trạng không có khả năng thỏa mãn những nhu cầu thiết yếu về ăn, mặc, ở và khám chữa bệnh Trong khi đó, tình trạng nghèo tương đối lại là một chỉ số về bất bình đẳng: một số người sẽ

bị coi là nghèo khi người đó không có được những vật dụng mà đại đa số các thành viên khác của cộng đồng có Như vậy ở một nước giàu, khi một người nào đó không mua được cả ô tô lẫn máy thu hình thì sẽ bị coi là bị thua thiệt, thế nhưng những vật dụng này lại không phải là thiết yếu để đảm bảo sự sống, và theo định nghĩa nghèo tuyệt đối thì con người đó không hề nghèo Để tránh tình trạng lẫn lộn này, theo tác giả, nên dùng khái niệm thua thiệt thay cho khái niệm nghèo tương đối và dùng khái niệm đói nghèo thay cho khái niệm nghèo tuyệt đối ở một nước giàu Khi một cá nhân không có nhiều tài sản có giá trị như 80% hoặc 90% hộ gia đình khác, thì anh ta sẽ cảm thấy bị thua thiệt Nhưng

cá nhân này không hề “nghèo”, vì chỉ cần 15% của mức thu nhập trung bình ở nơi đó đã đủ để chi cho những nhu cầu thiết yếu của con người Ngược lại, một

số người lang thang cơ nhỡ hoặc một gia đình có con suy dinh dưỡng thì sẽ thuộc diện nghèo Trong nghiên cứu tác giả cũng chỉ ra sự khác nhau về bức tranh nghèo khổ giữa những nước đang phát triển, những nước có nền kinh tế đang chuyển đổi, và những nước phát triển, đồng thời cũng phân tích rõ những nguyên nhân và chính sách xóa đói giảm nghèo ở 3 nhóm nước này Từ đó để cácquốc gia cần nhận thức rõ được về thực trạng đói nghèo và các yếu tố gây ra

Trang 10

nghèo đói của nước mình để từ đó hoạch định những chính sách cho phù hợp [4]

Nhìn chung những nghiên cứu trên đã đạt được những kết quả góp phần đáng kể cho lĩnh vực nghiên cứu về xóa đói giảm nghèo và vai trò của công tác

xã hội trong xóa đói giảm nghèo Thứ nhất, các nghiên cứu này phần lớn là nghiên cứu ứng dụng, nhằm mục đích tìm hiểu để đề xuất những can thiệp, hỗ trợ tốt hơn trong công tác xóa đói giảm nghèo Thứ hai, các nghiên cứu này đã đưa ra những phát hiện và những khó khăn trong thực hiện Thứ ba, các nghiên cứu này cũng đưa ra những đề xuất cho việc giải quyết và tăng cường hiệu quả công tác xóa đói giảm nghèo

2.1.2 Tình hình nghiên cứu trên thế giới liên quan đến công tác xã hội trong hỗ trợ tìm kiếm việc làm cho người nghèo

Mục tiêu và phổ quát trong việc giảm nghèo: Trong phần lớn lịch sử của

nó, chính sách xã hội có liên quan đến việc liệu các nguyên tắc cốt lõi đằng sau cung cấp xã hội sẽ được "phổ quát", hoặc chọn lọc thông qua "mục tiêu" Theo phổ quát, toàn bộ dân là người thụ hưởng các lợi ích xã hội như là một quyền cơ bản, trong khi đang nhắm mục tiêu, đủ điều kiện cho lợi ích xã hội liên quan đến một số loại phương tiện thử nghiệm để xác định "thật sự xứng đáng" Các chính sách là hầu như không bao giờ hoàn toàn phổ quát hay hoàn toàn dựa trên mục tiêu Tuy nhiên, nó có xu hướng nằm đâu đó giữa hai khía cạnh trên Nó có thể được quyết định trong chính cơ hội trong cuộc sống của

cá nhân và trong việc mô tả trật tự xã hội (T Mkandawire, 2005) Bài viết này được chia thành hai phần Trong phần đầu tiên, Thandika Mkandawire thảo luận về các lực lượng đằng sau sự chuyển đổi từ phổ quát đối với chọn lọc trong việc sử dụng chính sách xã hội để chống lại đói nghèo ở các nước đang phát triển Trong phần thứ hai, một đánh giá của các bài học từ chính sách như vậy, ông cho rằng những khó khăn hành chính nhắm mục tiêu vào các nước nghèo, các cơ sở kinh tế chính trị của các lựa chọn chính sách, và các hậu quả của việc lựa chọn chính sách khuyến khích cá nhân Mkandawire đặc

Trang 11

biệt chú trọng hiệu quả chi phí, bởi vì những người ủng hộ của chọn lọc trong cuộc chiến chống đói nghèo nâng cao nó như là đối số chính trong lợi của mình [62]

Vai trò của quỹ tín dụng trong xóa đói giảm nghèo: Nghiên cứu của RemenyiJoe, Benjamin Quinones đã chứng minh được mức tăng thu nhập từ những hộ được nhận được tín dụng nhỏ cao hơn những nhóm hộ đối chứng (nhóm không vay) Ở Indonesia, mức tăng thu nhập trung bình hàng năm của những hộ có vay tăng lên 12,9% so với mức tăng 3% của nhóm đối chứng Tương tự như vậy, ở Bangladesh mức tăng thu nhập trung bình năm của nhóm vay là 29,3% trong khi nhóm đối chứng là 22%, ở Sri Lanka là 15,6% so với nhóm đối chứng là 9% Kết quả nghiên cứu ở Ấn Độ cũng cho kết quả tương tự mức tăng thu nhập trung bình năm của nhóm vay là 46% trong khi nhóm không vay mức tăng thu nhập trung bình năm chỉ tăng 24% [63]

2.2 Tình hình nghiên cứu tại Việt Nam

2.2.1 Tình hình nghiên cứu tại Việt Nam liên quan đến công tác xã hội trong kết nối nguồn lực dựa vào cộng đồng

Phát triển Cộng đồng – Lý thuyết và vận dụng( 2000): Là điểm nhấn quan

trọng về lý luận phát triển cộng đồng ở Việt Nam của hai tác giả Tô Duy Hợp

và Lương Hồng Quang Đã tổng kết các lý thuyết về cộng đồng và phát triển cộng đồng , đồng thời đưa ra quan điểm mới về phát triển cộng đồng trên cơ sở tổng kết các thành tựu nghiên cứu trong nước và quốc tế Hai tác giả cũng đã vận dụng lý thuyết phát triển cộng đồng vào điều kiện thực tế của Việt Nam Qua cuốn sách này, các phương pháp phát triển cộng đồng, huy động sự tham gia của người dân cũng được thiết lập trên cơ sở gắn trực tiếp với các dự án cụ thể, qua đó cộng đồng được nhìn nhận với một nhãn quan tích cực và thân thiện hơn trên cơ sở họ là trung tâm của sự phát triển[40]

Bài viết Phát triển cộng đồng: Phương pháp quan trọng của CTXH trong xoá đói giảm nghèo, của tác giả Phan Huy Đường (2010) Bài viết nói về phát triển cộng đồng là một phương pháp của công tác xã hội được xây dựng trên

Trang 12

những nguyên lý, nguyên tắc và giả định của nhiều ngành khoa học xã hội khác như: Tâm lý xã hội, xã hội học, chính trị học, nhân chủng học…, được áp dụng

ở nhiều nước và đã phát huy vai trò trong việc giải quyết các vấn đề của các nhóm cộng đồng nghèo, các nhóm yếu thế trong thời gian qua Đó là phương pháp giải quyết một số vấn đề khó khăn, đáp ứng nhu cầu của cộng đồng, hướng tới sự phát triển không ngừng về đời sống vật chất và tinh thần của người dân thông qua việc nâng cao năng lực, tăng cường sự tham gia, đoàn kết, phối hợp chặt chẽ giữa người dân với nhau, giữa người dân với các tổ chức và giữa các tổ chức với nhau trong phạm vi một cộng đồng [3]

Đói nghèo và bất bình đẳng ở Việt Nam: Trong bài viết này đánh giá dựa trên các yếu tố về khí hậu, nông nghiệp và không gian để đánh giá tình hình nghèo đói và sự bất bình đẳng ở Việt Nam [59]

Vấn đề nghèo ở Việt Nam: Trong tác phẩm này đã đưa ra những vấn đề chung nhất về tình hình nghèo đói ở Việt Nam, những tác động của nghèo đói lên đời sống dân cư và an sinh của xã hội Những khía cạnh, những vấn đề của nghèo đói [1]

2.2.2 Tình hình nghiên cứu tại Việt Nam liên quan đến công tác xã hội trong hỗ trợ tìm kiếm việc làm cho người nghèo

Báo cáo “Giảm nghèo ở Việt Nam: Thành tựu và thách thức” (2011) do

nhóm nghiên cứu thuộc Viện Khoa học xã hội Việt Nam bao gồm Nguyễn Thắng (trưởng nhóm) cùng các đồng sự Nguyễn Thị Thu Phương, Trần Ngô

Minh Tâm, Lê Đặng Trung, và Nguyễn Thị Thu Hằng thực hiện Thứ nhất,

báo cáo đã chỉ ra những thành tựu ấn tượng trong giảm nghèo của Việt Nam trong hai thập kỷ qua song tiến độ không đồng đều và chưa bền vững giữa các nhóm dân cư và vùng miền Từ đó, tác giả nhận định cần có các chính sách tinh tế hơn, trong đó tính đến đặc thù của từng nhóm dân cư để đạt hiệu quả

cao trong giảm nghèo và giúp đất nước tránh được “bẫy bất bình đẳng” Thứ hai, nghiên cứu đã phân tích những cơ hội và thách thức khi Việt Nam gia

nhập Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO), đánh giá những tác động của nó

Trang 13

đến nghèo đói và bất bình đẳng Thứ ba, các tác giả đã chỉ ra những thách

thức trong công tác giảm nghèo đối với nhóm đồng bào dân tộc thiểu số, tình trạng nghèo ở đô thị, xu hướng gia tăng tình trạng bất bình đẳng trong xã hội

và vấn đề biến đổi khí hậu mà con người phải đối mặt nếu vấn đề nghèo đói chưa được giải quyết hoặc giải quyết không hiệu quả, bền vững[58]

Nghèo đói và xóa đói giảm nghèo ở Việt Nam: Công trình của Ts Lê

Xuân Bá và các đồng nghiệp đã được viết thành sách Vấn đề xóa đói giảm nghèo luôn gắn bó và chịu ảnh hưởng của quan hệ giai cấp và các chế độ xã hội khác nhau Trong tác phẩm này tác giả đã đưa ra được những cái nhìn chung nhất, tổng quát nhất về tình hình nghèo đói và công tác xóa đói giảm nghèo ở Việt Nam Nghèo đói được nhìn nhận và đánh giá ở nhiều mức độ khác nhau Cũng trong tác phẩm này, công tác xóa đói giảm nghèo cũng được nhìn nhận dưới nhiều khía cạnh và góc độ khác nhau Bên cạnh việc đánh giá tình hình chung, tác phẩm còn đưa ra một số giải pháp để nâng cao hiệu quả giảm nghèo bền vững [14]

Vấn đề xoá đói, giảm nghèo ở nông thôn nước ta hiện nay: Tác phẩm

đánh giá được tình hình nghèo đói của nông thôn Việt Nam sau 3 năm dỡ bỏ cấm vận, nền kinh tế có bước chuyển động đầu tiên nhưng tỷ lệ hộ nghèo ở nông thôn Việt Nam vẫn còn cao Qua đi sâu nghiên cứu tình hình nghèo đói ở nông thôn, tác giả đã chỉ ra những khó khăn cũng như những biện pháp thực hiện xóa đói giảm nghèo trong điều kiện hiện tại[18]

Phạm Quý Thọ với bài “ Thực trạng giảm nghèo ở Việt Nam ” đăng trên

Tạp chí kinh tế và phát triển số 95 tháng 5/2005 Nội dung của bài viết xoay quanh vấn đề ở Việt Nam hộ nghèo còn nhiều và tập trung chủ yếu ở nông thân,

số hộ cận kề chuẩn nghèo còn đông và mức độ nghèo còn khá nghiêm trọng, để giảm nghèo là một quá trình thường xuyên, liên tục, cần khắc phục những tồn tại, yếu kém chủ quan, đồng thời xác định và giải quyết những khó khăn, thách thức, trước mắt và lâu dài Các giải pháp giảm nghèo cần hướng tới giảm nghèo bền vững trên cơ sở sự vận động của chính các hộ nghèo và trách nhiệm của

Trang 14

Nghiên cứu “ An sinh xã hội và nghèo đói đối với sự phát triển, phát triển bền vững của các tộc người thiểu số” (trường hợp người Khmer Nam

Bộ) của tác giả Ngô Văn Lệ (2012) Đề tài nghiên cứu tập trung vào mối liên

hệ tương tác giữa những đặc điểm lịch sử xã hội và đói nghèo đối với phát triển và phát triển bền vững ở các tộc người thiểu số Nguyên nhân nghèo đói của người dân tộc Khmer Nam Bộ là do quá trình di cư diễn ra lâu dài

và sống chủ yếu bằng nông nghiệp có điều kiện khó khăn về kinh tế Do trình độ học vấn thấp, trình độ sản xuất thấp còn mang tính tự cung tự cấp, thiếu diện tích đất canh tác.Vấn đề giải quyết nghèo đói ở đồng bào dân tộc thiểu số là một quá trình,lâu dài và khó khăn, không chỉ đối với những nước đang phát triển, mà cả những nước phát triển Xóa đói giảm nghèo cần phát triển về giáo dục trong đó học vấn là một biến độc lập tương quan với vấn đề nghèo đói vì vậy cần nâng cao dân trí góp phần phát triển nguồn nhân lực Trình độ học vấn thấp ảnh hưởng đến khả năng di động xã hội, tiếp cận khoa học kỹ thuật, tiếp cận thông tin, trí thức [23, tr19-25]

Như vậy, vấn đề XĐGN là một trong những vấn đề được quan tâm đặc biệt không chỉ đối với các nhà nghiên cứu, các nhà xã hội học trong những đề tài, bài viết, mà chủ đề này luôn được đông đảo người dân quan tâm, là sợi chỉ xuyên suốt trong quá trình phát triển của xã hội cũng như nâng cao chất lượng cuộc sống của chính người dân, nhất là người nghèo Những công trình nghiên cứu kể trên đã làm rõ những vấn đề lý luận về phát triển kinh tế - xã hội, nghèo đói và XĐGN; bản chất và nguyên nhân những hạn chế, chỉ ra những giải pháp

Trang 15

XĐGN; vai trò của nguồn lực, cách thức để sử dụng có hiệu quả các nguồn lực

đó Kết nối nguồn lực có rất nhiều nghiên cứu như trong kinh tế học, tâm lý học

xã hội và xã hội học Đó là những nghiên cứu về lồng ghép giới trong xóa đói giảm nghèo, nghiên cứu xã hội học về giới; Phụ nữ nghèo v.v Những kết qủa này là cơ sở lý luận và thực tiễn quan trọng để tôi có thể lĩnh hội được kinh nghiệm, một số kết quả thực tiễn có liên quan đến vấn đề nghèo đói và XĐGN Thế nhưng nghiên cứu để dựa vào cộng đồng nhằm hỗ trợ người dân giảm

nghèo, tạo việc làm thì chưa phải là nhiều Do đó, với đề tài: “Kết nối nguồn

lực dựa vào cộng đồng nhằm hỗ trợ người nghèo tìm kiếm việc làm (ứng dụng

tại phường Hồng Hải, thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh)” tôi mong muốn

chỉ ra thực trạng sử dụng các nguồn lực, thực trạng hỗ trợ người nghèo tại phường Hồng Hải, nguyên nhân nghèo, nguyện vọng trong quá trình giảm nghèo của các hộ nghèo tại phường Hồng Hải và đưa ra giải pháp phù hợp nhằm đưa công tác XĐGN trên địa bàn xã đạt được hiệu quả bền vững

3.Ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiễn của đề tài

3.1 Ý nghĩa khoa học

Đề tài nghiên cứu giúp cho việc ứng dụng một số lý thuyết của xã hội học, tâm lý học và đặc biệt là công tác xã hội vào quá trình nghiên cứu và thực hành Cụ thể đề tài vận dụng những kiến thức chuyên ngành về công tác xã hội như hệ thống các lý thuyết, các phương pháp, kỹ năng, đặc biệt là lý thuyết về

phát triển cộng đồng nhằm đề xuất các hoạt động “liên kết nguồn lực dựa vào cộng đồng nhằm hỗ trợ người nghèo tìm kiếm việc làm” góp phần thực hiện vai

trò của công tác xã hội trong công tác xóa đói giảm nghèo

3.2 Ý nghĩa thực tiễn

Kết quả nghiên cứu giúp cho chính quyền, gia đình, cộng đồng biết được thực trạng đói nghèo, cũng như nhu cầu tìm kiếm việc làm của những hộ nghèo trên địa bàn phường Hồng Hải, thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh

Đối với những hộ gia đình nghèo: Kết quả nghiên cứu giúp cho các gia đình nghèo ở phường Hồng Hải nhận được nhiều sự quan tâm hơn nữa của cộng

Trang 16

đồng, các cấp chính quyền, các doanh nghiệp, tổ chức cả về vật chất lẫn tinh thần để họ có đủ điều kiện để có thể tự tìm kiếm việc làm, vươn lên, ổn định cuộc sống Góp phần vào công cuộc XĐGN chung của đất nước

Đối với chính quyền địa phương phường Hồng Hải nói riêng, và toàn thành phố Hạ Long nói chung: đề xuất thêm một số nhóm biện pháp nhằm hỗ trợ người dân giảm nghèo, có công ăn việc làm, ổn định cuộc sống

4.Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu

a Mục đích nghiên cứu

Nghiên cứu tìm ra cách thức để liên kết các hệ thống nguồn lực trong cộng đồng nhằm hỗ trợ các hộ gia đình nghèo phường Hồng Hải, thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh tìm kiếm việc làm, góp phần vào công tác XĐGN tại địa phương

b Nhiệm vụ nghiên cứu

Mô tả thực trạng nghèo đói của người dân tại phường Hồng Hải, thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh

Xác định nhu cầu tìm kiếm việc làm của các hộ nghèo trong quá trình giảm nghèo

Nhận diện các hệ thống nguồn lực hiện có trong cộng đồng có khả năng

hỗ trợ cho người nghèo tìm kiếm việc làm

Đề xuất hoạt động liên kết các hệ thống nguồn lực dựa vào cộng đồng nhằm hỗ trợ người nghèo tìm kiếm việc làm

5 Đối tƣợng, khách thể và phạm vi nghiên cứu

a Đối tượng nghiên cứu

- Đối tượng nghiên cứu can thiệp của luận văn là hoạt động kết nối

nguồn lực dựa vào cộng đồng nhằm tìm kiếm việc làm

b Khách thể nghiên cứu

- Những hộ nghèo tại địa bàn phường Hồng Hải, thành phố Hạ Long, tỉnh

Quảng Ninh

Trang 17

- Cán bộ, chính quyền, đoàn thể phường Hồng Hải, thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh

- Những cá nhân và tổ chức có tiềm năng cung cấp, kết nối, tạo dựng việc làm cho người nghèo

- Nghiên cứu về vai trò của kết nối nguồn lực dựa vào cộng đồng nhằm

hỗ trợ việc làm; nghiên cứu thực tiễn về tình hình người nghèo tại địa phương cũng như hoạt động phát triển cộng đồng hướng tới đối tượng nghèo tại địa phương; tìm hiểu những thông tin khoa học và thực tế về lao động việc làm tại địa phương

6 Câu hỏi nghiên cứu và giả thuyết nghiên cứu

a Câu hỏi nghiên cứu can thiệp

- Thực trạng đời sống của người nghèo và thực trạng tìm kiếm việc làm của họ hiện nay như thế nào?

- Trong quá trình tìm kiếm việc làm, người nghèo thất nghiệp có những nhu cầu được hỗ trợ gì?

- Cộng đồng phường Hồng Hải- Thành Phố Hạ Long có những nguồn lực

gì để hỗ trợ người nghèo tìm kiếm việc làm? Làm thế nào để kết nối các nguồn lực đó?

b Giả thuyết nghiên cứu

- Giả thuyết 1: Thực trạng tại địa phương đang thiếu hụt những hỗ trợ tìm kiếm việc làm cho người nghèo trong độ tuổi lao động

- Giả thuyết 2: Nhu cầu của người nghèo trong độ tuổi lao động để được kết nối nguồn lực dựa vào cộng đồng nhằm tìm kiếm việc làm đang ở mức cao

7 Phương pháp nghiên cứu

Trang 18

Trong đề tài nghiên cứu này, phương pháp nghiên cứu chính được sử dụng là phương pháp phân tích tài liệu, phương pháp quan sát, phương pháp phỏng vấn sâu

+ Phương pháp phân tích tài liệu: Phân tích thông tin, số liệu từ các báo cáo, ấn phẩm, tài liệu liên quan đến lĩnh vực phát triển cộng đồng, xóa đói giảm nghèo và lao động việc làm

+ Phương pháp quan sát: Quan sát các hoạt động làm kinh tế của người nghèo; những biểu hiện về nhu cầu việc làm của người nghèo; những yếu tố kết nối nguồn lực cộng đồng với mục đích tạo việc làm cho người nghèo

+ Phương pháp phỏng vấn sâu: Nhằm tìm hiểu sâu thêm một số thông tin

mà các phương pháp trên chưa thể khai thác được

8 Bố cục của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, phụ lục, luận văn gồm 3 chương:

Chương 1 Cơ sở lý luận về kết nối nguồn lực dựa vào cộng đồng nhằm

hỗ trợ người nghèo tìm kiếm việc làm

Chương 2 Thực trạng nghèo, thực trạng đời sống, nhu cầu việc làm của người nghèo và nguồn lực hỗ trợ người nghèo trong tìm kiếm việc làm tại phường Hồng Hải, thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh

Chương 3 Ứng dụng mô hình công tác xã hội dựa vào cộng đồng trong kết nối hỗ trợ tìm kiếm việc làm cho người nghèo phường Hồng Hải, thành phố

Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh

Trang 19

CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ NGHIÊN CỨU KẾT NỐI HỖ TRỢ

TÌM KIẾM VIỆC LÀM CHO NGƯỜI NGHÈO

1.1 Các khái niệm công cụ chính của đề tài

1.1.1 Cộng đồng và dựa vào cộng đồng

1.1.1.1 Cộng đồng:

Khái niệm cộng đồng rất mở và phong phú, ít khi bị giới hạn bởi địa lý Đây là một khái niệm rất quan trọng, cần được hiểu rõ trước khi sử dụng cách thức tiếp cận dựa vào cộng đồng để xây dựng kế hoạch hỗ trợ cho nhóm đối tượng Có một số định nghĩa khác nhau về cộng đồng như sau:

Theo tác giả Tô Duy Hợp “Cộng đồng là một thực thể xã hội có cơ cấu tổ chức (chặt chẽ hoặc không chặt chẽ), là một nhóm người cùng chia sẻ và chịu rằng buộc bởi các đặc điểm và lợi ích chung được thiết lập thông qua tương tác

và trao đổi giữa các thành viên”[40, tr 25]

Theo Từ điển tiếng Anh của trường đại học OXFORD, cộng đồng là: 1)

Tập thể người sống trong cùng một khu vực, một tỉnh hoặc một quốc gia và được

xem như một khối tương đối đồng nhất; 2) Một nhóm người có cùng tín ngưỡng, cùng chủng tộc, cùng loại hình nghề nghiệp…hoặc cùng các mối quan tâm; 3) Là

một tập thể cùng chia sẻ, hoặc có tài nguyên chung, hoặc có tình trạng tương tự

nhau về một khía cạnh nào đó;4) (từ kỹ thuật) Là một nhóm động vật hoặc thực

vật sống mọc lên trong cùng một khu vực[54]

Theo tác giả Trịnh Văn Tùng thì “Cộng đồng là một nhóm người có sự liên

hệ chặt chẽ với nhau, có nhiều thuộc tính giống nhau tạo thành bản sắc Cộng đồng ấy không nhất thiết cùng sống trong một đơn vị hành chính lãnh thổ Họ cùng nhau chia sẻ những mối quan tâm về những vấn đề cụ thể (thiếu hụt chức năng xã hội, bị kì thị, bị loại trừ xã hội, khó khăn trong việc tiếp cận các nguồn lực đồng thời có nghĩa vụ và trách nhiệm chung” [38]

Có nhiều khái niệm khác nhau về cộng đồng, nhưng tựu chung, khái niệm này bao hàm những tiêu chí chính sau:

+ Đơn vị hành chính, lãnh thổ

Trang 20

+ Sự liên hệ lẫn nhau, chia sẻ nền tảng chung (văn hóa, tôn giáo, chủng tộc…)

+ Chia sẻ mối quan tâm chung về những vấn đề cụ thể (nghèo đói, tệ nạn xã hội, trẻ em lao động sớm, chăm sóc sức khoẻ bà mẹ và trẻ em, ô nhiễm môi trường, khan hiếm nguồn nước, thất học, bệnh tật…)

+ Nghĩa vụ và trách nhiệm

Vậy, cộng đồng chính là tập hợp những người cùng sống và hoạt động trong một môi trường tương đồng nhất định như cùng khu vực địa lý, có chung đặc điểm tâm lý, tình cảm gắn bó, hệ giá trị chuẩn mực, điều kiện sống Cộng đồng bao gồm các tổ chức xã hội được thiết lập bởi chính cộng đồng để đại diện cho quan điểm và hoạt động của họ

Do đề tài chỉ tập trung trong phạm vi một Phường Hồng Hải nên khái niệm cộng đồng được giới hạn ở nghĩa cộng đồng phường/xã nên được hiểu là một nhóm cư dân sinh sống trong một thực thể xã hội, trong một địa vực nhất định,

có cơ cấu tổ chức chặt chẽ và có có cùng đặc điểm, nguồn tài nguyên, cùng

nhau chia sẻ mối quan tâm chung, cùng một giá trị cơ bản Cộng đồng ở đây nó

bao hàm các quan hệ xã hội, các tính chất xã hội như quan hệ hàng xóm láng giềng, tình cảm khối phố, dãy phố, khu tập thể

1.1.1.2 Dựa vào cộng đồng

Từ khái niệm cộng đồng, chúng ta đi tìm hiểu khái niệm dựa vào cộng đồng Vậy dựa vào cộng đồng là gì? Nhân viên công tác xã hội lấy cộng đồng làm trung tâm, tức là áp dụng triệt để nguyên tắc trao quyền cho cộng đồng, giúp cộng đồng nhìn nhận và sử dụng nguồn lực của chính mình một cách hiệu quả nhất để giải quyết một vấn đề chung Dựa vào các nguyên tắc của phát triển cộng đồng để nhấn mạnh các nguyên tắc sau:

Thứ nhất, Dựa vào cộng đồng tức là phát triển cộng đồng phải là phát triển tổng thể, tức là không loại bỏ bất kỳ khía cạnh nào: Kinh tế, văn hóa, xã hội, chính trị…

Thứ hai, Dựa vào cộng đồng tức là sự huy động nguồn lực của chính cộng

Trang 21

đồng đó, sự tham gia của cộng đồng thì càng đông càng tốt Cộng đồng phải là những người chủ động nắm lấy quyền hành động của mình Trong trường hợp này, dựa vào cộng đồng là trao quyền cho cộng đồng Nhân viên công tác xã hội chỉ có vai trò hỗ trợ, xúc tác

Dựa vào cộng đồng là tìm kiếm sự hỗ trợ những nguồn lực sẵn có bao gồm chính quyền địa phương, y tế cộng đồng, hàng xóm, gia đình và bản thân người

nghèo là chính [7, tr.14]

Từ khái niệm cộng đồng, tác giả tìm hiểu khái niệm dựa vào cộng đồng

Dựa vào cộng đồng là nhân viên CTXH lấy cộng đồng làm trung tâm, tức là áp dụng triệt để các nguyên tắc trao quyền cho cộng đồng, giúp cộng đồng nhìn nhận và sử dụng nguồn lực của chính mình một cách hiệu qủa nhất để giải

Thứ hai, dựa vào cộng đồng tức là sự huy động nguồn lực từ chính cộng đồng đó, sự tham gia cộng đồng thì càng đông càng tốt Cộng đồng phải là những người chủ động nắm lấy quyền hành động của mình Trong trường hợp này, dựa vào cộng đồng là trao quyền cho cộng đồng Nhân viên CTXH chỉ có vai trò xúc tác, hỗ trợ

Như vậy, tại địa bàn nghiên cứu để dựa vào cộng đồng chính là dựa vào các tiểu hệ thống mà đặc biệt là tiểu hệ thống người nghèo phải là những người đầu tiên và xuyên suốt hành động

Như vậy trong nghiên cứu này, dựa vào cộng đồng được hiểu là sự huy động nguồn lực của chính cộng đồng đó, sự tham gia của cộng đồng trong việc

hỗ trợ người dân giảm nghèo, trợ giúp người nghèo tạo dựng việc làm, ổn định cuộc sống vươn lên thoát nghèo…

Trang 22

Từ những khái niệm như “kết nối nguồn lực”, “Dựa vào cộng đồng”, chúng tôi xin đưa ra khái niệm “Kết nối nguồn lực dựa vào cộng đồng” trong khuôn khổ luận văn này như sau: “Kết nối nguồn lực dựa vào cộng đồng là những hành động kết nối các loại nguồn lực vốn đang rời rạc tại cộng đồng thành một thể thống nhất

có sự tương tác, và hỗ trợ lẫn nhau như xây dựng các mô hình hoạt động cụ thể trong những trường hợp cụ thể nhằm một mục tiêu nhất định, cụ thể trong khuôn khổ luận văn này là nhằm mục tiêu hỗ trợ người dân giảm nghèo

1.1.2 Nghèo

1.1.2.1 Khái niệm nghèo

Theo định nghĩa của Tổ chức Y tế Thế giới thì “Nghèo diễn tả sự thiếu cơ hội để có thể sống một cuộc sống tương ứng với các tiêu chuẩn tối thiểu nhất định Thước đo các tiêu chuẩn này và nguyên nhân dẫn đến nghèo đói thay đổi theo địa phương và theo thời gian”[28] Theo đó một người là nghèo khi

thu nhập hàng năm ít hơn một nửa mức thu nhập bình quân trên đầu người hàng

năm (PCI) của quốc gia

Theo Ngân hàng phát triển Châu Á (ADB), năm 1999: “Nghèo là tình trạng thiếu những tài sản cơ bản và cơ hội mà mỗi con người có quyền được hưởng”[33] Việt Nam thừa nhận định nghĩa chung về đói nghèo của Hội nghị

chống đói nghèo khu vực Châu Á - Thái Bình Dương do ESCAP tổ chức tại

Băng Cốc, Thái Lan tháng 9 năm 1993:“Nghèo là tình trạng một bộ phận dân

cư không được hưởng và thỏa mãn các nhu cầu cơ bản của con người mà những nhu cầu này đã được xã hội thừa nhận tuỳ theo trình độ phát triển kinh tế

- xã hội và phong tục tập quán của địa phương”[2, tr 1]

Để có được một cái nhìn tổng quan hơn về các vấn đề nghèo đói, Robert McNamara khi còn là giám đốc của Ngân hàng Thế giới đã đưa ra khái niệm nghèo tuyệt đối và nghèo trương đối:

- “Nghèo tuyệt đối: Là sống ở ranh giới ngoài cùng của tồn tại Những người nghèo tuyệt đối là những người phải đấu tranh để sinh tồn trong các thiếu thốn tồi tệ và trong tình trạng bỏ bê và mất phẩm cách vượt qua sức tưởng tượng

Trang 23

mang dấu ấn của cảnh ngộ may mắn”[50, tr 2]

- “Nghèo tương đối có thể xem như là việc cung cấp không đầy đủ các tiềm lực vật chất và phi vật chất cho những người thuộc về một số tầng lớp nhất định so với sự sung túc của xã hội đó”[50, tr 2]

- Với cách định nghĩa như trên có thể nhận thấy khái niệm nghèo đói tương đối phát triển theo thời gian và không gian tuỳ theo sự phát triển của xã hội

- Nghèo đói thường xuất hiện do tình trạng kém phát triển hoặc phát triển không đồng đều giữa các thành phần kinh tế, các vùng miền, đồng thời do chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của đất nước không chú ý đến nguyên nhân gây

ra nghèo đói Do đó nghèo đói thường liên quan mật thiết với quá trình tăng trưởng kinh tế và công bằng xã hội

Như vậy trong luận văn này tác giả sử dụng quan niệm nghèo của Việt Nam vào trong nghiên cứu của mình Tóm lại, nghèo là tình trạng thiếu thốn ở nhiều phương diện như: thu nhập hạn chế hoặc thiếu cơ hội tạo thu nhập, thiếu tài sản

để đảm bảo tiêu dùng những lúc khó khăn và dễ bị tổn thương trước những đột biến, ít được tham gia vào quá trình ra quyết định

1.1.2.2 Khái niệm hộ nghèo

Hộ nghèo là tình trạng của một số hộ gia đình chỉ thỏa mãn một phần tối thiểu nhu cầu của cuộc sống với mức sống thấp hơn mức sống trung bình của cộng đồng xét trên mọi phương diện

Đối với Việt Nam hiện nay, vấn đề nghèo đói đang là một trong những vấn

đề cấp bách cần được giải quyết Chính phủ Việt Nam đã 4 lần nâng mức chuẩn nghèo trong thời gian từ 1993 đến cuối năm 2005, tuỳ thuộc vào từng hoàn cảnh

cụ thể của đất nươc:

- Theo Quyết định số 143/2001/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ ngày 27 tháng 9 năm 2001, trong đó phê duyệt “Chương trình mục tiêu quốc gia XĐGN giai đoạn 2001 - 2005” thì những hộ gia đình có thu nhập bình quân đầu người ở khu vực nông thôn miền núi và hải đảo từ 80.000 đồng/ người/ tháng (tương đương 960.000 đồng/ người/năm) trở xuống được xác định là hộ

Trang 24

nghèo; ở khu vực nông thôn - đồng bằng những hộ gia đình có thu nhập bình quân đầu người từ 100.000 đồng/ người/ tháng (tương đương 1.200.000 đồng/ người/ năm) trở xuống được xác định là hộ nghèo; ở khu vực thành thị những

hộ gia đình có thu nhập bình quân đầu người từ 150.000 đồng/ người/ tháng (tương đương 1.800.000 đồng/ người/ năm) trở xuống được xác định là

hộ nghèo

- Theo Quyết định số 170/2005/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ ngày 08 tháng 07 năm 2005 về việc ban hành chuẩn nghèo áp dụng cho giai đoạn 200- 2010 thì ở khu vực nông thôn những hộ có mức thu nhập bình quân từ 200.000 đồng/ người/ tháng (tương đương 2.400.000 đồng/ người/ năm) trở xuống được xác định là

hộ nghèo; ở khu vực thành thị những hộ có thu nhập bình quân từ 260.000 đồng/ người/ tháng (dưới 3.120.000 đồng/ người/ năm) trở xuống là hộ nghèo

- Ngày 15 tháng 9 năm 2015, Thủ tướng Chính phủ đã ký ban hành Quyết định số 1614/QĐ-TTg phê duyệt Đề án tổng thể “Chuyển đổi phương pháp tiếp cận đo lường nghèo từ đơn chiều sang đa chiều áp dụng cho giai đoạn 2016- 2020” Theo đó, các tiêu chí đo lường nghèo giai đoạn 2016-2020 được xây

dựng như sau:

- Tiêu chí về thu nhập: Chuẩn mức sống tối thiểu về thu nhập là mức thu nhập

đảm bảo chi trả được những nhu cầu tối thiểu nhất mà mỗi người cần phải có để sinh sống, bao gồm nhu cầu về tiêu dùng lương thực, thực phẩm và tiêu dùng phi lương thực, thực phầm Chuẩn nghèo về thu nhập là mức thu nhập mà nếu

hộ gia đình có thu nhập dưới mức đó sẽ được coi là hộ nghèo về thu nhập (gọi

là chuẩn nghèo chính sách) Chuẩn mức sống trung bình về thu nhập là mức thu nhập mà ở mức đó người dân đã đạt được mức sống trung bình của xã hội, bao gồm nhu cầu về tiêu dùng lương thực, thực phẩm và tiêu dùng phi lương thực, thực phẩm

- Mức độ thiếu hụt tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản: Các dịch vụ xã hội cơ bản

bao gồm 5 dịch vụ: tiếp cận về y tế, giáo dục, nhà ở, nước sạch và vệ sinh, tiếp cận thông tin; Các chỉ số đo lường mức độ thiếu hụt gồm 10 chỉ số: (1) trình độ giáo dục

Trang 25

của người lớn; (2) tình trạng đi học của trẻ em; (3) tiếp cận các dịch vụ y tế; (4) bảo hiểm y tế; (5) chất lượng nhà ở; (6) diện tích nhà ở bình quân đầu người; (7) nguồn nước sinh hoạt; (8) loại hố xí / nhà tiêu; (9) sử dụng dịch vụ viễn thông; (10) tài sản phục vụ tiếp cận thông tin Ngưỡng thiếu hụt đa chiều: là mức độ thiết hụt mà nếu

hộ gia đình thiếu nhiều hơn mức độ này thì bị coi là thiếu hụt tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản, từ 1/3 tổng điểm thiếu hụt trở lên [56]

Quyết định số 59/2015/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ Theo đó, các tiêu chí tiếp cận đo lường nghèo đa chiều áp dụng cho giai đoạn 2016 - 2020 gồm tiêu chí về thu nhập, mức độ thiếu hụt tiếp cận dịch vụ xã hội cơ bản

Với tiêu chí về thu nhập: Quyết định chuẩn nghèo ở khu vực nông thôn là

700.000 đồng/ người/ tháng; ở khu vực thành thị 900.000 đồng/ người/ tháng Chuẩn cận nghèo ở khu vực nông thôn là 1.000.000 đồng/ người/ tháng; ở khu vực thành thị 1.300.000 đồng/ người / tháng

Về tiêu chí mức độ thiếu hụt tiếp cận dịch vụ xã hội cơ bản: Quyết định nêu

rõ, các dịch vụ xã hội cơ bản bao gồm 5 dịch vụ và 10 chỉ số Tiêu chí xác định chuẩn nghèo: Quyết định rõ chuẩn hộ nghèo, hộ cận nghèo, hộ có mức sống trung bình áp dụng cho giai đoạn 2016 - 2020

Mức chuẩn nghèo trên là căn cứ để đo lường và giám sát mức độ thiếu hụt về thu nhập và tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản của người dân; là cơ sở xác định đối tượng để thực hiện các chính sách giảm nghèo và an sinh xã hội; hoạch định các chính sách kinh tế - xã hội khác trong giai đoạn 2016 - 2020[56]

Trong nghiên cứu này 710 hộ nghèo tại phường Hồng Hải 2016 được xác định theo Quyết định số 59/2015/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ, đó các tiêu chí tiếp cận đo lường nghèo đa chiều áp dụng cho giai đoạn 2016 - 2020 gồm tiêu chí về thu nhập, mức độ thiếu hụt tiếp cận dịch vụ xã hội cơ bản

1.1.3 Việc làm và tìm kiếm việc làm

1.1.3.1 Việc làm Việc làm là một trong những vấn đề cơ bản nhất của mọi quốc gia nhằm góp phần đảm bảo an toàn, ổn định và phát triển xã hội Hội nghị thượng đỉnh

Trang 26

Copenhagen tháng 3 năm 1995 tại Đan Mạch coi việc mở rộng việc làm là một trong những nội dung cơ bản nhất trong chiến lược phát triển kinh tế xã hội của các nước trên thế giới Theo điều 13 của nước CHXHCN Việt Nam năm 1994 ghi: “Mọi hoạt động tạo ra nguồn thu nhập không bị pháp luật nghiêm cấm được coi là việc làm”

Với khái niệm trên, các hoạt động được xác định là việc làm bao gồm:

 Làm những công việc được trả công dưới dạng tiền hoặc hiện vật

 Những công việc tự làm để mang lại lợi ích cho bản thân hoặc tạo ra thu nhập cho gia đình mình nhưng không được trả công cho công việc đó

Quan niệm này sẽ làm cho nội dung của việc làm được mở rộng và tạo khả năng to lớn để giải phóng tiềm năng lao động, giải quyết việc làm cho người lao động

Người có việc làm:

 Nguời có việc làm bao gồm những người đủ 15 tuổi trở lên trong nhóm dân

số hoạt động kinh tế mà trong một tuần lễ trước điều tra

- Đang làm việc để nhận tiền lương, tiền công hoặc lợi nhuận bằng tiền hay hiện vật

 Đang làm những công việc sản xuất kinh doanh của gia đình mình để thu lợi nhuận nhưng không được trả công cho công việc đó

 Đã có việc làm trước đó nhưng đang trong thời gian nghỉ đã được sự cho phép của nhà quản lí và sẽ trở lại làm việc sau thời gian nghỉ phép

Căn cứ vào thời gian làm việc của người được coi là có việc làm thì có thể phân loại như sau:

Người đủ việc làm: là những người có điều kiện sử dụng hết thời gian lao

động theo quy định Trong thống kê lao động-việc làm ở Việt Nam thì những người có đủ việc làm bao gồm những người có số giờ làm việc trong tuần lễ tính đến thời điểm điều tra lớn hơn hoặc bằng 40 h hoặc những người có số giờ làm việc nhỏ hơn 40 h nhưng lớn hơn hoặc bằng giờ quy định đối với những người làm công việc nặng nhọc, độc hại theo quy định hiện hành Số giờ quy định trên

Trang 27

có thể thay đổi theo từng năm học hoặc từng thời kỳ

Người thiếu việc làm: Bao gồm những người mà tại thời điểm điều tra không

sử dụng hết thời gian lao động quy định và nhận được thu nhập từ công việc khiến họ có nhu cầu làm thêm

Người bán thất nghiệp: Đây là hiện tượng thường thấy ở lao động nông thôn

làm việc mùa vụ, lao động ở khu vực thành thị không chính thức, lao động ở các cơ sở sản xuất kinh doanh đang gặp khó khăn, lao động nhà nước dôi dư

Người thất nghiệp: Là những người trong độ tuổi lao động, có sức lao động

nhưng chưa có việc làm, đang có nhu cầu làm việc nhưng chưa có việc làm

Đối lập với việc làm, thất nghiệp là tình trạng có tính quy luật của nền kinh tế

thị trường Có nhiều quan niệm khác nhau về thất nghiệp Theo tổ chức lao động quốc tế ILO, thất nghiệp là tình trạng tồn tại của những người lao động muốn có việc làm nhưng không tìm được việc làm vì những lý do ngoài ý muốn của họ, do đó không có thu nhập Như vậy, thất nghiệp là những người có khả năng lao động, có nhu cầu lao động nhưng hiện tại không có việc làm, đang tích cực tìm việc hoặc đang chờ đợi trở lại làm việc

Thực tế ở nước ta trong quá trình chuyển sang cơ chế thị trường, giải quyết tình trạng thất nghiệp luôn là vấn đề bức thiết Dưới giác độ chính sách việc làm, để hạn chế thất nghiệp, chúng ta vừa phải tạo ra nhiều việc làm mới vừa phải tránh tình trạng người lao động đứng trước nguy cơ mất việc làm

1.1.3.2 Tìm kiếm việc làm Theo quan niệm của tổ chức lao động quốc tế (ILO), tìm kiếm việc làm là hoạt động tìm kiếm công việc mang lại thu nhập cho người lao động và không

bị pháp luật nghiêm cấm Hoạt động tìm kiếm việc làm được tự do liên doanh, liên kết, tự do tìm nguồn công việc, tuân thủ theo pháp luật để tạo việc làm cho người lao động

1.1.4 Nguồn lực hỗ trợ tìm kiếm việc làm:

Là tổng hợp những tài nguyên vật chất, hệ thống chính sách - xã hội, khả năng của chủ thể con người nhằm mục tiêu tìm kiếm việc làm Nguồn lực hỗ trợ

Trang 28

tìm kiếm việc làm đa dạng và có thể biến đổi theo từng thời điểm và từng chủ thể nhất định

1.1.5 Kết nối nguồn lực dựa vào cộng đồng trong hỗ trợ tìm kiếm việc làm

xã hội trong cộng đồng để tổ chức tuyên truyền và xây dựng mô hình kết nối nguồn lực dựa vào cộng đồng để hỗ trợ người nghèo tìm kiếm việc làm

Theo từ điển Tiếng Việt: “Kết nối là sự kết lại với nhau từ nhiều thành phần hoặc tổ chức riêng rẽ, có thể là nhà nước này liên kết với nhà nước khác

về mặt chính trị, quân sự, kinh tế, tỉnh này liên kết với tỉnh khác để cùng tổ chức các hoạt động sự kiện, tổ chức này liên kết với tổ chức khác, người này liên kết

với người khác để cùng làm ăn” [44, tr.368]

Kết nối được hiểu theo cách vận dụng và sử dụng trong công tác phát

triển cộng đồng là: “sự tương quan liên kết giữa người với người, có tính kết hợp hay có tính tương hỗ, theo đó con người được gần nhau và phối hợp chặt chẽ với nhau hơn Sự tương quan và kết hợp giữa các thành viên trong cộng đồng được biểu hiện qua các hoạt động thực tiễn hàng ngày và củng cố thêm sự

đoàn kết trong cộng đồng” [33, tr.48]

Kiểu kết nối cao nhất trong cộng đồng chính là các quan hệ mang tính hội nhập, ở đó có mức độ hợp tác tích cực giữa các cá nhân trong các đoàn thể hay

Trang 29

hội mà các cá nhân đó tham gia

Với đề tài nghiên cứu, tác giả áp dụng và hiểu hơn về các cộng đồng ở đô thị, do sự phân tán về nghề nghiệp cao nên các thành viên trong cộng đồng thường ít quan hệ với nhau trong công việc hơn ở các cộng đồng nông thôn, nó

có sự phân tán nghề nghiệp khá cao Chính vì vậy, sự kết nối trong cộng đồng ở

đô thị thường không cao bằng cộng đồng ở đô thị

Trong nội dung đề tài nghiên cứu của mình, tác giả sử dụng khái niệm trong cách vận dụng và sử dụng trong công tác phát triển cộng đồng vì nó phù hợp với nội dung mà tác giả đang nghiên cứu

- Kết nối nguồn lực

Kết nối nguồn lực được hiểu theo cách vận dụng và sử dụng trong công tác phát triển cộng đồng là: “Sự gắn kết các nguồn lực cộng đồng vốn đang rời rạc thành một thể thống nhất, vừa có mối quan hệ chặt chẽ ảnh hưởng, vừa có sự tương tác, tác động qua lại để bổ sung cho nhau nhằm hỗ trợ cộng đồng yếu kém thành cộng đồng tự lực và phát triển”

Từ hai khái niệm kết nối và nguồn lực, có thể nêu khái niệm kết nối

nguồn lực như sau: “kết nối nguồn lực đó là hành động của nhân viên CTXH thể hiện vai trò của mình trong việc liên kết lại các nguồn lực đã được phát hiện trong cộng đồng và công tác tổ chức các nguồn lực đó để huy động các nguồn lực thực hiện kế hoạch cho hành động xây dựng cộng đồng một cách có lợi nhất cho cộng đồng địa phương và nâng cao hiệu quả sử dụng các nguồn lực”

Vậy muốn kết nối nguồn lực thì nhân viên CTXH phải mô tả được các loại nguồn lực trong cộng đồng Ai đang nắm giữ nguồn lực gì? Mức độ và điều kiện sẵn sàng tham gia hành động của các tiểu hệ thống trong việc thực hiện nghĩa vụ và trách nhiệm chung

Đồng thời kết nối nguồn lực phải thể hiện được cách thức, xác định được bối cảnh hành động, ai làm gì, làm như thế nào, cách thức thực hiện ra sao? Tại phường Hồng Hải, để hỗ trợ người nghèo tìm kiếm việc làm, có rất nhiều nguồn lực ở trong các tiểu hệ thống của cộng đồng này Vì vậy điều quan trọng

Trang 30

ở đây là phải biết kết nối nguồn lực trong các tiểu hệ thống bằng việc thiết lập

mô hình kết nối nguồn lực dựa vào cộng đồng hỗ trợ người nghèo tìm kiếm việc làm một cách bền vững nhằm thực hiện mục tiêu tất cả mọi người trong độ tuổi lao động đều có việc làm

- Kết nối nguồn lực dựa vào cộng đồng

Kết nối nguồn lực dựa vào cộng đồng là tận dụng, tìm kiếm, khai thác các nguồn lực của cộng đồng để thực hiện các hoạt động nhằm mục tiêu phát triển

cộng đồng, mang lại lợi ích chung cho cộng đồng [34, tr.48]

Từ những khái niệm kết nối nguồn lực, dựa vào cộng đồng, có khái niệm kết nối nguồn lực dựa vào cộng đồng là những hành động tận dụng, tìm kiếm, khai thác các nguồn lực của các tiểu hệ thống trong cộng đồng ấy Để có thể kết nối được nguồn lực thì người làm công tác kết nối phải đánh giá được các loại nguồn lực, tìm ra những người làm đầu mối thuộc từng tiểu hệ thống và xây dựng các mô hình hành động cụ thể trong những trường hợp cụ thể

Từ khái niệm kết nối nguồn lực dựa vào cộng đồng và hỗ trợ người nghèo

tìm kiếm việc làm, có khái niệm kết nối nguồn lực dựa vào cộng đồng trong việc hỗ trợ người nghèo tìm kiếm việc làm là nhân viên xã hội thể hiện vai trò của mình là kết nối những hỗ trợ, giúp đỡ đồng thời huy động sự tham gia từ những nguồn lực có sẵn có như chính quyền địa phương, y tế cộng đồng, gia đình, hội LHPN, Đoàn Thanh niên, ban lao động, thương binh và xã hội và bản thân người nghèo thực hiện kế hoạch cho hành động tìm kiếm việc làm ở cộng đồng và nâng cao hiệu quả hỗ trợ người nghèo tìm kiếm việc làm cho các nguồn lực nhằm giúp cho người nghèo có tình trạng việc làm ổn định thông qua việc phòng chống và giải quyết những vấn đề liên quan đến việc làm được thực hiện

Trang 31

thống tài nguyên môi trường; Hệ thống các doanh nghiệp tổ chức xã hội địa phương Vì vậy điều quan trọng ở đây là liên kết các nguồn lực để hỗ trợ người dân giảm nghèo một cách hiệu quả

1.2 Một vài lý thuyết được ứng dụng trong nghiên cứu

1.2.1.Lý thuyết hệ thống sinh thái

Đây là một thuyết quan trọng được vận dụng trong công tác xã hội nhằm chỉ cho thân chủ, nhóm thân chủ và cộng đồng những gì họ thiếu và những hệ thống nguồn lực nào họ có thể tiếp cận và tham gia, hội nhập Bởi trọng tâm của

hệ thống là hướng đến cái tổng thể và mang tính hoà nhập Nguyên tắc về cách tiếp cận này chính là các cá nhân phụ thuộc vào hệ thống trong môi trường xã hội trung gian của họ nhằm thoả mãn được cuộc sống riêng Do đó, công tác

xã hội phải nhấn mạnh đến các hệ thống như vậy trong quá trình trợ giúp cho nhóm đối tượng

Theo từ điển Tiếng Việt thì “Hệ thống là tập hợp nhiều yếu tố đối với

cùng loại hoặc cùng chức năng có quan hệ hoặc liên hệ với nhau chặt chẽ làm thành một thể thống nhất”[10]

Còn theo định nghĩa của Lý thuyết công tác xã hội hiện đại: “Hệ thống

là một tập hợp các thành tố được sắp xếp có trật tự và liên hệ với nhau để hoạt động thống nhất” [27]

Theo lý thuyết này, con người phụ thuộc vào những hệ thống trong môi trường xã hội trực tiếp của họ Có rất nhiều cách phân loại hệ thống, theo tính chất thì công tác xã hội chú ý đến 3 hệ thống:

- Các hệ thống phi chính thức hay còn gọi là các hệ thống thân tình hay tự nhiên như gia đình, bạn bè, người thân hay đồng nghiệp

- Các hệ thống chính thức như các cơ quan, tổ chức của nhà nước, hay các

Trang 32

thống như: Gia đình, hàng xóm láng giềng, chính quyền địa phương Đây là những hệ thống gần gũi và tiếp xúc thường xuyên nhất với nhóm này Cần thu thập thông tin và khai thác nguồn lực từ chính các hệ thống này để nhận diện rõ vấn đề và có thể trợ giúp cho đối tượng Bên cạnh đó cũng cần chú ý đến các chức năng của hệ thống như: tính thích ứng, hội nhập của các tiểu hệ thống trong một hệ thống lớn để có thể phát huy, sử dụng tối đa các hệ thống nguồn lực trong cộng đồng Cụ thể là trong nghiên cứu này có thể liên kết tối đa các hệ thống để hỗ trợ người nghèo tìm kiếm việc làm tại phường Hồng Hải, thành phố

Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh

1.2.2.Lý thuyết nhu cầu

Nhà tâm lý học A.Maslow (1908 -1970) được xem như là một trong những người đi tiên phong trong trường phái “Tâm lý học nhân văn”, trường phái này được xem như là thế lực thứ ba khi thế giới lúc ấy chia thành hai trường phái tâm lý chính là Phâm tâm học và Chủ nghĩa hành vi Năm 1943, ông đã phát triển một trong các lý thuyết mà tầm ảnh hưởng của nó được thừa nhận rộng rãi và được sử dụng trong nhiều lĩnh vực khác nhau, trong đó có cả lĩnh vực giáo dục Đó là lý thuyết về “Thang bậc nhu cầu cuả con người” Trong lý thuyết này, ông đã sắp xếp các nhu cầu của con người theo một hệ thống trật tự cấp bậc, trong đó các nhu cầu ở mức độ cao hơn muốn xuất hiện thì các nhu cầu ở mức độ thấp hơn phải được thoả mãn trước tiên [25]

Trong thời gian đầu tiên của lý thuyết này, A.Maslow đã sắp xếp các nhu cầu của con người theo 5 cấp bậc, đó là:- Nhu cầu cơ bản; - Nhu cầu an toàn; - Nhu cầu về xã hội; - Nhu cầu về được quý trọng; - Và nhu cầu được thể hiện mình

Sau đó, vào những năm 1970 -1990 của thế kỷ XX thì sự phân cấp này

đã được chính ông điều chỉnh thành 7 bậc và 8 bậc, đó là:- Nhu cầu cơ bản; - Nhu cầu an toàn; - Nhu cầu về xã hội; - Nhu cầu về được quý trọng; - Nhu cầu về nhận thức; - Nhu cầu về thẩm mỹ; - Nhu cầu được thể hiện mình; - Và

sự siêu nghiệm [25, tr.12]

Trang 33

Hệ thống các cấp bậc nhu cầu của A.Maslow thường được thể hiện dưới dạng một hình kim tự tháp, các nhu cầu ở cấp bậc thấp thì càng xếp phía dưới

Trong khuôn khổ luận văn, tác giả sử dụng 5 cấp bậc thang nhu cầu của con người theo giai đoạn đầu của lý thuyết Maslow để phân tích và giải thích cho các hành động trong cuộc sống về vấn đề nghiên cứu Đó là: Nhu cầu cơ bản - Nhu cầu an toàn - Nhu cầu về xã hội - Nhu cầu về được quý trọng - Và nhu cầu được thể hiện mình

- Nhu cầu cơ bản: Nhu cầu này được coi là nhu cầu của cơ thể hay

nhu cầu về sinh lý, bao gồm các nhu cầu cơ bản của con người như ăn, uống, ngủ, không khí để thở, các nhu cầu làm cho con người cảm thấy thoải mái Đây là những nhu cầu cơ bản nhất và mạnh mẽ nhất của con người Theo A.Maslow thì những nhu cầu ở mức độ cao hơn sẽ không xuất hiện trừ khi những nhu cầu cơ bản này được thỏa mãn và những nhu cầu cơ bản này sẽ chế ngự, hối thúc, thúc giục một người hành động khi nhu cầu cơ bản này chưa đạt được Ông cha ta cũng đã sớm nhận ra điều này khi cho rằng “có thực mới vực được đạo”, vì vậy cần phải được ăn uống, được đáp ứng các nhu cầu cơ bản để

có thể hoạt động, vươn tới nhu cầu cao hơn[25]

- Nhu cầu an sinh, an toàn: Khi con người đã được đáp ứng các nhu

cầu cơ bản, khi đó các nhu cầu về an toàn, an ninh sẽ bắt đầu được kích hoạt Nhu cầu an toàn và an ninh này thể hiển trong cả thể chất lẫn tinh thần Con người mong muốn có được sự bảo vệ cho sự sống còn của mình khỏi các nguy hiểm, các trường hợp khẩn cấp, nguy khốn đến tính mạng như chiến tranh, thiên tai Nhu cầu này được thể hiện qua các mong muốn về sự ổn định trong cuộc sống, sống trong xã hội có pháp luật, có nhà cửa để ở Nhiều người tìm đến sự che chở bởi các niềm tin tôn giáo, đây chính là việc tìm kiếm sự an toàn về mặt tinh thần [25]

- Nhu cầu về xã hội: Nhu cầu này còn được gọi là nhu cầu mong

muốn thuộc về một bộ phận, một tổ chức nào đó, hoặc nhu cầu về tình cảm, tình thương Nhu cầu này thể hiện qua quá trình giao tiếp như việc tìm kiếm,

Trang 34

kết bạn, tìm người yêu, lập gia đình, tham gia các hoạt động xã hội Mặc dù A.Maslow xếp nhu cầu này sau hai nhu cầu trên, nhưng ông nhấn mạnh rằng nếu nhu cầu này không được thoả mãn, đáp ứng thì nó có thể gây ra các bệnh trầm trọng về tinh thần [25]

- Nhu cầu về được quý trọng: Nhu cầu này thể hiện ở hai cấp độ: nhu

cầu được người khác quý mến, nể trọng thông qua các thành quả của bản thân

Và nhu cầu cảm nhận, quý trọng chính bản thân, danh tiếng của mình, có lòng

tự trọng, sự tự tin vào khẳ năng của bản thân mình [25]

- Nhu cầu được thể hiện mình: Theo A.Maslow, sự thể hiện mình

được thể hiện như sau: nhu cầu của một cá nhân mong muốn được là chính mình, được làm những cái mà mình “sinh ra để làm” Nói một cách khác thì đây chính là nhu cầu được sử dụng hết khẳ năng, tiềm năng của mình nhằm tự khẳng định mình, đạt được các thành quả trong xã hội Việc A.Maslow đã nói

“sinh ra để làm” chính là việc đi tìm kiếm các cách thức mà năng lực, trí tuệ, khả năng cuả mình được phát huy và mình cảm thấy hài lòng về nó[25]

Việc vận dụng lý thuyết về thang bậc nhu cầu của A.Maslow vào đề tài nghiên cứu, chính là nhằm để xem xét và rút ra những điều cần thiết về những nhu cầu, giá trị trong cuộc sống, tìm hiểu những khó khăn cuả các hộ gia đình nghèo ở Xã, cũng như các phương thức cần thiết để công tác xoá đói giảm nghèo có hiệu quả cao và thiết thực trên địa phường Hồng Hải nói riêng và cả nước nói chung

1.3 Quan điểm chính của Nhà nước về hỗ trợ việc làm cho người nghèo

và Chuẩn nghèo đa chiều của Việt Nam hiện nay (Quyết định QĐ số 59/2015 ngày 19 tháng 11 năm 2015 của Thủ tướng Chính phủ)

Thủ tướng Chính phủ vừa ban hành Quyết định số 59/2015/QĐ-TTg ngày 19/11/2015 về việc ban hành chuẩn nghèo tiếp cận đa chiều áp dụng cho giai đoạn 2016 - 2020 Trong đó, quy định rõ các tiêu chí tiếp cận đo lường nghèo

đa chiều áp dụng cho giai đoạn 2016 - 2020; chuẩn hộ nghèo, hộ cận nghèo, hộ

có mức sống trung bình áp dụng cho giai đoạn 2016 - 2020

Trang 35

Theo đó, các tiêu chí tiếp cận đo lường nghèo đa chiều áp dụng cho giai đoạn 2016 - 2020 gồm tiêu chí về thu nhập, mức độ thiếu hụt tiếp cận dịch vụ

xã hội cơ bản Về tiêu chí mức độ thiếu hụt tiếp cận dịch vụ xã hội cơ bản, Quyết định nêu rõ, các dịch vụ xã hội cơ bản bao gồm 05 dịch vụ: y tế, giáo dục, nhà ở, nước sạch và vệ sinh, thông tin

Các chỉ số đo lường mức độ thiếu hụt các dịch vụ xã hội cơ bản gồm 10 chỉ số: tiếp cận các dịch vụ y tế; bảo hiểm y tế; trình độ giáo dục của người lớn; tình trạng đi học của trẻ em; chất lượng nhà ở; diện tích nhà ở bình quân đầu người; nguồn nước sinh hoạt; hố xí/nhà tiêu hợp vệ sinh; sử dụng dịch vụ viễn thông; tài sản phục vụ tiếp cận thông tin

Tiêu chí xác định chuẩn nghèo

Quyết định cũng quy định rõ chuẩn hộ nghèo, hộ cận nghèo, hộ có mức sống trung bình áp dụng cho giai đoạn 2016 - 2020 Cụ thể, hộ nghèo khu vực nông thôn là hộ đáp ứng một trong hai tiêu chí sau:

1- Có thu nhập bình quân đầu người/tháng từ đủ 700.000 đồng trở xuống; 2- Có thu nhập bình quân đầu người/tháng trên 700.000 đồng đến 1.000.000 đồng và thiếu hụt từ 03 chỉ số đo lường mức độ thiếu hụt tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản trở lên

Hộ nghèo khu vực thành thị là hộ đáp ứng một trong hai tiêu chí sau:

1- Có thu nhập bình quân đầu người/tháng từ đủ 900.000 đồng trở xuống; 2- Có thu nhập bình quân đầu người/tháng trên 900.000 đồng đến 1.300.000 đồng và thiếu hụt từ 03 chỉ số đo lường mức độ thiếu hụt tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản trở lên

Hộ cận nghèo khu vực nông thôn là hộ có thu nhập bình quân đầu người/tháng trên 700.000 đồng đến 1.000.000 đồng và thiếu hụt dưới 03 chỉ số

đo lường mức độ thiếu hụt tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản

Hộ cận nghèo khu vực thành thị là hộ có thu nhập bình quân đầu người/tháng trên 900.000 đồng đến 1.300.000 đồng và thiếu hụt dưới 03 chỉ số đo lường mức độ thiếu hụt tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản

Trang 36

Hộ có mức sống trung bình ở khu vực nông thôn là hộ có thu nhập bình quân đầu người/tháng trên 1.000.000 đồng đến 1.500.000 đồng

Hộ có mức sống trung bình ở khu vực thành thị là hộ có thu nhập bình quân đầu người/tháng trên 1.300.000 đồng đến 1.950.000 đồng

Mức chuẩn nghèo trên là căn cứ để đo lường và giám sát mức độ thiếu hụt

về thu nhập và tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản của người dân; là cơ sở xác định đối tượng để thực hiện các chính sách giảm nghèo và an sinh xã hội; hoạch định các chính sách kinh tế - xã hội khác trong giai đoạn 2016 - 2020

1.3.1 Quan điểm chính của Nhà nước về hỗ trợ việc làm cho người nghèo hiện nay

Giảm nghèo là chủ trương lớn của Đảng và Nhà nước ta trong quá trình thực hiện công cuộc đổi mới và xây dựng đất nước Và để giảm nghèo bền vững, việc hỗ trợ việc làm cho người nghèo đã được Đảng và nhà nước hết sức quan tâm, chú trọng Điều đó được thể hiện cụ thể qua rất nhiều các chương trình hành động của Nhà nước ta trong suốt thời gian qua:

Thực hiện quyết định của Thủ tướng Chính phủ đã phê duyệt Chương trình Mục tiêu quốc gia giảm nghèo bền vững giai đoạn 2016 – 2020 (Quyết định số 1722/QĐ-TTg ngày 2/9/2016) Theo đó, mục tiêu tổng quát của Chương trình

là thực hiện mục tiêu giảm nghèo bền vững, hạn chế tái nghèo; góp phần thực hiện mục tiêu tăng trưởng kinh tế, đảm bảo an sinh xã hội, cải thiện đời sống, tăng thu nhập cho người dân, đặc biệt là ở các địa bàn nghèo, tạo điều kiện cho người nghèo, hộ nghèo tiếp cận thuận lợi các dịch vụ xã hội cơ bản, góp phần hoàn thành mục tiêu giảm tỉ lệ hộ nghèo giai đoạn 2016-2020 theo Nghị quyết Quốc hội đề ra Cải thiện sinh kế và nâng cao chất lượng cuộc sống của người nghèo, bảo đảm thu nhập bình quân đầu người của hộ nghèo cả nước cuối năm

2020 tăng lên 1,5 lần so với cuối năm 2015 (riêng hộ nghèo ở các huyện nghèo,

xã nghèo, thôn, bản đặc biệt khó khăn, hộ nghèo dân tộc thiểu số tăng gấp 2 lần) Hỗ trợ đào tạo nghề và giáo dục định hướng cho khoảng 20.000 lao động thuộc hộ nghèo, hộ cận nghèo, hộ dân tộc thiểu số, trong đó từ 60-70% lao động

Trang 37

đi làm việc ở nước ngoài Một trong những giải pháp đầu tiên của Chương trình

là đẩy mạnh tuyên truyền mục tiêu giảm nghèo sâu rộng đến mọi cấp, mọi ngành, các tầng lớp dân cư và người nghèo nhằm thay đổi và chuyển biến nhận thức trong giảm nghèo, khơi dậy ý chí chủ động, vươn lên của người nghèo, tiếp nhận và sử dụng có hiệu quả chính sách và nguồn lực hỗ trợ của Nhà nước, của cộng đồng để thoát nghèo, vươn lên khá giả Đồng thời, qua Chương trình cũng phát động phong trào thi đua “cả nước chung tay vì người nghèo;” tôn vinh doanh nghiệp, tập thể cá nhân có nhiều đóng góp về nguồn lực, cách làm hiệu quả trong công tác giảm nghèo bền vững.Bên cạnh đó, thực hiện đa dạng hóa nguồn vốn huy động để triển khai thực hiện Chương trình, bảo đảm huy động đầy đủ, kịp thời theo đúng cơ cấu đã được quy định; tăng cường huy động vốn

từ ngân sách địa phương và các nguồn huy động đóng góp hợp pháp của doanh nghiệp và vận động tài trợ của các tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước; vốn đối ứng, tham gia đóng góp của người dân, đối tượng thụ hưởng Chương trình được thực hiện trên phạm vi cả nước; ưu tiên nguồn lực của Chương trình đầu

tư cho huyện nghèo, xã nghèo (xã đặc biệt khó khăn vùng bãi ngang ven biển và hải đảo; xã đặc biệt khó khăn vùng dân tộc thiểu số và miền núi, xã biên giới, xã

an toàn khu) và thôn, bản đặc biệt khó khăn

Nghị quyết 30A/2008/NQ-CP ngày 27 tháng 12 năm 2008 của Chính phủ

là một chủ trương lớn của Nhà nước nhằm thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội, giảm nghèo nhanh và bền vững đối với các huyện đặc biệt khó khăn Việc triển khai thực hiện có hiệu quả Nghị quyết là yếu tố quan trọng giúp cho các huyện nghèo cải thiện hệ thống cơ sở hạ tầng, nâng cao đời sống nhân dân, từng bước vươn lên thoát nghèo bền vững Chính phủ đề ra 4 nhóm biện pháp để thực hiện các mục tiêu đã đề ra: Hỗ trợ sản xuất, tạo việc làm, tăng thu nhập (bao gồm cả đưa người lao động ở huyện nghèo đi lao động ở nước ngoài; Đào tạo, dạy nghề, nâng cao dân trí; Bổ sung nguồn lực con người ở các cấp quản lý và các

tổ công tác; Đầu tư cơ sở hạ tầng ở cả cấp thôn/bản, xã, huyện Ngoài ra còn có các biện pháp như đề nghị các tập đoàn kinh tế nhà nước "đỡ đầu" các huyện

Trang 38

nghèo Chính phủ đã giao cho Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội là cơ quan thường trực thực hiện Chương trình Trung ương Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh chủ trương vận động thanh niên tình nguyện về giúp đỡ các huyện nghèo

Bên cạnh Nghị quyết 30A/2008/NQ-CP ngày 27 tháng 12 năm 2008, Chính phủ cũng đã đưa vào thực hiện chương trình 135 nhằm hỗ trợ người nghèo gồm 3 tiểu dự án:

- Tiểu dự án 1: Hỗ trợ đầu tư cơ sở hạ tầng cho các xã đặc biệt khó khăn, xã biên giới, xã an toàn khu, các thôn, bản đặc biệt khó khăn, gồm: Hỗ trợ đầu tư

cơ sở hạ tầng cho các xã đặc biệt khó khăn, xã biên giới, xã an toàn khu, các thôn, bản đặc biệt khó khăn; duy tu, bảo dưỡng các công trình cơ sở hạ tầng trên địa bàn các xã đặc biệt khó khăn, xã biên giới, xã an toàn khu, các thôn, bản đặc biệt khó khăn

- Tiểu dự án 2: Hỗ trợ phát triển sản xuất, đa dạng hóa sinh kế và nhân rộng mô hình giảm nghèo các xã đặc biệt khó khăn, xã biên giới, xã an toàn khu, các thôn, bản đặc biệt khó khăn

- Tiểu dự án 3: Nâng cao năng lực cho cộng đồng và cán bộ cơ sở các xã đặc biệt khó khăn, xã biên giới, xã an toàn khu; thôn bản đặc biệt khó khăn

1.3.2 Chuẩn nghèo đa chiều của Việt Nam hiện nay

Vấn đề nghèo đa chiều có thể đo bằng tiêu chí thu nhập và các tiêu chí phi thu nhập Sự thiếu hụt cơ hội, đi kèm với tình trạng suy dinh dưỡng, thất học, bệnh tật, bất hạnh và tuyệt vọng là những nội dung được quan tâm trong khái niệm nghèo đa chiều Thiếu đi sự tham gia và tiếng nói về kinh tế, xã hội hay chính trị sẽ đẩy các cá nhân đến tình trạng bị loại trừ, không được thụ hưởng các lợi ích phát triển kinh tế - xã hội và do vậy bị tước đi các quyền con người cơ bản (UN, 2012: 5).Tuy nhiên, chuẩn nghèo đa chiều có thể là một chỉ số không liên quan đến mức thu nhập mà bao gồm các khía cạnh khác liên quan đến sự thiếu hụt các dịch vụ xã hội cơ bản (Oxfam và ActionAid, 2010: 11) Chỉ số nghèo đa chiều (Multidimensional Poverty Index) của quốc tế, với ba chiều

Trang 39

cạnh chính là: y-tế, giáo dục và điều kiện sống, hiện là một thước đo quan trọng nhằm bổ sung cho phương pháp đo lường nghèo truyền thống dựa trên thu nhập Khái niệm nghèo đa chiều được đề cập ở Việt Nam từ năm 2013 Đo lường nghèo đa chiều cần được áp dụng để dựng nên một bức tranh đầy đủ và toàn diện hơn về thực trạng nghèo ở nước ta Hiện nay Bộ LĐ-TB&XH đang đề xuất xây dựng bộ tiêu chí nghèo đa chiều, đồng thời rà soát cơ chế, chính sách nhằm thực hiện giảm nghèo theo hướng đa chiều ở Việt Nam

Một số quy định chính sách về nghèo đa chiều ở Việt Nam

Nghị quyết số 15-NQ/TW Hội nghị TƯ lần thứ 5 của Ban Chấp hành Trung ương khoá XI về chính sách xã hội giai đoạn 2012-2020 đã đề ra nhiệm

vụ bảo đảm an sinh xã hội, chú trọng đến việc làm, bảo hiểm xã hội, trợ giúp xã hội cho những đối tượng có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn, đồng bào dân tộc ít

người, bảo đảm mức tối thiểu về thu nhập và một số dịch vụ xã hội cơ bản như khám chữa bệnh, học hành, nhà ở, nước sạch, thông tin, truyền thông Để thực

hiện mục tiêu giảm nghèo hiệu quả, bền vững hơn, Quốc hội khóa 13, kỳ họp thứ 7 đã thông qua Nghị quyết số 76/2014/QH13 về việc đẩy mạnh thực hiện

mục tiêu giảm nghèo bền vững đến năm 2020, trong đó nêu rõ: xây dựng chuẩn nghèo mới theo phương pháp tiếp cận đa chiều nhằm bảo đảm mức sống tối thiểu và đáp ứng các dịch vụ xã hội cơ bản; Quyết định số 2324/QĐ-TTg ngày

19/12/2014 của Thủ tướng Chính phủ ban hành kế hoạch hành động triển khai Nghị quyết số 76/2014/QH13 của Quốc hội đã xác định rõ nhiệm vụ xây dựng, nghiên cứu xây dựng đề án tổng thể về đổi mới phương pháp tiếp cận nghèo đói

ở Việt Nam từ đơn chiều sang đa chiều, trình Chính phủ xem xét vào cuối năm nay.[3] Ngày 15/9/2015 Thủ tướng Chính phủ đã ký quyết định số 1614/QĐ-TTg phê duyệt Đề án tổng thể “Chuyển đổi phương pháp tiếp cận đo lường nghèo từ đơn chiều sang đa chiều áp dụng cho giai đoạn 2016-2020.” Chuẩn nghèo giai đoạn 2016 - 2020 của Việt Nam được xây dựng theo hướng: sử dụng kết hợp cả chuẩn nghèo về thu nhập và mức độ thiếu hụt tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản Theo đó, tiêu chí đo lường nghèo được xây dựng dựa trên cơ sở: (1)

Trang 40

Các tiêu chí về thu nhập, bao gồm: chuẩn mức sống tối thiểu về thu nhập, chuẩn nghèo về thu nhập, chuẩn mức sống trung bình về thu nhập (2) Mức độ thiếu hụt trong tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản, bao gồm: tiếp cận về y tế, giáo dục, nhà ở, nước sạch và vệ sinh, tiếp cận thông tin Những quy định chính sách nói trên tạo cơ sở pháp lý cho việc chuyển đổi phương pháp tiếp cận đo lường nghèo từ đơn chiều sang đa chiều áp dụng cho chương trình giảm nghèo của nước ta trong giai đoạn 2016-2020

Theo tiêu chí mới, một gia đình được coi là hộ nghèo nghiêm trọng nếu hộ

đó thiếu từ 1/2 tổng số nhu cầu cơ bản trở lên; thiếu từ 1/3 - 1/2 tổng số nhu cầu sống cơ bản; thiếu từ 1/5 - 1/3 tổng số nhu cầu cơ bản Nội dung của cách tiếp cận đo lường nghèo đa chiều cần phải xác định được các chiều thiếu hụt, các chỉ

số đo lường mức độ thiếu hụt trong từng chiều, đồng thời bám sát bộ tiêu chí như đề xuất hiện nay Đây là một công việc phức tạp, với nhiều khó khăn thách thức trên thực tế cần được xem xét kỹ lưỡng

Ngày đăng: 25/11/2019, 20:53

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Bùi Thế Giang (1996), Vấn đề nghèo ở Việt Nam, NXB chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vấn đề nghèo ở Việt Nam
Tác giả: Bùi Thế Giang
Nhà XB: NXB chính trị Quốc gia
Năm: 1996
3. Bài viết Phát triển cộng đồng : Phương pháp quan trọng của CTXH trong xoá đói giảm nghèo.của tác giả Nguyễn Đức Nam , được đăng trên diễn đàn Công tác xã hội Việt Nam ngày 29/05/2015 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phát triển cộng đồng : Phương pháp quan trọng của CTXH trong xoá đói giảm nghèo
4. Báo cáo tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2009, Bộ LĐ – TBXH Christian Morrisson (2003), Bức tranh nghèo khổ trên thế giới, Quang Anh lược thuật, Xã hội học số 3 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bức tranh nghèo khổ trên thế giới
Tác giả: Báo cáo tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2009, Bộ LĐ – TBXH Christian Morrisson
Năm: 2003
6. Chính phủ (2011), Nghị quyết số 80/NQ – CP về Định hướng giảm nghèo bền vững thời kỳ từ năm 2010 đến năm 2020 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chính phủ (2011)
Tác giả: Chính phủ
Năm: 2011
7. Chính phủ Việt Nam (2015), Quyết định số 59/2015/QĐ-TTg về việc ban hành chuẩn nghèo tiếp cận đa chiều áp dụng cho giai đoạn 2016 – 2020 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chính phủ Việt Nam (2015)
Tác giả: Chính phủ Việt Nam
Năm: 2015
8. Chương trình Chia Sẻ - SIDA (2009), Các nhân tố hỗ trợ và cản trở hộ nghèo tiếp cận các Nguồn vốn sinh kế để Giảm nghèo bền vững Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chương trình Chia Sẻ - SIDA (2009)
Tác giả: Chương trình Chia Sẻ - SIDA
Năm: 2009
9. Đề tài “Vai trò của công tác xã hội trong xoá đói giảm nghèo ( Nghiên cứu tại Xã Hải Phong, Huyện Hải Hậu, tỉnh Nam Định)” .Đề tài luận văn thạc sỹ nghành CTXH của Bùi Văn Dương Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vai trò của công tác xã hội trong xoá đói giảm nghèo ( Nghiên cứu tại Xã Hải Phong, Huyện Hải Hậu, tỉnh Nam Định)”
10. Hoàng Phê (1998), Từ điển Tiếng Việt. NXB Khoa học xã hội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển Tiếng Việt
Tác giả: Hoàng Phê
Nhà XB: NXB Khoa học xã hội
Năm: 1998
12. HĐND phường Hồng Hải (2016), Báo cáo kết quả hoạt động của HĐND xã giai đoạn 2011 - 2016, TP Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo kết quả hoạt động của HĐND xã giai đoạn 2011 - 2016
Tác giả: HĐND phường Hồng Hải
Năm: 2016
15. Lê Ngọc Thắng (2005), Công tác xóa đói giảm nghèo vùng đồng bào dân tộc thiểu số, thực trạng và giải pháp Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lê Ngọc Thắng (2005)
Tác giả: Lê Ngọc Thắng
Năm: 2005
16. Lịch sử cách mạng của Đảng bộ và Nhân dân xã An Phú(1930-2015), nhà xuất bản chính trị tháng 6 năm 2016 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sử cách mạng của Đảng bộ và Nhân dân xã An Phú(1930-2015
Nhà XB: nhà xuất bản chính trị tháng 6 năm 2016
17. Phạm Quý Thọ, “Thực trạng giảm nghèo ở Việt Nam”.Đăng trên tạp chí kinh tế và phát triển số 95 tháng 5/2005 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thực trạng giảm nghèo ở Việt Nam
19. Xoá đói giảm nghèo ở vùng dân tộc thiểu số nước ta hiện nay – thực trạng và giải pháp. Tác giả Hà Quế Lâm Sách, tạp chí
Tiêu đề: Xoá đói giảm nghèo ở vùng dân tộc thiểu số nước ta hiện nay – thực trạng và giải pháp
22. Nguyễn Hữu Lợi, Giảm nghèo bền vững cho người dân tộc thiểu số huyện Bắc Trà My, Tỉnh Quảng Nam, Tạp chí phát triển kinh tế - xã hội Đà Nẵng Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giảm nghèo bền vững cho người dân tộc thiểu số huyện Bắc Trà My, Tỉnh Quảng Nam
24. Nguyễn Thị Hoa (2009), Hoàn thiện các chính sách xóa đói giảm nghèo chủ yếu của Việt Nam đến năm 2015, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hoàn thiện các chính sách xóa đói giảm nghèo chủ yếu của Việt Nam đến năm 2015
Tác giả: Nguyễn Thị Hoa
Năm: 2009
25. Nguyễn Thị Thái Lan, Nguyễn Thị Thanh Hương và Bùi Thị Xuân Mai (2008),Giáo trình công tác xã hội nhóm, Trường Đại học Lao động – Xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình công tác xã hội nhóm
Tác giả: Nguyễn Thị Thái Lan, Nguyễn Thị Thanh Hương và Bùi Thị Xuân Mai
Năm: 2008
26. Nguyễn Hồi Loan (2013), Tập bài giảng Hành vi con người và môi trường xã hội, Đại học Khoa học xã hội và nhân văn Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tập bài giảng Hành vi con người và môi trường xã hội
Tác giả: Nguyễn Hồi Loan
Năm: 2013
27. Nguyễn Hồi Loan và Nguyễn Thị Kim Hoa (2015), Giáo trình Công tác xã hội đại cương, Bộ Giáo dục và Đào tạo, NXB Đại học Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Công tác xã hội đại cương
Tác giả: Nguyễn Hồi Loan và Nguyễn Thị Kim Hoa
Nhà XB: NXB Đại học Quốc gia Hà Nội
Năm: 2015
2. Bộ Lao động- Thương binh và Xã hội (2005), Báo cáo Chính phủ về chuẩn nghèo giai đoạn năm 2006 – 2010 số 21/LĐTBXH-BTXHhttp://thuvienphapluat.vn/archive/Bao-cao-21-LDTBXH-BTXH-chuan-ngheo- giai-doan-2006-2010-vb144634.aspx Link
20. Nguyễn Tuyết Mai (30/8/2005) Khoa học và nghệ thuật lãnh đạo công ty (P2) 17/10/2007 từ http://www.timtailieu.vn/tai-lieu/khoa-hoc-va-nghe-thuat-lanh- dao-cong-ty-khai-niem-nang-luc-lanh-dao-18300/ Link

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w