1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH PHÁP TRIỂN cán bộ, CÔNG CHỨC tại HUYỆN cư jút, TỈNH đắk NÔNG

96 59 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 96
Dung lượng 814,22 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đạt được, thực tiễn trên địa bàn huyện Cư Jút nói riêng và cả nước nói chung, trong công tác thực hiện chính sách phát triển CB,CC hiện nay cho thấy vẫn

Trang 1

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM

HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

NGUYỄN TUẤN PHÚC

THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH PHÁP TRIỂN CÁN BỘ, CÔNG CHỨC

TẠI HUYỆN CƯ JÚT, TỈNH ĐẮK NÔNG

LUẬN VĂN THẠC SĨ CHÍNH SÁCH CÔNG

Đắk Lắk, năm 2019

Trang 2

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM

HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

NGUYỄN TUẤN PHÚC

THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH PHÁP TRIỂN CÁN BỘ, CÔNG CHỨC

TẠI HUYỆN CƯ JÚT, TỈNH ĐẮK NÔNG

Ngành: Chính sách công

Mã số: 8 34 04 02

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS TS HỒ VIỆT HẠNH

Đắk Lắk, năm 2019

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Để hoàn thành Luận văn này, ngoài sự cố gắng của bản thân, Học viên đã nhận được sự động viên, giúp đỡ, hướng dẫn tận tình và quý báu của quý thầy, cô giáo cùng với sự động viên, khuyến khích của đồng nghiệp, người thân và bạn bè Trước hết, Học viên xin được bày tỏ lòng biết ơn chân thành đến các giảng viên đã tận tình giảng dạy, cung cấp phương pháp nghiên cứu và giúp bản thân có thêm nhiều hiểu biết mới về chính sách công để Học viên tự tin, chủ động xây dựng

và hoàn thành đề tài nghiên cứu của mình

Học viên xin gửi lời cảm ơn chân thành, sâu sắc đến PGS.TS Hồ Việt Hạnh, Người Thầy đã dành nhiều thời gian và tâm huyết hướng dẫn, giúp đỡ Học viên trong quá trình nghiên cứu và hoàn thành Luận văn này

Xin trân trọng cảm ơn lãnh đạo Huyện ủy, UBND huyện Cư Jút; Lãnh đạo và công chức Ban Tổ chức Huyện ủy, Phòng Nội vụ UBND huyện Cư Jútvà UBND các xã, thị trấn đã quan tâm giúp đỡ, tạo mọi điều kiện thuận lợi để Học viên học tập, nghiên cứu, thu thập thông tin, tài liệu, số liệu để hoàn thành Luận văn này Với khả năng của bản thân và thời gian nhất định, chắc chắn Luận văn này không tránh khỏi những thiếu sót; Học viên rất mong nhận được sự thông cảm cũng như đóng góp ý kiến của quý thầy, cô giáo, các nhà khoa học và sự chia sẻ của đồng nghiệp, bạn bèđể Học viên có thể tiếp tục nghiên cứu sâu hơn và toàn diện hơn

Xin chân thành cảm ơn./

Đắk Lắk, tháng 11 năm 2019

Học viên Cao học

Nguyễn Tuấn Phúc

Trang 4

LỜI CAM ĐOAN

Luận văn Thạc sĩ “Thực hiện chính sách phát triển cán bộ, công chức tại

huyện Cư Jút, tỉnh Đắk Nông” là công trình nghiên cứu khoa học độc lập của tôi

dưới sự hướng dẫn tận tình, khoa học của PGS.TS Hồ Việt Hạnh Các số liệu, kết quả nghiên cứu được công bố trong công trình hoàn toàn trung thực Trong công trình nghiên cứu này mọi sự tham khảo, trích dẫn đều được chú thích thỏa đáng, không có bất kỳ sự sao chép nào mà không có trích dẫn nguồn, tác giả

Tôi cam đoan những lời trên đây là đúng sự thật và xin chịu hoàn toàn trách nhiệm về lời cam đoan của mình./

Đắk Lắk, tháng 11 năm 2019

Học viên Cao học

Nguyễn Tuấn Phúc

Trang 5

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH PHÁT TRIỂN CÁN BỘ, CÔNG CHỨC 10

1.1 Một số khái niệm 10

1.2 Lý luận chung về chính sách phát triển cán bộ, công chức ở nước ta hiện nay 14 1.3 Các bước tổ chức thực hiện chính sách phát triển cán bộ, công chức 21

1.4 Các nhân tố tác động đến tổ chức thực hiện chính sách phát triển cán bộ, công chức 25

Tiểu kết chương 1 27

Chương 2 THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH PHÁT TRIỂN CÁN BỘ, CÔNG CHỨC TẠI HUYỆN CƯ JÚT, TỈNH ĐẮK NÔNG 28

2.1 Các nhân tố tác động đến thực hiện chính sách phát triển cán bộ, công chức tại huyện Cư Jút, tỉnh Đắk Nông 28

2.2 Thực hiện chính sách phát triển cán bộ, công chức tại huyện Cư Jút 30

2.3 Chủ thể tham gia thực hiện chính sách phát triển cán bộ, công chứctại huyện Cư Jút 34

2.4 Kết quả thực hiện chính sách phát triển cán bộ, công chức tại huyện Cư Jút 36

2.5 Đánh giá chung về kết quả thực hiện chính sách phát triển cán bộ, công chức tại huyện Cư Jút 53

Tiểu kết chương 2 57

Chương 3 TĂNG CƯỜNG THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH PHÁT TRIỂN CÁN BỘ, CÔNG CHỨC TẠI HUYỆN CƯ JÚT, TỈNH ĐẮK NÔNG TRONG THỜI GIAN TỚI 58

3.1 Nhu cầu, mục tiêu và định hướng tăng cường thực hiện chính sách phát triển cán bộ, công chức ở huyện Cư Jút 58

3.2 Hoàn thiện các giải pháp, công cụ thực hiện chính sách phát triển đối với cán bộ, công chức 64

Tiểu kết chương 3 74

KẾT LUẬN 75

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 77

PHỤ LỤC

Trang 6

LĐ, TB&XH Lao động, Thương binh và Xã hội

Trang 7

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Huyện Cư Jút được thành lập theo Quyết định số 227/HĐBT, ngày 19/6/1990 của Hội đồng Bộ trưởng (nay là Chính phủ) Đến ngày 01/01/2004 tỉnh Đắk Nông được tái lập, huyện Cư Jút thuộc tỉnh Đắk Nông; Huyện nằm về phía Bắc tỉnh Đắk Nông, cách thị xã Gia Nghĩa 110 km, cách thành phố Buôn Ma Thuột (tỉnh Đắk Lắk) 20 km; huyện có trên 20 km đường biên giới giáp với huyện Pecchămđa, tỉnh Molddulkirri, Vương quốc Campuchia Trung tâm huyện lỵ là thị trấn Ea T’ling có quốc lộ 14 và quốc lộ 28 đi qua, đây là các tuyến giao thông quan trọng giao lưu kinh tế, văn hoá giữa các tỉnh Tây Nguyên với thành phố Hồ Chí Minh và các tỉnh phía Nam Tăng trưởng kinh tế năm 2018, đạt 9,3% Trong đó: giá trị sản xuất công nghiệp và xây dựng cơ bản tăng 12%; giá trị thương mại - dịch vụ tăng 10%; giá trị nông lâm nghiệp tăng 6% Thu nhập bình quân đầu người đạt 40 triệu đồng/người/năm Tổng giá trị các ngành kinh tế đạt 7.260 tỷ đồng (theo giá cố định 2010); trong đó: Nông nghiệp 1.960 tỷ đồng; công nghiệp - xây dựng cơ bản 2.660

tỷ đồng; thương mại, dịch vụ 2.640 tỷ đồng Tỷ trọng các ngành kinh tế của huyện: Công nghiệp - Xây dựng chiếm 37%; Thương mại - Dịch vụ chiếm 36%; Nông - Lâm nghiệp chiếm 27% (tỷ trọng ngành Chăn nuôi chiếm 20% trong tổng giá trị sản xuất ngành Nông nghiệp)

Theo định hướng phát triển đô thị trên địa bàn huyện đến năm 2020 tầm nhìn đến năm 2030, huyện Cư Jút có 02 đô thị gồm: Đô thị thị trấn Ea T’ling thành đô thị loại IV, trung tâm xã Nam Dong thành đô thị loại V

Trong những năm qua, cơ cấu kinh tế Công nghiệp – Xây dựng, Nông – Lâm nghiệp, Thương mại – Dịch vụ đã thu được nhiều kết quả, các loại hình phát triển kinh tế Thương mại – dịch vụ được khuyến kích, nông nghiệp công nghệ cao ngày càng được đẩy mạnh Thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia “Xây dựng nông thôn” tại 07 xã gắn với thực hiện Nghị quyết số26-NQ/TW, ngày 05/8/2008 của Ban Chấp hành Trung ương về nông nghiệp, nông dân, nông thôn, đã có 03/07 xã được UBND tỉnh công nhận đạt chuẩn nông thôn mới Đầu tư cơ sở hạ tầng được

Trang 8

huy động từ nhiều luồn lực khác nhau, các công trình giáo dục, giao thông, y tế, văn hóa được xã hội hóa Nâng cao chất lượng GD&ĐT; giữ gìn và phát huy bản sắc, truyền thống văn hóa tốt đẹp của các dân tộc; thực hiện tốt các chương trình an sinh

xã hội; đẩy mạnh thực hiện Cuộc vận động “Toàn dân đoàn kết xây dựng nông thôn, đô thị văn minh”, phong trào “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa”; Chương trình mục tiêu quốc gia “Giảm nghèo bền vững” AN-QP được giữ vững;đảm bảo an ninh trật tự, an toàn xã hội

Hiện nay, trên địa bàn huyện Cư Jút tốc độ đô thị hóa diễn ra khá nhanh, dân

số tăng cao tác động không nhỏ đến công tác quản lý của các cơ quan nhà nước ở địa phương, đặc biệt là công tác quản lý đất đai, tình hình an ninh trật tự, an toàn xã hội, y tế, giáo dục, cơ sở hạ tầng, văn hóa, xã hội

Nghị quyết Đại hội Đảng bộ huyện Cư Jút lần thứ VI, nhiệm kỳ 2015 - 2020 xác định mục tiêu tổng quát: “Tăng cường xây dựng Đảng bộ trong sạch, vững mạnh; nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của tổ chức đảng, huy động mọi nguồn lực xã hội để phát triển nông nghiệp, nông thôn gắn với phát triển văn hóa nông thôn, kết hợp đẩy mạnh phát triển kinh tế công nghiệp và thương mại, dịch vụ nhằm tiếp tục chuyển dịch cơ cấu kinh tế để phát triển đô thị Phát huy dân chủ, giải quyết tốt các vấn đề bức xúc xã hội, ổn định và cải thiện đời sống Nhân dân Tăng cường công tác bảo đảm AN-QP, tình hình chính trị - xã hội được giữ vững Đẩy mạnh cải cách hành chính, nâng cao hiệu lực, hiệu quả công tác chỉ đạo điều hành của bộ máy chính quyền, các ngành các cấp Đổi mới nội dung, phương thức, nâng cao chất lượng hoạt động của Mặt trận và các đoàn thể chính trị - xã hội, phát huy dân chủ và sức mạnh đại đoàn kết toàn dân thực hiện thắng lợi CNH-HĐH nhằm xây dựng Cư Jút vững mạnh toàn diện” Và các khâu tập trung, đột phá trong nhiệm kỳ: Ba khâu tập trung, (1) Đẩy mạnh đào tạo nâng cao chất lượng NNL cả về đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý và khoa học kỹ thuật, lao động…, đáp ứng với yêu cầu phát triển của huyện trong quá trình thực hiện CNH-HĐH đất nước, (2) Đổi mới và nâng cao chất lượng quy hoạch gắn với quản lý theo quy hoạch; Xây dựng và phát triển đồng bộ hệ thống kết cấu hạ tầng kinh tế, xã hội theo quy hoạch phát triển, (3) Tập trung xây dựng phát triển nông nghiệp chất lượng cao ổn định và bền vững, chú

Trang 9

trọng việc tổ chức cơ cấu lại sản xuất, thực hiện liên kết giữa doanh nghiệp với nông dân thông qua các tổ hợp tác, hợp tác xã; Ba khâu đột phá, (1) Đẩy mạnh công tác cải cách hành chính, xây dựng nền hành chính trong sạch, vững mạnh, chuyên nghiệp, hiện đại, hoạt động có hiệu lực, hiệu quả, (2) Huy động mọi nguồn lực xây dựng nông thôn mới để đến năm 2020 là huyện dẫn đầu của tỉnh trong xây dựng nông thôn mới, (3) Đẩy mạnh phát triển thương mại, dịch vụ, du lịch gắn với phát triển đô thị

Trước những yêu cầu đặt ra tại Nghị quyết Đại hội Đảng bộ huyện Cư Jút lần thứ VI, nhiệm kỳ 2015-2020, yêu cầu đối với các tổ chức Đảng nâng cao năng lực lãnh đạo, chỉ đạo, sức chiến đấu; Đối với các cơ quan quản lý nhà nước cần nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước trên tất cả các lĩnh vực, kiện toàn bộ máy tinh gọn, hoạt động hiệu quả, hiệu lực; Đội ngũ cán bộ, công chức đảm bảo đủ về số lượng, có phẩm chất, năng lực, trình độ, ý thức tổ chức kỷ luật, tinh thần trách nhiệm, chấp hành tốt các chủ trương, chính sách của Đảng và Pháp luật của Nhà nước

Trong những năm qua, huyện Cư Jút đã tăng cường thực hiện tốt các chính sách phát triển đội ngũ CB, CC đã đem lại những kết quả tích cực góp phần vào sự nghiệp phát triển KT-XH, công cuộc xây dựng nông thôn mới, xóa đói giảm nghèo, giữ vững an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội trên địa bàn huyện được đảm bảo Đội ngũ CB, CC hiểu rõ chức trách, nhiệm vụ, không ngừng nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ nhằm phục vụ sự nghiệp cách mạng, phục vụ nhân dân, thể hiện là lực lượng lãnh đạo, quản lý được nhân dân tin tưởng.CB, CC thể hiện vai trò của mình thông qua xử lý các công việc một cách khoa học, chu đáo, trung thực, khẩn trương và nhanh chóng.Không để công việc bị tắc trách, ùn ứ mà phải giải quyết các công việc kịp thời, chính xác, đáp ứng lòng mong đợi của người dân Trong thực hiện nhiệm vụ, đòi hỏi mỗi CB, CC cần phải chủ động, hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao, dám làm, giám chịu, không đùn đẩy trách nhiệm, quan liêu

và giữ mối quan hệ tốt với quần chúng nhân dân Sinh thời Chủ tịch Hồ Chí Minh cho rằng đức và tài phải luôn gắn bó chặt chẽ, quan hệ biện chứng với nhau Mối quan hệ giữa đức và tài thì “Đức phải có trước tài” và đức là gốc Nếu có tài mà không có đức thì là người vô dụng, vì “có tài không có đức, tham ô hủ hóa có hại

Trang 10

cho nước”[41] Người rất coi trọng tài năng và có đức và có tài phải đi liền với nhau

vì “Có đức mà không có tài như ông bụt ngồi trong chùa, không giúp ích gì được ai [41] Chính vì thế, trong bất cứ hoàn cảnh nào, người CB, CC phải luôn luôn đặt lợi ích của Đảng, Nhà nước và Nhân dân lên trên hết

Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đạt được, thực tiễn trên địa bàn huyện Cư Jút nói riêng và cả nước nói chung, trong công tác thực hiện chính sách phát triển CB,CC hiện nay cho thấy vẫn còn những hạn chế như:

tạo trình độ chuyên môn, nghiệp vụ sau; tuyển dụng trước rồi đăng ký thi tuyển công chức sau; năng lực, trình độ chuyên môn, nghiệp vụ của một bộ phận CB,CC chưa đáp ứng được yêu cầu công việc trong tình hình mới; công tác phối hợp trong việc thực hiện nhiệm vụ chuyên môn, nghiệp vụ chưa kịp thời và hiệu quả chưa cao; một số CB,CC chưa thực sự nhiệt tình và có trách nhiệm trong việc phục vụ Nhân dân

trạng CB,CC đi sớm, về muộn, giải quyết việc riêng trong giờ làm việc

- Các chính sách đối với CB, CC hiện nay như chính sách tuyển dụng, đào tạo, bồi dưỡng, đánh giá, khen thưởng, kỷ luật, lương thưởng, bảo hiểm xã hội, bảo hiểm thất nghiệp, điều kiện làm việc, nghỉ ngơi chưa được đồng bộ, nhất quán, nhất

là đối với các cán bộ, công chức cấp xã Đặc biệt, một số các văn bản quy định như Luật, Nghị định, thông tư hướng dẫn của các Bộ, Ngành còn chồng chéo, không thống nhất, thậm chí trái ngược nhau Điều này gây nên nhiều khó khăn trong quá trình triển khai thực hiện chính sách tại địa phương

một số nơi vẫn tồn tại tình trạng nể nang, né tránh, triển khai qua loa, chạy theo thành tích trong đánh giá, xếp loại

đào tạo; đánh giá CB, CC chưa chú trọng đến năng lực thực tiễn, hiệu quả công việc

Từ những tồn tại nêu trên, nhằm đánh giá đúng thực trạng việc triển khai thực hiện chính sách phát triển CB,CC ở huyện Cư Jút trong thời gian qua, từ đó đề xuất những giải pháp nhằm hoàn thiện và nâng cao chất lượng, hiệu quả việc thực hiện

Trang 11

chính sách phát triển CB,CC ở huyện Cư Jút những năm tới, bản thân tôi đã chọn đề

tài “Thực hiện chính sách phát triển cán bộ, công chức tại huyện Cư Jút, tỉnh

Đắk Nông”cho Luận văn thạc sĩ, chuyên ngành chính sách công

2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài

Đến nay, có rất nhiều bài viết, công trình khoa học nghiên cứu liên quan đến phát triển CB, CC Trong đó, nổi bật là:

- TS Thang Văn Phúc và TS Nguyễn Minh Phương (2001) trong công trình

“Cơ sở lý luận và thực tiễn xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức” Các tác giả đã

phân tích dưới cả góc độ lý luận chung cũng như tình hình thực tiễn về xây dựng đội ngũ cán bộ công chức ở nước ta

- TS Nguyễn Ngọc Hiến (2002) “Các giải pháp thúc đẩy cải cách hành chính

ở Việt Nam”, tác giả đã phân tích, đề xuất giải pháp hoàn thiện nền pháp luật về

công vụ, công chức và đổi mới cơ chế tuyển dụng, đào tạo, bồi dưỡng, hiện đại hóa công sở

- GS.TS Bùi Văn Nhơn (2005) ,đã đề xuất các giải pháp nhằm xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức hành chính chuyên nghiệp có năng lực thực hiện công việc

đạt hiệu quả cao thông qua Đề tài nghiên cứu “Các giải pháp nhằm xây dựng đội

ngũ công chức hành chính nhà nước ở nước ta trong giai đoạn hiện nay”

- TS Nguyễn Ngọc Vân (2008), đã phân tích cơ sở lý luận và thực tiễn về đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ, công chức hành chính thông quacông trình nghiên

cứu“Cơ sở khoa học của đào tạo, bồi dưỡng CB,CC hành chính theo nhu cầu công

việc” Đề tài cũng cho rằng cần phải thực hiện đổi mới nội dung chương trình đào

tạo,nhân lực đào tạo phải dựa theo nhu cầu công việc

- Vũ Xuân Khoan (2009) đã thực hiện công trình về “Nghiên cứu xây dựng

quy hoạch đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ CB,CC xã, phường, thị trấn khu vực Đồng bằng sông Cửu Long giai đoạn 2007 - 2015” Thông qua nghiên cứu này, tác giả đã

phân tích và đánh giá thực trạng, công tác quy hoạch, đào tạo, bồi dưỡng CB,CC các cấp từ xã, phường cho đến thị trấn ở khu vực đồng bằng sông Cửu Long Thông qua nghiên cứu này, tác giả cũng đã chỉ ra một số phương hướng, giải pháp trong quy hoạch, đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ CB,CC các tỉnh khu vực đồng bằng sông

Trang 12

Cửu Long với thời gian nói trên

- Tác giả Văn Tất Thu (2012)đã gợi ý một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng và năng lực thực hiện nhiệm vụ của đội ngũ cán bộ lãnh đạo quản lý trong

công trình“Yêu cầu nâng cao chất lượng trình độ, năng lực đội ngũ cán bộ lãnh

đạo, quản lý nhà nước trong sự nghiệp Công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và hội nhập kinh tế quốc tế”

- TS Đặng Khắc Ánh (2012) với nghiên cứu về “Đào tạo, bồi dưỡng theo vị

trí việc làm - những khó khăn và kiến nghị”,tác giả đã cho thấy sự cần thiết của đào

tạo, bồi dưỡng theo vị trí việc làm cùng những khó khăn và các kiến nghị để thực hiện tốt đào tạo, bồi dưỡng theo thực tế yêu cầu của công việc

- Kỷ yếu hội thảo khoa học “Phát triển nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu HĐH và HNQT” do Tạp chí Cộng sản - Nhà xuất bản Chính trị quốc gia tổ chức 8/2012 tại Hà Nội

CNH GS.TS Đinh Văn Tiến, Ths Thái Vân Hà (2013), “Đổi mới công tác đào

tạo, bồi dưỡng CB,CC, viên chức trong tình hình mới”, tác giả đã phân tích thực

trạng, vai trò công tác đào tạo, bồi dưỡng CB,CC, viên chức để đề xuất giải pháp đổi mới công tác đào tạo, bồi dưỡng CB,CC, viên chức trong tình hình mới

- PGS.TS Nguyễn Minh Phương, Ths Trần Thị Hạnh (2014) thông qua bài

viết “Hoàn thiện quy phạm pháp luật về đào tạo, bồi dưỡng CB,CC, viên chức”đã

chỉ ra một số bất cập trong các quy định về đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức và viên chức Cũng qua bài viết này, nhóm tác giả đã nêu lên một số định hướng nhằm góp phần hoàn thiện các văn bản quy phạm pháp luật về những vấn đề nêu trên

Từ một số công trình nghiên cứu mà tác giả đã được tiếp cận, chúng ta có thể khẳng định, các bài viết, công trình nghiên cứu đã nêu lên những lý luận cơ bản nhất về phát triển cán bộ, công chức, phân tích, đánh giá thực trạng tình hình đội ngũ cán bộ, công chức và các chính sách về phát triển cán bộ, công chức ở nước ta trong thời gian qua và đề xuất các giải pháp, kiến nghị rất quan trọng về tăng cường vai trò lãnh đạo của Đảng, Nhà nước, nâng cao hiện lực, hiệu quả về quản lý nhà nước để phát triển đội ngũ CB, CC trong thời gian tới

Tuy vậy, cho đến nay vẫn chưa có công trình nào công bố và nghiên cứu về

Trang 13

thực hiện chính sách phát triển CB,CC tại huyện Cư Jút, tỉnh Đắk Nông

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

3.1 Mục đích nghiên cứu

Hệ thống hóa những vấn đề lý luận và làm rõ thực trạng thực hiện chính sách phát triển CB, CC tại huyện Cư Jút Từ đó, đề xuất các giải pháp hữu hiệu nhằm tăng cường thực hiện chính sách phát triển CB, CC trong thời gian tới tại huyện Cư Jút, tỉnh Đắk Nông

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

Đề tài luận văn thực hiện hệ thống hóa những vấn đề lý luận chung về thực hiện chính sách phát triển CB,CC ở nước ta trong bối cảnh hiện nay

Phân tích, đánh giá thực trạng thực hiện chính sách phát triển CB,CC tại huyện Cư Jút, tỉnh Đắk Nông dưới góc độ khoa học chính sách công

Đề xuất phương hướng, mục tiêu, nhiệm vụ và giải pháp tăng cường thực hiện chính sách phát triển CB,CC tại huyện Cư Jút, tỉnh Đắk Nông nhằm đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ trong thời kỳ đẩy mạnh CNH-HĐH đất nước

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

4.1 Đối tượng nghiên cứu

Việc thực hiện chính sách phát triển CB,CC bao gồm các chủ trương, đường lối, chính sách cụ thể của Đảng, Nhà nước (Trung ương và địa phương) có liên quan tới phát triển CB,CC; Các chính sách như: quy hoạch, bầu cử, tuyển dụng, đào tạo, bồi dưỡng, bố trí sử dụng, đánh giá, khen thưởng, kỷ luật, điều kiện làm việc, nghỉ ngơi, tiền lương, phụ cấp, bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế

Trang 14

5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu

5.1 Cơ sở lý luận

Để thực hiện nghiên cứu này, tác giả sử phương pháp luận của Chủ nghĩa Mác

- Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về cán bộ; các Chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước về phát triển đội ngũ CB,CC trong đó bao gồm

cả các cấp ở địa phương Bên cạnh đó, tác giả vận dụng cách tiếp cận đa ngành, liên ngành và phương pháp nghiên cứu CSC, nghiên cứu quy trình từ hoạch định chính sách đến xây dựng, thực hiện và đánh giá CSC có sự tham gia của các chủ thể chính sách; gắn với tư duy, chủ trương, quan điểm chiến lược phát triển CB,CC của Đảng

và Nhà nước

5.2 Phương pháp nghiên cứu

Luận văn sử dụng phương pháp kết hợp giữa nghiên cứu lý luận và thực tiễn; phương pháp phân tích, thống kê, so sánh, tổng hợp để tiếp cận và phân tích chính sách phát triển cán bộ, công chức của huyện Cư Jút

Phương pháp thu thập thông tin: Luận văn thu thập, phân tích, sử dụng thông tin từ các nguồn có sẵn đến đề tài, bao gồm các Văn kiện, Nghị quyết, Chỉ thị, Quyết định của Đảng, Nhà nước; Các văn bản của Bộ, Ngành ở Trung ường và Địa phương; các bài báo, tạp chí, công trình khoa học liên quan đến thực hiện chính sách phát triển CB, CC ở nước ta nói riêng và tại huyện Cư Jút, tỉnh Đắk Nông nói riêng

Trong quá trình phân tích, đánh giá thực hiện chính sách, học viên cũng sử dụng đồng thời các phương pháp như: phương pháp thống kê, suy luận logic, diễn giải và quan sát

Ngoài ra, học viên đã tiếp thu và phát triển kết quả các công trình nghiên cứu

có liên quan đến đề tài để bổ sung và làm rõ thêm những nội dung, vấn đề nghiên cứu của luận văn

6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn

6.1 Ý nghĩa lý luận

Luận văn nhằm hệ thống hóa về mặt lý luận, chỉ ra một số bài học kinh nghiệm trong thực hiện chính sách phát triển CB,CC từ thực tiễn nghiên cứu ở địa

Trang 15

bàn huyện Cư Jút, tỉnh Đắk Nông

Các kết quả, kết luận rút ra từ việc nghiên cứu có giá trị và ý nghĩa góp phần

bổ sung, làm rõ và hoàn thiện thêm những cơ sở lý luận, thực tiễn về thực hiện chính sách công nói chung và chính sách phát triển CB, CC cấp huyện nói riêng

6.2 Ý nghĩa thực tiễn

Các kết quả nghiên cứu của luận văn có thể được sử dụng làm tài liệu tham khảo trong nghiên cứu, học tập, cho các cơ quan quản lý nhà nước nhằm nâng cao hiệu quả thực hiện chính sách phát triển CB, CC

Các kết luận, kiến nghị, đề xuất rút ra từ việc nghiên cứu luận văn có ý nghĩa

lý luận, thực tiễn góp phần thiết thực vào tổ chức thực hiện chính sách phát triển CB,CCcấp huyện và cấp xã ở nước ta nói chung và CB,CCtại huyện Cư Jút, tỉnh Đắk Nông nói riêng

Ngoài ra, còn là tài liệu tham khảo có giá trị trong thực tiễn hiện nay đối với việc thực hiện chính sách phát triển CB,CC; bên cạnh đó cung cấp cơ sở khoa học

và thực tiễn cho các cơ quan, đơn vị, địa phương và những người quan tâm trong quá trình hoạch định, xây dựng và thực hiện chính sách phát triển CB,CCcấp huyện

và cấp xã một cách hữu hiệu và đạt kết quả cao nhất

7 Kết cấu của luận văn

Ngoài mở đầu và kết luận, luận văn bao gồm 03 chương:

Chương 1 Những vấn đề lý luận về chính sách phát triển CB,CC, về thực hiện chính sách phát triển CB,CC

Chương 2 Thực trạng thực hiện chính sách phát triển CB,CC tại huyện Cư Jút, tỉnh Đắk Nông

Chương 3 Tăng cường thực hiện chính sách phát triển CB,CC tại huyện Cư Jút, tỉnh Đắk Nôngtrong thời gian tới

Trang 16

Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH PHÁT TRIỂN

CÁN BỘ, CÔNG CHỨC

1.1 Một số khái niệm

1.1.1 Khái niệm cán bộ, công chức

Theo Luật CB,CC số 22/2008/QH12 năm 2008, tại Khoản 1, Điều 4 định nghĩa về cán bộ rằng: “Cán bộ là công dân Việt Nam, được bầu cử, phê chuẩn, bổ nhiệm giữ chức vụ, chức danh theo nhiệm kỳ trong cơ quan của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội ở Trung ương, ở tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương (sau đây gọi chung là cấp tỉnh), ở huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh (sau đây gọi chung là cấp huyện), trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước” [43]

Luật CB,CC số 22/2008/QH12 năm 2008, Tại Khoản 2, Điều 4 định nghĩa về công chức như sau: “Công chức là công dân Việt Nam, được tuyển dụng, bổ nhiệm vào ngạch, chức vụ, chức danh trong cơ quan của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội ở Trung ương, cấp tỉnh, cấp huyện; trong cơ quan, đơn vị thuộc Quân đội nhân dân mà không phải là sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, công nhân quốc phòng; trong cơ quan, đơn vị thuộc Công an nhân dân mà không phải là sĩ quan, hạ sĩ quan chuyên nghiệp và trong bộ máy lãnh đạo, quản lý của đơn vị sự nghiệp công lập của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội (sau đây gọi chung là đơn vị sự nghiệp công lập), trong biên chế

và hưởng lương từ ngân sách nhà nước; đối với công chức trong bộ máy lãnh đạo, quản lý của đơn vị sự nghiệp công lập thì lương được bảo đảm từ quỹ lương của đơn vị sự nghiệp công lập theo quy định của pháp luật” [43]

Cán bộ huyện gồm các chức vụ Đảng và chính quyền như sau:

-Cơ quan Đảng gồm: Bí thư và Phó Bí thư Huyện ủy;

- Cơ quan chính quyền bao gồm:

+ Chủ tịch và Phó Chủ tịch và Thường trực HĐND huyện;

+ Chủ tịch và Phó Chủ tịch UBND huyện;

Trang 17

+ Chủ tịch và Phó Chủ tịch UBMTTQ Việt Nam huyện;

+ Bí thư và Phó Bí thư Đoàn TNCS Hồ Chí Minh huyện;

+ Chủ tịch và Phó Chủ tịch Hội Nông dân Việt Nam huyện;

+ Chủ tịch và Phó Chủ tịch Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam huyện;

+ Chủ tịch và Phó Chủ tịch Liên đoàn Lao động huyện;

+ Chủ tịch và Phó Chủ tịch Hội Cựu chiến binh Việt Nam huyện

+ Đối với cơ quan đảng: “người giữ chức vụ, chức danh người đứng đầu, cấp phó của người đứng đầu và người làm việc trong văn phòng, cơ quan ủy ban kiểm tra, các ban của Huyện ủy” [19];

+ Đối với cơ quan hành chính: “Chánh văn phòng, Phó Chánh văn phòng và người làm việc trong Văn phòng HĐND và UBND”; “Chánh văn phòng, Phó Chánh văn phòng và người làm việc trong văn phòng UBND huyện nơi thí điểm không tổ chức HĐND”; “Người giữ chức vụ cấp trưởng, cấp phó và người làm việc trong cơ quan chuyên môn thuộc UBND”[19];

+ Đối với cơ quan Tòa án: “Chánh án, Phó Chánh án Tòa án nhân dân cấp huyện; Thẩm phán tòa án nhân dân cấp huyện; thư ký tòa án; người làm việc trong tòa án nhân dân cấp huyện”[19];

+ Đối với cơ quan Viện kiểm sát Nhân dân: “Viện trưởng, Phó Viện trưởng Viện Kiểm sát nhân dân cấp huyện; kiểm sát viên, điều tra viên và người làm việc trong Viện Kiểm sát nhân dân cấp huyện”[19];

+ Đối với cơ quan của tổ chức chính trị - xã hội: “Người làm việc trong cơ quan của các tổ chức chính trị - xã hội và tổ chức tương đương” [19]

Theo quy định tại Điều 61, Luật CB,CC năm 2008 Chức vụ, chức danh CB,CC cấp xã, gồm các chức vụ, chức danh sau đây:

+ Bí thư, Phó Bí thư Đảng uỷ;

+ Chủ tịch, Phó Chủ tịch HĐND;

+ Chủ tịch, Phó Chủ tịch Uỷ ban nhân dân;

+ Chủ tịch Hội Cựu chiến binh Việt Nam;

Trang 18

+ Chủ tịch Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam;

+ Chủ tịch Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam;

+ Bí thư Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh;

+ Chủ tịch Hội Nông dân Việt Nam

“+ Trưởng Công an;

+ Chỉ huy trưởng Ban chỉ huy Quân sự;

+ Văn hóa - xã hội”[43]

Yêu cầu đối với CB,CC là phải không ngừng rèn luyện phẩm chất đạo đức, học tập nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ và năng lực công tác để hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao Công tác cán bộ phải đặt dưới sự lãnh đạo thống nhất của các cấp ủy đảng, đảm bảo tính dân chủ, phát huy trách nhiệm của người đứng đầu tổ chức, cơ quan đơn vị

1.1.2 Khái niệm về chính sách, chính sách công

Thuật ngữ “Chính sách” được sử dụng rộng rãi trong các sách báo, các công trình nghiên cứu, bài viết, tài liệu cũng như trên các phương tiện thông tin truyền thông và xuất hiện cả trong đời sống xã hội

Theo Từ điển Tiếng Anh (Oxford English Dictionary) “chính sách” là “một đường lối hành động được thông qua và theo đuổi bởi chính quyền, đảng, nhà cai trị, chính khách ” Theo Hugh Heclo (năm 1972): Chính sách có thể được xem như

là một đường lối hành động hoặc không hành động thay vì những quyết định hoặc hành động cụ thể; Smith (năm 1976) cho rằng: “khái niệm chính sách bao hàm sự lựa chọn có chủ định hành động hoặc không hành động, thay vì những tác động của các lực lượng có quan hệ với nhau” Trong khi đó, có một quan niệm lại cho rằng: chính sách là những hành động được đặt trong sự tính toán của chủ thể với đối

Trang 19

tượng quản lý của chủ thể đó theo các hướng khác nhau (đồng thuận hay phản đối)

Chính sách được cấu thành từ 3 yếu tố bao gồm: quan điểm và định hướng; biện pháp, các công cụ thực hiện; mục tiêu chính sách

Khái niệm Chính sách công ở nước ta trong một vài năm trở lại đây đã được các nhà khoa học nghiên cứu và cũng đã đưa ra một vài quan niệm như:

“Chính sách công là kết quả ý chí chính trị của Nhà nước thể hiện qua hệ thống các quyết định, trong đó định hướng mục tiêu và cách thức giải quyết các vấn

đề công trong xã hội”[37]

“Chính sách công là một tập hợp các quyết định chính trị của nhà nước nhằm lựa chọn các mục tiêu cụ thể với giải pháp và công cụ nhằm thực hiện giải quyết các vấn đề của xã hội theo mục tiêu đã định trước” [31]

“ Chính sách công là những quyết định của chủ thể được trao quyền lực công nhằm giải quyết những vấn đề lợi ích chung của cộng đồng” [36]

Từ những khái niệm nêu trên, ta có thể hiểu: Chính sách công là sự lựa chọn hành động của Nhà nước được thể hiện bằng một tập hợp các quyết định có liên quan với nhau do Nhà nước ban hành nhằm tác động lên đối tượng cụ thể để giải quyết một vấn đề công trong đời sống kinh tế - xã hội để đạt được mục tiêu nhất định

1.1.3 Khái niệm về chính sách phát triển cán bộ, công chức

Chính sách phát triển cán bộ, công chức là quan điểm, là các quyết định chính trị có liên quan của Nhà nước với mục tiêu, giải pháp cụ thể nhằm xây dựng đội ngũ CB,CC có đủ trình độ năng lực chuyên môn nghiệp vụ, phẩm chất chính trị, đạo đức đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ xây dựng chính quyền trong sạch, vững mạnh và phục vụ đắc lực cho người dân

Chính sách phát triển CB,CC thể hiện trong các văn bản của Đảng, Nhà nước nhằm điều chỉnh quá trình hoạt động, quy định những quyền lợi và nghĩa vụ của CB,CC phù hợp với đặc điểm của đời sống kinh tế - xã hội; là một trong những công

cụ để Nhà nước quản lý, sử dụng và phát triển đội ngũ CB,CC đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội, quốc phòng, an ninh của đất nước; là cơ sở để định hướng mọi hoạt động và hành vi của CB,CC và các tổ chức, cá nhân có liên quan

Trang 20

Như vậy, chính sách phát triển cán bộ, công chức là các quyết định của Nhà nước nhằm đạt được các mục tiêu cụ thể với giải pháp và công cụ thực hiện khác nhau nhằm giải quyết các vấn đề của CB,CC theo mục tiêu đã xác định

Chính sách phát triển CB,CCbao gồm: xác định mục tiêu, xây dựng và thực hiện chính sách; được tiến hành bởi cơ quan, tổ chứccó thẩm quyền nhằm xây dựng một đội ngũ CB,CC có chất lượng và cơ cấu hợp lý, có phẩm chất chính trị, đạo đức, năng lực đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ đặt ra

1.2 Lý luận chung về chính sách phát triển cán bộ, công chức ở nước ta hiện nay

Từ khi đổi mới, Đảng ta đã ban hành nhiều nghị quyết về đổi mới và nâng cao chất lượng ,hiệu quả trong công tác phát triển CBCC, đã tổ chức chỉ đạo và xây dựng các chiến lược phát triển cán bộ trong thời kỳ mới, thời kỳ đẩy mạnh CNH-HDH và hội nhập quốc tế

Trong các văn kiện của Đảng tại các kỳ Đại hội X, XI, XII của Đảng, các cương lĩnh và chiến lược đều nêu rõ tầm quan trọng của công tác tổ chức và chất lượng cán bộ, xem con người là chủ thể, là trung tâm của đổi mới và phát triển

Phát triển bền vững còn người được xem là mục tiêu xuyên suốt trong quan điểm phát triển KT-XH (2011-2020) Các chiến lược phát triển đã chỉ ra các điểm nghẽn và đưa ra các đột phá để phát triển như: Đột phá về hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, tạo môi trường lành mạnh, công bằng để phát triển sản xuất, kinh doanh của các doanh nghiệp cũng như đảm bảo chất lượng cuộc sống của người dân; đột phá về đầu tư hạ tầng – kỹ thuật để thu hút đầu tư, đổi mới mô hình sản xuất kinh doanh từ chiều rộng sang chiều sâu; đặc biệt là đột phá

về phát triển nguồn nhân lực

Đảng ta luôn nhất quán quan điểm xem con người là nhân tố quan trọng Đây được xem là nhân tố quan trọng hàng đầu, có ý nghĩa quyết định trong chiến lược phát triển con người Việt Nam Trong đó, chiến lược phát triển cán bộ là ưu tiên hàng đầu

Trong các nguồn lực có thể khai thác được thì nguồn lực con người chính là nguồn lực của mọi nguồn lực.Do đó, Đảng ta luôn coi trọng vấn đề xây dựng con

Trang 21

người, xây dựng đội ngũ cán bộ phát triển một cách toàn diện, thể hiện quan điểm nhân văn trong phát triển và phát triển bền vững Qua hơn 30 năm đổi mới, 10 năm thực hiện Chiến lược phát triển KT-XH (2001-2010), 5 năm thực hiện Nghị quyết Đại hội X (2006-2010); 5 năm thực hiện Nghị quyết Đại hội XI (2010-2015); 5 năm thực hiện Chiến lược phát triển KT-XH (2011-2020) và các văn kiện Đại hội XI, XII của Đảng đặt nền tảng cho việc thực hiện công tác tổ chức, cán bộ, nhất là nâng cao chất lượng đội ngũ CB,CC trong thời kỳ mới

1.2.1 Mục tiêu chính sách phát triển cán bộ, công chức

Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ X của Đảng đã đề ra mục tiêu: “Xây dựng đội ngũ cán bộ có bản lĩnh chính trị vững vàng, có đạo đức, lối sống lành mạnh, không quan liêu, tham nhũng, lãng phí; có tư duy đổi mới, sáng tạo, có kiến thức chuyên môn, nghiệp vụ đáp ứng yêu cầu của thời kỳ CNH-HĐH; dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm Đội ngũ cán bộ phải đồng bộ, có tính kế thừa và phát triển, có số lượng và

cơ cấu hợp lý” [27]

Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XII) của Đảng đã đề ra mục tiêu: “Nhận thức sâu sắc về nguy cơ, nhận diện đúng những biểu hiện và đề ra các giải pháp phù hợp để đấu tranh ngăn chặn, đẩy lùi có hiệu quả tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ Khắc phục những yếu kém trong công tác quản lý cán bộ; xây dựng đội ngũ cán bộ, đảng viên có bản lĩnh chính trị vững vàng, có đạo đức, trách nhiệm, năng lực và động cơ đúng đắn, thực sự tiên phong, gương mẫu, luôn đặt lợi ích tập thể, quốc gia, dân tộc lên trên lợi ích cá nhân, thực sự là cán bộ của dân, phục vụ Nhân dân Củng cố niềm tin của Nhân dân đối với Đảng”[27] Đây là mục tiêu, nhiệm vụ thường xuyên, có ý nghĩa quan trọng cả trước mắt cũng như lâu dài trong sự nghiệp cách mạng của Đảng và Nhà nước ta

Từ những quan điểm, mục tiêu của Đảng, Quốc hội, Chính phủ đã ban hành nhiều chính sách nhằm phát triển đội ngũ CB,CC như các chính sách: Quy hoạch cán bộ; Bầu cử; Tuyển dụng, điều động, luân chuyển; chính sách thu hút; Đào tạo, bồi dưỡng; Đánh giá CB,CC; Khen thưởng, kỷ luật; chính sách tiền lương, chế độ đãi ngộ

Trang 22

Chính sách phát triển CB, CC gồm các mục tiêu trọng tâm sau:

- Thực hiện đúng quy định về công tác quy hoạch cán bộlà khâu quan trọng, then chốt, khoa học trong công tác cán bộ Thông qua đây nhằm phát hiện, bồi dưỡng và tạo nguồn cán bộ trẻ có phẩm chất chính trị, đạo đức, năng lực chuyên môn, có triển vọng về khả năng lãnh đạo đưa vào quy hoạch để có kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng, tạo nguồn các chức danh lãnh đạo, quản lý, đáp ứng nhiệm vụ chính trị ở địa phương

- Từng bước đổi mới công tác tuyển dụng công chức nhằm lựa chọn, bố trí

và sử dụng những người vừa có đức, vừa có tài, đảm bảo về phẩm chất chính trị, đạo đức, lối sống, có năng lực trình độ chuyên môn nghiệp vụ đáp ứng được các nhiệm vụ trong tình hình mới

- Việc điều động, luân chuyển CB, CC cần thực hiện đảm bảo, hiệu quả và đúng quy định; công tác luân chuyên cần đổi mới mạnh mẽ đảm bảo dân chủ, khách quan, công khai, minh bạch; Bên cạnh đó, phát hiện và ngăn chặn những biểu hiện tiêu cực, cục bộ, lợi ích nhóm, tham nhũng, ưu tiên người nhà, người quen…

- Thực hiện hiệu quả chính sách thu hút, trọng dụng và đãi ngộ những người

có tài năng, có năng lực vào làm việc trong bộ máy của hệ thống chính trị

- Đổi mới đào tạo, bồi dưỡng để nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ, kỹ năng, trang bị kiến thức, phương pháp làm cho đội ngũ CB,CCnhằm đáp ứng yêu cầu củaNhân dân, góp phần vào sựphát triển chung của đất nước

- Đổi mới trong công tác đánh giá, đề cao trách nhiệm của người đứng đầu và lấy kết quả thực hiện nhiệm vụ là điều kiện tiền đề, cơ sở quan trọng trong việc phát hiện, tuyển chọn, sử dụng, quy hoạch, bố trí, đề bạt, khen thưởng, kỷ luật và thực hiện các chế độ chính sách khác đối với CB, CC

- Thực hiện chính sách khen thưởng, động viên kịp thời, đúng thời điểm tạo động lực cho CB, CC nổ lực phấn đấu, nhiệt tình trong công việc Bên cạnh đó, phát hiện, ngăn chặn kịp thời các CB, CC vi phạm kỷ luật, có tư tưởng “sáng cắp ô đi, chiều cắp ô về”

- Đổi mới mạnh mẽ cơ chế quản lý, thực hiện đúng quy định về các chế độ chính sách đối với CB, CC

Trang 23

1.2.2 Nội dung của chính sách phát triển cán bộ, công chức

Chính sách phát triển CB,CChiện nay được Đảng, Nhà nước và các cấp, các ngành đặc biệt quan tâm; đó là hệ thống các quan điểm, tư tưởng, mục tiêu, nhiệm

vụ và giải pháp nhằm xây dựng đội ngũ CB,CC đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ trong thời kỳ mới Nội dung chính sách phát triển CB,CCgồm có:

- Một là, trong công tác Quy hoạch, phát hiện cán bộ trẻ vừa có đức, có tài,

có triển vọng về khả năng lãnh đạo, quản lý để đưa vào quy hoạch Từ đó, xây dựng

kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng, tạo nguồn các chức danh lãnh đạo, quản lý, đáp ứng nhiệm vụ chính trị của cơ quan, đơn vị, địa phương Cho nên, quy hoạch cán bộ được xem là khâu quan trọng, then chốt nhằm tạo sự chủ động, linh hoạt, khoa học trong công tác cán bộ

Công tác quy hoạch cán bộ xuất phát từ các yêu cầu nhiệm vụ chính trị và tình hình thực tế của đội ngũ CB, CC tại mỗi cơ quan, đơn vị; Quy hoạch cán bộ phải thực hiện đảm bảo đúng quy trình,trình tự, thủ tục, thẩm quyền, đảm bảo về cơ cấu, số lượng và điều kiện, tiêu chuẩn theo quy định… Cần đưa vào quy hoạch những cán bộ có triển vọng, có chiều hướng phát triển tốt, cán bộ trẻ tuổi, để đào tạo, bồi dưỡng về lý luận, chuyên môn, nghiệp vụ, lãnh đạo, quản lý Công tác quy hoạch vừa đảm bảo tính “mở” và “động”

Phải lấy nhiệm vụ chính trị, phụ vụ Nhân dân là chính để tiến hành công tác quy hoạch nhằm xây dựng đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý tại cơ quan, đơn vị có quan điểm chính trị rõ ràng, trong sáng Trong quá trình triển khai thực hiện phải đảm bảo tính tập trung dân chủ, công khai, minh bạch và khách quan; thực hiện nguyên tắc Đảng lãnh đạo, phát huy vai trò, trách nhiệm của các tổ chức chính trị, đặc biệt là trách nhiệm của người đứng đầu

- Hai là, công tác Bầu cử:Công tác bầu cử được thực hiện theo đúng quy định của pháp luật, thể lệ, hướng dẫn của các cơ quan có thẩm quyền ban hành; Bầu cử theo nguyên tắc phổ thông, trung thực, bình đẳng, trực tiếp, bỏ phiếu kin; thực hiện bầu cử theo đúng quy trình, đảm bảo dân chủ, cong khai, minh bạch; Lựa chọn những người ứng cử và được giới thiệu có bản lĩnh chính trị vững vàng, có phẩm chất đạo đức trong sáng, nắm vững về công tác chuyên môn, có nhiều phẩm chất,

Trang 24

năng lực nổi trội, có khả năng phát triển để bầu vào các chức danh quan trọng trong

hệ thống chính trị

- Ba là, tuyển dụng công chức: Nhằm tuyển chọn, sử dụng công chức một cách khoa học, phát huy được năng lực, sở trường công tác gắn với trình độ chuyên môn nghiệp vụ đã được đào tạo và vị trí việc làm đảm nhiệm Tuy nhiên, việc tuyển dụng công chức phải căn cứ trên yêu cầu, nhiệm vụ, tiêu chuẩn và số lượng theo quy định; công tác tuyển dụng đảm bảo theo đúng quy trình, quy định, thủ tục thông qua các hình thức là thi tuyển hoặc xét tuyển trên nguyên tắc tập trung dân chủ, khách quan, công bằng, công khai, minh bạch, đảm bảo cạnh tranh lành mạnh để tuyển chọn những người có đủ trình độ, năng lực, phẩm chất chính trị, năng lực đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ theo yêu cầu đặt ra

- Bốn là, điều động, luân chuyển, bố trí, sử dụng cán bộ, công chức: Công tác điều động, luân chuyển CB,CC được thực hiện theo quy định của cơ quan Nhà nước

có thẩm quyền đảm bảo tính tổng thể, đồng bộ, liên thông, căn cứ theo yêu cầu nhiệm vụ; Việc điều động, luân chuyển phải dựa trên công tác quy hoạch, đào tạo, bồi dưỡng, bố trí, sắp xếp và sử dụng CB, CC

Điều động là thực hiện việc điều chuyển CB, CC từ cơ quan, đơn vị, địa phương này sang cơ quan, đơn vị, địa phương khác nhằm mục đích giải quyết nhiệm vụ, để đào tạo, rèn luyện, thử thách cán bộ lãnh đạo, quản lý

Luân chuyển cán bộ là một khâu trong công tác cán bộ, công tác luân chuyển nhằm đào tạo, bồi dưỡng, rèn luyện, thử thách cán bộ được luân chuyển có sự va chạm với thực tế cơ sở để phát triển và hoàn tiện bản thân; cán bộ được luân chuyển phải là đáp ứng các điều kiện như cán bộ trẻ, nằm trong quy hoạch, có triển vọng phát triển, có phẩm chất chính trị vững vàng, có lối sống lành mạnh, đạo đức trong sáng, có năng lực công tác tốt; Công tác luân chuyển cán bộ được thực hiện trên kế hoạch và lộ trình Bên cạnh đó, cần có cơ chế, chính sách để tạo môi trường, điều kiện cho cán bộ phát huy được năng lực, sở trường để phát triển, tích lũy thêm các kinh nghiệm trong thực tế

Bố trí, sử dụng CB,CClà công việc được thực hiện sau khi tuyển dụng, phù hợp với yêu cầu của vị trí việc làm, sở trường công tác, chuyên môn đào tạo nhằm

Trang 25

phát huy được năng lực, sở trường, sáng tạo và tinh thần trách nhiệm trong công việc; Công tác bố trí, sử dụng CB, CC phải đảm bảo nguyên tắc tập trung dân chủ, công khai, minh bạch, khách quan

- Năm là, chính sách thu hút: nhằm tạo điều kiện thuận lợi về cơ sở vật chất, môi trường, điều kiện làm việc, chế độ đãi ngộ nhằm thu hút những người có tài năng, có phẩm chất chính trị, đạo đức, lối sống lành mạnh, có trình độ chuyên môn nghiệp vụ về làm việc trong các bộ máy hệ thống chính trị; Chính sách thu hút phải thực hiện đảm bảo sự thống nhất, đồng bộ giữa các khâu phát hiện, tuyển chọn, đào tạo, bồi dưỡng, quy hoạch, sử dụng và đãi ngộ; được thực hiện công khai, minh bạch, khách quan và đảm bảo tính cạnh tranh; đồng thời ưu tiên bố trí biên chế chưa

sử dụng để thu hút sinh viên tốt nghiệp xuất sắc, cán bộ khoa học trẻ, người có trình

độ chuyên môn, năng lực cao vào làm việc nhưng phải phù hợp với ngành nghề đào tạo và vị trí việc làm

- Sáu là, đào tạo, bồi dưỡng: Đây là nhiệm vụ thường xuyên, góp phần tích cực trong việc nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ, năng lực công tác, tinh thần trách nhiệm trong thực hiện nhiệm vụ được giao của CB,CC; Chương trình đào tạo, bồi dưỡng phải căn cứ vào điều kiện, tiêu chuẩn theo quy định, đảm bảo công khai, minh bạch, hiệu quả và chất lượng; nêu rõ mục tiêu trong từng giai đoạn; Các chương trình, kế hoạch để tổ chức thực hiện đào tạo, bồi dưỡng cần phải được cụ thể hóa; Đào tạo, bồi dưỡng gắn với vị trí việc làm, chuyên môn công tác theo kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng của cơ quan, đơn vị

Yêu cầu để thực hiện chính sách đào tạo, bồi dưỡng CB,CC là đảm bảo cho mỗi CB,CC đều có cơ hội tham gia các khóa đào tạo, bồi dưỡng để nâng cao trình

độ chuyên môn, nghiệp vụ, năng lực công tác… Chương trình, nội dung, hình thức đào tạo phải thiết thực, phù hợp với yêu cầu công việc của CB,CC; gắn việc đào tạo, bồi dưỡng với trang bị kiến thức giữa lý luận và thực tiễn công việc

- Bảy là, đánh giá CB,CC: Đây là công tác có vai trò quan trọng trong quá trình quản lý, sử dụng và là cơ sở cho việc quy hoạch, bố trí, sử dụng, đề bạt, điều động, luân chuyển, bổ nhiệm, khen thưởng, kỷ luật CB, CC

Công tác đánh giá CB,CC phải đảm bảo khách quan, minh bạch, công bằng,

Trang 26

chính xác và không nể nang, né tránh, trù dập, thiên vị, thực hiện hình thức, qua loa… Đánh giá CB, CC cần dựa trên tinh thần, kết quả làm việc, dựa trên các tiêu chí đánh giá cụ thể, rõ ràng, đảm bảo đầy đủ nội dung, tiêu chuẩn và phương pháp nhằm đánh giá đúng toàn diện, chỉ ra những ưu, khuyết điểm, hạn chế, tồn tại Kết quả đánh giá phải thể hiện sự công tâm, khách quan nhằm giúp người được đánh giá phát huy những mặt mạnh, khắc phục những hạn chế yếu kém.Đánh giá cần dựa trên đầy đủ các nội dung, tiêu chí như: Chấp hành đường lối, chủ trưởng, chính sách của Đảng, Pháp luật của Nhà nước, nội quy, quy định của cơ quan, đơn vị; phẩm chất chính trị, đạo đức, lối sống, tác phong, lề lối làm việc, năng lực chuyên môn, nghiệp vụ, các mối quan hệ xã hội nơi ở và làm việc, tinh thầm trách nhiệm với nhiệm vụ được giao, kết quả công việc, thái độ phục vụ nhân dân …

- Tám là, Khen thưởng, kỷ luật cán bộ, công chức:

Khen thưởng nhằm động viên, khích lệ CB, CC nổ lực, hăng sai công hiến nhằm hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao Khen thưởng đòi hỏi phải kịp thời, đúng thời điểm, đảm bảo công bằng, khách quan

Kỷ luật CB, CC là để chỉ ra những hạn chế, khuyết điểm cho cán bộ mình biết để uốn nắn, sửa chữa các hành vi vi phạm của mình.Kỷ luật phải đảm bảo nguyên tắc công bằng, khách quan, nghiêm minh

Khen thưởng, kỷ luật là một trong những cơ sở để quy hoạch dự nguồn, bố trí,

sử dụng, đề bạt, điều động, luân chuyển, đào tạo, bồi dưỡng, thực hiện chế độ chính sách, chế độ đãi ngộ đối với CB,CC; Khen thưởng, kỷ luật phải được thực hiện đúng quy định; đảm bảo sự công bằng, khách quan, công khai, minh bạch đúng với thành tích và mức độ vi phạm của CB,CC

- Chín là, chính sách tiền lương, chế độ đãi ngộ: Các chế độ, chính sách như tiền lương, tiền thưởng, bảo hiểm, phụ cấp, thu nhập tăng thêm và các chế độ đãi ngộ khác nhằm đáp ứng nhu cầu cuộc sống bản tân và gia đình CB, CC nhằm động viên, tạo động lực yên tâm công tác, hoàn thành tốt các nhiệm vụ được giao

1.2.3 Các chủ thể tham gia thực hiện chính sách phát triển cán bộ, công chức

Thực hiện chính sách phát triển CB, CC là một mắt xích trong sợi xích chu trình chính sách, đây là quá trình chuyển hóa ý chí của chủ thể chính sách vào trong

Trang 27

đời sống kinh tế -xã hội nhằm đạt được mục tiêu nhất định của chính sách Chủ thể tham gia thực hiện chính sách phát triển CB,CC cụ thể như sau:

Cơ quan Trung ương gồm Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, Bộ Nội vụ và các Bộ, ngành Trung ương;

Cơ quan cấp tỉnh gồm Tỉnh ủy, Thành ủy; Ban tổ chức Tỉnh ủy, Thành ủy là

cơ quan tham mưu trực tiếp; HĐND, UBND cấp tỉnh và Sở Nội vụ cấp tỉnh là cơ quan tham mưu trực tiếp;

Cơ quan cấp huyện gồm Huyện, quận, thị, thành ủy; Ban tổ chức huyện, quận, thị, thành ủy là cơ quan tham mưu trực tiếp; HĐND, UBND cấp huyện và phòng Nội vụ cấp huyện là cơ quan tham mưu trực tiếp

Cơ quan cấp xã gồm Đảng ủy, HĐND, UBND cấp xã

1.3 Các bước tổ chức thực hiện chính sách phát triển cán bộ, công chức

Thực hiện chính sách phát triển CB,CCđược tiến hành thông qua 07 bước:

- Xây dựng kế hoạch triển khai thực hiện chính sách

Mục tiêu của chính sách đã hoạch định có thể đạt được trong dài hạn hoặc ngắn hạn do đó việc tổ chức thực thi cần phải lập kế hoạch cụ thể Kế hoạch triển khai thực thi chính sách bao gồm những nội dung cơ bản sau đây:

- Kế hoạch về tổ chức, điều hành;

- Kế hoạch cung cấp các nguồn vật lực hỗ trợ;

- Kế hoạch thời gian triển khai thực hiện;

- Kế hoạch kiểm tra, đôn đốc thực thi chính sách;

- Dự kiến những nội quy, quy chế về tổ chức, điều hành; về trách nhiệm, nhiệm vụ và quyền hạn của cán bộ, công chức và các cơ quan nhà nước tham gia tổ chức điều hành chính sách; về các biện pháp khen thưởng, kỷ luật cá nhân, tập thể trong tổ chức thực thi chính sách v.v…

Dự kiến kế hoạch thực thi ở cấp nào do lãnh đạo cấp đó xem xét thông qua

Kế hoạch thực thi chính sách mang giá trị pháp lý sau khi được quyết định thông qua bởi người có thẩm quyền, và tiến hành việc chấp hành thực hiện Việc điều chỉnh kế hoạch cũng do cấp có thẩm quyền thông qua kế hoạch quyết định

- Phổ biến, tuyên truyền chính sách

Trang 28

Các cơ quan nhà nước tiến hành tổ chức triển khai thực hiện theo quy định sau khi kế hoạch tổ chức thực thi chính sách phát triển CB, CC được thông qua Tuyên truyền vận động nhân dân tham gia thực hiện chính sách là một hoạt động quan trọng, có ý nghĩa lớn với cơ quan nhà nước và các đối tượng thực thi chính sách Phổ biến, tuyên truyền chính sách tốt giúp cho các đối tượng chính sách và mọi người dân tham gia thực thi hiểu rõ mục đích, yêu cầu, tính đúng đắn và tính khả thi của chính sách… để họ thực hiện theo yêu cầu của chính quyền Đồng thời còn giúp cho mỗi cán bộ, công chức nhận thức được đầy đủ tính chất, quy mô của chính sách với đời sống xã hội để chủ động triển khai có hiệu quả chính sách

Đểnâng cao chất lượng tuyên truyền vận động cần đầu tư về nhiều mặt khác nhau (chuyên môn, phẩm chất chính trị, trang thiết bị …) Trong thực tế, lòng tin của dân chúng vào Nhà nước bị giảm sút docơ quan, địa phương thiếu năng lực tuyên truyền, vận động đã khiến chính sách không đến được với người dân hoặc người dân không hiểu đúng được về chính sách đó

Việc phổ biến, tuyên truyền cần phải được thực hiện thường xuyên, liên tục thông qua dưới nhiều hình thức khác nhau như thông qua các phương tiện thông tin đại chúng, tiếp xúc, trao đổi trực tiếp, …

- Phân công, phối hợp thực hiện chính sách

Theo kế hoạch đã được phê duyệt, cấp có thẩm quyền phân công, phối hợp các cơ quan, đơn vị tổ chức thực hiện chính sách phát triển CB, CC theo đúng quy định Số lượng cá nhân và tổ chức, đơn vị tham gia thực thi chính sách là tương đối lớn vì nó được thực thi trên phạm vi rộng Sự tham gia thực hiện bao gồm:tổ chức thực thi của chính quyền, các đối tượng tác động của chính sách và nhân dân Các mục tiêu chính sách được thực hiện diễn ra dưới nhiều hình thức đa dạng, có sự phức tạp tùy vào thời gian và không gian Chúng đan xen nhau, có thể mang ý nghĩa thúc đẩy hoặc lại tạo nên sự kìm hãm nhau theo quy luật nhất định nào đó Cần phải

có sự phân công, phối hợp giữa các cấp chính quyền, các yếu tố tham gia thực thi chính sách và các quá trình ảnh hưởng đến mục tiêu Vì vậy, để đạt yêu cầu quản lý của việc thực hiện chính sách, cần phải phối hợp giữa nhiều yếu tố khác nhau trong quá trình thực hiện

Trang 29

- Duy trì chính sách

Duy trì chính sách tức là làm cho chính sách đó tồn tại và phát huy tác dụng

và hiệu quả Để đảm bảo thực hiện tốt việc duy trì chính sách phát triển CB, CC tại huyện Cự Jút, tỉnh Đắk Nông cần phải có sự đồng tâm, hiệp lực của nhiều yếu tố như người tổ chức, người thực thi và môi trường tồn tại Các cơ quan Nhà nước cần thường xuyên tuyên truyền, vận động các đối tượng chính sách và toàn xã hội tham gia thực hiện chính sách một cách tích cực và hiệu quả Nếu trong quá trình thực thi chính sách gặp phải khó khăn thì cơ quan Nhà nước sẽ có những sự điều chỉnh nhất định Có thể cơ quan nhà nước sẽcó những tác động nhằm tạo thuận lợi cho việc thực hiện chính sách thông qua các công cụ quản lý Còn nếu xuất phát từ phía chính sách ẩn chứa những bất cập hoặc không phù hợp, nhà nước sẽ điều chỉnh chính sách cho phù hợp với điều kiện thực tế Để đảm bảo lợi ích chung của xã hội, các cơ quan Nhà nước có thể kết hợp các biện pháp hành chính cũng như tăng cường thực hiện dân chủ để người dân mạnh dạn tham gia quản lý xã hội.Trong đó, người dân không chỉ tự giác chấp hành chính sách mà còn trực tiếp tham gia tìm kiếm, đề xuất các biện pháp để thực hiện có hiệu quả mục tiêuchính sách đưa ra

- Điều chỉnh chính sách

Điều chỉnh chính sách phát triển CB,CC là hoạt động do các cơ quan nhà nước xây dựng, ban hành và tổ chức thực hiện Việc này nhằm làm cho chính sách ngày càng có sự thay đổi phù hợp với yêu cầu quản lý và tình hình thực tế của đất nước, địa phương

Mặc dù theo quy định, quyền điều chỉnh, bổ sung chính sách thuộc về cơ quan nào ban hành chính sách.Nhưng trên thực tế,để thực hiện mục tiêu của chính sách, các biện pháp, cơ chế chính sách được điều chỉnh diễn ra rất linh hoạtđể tăng cường tính hiệu quả của nó

Một nguyên tắc cần phải chấp hành khi điều chỉnh chính sách là: để chính sách tiếp tục tồn tại Chỉ được điều chỉnh các biện pháp, cơ chế thực hiện mục tiêu, hoặc bổ sung, hoàn chỉnh mục tiêu theo yêu cầu thực tế Nếu điều chỉnh làm thay đổi mục tiêu, nghĩa là làm thay đổi chính sách thì coi như chính sách không tồn tại

Quá trình thực hiện sự điều chỉnh chính sách phải chính xác, phù hợp, nếu

Trang 30

không sẽ làm sai lệch mục tiêu của chính sách, làm cho chính sách trở nên yếu kém, thậm chí buộc phải hủy bỏ tính hiệu lực Do đó, các cơ quancó liên quan phải thực hiện theo dõi, kiểm traquá trình triển khai thực hiện chính sách trong thực tiễn nhằm

phát hiện những sai sót để kịp thời điều chỉnh, bổ sung

- Kiểm tra, đôn đốc thực hiện chính sách

Thực thi chính sách là quá trình triển khai các chính sách trên địa bàn rộng và

có sự tham giacủa nhiềutổ chức, cơ quan, các nhân Đểnâng cao tính hiệu quả của thực thi chính sách, các cơ quan nhà nước có thẩm quyền phải tiến hành theo dõi, kiểm tra, đôn đốc việc triển khai thực hiện Sự khác nhau giữa các điều kiện về kinh

tế, văn hóa, xã hội và môi trường ở các vùng, miền, địa phươngcũng như trình độ, năng lực tổ chức điều hành của cán bộ, công chức trong các cơ quan nhà nước không đồng đều là những yếu tố ảnh hưởng trực tiếp và gián tiếp đến kết quả của chính sách Thông qua những hoạt động này, các cán bộ, công chức và đối tượng thực thi chính sách sẽ chú ý được những nội dung ưu tiên trong quá trình thực thi chính sách Các tổ chức cá nhân có trách nhiệm thực hiện hoạt động kiểm tra căn cứ vàokế hoạch kiểm tra, đôn đốc đã được phê duyệt để thực hiện một cách có hiệu quả

- Tổng kết đánh giá việc thực hiện chính sách

Việc tổng kết đánh giá chính sách có thể được thực hiện theo hai cách Thứ nhất là đánh giá từng phần, thứ hai là đánh giá toàn bộ kết quả thực thi chính sách.Việc đánh giá từng phần được thực hiện trong quá trình triển khai chính sách, còn đánh giá toàn bộ được thực hiện sau khi kết thúc quá trình triển khai chính sách Đánh giá tổng kết chính sách là quá trình xem xét, kết luận về chỉ đạo - điều hành, chấp hành chính sách của các đối tượng thực thi chính sách

Các cơ quan Nhà nước từ Trung ương đến cơ sở được quyền xem xét, đánh giá tổng kết về chỉ đạo điều hành thực thi chính sách Trong việc tham gia thực thi chính sách, chúng ta cần phải xem xét cả vai trò, chức năng của các tổ chức chính trị, chính trị - xã hội và toàn thể xã hội Việc tổng kết công tác chỉ đạo, điều hành thực thi chính sách trong các cơ quan nhà nước dựa trên căn cứ bao gồm kế hoạch, quy định, quy chế được xây dựng khi ban hành chính sách Ngoài ra, xem xét tình hình phối hợp chỉ đạo, điều hành thực thi chính sách của các tổ chức chính trị- xã

Trang 31

hội với Nhà nước thông qua các văn bản phối hợp giữa cơ quan với các tổ chức xã hội và các văn bản quy phạm khác Bên cạnh đó, còn xem xét đánh giá việc thực thi thông qua đối tượng thụ hưởng lợi ích từ chính sách (trực tiếp và gián tiếp) Thước

đo đánh giá kết quả thực thi của các đối tượng này bao gồm: sự hưởng ứng với mục tiêu chính sách, ý thức chấp hành những quy định về cơ chế, cũng như các biện pháp do cơ quan nhà nước ban hành

1.4 Các nhân tố tác động đến tổ chức thực hiện chính sách phát triển cán bộ, công chức

Thực hiện chính sách phát triển CB,CC là một quá trình phức tạp, liên quan đến nhiều tổ chức, cá nhân và diễn ra trong thời gian dài Nhiều nhân tố khác nhau tạo nên sự ảnh hưởng đến kết quả thực hiện chính sách Cho nên, nếu nắm rõ được các nhân tố tác động đến thực hiện chính sách phát triển CB, CC giúp cho cá nhân,

tổ chức chỉ đạo, điều hành có thể thúc đẩy được các nhân tố tích cực, hạn chế các nhân tố tiêu cực Các nhân tố chủ yếu tác động trực tiếp đến quá trình thực hiện chính sách phát triển CB, CC gồm:

Một là, môi trường thực hiện chính sách gồm có: chính trị, văn hóa, xã hội,kinh tế, công nghệ và bối cảnhthế giới Nếu các yếu tố tạo nên mội trường thực hiện chính sách phát triển CB, CC vận động phù hợp với trình độ tổ chức, điều hành của cơ quan quản lý nhà nước sẽ có tác động thúc đẩy các hoạt động của việc thực hiện chính sách phát triển CB, CC Ngược lại, nó sẽ kìm hãm, ngăn cản quá trình tổ chức thực hiện chính sách, dẫn đến việc thực hiện chính sách không hiệu quả; Vì vậy, trong quá trình tổ chức thực hiện chính sách phát triển CB,CCcần phải chú ý đến môi trường thực hiện chính sách như: quyết tâm chính trị, tinh thần, xây dựng chính quyền trong sạch, vững mạnh, xây dựng đội ngũ CB,CCthực sự là công bộc của dân, thực sự là của dân, do dân và vì dân

Hai là, các chủ thể chịu trách nhiệm thực thi chính sách: Cơ cấu, tổ chức bộ máy hành chính có ảnh hưởng trực tiếp đến quá trình thực hiện chính sách phát triển

CB, CC Để thực hiện chính sách phát triển CB, CC đòi hỏi phải có sự tham gia của một số cơ quan, tổ chức nhất định nhằm biến mục tiêu chính sách thành hiện thực Các cơ quan, tổ chức phải có sự phối hợp chặt chẽ với nhau trong quá trình triển

Trang 32

khai thực hiện, xây dựng các chương trình, kế hoạch để cụ thể hóa các chính sách

về phát triển CB, CC

Ba là, năng lực thực hiện chính sách của chủ thể: Kết quả của việc thực hiện chính sách chịu ảnh hưởng rất lớn từ năng lực thực hiện chính sách của chủ thể Kết quả việc thực hiện chính sách phụ thuộc vào năng lực của đội ngũ CB, CC tham gia thực hiện Năng lực của chủ thể bao gồm:Xây dựng kế hoạch; năng lực phổ biến, tuyên truyền; Phân công phối hợp; Duy trì vàđiều chỉnh chính sách; Theo dõi, kiểm tra, đôn đốc và cuối cùng là tổng kết đánh giá Nếu thiếu một trong các năng lực trên thì quá trình tổ chức thực hiện chính sách sẽ không sát với thực tế, làm giảm hiệu lực, hiệu quả của chính sách thậm chí làm cho chính sách bị biến dạng

Bốn là, sự hưởng ứng của người dân: Trong một xã hội dân chủ tiếng nói của người dân được coi trọng Có hai cơ chế, đó là cơ chế dân chủ trực tiếp và cơ chế dân chủ đại diện, cơ chế ra quyết định theo 1 trong 2 cơ chếnày phụ thuộc vào trình

độ phát triển mà áp dụng Để đưa chính sách vào thực hiện thì cho dù theo cơ chế nào, sự ủng hộ của người dân là một nhân tố quan trọng Qua thực tiễn cho thấy, có nhiều chính sách đã không đi vào cuộc sống sau nhiều năm triển khai thực hiện nếu không có sự ủng hộ của người dân

Thực hiện chính sách phát triển CB, CC có mục tiêu là nhằm nâng cao trình

độ năng lực, chuyên môn, phẩm chất chính trị, đạo đức, lối sống cho đội ngũ CB,

CC Cán bộ, công chức thực sự tận tâm, tận lực phục vụcho nhân dân Do đó, triển khai thực hiện chính sách này cần có sự hưởng ứngtừ phía người dân Chính sách phát triển CB, CC sẽ nhận được sự ủng hộ của nhân dân nếu chính sách đó đáp ứng yêu cầu và mong mỏi của người dân thì chính sách đó khi tổ chức thực hiện trong thực tế sẽ thành công

Trang 33

CB, CC nói riêng Đây là nền tảng, cơ sở để phân tích, đánh giá thực trạng việc thực hiện chính sách phát triển nguồn nhân lực trong chương 2

Trang 34

Chương 2 THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH PHÁT TRIỂN CÁN BỘ, CÔNG CHỨC TẠI

HUYỆN CƯ JÚT, TỈNH ĐẮK NÔNG

2.1 Các nhân tố tác động đến thực hiện chính sách phát triển cán bộ, công chức tại huyện Cư Jút, tỉnh Đắk Nông

2.1.1 Đặc điểm tình hình huyện Cư Jút

Cư Jút là một huyện phía Bắc của tỉnh Đắk Nông, cách thị xã Gia Nghĩa 110

km về phía Bắc, cách trung tâm thành phố Buôn Ma Thuột (tỉnh Đắk Lắk) 20 km về phía Tây; huyện có trên 20 km đường biên giới giáp với huyện Pecchămđa, tỉnh Molddulkirri, Vương quốc Campuchia Trung tâm huyện lỵ là thị trấn Ea T’ling có quốc lộ 14 và quốc lộ 28 đi qua, đây là các tuyến giao thông quan trọng giao lưu kinh tế, văn hoá giữa các tỉnh Tây Nguyên với thành phố Hồ Chí Minh và các tỉnh phía Nam

- Phía Đông của huyện Cư Jút giáp với thành phố Buôn Ma Thuột

- Phía Nam giáp huyện Đắk Mil

-Phía Tây giáp huyện Pecchămđa, tỉnh Molddulkirri, Vương quốc Campuchia

- Phía Bắc giáp huyện Buôn Đôn, tỉnh Đắk Lắk

Nằm ở cửa ngõ phía Bắc của tỉnh, tiếp giáp với thành phố Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk Cư Jút có hệ thống đường quốc lộ, huyện lộ, hương lộ khá hoàn chỉnh; có Sông Sêrêpốc chảy qua huyện ở phía Đông và Đông Bắc; có khu du lịch thác Trinh Nữ, tạo cho huyện một vị trí thuận lợi về giao thông đường bộ

Tổng diện tích tự nhiên của huyện là 72.029 ha đất rừng tự nhiên 35.633 ha, đất sản xuất nông nghiệp 30.763 ha Dân số toàn huyện 101.288 người Có 23 dân tộc anh em cùng sinh sống; trong đó dân tộc thiểu số chiếm 48,09% (đồng bào dân tộc thiểu số tại chỗ là người M’Nông và Ê Đê, chiếm 12,87%/tổng số đồng bào dân tộc thiểu số, sinh sống tại 10 buôn, bon, tổ dân phố thuộc 03 xã, và 01 thị trấn); cơ cấu hành chính có 07 xã, 01 thị trấn; 127 thôn, buôn, bon tổ dân phố (trong đó có 01

xã Biên giới là xã Đăk Wil) Đồng bào dân tộc thiểu số: 9.847 hộ; 46.318 khẩu, chiếm tỷ lệ 48,09 % Có 10 bon, buôn là đồng bào dân tộc thiểu số tại chỗ Có 03

Trang 35

tôn giáo chủ yếu, với 32.876 tín đồ, chiếm 33,1% dân số của huyện (trong đó Thiên

chúa có 3.607 hộ 18.351 khẩu,chiếm 18.9% dân số; Phật giáo 813 hộ với 3.185 khẩu, chiếm 3,28% dân số; Tin lành có 1.505 hộ với 9.056 khẩu) [39, tr3]

2.1.2 Kinh tế - xã hội huyện Cư Jút

Trong những năm qua, tình hình kinh tế - xã hội của huyện tiếp tục phát triển

ổn định; tăng trưởng kinh tế hằng năm đạt trên 9% Tỷ trọng các ngành kinh tế của huyện: Công nghiệp - Xây dựng chiếm 37%; Thương mại - Dịch vụ chiếm 36%; Nông - Lâm nghiệp chiếm 27% Thu ngân sách đạt khá, tăng thu bình quân hằng năm 15%; Thu nhập bình quân đầu người đạt 40 triệu đồng/người/năm

Toàn huyện đã tập trung thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia Xây dựng Nông thôn mới, đến nay có 03/07 xã đạt chuẩn nông thôn mới Bên cạnh đó, huyện tiếp tục thực hiệnviệc ứng dụng công nghệ cao vào phát triển kinh tế nông nghiệp theo hướng hàng hóa ngày càng đa dạng

Bên cạnh phát triển kinh tế, việc xây dựng đời sống văn hóa có nhiều khởi sắc, hoạt động văn hóa với nhiều hình thức đa dạng, phục vụ nhu cầu Nhân dân trong dịp Lễ, Tết; công tác bảo tồn, phát huy bản sắc văn hóa dân tộc luôn được chú trọng Đến nay, toàn huyện có 05/07 xã đạt xã văn hóa nông thôn mới và 01 thị trấn đạt chuẩn đô thị văn minh Các chỉ tiêu huy động học sinh đến trường đều thực hiện đạt và vượt, chất lượng GD&ĐT được nâng lên; cơ sở vật chất trường lớp học dần được đầu tư hoàn thiện, có 30% số trường đạt trường chuẩn quốc gia Cơ sở vật chất, trang thiết bị y tế và chuyên môn của đội ngũ y bác sĩ ngày càng hoàn thiện đã góp phầnvào việc bảo đảm sức khỏe cho người dân Công tác an sinh xã hội được chú trọng, thực hiện đầy đủ các chế độ, chính sách cho các đối tượng bảo trợ xã hội, người có công

Thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia giảm nghèo bền vững, giảm hộ nghèo, tăng hộ khá theo tiêu chí mới đạt kết quả cao; năm 2018, số hộ nghèo chỉ còn 6,71%, số hộ cận nghèo còn 7,75%

Ngoài ra, Huyện là một trong những địa phương luôn đứng đầu trong thi đua thực hiện công tác cải cách hành chính, thi đua thực hiện chương trình phòng chống tham nhũng cũng đã đóng góp không nhỏ vào hoàn thành các chỉ tiêu phát triển

Trang 36

kinh tế - xã hội Kết quả, năm 2018 có 18/18 chỉ tiêu đạt và vượt kế hoạch

Nhờ sự đoàn kết, đồng thuận nhất trí cao của cả hệ thống chính trị, cả về nhận thức và trong hành động, đặc biệt vai trò, trách nhiệm của CB,CC được nâng cao; hiệu lực, hiệu quả trong chỉ đạo, điều hành và quản lý xã hội đã góp phần phát triển kinh tế - xã hội tại địa phương

2.1.3 Chủ thể tham gia thực hiện chính sách phát triển cán bộ, công chứctại huyện Cư Jút

Các chủ thể tham gia thực hiện chính sách phát triển CB,CC tại huyện Cư Jút bao gồm: Huyện ủy, HĐND, UBND huyện Cư Jút; các cơ quan đơn vị tham mưu thực hiện chính sách gồm: Ban Tổ chức Huyện ủy, Phòng Nội vụ huyện, Phòng Tài chính - Kế hoạch huyện và các cơ quan, đơn vị có liên quan; UBND các xã, thị trấn Các chủ thể tham gia thực hiện chính sách phát triển CB,CClà nhân tố có tác động lớn đến quá trình tổ chức thực hiện và kết quả thực hiện chính sách phát triển CB,

CC trên địa bàn huyện Cư Jút

2.2 Thực hiện chính sách phát triển cán bộ, công chức tại huyện Cư Jút

Chính sách phát triển CB,CC bao gồm: Quy hoạch cán bộ; Bầu cử; tuyển dụng công chức; điều động, luân chuyển, bố trí, sử dụng CB,CC; chính sách thu hút; đào tạo, bồi dưỡng; đánh giá CB,CC; khen thưởng, kỷ luật; chính sách tiền lương, chế độ đãi ngộ Thực hiện các chính sách trên nhằm nâng cao bản lĩnh chính trị, đạo đức, lối sốngvà quan trọng nhất là nâng cao năng lực thực hiện công việc để đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ được giao Trên cơ sở các chính sách phát triển CB,CC

do Trung ương và tỉnh Đắk Nông ban hành; huyện Cư Jút đã tổ chức triển khai thực hiện các chính sách phát triển CB,CC trên địa bàn huyện như sau:

- Xây dựng kế hoạch triển khai thực hiện chính sách

Đội ngũ CB,CC có vai trò quyết định trong xây dựng và tăng cường hiệu quả của hệ thống chính trị các cấp.Nhiệm vụ chiến lược nhằm góp phần xây dựng nền hành chính dân chủ, trong sạch, hiện đại, chuyên nghiệp,vững mạnh là thực hiện chính sách phát triển CB,CC.Trong bối cảnh hòa nhập kinh tế quốc tế hiện nay, Đảng và Nhà nước đang từng bước tiến hành xây dựng chính phủ kiến tạo, nền hành chính phục vụ để nâng cao hiệu quả của hệ thống chính trị Trên cơ sở các

Trang 37

chính sách phát triển CB,CC của Trung ương và của Tỉnh ban hành; huyện Cư Jút

đã xây dựng các chương trình, kế hoạch để tổ chức thực hiện chính sách phát triển CB,CC trên địa bàn huyện Cư Jút trong những năm qua như sau:

- UBND huyện Cư Jút đã ban hành các văn bản, kế hoạch triển khai thực hiện Quyết định số 1524/QĐ-UBND ngày 17/10/2011 của UBND tỉnh phê duyệt Quy hoạch phát triển NNL tỉnh Đắk Nông giai đoạn 2011-2020; Nghị quyết số 35/2011/NQ-HĐND ngày 09/12/2011 của HĐND tỉnh, quy định các chính sách phát triển NNL trong hệ thống chính trị tỉnh Đắk Nông giai đoạn 2012-

2015 và Quyết định số 03/2012/QĐ-UBND, ngày 09/3/2012 của UBND tỉnh Đắk Nông về việc Quy định các chính sách phát triển NNL trong hệ thống chính trị tinh Đắk Nông giai đoạn 2012-2015; Quyết định số 1987/QĐ-UBND ngày 15/12/2011 của UBND tỉnh Đắk Nông về việc ban hành Đề án đào tạo, bồi dưỡng nâng cao năng lực cho đội ngũ CB,CC giai đoạn 2011-2015, định hướng đến năm 2020; Quyết định số168/QĐ-UBND ngày 08/02/2012 của UBND tỉnh Đắk Nông về chính sách hỗ trợ kinh phí cho học sinh, sinh viên là người dân tộc thiểu số tỉnh Đắk Nông từ năm 2011-2012 đến năm học 2015-2016; Quyết định số 18/2012/QĐ-UBND, ngày 21/9/2012 cùa UBND tỉnh Đắk Nông về việc ban hành Quy chế đào tạo, bồi dưỡng CB,CC, viên chức tỉnh Đắk Nông; Nghị quyết số 45/2012/NQ-HĐND, ngày 20/12/2012 của HĐND tỉnh về chính sách tạo quỹ đất ở và hỗ trợ đầu

tư cơ sở hạ tầng cho CB,CC, viên chức; Quyết định số 1594/QĐ-UBND ngày 09/10/2013 của UBND tỉnh Đắk Nông về phê duyệt Đề án Đào tạo, phát triển NNL tỉnh Đắk Nông đến năm 2015 và định hướng đến năm 2020

- UBND huyện Cư Jút đã ban hành và triển khai thực hiện hiệu quả các Kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng CB,CC hằng năm

- Phổ biến, tuyên truyền chính sách

Việc phổ biến tuyên truyền về chính sách phát triển CB, CC đã được huyện

Cư Jut thực hiện dưới nhiều hình thức khác nhau Một trong những hình thức phổ biến gồm: sinh hoạt đảng, hội nghị cán bộ công chức, hội thi, lớp tập huấn, bồi dưỡng Các chính sách phát triển CB, CC không chỉ phổ biến cho cán bộ công chức,

mà còn được phổ biến rộng rãi với người dân trên địa bàn huyện thông qua các buổi

Trang 38

họp dân, thông qua các phương tiện truyền thông đại chúng Thực tế cho thấy, việc phổ biến tuyên truyền dưới nhiều hình thức đa dạng đã đạt được những hiệu quả nhất định

Thông qua phổ biến, tuyên truyền, tạo nên được sự thống nhất trong việc thực hiện các chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước; tạo nên động lực phấn đấu, rèn luyện, nâng cao năng lực chính trị cũng như chuyên môn nghiệp vụ của đội ngũ cán bộ, công chức đang công tác trong hệ thống chính trị các cấp Bên cạnh đó, nâng cao sự hiểu biết và giám sát của nhân dân đối với quá trình thực hiện công vụ của đội ngũ cán bộ, công chức ở địa phương

- Phân công, phối hợp thực hiện chính sách

UBND huyện Cư Jút đã ban hành Quy chế làm việc và phân công nhiệm vụ

cụ thể đối với các Ủy viên UBND; phân công nhiệm vụ đối với các phòng, ban, đơn

vị và UBND xã, thị trấn trong việc thực hiện nhiệm vụ chính trị nói chung và thực hiện chính sách phát triển CB,CC nói riêng; trên cơ sở đó phân công trách nhiệm cụ thể đối với từng thành viên trong việc thực hiện nhiệm vụ được giao; Chủ tịch UBND huyện chỉ đạo chung việc thực hiện chính sách phát triển CB,CC; Trưởng phòng Nội vụ huyện tham mưu trực tiếp về công tác cán bộ; Chủ tịch UBND xã, thị trấn chịu trách nhiệm trong việc tổ chức triển khai thực hiện chính sách phát triển CB,CC

Bên cạnh đó, Các đơn vị Ban Tổ chức Huyện ủy, Ủy ban kiểm tra Huyện ủy, Phòng Nội vụ, Phòng Tài chính - Kế hoạch huyện, Thanh tra huyện đều có sự phối hợp trong việc thực hiện các chính sách phát triển CB, CC với UBND huyện thông qua ngườitrực tiếp tham mưu, phụ trách về công tác cán bộ và tổ chức thực hiện chính sách phát triển CB,CC của đơn vị này

- Điều chỉnh, bổ sung chính sách

Trong thời gian qua, chính sách phát triển CB,CC của huyện Cư Jút đã có những điều chỉnh, bổ sung phù hợp với tình hình thực tế tại địa phương Việc thực hiện này dựa trên các quy định của của tỉnh Đắk Nông và của Trung ương

Huyện ủy Cư Jút đã ban hành Chương trình hành động số 16-CTr/HU ngày 20/10/2011 về thực hiện Nghị quyết số 05-NQ/TW ngày 10/8/2011 của Tỉnh

Trang 39

ủy Đắk Nông về phát triển NNL tỉnh Đắk Nông giai đoạn 2011-2015, định hướng đến năm 2020; về cơ bản vẫn giữ các chính sách phát triển đối với CB,CC trước đây (Chương trình hành động số 16-CTr/HU ngày 20/10/2011 của Huyện ủy Cư Jút), nhưng có một số điều chỉnh sau:

-Về trình độ chuyên môn và trình độ lý luận chính trị(người sinh từ 1975 trở

về sau) cần phải tốt nghiệp Đại học hoặc Thạc sĩ, đảm bảo theo đúng quy định thìđược đề bạt, bổ nhiệm, giới thiệu ứng cử lần đầu đối với các chức danh: Bí thư, Phó Bí thư Đảng ủy, Ủy viên Ban Thường vụ Đảng ủy, Chủ tịch, Phó Chủ tịch HĐND, Uỷ ban nhân dân, Chủ tịch Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam xã, thị trấn Ngoài ra, các chức danh khác thì phải tốt nghiệp Đại học và Trung cấp lý luận chính trị trở lên Bên cạnh đó, việc bố trí nhân lực không phải là người địa phương vào một số vị trí cán bộ chủ chốt ở cơ sở cần được nghiên cứu thực hiện theo đúng quy định

- Kiểm tra, đôn đốc thực hiện chính sách

Hằng năm, UBND huyện Cư Jút huyện thành lập đoàn công tác để kiểm tra, giám sát các cơ quan, đơn vị của huyện như: Phòng Nội vụ, Phòng Tài chính - Kế hoạch… Ở cấp địa phương, đoàn công tác tiến hành kiểm tra, đôn đốc UBND các

xã, thị trấn thực hiện nhiệm vụ, quản lý, điều hành các nhiệm vụ được giao thuộc thẩm quyền nói chung và thực hiện chính sách phát triển CB,CC nói riêng.Việc chỉ đạo, tăng cường kiểm tra, đôn đốc các cơ quan, đơn vị, địa phương nhằm tăng hiệu quả trong công tác quản lý, bố trí sử dụng, thực hiện chế độ chính sách, đãi ngộ đối với CB,CC

Qua kiểm tra, giám sát nhằm đôn đốc các cơ quan, đơn vị, địa phương triển khai thực hiện đảm bảo, hiệu quả chính sách phát triển CB,CC; khắc phục những tồn tại, hạn chế, khuyết điểm trong công tác cán bộ; đồng thời đề xuất, kiến nghị cấp thẩm quyền điều chỉnh, bổ sung chính sách phù hợp với tình hình thực tế góp phần xây dựng và nâng cao chất lượng đội ngũ CB,CC ngày càng vững mạnh đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ được giao trong tình hình mới

- Tổng kết đánh giá việc thực hiện chính sách

Tổng kết đánh giá việc thực hiện chính sách nhằm đánh giá kết quả đạt được,

Trang 40

những vấn đề phát sinh; những tồn tại, hạn chế, khuyết điểm Từ đó, tìm ra nguyên nhân của thành công và hạn chế; rút ra bài học kinh nghiệm trong quá trình tổ chức triển khai thực hiện chính sách phát triển CB,CC Thông qua việc đánh giá tổng kết,

đề xuất, kiến nghị cấp có thẩm quyền có những điều chỉnh chính sách phù hợp với địa phương

Qua tổng kết đánh giá việc thực hiện chính sách, huyện chỉ đạo các cơ quan, đơn vị, địa phương tăng cường thực hiện nhiệm vụ được giao, phát huy kết quả đạt được thông qua tuyên dương, khen thưởng các tập thể, cá nhân có thành tích xuất sắc Đồng thời phê bình, kiểm điểm các tập thể, cá nhân còn hạn chế, chậm trong việc triển khai thực hiện chính sách Bên cạnh đó,việc tổng kết đánh giá nhằm tìm ra những vướng mắc trong quá trình thực hiện, từ đó đề xuất các giải pháp để thực hiện hiệu quả chính sách phát triển CB,CC

2.3 Chủ thể tham gia thực hiện chính sách phát triển cán bộ, công chứctại huyện Cư Jút

Việc thực hiện chính sách phát triển cán bộ, công chức có sự tham gia của nhiều đơn vị, cơ quan có liên quan Huyện ủy, HĐND, UBND huyện Cư Jút là các đơn vịtriển khai và giám sát thực hiện chính sách phát triển CB,CC; còn đơn vị tham mưu thực hiện chính sách gồm: Ban Tổ chức Huyện ủy, Phòng Nội vụ huyện, Phòng Tài chính - Kế hoạch huyện và các cơ quan, đơn vị có liên quan, UBND các

xã, thị trấn Cụ thể như sau:

- Huyện ủy Cư Jút ban hành Nghị quyết, chương trình, kết luận, kế hoạch và các văn bản lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện chính sách phát triển cán bộ, công chức; Chương trình số 16-CTr/HU, ngày 20/10/2011 về thực hiện Nghị quyết số 05-NQ/TW, ngày 10/8/2011 của Tỉnh ủy Đắk Nông về phát triển NNL tỉnh Đắk Nông giai đoạn 2011-2015, định hướng đến năm 2020; Phê duyệt quy hoạch cán bộ; Thông báo kết luận về công tác cán bộ như: Bổ nhiệm, bổ nhiệm lại, điều động, luân chuyển, biệt phái cán bộ cấp trưởng, phó các phòng, ban, đơn vị trực thuộc UBND huyện, cán bộ chủ chốt xã, thị trấn; Ban hành các Nghị quyết về công tác cán bộ; các văn bản chỉ đạo về công tác cán bộ

- HĐND và UBND huyện ban hành các văn bản thực hiện chính sách phát

Ngày đăng: 25/11/2019, 15:42

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w