1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nghiên cứu chuỗi cung ứng du lịch cộng đồng ở xã Ba Vì, huyện Ba Vì, Hà Nội

88 130 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 88
Dung lượng 1,43 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Luận văn đã có các kết quả chính sau đây: Luận văn đã hệ thống hóa được cơ sở lý luận về chuỗi cung ứng du lịch, trên cơ sở đó đã áp dụng xây dựng chuỗi cung ứng du lịch nhằm góp phần phát triển du lịch cộng đồng ở xã này. Đã phân tích đánh giá được các thành phần chính trong chuỗi cung ứng nhằm phát triển du lịch cộng đồng ở Ba Vì, cụ thể: Tài nguyên du lịch: Ba Vì có điều kiện tự nhiên thuận lợi và điều kiện văn hóa phong phú để làm du lịch dựa vào cộng đồng. Tuy nhiên việc khai thác tài nguyên này chưa được quan tâm cả từ phía người dân lẫn chính quyền địa phương. Dịch vụ vận chuyển: Tuy là xã vùng cao nhưng nằm cách thủ đô Hà Nội không xa (trên 60km), do đó khách du lịch từ mọi miền đất nước có thể dễ dàng tiếp cận với xã Ba Vì bằng đường bộ, đường sắt, đường thủy và đường hàng không. Hệ thống đường ô tô được bê tông hóa kết nối các thôn tạo điều kiện cho khách du lịch đi lại dễ dàng. Tuy nhiên chưa có phương tiên công cộng trực tiếp từ Hà Nội đến xã Dịch vụ lưu trú: Ngôi nhà truyền thống của người Dao có thể khai thác được để phục vụ lưu trú cho khách du lịch. Tuy nhiên cho đến nay toàn xã chưa có nhà nào đảm bảo đủ tiêu chuẩn cho khách nghỉ lại. Các dịch vụ bổ sung: Mặc dù nhiều nơi, tắm lá thuốc của người Dao là một sản phẩm rất hấp dẫn khách du lịch, song ở xã Ba Vì dịch vụ này chưa hình thành. Bên cạnh đó, người Dao Ba Vì có nhiều thang thuốc gia truyền quý song mới chỉ dược bán một cách thông thường, chưa tạo thành một sản phẩm du lịch. Năng lực của cộng đồng: Qua điều tra xã hội học bằng phỏng vấn trực tiếp và bảng hỏi có thể thấy mặc dù hầu hết mọi người đều có nguyện vọng tham gia phát triển du lịch, song họ còn lúng túng do chưa biết bắt đầu từ đâu, do chưa có kiến thức, do thiếu vốn để đầu tư... Kết hợp giữa cộng đồng địa phương với doanh nghiệp lữ hành: Về phía doanh nghiệp lữ hành, trong số 10 doanh nghiệp tham gia trả lời phỏng vấn sâu đều sẵn sàng hợp tác với cộng đồng tại xã Ba Vì để phát triển du lịch. Các doanh nghiệp này sẵn sàng hợp tác với xã xây dựng sản phẩm du lịch đặc thù, tổ chức xúc tiến để thu hút khách du lịch. Qua những kết quả nghiên cứu trên, luận văn đã có những gợi ý chính sách xây dựng chuỗi cung ứng du lịch cộng đồng nhằm góp phần phát triển du lịch, tạo đà chuyển dịch cơ cấu kinh tế, góp phần xóa đói giảm nghèo ở xã dân tộc miền núi này của Hà Nội.

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

-

NGUYỄN THỊ HUYỀN TRANG

NGHIÊN CỨU CHUỖI CUNG ỨNG DU LỊCH CỘNG ĐỒNG Ở XÃ BA VÌ, HUYỆN BA VÌ,

HÀ NỘI

LUẬN VĂN THẠC SĨ DU LỊCH

Hà Nội - 2018

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

-

NGUYỄN THỊ HUYỀN TRANG

NGHIÊN CỨU CHUỖI CUNG ỨNG DU LỊCH CỘNG ĐỒNG TẠI Ở BA VÌ, HUYỆN BA VÌ,

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan luận văn là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các

số liệu, nhận xét, phân tích và các kết quả nêu trong luận văn là trung thực và

có nguồn gốc rõ ràng

Tác giả luận văn

Nguyễn Thị Huyền Trang

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Luận văn được hoàn thành tại Khoa Du Lịch học, Trường Đại học Khoa học

Xã hội và Nhân văn, dưới sự hướng dẫn khoa học nghiêm túc, chu đáo và tận tình của PGS.TS Trần Đức Thanh Học viên bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến Quý thầy, người đã thường xuyên dạy bảo, động viên, khuyến khích để học viên nỗ lực hoàn thiện luận văn

Học viên chân thành cảm ơn các Thầy/ Cô giảng dạy tại Khoa Du lịch học, Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, gia đình và đồng nghiệp đã động viên, khuyến khích, tạo điều kiện để học viên hoàn thiện chương trình học tập

Học viên cũng bày tỏ lòng biết ơn đối với cán bộ lãnh đạo, phòng ban của UBND xã Ba Vì, cộng đồng đang sinh sống tại xã Ba Vì đã tạo điều kiện và tận tình giúp đỡ học viên trong quá trình thực hiện nghiên cứu tại địa phương Cảm ơn bạn

bè, đồng nghiệp và gia đình đã quan tâm giúp đỡ và chia sẻ với học viên trong suốt thời gian thực hiện luận văn

Hà Nội, ngày tháng năm 2018

Học viên

Nguyễn Thị Huyền Trang

Trang 5

MỤC LỤC

LỜI CAM ĐOAN

DANH MỤC BẢNG BIỂU, SƠ ĐỒ

LỜI MỞ ĐẦU 1

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU VÀ CƠ SỞ LÍ LUẬN VỀ CHUỖI CUNG ỨNG DU LỊCH CỘNG ĐỒNG 6

1.1 Tổng quan tài liệu 6

1.1.1 Chuỗi cung ứng 6

1.1.2 Chuỗi cung ứng du lịch 8

1.3.Cơ sở lí luận về chuỗi cung ứng du lịch cộng đồng 10

1.3.1 Khái niệm chuỗi cung ứng du lịch cộng đồng 10

1.3.2 Điều kiện phát triển chuỗi cung ứng du lịch cộng đồng 12

TIỂU KẾT CHƯƠNG 1 24

CHƯƠNG 2 CÁC ĐIỀU KIỆN XÂY DỰNG CHUỖI CUNG ỨNG DU LỊCH Ở XÃ BA VÌ, HUYỆN BA VÌ 25

2.1 Khái quát về khu vực nghiên cứu 25

2.2 Điều kiện cầu 26

2.3 Điều kiện cung 28

2.3.1 Đặc điểm nhân khẩu học khu vực nghiên cứu 28

2.3.2 Mô hình nghiên cứu chuỗi cung ứng du lịch dựa vào cộng đồng 31

TIỂU KẾT CHƯƠNG 2 48

CHƯƠNG 3 MỘT SỐ ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN CHUỖI CUNG ỨNG DU LỊCH CỘNG ĐỒNG Ở XÃ BA VÌ, HUYỆN BA VÌ 49

3.1 Phương pháp SWOT 49

3.1.1 Điểm mạnh 49

3.1.2 Điểm yếu 50

3.1.3 Cơ hội 50

3.1.4 Thách thức 51

Trang 6

3.2 Giải pháp phát triển chuỗi cung ứng du lịch 49

3.2.1 Khai thác tốt tài nguyên du lịch của địa phương 54

3.2.2 Hoàn thiện hệ thống giao thông vận tải 55

3.2.3 Nâng cao năng lực làm du lịch cho cộng đồng 55

3.2.4 Cải thiện cơ sở hạ tầng 57

3.2.5 Kết hợp chặt chẽ với doanh nghiệp lữ hành 57

3.2.6 Một số giải pháp khác 57

3.3.Một số kiến nghị nhằm xây dựng chuỗi cưng ứng du lịch 60

3.3.1 Hỗ trợ về vốn 60

3.3.2 Xúc tiến quảng bá thu hút khách du lịch 60

3.3.3 Xúc tiến đầu tư phát triển du lịch 62

TIỂU KẾT CHƯƠNG 3 63

KẾT LUẬN 64

TÀI LIỆU THAM KHẢO 66

PHỤ LỤC 71

Trang 7

DANH MỤC BẢNG BIỂU, SƠ ĐỒ, HÌNH

Bảng 2.1: Diện tích đất canh tác xã Ba Vì 25

Bảng 2.2 Số lượt khách du lịch đến Hà Nội 26

Bảng 2.3 Một số thông tin nhân khẩu học của người trả lời 28

Bảng 2.4 Đặc điểm sinh sống của gia đình 30

Bảng 2.5 Phương tiện giao thông của các hộ trong vùng 38

Bảng 2.6 Cơ sở lưu trú phục vụ du lịch 39

Bảng 2.7 Năng lực làm du lịch của cộng đồng địa phương 40

Bảng 2.8 Hình thức tham gia làm du lịch cộng đồng 46

Bảng 3.1 Ma trận phân tích SWOT 51

Sơ đồ 1.1: Chuỗi cung ứng điển hình 6

Hình 1.1: Mô hình chuỗi cung ứng của một doanh nghiệp 9

Hình 1.2: Chuỗi cung ứng du lịch 9

Hình 1.3: Mô hình chuỗi cung ứng du lịch 10

Trang 8

Hà Nội có nhiều tiềm năng để phát triển du lịch Hệ thống sản phẩm của Hà Nội khá phong phú và đa dạng, bao gồm du lịch văn hóa, du lịch làng nghề, du lịch sinh thái, du lịch city tour Du lịch Hà Nội chiếm khoảng 1/3 lượng khách du lịch của cả nước, mức tăng trưởng bình quân hơn 10%/năm, riêng năm 2017 đón 23,83 triệu lượt khách, trong đó có 4,95 triệu lượt khách quốc tế và 18,88 triệu lượt khách nội địa

Để du lịch Hà Nội phát triển mạnh mẽ hơn nữa cần phải chú ý đến “Chất lượng dịch vụ du lịch” hay “Chất lượng sản phẩm du lịch” Vấn đề này được tiếp cận theo nhiều cách khác nhau trong lý luận cũng như trong thực tiễn, nhưng cần tìm ra những điều cốt lõi để có thể nâng cao chất lượng dịch vụ du lịch hay “sản phẩm” du lịch Hà Nội nhằm có tính cạnh tranh trên thị trường du lịch khu vực và thế giới Một trong những cách tiếp cận tổng quát nhất đó là tìm hiểu về chuỗi cung ứng dịch vụ và hàng hóa cho hoạt động du lịch

Một chuỗi cung ứng du lịch có thể được coi như là một mạng lưới các tổ chức, doanh nghiệp khác nhau cung ứng một hoặc nhiều thành phần của sản phẩm/dịch vụ du lịch như: dịch vụ hàng không và dịch vụ lưu trú, cho sự phân phối

và marketing các sản phẩm dịch vụ du lịch cuối cùng tại một điểm đến du lịch và liên quan đến nhiều cấp, nhiều ngành và các doanh nghiệp tham gia ở cả khu vực nhà nước và tư nhân Quản trị chuỗi cung ứng du lịch là sự liên kết các quá trình trong hoạt động kinh doanh du lịch từ các nhà cung cấp ban đầu (vận chuyển, lưu trú, ăn uống, tham quan, mua sắm trong quá trình du lịch) đến người sử dụng cuối cùng (khách du lịch) nhằm cung cấp sản phẩm, dịch vụ và thông tin cho khách du

Trang 9

lịch Việc tạo lập và quản trị chuỗi cung ứng du lịch hiệu quả sẽ giúp tối ưu hóa lợi ích cho các bên liên quan (nhà nước, nhà cung ứng, doanh nghiệp du lịch, khách du lịch và người dân địa phương tại điểm đến du lịch) Đây cũng chính vấn đề nâng cao chất lượng “sản phẩm du lịch”

Xã Ba Vì, huyện Ba Vì được coi là một trong những điểm đến có nhiều tiềm năng, lợi thế để phát triển du lịch bởi xã có phong cảnh thiên nhiên hữu tình, thơ mộng; văn hóa tộc người Dao đặc sắc, độc đáo nhưng hiện vẫn chưa được nhiều du khách trong và ngoài nước biết đến Do đó, việc “Nghiên cứu chuỗi cung ứng du lịch cộng đồng tại xã Ba Vì, huyện Ba vì, Hà Nội”là một việc làm hết sức cần thiết nhằm nâng cao chất lượng giá trị sản phẩm du lịch, thu hút ngày càng nhiều du khách đến với Bà Vì nói riêng và Hà Nội nói chung

2 Mục tiêu của luận văn

Xác lập cơ sở khoa học phục vụ định hướng và đề xuất các giải pháp nâng cao chất lượng sản phẩm du lịch tại xã Ba Vì thông qua việc nghiên cứu xây dựng chuỗi cung ứng du lịch cộng đồng

3 Nhiệm vụ của luận văn

Để làm sáng tỏ mục tiêu của luận văn, 5 nhiệm vụ nghiên cứu được đặt ra là:

1 Tổng quan các công trình, các hướng nghiên cứu về chuỗi cung ứng; chuỗi cung ứng du lịch; du lịch cộng đồng

2 Thu thập và phân tích số liệu, tài liệu, công trình nghiên cứu trước đây tại khu vực nghiên cứu Khảo sát thực địa, điều tra xã hội học và thu thập các thông tin

sơ cấp về những nguồn cung du lịch cộng đồng xã Ba Vì

3 Phân tích, đánh giá và làm rõ các nguồn lực (tự nhiên, kinh tế - xã hội và chính sách) cho phát triển du lịch nói chung và du lịch cộng đồng nói riêng tại xã

Ba Vì

4 Đánh giá năng lực của cộng đồng người Dao tại xã Ba Vì

5 Đề xuất mô hình chuỗi cung ứng du lịch cộng đồng xã Ba Vì

4 Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu

4.1 Đối tượng nghiên cứu

Những điều kiện xây dựng chuỗi cung ứng du lịch dựa vào cộng đồng ở xã

Ba Vì

Trang 10

4.2 Phạm vi nghiên cứu

Về nội dung nghiên cứu: Phân tích các khuynh hướng nghiên cứu và các nguồn tư liệu liên quan nhằm góp phần củng cố lí thuyết và thực tiễn chuỗi cung ứng du lịch cộng đồng Trong nghiên cứu này, luận văn tập trung vào các vấn đề sau: (l) Phân tích những điều kiện cung từ đó đánh giá các nguồn lực để xây dựng chuỗi cung ứng du lịch ở xã Ba Vì; (2) thực trạng hoạt động du lịch tại xã Ba Vì Trên cơ sở (1) và (2) luận văn đề xuất một số giải pháp mang tính định hướng nhằm hoàn thiện chuỗi cung ứng du lịch tại xã Ba Vì

Về không gian nghiên cứu: Không gian nghiên cứu của luận văn được giới hạn ở phạm vi ranh giới: với mục đích và nội dung nghiên cứu là nâng cao chất lượng sản phẩm du lịch thông qua việc xây dựng chuỗi cung ứng du lịch, luận văn xác định địa bàn nghiên cứu thực địa là xã Ba Vì

Về thời gian nghiên cứu: Luận văn tập trung thu thập số liệu, phân tích và nghiên cứu chủ yếu trong giai đoạn 2014 – 2017

5 Câu hỏi nghiên cứu

- Xã Ba Vì có điều kiện xây dựng chuỗi cung ứng du lịch cộng đồng không?

- Mô hình chuỗi cung ứng du lịch gồm những bộ phận cấu thành nào?

6 Giả thuyết nghiên cứu:

- Xã Ba Vì có các điều kiện cần thiết để xây dựng chuỗi cung ứng du lịch

- Có thể xây dựng chuỗi cung ứng du lịch tại xã Ba Vì

7 Phương pháp nghiên cứu

- Phương pháp thu thập, phân tích và tổng hợp tài liệu

Tập hợp và nghiên cứu những tài liệu thứ cấp bao gồm những tài liệu sách, báo, tạp chí, các công trình nghiên cứu đã được xuất bản, in ấn và đang được lưu trữ tại các thư viện Những tư liệu này, giúp cho học viên có cái nhìn tổng thể về đối tượng nghiên cứu: chuỗi cung ứng, chuỗi cung ứng du lịch, du lịch cộng đồng Trên cơ sở đó, học viên đã lên kế hoạch chi tiết cho việc đi khảo sát thực địa, xây dựng hệ thống câu hỏi phỏng vấn, lựa chọn đối tượng phỏng vấn, lựa chọn đối tượng phỏng vấn Nguồn tư liệu thứ cấp này là nguồn tư liệu quý để luận văn

kế thừa và vận dụng những kết quả nghiên cứu của những công trình nghiên

Trang 11

cứu đi trước

- Phương pháp điền dã, quan sát tham dự và phỏng vấn

Quan sát tham dự: Quan sát, tham dự, trải nghiệm các hoạt động của cộng đồng cũng như sử dụng một số dịch vụ (ăn uống, nhà nghỉ, lấy lá thuốc, tắm lá thuốc) ở xã Ba Vì Trong quá trình lưu lại tại địa phương, học viên đã quan sát, tìm hiểu cách thức làm du lịch, thái độ của người dân, những hiểu biết của người dân và mong muốn của người dân khi tham gia hoạt động du lịch; mối quan hệ giữa các thành viên trong cộng đồng, chính quyền địa phương với công ty lữ hành

- Thực địa: để đánh giá được hoạt động du lịch tại cộng đồng và chất lượng dịch vụ du lịch, học viên đã tiến hành khảo sát thực địa Nghiên cứu thực địa được

sử dụng bằng cách sử dụng các cuộc phỏng vấn sâu, phỏng vấn bằng bảng hỏi và hỏi chuyện thông thường

- Bảng hỏi: Phần phân tích chính trong nghiên cứu này được tạo thành bởi bảng hỏi, phục vụ cho việc trả lời các câu hỏi nghiên cứu đã được đặt ra, chúng tôi xây dựng mẫu bảng hỏi cộng đồng tại xã Ba Vì Bảng hỏi cộng đồng địa phương được xây dựngtheo thang đo Likert 5 bậc (bậc từ 1-5 là hoàn toàn không đồng ý và hoàn toàn đồng ý) để khảo sát cộng đồng địa phương tham gia hoạt động du lịch tại

xã Ba Vì đồng thờikiểm tra, đánh giá các điều kiện cần và đủ để xây dựng chuỗi cung ứng du lịch

Bảng hỏi gồm hai phần: phần thứ nhất về thông tin chung của người trả lời phỏng vấn bao gồm: tuổi, giới tính, dân tộc, trình độ học vấn của các thành viên trong gia đình; độ tuổi của các thành viên, kinh tế hộ gia đình Phần thứ hai phục vụ cho việc xây dựng chuỗi cung ứng du lịch cộng đồng bao gồm các câu hỏi kiểm tra

về năng lực của cộng đồng, tiềm năng du lịch, chính sách của chính quyền địa phương và doanh nghiệp lữ hành

Phương pháp xác định cỡ mẫu: Mẫu khảo sát, trong trường hợp biết được số lượng chính xác số lượng phần tử của tổng thể (N) thì kích cỡ mẫu (n) có thể được tính bằng công thức Slovin (1960) (Estela, 2006):

Trang 12

Trong đó: n là kích thước mẫu; N là tống thể; e là sai số tiêu chuẩn

Dữ liệu được thu thập bằng bảng câu hỏi phỏng vấn, điều tra ý kiến của các

hộ gia đình ở xã Ba Vì Tổng số hộ gia đình ở xã này là 556 hộ với 2.227 nhân khẩu, áp dụng công thức trên thì bảng hỏi tối thiểu là 339.1 phiếu, chúng tôi phát ra

số phiếu là 400 thu về 400 phiếu, sau khi sàng lọc có 32 phiếu bị loại Như vậy, cỡ mẫu n = 368 phiếu đảm bảo số mẫu tối thiểu cho phương pháp nghiên cứu Các số liệu điều tra được tiến hành trong khoảng thời gian từ tháng 3 đến tháng 6 năm

2018

- Phỏng vấn sâu: Phỏng vấn sâu tạo nên định tính của các phương pháp nghiên cứu Những người được hỏi có các nhà lãnh đạo cộng đồng, các bên liên quan và các thành viên tham gia

Xử lí số liệu: Sử dụng phần mềm SPSS20

8 Đóng góp của luận văn

Luận văn xác định những luận cứ khoa học và những giải pháp nhằm phát triển bền vững du lịch cộng đồng tại xã Ba Vì

Góp phần bổ sung thêm tài liệu khi nghiên cứu về chuỗi cung ứng du lịch cộng đồng

Góp phần nâng cao chất lượng sản phẩm du lịch tại xã Ba Vì giúp người dân địa phương có thêm thu nhập, ổn định và nâng cao chất lược cuộc sống

9 Cấu trúc của luận văn

Ngoài phần mở đầu và kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của luận văn được trình bày trong 3 chương

Chương 1 Tổng quan tài liệu và cơ sở lí luận về chuỗi cung ứng du lịch cộng đồng

Chương 2 Các điều kiện xây dựng chuỗi cung ứng du lịch tại xã Ba Vì, huyện Ba Vì

Chương 3 Một số định hướng phát triển chuỗi cung ứng du lịch cộng đồng tại xã Ba Vì, huyện Ba Vì

Trang 13

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU VÀ CƠ SỞ LÍ LUẬN VỀ

Vậy, chuỗi cung ứng là gì? Tại sao các tập đoàn trên thế giới lại coi trọng nó như vậy? Ta có thể thấy rõ hơn qua sơ đồ chuỗi cung ứng điển hình (Sơ đồ 1.1) như sau:

Sơ đồ 1.1: Chuỗi cung ứng điển hình

(Nguồn: Souviron (2006), “Bài giảng về Quản trị chuỗi cung cấp”

Trang 14

Trong sơ đồ 1-1, ta thấy có rất nhiều các bên tham gia vào chuỗi cung ứng như: nhà cung cấp nguyên vật liệu chính, nhà vận chuyển, nhà sản xuất trung gian, nhà sản xuất chính, nhà phân phối và khách hàng Như vậy, với một chuỗi cung ứng

cụ thể cho một ngành hàng, ta có thể chia ra thành 3 đối tượng chính đó là: nhà cung cấp, nhà sản xuất và khách hàng Nguồn tạo ra lợi nhuận cho toàn chuỗi đó là khách hàng cuối cùng Do đó, mục tiêu thỏa mãn khách hàng cuối cùng là mục tiêu chung của một chuỗi cung ứng liên kết

Hiện nay, đã có rất nhiều khái niệm về chuỗi cung ứng được đề xuất Theo Chopra Sunil và Pter Meindl [36, tr 20] “Chuỗi cung ứng bao gồm mọi công đoạn

có liên quan trực tiếp hay gián tiếp, đến việc đáp ứng nhu cầu khách hàng Chuỗi cung ứng không chỉ gồm nhà sản xuất và nhà cung cấp, mà còn nhà vận chuyển, kho, người bán lẻ và bản thân khách hàng”

Ganeshan & Harrison [37] cho rằng chuỗi cung ứng là một chuỗi hay một tiến trình bắt đầu từ nguyên liệu thô cho tới khi sản phẩm làm ra hay dịch vụ tới tay người tiêu dùng cuối cùng Chuỗi cung ứng là một mạng lưới các lựa chọn về phân phối và các phương tiện để thực hiện thu mua nguyên liệu, biến đổi các nguyên liệu này qua khâu trung gian để sản xuất ra sản phẩm, phân phối sản phẩm này tới tay người tiêu dùng

Nếu Lee và Billington [45, tr.21] , coi chuỗi cung ứng là hệ thống các công

cụ để chuyển hoá nguyên liệu thô từ bán thành phẩm tới thành phẩm, chuyển tới người tiêu dùng thông qua hệ thống phân phối, thì Porter M [49, tr 6] lại nhìn nhận

nó “là một quá trình chuyển đổi từ nguyên vật liệu thô cho tới sản phẩm hoàn chỉnh thông qua quá trình chế biến và phân phối tới tay khách hàng cuối cùng” Khái niệm

“chuỗi cung ứng” trong luận văn này được hiểu theo định nghĩa của Porter M đưa

ra ở trên

Chuỗi cung ứng bao gồm nhiều thành tố khác nhau, tất cả các thành tố đều

có những tác động đến chi phí và có một vai trò nhất định trong việc sản xuất sản phẩm phù hợp với nhu cầu khách hàng Do vậy, mục tiêu trong phân tích chuỗi cung ứng phải tạo mối liên kết giữa các nhà cung cấp với các nhà cung ứng và với

Trang 15

khách hàng vì mối liên kết đó có tác động đến kết quả và hiệu quả của chuỗi cung ứng Nói cách khác, việc phân tích này nhằm tối đa hóa giá trị tạo ra cho toàn hệ thống

1.1.2 Chuỗi cung ứng du lịch

Quản trị và phân tích chuỗi cung ứng cũng như chuỗi giá trị đã nhận được sự quan tâm và nghiên cứu sâu rộng trong hai thập kỷ qua Tuy nhiên, nghiên cứu chuỗi cung ứng và chuỗi giá trị trong lĩnh vực du lịch rất hạn chế Sự hiểu biết sâu rộng về toàn bộ cấu trúc chuỗi cung ứng và chuỗi giá trị cũng như cách quản trị hiệu quả trong ngành công nghiệp du lịch vẫn còn kém xa các nghiên cứu trong các lĩnh vực sản xuất Xinyan Zhang, Haiyan Song, George Q Huang[52, tr 345] Các tác giả này, cũng chỉ ra mặc dù ấn bản đầu tiên từ năm 1975 của UNWTO về việc công bố các kênh phân phối du lịch, song những công trình nghiên cứu về vấn đề này cho đến nay chưa nhiều

Trong số ít những nghiên cứu về chuỗi cung ứng du lịch có các tác giả Buhalis, D., & Laws, E., [34] và UNWTO [50] đã nhấn mạnh tầm quan trọng của ngành cung cấp dịch vụ du lịch Tourism Distribution Channels: Practices, Issues and Transformations, một tài liệu được biên tập bởi Buhalis, D., & Laws, E [34] với sự đóng góp của các tác giả khác nhau với 23 chương liên quan đến các mạng lưới phân phối trong ngành du lịch Page, S J [47] đã chỉ ra rằng việc cung cấp các sản phẩm và dịch vụ du lịch có liên quan đến một loạt các nhà cung cấp dịch vụ du lịch, và hình thành cấu trúc của một chuỗi cung ứng du lịch Một số tác giả cũng đã

ám chỉ đến hoặc đề cập đến khái niệm chuỗi cung ứng du lịch hoặc các khái niệm tương đương, chẳng hạn như giá trị du lịch hoặc chuỗi ngành du lịch Kaukal, M., Ho¨pken, W., & Werthner, H [40] lưu ý rằng một chuỗi cung ứng du lịch đặc trưng bao gồm bốn thành phần, nhà cung cấp du lịch, nhà điều hành du lịch, đại lý du lịch

và khách hàng tồn tại trong một chuỗi liên kết đơn

Đorđevic’ Milosav [35] đã đưa ra mô hình quản trị chuỗi cung ứng du lịch của một doanh nghiệp như sau:

Trang 16

Chuỗi cung ứng bên trong

Hình 1.1: Mô hình chuỗi cung ứng của một doanh nghiệp

( Nguồn: Đorđevic,Milosav , 2010; 116)

Quan điểm của Tapper, R., and Font, X [46, tr.15] cho rằng: “chuỗi cung ứng

du lịch bao gồm các nhà cung cấp hàng hóa và dịch vụ nhằm mục đích phân phối các sản phẩm du lịch đến người tiêu dùng (khách du lịch) Trong chuỗi cung ứng du lịch, các nhà cung cấp hàng hóa và dịch vụ thực hiện việc ký hợp đồng trực tiếp hay gián tiếp với các công ty du lịch hoặc các đại lý lữ hành hoặc các nhà cung cấp (dịch vụ lưu trú )” Như vậy, chuỗi không chỉ bao gồm các dịch vụ lưu trú; vận chuyển; thăm quan, vui chơi giải trí, mà còn bao gồm quán bar và nhà hàng, cơ

sở sản xuất đồ thủ công mỹ nghệ, cơ sở sản xuất thực phẩm, xử lý chất thải, và cơ

sở hạ tầng phục vụ hoạt động kinh doanh du lịch ở các điểm đến

Hình 1.2: Chuỗi cung ứng du lịch (Nguồn: Tapper, R., and Font, X ,2004)

Christine Koblun đã xây dựng mô hình chuỗi cung ứng du lịch:

llNhà

Nhà thu mua

Nhà phân phối Nhà sản xuất

Nhà cung

Trang 17

Hình 1.3: Mô hình chuỗi cung ứng du lịch

(Nguồn Christine Koblun, 2011)

Nói cách khác, chuỗi cung ứng du lịch là “một mạng lưới các công ty tham gia vào các hoạt động khác nhau, từ việc cung cấp các thành phần của sản phẩm/dịch vụ du lịch như chuyến bay và dịch vụ lưu trú cho đến việc phân phối và tiếp thị các sản phẩm du lịch cuối cùng tại một điểm đến du lịch cụ thể, và có liên quan đến một loạt các thành viên tham gia trong cả khu vực tư nhân và khu vực công” [52, tr 347] Đồng quan điểm với các nhà nghiên cứu trên, Peng, H., Xu, X

và Chen,W [48] cũng cho rằng chuỗi cung ứng du lịch bao gồm một loạt các tổ chức như các nhà cung cấp dịch vụ thăm quan giải trí, các công ty vận chuyển, cơ

sở lưu trú, cửa hàng lưu niệm, đại lý lữ hành, các nhà cung cấp dịch vụ công, cung ứng hàng hóa và dịch vụ cho du khách

Theo Porter, M [52] mọi ngành công nghiệp đều có một cấu trúc cơ bản, hoặc một bộ các đặc tính kinh tế và kỹ thuật cơ bản, làm tăng khả năng cạnh tranh và đặc tính cạnh tranh Đó là, mỗi chuỗi cung ứng thay đổi theo loại sản phẩm được cung cấp Như vậy, xác định các đặc điểm của ngành du lịch và sản phẩm du lịch đóng vai trò quan trọng trong việc mô tả một chuỗi cung ứng du lịch

Trên thế giới chuỗi cung ứng là một khái niệm không mới, nhưng đối với doanh nghiệp du lịch Việt Nam nói riêng và ngành du lịch Việt Nam nói chung thì chuỗi cung ứng vẫn còn khá mới mẻ, lạ lẫm Thực tiễn cho thấy ở Việt Nam chưa thấy có nhiều các công trình khoa học nghiên cứu về vấn đề này

1.1 Cơ sở lí luận về chuỗi cung ứng du lịch cộng đồng

1.1.1 Khái niệm chuỗi cung ứng du lịch cộng đồng

Theo Trần Đức Thanh và cộng sự [25; tr 41]thuật ngữ “cộng đồng” trong du

Nhà cung

cấp

Điều hành tour Inbound

Điều hành tour Outbound

Đại lý du

Trang 18

lịch được hiểu là người có liên quan chặt chẽ với các vấn đề phát triển du lịch ở địa bàn, là những người dân địa phương có liên quan đến kinh doanh du lịch, là những cán bộ thôn xã, già làng trưởng bản có vai trò quan trọng trong đời sống của cư dân

Du lịch cộng đồng hay Du lịch dựa vào cộng đồng là hai thuật ngữ không hoàn toàn như nhau Du lịch dựa vào cộng đồng là khái niệm được nhìn nhận từ doanh nghiệp du lịch, các doanh nghiệp du lịch thuyết phục cộng đồng địa phương tham gia phục vụ du khách cùng với các cơ quan du lịch Người dân địa phương được dạy các nghiệp vụ cơ bản để phục vụ khách du lịch bao gồm: hướng dẫn du lịch, cách thức giao tiếp, sản phẩm truyên thống cũng có thể các doanh nghiệp sẽ

bỏ vốn đầu tư để giúp sản phẩm và dịch vụ của cộng đồng địa phương đạt được những yêu cầu cần thiết…Giai đoạn này được hiểu là du lịch dựa vào cộng đồng Sau một thời gian phục vụ khách du lịch cộng đồng địa phương có kinh nghiệm, có một số vốn nhất định và đặc biệt là có năng lực giao tiếp, kỹ năng, tay nghề, hiểu biết xã hội… đã chủ động đầu tư cho kinh doanh du lịch đồng thời biết kết hợp hình thành những nhóm cùng chung tay tổ chức hoạt động phục vụ du khách.…Một số nơi được sự định hướng của chính quyền, với sự giúp đỡ của các doanh nghiệp du lịch truyền thống, cộng đồng đã xây dựng thành tổ hợp để kinh doanh du lịch Lúc này các công ty du lịch bên ngoài sẽ trở thành đối tác Cộng đồng được hưởng đại

đa số lợi nhuận thu được từ khách du lịch Như vậy, du lịch dựa vào cộng đồng đã trở thành du lịch cộng đồng Du lịch dựa vào cộng đồng và du lịch cộng đồng là hai giai đoạn của một quá trình Mục đích của cả hai giai đoạn này đều là góp phần thu hút cộng đồng vào tham gia hoạt động du lịch, chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng sinh kế du lịch

Du lịch cộng đồng bao gồm tài nguyên du lịch (tài nguyên du lịch tự nhiên, tài nguyên du lịch văn hóa), dịch vụ vận chuyển, cơ sở lưu trú, cơ sở hạ tầng và dịch

vụ bổ sung Để du lịch cộng đồng phát triển theo hướng bền vững cần xây dựng chuỗi cung ứng du lịch cộng đồng; chuỗi cung ứng du lịch cộng đồng sẽ dựa trên nền tảng là các điều kiện của DLCĐ nhưng thêm vào đó là phải nắm bắt nhu cầu của khách du lịch; năng lực đáp ứng của cộng đồng; sự vào cuộc của chính quyền địa phương; sự tham gia của doanh nghiệp lữ hành có như vậy mới tạo thành chuỗi

Trang 19

cung ứng du lịch hoàn thiện

1.1.2 Điều kiện phát triển chuỗi cung ứng du lịch cộng đồng

1.1.2.1 Điều kiện chung

- Điều kiện về an toàn đối với du lịch

Một quốc gia muốn phát triển về kinh tế, văn hóa, xã hội cần có tình hình chính trị ổn định nhất là trong phát triển du lịch thì đây là một điều kiện rất quan trọng Theo bậc thang nhu cầu của Maslow, an toàn thuộc nhu cầu bậc cao của con người Do đó, khách du lịch ít đến các khu vực có nguy hiểm về tính mạng của họ, chẳng hạn: có chiến tranh hoặc bạo loạn, khủng bố, bắt cóc; có bệnh dịch; có thiên tai thường xuyên xảy ra

- Điều kiện về kinh tế

Tiềm lực kinh tế của một quốc gia là một trong những yếu tố quyết định sự phát triển du lịch Có kinh tế mới có khả năng đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng du lịch, đa dạng hóa sản phẩm du lịch, khả năng đầu tư phát triển nguồn nhân lực du lịch, bảo tồn các tài nguyên tự nhiên và văn hóa, Tiềm lực kinh tế ở mỗi quốc gia khác nhau do đó mà việc đầu tư cho du lịch cung khác nhau Thực tế cho thấy, các quốc gia có nền kinh tế phát triển cao trên thế giới như Anh, Pháp, Đức, Mỹ Tại các nước đó, hệ thống giao thông được phát triển với hiều loại hình phương tiện vận chuyển đa dạng, tiện nghi, hệ thống các dịch vụ đáp ứng các nhu cầu của khách du lịch như ngân hàng, thông tin, khách sạn, nhà hàng, hệ thống bán lẻ phát triển rộng khắp và đạt chuẩn quốc tế, nguồn nhân lực trong ngành du lịch được đào tạo tốt và chuyên nghiệp sự phát triển mạnh mẽ của các ngành công nghiệp, nông nghiệp, giao thông vận tải, thông tin, ngân hàng, thương mại đã tạo các điều kiện thuận lợi để phát triển du lịch tại các nước phát triển Ngược lại, tại các nước đang phát triển, nền kinh tế chưa mấy sôi động do vậy mà khả năng cung cấp các sản phẩm du lịch bị hạn chế, điều kiện đầu tư khai thác các tài nguyên du lịch gặp nhiều khó khăn

- Chính sách phát triển du lịch

Bộ máy quản lí xã hội có vai trò quyết định đến các hoạt động của cộng đồng trong đó có hoạt động du lịch Một đất nước, một khu vực có tài nguyên du lịch

Trang 20

phong phú, hấp dẫn, người dân địa phương sẵn sàng tham gia vào hoạt động du lịch nhưng chính quyền địa phương đứng ngoài cuộc cho các hoạt động du lịch thì du lịch cũng không phát triển được

Như vậy, để phát triển du lịch rất cần những điều kiện chung, đây là những điều kiện đáp ứng nhu cầu an toàn, thoải mái và tận hưởng chuyến du lịch của du khách

1.1.2.2 Điều kiện cầu

• Khái niệm

Trong quá trình tồn tại và phát triển, con người không chỉ dừng lại ở việc thỏa mãn những nhu cầu cơ bản: ăn, ở, đi lại mà họ còn mong muốn thỏa mãn những nhu cầu cao cấp hơn như là vui chơi giải trí, nâng cao hiểu biết , một trong những loại nhu cầu đó là nhu cầu du lịch

Nhu cầu du lịch là nhu cầu xã hội đặc biệt bởi nhu cầu du lịch xuất phát từ mong muốn rời khỏi nơi cư trú thường xuyên để đến một nơi có khả năng đáp ứng nguyện vọng nâng cao hiểu biết về thế giới xung quanh, nghỉ ngơi Trong cuốn sách

"Thị trường du lịch" tác giả Nguyễn Văn Lưu [13; tr.32 ] đã đưa ra khái niệm: "Nhu cầu du lịch là một loại nhu cầu đặc biệt và mang tính xã hội hóa cao, biểu hiện sự mong muốn tạm thời rời khỏi nơi cư trú thường xuyên để đến với thiên nhiên và văn hóa ở một nơi khác, là nguyện vọng cần thiết của con người muốn được giải phóng khỏi sự căng thẳng để được nghỉ ngơi, giải trí, phục hồi sức khỏe và tăng cường hiểu biết”

Để thỏa mãn nhu cầu kể trên của con người cần phải có cầu du lịch Theo Vũ Mạnh Hà [5; tr 37] “cầu du lịch là cầu về sản phẩm du lịch” Nguyễn Văn Mạnh và Nguyễn Đình Hòa [16; tr.116] cho rằng: “cầu trong du lịch là mong muốn về dịch

vụ và hàng hóa du lịch có khả năng thanh toán, có thời gian rỗi cho việc tiêu dùng

Trang 21

nguyện vọng của khách du lịch về các dịch vụ trong quá trình đi du lịch

• Đặc điểm

Nhu cầu du lịch là một loại nhu cầu đặc biệt, thuộc những nấc trên trong bậc thang nhu cầu của Maslow, chỉ xuất hiện khi các nhu cầu cấp dưới được đáp ứng đầy đủ Do đó, nhu cầu du lịch có một số đặc điểm sau :

- Trước hết là về dịch vụ: Trong chuyến đi, du khách cần được đáp ứng nhu cầu rất đa dạng Những nhu cầu này được đáp ứng không phải bằng việc mua đứt sản phẩm (trừ đồ ăn uống) mà ở dạng dịch vụ Doanh thu dịch vụ du lịch chiếm khoảng 50- 80% tổng doanh thu trên thị trường du lịch theo Nguyễn Văn Lưu , (1998)

- Thứ hai, nhu cầu du lịch có tính linh hoạt, dễ thay đổi và phát sinh nhu cầu mới Du lịch là sự rời khỏi nơi cư trú thường xuyên đến một nơi khác, du khách khó

có thể biết hết nơi mình sắp tới sẽ có những gì Vì vậy, việc phát sinh nhu cầu mới

là thường xuyên Ví dụ du khách đi thăm làng gốm, thấy thích bộ ấm chén, bát đĩa làm phát sinh nhu cầu mua sắm

- Thứ ba, nhu cầu du lịch có tính đan xen Trong quá trình đi du lịch, nhu cầu

ăn uống là nhu cầu thiết yếu, nhưng khi ăn uống thưởng thức một đặc sản địa phương cũng chính là nhu cầu tìm hiểu văn hóa…

- Nhu cầu du lịch chấp nhận giá cao: Du lịch có nghĩa là đến một nơi khác với nơi ở hiện tại, điều này đồng nghĩa với việc du khách phải sử dụng dịch vụ ăn uống nghỉ ngơi…do địa phương cung cấp Hơn nữa, những người đi du lịch là những người đã thỏa mãn đầy đủ các nhu cầu cơ bản, họ có khả năng chi trả nên với cùng một sản phẩm họ chấp nhận mức giá cao hơn tại địa điểm du lịch

* Phân loại

Nguyễn Văn Đính, Trần Thị Minh Hòa [3; tr 63] đã tiếp cận nhu cầu du lịch dưới hai khía cạnh: từ việc nghiên cứu những nhu cầu nói chung của con người theo thang cấp bậc và từ việc thống kê, nghiên cứu các mục đích và động cơ chính của con người khi đi du lịch Trên cơ sở đó các tác giả đã đưa ra 3 nhóm cơ bản sau:

- Nhóm I: Nhu cầu cơ bản (thiết yếu) gồm: đi lại, lưu trú, ăn uống

- Nhóm II: Nhu cầu đặc trưng: nghỉ ngơi, giải trí, tham quan, tìm hiểu, thưởng thức cái đẹp, giao tiếp

Trang 22

- Nhóm III: Nhu cầu bổ sung: thẩm mỹ, làm đẹp, mua sắm, thông tin, giặt là Nhu cầu du lịch là một nhu cầu mang tính chất cao cấp, tổng hợp nhưng không phải là nhu cầu thiết yếu Sau khi thỏa mãn các nhu cầu cơ bản về ăn, ở để duy trì sự sống, con người mới có điều kiện nghĩ đến nhu cầu về nghỉ ngơi, vui chơi giải trí các nhu cầu này lại phải chi phí một số tiền nhiều hơn chi phí thông thường và là tổng hợp của mọi nhu cầu về vật chất lẫn tinh thần

Trong kinh doanh du lịch của các doanh nghiệp, việc đáp ứng nhu cầu dịch

vụ chính và nhu cầu dịch vụ đặc trưng là hai hoạt động chủ yếu vì nó mang lại nguồn thu chính cho doanh nghiệp Chính vì vậy, luận văn này tập trung nghiên cứu nhu cầu ở nhóm I và nhóm II tức là nghiên cứu nhu cầu cơ bản là ăn, ở đi lại và nhu cầu đặc trưng của du lịch là các hoạt động tham quan, vui chơi giải trí

tế, văn hóa và dịch vụ do các cơ sở chuyên nghiệp cung ứng Chính vì vậy, vận chuyển chính là một yếu tố đầu tiên và hết sức quan trọng của hoạt động du lịch, lữ hành

Nhu cầu vận chuyển của khách du lịch chính là các nhu cầu của họ được đến những nơi có tài nguyên du lịch thông qua việc sử dụng các phương tiện vận chuyển khách du lịch Vì vậy, nghiên cứu về nhu cầu vận chuyển của khách du lịch cũng chính là nghiên cứu về các phương tiện vận chuyển phục vụ khách và các mong muốn của du khách đối với các loại phương tiện vận chuyển đó

Hiện nay, trong hoạt động du lịch, du khách thường sử dụng các loại phương tiện vận chuyển chủ yếu sau: du lịch bằng ô tô; du lịch bằng máy bay; du lịch bằng tàu thủy; du lịch bằng tàu hỏa;

+ Lưu trú

Trang 23

Cơ sở lưu trú du lịch là nơi cung cấp dịch vụ phục vụ nhu cầu lưu trú của khách du lịch Luật du lịch năm 2017 quy định các loại cơ sở lưu trú bao gồm: Khách sạn, biệt thự du lịch, căn hộ du lịch, tàu thủy lưu trú du lịch, Nhà nghỉ du lịch, Nhà ở có phòng cho khách du lịch thuê, Bãi cắm trại du lịch, Các cơ sở lưu trú

du lịch khác

+ Ăn uống

Ăn uống đáp ứng nhu cầu sinh học, được xác định là nhu cầu cơ bản trong bậc thang nhu cầu của Maslow Vì vậy, ăn uống là nhu cầu cơ bản của người đi du lịch Tuy nhiên, do người đi du lịch đến nơi khác ngoài nơi ở thường xuyên do đó

mà giá cả cho các dịch vụ ăn uống thường đắt hơn nhiều và khách hàng thường phải chi trả nhiều hơn cho ăn uống Hơn nữa, mỗi nơi, mỗi vùng miền đều có thói quen

ăn uống khác nhau Do đó, trong quá trình đi du lịch, du khách thường quan tâm nhiều đến vấn đề ăn uống được và ăn uống hợp khẩu vị, ngon Ăn uống thông thường là việc đảm bảo đủ lượng và chất nhằm duy trì sự tồn tại Trong khi đó, ăn uống trong du lịch được nâng lên tầm văn hóa, đó là nghệ thuật ẩm thực, thưởng thức những món ngon, mới lạ mà không có tại nơi cư trú Như vậy, trong du lịch, ăn uống còn đáp ứng nhu cầu văn hóa của khách du lịch

- Nhu cầu dịch vụ đặc trưng

Nhu cầu dịch vụ đặc trưng là nhu cầu dẫn đến quyết định du lịch địa phương này hay đi đến địa phương khác, bao gồm 4 loại nhu cầu chính sau: nhu cầu du lịch biển; nhu cầu du lịch núi; nhu cầu du lịch đô thị; nhu cầu du lịch thôn quê

- Nhu cầu dịch vụ bổ sung

Ngoài các nhu cầu dịch vụ cơ bản, nhu cầu dịch vụ đặc trưng, còn là nhu cầu các dịnh vụ bổ sung trong du lịch Đây cũng là nhu cầu chính đáng của khách du lịch trong quá trình tiêu dùng sản phẩm du lịch Nhu cầu các dịch vụ bổ sung rất đa dạng phụ thuộc vào tôn giáo, văn hóa, phong tục tập quán và thói quen sinh hoạt của du khách Dịch vụ bổ sung còn là các dịch vụ liên quan đến việc giải trí tinh thần của con người, hay nhu cầu mua sắm trong du lịch, nhu cầu rèn luyện thể thao, làm đẹp

Các yếu tố ảnh hưởng tới nhu cầu du lịch

Trang 24

* Các yếu tố bên ngoài

- Chính trị

Điều kiện chính trị hòa bình đảm bảo cho việc giao lưu mở rộng các mối quan hệ kinh tế, khoa học kỹ thuật, văn hóa,….giữa các nước Du lịch chỉ có thể phát triển được trong bầu khí hòa bình, chính trị ổn định vì bất cứ du khách nào cũng có nhu cầu an toàn Khi đến những đất nước, vùng miền có sự ổn định về chính trị, du khách sẽ cảm thấy an toàn, yên tâm, tính mạng được đảm bảo và coi trọng Hơn nữa, nhu cầu du lịch không phải là một nhu cầu thiết yếu, người dân chỉ

đi du lịch khi họ cảm thấy sẽ được an toàn Do vậy, ở những vùng an ninh chính trị

và an toàn xã hội được đảm bảo sẽ có tính hấp dẫn cao dối với khách du lịch, đồng thời cũng tạo điều kiện thuận lợi kích thích người dân đi du lịch Vì vậy, để tăng lượng du khách thì cần có bầu không khí chính trị hòa bình, ổn định

- Kinh tế

Kinh tế có vai trò quan trọng trong việc kích thích nhu cầu du lịch Nền kinh

tế càng phát triển thì các cơ sở vật chất kỹ thuật dịch vụ phục vụ du lịch càng thỏa mãn hơn nhu cầu du lịch của du khách Bên cạnh đó, nền kinh tế phát triển cũng có nghĩa là mức thu nhập của người dân được cải thiện Nhu cầu đi du lịch càng cao, đặc biệt là nhu cầu đi du lịch đến những nơi xa xôi, ở những nơi sang trọng….với chi phí du lịch cao

- Tự nhiên

Tự nhiên là điều kiện cần thiết cho hoạt động du lịch Nhu cầu du lịch của du khách thường hướng đến nơi có điều kiện tự nhiên, cảnh quan đẹp, khí hậu mát mẻ… Do đó, những nơi có điều kiện tự nhiên tốt sẽ thu hút được nhiều hơn khách

du lịch Điều kiện tự nhiên bao gồm: vị trí địa lý; địa hình; khí hậu; thủy văn; động thực vật

- Văn hóa xã hội

Yếu tố văn hóa xã hội ảnh hưởng tới nhu cầu du lịch của du khách trên hai phương diện: Thứ nhất ảnh hưởng tới động cơ đi du lịch, thường những nơi có trình

độ văn hóa cao, nhiều người đi du lịch thì những người sống trong khu vực đó cũng

có xu hướng mong muốn đi du lịch Thứ hai ảnh hưởng tới nhu cầu của du khách về

Trang 25

điểm du lịch Du khách thường mong muốn đến những nơi có những nền văn hóa mới lạ, đặc sắc

* Các yếu tố bên trong

- Thu nhập

Thu nhập là yếu tố quan trọng nhất ảnh hưởng đến cầu du lịch Hoạt động du lịch của khách chính là việc thực hiện các nhu cầu du lịch Mà nhu cầu này không thể thành hiện thực nếu người dân không có khả năng chi trả Vì vậy, thu nhập ảnh hưởng trực tiếp đến nhu cầu du lịch

Kinh tế càng phát triển thì mức sống và mức thu nhập của người dân càng tăng Đây chính là một trong những yếu tố tác động đến nhu cầu du lịch của người dân Khi thu nhập của người dân cao thì một phần thu nhập đó sẽ tiêu dùng cho du lịch Sự lựa chọn địa điểm du lịch phụ thuộc nhiều vào chi phí dành cho du lịch của

du khách Những người có điều kiện, mức chi trả cao sẽ lựa chọn những điểm du lịch hấp dẫn, có thể là trong hoặc ngoài nước, xa địa điểm cư trú thường xuyên của

họ và sử dụng những dịch vụ cao cấp Ngược lại, những người có thu nhập thấp sẽ tìm đến những địa điểm du lịch bình dân, mức giá vừa phải và đi trong khoảng thời gian ngắn ngày Như vậy, thu nhập là yếu tố ảnh hưởng rất lớn đến nhu cầu của du khách về việc lựa chọn điểm đến

- Thời gian rỗi

Thời gian rỗi là khoảng thời gian con người có thể dành cho những việc làm, hoạt động mà mình yêu thích như nghỉ ngơi, vui chơi giải trí, đi du lịch… Trong quỹ thời gian rỗi của mình, con người cân nhắc phải sử dụng cho rất nhiều nhu cầu khác nhau, trong đó có nhu cầu du lịch Nếu quỹ thời gian rỗi nhiều, nhu cầu du lịch

sẽ tăng cao và ngược lại, người có ít thời gian rỗi thì nhu cầu du lịch càng bó hẹp

Đi du lịch là hoạt động giải trí nhằm nâng cao hiểu biết, hồi phục sức khỏe, thư giãn tinh thần,… Chính vì vậy, con người chỉ đi du lịch khi có thời gian rỗi Có thể nói, không có thời gian rỗi thì không có hoạt động du lịch Hơn nữa, thời gian rỗi cũng phần nào ảnh hưởng đến nhu cầu của du khách về việc lựa chọn địa điểm

du lịch Du khách có nhiều thời gian rỗi thường lựa chọn những địa điểm xa nơi cư trú và thời gian lưu trú cũng kéo dài Ở nước ta hiện nay, mỗi người lao động được

Trang 26

nghỉ 12 ngày phép mỗi năm và họ thường dùng một phần hoặc toàn bộ thời gian này đi du lịch cùng gia đình, người thân, bè bạn…

- Trình độ học vấn

Trình độ học vấn ảnh hưởng rất nhiều đến nhu cầu du lịch Những người có trình độ học vấn cao thì nhu cầu muốn khám phá, tìm hiểu những điều mới lạ…càng nhiều và tất yếu nhu cầu du lịch cũng tăng lên

Trình độ học vấn ảnh hưởng đến quyết định chọn điểm du lịch và chọn loại hình du lịch Khách có trình độ học vấn thấp thích chọn loại hình du lịch đơn giản như nghỉ dưỡng, thích chọn các đô thị hiện đại, náo nhiệt để tham quan Ngược lại, người có trình độ học vấn cao thích tìm hiểu về văn hóa, thích các loại hình du lịch hướng về cộng đồng, bảo tồn thiên nhiên, du lịch sinh thái…

* Các yếu tố kích thích nhu cầu du lịch

- Sản phẩm du lịch

Sản phẩm là tất cả những cái, những yếu tố có thể thỏa mãn nhu cầu hay ước muốn được đưa ra chào bán trên thị trường với mục đích thu hút sự chú ý mua sắm,

sử dụng hay tiêu dùng du lịch là một ngành kinh doanh dịch vụ

Dịch vụ là một giải pháp hay lợi ích mà một bên có thể cung ứng cho bên kia

và chủ yếu là vô hình và không dẫn đến việc chuyển quyền sở hữu Việc thực hiện dịch vụ có thể gắn liền hoặc không gắn liền với sản phẩm vật chất

Như vậy, có thể hiểu sản phẩm du lịch là tổng hợp tất cả các dịch vụ du lịch được xây dựng và chào bán cho khách du lịch nhằm thỏa mãn nhu cầu hay ước muốn của khách du lịch xác định với mục đích thu hút sự chú ý mua sắm, sử dụng hay tiêu dùng

Sản phẩm du lịch thường được biết đến thông qua các chương trình du lịch

Vì vậy, khi tiến hành lập chương trình du lịch phải nêu bật được tính nổi trội của sản phẩm dịch vụ để có thể đáp ứng đầy đủ nhu cầu chính đáng của khách du lịch

Trang 27

+ Sản phẩn du lịch phải có định hướng mang tính giáo dục

+ Sản phẩm du lịch phải luôn mới lạ, độc đáo phù hợp với xu thế thời đại

- Chiến lược về giá

Giá cả của sản phẩm du lịch là chi phí bằng tiền mà khách du lịch phải trả để

có được các dịch vụ trong hoạt động du lịch

Giá cả là yếu tố mềm dẻo và linh hoạt nhất, cùng một loại sản phẩm dịch vụ nhưng ở các kênh phân phối khác nhau các thị trường khác nhau thì có thể áp dụng mức giá bán khác nhau

Trong du lịch, yếu tố giá cả lại càng linh hoạt Cùng một sản phẩm du lịch là chương trình du lịch như nhau, nhưng sẽ có các mức giá khác nhau Giá trong sản phẩm du lịch phụ thuộc vào chất lượng của các dịch vụ Vì vậy, khi mua một sản phẩm du lịch có giá cao thì chất lượng dịch vụ về vận chuyển, ăn ở, lưu trú… của tour du lịch đó sẽ cao hơn tour du lịch có giá thấp Điều này cũng ảnh hưởng đến nhu cầu du lịch của người dân Không chỉ những người giàu có, có khả năng chi trả cao mới được quyền đi du lịch, mà những người có thu nhập trung bình, thấp vẫn có

cơ hội đi đến những nơi mà mình yêu thích

- Các kênh phân phối

Phân phối là quá trình đưa sản phẩm dịch vụ từ người cung cấp đến khách du lịch Đây là một nhóm các tổ chức và cá nhân thực hiện các hoạt động làm cho sản phẩm dịch vụ sẵn sàng để người tiêu dùng có thể mua và sử dụng

Có thể phân phối một cách trực tiếp hoặc gián tiếp Trong du lịch khi tiến hành phân phối một cách gián tiếp thường chỉ thông qua một cấp đại lý, còn phân phối trực tiếp là từ doanh nghiệp du lịch đến thẳng với khách du lịch

Đối với hoạt động lữ hành quốc tế, hầu hết là phân phối gián tiếp thông qua một cấp đại lý duy nhất tại nước sở tại hoặc các đại lý của mình ở tại nước đó

- Hoạt động xúc tiến

Xúc tiến là một loạt các nỗ lực của doanh nghiệp trong việc nghiên cứu, hỗ trợ, kích thích sự phát triển của doanh nghiệp, là một loạt các hoạt động truyền tin

về sản phẩm dịch vụ và doanh nghiệp tới khách hàng để thuyết phục họ mua

Hoạt động xúc tiến nhằm kích thích nhu cầu du lịch thông thường vẫn thông

Trang 28

qua việc: quảng cáo, khuyến mại, bán hàng cá nhân…

+ Quảng cáo: Sản phẩm du lịch mang tính đặc thù của sản phẩm dịch vụ là không có sự định hình rõ rệt Vì vậy, quảng cáo trong du lịch thường quảng cáo về thương hiệu của công ty hơn là quảng cáo về sản phẩm của công ty Các biện pháp quảng cáo hữu hiệu trong du lịch là quảng cáo truyền miệng, quảng cáo bằng các tờ rơi, ấn phẩm du lịch và quảng cáo trên truyền hình, tuy nhiên, quảng cáo trên truyền hình thường tốn kém Ngoài ra, ngày nay với sự tiện lợi của internet, quảng cáo điện tử trong du lịch cũng đang trở thành một loại hình quảng cáo hiệu quả và tiết kiệm Quảng cáo nhằm kích thích nhu cầu du lịch cần phải: ấn tượng, rõ ràng và có trách nhiệm

+ Khuyến mại: Khuyến mại cũng là một nhân tố ảnh hưởng đến nhu cầu du lịch của khách du lịch Khuyến mại trong du lịch thường được áp dụng mang tính thời điểm nhằm: kích cầu mùa thấp điểm (khuyến mại giảm giá tour; đoàn 10 khách thì được miễn phí một khách…); đưa sản phẩm mới ra thị trường; tiêu diệt các đối thủ cạnh tranh; xây dựng thương hiệu

+ Bán hàng cá nhân: Bán hàng cá nhân là hoạt động xúc tiến đòi hỏi nhân viên phải có nghiệp vụ, kiến thức tốt về sản phẩm, có khả năng giao tiếp tốt, có nghiệp vụ về thanh toán, tín dụng và đặc biệt phải nhiệt tình, năng động Bán hàng

cá nhân là phương pháp xúc tiến trực tiếp và có hiệu quả cao thông qua việc tiếp xúc trực tiếp với khách hàng, tiến hành tư vấn tiêu dùng và bán hàng thành công

Bán hàng cá nhân trong du lịch hiện nay phát triển mạnh và là xu thế của các công ty luôn muốn mở rộng thị trường và kích thích doanh thu Bán hàng cá nhân trong du lịch có những lợi thế nhất định Ví dụ, sản phẩm du lịch hầu hết là các dịch

vụ, không có hình dáng cụ thể Vì vậy, sản phẩm mang đi rao bán trực tiếp là toàn

bộ thông tin về sản phẩm, chính sách khuyến mại, phân phối, thanh toán của công

ty Toàn bộ những thông tin này hoàn toàn có thể được xây dựng trong máy tính xách tay và hết sức tiện lợi cho nhân viên cơ động đi chào bán sản phẩm Hiện nay những nhân viên bán hàng cá nhân giỏi trong du lịch chỉ cần máy tính xách tay, máy cà thẻ thanh toán là họ có thể chủ động tác nghiệp trực tiếp với khách Đây thực sự là hoạt động xúc tiến hiệu quả nhằm kích thích nhu cầu du lịch

Trang 29

1.1.2.3 Điều kiện cung

Dickman, S (1997) đã đưa ra 5 thành tố cơ bản của điểm đến du lịch, trong tiếng anh là Dickman’s 5 A’s of a destination bao gồm: Attractions, Access, Accommodation, Amenities và Awareness Do đó mà Trần Đức Thanh, Trần Thị Mai Hoa [26; tr 174] do khó có thuật ngữ tiếng Việt tương ứng với các chữ A nên các tác giả đã chuyển thành 5T đó là: Attactions (Tài nguyên du lịch), Access (Tiếp cận), Accommodation (Trú ngụ), Amenities (Tiện nghi) và Awareness (Thái độ) Như vậy, cung du lịch hay nói khác đi điểm đến du lịch phải có các yếu tố để thu hút và phục vụ nhu cầu của khách du lịch trong thời gian khách du lịch lưu trú tại điểm đến

Dựa vào thành tố 5T của điểm đến du lịch có thể hiểu như sau:

Tài nguyên du lịch: Tài nguyên du lịch bao gồm cả tài nguyên du lịch tự nhiên và tài nguyên du lịch nhân văn Tài nguyên du lịch có tính chất quyết định đến sự hình thành sản phẩm du lịch, đến việc đáp ứng nhu cầu đặc trưng của khách

du lịch

Tiếp cận: Khả năng tiếp cận điểm du lịch phụ thuộc vào 2 yếu tố là thủ tục hành chính và mạng lưới giao thông Trước tiên về thủ tục hành chính liên quan đến thủ tục dành cho khách quốc tế như là thị thực xuất nhập cảnh; chính quyền địa phương có những quy định kiểm soát việc ra, vào Thứ hai, điểm du lịch có nhiều loại hình phương tiện giao thông sẽ thuận lợi hơn trong việc đón tiếp du khách, có 4 loại phương tiện giao thông chủ yếu là đường hàng không, đường thủy, đường ô tô

Tiện nghi: Là cơ sở vật chất và dịch vụ cần thiết để đáp ứng nhu cầu của khách du lịch Tiện nghi thông thường ở một điểm du lịch gồm có: điện, đường,

Trang 30

trạm xá, hệ thống thông tin liên lạc, đồn công an, khu vui chơi giải trí, nhà hàng ngoài ra để phục vụ khách du lịch còn có các cửa hàng lưu niệm, dịch vụ giặt là, làm đẹp, cho thuê các phương tiện hỗ trợ cho chuyến tham quan của du khách Thái độ: Thái độ của điểm đến du lịch chính là văn hóa ứng xử của nhân viên phục vụ ngành du lịch đối với khách du lịch, ngoài ra còn là thái độ của cộng đồng đối với khách, với môi trường sống và chính bản thân họ

Như vậy, cung du lịch là nơi có tài nguyên du lịch hấp dẫn; dễ tiếp cận; thể chế chính sách địa phương; thái độ của cộng đồng địa phương; những tiện ích mang lại cho khách du lịch Đáp ứng đầy đủ những yếu tố này thì điểm du lịch sẽ trở thành điểm đến hấp dẫn thu hút được nhiều khách du lịch

Trang 31

TIỂU KẾT CHƯƠNG 1

Qua chương 1 đã tổng quan tài liệu về chuỗi cung ứng nói chung và chuỗi cung ứng trong du lịch nói riêng từ đó xác định được cơ sở lí thuyết về vấn đề nghiên cứu trong luận văn này

Tổng quan tài liệu cho thấy chuỗi cung ứng không phải là một khái niệm mới, mà đã được các tác giả nghiên cứu từ lâu,từ những nghiên cứu về chuỗi cung ứng mà các nhà kinh doanh đã áp dụng với nhiều ngành, nhiều lĩnh vực kinh tế khác nhau trong đó có du lịch Xây dựng chuỗi cung ứng du lịch giúp cho nguồn cung trong du lịch tạo thành một chuỗi liên kết nhằm đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của khách du lịch Qua tổng quan cũng cho thấy các nghiên cứu về chuỗi cung ứng du lịch và cũng đã có mô hình về chuỗi cung ứng này được xây dựng Tuy nhiên, ở Việt Nam hiện nay làm du lịch vẫn còn manh mún mà nhất là loại hình du lịch cộng đồng, người dân khi tham gia vào làm du lịch thường không được định hướng và trang bị đầy đủ kiến thức để phục vụ khách du lịch, đồng thời thấy được sự liên kết giữa cộng đồng với các doanh nghiệp du lịch để đem lại lợi nhuận Do đó nghiên cứu xây dựng chuỗi cung ứng trong du lịch cộng đồng ở Ba Vì là một việc làm quan trọng giúp cộng đồng địa phương phát triển kinh tế, ổn định cuộc sống nhờ phát triển bền vững ngành du lịch

Cơ sở lí thuyết giúp chúng tôi đưa ra được những lí thuyết sẽ vận dụng để nghiên cứu về chuỗi cung ứng du lịch ở xã Ba Vì, huyện Ba Vì, Hà nội là du lịch dựa vào cộng đồng; chuỗi cung ứng du lịch; và cuối cùng là điều kiện để xây dựng chuỗi cung ứng du lịch cộng đồng bao gồm: điều kiện chung; điều kiện cung và điều kiện cầu

Trang 32

CHƯƠNG 2 CÁC ĐIỀU KIỆN XÂY DỰNG CHUỖI CUNG ỨNG DU LỊCH

TẠI XÃ BA VÌ, HUYỆN BA VÌ

2.1 Khái quát về khu vực nghiên cứu

Xã Ba Vì thuộc huyện Ba Vì, thành phố Hà Nội được biết đến là một xã miền núi nằm dưới chân núi Ba Vì, cách trung tâm thành phố Hà Nội khoảng 60 km

về phía Tây Phía bắc giáp xã Ba Trại, Tản Lĩnh; phía đông giáp xã Vân Hòa; phía tây giáp xã Minh Quang, Khánh Thượng và phía nam giáp núi Ba Vì

Theo số liệu thống kê của UBND xã Ba Vì tính đến năm 2015, cư dân trong

xã bao gồm ba tộc người chính là Kinh, Mường và Dao với 556 hộ gia đình và 2.227 nhân khẩu, trong đó người Dao chiếm đa số với 94,5% dân số Người Dao sống ở Ba Vì từ những năm đầu thế kỷ 20, cư trú trên sườn núi và sống chủ yếu bằng phát nương làm rẫy Sau cuộc vận động hạ sơn 1968, đặc biệt từ khi nhà nước

có quyết định thành lập khu bảo tồn vườn quốc gia Ba Vì (1991), đồng bào Dao xuống núi thành lập bản (chủ yếu ở hai ấp chính là Hợp Nhất và Yên Sơn) Được sự quan tâm của Đảng và Nhà nước, người Dao đã thay đổi phương thức sản xuất từ chỗ phá rừng họ chuyển sang trồng rừng, biết canh tác ruộng nước và chăn nuôi gia súc, gia cầm Tuy nhiên đất canh tác ít, trình độ dân trí thấp, tập quán canh tác lạc hậu nên kinh tế của xã còn phát triển chậm Theo thống kê của UBND xã Ba Vì nhận thấy mặc dù xã có diện tích tự nhiên là 2538,01 ha vào loại lớn nhất thành phố Hà Nội nhưng diện tích được sử dụng chỉ khoảng 340 ha, diện tích còn lại do vườn quốc gia Ba Vì quản lý Điều đáng nói, đất trồng lúa hiện chưa đầy 20 ha, còn lại là đất đồi rừng trồng sắn, dong…

Trang 33

Người Dao cư trú ở xã Ba Vì thích cư trú theo những thôn bản riêng, không

có người khác tộc để tự do sinh hoạt theo những phong tục tập quán của mình Chính vì vậy, trong văn hóa người Dao vẫn lưu giữ được những nét riêng đặc sắc của tộc người mình Tộc người Dao ở xã Ba Vì thuần nhất thuộc nhóm Dao quần chẹt với các họ: Dương, Lý, Bàn, Đặng, Phùng, Lăng, Triệu Trong đó, đông nhất là

họ Triệu và họ cũng là những người đầu tiên đến Ba Vì Sự thuận lợi về môi trường sinh sống của vùng rừng núi, cùng với vốn văn hóa tộc người hấp dẫn đã hình thành điều kiện cho phát triển du lịch cộng đồng

2.2 Điều kiện cầu

Xã Ba Vì thuộc huyện Ba Vì, thành phố Hà Nội mà Hà Nội là thủ đô của nước Việt Nam, trung tâm kinh tế - văn hóa – chính trị của cả nước Do đó mà từ lâu Hà Nội là địa chỉ mà du khách trong và ngoài nước mong muốn được tìm đến Trong những năm qua số lượt khách và doanh thu từ khách du lịch đến Hà Nội tăng nhanh

Bảng 2.2 Số lƣợt khách du lịch đến Hà Nội Năm

Trang 34

khách tăng dẫn đến doanh thu từ du lịch cũng tăng lên đáng kể từ 9.131 tỷ đồng năm 2015, sau hai năm tức năm 2017 là 72.509 tỷ đồng gấp 7,94 lần Điều này chứng tỏ nguồn khách du lịch (nguồn cung) cho hoạt động du lịch trên địa bàn thủ

đô Hà Nội là rất lớn Du khách khi đến Hà Nội, ngoài việc tận hưởng cảnh sắc phố phường tấp nập; những bảo tàng nghệ thuật; làng nghề thủ công truyền thống còn

có nhu cầu tham quan nghỉ dưỡng ở những nơi có không khí trong lành, cây cối xanh mát quanh năm Do đó, nếu có những chính sách phù hợp sẽ thu hút du khách đến Hà Nội nhiều hơn và khám phá Hà Nội trên tất cả những khía cạnh của nó

Theo như cơ sở lí thuyết đã trình bày ở trên nhu cầu du lịch chia ra thành 3 nhóm cơ bản bao gồm nhóm I: nhu cầu cơ bản (thiết yếu) gồm đi lại, lưu trú, ăn uống; nhóm II: nhu cầu đặc trưng gồm có nghỉ ngơi, giải trí, tham quan, tìm hiểu thưởng thức cái đẹp; nhóm III: nhu cầu bổ sung: thẩm mỹ, làm đẹp, mua sắm, thông tin, giặt là…Dựa vào lí thuyết về nhu cầu, qua nghiên cứu nhận thấy xã Ba

Vì có thể đáp ứng được những nhu cầu cơ bản của khách du lịch bởi những lí do sau đây:

Thứ nhất: Nhóm nhu cầu cơ bản thì xã Ba Vì thuộc huyện Ba Vì, thành phố

Hà Nội cách trung tâm Hà Nội không xa lại có những món ăn truyền thống độc đáo

và hấp dẫn, có nhà ở của cộng đồng để du khách lưu lại qua đêm

Thứ hai: Nhóm nhu cầu đặc trưng do khách du lịch cả quốc tế và đặc biệt là nội địa, nhất là những người sống trong nội thành Hà Nội sống ở đô thị với nhịp độ công việc cao, lúc nào cũng ồn ào và tấp nập, cộng thêm khói bụi đô thị làm con người cảm thấy mệt mỏi nên mong muốn có nơi yên tĩnh để nghỉ ngơi và thư giãn sau những giờ phút làm việc căng thẳng Do đó, họ có nhu cầu tìm về với thiên nhiên hòa mình vào cuộc sống của thiên nhiên và đắm mình trong những nét văn hóa bản địa độc đáo và hấp dẫn Ở xã Ba Vì có thể đáp ứng được những nhu cầu này của khách du lịch do xã gần Vườn Quốc Gia Ba Vì nên thiên nhiên vẫn còn hoang sơ, khí hậu mát mẻ; cộng đồng tộc người Dao với những nét văn hóa độc đáo

và hấp dẫn chắc chắn sẽ đáp ứng được nhu cầu du khách khiến cho du khách cảm thấy thoải mái và thư giãn và đặt chân đến một lần là nhớ mãi

Thứ ba, nhu cầu bổ sung khi đi du lịch đến bất cứ vùng đất nào bao giờ du

Trang 35

khách cũng mong muốn được thỏa mãn những nhu cầu như là làm đẹp, nâng cao sức khỏe thì cộng đồng người Dao với những bài thuốc dân gian của mình cũng sẽ đáp ứng được những nhu cầu này của du khách (Phần này sẽ được phân tích cụ thể

ở mục 2.3)

2.3 Điều kiện cung

2.3.1 Đặc điểm nhân khẩu học khu vực nghiên cứu

Các đặc điểm nhân khẩu học của mẫu nghiên cứu bao gồm: giới tính, tuổi, dân tộc, trình độ học vấn, tình trạng kinh tế của hộ, thời gian sinh sống tại địa phương Toàn bộ các kết quả trong bảng được tính trên 368 bảng hỏi có thể sử dụng được

Bảng 2.3 Một số thông tin nhân khẩu học của người trả lời

Trang 36

người là nam giới chiếm 23,9% Điều này cho thấy ở địa bàn nghiên cứu có sự cân bằng về giới, nam, nữ khá bình quyền có lẽ vì thế mà những người trả lời câu hỏi không phân biệt giữa nam hay nữ Trong hoạt động du lịch dựa vào cộng đồng thì người phụ nữ có vai trò khá lớn bởi những công việc trong hoạt động du lịch đa phần do phụ nữ đảm nhiệm

- Dân tộc

Như đã trình bày ở trên, đại đa số dân tộc ở xã Ba Vì là tộc người Dao do đó

có 308 người trả lời, chiếm 83,7 % là người Dao, tiếp đến là người Kinh với 32 người trả lời có 8,7%, cuối cùng là người Mường có 28 phiếu chiếm 6,3% Với phần đa người trả lời phỏng vấn là tộc người Dao, ngoài ra còn có người Kinh và người Mường cho thấy được nguyện vọng làm du lịch của các tộc người trên địa bàn

- Trình độ học vấn

Trong số những người được khảo sát, số người có trình độ học vấn cao nhất

là đại học/ cao đẳng có 1,6 %, số người học hết trung học là 6%, học hết cấp 3 là 31,8%, chiếm tỉ lệ cao nhất là học hết cấp 2 với 38,6%, tiểu học là 18,5% và không biết chữ là 3,5% Khi tham gia vào hoạt động du lịch cộng đồng nếu có được trình

độ học vấn cao như là đại học, cao đẳng hoặc trung cấp sẽ là điều kiện thuận lợi với cộng đồng bởi lẽ có trình độ người dân có thể tự hoạch định kế hoạch hoặc tham gia vào bàn bạc cùng chính quyền địa phương Tỉ lệ người dân có trình độ cấp 2 và cấp

3 chiếm cao nhất với 70,4% đây sẽ là lực lượng lao động chính và chủ yếu để phục

Trang 37

vụ khách du lịch vì du lịch cộng đồng đòi hỏi những người có trình độ nhất định mới đáp ứng được nhu cầu của khách du lịch (Điều này sẽ được phân tích cụ thể ở phần sau)

- Đặc điểm sinh sống của gia đình người trả lời

Bảng 2.4 Đặc điểm sinh sống của gia đình

Nghề nghiệp mà thành viên trong gia

đình đáp viên có thể làm ngoài nông

Nguồn: Kết quả khảo sát của học viên

+ Thời gian sinh sống tại địa phương

Do những người tham gia phỏng vấn là người địa phương nên thời gian sinh sống của người trả lời cũng như hộ gia đình đã sinh sống ở địa phương trên 15 năm chiếm 51,6%; tiếp đến là trên 10 đến 15 năm với 31,3%; từ 5 đến 10 năm là 13,8% dưới 5 năm có 3,3% Như đã phân tích ở trên, cộng đồng người Dao ở khu vực này

Trang 38

hình thành chưa lâu do trước đây sống ở trên núi cao, nhưng theo kết quả khảo sát cho thấy đa phần cộng đồng sinh sống ở đây trên 10 năm như vậy cộng đồng có những am hiểu nhất định về địa phương nơi mình sinh sống và điều này là một lợi thế khi khai thác làm du lịch (Sẽ được phân tích ở phần sau)

+ Tình trạng kinh tế của hộ gia đình

Dựa vào phân hạng kinh tế theo tiêu chí của Quốc gia để xây dựng nông thôn mới để khảo sát kết quả cho thấy hầu hết các hộ trong nghiên cứu này được phân hạng kinh tế ở mức trung bình với 58,2%; sau đó là cận nghèo với 26,4%; kinh tế gia đình ở mức khá và giàu cũng chiếm 13,2%; tuy nhiên, vẫn còn 2,2% là hộ nghèo

Các hộ gia đình có kinh tế giàu, khá và trung bình là do họ có nghề truyền thống là bốc thuốc nam do tổ tiên truyền lại nhờ biết cách khai thác và uy tín cũng như danh tiếng từ các bài thuốc nam gia truyền mà nhiều hộ gia đình có của ăn, của

để Những hộ cận nghèo sẽ rất dễ rơi vào tái nghèo nếu như không có những chính sách để phát triển bền vững hoặc những hộ nghèo cũng sẽ khó để thoát nghèo Nghiên cứu này, dựa vào phận hạng kinh tế để xem với tình trạng kinh tế như vậy, người dân có sẵn sàng làm du lịch và coi du lịch như một sinh kế mới để nâng cao thu nhập, từ đó sẽ phân tích năng lực của cộng đồng khi tham gia vào hoạt động du lịch Phần này sẽ được phân tích sau

+ Nghề nghiệp mà các thành viên trong gia đình đáp viên có thể làm

Đại đa số người dân xã Ba Vì làm nông nghiệp, tỷ lệ làm nông nghiệp chiếm hơn 90%, do đó ngoài làm nông các thành viên trong hộ gia đình còn có thêm nghề nghiệp khác như là bốc thuốc nam, buôn bán nhỏ, lao động tự do…một số ít làm công nhân hoặc viên chức nhà nước Với những nghề nghiệp bấp bênh như vậy liệu rằng năng lực của người dân khi tham gia vào hoạt động du lịch sẽ thế nào

2.3.2 Mô hình nghiên cứu chuỗi cung ứng du lịch dựa vào cộng đồng

Từ cơ sở lí thuyết và mô hình chuỗi cung ứng du lịch như phân tích đánh giá

ở chương 1, tác giả cho rằng để xây dựng chuỗi cung ứng cho du lịch dựa vào cộng đồng thì nhà cung cấp chính là cộng đồng địa phương cần phải có năng lực và đảm bảo chất lượng sản phẩm du lịch tốt Do đó, đề xuất mô hình chuỗi cung ứng du lịch dành cho nhà cung cấp du lịch (cộng đồng địa phương) bao gồm: Tài nguyên du

Trang 39

lịch; dịch vụ vận chuyển; cơ sở lưu trú;cơ sở hạ tầng và dịch vụ bổ sung; năng lực cộng đồng; doanh nghiệp lữ hành

2.3.2.1 Tài nguyên du lịch

- Tài nguyên du lịch tự nhiên

Ba Vì là một xã miền núi nằm dưới chân núi Ba Vì, thuộc huyện Ba Vì, cách trung tâm thành phố Hà Nội khoảng 60 km về phía Tây Phía bắc giáp xã Ba Trại, Tản Lĩnh; phía đông giáp xã Vân Hòa; phía Tây giáp xã Minh Quang, Khánh Thượng và phía nam là núi Ba Vì

Xã Ba Vì là khu vực nằm trong vành đai độ cao từ 100m đến 400m, có địa hình bị chia cắt mạnh, sườn núi dốc, độ dốc trung bình 25o, có nơi tới 25 – 40o và có một số bãi bằng hẹp với hình thù đa dạng, có thể là nơi tạo lập nên các vườn cây cảnh, vườn thực vật hoặc hồ nhân tạo

Vùng có khí hậu nhiệt đới gió mùa, có sự phân hóa theo mùa, mùa mưa bắt đầu từ tháng 4 và kết thúc vào tháng 10 với nhiệt độ trung bình 230C, tháng 6 và tháng 7 có nhiệt độ trung bình cao nhất là 28,60

C Tổng lượng mưa là 1832,2mm (chiếm 90,87% lượng mưa cả năm) Độ ẩm không khí 86,1% Với khí hậu như vậy,

Ba Vì thường được chọn làm nơi nghỉ núi tránh cái oi bức của tiết trời mùa hè

Trong Xã có vườn Quốc gia Ba Vì với nhiều loại động thực vật đa dạng và phong phú

Về thực vật, mang đặc điểm của rừng nhiệt đới thuộc loại đai cao á nhiệt đới núi thấp nên có 1201 loài thực vật bậc cao có mạch thuộc 649 chi và 160 họ Với những loài cây gỗ lớn và quý có 18 loài cây gỗ điển hình như: Bách xanh

(Calocedrus macrolepis);Thông tre (Podocarpusneriifolius);Sến mật (Madhca

pasquieri);Giổi lá bạc (Michelia cavaleriei); Phỉ ba mũi (Cephalotaxus manii);Dẻ

tùng sọc trắng (Amentotaxus oliver);Vàng tâm (Magliatia fordiana);Trầm (Aquylaria crassna Pierre);Lát hoa (Chukrrasia tabularis); Rẻ hương (Cinnamomuum incrs Reinw); Vù hương (Cinnamomuum balansae Lec); Mắc liễng (Eberhardtia tonkinensis);Lim xanh (Erythrofloeum fordii II.Lec); Đinh thối (Hernandia brilletti Steenis); Táu mặt quỷ (Hopea sp);Thiết đinh (Markhamia

Trang 40

stipullata Seem); Giổi xanh (Michelia mediocris Dandy); Giổi găng (Paramichelia baillonii (Pierre) Hu) Thực vật đặc hữu Ba Vì có 8 loài: Mua Ba Vì (Allomorphia baviensis);Thu hải đường Ba Vì (Begonia baviensis);Xương cá Ba Vì

(Tabernaemontana baviensis);Cau rừng Ba Vì (Pinanga baviensis);Lưỡi vàng làng

cò ( Lasianthus langkokensis);Sặt Ba Vì (Fargesia baviensis);Mỡ Ba Vì (Maglolia

baviensis);Cói túi Ba Vì ((Kiết Ba Vì) Carex bavicola Raym) Thực vật mang tên

Ba vì: 2 loài Cà lồ Ba Vì (Caryodaphnopsia baviensis);Bời lời Ba Vì (Litsea

baviensis)

Đặc biệt, trong vùng có thực vật là cây thuốc Vườn Quốc gia Ba Vì có tới

503 loài thuộc 118 họ, 321 chi chữa 33 loại bệnh và chứng bệnh khác nhau trong đó

có nhiều loài thuốc quý như: Hoa tiên (Asarum maximum), Huyết đằng (Sargentodoxa cuneata), Bát giác liên (Podophyllum tonkiensis), Râu hùm (Tacca

chantrieri), Hoàng đằng (Fibraurea tinctoria)…

Về động vật, theo kết quả điều tra bổ sung mới nhất năm 2008, Khu hệ động vật có xương sống ở Vườn Quốc gia Ba Vì thống kê được 342 loài Trong đó, có 3 loài đặc hữu và 66 loài động vật rừng qúy hiếm Trong 342 loài đã ghi nhận, có 23 loài có mẫu được sưu tầm hoặc đang được lưu trữ ở địa phương, 141 loài được quan sát ngoài thực địa và 183 loài theo phỏng vấn thợ săn hoặc tập hợp qua tài liệu đã

có Trong số động vật gặp ở Ba Vì, có 70 loài cho thịt, da, lông và làm cảnh Yếu tố đặc hữu của khu hệ động vật có xương sống ở Ba Vì ở 2 lớp Bò sát và Lưỡng thê

Đó là các loài Thằn lằn tai Ba Vì (Tropidophous baviensis), Ếch vạch (Chaparana

delacouri) Thế giới côn trùng của Vườn Quốc Gia cũng hết sức phong phú, nơi đây

là điểm đến của rất nhiều loài bướm với nhiều dạng loài sặ sỡ, đủ màu sắc hấp dẫn

Trong vùng có nhiều suối nhỏ, ao, hồ đặc biệt có sông Đà bao quanh tạo nên vùng cảnh quan sông núi hữu tình, đồng thời sông Đà cũng chính là đường giao thông thủy quan trọng

Với điều kiện tự nhiên, địa hình và khí hậu cũng như các đặc điểm sinh quyển đa dạng, xã Ba Vì chính là nơi lí tưởng để du khách đến nghiên cứu, học tập, tham quan, nghỉ dưỡng sau những ngày làm việc mệt mỏi Du khách sẽ được hòa mình vào thiên nhiên tránh xa những ồn ào và khói bụi nơi trung tâm thành phố

Ngày đăng: 25/11/2019, 20:10

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
2. Bùi Xuân Đính (2012), Giáo trình Các tộc người ở Việt Nam, NXB Thời đại, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Các tộc người ở Việt Nam
Tác giả: Bùi Xuân Đính
Nhà XB: NXB Thời đại
Năm: 2012
3. Nguyễn Văn Đính, Trần Thị Minh Hòa, (2009), Giáo trình kinh tế du lịch, NXB Đại học Kinh tế Quốc dân, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình kinh tế du lịch
Tác giả: Nguyễn Văn Đính, Trần Thị Minh Hòa
Nhà XB: NXB Đại học Kinh tế Quốc dân
Năm: 2009
4. Nguyễn Hải Hà, Nguyễn Thị Hải Ninh (2014) “Bảo tồn đa dạng sinh học và một giải pháp phát triển du lịch sinh thái ở Vườn quốc gia Ba Vì, Hà Nội”, tạp chí Khoa học và Công nghệ Lâm nghiệp, số 3, tr. 56 - 63 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bảo tồn đa dạng sinh học và một giải pháp phát triển du lịch sinh thái ở Vườn quốc gia Ba Vì, Hà Nội”", tạp chí Khoa học và Công nghệ Lâm nghiệ
5. Vũ Mạnh Hà, (2004), Giáo trình kinh tế du lịch, NXB Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình kinh tế du lịch
Tác giả: Vũ Mạnh Hà
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 2004
6. Lê Công Hoa, (2007),Giáo trình Quản trị hậu cần kinh doanh, NXB Đại học Kinh tế Quốc dân Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Quản trị hậu cần kinh doanh
Tác giả: Lê Công Hoa
Nhà XB: NXB Đại học Kinh tế Quốc dân
Năm: 2007
7. Nguyễn Đình Hòe, Vũ Văn Hiếu (2001), Du lịch bền vững, NXB Đại học Quốc gia Hà Nội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Du lịch bền vững
Tác giả: Nguyễn Đình Hòe, Vũ Văn Hiếu
Nhà XB: NXB Đại học Quốc gia Hà Nội
Năm: 2001
8. Ngô Văn Lệ, Nguyễn Văn Tiệp, Nguyễn Văn Diệu (1992), Văn hóa các dân tộc thiểu số ở Việt Nam, NXB Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn hóa các dân tộc thiểu số ở Việt Nam
Tác giả: Ngô Văn Lệ, Nguyễn Văn Tiệp, Nguyễn Văn Diệu
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 1992
9. Đặng Duy Lợi (1992), “Đánh giá và khai thác các điều kiện tự nhiên và tài nguyên thiên nhiên huyện Ba Vì (Hà Tây) phục vụ mục đích du lịch”, Luận án PTS khoa học Địa lí - Địa chất, ĐHSP Hà Nội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đánh giá và khai thác các điều kiện tự nhiên và tài nguyên thiên nhiên huyện Ba Vì (Hà Tây) phục vụ mục đích du lịch
Tác giả: Đặng Duy Lợi
Năm: 1992
11. Phạm Trung Lương (chủ biên) (2000), Tài nguyên và môi trường du lịch Việt Nam, NXB Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tài nguyên và môi trường du lịch Việt Nam
Tác giả: Phạm Trung Lương (chủ biên)
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 2000
1. Đặng Đình Đào (chủ biên), (2002), Giáo trình Thương mại doanh nghiệp, NXB Thống Kê Khác
10.Luật du lịch (2017), NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w