1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Công tác xã hội cá nhân với phụ nữ nghèo tại xã Quảng Phong, huyện Hải Hà, tỉnh Quảng Ninh

76 175 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 76
Dung lượng 1,21 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tổng quan một số vấn đề về Thực trạng hộ nghèo, hộ cận nghèo các thôn ở Quảng Phong Hải Hà Quảng Ninh. Tiến trình công tác xã hội cá nhân với phụ nữ nghèo đơn thân tại xã Quảng phong huyện Hải Hà, tỉnh Quảng Rút ra bài học từ quý trình can thiệp với phụ nữ nghèo đơn thân.

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI & NHÂN VĂN

- -PHAN THANH TÙNG

CÔNG TÁC XÃ HỘI CÁ NHÂN VỚI PHỤ NỮ NGHÈO

TẠI XÃ QUẢNG PHONG, HUYỆN HẢI HÀ,

TỈNH QUẢNG NINH

LUẬN VĂN THẠC SĨ CÔNG TÁC XÃ HỘI

HÀ NỘI - 12/2018

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI & NHÂN VĂN

- -PHAN THANH TÙNG

CÔNG TÁC XÃ HỘI CÁ NHÂN VỚI PHỤ NỮ NGHÈO

TẠI XÃ QUẢNG PHONG, HUYỆN HẢI HÀ,

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đề tài luận văn: “Công tác xã hội cá nhân với phụ

nữ nghèo tại xã Quảng Phong, huyện Hải Hà, tỉnh Quảng Ninh” là công

trình nghiên cứu của cá nhân tôi dưới sự hướng dẫn của PGS.TS Phạm Văn Quyết và những kết quả nghiên cứu trong luận văn này là hoàn toàn trung thực

Hà Nội, ngày 30 tháng 11 năm 2018

Học viên

Phan Thanh Tùng

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Trong suốt quá trình thực hiện bài khóa luận tốt nghiệp chuyên ngành

Công tác xã hội với đề tài: “Công tác xã hội cá nhân với phụ nữ nghèo tại

xã Quảng Phong, huyện Hải Hà, tỉnh Quảng Ninh” ngoài sự nỗ lực, cố

gắng của bản thân, sinh viên đã nhận được sự giúp đỡ nhiệt tình, những lời động viên sâu sắc từ phía thầy cô, gia đình và bạn bè

Lời đầu tiên, em xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến PGS TS Phạm

Văn Quyết, người đã trực tiếp hướng dẫn, tận tình chỉ bảo và giúp đỡ em

trong suốt quá trình thực hiện khóa luận này

Sinh viên xin được gửi lời cảm ơn chân thành tới trường Đại học Khoa học xã hội và nhân văn đặc biệt là các thầy giáo, cô giáo trong khoa xã hội học đã giảng dạy và trang bị cho em những kiến thức cũng như những kỹ năng sống trong suốt những năm học vừa qua, cung cấp cho em những kiến thức bổ ích để hoàn thành bài luận văn này.

Em cũng xin gửi lời cảm ơn đến Hội LHPN huyện, UBND xã Quảng Phong, Ban XĐGN xã Quảng Phong, Hội LHPN xã Quảng Phong, các cán bộ hội phụ nữ thôn 8, xã Quảng Phong đã tạo mọi điều kiện thuận lợi giúp em hoàn thành bài khóa luận này

Khóa luận này cũng là món quà tinh thần em muốn gửi đến gia đình và bạn bè thân yêu của mình để tỏ lòng biết ơn sâu sắc những người đã luôn ở bên động viên, khuyến khích em trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu

Một lần nữa em xin chân thành cảm ơn!

Hà Nội, ngày 30 tháng 11 năm 2018

Học viên

Phan Thanh Tùng

Trang 5

MỤC LỤC

DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT 3

PHẦN MỞ ĐẦU 4

1 Lý do chọn đề tài: 4

2 Ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiễn 5

3 Mục đích nghiên cứu 6

4 Đối tượng, khách thể và phạm vi nghiên cứu 6

5 Phương pháp nghiên cứu can thiệp 7

6 Bố cục bài báo cáo 9

CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CÔNG TÁC XÃ HỘI CÁ NHÂN VỚI PHỤ NỮ NGHÈO 10

1.1 Lịch sử vấn đề được nghiên cứu và triển khai ứng dụng 10

1.2 Tổng quan về vấn đề nghiên cứu 12

1.3 Các lý thuyết vận dụng trong đề tài 14

1.3.1 Lý thuyết nhu cầu của Abraham Maslow 14

1.3.2 Lí thuyết hệ thống 16

1.4 Một số khái niệm liên quan đến đề tài nghiên cứu 18

1.4.1 Nghèo và phụ nữ nghèo 18

1.4.2 Nghèo đói 21

1.4.3 Công tác xã hội cá nhân 22

CHƯƠNG 2: TRIỂN KHAI MÔ HÌNH CÔNG TÁC XÃ HỘI CÁ NHÂN VỚI PHỤ NỮ NGHÈO TẠI XÃ QUẢNG PHONG 26

2.1 Vài nét về xã Quảng phong và tình hình nghèo tại xã Quảng Phong, huyện Hải Hà, tỉnh Quảng Ninh 26

2.1.1 Điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội xã Quảng Phong 26

Trang 6

2.1.2 Thực trạng đời sống phụ nữ nghèo tại xã Quảng Phong, huyện Hải

Hà, tỉnh Quảng Ninh 27

2.2 Thực trạng đời sống phụ nữ nghèo tại xã Quảng Phong- huyện Hải Hà- tỉnh Quảng Ninh 30

2.2.1 Tiếp cận đối tượng và xác định vấn đề ban đầu 30

2.2.2 Thu thập thông tin 32

2.2.3 Chẩn đoán 37

2.2.4 Lập kế hoạch can thiệp 44

2.2.5 Triển khai kế hoạch 48

2.2.6 Lượng giá 56

2.2.7 Kết thúc vấn đề 57

2.3 Đánh giá Nhân viên xã hội trong quá trình trợ giúp đối tượng 59

2.4 Đánh giá vấn đề của thân chủ trước và sau khi thực hiện quá trình can thiệp 59

2.5 Bài học kinh nghiệm 61

KẾT LUẬN 63

1 Kết luận 63

2 Khuyến nghị 64

2.1 Khuyến nghị với địa phương 64

2.2 Khuyến nghị với đối tượng phụ nữ nghèo 64

TÀI LIỆU THAM KHẢO 65

PHỤ LỤC 66

Trang 8

PHẦN MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài:

Việt Nam là một nước đang phát triển, phải đối mặt với rất nhiều vấn đềxã hội, đặc biệt là nghèo đói Trong hơn mươi năm đổi mới, công tác giảm nghèo đạt được những thành tựu đáng khích lệ Tuy nhiên, tình trạng nghèo đói vẫn tồn tại và đang là một cản trở trong công cuộc xây dựng đất nước Để xây dựng một nước Việt Nam giàu mạnh, thì đòi hỏi sự cố gắng và nỗ lực của toàn xã hội trong cuộc chiến với đói nghèo

Đói nghèo là một trong những vấn đề xã hội bức xúc mang tính toàn cầu, nó tồn tại ở mọi quốc gia, mọi Châu lục và không trừ một ngoại lệ nào Bước sang thế kỷ XXI nhưng một phần tư thế giới vẫn đang sống trong sự cùng cực của nghèo khổ không đủ khả năng đáp ứng những nhu cầu cơ bản của con người Hàng triệu người khác có nguy cơ tái nghèo cao

Đói nghèo không chỉ làm cho hàng triệu người không có cơ hội được hưởng những thành quả văn minh tiến bộ của loài người mà còn gây ra những hậu quả nghiêm trọng về kinh tế xã hội Đói nghèo còn ảnh hưởng đến nhiều đối tượng khác nhau kể cả đối với người già và trẻ em, làm gia tăng bệnh tật, trẻ em không có được cơ hội đến trường, từ đó nảy sinh ra những tệ nạn xã hội, không được tiếp xúc với các dịch vụ y tế, chăm sóc sức khỏe

Đặc biệt, càng khó khăn hơn khi họ là những người phụ nữ nghèo đơn thân làm chủ gia đình họ không chỉ là nạn nhân của đói nghèo mà họ còn gánh vác trọng trách nuôi sống cả gia đình, thiếu thốn tình cảm, mặc cảm, tự

ti, ít giao tiếp xã hội và sống khép mình, chịu sự kỳ thị của cộng đồng… Bởi vậy, hạn chế tình trạng nghèo đói là nhiệm vụ của các cấp các ngành nói riêng

và toàn thể cộng đồng nói chung Trong đó, NVCTXH được coi là những

Trang 9

người có trọng trách nặng trong giúp đỡ họ tự vượt qua những khó khăn trong cuộc sống bằng những kiến thức và kỹ năng chuyên môn đặc thù

Tại huyện Hảiqua một năm thực hiện chương trình xóa đói giảm nghèo, tỉ lệ hộ nghèo năm 2016 đã giảm xuống còn 1362 hộ chiếm 5,01% , Công tác giảm nghèo trong thời gian qua đã có những thay đổi, đời sống của người dân được nâng cao

Tuy nhiên cho đến nay vẫn tỷ lệ hộ nghèo của huyện vẫn còn cao, đặc biệt tỉ lệ phụ nữ nghèo vẫn chiếm tỷ lệ cao Theo danh sách thống kê hộ nghèo của huyện Hải Hà thì tỉ lệ hộ nghèo do phụ nữ làm chủ hộ chiếm 28,8% Trong đó xã Quảng Phong là một trong những xã có nhiều phụ nữ nghèo vì đây là một xã ven biển, phần lớn người đàn ông làm nghề biển (nghề

có nhiều mối nguy hiểm)

Vì những lý do trên, tôi chọn đề tài “Công tác xã hội cá nhân với phụ

nữ nghèo tại xã Quảng Phong, huyện Hải Hà, tỉnh Quảng Ninh”

2 Ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiễn

2.1 Ý nghĩa khoa học

Dưới góc độ tiếp cận của lý thuyết xã hội học, lý thuyết công tác xã hội đặc biệt là CTXHCN cùng với việc sử dụng các kỹ năng và các phương pháp thu thập và phân tích thông tin, kết quả nghiên cứu của đề tài góp phần cung cấp thêm nguồn lý luận phong phú cho việc ứng dụng các lý thuyết và các phương pháp này trong thực tiễn

2.2 Ý nghĩa thực tiễn

Nghiên cứu này được tiến hành với mục đích ứng dụng tiến trình CTXHCN với phụ nữ nghèo dựa trên khảo sát chính nhu cầu của họ Việc ứng dụng tốt tiến trình này sẽ mang lại những lợi ích thiết thực cho thân chủ bởi thông qua đó họ có cơ hội bày tỏ, chia sẻ những khó khăn trong cuộc

Trang 10

sống, những tâm tư nguyện vọng cũng như những đường hướng để vươn lên XĐGN, ổn định cuộc sống

Nghiên cứu sẽ làm cơ sở cho địa phương vận dụng, chỉ đạo, tổ chức thực hiện công tác giảm nghèo cho phụ nữ Đồng thời kết quả nghiên cứu cũng giúp ích cho các tổ chức hoạt động vì cộng đồng trong việc định hướng can thiệp giảm nghèo cho các nhóm yếu thế trong xã hội đặc biệt là nhóm phụ

nữ

3 Mục đích nghiên cứu

Nghiên cứu này nhằm vận dụng những kiến thức đã học đặc biệt là những kỹ năng và phương pháp CTXHCN vào đối tượng phụ nữ nghèo nhằm tìm hiểu những vấn đề cũng như nhu cầu của họ để từ đó cùng thân chủ xây dựng kế hoạch cụ thể nhằm giải quyết vấn đề, hỗ trợ, định hướng và kết nối

họ với các nguồn lực để giúp thân chủ vươn lên trong cuộc sống

Nghiên cứu hướng tới 3 mục đích cơ bản sau đây:

- Phân tích nhu cầu nguyện vọng của thân chủ trên cơ sở đó vận dụng tiến trình CTXHCN để hỗ trợ thân chủ vượt qua khó khăn và vươn lên thoát nghèo

- Hỗ trợ, tham vấn tâm lý và kết nối với nguồn lực cộng đồng để thân chủ lấy lại sự tự tin, có nghị lực sống và hòa nhập cộng đồng

- Rút ra những bài học kinh nghiệm từ tiến trình can thiệp

4 Đối tƣợng, khách thể và phạm vi nghiên cứu

4.1 Đối tƣợng nghiên cứu

Tiến trình CTXHCN hỗ trợ một phụ nữ nghèo tạixã Quảng Phong, huyện

4.2 Khách thể nghiên cứu

- Chị Trần Thị Th, một phụ nữ nghèo tại xã Quảng Phong, huyện Hải

Hà, tỉnh Quảng Ninh

Trang 11

- Những cán bộ làm chính sách XĐGN và hội phụ nữ xã Quảng Phong, huyện Hải Hà, tỉnh Quảng Ninh, chi hội phụ nữ thôn 8, xã Quảng Phong, huyện Hải Hà, tỉnh Quảng Ninh

4.3 Phạm vi nghiên cứu

- Phạm vi không gianNghiên cứu được tiến hành tại thôn 8, xã Quảng Phong- Hải Hà- Quảng Ninh

- Phạm vi thời gianNghiên cứu bắt đầu từ tháng 8/2017 đến 2/2018

5 Phương pháp nghiên cứu can thiệp

5.1 Phương pháp phân tích tài liệu có sẵn

Nghiên cứu có sử dụng những thông tin từ những nguồn tài liệu có sẵn dựa trên nguồn số liệu của cuộc khảo sát xác định hộ nghèo theo chuẩn mới (danh sách hộ nghèo năm 2017, 2018 xã Quảng Phong), các báo cáo kinh tế chính trị của xã Quảng Phong năm 2017, 2018, báo cáo của LHPN xã Quảng Phong, các tài liệu về phụ nữ, …để làm tư liệu trong quá trình hoàn thành đề tài

5.2 Phương pháp quan sát

Phương pháp quan sát được NVXH sử dụng nhằm thu thập thông tin thực nghiệm cho nghiên cứu, thông qua quan sát NVXH có thể một phần đánh giá vấn đề mà thân chủ đang gặp phải

Trang 12

5.3 Phương pháp phỏng vấn sâu

Mục đích của phương pháp này là thu thập thông tin và đánh giá vấn đề chính và những vấn đề liên quan Để thực hiện phỏng vấn sâu NVXH đã chuẩn bị trước một bảng hỏi với những nội dung liên quan đến vấn đề của thân chủ và vấn đề nghèo đói

Với nghiên cứu này sử dụng phương pháp phỏng vấn sâu nhằm tìm hiểu sâu hơn vấn đề của thân chủ, tìm hiểu cảm giác và quan điểm của thân chủ về nghèo đói và thực trạng, nguyên nhân dẫn đến nghèo đói tại xã Quảng Phong

Sử dụng phương pháp này còn để tìm hiểu sâu hơn về những chính sách của địa phương nhằm hổ trợ phụ nữ nghèo tại xã thoát nghèo, những mong muốn của chính quyền xã, cán bộ chính sách về những chủ trương của Đảng

về xóa đói giảm nghèo

Trong đề tài nghiên cứu sinh viên đã thực hiện phỏng vấn sâu 14 trường hợp: 1 thân chủ, 1 trưởng ban xóa đói giảm nghèo xã, 1 chủ tịch hội phụ nữ

xã, 1 hội trưởng hộ phụ nữ thôn 8 và 10 phụ nữ nghèo ở xã tất cả những phỏng vấn này nhằm thu thập thông tin như: Thực trạng nghèo đói, nguyên nhân dẫn đến tình trạng phụ nữ nghèo tại xã, những khó khăn mà phụ nữ nghèo tại xã gặp phải và mong muốn của họ

5.4 Phương pháp công tác xã hội cá nhân

Đây là một phương pháp giúp đỡ từng cá nhân thông qua mối quan hệ một-một Công tác xã hội cá nhân được nhân viên xã hội chuyên nghiệp sử dụng trong các cơ sở xã hội hoặc trong các tổ chức công tác xã hội để giúp những người có vấn đề thực hiện chức năng xã hội

Trong nghiên cứu này NV CTXH đã sử dụng phương pháp công tác xã hội cá nhân để làm việc với một đối tượng cụ thể, đó là một phụ nữ nghèo có hoàn cảnh rất khó khăn ởthôn 8, xã Quảng Phong- Hải Hà- Quảng Ninh Sử dụng phương pháp này sẽ giúp thân chủ thấy rõ những vấn đề mà họ đang gặp

Trang 13

phải, khích lệ thân chủ nói lên những tâm tư nguyện vọng của họ Đồng thời NVXH sẽ cùng thân chủ đưa ra những giải pháp để giúp thân chủ thoát nghèo

và tăng cường kĩ năng ứng phó để thân chủ có thể đối mặt với những khó khăn trong cuộc sống

Sử dụng phương pháp này nhân viên xã hội sẽ kết hợp với những kĩ nãng của chuyên ngành công tác xã hội như: Kĩ năng quan sát, kĩ năng phỏng vấn, kĩ năng vấn đàm, Sử dụng phương pháp công tác xã hội cá nhân sẽ tiến hành 7 bước sau

Bước 1 Tiếp cận thân chủ

Bước 2 Xác định vấn đề

Bước 3 Thu thập thông tin

Bước 4 Chuẩn đoán

Bước 5 Lên kế hoạch trị liệu

Bước 6 Trị liệu

Bước 7 Lượng giá và kết thúc

6 Bố cục bài báo cáo

Chương 1: Cơ sở lý luận về công tác xã hội cá nhân với phụ nữ nghèo Chương 2:Triển khai mô hình công tác xã hội cá nhân với phụ nữ nghèo

tại xã Quảng Phong, huyện Hải Hà, tỉnh Quảng Ninh

Trang 14

CHƯƠNG 1.CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CÔNG TÁC XÃ HỘI CÁ NHÂN VỚI

PHỤ NỮ NGHÈO 1.1 Lịch sử vấn đề được nghiên cứu và triển khai ứng dụng

* Một số nghiên cứu và triển khai ứng dụng của công tác xã hội với xóa đói giảm nghèo trên thế giới

Nghiên cứu về xóa đói giảm nghèo đã được thực hiện dưới nhiều góc

độ khác nhau.Tuy nhiên, nghiên cứu về xóa đói giảm nghèo dưới góc độ công tác xã hội mới được đề cập đến trong một số công trình

Công tác xã hội và xóa đói giảm nghèo (Social word and poverty

reduction) được nghiên cứu tại Umuebu - Nigeria: Các quan điểm và tiếng nói của các nhân viên xã hội ít khi tìm thấy trong việc lập kế hoạch và thực hiện chương trình xóa đói giảm nghèo ở Nigeria Nghiên cứu này nhằm lấp đầy khoảng trống này bằng cách chứng minh các quan điểm và tiếng nói của các nhân viên xã hội có thể đóng góp cho các chương trình giảm nghèo thàng công ở Nigeria

Xóa đói giảm nghèo và vai trò của nhân viên công tác xã hội (Poverty

eradication and the role for social workers) của Nairobi (tháng 1 năm 2010): Trong thực tế tất cả các nơi trên thế giới, những người làm công tác xã hội lo ngại về đói nghèo đã tăng lên, những nguồn lực thiếu, nguyên nhân của việc đẩy con người vào đói nghèo Ở cấp độ vi mô của thực hành hàng ngày, các nhân viên xã hội làm việc một cách sáng tạo và sáng tạo để giúp người dân (cá nhân và cộng đồng) hiểu tình hình của họ và thay đổi hành vi và môi trường của họ Một vai trò quan trọng là phát triển cộng đồng, đòi hỏi kỹ năng phân tích cộng đồng, lập kế hoạch xã hôi, tổ chức cộng đồng và hoạt động xã hội.Phát triển cộng đồng đòi hỏi khả năng để thúc đẩy các cơ hội kinh tế cho người dân khu vực thông qua việc duy trì công nghiệp, phát triển doanh nghiệp địa phương, đào tạo việc làm.Vai trò khác là cộng đồng thực hành

Trang 15

giúp mọi người khám phá nguồn tài nguyên riêng của họ và khả năng của mình để tạo ra ảnh hưởng và thay đổi tích cực.Tầm quan trọng của điều này

đã được nhấn mạnh bằng cách nhận ra rằng nghèo đói liên quan đến một tập hợp phức tạp của các tương tác giữa các đặc điểm cá nhân và một nguồn lực của cộng đồng và các cơ hội.Với những khó khăn, nhân viên xã hội đánh giá

về rủi ro của các cá nhân và họ phải sử dụng khả năng và ảnh hưởng của họ

để bảo vệ các nạn nhân của đói nghèo từ bản thân hoặc từ những người khác.Ví dụ như tình trạng bạo lực gia đình, lạm dụng trẻ em hoặc sức khỏe tâm thần Nhân viên xã hội làm việc với những người nghèo đói và chứng kiến hành vi của họ thay đổi tầm quan trọng của việc tích hợp lý thuyết về các giá trị chuyên nghiệp mà mọi người tôn trọng, sự lựa chọn và quyết định của mình Trong phương pháp này, cộng đồng thực hành kết hợp làm việc với các

cá nhân và gia đình có công việc cộng đồng, tập trung vào nguồn lực và cơ hội tăng cường cùng với năng lực cá nhân và cá nhân phát triển ra các nguyên nhân nghèo đói của họ Đó là điều cần thiết cho xóa đói giảm nghèo

Vai trò của công tác xã hội trong các chương trình xóa đói giảm nghèo

ở Philippines: tư tưởng, chính sách và các ngành nghề (The role of social

work in Philippine poverty - reduction program: ideology, policy, and the profession): bài viết (Châu Á Thái Bình Dương Tạp chí Công tác xã hội và Phát triển, tập 23, số 1, năm 2013, trang 35-47) xem xét vai trò của công tác

xã hội trong 3 chương trình xóa đói giảm nghèo ở Philippines, nhấn mạnh đến việc kiểm tra tập trung vào các giá trị và nguyên tắc làm cơ sở cho việc thực hiện và mối quan hệ với quan niệm cụ thể của công tác xã hội Có ý kiến cho rằng, vai trò của công tác xã hội trong các chương trình này phản ánh tư tưởng thống trị trong chính sách xã hội Philippines Tính hợp pháp nhận thức của phương pháp tiếp cận có liên quan đến mức độ mà họ thể hiện quan niệm chủ đạo của các vấn đề xã hội và công tác xã hội, đặc trưng bởi sự tham gia

Trang 16

của nhân viên và khách hàng tập trung với mục đích thực sự thay đổi trong các cá nhân và môi trường trực tiếp của mình

1.2 Tổng quan về vấn đề nghiên cứu

XĐGN và phát triển bền vững là một trong những vấn đề đang được toàn thế giới quan tâm, từ Liên hợp quốc, các tổ chức quốc tế đa phương, song phương, các tổ chức phi chính phủ đến các vùng lãnh thổ, các quốc gia, chính quyền địa phương các cấp Trên bình diện toàn cầu, Liên hợp quốc xác định XĐGN là một trong những nhiệm vụ trọng yếu trong các mục tiêu phát triển thiên niên kỷ Ở phạm vi quốc gia, Đảng Cộng sản và Nhà nước Việt Nam cũng đã xác định XĐGN là một trong những hành động được ưu tiên nhất đồng thời, nghèo đói cũng trở thành một chủ đề nghiên cứu được tranh luận nhiều

Xung quanh vấn đề nghèo đói đã có không ít các công trình nghiên cứu các cơ quan nghiên cứu thuộc Trung Tâm Khoa học Xã hội và Nhân văn Quốc gia, Bộ Lao động và Thương binh & Xã hội và đặc biệt là các tổ chức quốc tế tại Việt Nam (Ngân hàng thế giới, Liên Hợp Quốc, tổ chức ActionAid

- Việt Nam, Oxfam tại Việt Nam) như: “Đói nghèo ở Việt Nam” tác giả Nguyễn Thị Hằng, “Giảm nghèo trong nông thôn hiện nay” tác giả Nguyễn Văn Tiêm 1993, “Giảm nghèo Việt Nam” của UNICF năm 1995; “Vấn đề

nghèo đói ở Việt Nam” của ADUKI năm 1995; “vấn đề xóa đói giảm nghèo ở nông thôn nước ta hiện nay” của tác giả Nguyễn Thị Hằng 1997… Các nghiên

cứu vĩ mô cũng đề cập khá chi tiết đến yếu tố phân tầng xã hội ở Việt Nam như

“Báo cáo về tình trạng nghèo đói và công bằng ở Việt Nam” của tổ chức

Oxfam năm 1999 hay công trình “Kinh tế thị trường và sự phân hóa giàu

nghèo ở vùng dân tộc và miền núi phía Bắc nước ta hiện nay” do Lê Du Phong

và Hoàng Văn Hoa chủ biên Những nghiên cứu này đề cập đến vấn đề nghèo

Trang 17

đói từ nhiều cấp độ khác nhau như vùng miền, đô thị, nông thôn, miền núi xã nghèo, hộ nghèo…

Đề cập đến các vấn đề nghèo đói của phụ nữ có thể kể đến đề tài

“Phát triển bền vững nông thôn vùng Bắc Trung Bộ: xóa đói giảm nghèo và

giải quyết việc làm”, Viện nghiên cứu Môi trường và Phát triển Mục đích

chính của đề tài là xem xét đánh giá thực trạng tình hình nông thôn vùng Bắc Trung Bộ Việt Nam dưới góc độ thực hiện các mục tiêu phát triển bền vững của Việt Nam và thực hiện các mục tiêu Thiên niên kỷ mà Việt Nam đã cam kết trên các lĩnh vực chủ yếu: xóa đói giảm nghèo và giải quyết việc làm

Một đề tài khác thuộc nhóm này là “Vai trò của phụ nữ nông thôn

trong phát triển kinh tế ở đồng bằng sông Hồng”do trung tâm nghiên cứu

khoa học về Phụ nữ và Gia đình cũng đã tiến hành năm 2006 Bên cạnh vai trò của phụ nữ nông thôn trong phát triển kinh tế XĐGN nghiên cứu cũng đã

đề cập đến vai trò của các đoàn thể chính trị - xã hội như Hội LHPN, Hội nông dân,… trong phát triển kinh tế - xã hội, nói chung và phong trào giảm nghèo nói riêng

Luận văn thạc sỹ chuyên ngành xã hội học của tác giả Đặng Đỗ Quyên

về đề tài: “Đặc trưng kinh tế và xã hội của hộ nghèo tại tỉnh Bắc Cạn” năm 2006

với những nội dung chủ yếu là: phân tích các đặc trưng kinh tế và xã hội cả hộ nghèo nhằm nhận diện hộ nghèo theo chuẩn mới; chỉ ra mối liên hệ của các đặc trưng kinh tế xã hội với tình trạng và mức độ nghèo đói của họ đồng thời tìm hiểu những khó khăn và nhu cầu cần được trợ giúp của hộ nghèo Từ đó, đưa ra những dự báo về xu hướng biến đổi đặc trưng kinh tế - xã hội của hộ nghèo và bước đầu đề xuất một số kiến nghị và giải pháp

Luận văn thạc sỹ xã hội học của tác giả Hà Thị Thu Hòa về: “Hoạt

động giảm nghèo đối với phụ nữ nghèo tại ngoại thành Hà Nội” (Nghiên cứu

trường hợp hai xã Cổ Nhuế và Xuân Phương, huyện Từ Liêm, Hà Nội) năm

Trang 18

2008 đã đi sâu tìm hiểu về thực trạng nghèo đói của các hộ gia đình ở hai xã

Cổ Nhuế và Xuân Phương; làm rõ hoạt động của các đoàn thể với công tác XĐGN đặc biệt là vai trò của Hội liên hiệp phụ nữ huyện trong việc triển khai các hoạt động giảm nghèo của người phụ nữ ở ngoại thành Hà Nội Từ

đó, đưa ra các giải pháp nhằm tăng cường hoạt động của các tổ chức chính trị-

xã hội trong hoạt động XĐGN trên địa bàn hai xã này

Có rất nhiều nghiên cứu đói nghèo ở các góc độ khác nhau về cả lý luận và thực tiễn Tuy nhiên chưa có công trình nào nghiên cứu về phụ nữ nghèo ở xã Quảng Phong, huyện Hải Hà, tỉnh Quảng Ninh, nhận thức được

điều đó tôi đã chọn đề tài: “Công tác xã hội cá nhân với phụ nữ nghèo tại xã Quảng Phong, huyện Hải Hà, tỉnh Quảng Ninh” Nhằm làm rõ hơn về

những khó khăn của những phụ nữ nghèo nơi đây, đồng thời áp dụng CTXH

cá nhân vào việc nâng cao chất lượng cuộc sống, cải thiện đời sống của phụ

nữ nghèo tại xã Quảng Phong, huyện Hải Hà, tỉnh Quảng Ninh

1.3 Các lý thuyết vận dụng trong đề tài

1.3.1 Lý thuyết nhu cầu của Abraham Maslow

Abraham Maslow (1908 - 1970) là nhà tâm lý học người Mỹ Ông được thế giới biết đến như là người tiên phong cho trường phái tâm lý học nhân văn (Humanistic psychology) - một trường phái nhấn mạnh những giá trị, sự tự

do, sáng tạo, khuynh hướng tự chủ, những kinh nghiệm của con người - bởi

hệ thống lý thuyết về “thang bậc nhu cầu” (Hierarchy of Needs) của con người

Ông cho rằng, con người cần được đáp ứng những nhu cầu cơ bản để tồn tại và phát triển đó là nhu cầu thể chất, nhu cầu an toàn, nhu cầu tình cảm

xã hội, nhu cầu được tôn trọng và nhu cầu được hoàn thiện Các nhu cầu này được sắp xếp theo thứ tự thang bậc từ nhu cầu cơ bản nhất, có vị trí nền tảng nhất đến nhu cầu cao hơn Vì vậy, lý thuyết nhu cầu còn được gọi là bậc

Trang 19

thang nhu cầu Trong cách tiếp cận của ông con người thường có xu hướng thỏa mãn trước tiên những nhu cầu quan trọng nhất ở vị trí bậc thang đầu tiên rồi sau đó mới hướng tới thỏa mãn những nhu cầu cao hơn

Có thể mô hình hóa bậc thang nhu cầu của A Maslow như sau:

Nhu cầu thể chất sinh lý:

Đó là nhu cầu về thức ăn, nước uống, không khí, tình dục… Ông cho rằng đây là những nhu cầu cơ bản nhất để con người có thể tồn tại và duy trì

sự sống của bản thân vì vậy nó là một nhu cầu cần được đáp ứng trước tiên

Nhu cầu về an toàn:

Con người cần có một môi trường sống an toàn, đảm bảo về an ninh

để tính mạng của họ được đảm bảo Họ có nhu cầu tránh sự nguy hiểm, đe dọa từ môi trường không ổn định và đầy nỗi sợ hãi

Nhu cầu tình cảm xã hội:

Đây là nhu cầu thuộc về nhóm xã hội của con người, là sự mong muốn nhận được sự quan tâm của các thành viên trong nhóm xã hội Con người cần

n

Nhu cầu được tôn trọng

Nhu cầu xã hội

Nhu cầu an toàn

Nhu cầu vật chất Nhu cầu hoàn thiện

Trang 20

có gia đình, cần tới trường để học tập và vui chơi trong nhóm bạn bè cùng lớp, cần được tham gia vào nhiều nhóm trong xã hội Trong các nhóm xã hội thì gia đình là nhóm xã hội đặc thù, cơ bản nhất của con người

Nhu cầu được tôn trọng

Khi con người bắt đầu thỏa mãn nhu cầu được chấp nhận là thành viên trong xã hội thì họ có xu thế tự trọng và muốn được người khác tôn trọng, họ cần được bình đẳng, được lắng nghe và không bị coi thường, dù họ

là ai, trẻ em hay người tàn tật, người giàu hay người nghèo

Nhu cầu hoàn thiện

Maslow xem đây là nhu cầu cao nhất trong cách phân cấp của ông

Đó là nhu cầu được đến trường, được nghiên cứu, lao động sáng tạo…để phát triển một cách toàn diện

Dựa trên thang nhu cầu của Maslow, NVCTXH áp dụng vào đề tài nhằm xác định, đánh giá những nhu cầu thực tế của thân chủ, để xem họ đang

ở bậc thang nhu cầu nào từ đó có biện pháp can thiệp phù hợp, kịp thời, mang lại hiệu quả cao

1.3.2 Lí thuyết hệ thống

Trong CTXH có hai loại thuyết hệ thống nổi bật được đề cập đến là thuyết hệ thống tổng quát và thuyết hệ thống sinh thái Trong nghiên cứu này sinh viên sử dụng lý thuyết hệ thống sinh thái, lý thuyết này được sử dụng rất

nhiều trong “Hệ thống là tập hợp các thành tố được sắp xếp có trật tự và liên

hệ với nhau để hoạt động thống nhất” Một hệ thống bao gồm nhiều tiểu hệ

Trang 21

thống Nghiên cứu này sẽ tìm hiểu các đặc điểm về sinh lý, nhận thức, tình cảm cũng như tâm tư, nguyện vọng của các cá nhân trong nhóm như một hệ thống Từ đó tìm hiểu về một hệ thống bao gồm các hệ thống cá nhân Có 3 hình thức hệ thống chính thức

Hệ thống phi chính thức: Gia đình, bạn bè, làng xóm

Hệ thống chính thức: Nhóm Cộng đồng, tổ chức đoàn thể

Hệ thống xã hội: Bệnh viện, trường học

Các hệ thống luôn có sự tác động lên cá nhân đó có thể là tác động tích cực, cũng có thể là tác động tiêu cực Bên cạnh đó không phải tất cả mọi người đều có khả năng tiếp nhận sự hỗ trợ như nhau về nguồn lực có từ các hệ thống tồn tại xung quanh Mỗi cá nhân chịu sự tác động khác nhau từ các hệ thống mà họ tồn tại Với phụ nữ nghèo cũng vậy, họ chịu tác động bởi nhiều

hệ thống và mỗi cá nhân lại có khả năng tiếp cận khác nhau, nghiên cứu sẽ tìm hiểu tác động của hệ thống lên phụ nữ nghèo

Lý thuyết hệ thống được sử dụng để giúp cho NVXH hiểu được thân chủ như một hệ thống với các yếu tố tương tác với nhau, và để thân chủ thực hiện được các hoạt động thì phải tương tác với các hệ thống khác bên ngoài Đối tượng thường xuyên có những nhu cầu luôn thay đổi để đạt được mục đích, mục tiêu và duy trì sự cân bằng, ổn định Vì vậy cần huy động nguồn lực hỗ trợ từ các hệ thống để đáp ứng nhu cầu Và nghiên cứu cũng vậy, nghiên cứu xuất phát từ việc đánh giá nhu cầu của phụ nữ nghèo để tìm nguồn hỗ trợ phù hợp dành cho đối tượng, NVXH là một trong những hệ thống thường xuyên tương tác với thân chủ, đặc biệt trong giai đoạn đầu tiến trình Hệ thống này không chỉ đóng vai trò chia sẽ, thấu cảm những khó khăn mà còn tìm hiểu để kết nối các hệ thống dịch vụ cung cấp cho các thân chủ

Thuyết hệ thống giúp cho NVXH hiểu được các thể chế, sự tương tác của các hệ thống này với nhau và với thân chủ Với nghiên cứu và thực hành

Trang 22

nghề này, nhiệm vụ quan trọng của sinh viên là đánh giá sự thay đổi của thân chủ đồng thời xác định liên hệ của thân chủ với các hệ thống hỗ trợ bên ngoài, xác định mối liên hệ nào là chặt chẽ nhất mối liên hệ nào là lõng lẽo để từ đó phát huy, cải thiện hay kết nối với nhau

Tóm lại lý thuyết hệ thống giúp NVXH đánh giá được những nhu cầu của đối tượng trong hệ thống chung đó để tìm ra nguồn hỗ trợ phù hợp từ các nguồn hệ thống Việc tiếp cận thuyết hệ thống cho chúng ta hiểu hơn các yếu

tố tác động đến phụ nữ nghèo và qua đó sẽ hiểu và phát huy các nguồn lực để

hổ trợ cũng như giúp đỡ họ vượt qua hoàn cảnh khó khăn hiện tại

1.4 Một số khái niệm liên quan đến đề tài nghiên cứu

1.4.1 Nghèo và phụ nữ nghèo

* Nghèo

“Nghèo” là tình trạng một bộ phận dân cư chỉ có một bộ phận dân cư chỉ

có các điều kiện vật chất và tinh thần để duy trì cuộc sống tối thiểu trong điều kiện chung của cộng đồng

Quan niệm về nghèo của một số cơ quan, tổ chức quốc tế

Theo Liên hợp quốc (UN): “Nghèo là thiếu năng lực tối thiểu để tham gia hiệu quả vào các hoạt động xã hội Nghèo có nghĩa là không có đủ ăn, đủ mặc, không được đi học, không được đi khám, không có đất đai để trồng trọt hoặc không có nghề nghiệp để nuôi sống bản thân, không được tiếp cận tín dụng Nghèo cũng có nghĩa là không an toàn, không có quyền, và bị loại trừ của các cá nhân, hộ gia đình và cộng đồng Nghèo có nghĩa là dễ bị bạo hành,

Trang 23

phải sống ngoài lề xã hội hoặc trong các điều kiện rủi ro, không được tiếp cận

nước sạch và công trình vệ sinh an toàn” (Tuyên bố Liên hợp quốc, 6/2008,

được lãnh đạo của tất cả các tổ chức UN thông qua)

Tại Hội nghị về chống nghèo đói do Uỷ ban Kinh tế Xã hội Khu vực Châu Á- Thái Bình Dương (ESCAP) tại Bangkok, Thái Lan vào tháng 9 năm

1993, các quốc gia trong khu vực đã thống nhất cao rằng: "Nghèo khổ là tình trạng một bộ phận dân cư không có khả năng thoả mãn những nhu cầu cơ bản của con người mà những nhu cầu ấy phụ thuộc vào trình độ phát triển kinh tế

xã hội, phong tục tập quán của từng vùng và những phong tục ấy được xã hội thừa nhận."

Theo Amartya Kumar Sen, nhà Kinh tế học Ấn Độ (đoạt giải Nobel Kinh tế năm 1998): để tồn tại, con người cần có những nhu cầu vật chất và tinh thần tối thiểu; dưới mức tối thiểu này, con người sẽ bị coi là đang sống

trong nghèo nàn

Quan niệm nghèo của Việt Nam

Hiện nay ở Việt Nam có nhiều ý kiến khác nhau xung quanh khái niệm nghèo đói, song ý kiến chung nhất cho rằng:

- Nghèo: là tình trạng một bộ phận dân cư chỉ có điều kiện thỏa mãn một phần nhu cầu tối thiểu cơ bản của cuộc sống và có mức sống thấp hơn mức sống trung bình của cộng đồng xét trên mọi phương diện

- Hộ nghèo, hộ cận nghèo là hộ gia đình qua điều tra, rà soát hằng năm

ở cơ sở đáp ứng các tiêu chí về xác định hộ nghèo, hộ cận nghèo theo quy định của Thủ tướng Chính phủ và được Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã quyết định công nhận thuộc danh sách hộ nghèo, hộ cận nghèo trên địa bàn

- Người nghèo: là người thuộc hộ nghèo

- Lao động nghèo: là người trong độ tuổi lao động, còn khả năng lao động thuộc hộ nghèo

Trang 24

Tiêu chí xác định hộ nghèo, hộ cận nghèo ở Việt Nam

Do phạm vi thời gian nghiên cứu trong giai đoạn 2017-2018, nên tiêu chí xác định hộ nghèo và cận nghèo được xác định trong giai đoạn nàyđược căn cứ theo Quyết định số 59/2015/QĐ-TTg về chuẩn hộ nghèo, hộ cận nghèo

áp dụng cho giai đoạn 2016-2020 (nghèo đa chiều)

- Chuẩn hộ nghèo, hộ cận nghèo:

+ Hộ nghèo:

Khu vực nông thôn: là hộ đáp ứng một trong hai tiêu chí sau:

Có thu nhập bình quân đầu người/tháng từ đủ 700.000 đồng trở xuống;

Có thu nhập bình quân đầu người/tháng trên 700.000 đồng đến 1.000.000 đồng và thiếu hụt từ 03 chỉ số đo lường mức độ thiếu hụt tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản trở lên

Khu vực thành thị: là hộ đáp ứng một trong hai tiêu chí sau:

Có thu nhập bình quân đầu người/tháng từ đủ 900.000 đồng trở xuống;

Có thu nhập bình quân đầu người/tháng trên 900.000 đồng đến 1.300.000 đồng và thiếu hụt từ 03 chỉ số đo lường mức độ thiếu hụt tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản trở lên

+ Hộ cận nghèo:

Khu vực nông thôn: là hộ có thu nhập bình quân đầu người/tháng trên 700.000 đồng đến 1.000.000 đồng và thiếu hụt dưới 03 chỉ số đo lường mức

độ thiếu hụt tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản

Khu vực thành thị: là hộ có thu nhập bình quân đầu người/tháng trên 900.000 đồng đến 1.300.000 đồng và thiếu hụt dưới 03 chỉ số đo lường mức

độ thiếu hụt tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản

Trang 25

1.4.2 Nghèo đói

Nghèo đói là một vấn đề kinh tế - xã hội mang tính toàn cầu Nghèo đói không chỉ là vấn đề xã hội ở các nước lạc hậu, kém phát triển mà ngay cả những nước công nghiệp phát triển cũng tồn tại một bộ phận dân cư bị đánh giá là nghèo Tuy vậy, quan niệm về nghèo đói vẫn còn nhiều ý kiến khác nhau, cho tới nay cũng chưa có khái niệm chính thống về đói nghèo

Nghiên cứu của Rowntree năm 1991 cho thấy, nghèo đói là sự thiếu hụt

một lượng dinh dưỡng nào đó để tồn tại được

Vào những năm 1970, Townsend quan niệm rằng “nghèo đói không chỉ

thiếu khả năng đáp ứng các nhu cầu dinh dưỡng tối thiểu mà còn thiếu khả năng theo kịp chuẩn mực của một xã hội nhất định nào đó” [Bùi Thị Tân, Bài

giảng vấn đề nghèo đói và các khuynh hướng xóa đói giảm nghèo ở Việt Nam] Cũng trong thời kỳ này, nghèo đói đã được mở rộng từ quan niệm về thu nhập sang một khái niệm rộng hơn đó là nhu cầu cơ bản Theo đó, nghiên cứu

của ILO cho rằng “nghèo đói không chỉ là thiếu thốn về thu nhập mà thiếu sự

tiếp cận với các dịch vụ y tế, giáo dục và các dịch vụ cơ bản khác”[ Bùi Thị

Tân, Bài giảng vấn đề nghèo đói và các khuynh hướng xóa đói giảm nghèo ở

Việt Nam]

Tại hội nghị chống nghèo đói do Ủy ban kinh tế - xã hội khu vực Châu Á Thái Bình Dương (ESCAP) tổ chức tại Băng Cốc – Thái Lan vào tháng

9/1993, đã đề cập tới nghèo đói như sau: “nghèo đói là tình trạng một bộ

phận dân cư không có khả năng thỏa mãn nhu cầu cơ bản của con người mà những nhu cầu ấy đã được xã hội thừa nhận phụ thuộc vào trình độ phát triển kinh tế xã hội, phong tục tập quán của địa phương”[ Bùi Thị Tân, Bài giảng

vấn đề nghèo đói và các khuynh hướng xóa đói giảm nghèo ở Việt Nam]

Tại Hội nghị thượng đỉnh thế giới về phát triển xã hội, tổ chức tại Copenhagenr, Đan Mạch năm 1995 đã đưa ra một định nghĩa cụ thể về người

Trang 26

nghèo “Người nghèo là tất cả những ai mà có thu nhập thấp hơn dưới 1USD

mỗi ngày cho mỗi người, số tiền được coi như đủ để mua những sản phẩm thiết yếu để tồn tại”[ Bùi Thị Tân, Bài giảng vấn đề nghèo đói và các khuynh

hướng xóa đói giảm nghèo ở Việt Nam]

Tóm lại, có thể đưa ra một khái niệm chung về nghèo đói như sau:

Nghèo đói là một phạm trù chỉ mức sống của một cộng đồng hoặc một nhóm dân cư là thấp, không đảm bảo được những nhu cầu tối thiểu của con người mà những nhu cầu này theo một tiêu chuẩn đã được xã hội thừa nhận

1.4.3.Công tác xã hội cá nhân

* Tiến trình công tác xã hội cá nhân

Tiến trình CTXH Cá nhân là một chuỗi hoạt động tương tác giữa NVXH với thân chủ để giải quyết vấn đề Trong quá trình này, thông qua mối quan

hệ tương giao giữa NVCTXH với thân chủ, NVXH dùng chính các quan điểm, giá trị, kiến thức chuyên môn, kinh nghiệm và kĩ năng của mình để giúp thân chủ hiểu rõ vấn đề của mình đồng thời khích lệ họ biểu đạt tâm tư, nhu cầu, phát huy tiềm năng, tham gia tích cực vào quá trình giải quyết vấn đề, cải thiện điều kiện sống của mình

Tiến trình CTXHCN là quá trình bao gồm các bước của các hoạt động

do NVXH và thân chủ thực hiện để giải quyết vấn đề Trong quá trình giúp

Trang 27

đỡ từ nhiều nguồn khác nhau, có những bước kéo dài suốt quá trình như thu thập dữ liệu, thẩm định và lượng giá Có thể mô phỏng theo 7 bước sau:

Bước 1: Tiếp cận đối tượng

Tiếp cận ca là bước đầu tiên có thể thân chủ tự tìm đến với nhân viên xã hội khi họ gặp vấn đề và cần sự giúp đỡ, song trong một chừng mực nào đó cũng có thể chính nhân viên xã hội lại là người tìm đến với thân chủ trong phạm vi hoạt động theo chức năng của mình Ở bước tiếp cận này nếu nhân viên xã hội tạo được ấn tượng tốt với thân chủ thì những bước sau sẽ thuận tiện hơn

Bước 2: Thu thập thông tin

Sau khi tiếp cận với thân chủ nhân viên xã hội phải tiến hành thu thập thông tin nhằm xá định vấn đề thân chủ đang gặp khó khăn trong việc tìm ra hướng giải quyết Đây là giai đoạn đầu tiên của quá trình công tác xã hội cá nhân, nó đóng vai trò quan trọng trong cá quá trình và kết quả của nó là sự định hướng cho tất cá các bước tiếp theo bởi nếu nhận diện đúng sẽ dẫn tới chẩn đoán và cách trị liệu đúng

Bước 3: Chuẩn đoán

Gồm 3 bước: Chuẩn đoán, Phân tích, Thẩm định

- Chuẩn đoán xem xét tính chất của vấn đề và những trục trặc của nó trên

cơ sở các dữ liệu thu nhân được

- Phân tích là chỉ ra nguyên nhân hay nhân tố dẫn đến khó khăn

- Thẩm định là xem có thể giảm bớt những khó khăn này thông qua những năng lực nào của thân chủ

Khi hoàn thành cuộc thẩm định tình huống có vấn đề và cá nhân liên quan trong đó, nhân viên xã hội làm ngay một kế hoạch trị liệu cho dù đây mới chỉ là kế hoạch tạm thời

Trang 28

Để tiến hành chuẩn đoán tốt nhằm xây dựng kế hoạch trị liệu hiệu quả, nhân viên công tác xã hội có thể sử dụng một số công cụ như: Cây phả hệ; Biểu đồ sinh thái; Bảng phân tích điểm mạnh và điểm yếu của thân chủ…để

có thể phân tích sâu và đưa ra chuẩn đoán chính xác

Bước 4: Lên kế hoạch trị liệu

Trong giai đoạn này nhân viên xã hội sẽ xác định mục đích trị liệu và mục tiêu cụ thể để đạt được mục đích Nhiệm vụ của hoạt động này:

- Xác định nội dung và mục tiêu phải đạt được: phải làm gì, đi đến đâu, phải đạt được gì, tạo được sự thay đổi gì và đích đến là gì

- Xác định hoạt này cho ai, nhóm nào và ở đâu

- Xác định cách thức, phương sách để đi đến mục tiêu: làm như thế nào

- Xác định rõ vai trò người thực hiện: ai là người thục hiện nhân viên xã hội nhân viên hay thân chủ

- Xác định thời gian, lịch trình thực hiện bằng khi nào? Bao lâu?

Bước 6: Lượng giá

Là việc xem xét lại toàn bộ những bộ phận trong tiến trình công tác xã hội cá nhân để thẩm định kết quả Lượng giá là một hoạt động liên tục, đồng thời dù cho là một bộ phận của tiến trình của công tác xã hội cá nhân và chỉ tìm được mục tiêu và biểu hiện đầy đủ sau một khoảng thời gian hoạt động

Khi các cuộc lượng giá định kì cho thấy có sự tiến bộ hoặc không thay đổi thì tiếp tục điều trị và người lại là phải thay đổi phương pháp trị liệu

Trang 29

- Nếu kết quả cho thấy chiều hướng xấu thì xác định mức độ đến đâu từ

đó thay đổi hoặc bổ sung kế hoạch trị liệu

- Nếu kết quả cho thấy tích cực có sự thay đổi tiến bộ của thân chủ thì nhân viên xã hội chủ động giảm dần vai trò tạo điều kiện giúp thân chủ tang tính độc lập trong việc thực hiên kế hoạch trị liệu

Kết thúc quá trình trị liệu là khi vấn đề của thân chủ đã được giải quyết hoặc sự hiện diện của nhân viên xã hội không còn cần thiết hoặc không thay đổi được vấn đề

Bước 7: Kết thúc

Kết thúc là chấm dứt mối quan hệ giữa nhân viên xã hội với thân chủ thường là khi nhân viên xã hội hoàn thành nhiệm vụ giúp thân chủ giải quyết vấn đề hoặc là chuyển ca sang một cơ quan hoặc nhân viên xã hội khác giải quyết và sự hiện điện của nhân viên xã hội là không còn cần thiết

 Việc kết thúc ca dựa trên:

- Nhu cầu và quyền lợi của thân chủ

- Không kéo dài vì ý tưởng chủ quan của thân chủ

- Không kết thúc vì sự duy ý chí của nhân viên xã hội

- Trước khi kết thúc cần nới lỏng quan hệ

Trang 30

CHƯƠNG 2: TRIỂN KHAI MÔ HÌNH CÔNG TÁC XÃ HỘI CÁ NHÂN

VỚI PHỤ NỮ NGHÈO TẠI XÃ QUẢNG PHONG 2.1 Vài nét về xã Quảng phong và tình hình nghèo tại xã Quảng Phong, huyện Hải Hà, tỉnh Quảng Ninh

2.1.1 Điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội xã Quảng Phong

Quảng Phong là xã trung du ven biển, nằm về phía tây nam huyện Hải

Hà, diện tích tự nhiên là 5.187,15 ha; Tổng số hộ 1.389 hộ, 5.057 nhân khẩu trong đó dân tộc thiểu số chiếm 52,3%; chia làm 10 thôn trong đó 01 thôn ngư nghiệp chuyên đánh bắt hải sản và 09 thôn nông nghiệp Mỗi dân tộc có bản sắc văn hóa và phong tục tập quán riêng, trình độ dân trí không đồng đều, dân

cư sống rải rác.Đường giao thông đi lại còn nhiều khó khăn (theo Báo cáo

tình hình thực hiện kinh tế - xã hội năm 2017 và phương hướng nhiệm vụ phát triển năm 2018

Là xã nằm trong quy hoạch khu công nghiệp cảng biển Hải Hà, cơ cấu kinh tế của xã những năm gần đây đang chuyển dịch theohướng giảm dần tỷ trọng kinh tế nông nghiệp và tăng dần tỷ trong kinh tế công nghiệp – dịch vụ

Quảng Phong là một xã thuần nông, người dân chủ yếu trồng lúa và một số hoa màu khác như: đậu, lạc, ngô và khoai Trong năm 2017 xã Quảng Phongđã có những bứt phá đi lên một cách ngoạn mục: Kinh tế xã hội tiếp tục được duy trì và phát triển, các chỉ tiêu cơ bản đạt kế hoạch đề ra, giá trị sản xuất kinh tế năm 2017 đạt 293,144 tỷ đồng = 108 %CK Trong đó nông nghiệp đạt 62,334 tỷ đồng = 102 %CK, lâm nghiệp đạt 3,15 tỷ đồng = 77,02

%CK, ngư nghiệp đạt 80,4 tỷ đồng = 121,19 %CK, công nghiệp đạt 61.000 tỷ đồng = 98,8 %CK, tiểu thủ công nghiệp đạt 37,1 tỷ đồng = 89,1%CK, dịch vụ 49,160 tỷ đồng = 134,7 %CK Tổng giá trị sản xuất kinh tế tăng thêm đạt 142,090 tỷ đồng = 116,13 %CK Tốc độ tăng trưởng kinh tế đạt 13,89 %; Thu nhập bình quân đầu người đạt 30,23 triệu đồng/người/năm = 1,24 lần năm

Trang 31

2016 (theo Báo cáo tình hình thực hiện kinh tế - xã hội năm 2017 và phương

hướng nhiệm vụ phát triển năm 2018

Tài nguyên môi trường (đất, nước)của xãQuảng Phong mang đến các thuận lợi cho việc xây dựng các khu công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp nhằm giải quyết việc làm, phát triển kinh tế góp phần XĐGN.Xã có nhiều dân tộc, địa bàn rộng, phức tạp, các điểm dân cư thưa, khó khăn cho công tác quản lý nhất là về quản lý đất đai, năng lực chuyên môn của một số cán bộ, công chức còn có phần hạn chế

Cơ cấu dân số trong các nghành mất cân đối, lao động nông nghiệp chiếm tỷ lệ cao, số người có trình độ tay nghề trong làm ăn còn thấp, do

đó chưa khai thác hết tiềm năng của huyện góp phần tăng trưởng kinh tế

và XĐGN

Tiểu thủ công nghiệp, dịch vụ phát triển chậm chưa tương xứng với tiềm năng sẵn có của địa phương, chưa phát huy được sức mạnh trong nhân dân

2.1.2 Thực trạng đời sống phụ nữ nghèo tại xã Quảng Phong, huyện Hải Hà, tỉnh Quảng Ninh

Quảng Phong là một xã đang trên đà phát triển về kinh tế, vì là một trong hai xã có khu công nghiệp texhong, tuy nhiên vẫn còn khá nhiều hộ nghèo và cận nghèo Theo số liệu thống kê của xã thì năm 2017 toàn xã có

180 hộ nghèo chiếm 12,54% số hộ trong xã Ở xã Quảng Phong đối tượng dễ rơi vào hoàn cảnh nghèo khổ nhất là phụ nữ, họ không có kiến thức và luôn là đối tượng gặp nhiều khó khăn trong cuộc sống

Bảng 2.1 Thực trạng hộ nghèo, hộ cận nghèo các thôn ở Quảng Phong-

Hải Hà- Quảng Ninh

Hộ Khẩu Tỷ lệ Hộ Khẩu Tỷ lệ

Trang 32

(Nguồn do báo cáo UBND xã Quảng Phong cung cấp năm 2017)

Nhiều phụ nữ phải sống trong tình cảnh thiếu thốn vật chất và tinh thần

và phải đối mặt với nhiều rủi ro trong cuộc sống, theo số liệu thống kê của xã

thì năm 2017 toàn xã có 46/180 hộ nghèo có phụ nữ nghèo làm chủ hộ

Phụ nữ nghèo tại xã Quảng Phong không những thiếu thốn về mặt vật chất mà đời sống tinh thần cũng không được đảm bảo.Theo kết quả của 10 cuộc phỏng vấn thì có tới 7 phụ nữ nghèo tại xã trả lời họ không có thời gian nghĩ ngơi và tham gia các hoạt động xã hội Như vậy chúng ta có thể thấy rằng sự khó khăn về đời sống vật chất đã khiến cho đời sống tinh thần của phụ nữ nghèo ở xã Quảng Phong không được đảm bảo, theo kết quả của các cuộc phỏng vấn tôi thấy hầu hết phụ nữ nghèo tại xã có nhu cầu vươn lên thoát nghèo, được hướng dẫn làm kinh tế và được vay vốn để sản xuất Trong những năm gần đây với sự nổ lực của chính quyền xã Quảng Phong và đặc biệt là những hoạt động của hội phụ nữ đã giảm tỉ lệ phụ nữ nghèo, theo số liệu thống kê của hội phụ nữ xã năm 2016 toàn xã có 68 hộ nghèo có phụ nữ làm chủ hộ, đến năm 2017 đã giảm xuống còn 46 hộ Đây là nổ lực rất lớn tuy

Trang 33

nhiên chính quyền xã cần có nhiều chính sách hơn nữa để nâng cao đời (theo

Báo cáo tình hình thực hiện kinh tế - xã hội năm 2017 và phương hướng nhiệm vụ phát triển năm 2018)

Phụ nữ nghèo tại xã Quảng Phong là những người sống trong hoàn cảnh khó khăn, thiếu thốn về vật chất và tinh thần, nhiều phụ nữ phải đảm nhận vai trò quan trọng trong gia đình.Khi nền kinh tế ngày càng phát triển thì nhiều phụ nữ có nguy cơ rơi vào hoàn ảnh nghèo khổ, thậm chí họ còn là nạn nhân của bạo lực gia đình và tệ nạn xã hội Tuy nhiên, nguyên nhân này không phải lúc nào cũng xuất phát từ chính những phụ nữ nghèo, trong xã hội vẫn còn tồn tại những cái nhìn không tốt và kì thị đối với phụ nữ nghèo đặc biệt là những phụ nữ có hoàn cảnh đặc biệt Chính những thái độ kì thị đã làm cho vấn đề của những phụ nữ nghèo trầm trọng hơn, nhiều người còn cho rằng phụ nữ nghèo họ là những ngýời thấp hèn trong xã hội, là những người lao động chân tay Đây cũng là lí do khiến nhiều phụ nữ nghèo tại xã Quảng Phong không giám vươn lên thoát nghèo

Tâm lí phó mặc cho số phận cũng đã gây ra tình trạng trông chờ, ỷ lại của phụ nữ nghèo vào những chính sách chủ trương xóa đói giảm nghèo của địa phương Điều này sẽ làm tăng tính thụ động của phụ nữ nghèo và khó khăn cho chính quyền địa phương trong việc giúp phụ nứ thoát nghèo

Đặc điểm tâm lí tiếp theo đó là nhiều phụ nữ nghèo tại xã Quảng Phong tính khí thất thường, hay nổi cáu, họ không muốn tiếp xúc với người ngoài

Vì hoàn cảnh nghèo khổ, lao động vất vả lại chiụ nhiều định kiến của xã hội nên nhiều phụ nữ nghèo thường hay nổi nóng và ngại tiếp xúc với người ngoài Phần lớn phụ nữ nghèo tại xã cho biết họ ít khi tham gia các hoạt động

xã hội và ngại nói lên chính kiến của mình ở chổ đông người.Điều này sẽ khiến phụ nữ nghèo tại xã không tiếp cận với những kinh nghiệm làm kinh tế

và làm cho người khác càng xa lánh họ

Trang 34

2.2.Thực trạng đời sống phụ nữ nghèo tại xã Quảng Phong- huyện Hải Hà- tỉnh Quảng Ninh

2.2.1 Tiếp cận đối tượng và xác định vấn đề ban đầu

Tiếp xúc với phụ nữ nghèo lại có hoàn cảnh éo le là một vấn đề không dễ bởi họ luôn có những mặc cảm, tự ti, sống khép mình…do vậy, ngay từ đầu NVCTXH cần phải thật khéo léo, chân thành để tạo sự tin tưởng với thân chủ

Được sự giới thiệu Ban XĐGN xã Quảng Phong, Hội LHPN xã Quảng Phong, NVCTXH đã chủ động tìm đến gặp gỡ trao đổi với anh Hoàng Văn Qúy- Bí thư kiêm Trưởng thôn và Chị Nông Thị Khang- Chi hội trưởng hội phụ nữ

Mục tiêu của buổi làm việc này nhằm thiết lập mối quan hệ với với cán

bộ cơ sở qua đó tìm hiểu một số thông tin về tình hình phụ nữ nghèo đói trên địa bàn thôn qua trao đổi với cán bộ và thông qua hồ sơ hộ nghèo được lưu trữ tại thôn

Sau khi có được danh sách và một số thông tin về những hộ nghèo do phụ nữ làm chủ, NVCTXH đặc biệt quan tâm đến hoàn cảnh của chị Trần Thị

Th bởi chị không chỉ thiếu thốn về vật chất mà còn thiếu hụt về tình cảm, hơn nữa chị Th là một người luôn mang trong mình sự mặc cảm, tự ti, và mối lo khôn nguôi khi một mình nuôi 02 con trong đó có cậu con trai nhỏ bị tàn tật

Từ hồ sơ hộ nghèo sinh viên thu thập được một số thông tin về thân chủ như tên tuổi, địa chỉ, hoàn cảnh, mức thu nhập như sau:

Họ và tên thân chủ: Trần Thị Th Sinh ngày: 1980

Nghề nghiệp: Nông nghiệp

Con trai thứ nhất: Nông Văn Hùng- sinh ngày 6/9/2005

Con trai thứ hai: Nông Duy Mạnh- Sinh ngày 02/1/2009

Thu nhập: 650.000đ/tháng

Trang 35

Theo đúng kế hoạch ngày 10/8/2017 NVCTXH đã chủ động tìm đến nhà đối tượng Dưới đây là mô phỏng buổi gặp gỡ đầu tiên giữa NVCTXH và thân chủ nhằm tạo lập mối quan hệ thân thiện và cởi mở, lắng nghe và chia sẻ

“ Chị đừng ngại Em thực sự đánh giá rất cao nghị lực của chị, có gì buồn chị cứ tâm sự với em, việc giữ bí mật cho thân chủ là một trong những nguyên tắc quan trọng của NVCTXH, những gì chị chia sẻ với em, em sẽ giữ

bí mật và không nói cho ai, nếu thực sự cần nói em sẽ xin ý kiến của chị”

Trong buổi gặp gỡ và trao đổi, làm việc với thân chủ, NVCTXH đã giới thiệu về bản thân, trình xuất giấy giới thiệu, trình bày với thân chủ về mục đích, nguyên tắc của NVCTXH,…nhằm xây dựng niềm tin với thân chủ, giúp thân chủ hiểu hơn về CTXH đồng thời giúp thân chủ cởi mở hơn trong việc giao tiếp và làm việc với NVCTXH Qua buổi tiếp xúc, trò chuyện đầu tiên này, NVCTXH cũng nhận thấy thân chủ có phần bi quan trong cuộc sống nên

đã sử dụng kỹ năng khích lệ, đồng cảm nhằm giúp cho thân chủ bớt bi quan trong cuộc sống và tự ti trong giao tiếp

Trong buổi trò chuyện này, NVCTXH cũng tranh thủ thu thập một số thông tin để xác định vấn đề ban đầu thông qua thân chủ

Trong buổi tiếp xúc này, NVCTXH cũng tranh thủ thu thập một số thông tin để xác định vấn đề ban đầu thông qua thân chủ

“Chị sinh ra trong gia đình nghèo, năm 2005chị Th đã kết hôn cùng anh Nông Văn Ch và sinh được hai cậu con trai, cuộc sống gia đình tuy vất

vả nhưng rất hạnh phúc Đến năm 2015 không may anh L lại găp tại nạn giao thông bị qua đời, chị Th một mình phải nuôi 02 con, trong đó có 01 bé bị khuyết tật Gia đình chị chỉ có 3 sào ruộng nên chị Th phải đi làm thuê để kiếm tiền trang trải cho cuộc sống của gia đình, hoàn cảnh chị Th trở nên khó khăn hơn khi chồng chết, chị thường xuyên không ăn ngủ được người gầy và xanh, 01 đứa con trai hay bị ốm đau”

Trang 36

Như vậy, bằng kỹ năng thấu cảm, kỹ năng lắng nghe, kỹ năng giúp thân chủ trực diện với vấn đề, kỹ năng cung cấp thông tin đồng thời qua quan sát

và trò chuyện ban đầu NVCTXH nhận thấy đối tượng đang gặp phải phải một

số vấn đề như sau:

- Vấn đề 1: Thân chủ là người gặp rất nhiều khó khăn về kinh tế

- Vấn đề 2: Thân chủ luôn mặc cảm, tự ti về bản thân

- Vấn đề 3: Thân chủ gặp nhiều khó khăn trong chăm sóc con nhỏ bị khuyết tật

2.2.2 Thu thập thông tin

Sau những buổi vãng gia, thăm, gặp và trò chuyện với đối tượng NVCTXH nhận thấy thân chủ và gia đình đã dành cho mình những sự tin cậy nhất định, NVCTXH tiến hành bước tiếp theo đó là: “Thu thập thông tin”

Để thu thập được những thông tin cần thiết NVCTXH đã sử dụng rất nhiều kỹ năng như: kỹ năng lắng nghe, quan sát, khuyến khích làm rõ ý, phỏng vấn sâu để khai thác được từng vấn đề cụ thể của đối tượng

Công việc thu thập thông tin hầu như được tiến hành trong suốt tiến trình can thiệp NVCTXH thông qua một số nguồn có thể tiếp cận được như: thân chủ, hàng thôn, những người thân, BCH thôn và câu lạc bộ phụ nữ để thu thập thông tin Các thông tin thu thập được bao gồm:

- Vấn đề của thân chủ

Đầu tiên, NVCTXH lắng nghe thân chủ tự bộc lộ về gia đình, bản thân, những khó khăn, bức xúc mà họ đang gặp phải Qua đó, NVCTXH xác nhận một số vấn đề mà thân chủ hiện đang gặp phải:

Thứ nhất: Thân chủ là người gặp rất nhiều khó khăn về kinh tế

Hiện tại thân chủ đang rất khó khăn và chật vật về kinh tế Thân chủ chỉ

có 3 sào ruộng là nguồn thu nhập chính Thỉnh thoảng chị mới có thời gian đi

Trang 37

kiểm bắt ngêu, ngao để kiếm tiền thuốc thang, rau cháo còn phần lớn thời gian chị phải ở nhà chăm sóc hai con

“Chị chỉ có 3 sào ruộng thôi, mùa xong, giờ hầu hết thời gian của chị

Th quanh quẩn ở mảnh vườn nhỏ Nên đã túng càng túng thêm hầu như cả tháng chị chẳng có thu nhập gì ngoài tiền trợ cấp theo chế độ theo Nghị định

136 của Chính phủ cho chị và của con bé, tổng cộng được 1.400.000đ Trước đây, thì chị con có con gà, ngan nhưng do bị dịch nên đã chết,vay thì

sợ lỡ nó dịch tiếp lấy đâu ra tiền mà trả giá cả thì ngày càng tăng, chị không biết xoay sở sao nữa”

(PVS, thân chủ) Thứ hai: thân chủ luôn có tâm lý mặc cảm, tự ti

Qua thực tế quan sát tiếp xúc, trò chuyện NVCTXH nhận thấy thân chủ luôn mặc cảm với quá khứ và cả hiện tại Chính sự nghèo đói, sự định kiến của xã hội, sự mặc mặc cảm, tự ti đã khiến thân chủ thành người ít nói, ít có các mối quan hệ và giao tiếp xã hội

“Dạo này thỉnh thoảng nó đòi chị đẩy ra đường chơi nhưng hàng thôn

họ không thích lại gần hoặc con chị chơi chung với con họ Nhà một minh là

mẹ lại gánh vác thêm công việc làm cha nữa đã nghèo con lại còn bị khuyết tật, nhiều lúc chị muốn buông xuôi tất cả cho xong ”

(PVS, thân chủ) Thứ ba: Thân chủ gặp nhiều khó khăn trong chăm sóc con trai nhỏ bị khuyết tật

Theo như lời kể của chị Th và qua quan sát NVCTXH nhận thấy, thân chủ là người chăm lo cuộc sống cho con trai út bị khuyết tật trong tất cả mọi việc từ ăn uống, tắm rửa, vệ sinh bởi Mạnh không chỉ bị tật co quắp chân tay, mà chân tay Mạnh còn rất yếu không thể cử động được Chính vì thế,

Trang 38

phần lớn thời gian chị phải ở bên Mạnh để chăm sóc nhất là khi trái gió trở trời

“Con trai nhỏ của chị bị dị tật bẩm sinh, hai chân và hai tay không thể tự

làm bất cứ việc gì từ ăn uống, đi lại, vệ sinh cá nhân đều một tay chị phải làm hết Nó ở nhà cả ngày, nhiều lúc cũng buồn bực khổ lắm ”

(Phúc trình lần 2)

Ngoài thu thập thông tin qua thân chủ, NVCTXH cũng chủ động thu thập thông tin từ các nguồn khác như: hàng thôn, BCH thôn, hội phụ nữ để

bổ sung cho các thông tin được hoàn chỉnh hơn

Thông qua, hàng thôn NVCTXH biết được hoàn cảnh của chị đặc biệt khó khăn bắt đầu từ khi đứa con ra đời

“Cuộc đời chị ấy khổ lắm, nhất là từ khi cái thêm thằng con trai bé nó

ra đời Không như người ta được con lành lạnh lại thêm khuyết tật nhiều bữa tôi sang thấy 3 mẹ con chỉ có một nồi cháo với nắm rau lang luộc ”

(Chị Hoàng Thị K, hàng xóm của thân chủ)

Ngoài ra, thông qua hội phụ nữ thôn, NVCTXH cũng tìm hiểu được một số các thông tin không chỉ về hoàn cảnh của thân chủ mà còn có những hoạt động của Hội phụ nữ đối với thân chủ như hoạt động thăm hỏi tặng quà ngày lễ tết, ngày kỷ niệm của Hội (8/3, 20/10 ) hay các ngày vì người nghèo, ngày người khuyết tật

“Chị Th là một trong những trường hợp phụ nữ nghèo làm chủ gia đình

có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn Chị một thân một mình nuôi 02 con nhỏ, trong đó có một con nhỏ khuyết tật, ruộng ít, vốn liếng lại không có Chi hội cũng đã có những biện pháp giúp đỡ như tặng xe lăn nhân ngày 20/10, tặng quà ngày tết và động viên tinh thần để chị tham gia vào CLB phụ nữ nhưng hình như chị vẫn còn nhiều mặc cảm nên vẫn chưa tham gia sinh hoạt”

(Pvs Chi hội phụ nữ thôn 8)

Ngày đăng: 25/11/2019, 20:42

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
2. Đỗ Thị Bình (2003), Gia đình Việt Nam và phụ nữ Việt Nam trong thời kỳ CNH – HĐH đất nước, Nhà xuất bản Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Gia đình Việt Nam và phụ nữ Việt Nam trong thời kỳ CNH "– HĐH đất nước
Tác giả: Đỗ Thị Bình
Nhà XB: Nhà xuất bản Hà Nội
Năm: 2003
3. Đỗ Thị Bình - Lê Ngọc Lân, Phụ nữ nghèo nông thôn trong điều kiện kinh tế thị trường, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội 1996 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phụ nữ nghèo nông thôn trong điều kiện kinh tế "thị trường
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốc gia
4. Đảng cộng sản Việt Nam, Văn kiện đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ 10, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ 10
Nhà XB: Nhà xuất bản Chính trị quốc gia
5. Đại học quốc gia Hà Nội, Phương pháp nghiên cứu xã hội học, Nhà xuất bản Đại học quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phương pháp nghiên cứu xã hội học
Nhà XB: Nhà xuất bản Đại học quốc gia Hà Nội
6. Định hướng phát triển bền vững ở Việt Nam (chương trình Nghị sự 21 Việt Nam), 2004 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Định hướng phát triển bền vững ở Việt Nam
7. Hội LHPN tỉnh Quảng Ninh, Dự án: Hỗ trợ phụ nữ nông thôn học nghề, tạo việc làm giai đoạn 2016 - 2020” Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hội LHPN tỉnh Quảng Ninh, "Dự án: Hỗ trợ phụ nữ nông thôn học nghề, tạo việc làm giai đoạn 2016 - 2020
9. Trường Đại học Lao động xã hội (2005), Giáo trình công tác xã hội cá nhân Sách, tạp chí
Tiêu đề: Trường Đại học Lao động xã hội (2005
Tác giả: Trường Đại học Lao động xã hội
Năm: 2005
1. Công tác xã hội và xóa đói giảm nghèo (Social word and poverty reduction) được nghiên cứu tại Umuebu - Nigeria Khác
8. Phạm Tất Đồng, Lê Ngọc Hùng (đồng chủ biên) (2001). Giáo trình XHH, NXB Đại học quốc gia Hà Nội Khác
10. Nguyễn Thị Oanh. Phát triển cộng đồng, đại học mở bán công TP HCM Khác
11. UBND xã Quảng Phong (2017). Báo cáo công tác xóa đói giảm nghèo ở xã Quảng Phong Giai đoạn 2016- 20120 Khác
12. UBND Xã Quảng Phong (2017). Báo cáo tình hình thực hiện kinh tế - xã hội năm 2017 và phương hướng nhiệm vụ phát triển năm 2018 Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w