1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH KHEN THƯỞNG CHO NGƯỜI LAO ĐỘNG TRỰC TIẾP TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH GIA LAI

89 87 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 89
Dung lượng 0,95 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tôi xin cam đoan các kết quả, phân tích và kết luận nghiên cứu trong luận văn thạc sĩ Chính sách công về “Thực hiện chính sách khen thưởng cho người lao động trực tiếp trên địa bàn tỉnh

Trang 1

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM

HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

LÊ HOÀI THANH

THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH KHEN THƯỞNG

CHO NGƯỜI LAO ĐỘNG TRỰC TIẾP TRÊN ĐỊA BÀN

TỈNH GIA LAI

Ngành: Chính sách công

Mã số: 8 34 04 02

LUẬN VĂN THẠC SĨ CHÍNH SÁCH CÔNG

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC

TS LÊ THỊ HẢI NAM

ĐẮK LẮK, năm 2019

Trang 2

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan rằng nội dung của bản luận văn này chưa đuợc nộp cho bất kỳ một chương trình cấp bằng cao học nào, cũng như một chương trình đào tạo cấp bằng nào khác

Tôi xin cam đoan các kết quả, phân tích và kết luận nghiên cứu trong luận

văn thạc sĩ Chính sách công về “Thực hiện chính sách khen thưởng cho người

lao động trực tiếp trên địa bàn tỉnh Gia Lai” (ngoài các phần được trích dẫn)

đều là kết quả làm việc của cá nhân tôi với sự hướng dẫn khoa học của TS Lê Thị Hải Nam

Tôi xin chịu hoàn toàn trách nhiệm về lời cam đoan này

Tác giả luận văn

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Để hoàn thành luận văn này, tôi xin chân thành cảm ơn Ban Giám đốc, Quý thầy cô khoa Chính sách công, cùng Lãnh đạo các khoa, phòng của Học viện Khoa học xã hội đã tận tình giảng dạy và tạo mọi điều kiện thuận lợi giúp đỡ tôi trong suốt thời gian học tập, nghiên cứu tại học viện

Đặc biệt, tôi xin trân trọng cảm ơn cô giáo TS Lê Thị Hải Nam đã tận

tình hướng dẫn tôi trong suốt quá trình thực hiện và hoàn thiện luận văn

Luận văn được hoàn thành với sự nỗ lực của bản thân trong tìm hiểu tài liệu, số liệu và khảo sát thực tế để tổng hợp, đánh giá Dù rất cố gắng nhưng trong quá trình nghiên cứu khó tránh khỏi sai sót, rất mong quý thầy, cô góp ý Đồng thời do thời gian và trình độ lý luận, sự hiểu biết cũng như kinh nghiệm thực tiễn còn hạn chế nên luận văn này không thể tránh khỏi những thiếu sót Rất mong nhận được ý kiến đóng góp từ quý thầy cô để bản thân học hỏi thêm được nhiều kinh nghiệm và sẽ hoàn thành tốt hơn công việc trong thực tiễn sắp tới

Học viên

Lê Hoài Thanh

Trang 4

1.1 Một số khái niệm cơ bản về khen thưởng, chính sách khen

thưởng và người lao động

9

1.2 Mục đích, yêu cầu, tầm quan trọng của công tác khen

thưởng và thực hiện chính sách khen thưởng cho người lao động trực tiếp

17

1.3 Các yếu tố tác động đến chất lượng, hiệu quảthực hiện

chính sách khen thưởng cho người lao động trực tiếp

20

Chương 2 THỰC TRẠNG THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH KHEN

THƯỞNG ĐỐI VỚI NGƯỜI LAO ĐỘNG TRỰC TIẾP

Ở TỈNH GIA LAI

25

2.1 Khái quát về tỉnh Gia Lai và các chính sách, pháp luật về

công tác khen thưởng cho người lao động trực tiếp

25

2.2 Tổ chức, thực hiện chính sách khen thưởng cho người lao

động trực tiếp ở tỉnh Giai Lai

40

2.3 Đánh giá về kết quả thực hiện chính sách khen thưởng cho

người lao động trực tiếp ở tỉnh Gia Lai

53

Trang 5

Chương 3 GIẢI PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG, HIỆU QUẢ

THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH KHEN THƯỞNG CHO NGƯỜI LAO ĐỘNG TRỰC TIẾP Ở TỈNH GIA LAI HIỆN NAY

57

3.1 Giải pháp về nâng cao nhận thức về vai trò vị trí và tầm

quan trọng của công tác khen thưởng cho người lao động trực tiếp

57

3.2 Đổi mới cách thức tổ chức thực hiện chính sách khen

thưởng theo hướng kịp thời, thiết thực, trọng tâm và hiệu quả

59

3.3 Hoàn thiện quy định, pháp luật khen thưởng đối với người

lao động trực tiếp

65

3.4 Kiện toàn tổ chức và nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ

làm công tác khen thưởng; Tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra chấp hành quy định pháp luật về khen thưởng, nhất

là công tác khen thưởng cho người lao động trực tiếp

Trang 6

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT TRONG ĐỀ TÀI

Trang 7

2.1 Về kết quả khen thưởng cho cá nhân giai đoạn 2014 – 2018 49

2.2 Về kết quả danh hiệu Chiến sỹ thi đua cấp tỉnh cho cá nhân

2.3 Về kết quả Bằng khen của Chủ tịch UBND tỉnh cho cá nhân

2.4 Tổng hợp kết quả khen thưởng giai đoạn 2014 -2018 84

2.5 Tổng hợp kết quả khen thưởng cấp tỉnh giai đoạn 2014 -2018 86

DANH MỤC SƠ ĐỒ

Số

hiệu

sơ đồ

2.1 Về kết quả danh hiệu Chiến sỹ thi đua cấp tỉnh cho cá nhân

2.2 Về kết quả Bằng khen của Chủ tịch UBND tỉnh cho cá nhân

Trang 8

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Trong mỗi giai đoạn lịch sử của đất nước, Đảng và Nhà nước ta luôn dành sự quan tâm, chỉ đạo sâu sắc đối với các phong trào thi đua và công tác khen thưởng, đặc biệt là đã có nhiều chính sách, quy định pháp luật quan trọng điều về TĐKT Thi đua và khen thưởng là hai hoạt động luôn gắn kết và hỗ trợ cho nhau trong nhiều phong trào từ lớn đến nhỏ, từ cả nước đến mỗi cụm dân cư Khen thưởng là một nội dung không thể thiếu của phong trào thi đua Thi đua mà không có khen thưởng thì rất khó để duy trì và tạo động lực cho người lao động Trong thực tiễn khen thưởng đã luôn tạo động lực thúc đẩy phong trào thi đua yêu nước phát triển, góp phần dành thắng lợi trong các cuộc kháng chiến bảo vệ tổ quốc và xây dựng đất nước Việt Nam Qua khen thưởng đã xuất hiện nhiều tấm gương anh hùng, dũng

sĩ, chiến sĩ thi đua, tấm gương điển hình tiên tiến “người tốt” “việc tốt”

Thực hiện lời kêu gọi thi đua yêu nước của Chủ tịch Hồ Chí Minh: “Thi đua

là yêu nước, yêu nước thì phải thi đua, những người thi đua là những người yêu nước nhất”, dưới sự lãnh đạo của Đảng, Nhà nước các phong trào thi đua yêu nước

trong những năm qua đã liên tục được phát động, động viên, cổ vũ các tầng lớp nhân dân phát huy truyền thống yêu nước, ý chí kiên cường bất khuất, vượt qua khó khăn, thử thách, lập nên những chiến công hiển hách trong kháng chiến chống đế quốc xâm lược cũng như trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ tổ quốc

Cụ thể hóa chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật về thi đua, khen thưởng được ban hành và được sửa đổi, bổ sung nhiều lần nhằm đáp ứng tốt tình hình thực tế về thi đua, khen thưởng trong mỗi giai đoạn đổi mới của đất nước và phù hợp với bối cảnh hội nhập quốc tế

Luật Thi đua, khen thưởng được ban hành và sửa đổi gần nhất là năm 2013 cho thấy công tác thi đua, khen thưởng ngày càng được chú trọng và quan tâm Luật sửa đổi bổ sung nhiều quy định mới về nội dung và hình thức khen thưởng, trong đó chú trọng hơn tới đối tượng khen thưởng là cá nhân Nghị định hướng dẫn Luật thi

Trang 9

đua, khen thưởng đã quy định về nguyên tắc khen thưởng cần chú trọng tới người lao động trực tiếp, người trực tiếp thực hiện các phong trào thi đua Đây là một bước tiến quan trọng, cho thấy người lao động trực tiếp đã được quan tâm biểu dương, ghi nhận công sức và khen thưởng được làm rõ trong chủ trương, chính sách của Đảng và pháp luật của Nhà nước

Trước 2013 chính sách, quy định khen thưởng cụ thể cho người lao động trực tiếp không nhiều, cho đến khi Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật thi đua,

khen thưởng (năm 2013) đề cập đến mục tiêu của thi đua rất cụ thể đó là: “Tạo

động lực lôi cuốn, khuyến khích mọi cá nhân, tập thể phát huy truyền thống yêu nước, hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao” (Điều 1) và được cụ thể hóa tại Nghị

định số 91/2017/NĐ-CP ngày 31/7/2017 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành

Luật thi đua, khen thưởng, theo đó, quy định về nguyên tắc khen thưởng: “Khen

thưởng phải căn cứ vào điều kiện, tiêu chuẩn và thành tích đạt được, không nhất thiết phải có hình thức khen thưởng mức thấp mới được khen thưởng mức cao hơn Chú trọng khen thưởng tập thể nhỏ và cá nhân là người trực tiếp lao động, sản xuất, học tập, công tác hoặc chiến đấu, phục vụ chiến đấu”; quy định cụ thể các

điều kiện, tiêu chuẩn khen thưởng cho người lao động trực tiếp tại các Điều 22, 23,

24 và 38

Để triển khai thực hiện Luật Thi đua, khen thưởng; Nghị định số 91/2017/NĐ-CP ngày 31/7/2017 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành Luật thi đua, khen thưởng, tỉnh Gia Lai đã kịp thời ban hành Quyết định số 33/2018/QĐ-UBND ngày 28/12/2018 về ban hành quy định thi đua, khen thưởng trên địa bàn tỉnh Gia Lai nhằm cụ thể hóa quy định luật thi đua, khen thưởng trên địa bàn tỉnh, trong đó, cụ thể tiêu chuẩn, điều kiện khen thưởng cho nông dân, người lao động trực tiếp

Từ những nội dung nêu trên cho thấy pháp luật hiện hành tuy đã có những quy định cụ thể về khen thưởng cho người lao động trực tiếp, song trên thực tế việc thực hiện nội dung này trong thực tiễn còn có những khó khăn và vướng mắc Các hướng dẫn về khen thưởng cho đối tượng là người lao động trực tiếp, khái niệm về

Trang 10

người lao động trực tiếp, công tác khen thưởng cho người lao động trực tiếp mới chỉ dùng lại ở những điểm còn chung chung, chưa được quy định cụ thể, chi tiết Mặc

dù nhiều năm qua, đối tượng lao động trực tiếp đã được khen thưởng, nhưng số lượng không nhiều, không đồng đều Công tác khen thưởng chưa thực sự chú trọng nhiều đến người lao động trực tiếp và chưa thực sự quyết liệt

Mặt khác, trong thực hiện trên thực tế vẫn còn tình trạng khen thưởng chưa thực sự đúng người, còn có cách nghĩ cách làm “hoa thơm mỗi người hưởng một tý” làm cho giá trị của công tác khen thưởng không còn nguyên bản

Trên thực tế nếu khen thưởng đúng sẽ góp phần quan trọng trong việc xây dựng cuộc sống mới, con người mới, nền văn hóa mới, thực sự làm cho cái thiện, mặt tốt trong mỗi con người ngày càng được nhân lên làm cho cái xấu, cái ác đẩy lùi trong xã hội Khen thưởng đúng sẽ tạo động lực cho mỗi người trong lao động, học tập và hướng thiện Khen thưởng thiếu thực chất sẽ tác động ngược lại, làm cho phong trào thi đua và động lực của người lao động giảm sút, tác động tiêu cực đến mỗi người và toàn xã hội

Trước tình hình đó, với trách nhiệm là người làm công tác khen thưởng của

tỉnh Gia Lai học viên đã lựa chọn vấn đề: “Thực hiện chính sách khen thưởng cho người lao động trực tiếp trên địa bàn tỉnh Gia Lai.” làm đề tài luận văn của mình,

với mong muốn bổ sung và làm sáng rõ thêm các vấn đề lý luận về khen thưởng, chính sách khen thưởng, khen thưởng cho người lao động trực tiếp; rà soát, tổng hợp và phân tích các quy định pháp luật về khen thưởng cho người lao động, đánh giá tình hình thực hiện chính sách khen thưởng cho người lao động trực tiếp và trên địa bàn tỉnh Gia Lai Từ đó, đề xuất các kiến nghị, giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả, chất lượng thực hiện chính sách khen thưởng cho đối tượng này trên địa bàn tỉnh Gia Lai trong thời gian tới

2 Tình hình nghiên cứu đề tài

Tính đến nay, chưa có công trình nào nghiên cứu về thực hiện chính sách khen thưởng cho người lao động trực tiếp trên địa bàn tỉnh Gia Lai Tuy nhiên, có một số công trình nghiên cứu về thi đua, khen thưởng và chính sách khen thưởng

Trang 11

nhưng chủ yếu tập trung vào quản lý hoạt động thi đua khen thưởng, pháp luật về thi đua khen thưởng, cụ thể là:

Tài liệu dạng sách và đề tài khoa học:

- Ban Thi đua - khen thưởng Trung ương (2008), Đảng, Bác Hồ với thi đua

yêu nước và công tác TĐKT”, Nxb Lý luận chính trị, Hà Nội

- Nguyễn Thế Thắng (2012), Những vấn đề lý luận chung về thi đua, khen

thưởng, đề tài khoa học cấp Nhà nước, Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh

- Trần Thị Hà (2013), Cơ sở lý luận và thực tiễn đổi mới thi đua khen thưởng

trong giai đoạn hiện nay, đề tài khoa học cấp Nhà nước, Ban TĐKT Trung ương

- Phạm Thu Thuỷ (2017), “Nâng cao chất lượng công tác khen thưởng cho

người lao động trực tiếp ở nước ta hiện nay”, Đề tài cấp khoa học cấp Bộ, Ban

TĐKT Trung ương

Tài liệu dạng luận án, luận văn có:

- Đỗ Thúy Phượng (2010), Hoàn thiện pháp luật về TĐKT ở Việt Nam, luận

văn thạc sỹ luật học, Đại học Quốc gia Hà Nội

- Dương Thị Tuyết Nhung (2015), Quản lý nhà nước về TĐKT trong các

trường đại học trên địa bàn Hà Nội, luận văn thạc sỹ luật học, Học viện KHXH

- Nguyễn Đức Hiếu (2016), Hoàn thiện công tác TĐKT tại Viện Hàn lâm

Khoa học xã hội Việt nam, Luận văn thạc sỹ quản trị kinh doanh, Học viện KHXH

- Phùng Ngọc Tấn (2016), Pháp luật về thi đua khen thưởng ở Việt Nam hiện

nay, luận án tiến sĩ luật hiến pháp và luật hành chính, Học viện KHXH

- Bùi Tuyết Nhung (2017) “Về thực hiện chính sách TĐKT từ thực tiễn của

Viện Hàn lâm KHXH Việt Nam” , luận văn thạc sĩ chính sách công, Học Viện

KHXH

Tài liệu bài tạp chí có:

- Phùng Ngọc Tấn (2014), Giải pháp hoàn thiện pháp luật và bảo đảm thực

hiện pháp luật về thi đua khen thưởng, Tạp chí Nhà nước và Pháp luật

Trang 12

- Nguyễn Đình Châu (2014), Tăng cường làm tốt công tác TĐKT góp phần

thực hiện thắng lợi chiến lược xây dựng con người mới của Đảng trong giai đoạn hiện nay, Tạp chí Giáo dục lý luận, số 213 (tháng 5)

- Lê Văn Phong (2014), Công tác thi đua, khen thưởng ở Học viện Chính trị

Quốc gia Hồ Chí Minh (2009-2014), Tạp chí Lịch sử Đảng, số 9, tr 52-56

Các công trình nêu trên đã đề cập đến nhiều khía cạnh khác nhau của công tác thi đua khen thưởng, như một số vấn đề về lý luận và thực tiễn về công tác thi đua khen thưởng: Khái niệm, hình thức, nội dung, yêu cầu công tác thi đua, công tác khen thưởng; thực trạng pháp luật về thi đua khen thưởng, giải pháp và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Đáng chú ý là Luận văn thạc sĩ của tác giả Bùi Tuyết Nhung nghiên cứu “về

thực hiện chính sách TĐKT từ thực tiễn của Viện Hàn lâm KHXH Việt Nam” Đây

là nguồn tài liệu có giá trị mà học viên có thể tham khảo, kế thừa có chọn lọc để phục vụ cho nghiên cứu của mình

Tuy nhiên, nghiên cứu trực tiếp về thực hiện chính sách khen thưởng cho người lao động trực tiếp trên địa bàn tỉnh Gia Lai theo tài liệu học viên đã tìm hiểu nghiên cứu thì cho tới nay chưa có tác giả nào thực hiện

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

3.1 Mục đích nghiên cứu

Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

Trên cơ sở nghiên cứu, phân tích, đánh giá thực trạng thực hiện chính sách khen thưởng cho người lao động trực tiếp ở tỉnh Gia Lai, đề xuất các giải pháp và kiến nghị nhằm nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác khen thưởng cho người lao động trực tiếp ở tỉnh Gia Lai hiện nay

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

Hệ thống hóa một số vấn đề lý luận cơ bản và các quy định pháp luật, văn bản hướng dẫn về công tác khen thưởng

Mô tả, phân tích và đánh giá thực trạng tổ chức và thực hiện chính sách khen thưởng cho người lao động trực tiếp ở tỉnh Gia Lai

Trang 13

Đề xuất giải pháp và kiến nghị nhằm nâng cao chất lượng, hiệu quả thực hiện chính sách khen thưởng cho người lao động trực tiếp

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

4.1 Đối tượng nghiên cứu

Chính sách khen thưởng cho người lao động trực tiếp và thực hiện chính sách khen thưởng cho người lao động trực tiếp trên địa bàn tỉnh Gia Lai

4.2 Phạm vi nghiên cứu

- Về mặt nội dung nghiên cứu: Thực hiện chính sách khen thưởng cho người lao động trực tiếp

- Về không gian: Tỉnh Gia Lai

- Về thời gian: từ năm 2014 đến năm 2018

5 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu

- Đề tài sử dụng phương pháp luận của Chủ nghĩa Mác - Lê nin và tư tưởng Hồ Chí Minh, các quan điểm của Đảng và quy định pháp luật Nhà nước về TĐKT

- Đề tài sử dụng các phương pháp nghiên cứu:

+ Phương pháp phân tích: được sử dụng khi đánh giá các quan điểm, đường

lối của Đảng, các quy định pháp luật Đề tài cũng sử dụng phương pháp này đối với việc phân tích các số liệu trong bảng tổng hợp, tính toán tỷ lệ % để thấy được thực trạng công tác khen thưởng cho người lao động trực tiếp ở tỉnh Gia Lai hiện nay

+ Phương pháp tổng hợp: Sử dụng để tóm lược, rút ra những kết luận của vấn

đề nghiên cứu Tổng hợp các kết quả nghiên cứu, số liệu thống kê về đối tượng khen thưởng là người lao động trực tiếp từ năm 2014 đến năm 2018 trên địa bàn tỉnh qua các báo cáo về công tác thi đua, khen thưởng hàng năm

+ Phương pháp so sánh: Sử dụng khi phân tích, đánh giá các Nghị quyết, chuyên đề của Đảng, các quy định của pháp luật về chính sách khen thưởng cho người lao động trực tiếp qua các giai đoạn lịch sử so sánh với việc thực hiện chính sách và quy pháp luật trên địa bàn tỉnh Gia Lai

6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn

- Về mặt lý luận:

Trang 14

Hệ thống hóa những quan niệm, quan điểm lý luận về khen thưởng, công tác khen thưởng và làm rõ thêm một số vấn đề mang tính chất mới về khen thưởng cho người lao động trực tiếp, khái niệm người lao động trực tiếp và các nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng khen thưởng cho đối tượng này

- Về thực tiễn:

Cung cấp số liệu về kết quả thực hiện chính sách khen thưởng cho người lao động trực tiếp trên địa bàn tỉnh Gia Lai ở các cấp tỉnh, cấp huyện và cấp xã Đề xuất một số giải pháp cơ bản như bổ sung, sửa đổi pháp luật về khen thưởng cho người lao động trực tiếp; ban hành các văn bản hướng dẫn cụ thể của tỉnh Gia Lai về khen thưởng cho người lao động trực tiếp để phù hợp với thực tiễn của tỉnh Gia Lai để điều chỉnh, nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác khen thưởng cho người lao động trực tiếp ở tỉnh Gia Lai hiện nay

7 Kết cấu của luận văn

Ngoài phần Mở đầu; phần Kết luận; Luận văn này có kết cấu gồm 3 chương: Chương 1 Một số vấn đề lý luận về chính sách khen thưởng và khen thưởng cho người lao động trực tiếp

Chương 2 Thực trạng thực hiện chính sách khen thưởng đối với người lao động trực tiếp trên địa bàn tỉnh Gia Lai

Chương 3 Giải pháp nâng cao chất lượng, hiệu quả thực hiện chính sách khen thưởng cho người lao động trực tiếp ở tỉnh Gia Lai hiện nay

Trang 15

Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ CHÍNH SÁCH KHEN THƯỞNG VÀ

KHEN THƯỞNG CHO NGƯỜI LAO ĐỘNG TRỰC TIẾP

1.1 Một số khái niệm cơ bản về khen thưởng, chính sách khen thưởng

và người lao động

1.1.1 Khen thưởng

Khen thưởng là khái niệm không xa lạ, bởi khái niệm này được tiếp cận ở nhiều văn bản về thi đua, khen thưởng qua từng thời kỳ khác nhau Khen thưởng được hiểu chung là việc làm của một cá nhân, tổ chức một cách chính thức đối với đối tượng có thành tích nào đó

Trong lịch sử đất nước, việc khen thưởng thường diễn ra rất đa dạng như:

“Khen thưởng người có công trong chiến trận, người có công trong việc đi sứ, người phò tá có công lao tài đức, người tiến cử người hiền tài, người có lời tâu đúng, người cấp dưới giữ đúng phép công, không vị nể người quyền quý cấp trên, người có công làm thuỷ lợi, người có tài văn chương, người cao tuổi”[1]

Hình thức khen thưởng cũng rất đa dạng Nếu còn sống người được khen thưởng có thể nhận được một trong các hình thức: Được ban họ vua (Quốc thính), được ghi công vào sử sách, được vẽ hình, được dựng bia ghi công, được phong chức, được thưởng vàng bạc, được cấp ruộng đất Nếu người có công đã mất thì vua đích thân làm văn tế, giảm ăn, nghỉ coi trầu một số ngày, truy phong, truy tặng hoặc gửi vàng bạc, lụa để viếng, phong quan chức cho con, cấp ruộng cho con cháu thờ cúng

Đối tượng khen thưởng rất rộng, từ người già đến trẻ em, từ nam giới đến nữ giới, từ người Kinh đến người dân tộc thiểu số đều được khen thưởng

Chủ tịch Hồ Chí Minh rất quan tâm đến việc khen thưởng, Người nêu rõ:

“Thưởng phạt phải nghiêm minh, có công thì thưởng, có lỗi thì phạt; có công mới

có huân, phải có công huân mới được thưởng huân chương, thưởng cái nào đích

Trang 16

đáng cái ấy khen thưởng phải có tác dụng động viên, giáo dục, nêu gương”[28,

tr.20]

Ngay sau khi giành được chính quyền, ngày 26/01/1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ký ban hành Quốc lệnh 10 điều thưởng của Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hoà, gồm:

“1 Nhà nào có 3 con tòng quân sẽ được thưởng

2 Ai lập được quân công sẽ được thưởng

3 Ai vì nước hy sinh sẽ được thưởng

4 Ai ra trận can đảm phi thường sẽ được thưởng

5 Ai làm việc một cách trong sạch, ngay thẳng sẽ được thưởng

6 Ai làm việc gì có lợi cho nước nhà, dân tộc, được dân chúng mến phục sẽ được thưởng

7 Ai bỏ tiền ra xây đắp cầu cống, đê, đường sẽ được thưởng

8 Ai bắt được những kẻ phản quốc sẽ được thưởng

9 Ai liều mình về công việc sẽ được thưởng

10 Ai cứu được người bị nạn sẽ được thưởng.[28, tr.19]

10 điều khen thưởng này chính là nền tảng tư tưởng, nguyên tắc pháp lý chỉ đạo việc khen thưởng trong cả hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ cứu nước và trong sự nghiệp xây dựng xã hội mới ở nước ta

Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng thường nhắc cán bộ làm công tác thi đua, khen

thưởng: “Trong một nước thưởng phạt phải nghiêm minh thì nhân dân mới yên ổn,

kháng chiến mới thắng lợi, kiến quốc mới thành công”[29] Sau đó, năm 1947, Chủ

tịch Hồ Chí Minh lần lượt ký các Sắc lệnh thành lập Viện Huân chương, ban hành Sắc lệnh đặt ra các Huân chương Quân công, Huân chương Chiến sĩ, Huân chương Sao vàng, Huân chương Hồ Chí Minh, Huân chương Độc lập Năm 1948 đặt ra Huân chương Kháng chiến, năm 1959 đặt ra Huân chương Lao động Chính phủ cũng đã quy định các danh hiệu Anh hùng Quân đội, Anh hùng Nông nghiệp, Anh hùng Công nghiệp năm 1952 để khen thưởng kịp thời những cá nhân và đơn vị có thành tích trong cuộc kháng chiến kiến quốc

Trang 17

Từ thực tiễn lịch sử trên đây, khen thưởng được hiểu là quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền để nhận xét, đánh giá về một tổ chức, cá nhân có thành tích xuất sắc, có công đối với đất nước trong một giai đoạn lịch sử nhất định

Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật thi đua khen thưởng năm 2013,

tại Khoản 2, Điều 3 định nghĩa về khái niệm khen thưởng như sau: “Khen thưởng

là việc ghi nhận, biểu dương, tôn vinh công trạng và khuyến khích bằng lợi ích vật chất đối với cá nhân, tập thể có thành tích trong xây dựng và bảo vệ Tổ quốc”

Khen thưởng là một trong những nội dung và hình thức không thể thiếu trong hoạt động của các cơ quan, tổ chức nhằm ghi nhận, biểu dương, tôn vinh thành tích, công trạng, quá trình hoạt động đóng góp của tập thể và cá nhân trong xây dựng, phát triển cơ quan, đơn vị và bảo vệ Tổ quốc

1.1.2 Người lao động trực tiếp

Cho đến nay vẫn chưa có khái niệm chính thức về người lao động trực tiếp Trong các văn bản quy phạm pháp luật của nhà nước Việt Nam, các khái niệm về lao động trực tiếp, lao động gián tiếp, người lao động, cán bộ quản lý, người lao động trực tiếp đã được đề cập và sử dụng ở các mức độ sau đây:

Theo Bộ Luật lao động và các văn bản quy phạm pháp luật hướng dẫn thi

hành Luật lao động và một số công trình nghiên cứu [2] thì khái niệm “người lao

động” là dùng để chỉ một đối tượng chung là người làm công ăn lương, người trực

tiếp sử dụng sức lao động để tạo ra sản phẩm, của cải, cụ thể có thể hiểu dưới các góc độ dưới đây:

Người lao động là người làm công ăn lương, là lao động phổ thông như: Người công nhân, nông dân, thợ (thợ cả, thợ phụ, thợ lành nghề, thợ chưa lành nghề), người làm thuê, người giúp việc

Người lao động là người làm công ăn lương là người lao động trí thức như: công chức, viên chức, cán bộ, các chuyên gia trong các ngành, lĩnh vực khác nhau như công nghệ, kinh tế, ngoại thương, ngoại giao

Đặc điểm của người lao động là “bán công sức”, có thể là sức khỏe, trí tuệ

để làm ra của cải vật chất hoặc các sản phẩm mang tính sáng tạo, mang tính đặc thù

Trang 18

như là “lao động mềm trong nền công vụ” phục vụ cho người thuê lao động (chủ

lao động) Các công việc được thuê làm đối với người lao động này thường được tuân thủ bởi các hợp đồng lao động, hợp đồng làm việc (bằng miệng hoặc văn bản) hoặc các quyết định tuyển dụng của cơ quan quản lý nhà nước để họ làm việc, đáp ứng nhu cầu của nhà tuyển dụng

- Có thể nhìn nhận khái niệm “Người lao động trực tiếp” dưới các góc độ

khác nhau như:

+ Nhìn dưới góc độ lao động, sản xuất, người lao động trực tiếp có thể được hiểu là: Người làm ra sản phẩm cụ thể, trực tiếp cầm, nắm, sản xuất hoặc điều khiển trực tiếp để tạo ra sản phẩm

Người lao động trực tiếp là những người lao động bình thường trên các lĩnh vực của đời sống xã hội, như công nhân lao động trực tiếp, người nông dân trực tiếp lao động, canh tác, giáo viên đứng lớp, người nghệ sĩ biểu diễn, người lao động dọn vệ sinh, những hộ lý, điều dưỡng trong các bệnh viện hoặc những người âm thầm, lặng lẽ trực tiếp làm các nhiệm vụ tình nguyện, thiện nguyện

+ Nhìn dưới góc độ quản lý nhà nước, người lao động trực tiếp có thể hiểu là cán bộ, công chức, viên chức và không giữ chức vụ lãnh đạo quản lý; có thể là người làm công ăn lương và được cơ quan nhà nước, đơn vị sự nghiệp trả lương cho họ và không phải là lãnh đạo, quản lý, không phải là đối tượng được hưởng phụ cấp chức vụ lãnh đạo theo quy định của nhà nước Ví dụ như: công chức, viên chức bình thường, giáo viên, bác sĩ, y tá, y sĩ, các văn nghệ sĩ… được hưởng lương từ ngân sách nhà nước nhưng không thuộc diện lãnh đạo quản lý

Nếu so với sản phẩm của người lao động trực tiếp là công nhân, nông dân với sản phẩm của đối tượng là người lao động trực tiếp nhìn nhận dưới góc độ quản

lý có phần khác và mang tính đặc thù hơn Sản phẩm của họ mang tính trí tuệ và

“đầu ra” của sản phẩm là các văn bản tham mưu cho đội ngũ lãnh đạo nhà nước, các ý tưởng đổi mới trong cải cách, tổ chức bộ máy nhà nước, các công việc mang lại hiệu quả lớn cho xã hội như chăm sóc người bệnh, điều chế thuốc, gìn giữ văn hóa cội nguồn dân tộc

Trang 19

Đến nay, khái niệm “người lao động trực tiếp” vẫn chưa có một định nghĩa

cụ thể, chính thức bằng văn bản từ cơ quan quản lý nhà nước, các nhà nghiên cứu được công nhận hoặc được đông đảo công chúng công nhận về khái niệm này

Từ những quan điểm quy định pháp luật nêu trên, khái niệm “người lao động trực tiếp” có thể hiểu đối ngược với khái niệm “người lao động gián tiếp” Người lao động gián tiếp là những người được bổ nhiệm vào các chức vụ lãnh đạo, quản

lý theo quy định, những người không trực tiếp tạo ra sản phẩm mà chỉ là người có công trong việc đóng góp một phần công sức, hỗ trợ để làm ra sản phẩm đó mà thôi Ví dụ, trong một môi trường sản xuất máy móc hoặc chế biến, chế tạo sản phẩm, người lao động gián tiếp là người có công hỗ trợ trong việc tạo ra sản phẩm như người quản lý, người hỗ trợ về nhân sự, người thiết kế, người phục vụ

Từ các mô tả trên có thể rút ra đặc điểm người lao động trực tiếp như sau:

Là người lao động trực tiếp làm việc ở nhiều môi trường, nhiều công việc khác nhau trên tất cả mọi lĩnh vực của đời sống xã hội; Không phân biệt tuổi tác, giới tính; Trực tiếp làm ra sản phẩm, của cải vật chất hoặc trực tiếp tạo ra những giá trị

tốt đẹp cho xã hội từ bàn tay, khối óc, trí tuệ của bản thân

1.1.3 Chính sách, chính sách công

Chính sách được hiểu là tập hợp các quyết định hay chương trình hành động

do tập thể các nhà lãnh đạo hay nhà quản lý đề ra để giải quyết một vấn đề nào đó thuộc phạm vi thẩm quyền của mình [3] Chính sách là một công cụ quan trọng của quản lý Mọi tổ chức, mọi cấp quản lý đều phải sử dụng các công cụ quản lý như chính sách, quyết định quản lý, kế hoạch, chiến lược, quy định pháp luật để tác động lên đối tượng quản lý theo một cách thức nào đó nhằm đạt tới mục tiêu mong muốn

“Chính sách công là một tập hợp các quyết định chính trị có liên quan của

Nhà nước nhằm lựa chọn mục tiêu và giải pháp, công cụ chính sách nhằm giải quyết các vấn đề xã hội theo mục tiêu tổng thể đã xác định” [6, tr.12]

1.1.4 Chính sách khen thưởng

Chính sách khen thưởng là một hợp phần của chính sách công

Trang 20

Luật Thi đua, khen thưởng đã xác định: “Thi đua là hoạt động có tổ chức với

sự tham gia tự nguyện của cá nhân, tập thể nhằm phấn đấu đạt được thành tích tốt nhất trong xây dựng và bảo vệ tổ quốc; Khen thưởng là việc ghi nhận, biểu dương, tôn vinh công trạng và khuyến khích bằng lợi ích vật chất đối với cá nhân, tập thể

có thành tích trong xây dựng và bảo vệ tổ quốc Chính phủ thống nhất quản lý nhà nước về thi đua, khen thưởng trong phạm vi cả nước”

Hiện nay, chưa có một khái niệm cụ thể nào về Chính sách khen thưởng Từ khái niệm chung của chính sách công, cùng với các khái niệm về thi đua, khen thưởng có thể định nghĩa: Chính sách khen thưởng là tập hợp các quy định, quyết sách của Nhà nước nhằm đưa ra các công cụ và cách thức giải quyết các vấn đề liên quan đến công tác khen thưởng và hoạt động khen thưởng Các cơ quan trong hệ thống hành pháp và mọi cá nhân, tổ chức có nhiệm vụ chấp hành quyết sách này trong lĩnh vực hoạt động thi đua, khen thưởng theo đúng quy định của pháp luật

1.1.5 Thực hiện chính sách khen thưởng

Thực hiện chính sách khen thưởng, là toàn bộ quá trình chuyển ý chí của chủ thể trong chính sách thành hiện thực, là bước hiện thực hóa, đưa chính sách khen thưởng vào thực tiễn cuộc sống

Thực hiện chính sách khen thưởng là khâu quan trọng, là một khâu hợp thành chính sách khen thưởng, thực hiện tốt không những mang lại lợi ích to lớn cho các nhóm đối tượng thụ hưởng chính sách mà còn góp phần làm tăng uy tín của nhà nước trong quá trình quản lý xã hội Thực hiện chính sách khen thưởng là tất yếu, để duy trì sự tồn tại của công cụ chính sách theo yêu cầu quản lý của nhà nước

và cũng là để đạt được mục tiêu của chính sách

Mục tiêu của khen thưởng là nhằm động viên mọi cá nhân, tổ chức tham gia các phong trào thi đua để từ đó phát huy tính tích cực trong công việc, phấn đấu vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh; người được khen thưởng tiếp tục phát huy những thành tích đã đạt được của mình, có thêm những sáng kiến và đóng góp nhằm tăng cường khả năng chuyên môn và góp phần phát triển cơ quan, tổ chức nơi mình làm việc; người chưa được khen cũng thấy

Trang 21

được trách nhiệm và nghĩa vụ của mình, cần phải phấn đấu Vì vậy, thực hiện tốt chính sách khen thưởng sẽ phát huy được sức mạnh tổng hợp của hệ thống chính trị

và nhân dân; làm cho các phong trào thi đua được phát triển sâu rộng, với nhiều hình thức phong phú có tác dụng thúc đẩy, động viên cán bộ, công chức, người lao động và các tầng lớp nhân dân, các doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế tích cực học tập, lao động, sản xuất, kinh doanh; từ đó tạo động lực thi đua hoàn thành thắng lợi các nhiệm vụ phát triển kinh tế xã hội, nhiệm vụ chính trị được giao

1.1.6 Khen thưởng cho người lao động trực tiếp

Khái niệm khen thưởng cho người lao động trực tiếp mới được đề cập tại Luật sửa đổi, bổ sung một số điều Luật Thi đua – Khen thưởng năm 2013 và các Nghị định số 65/2014/NĐ-CP ngày 01/7/2014 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật thi đua, khen thưởng năm 2013; Nghị định số 91/2017/NĐ-CP ngày 31 tháng 7 năm 2017 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật thi đua, khen thưởng, tuy nhiên tại các văn bản này cũng không ghi rõ về khái niệm người lao động trực tiếp

Qua tìm hiểu và trên cơ sở khái niệm về khen thưởng, khái niệm về lao động trực tiếp được đề cập trên, có thể khái niệm về khen thưởng cho người lao động

trực tiếp như sau: “Khen thưởng cho người lao động trực tiếp là việc ghi nhận, biểu

dương, tôn vinh công trạng và khuyến khích bằng lợi ích vật chất đối với cá nhân

là người lao động trực tiếp có thành tích trong sản xuất, lao động, xây dựng, bảo

vệ tổ quốc Thực hiện chính sách khen thưởng cho người lao động trực tiếp cũng là thực hiện chính sách khen thưởng, song đối tượng là người lao động trực tiếp, có các quy định cụ thể về điều kiện, tiêu chuẩn riêng cho đối tượng này”

Theo đó, đối tượng được khen là cá nhân (lao động trực tiếp) được nhận các hình thức khen thưởng do có thành tích trong lao động, sản xuất, xây dựng, bảo vệ

tổ quốc Hình thức khen có thể được vinh danh bởi các danh hiệu cao quý của Đảng, Nhà nước được quy định trong Luật thi đua, khen thưởng hoặc khen trực tiếp

từ lãnh đạo quản lý, cơ quan, tổ chức, đoàn thể hoặc tổ chức, cá nhân ngoài đơn vị,

cơ quan mà người lao động trực tiếp đó làm việc, công tác

Trang 22

1.2 Mục đích, yêu cầu, tầm quan trọng của công tác khen thưởng và thực hiện chính sách khen thưởng cho người lao động trực tiếp

1.2.1 Vai trò của người lao động trực tiếp

Người lao động trực tiếp chính là những người tham gia thực hiện các hoạt động lao động, sản xuất, tạo ra các sản phẩm, các giá trị xã hội Đối tượng người lao động trực tiếp là những công chức, viên chức, công nhân, nông dân… Đây là lực lượng chiếm số lượng nhiều nhất, có vai trò vô cùng quan trọng trong việc trực tiếp thực thi nhiệm vụ chính trị ở các đơn vị, địa phương Họ cũng là lực lượng chính trong các phong trào thi đua yêu nước lớn, tiêu biểu, có hiệu quả cao đang được

triển khai trong thực tế hiện nay như: “Chung sức xây dựng nông thôn mới”, “Lao

động giỏi, lao động sáng tạo”, “Nông dân sản xuất kinh doanh giỏi”…

1.2.2 Ý nghĩa của công tác khen thưởng và tầm quan trọng của việc thực hiện chính sách khen thưởng cho người lao động trực tiếp

- Làm cho người tốt, việc tốt được ghi nhận, tôn vinh và lan tỏa giá trị tốt đẹp trong cuộc sống

Công tác khen thưởng và thực hiện chính sách khen thưởng cho người lao động trực tiếp có vai trò hết sức quan trọng không chỉ đối với cơ quan, tổ chức mà còn đối với người lao động trực tiếp đó là: Khi công tác khen thưởng được thực hiện đúng người, đúng việc sẽ giúp cho người tốt, việc tốt được ghi nhận tôn vinh

và lan tỏa giá trị tốt đẹp trong cuộc sống

- Thúc đẩy phong trào thi đua lao động và sáng tạo lập thành tích trong mỗi

cá nhân người lao động

Người lao động trực tiếp chiếm số lượng đông đảo trong lực lượng lao động nói chung Vì vậy, việc quan tâm khen thưởng người lao động trực tiếp sẽ động viên, khuyến khích được lực lượng này tích cực hăng say lao động, sản xuất, học tập, sáng tạo… tạo động lực và niềm tin của người lao động trong xã hội, thúc đẩy phong trào thi đua lao động, sáng tạo, góp phần xây dựng và phát triển cơ quan, đơn

vị, địa phương và sự nghiệp xây dựng đất nước giàu mạnh, văn minh

Trang 23

Chính sách khen thưởng được thực hiện đúng lúc, đúng người, đúng việc sẽ

có sức mạnh lan tỏa trong cộng đồng, khiến môi trường làm việc, nơi làm việc, địa phương hoặc đơn vị sẽ có tấm gương điển hình về người tốt, việc tốt, góp phần nâng cao năng suất lao động, tạo niềm tin cho người lao động vào phong trào thi đua yêu nước để xây dựng đất nước, quê hương ngày càng vững mạnh

- Khen thưởng cho người lao động trực tiếp là nhân tố phát triển con người toàn diện trong xu thế hội nhập toàn cầu

Trong bất kỳ giai đoạn phát triển nào của mỗi quốc gia, nhân tố con người vẫn là quan trọng và đặt lên hàng đầu Sự thành hay bại, phát triển hay trì trệ của quốc gia nói chung cũng như trong từng lĩnh vực của đời sống xã hội nói riêng, con người vẫn là nhân tố quan trọng nhất Và để phát huy được nhân tố quan trọng đó, cần có nhiều biện pháp khuyến khích, tôn vinh để họ cống hiến, phát triển toàn diện Một trong những phương pháp đó là sử dụng chính sách và thực hiện tốt công tác khen thưởng đối với họ, nhất là những người lao động trực tiếp để phát triển con người toàn diện, kích thích trí tuệ, nhiệt huyết và sự say mê của họ trong sản xuất trực tiếp, tạo nên sản phẩm tốt, góp phần giữ gìn và phát huy giá trị truyền thống văn hóa tốt đẹp cho xã hội

1.2.3 Yêu cầu của khen thưởng đối với người lao động trực tiếp

Một là, khen thưởng cho người lao động trực tiếp phải kịp thời

Mục đích của khen thưởng là động viên, thúc đẩy phong trào thi đua, khơi dậy óc tìm tòi sáng tạo, phát huy trí tuệ, năng lực, tính tích cực của mỗi cá nhân Do

đó, khen thưởng phải chính xác, công khai, công bằng và kịp thời mới có tác dụng động viên nêu gương Ngược lại, khen thưởng không chính xác, không trung thực, đặc biệt là thiếu công bằng sẽ mất đi tính thời sự và mất tác dụng, ý nghĩa của khen thưởng Khi khen thưởng kịp thời, đúng lúc, cá nhân được khen sẽ cảm thấy được trân trọng và vinh dự, tin tưởng vào đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước Khen thưởng trong trường hợp này giúp người được khen nhìn nhận được tính công bằng trong các hình thức khen, từ đó phát huy được tính tích cực trong các công việc mà người lao động trực tiếp đang đảm nhận Người

Trang 24

không được khen thưởng cũng thấy được trách nhiệm, nghĩa vụ của mình cần phải phấn đấu để được ghi nhận trong thời gian tới

Hai là, khen thưởng cho người lao động trực tiếp phải đúng thẩm quyền

Về thẩm quyền khen và cơ quan quản lý nhà nước về thi đua, khen thưởng được quy định rõ trong các văn bản quy phạm pháp luật Cụ thể như sau:

Chủ thể thực hiện công tác khen thưởng ở trung ương: là Ban Thi đua – Khen thưởng Trung ương; Hội đồng Thi đua – Khen thưởng Trung ương Chủ thể thực hiện công tác khen thưởng ở cấp tỉnh là Ban Thi đua – Khen thưởng trực thuộc

Sở Nội vụ (hoặc Văn phòng UBND cấp tỉnh), Hội đồng Thi đua – Khen thưởng cấp tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương là cơ quan tham mưu cho cấp ủy Đảng và chính quyền về công tác thi đua, khen thưởng của địa phương Chủ thể thực hiện công tác khen thưởng ở cấp huyện: Phòng Nội vụ thuộc Ủy ban nhân dân huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh

Về thẩm quyền quyết định khen thưởng: Chủ tịch nước quyết định tặng thưởng Danh hiệu vinh dự Nhà nước, Huân chương, Huy chương, Giải thưởng Hồ Chí Minh ; Thủ tướng Chính phủ quyết định tặng thưởng Bằng khen và các danh hiệu thi đua như Cờ thi đua của Chính phủ, Chiến sĩ thi đua toàn quốc; Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp huyện quyết định tặng thưởng Giấy khen và danh hiệu chiến sĩ thi đua cơ sở, Lao động tiến tiến, Đơn vị tiên tiến

Ba là, khen thưởng phải bám sát tiêu chuẩn và đối tượng

Đối với bất kỳ trường hợp khen thưởng nào cũng cần có quy định cụ thể của pháp luật đối với đối tượng được khen, trình tự khen, quy trình khen và phải khen đúng người, đúng việc

Đối với đối tượng là người lao động trực tiếp khi được khen cũng cần xem xét tính phù hợp với các quy định pháp luật hiện hành Người được khen phải là cá nhân, trực tiếp lao động, có thành tích xuất sắc, có cống hiến cho cộng đồng, dân cư những sản phẩm lao động sáng tạo thực sự có ích Các cá nhân được khen thưởng phải thực sự là hạt nhân tiêu biểu, suất sắc hoặc là người có công trạng nhất định trong các phong trào thi đua được khởi xướng, phát động bởi cơ quan nhà nước có

Trang 25

thẩm quyền, bởi tập thể, cơ quan, đơn vị nơi người lao động trực tiếp làm việc, sản xuất

1.3 Các yếu tố tác động đến việc thực hiện chính sách khen thưởng cho người lao động trực tiếp

Một là, Các văn bản về chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước về khen thưởng người lao động trực tiếp

Vấn đề TĐKT được Đảng và Nhà nước ta quan tâm, có chỉ đạo sát sao trong thời kỳ kháng chiến đến cho đến nay Đặc biệt, năm 1998, Bộ Chính trị ban hành chỉ thị 35 - CT/TW về đổi mới công tác TĐKT trong giai đoạn mới, theo đó khẳng định: trong giai đoạn xây dựng đất nước hiện nay, trước những thời cơ và thách thức vô cùng to lớn, công tác TĐKT càng có vai trò, vị trí hết sức quan trọng

Năm 2004, thông qua tổng kết, rút kinh nghiệm thực hiện chỉ thị số 35, Bộ Chính trị ra Chỉ thị 39 - CT/TW về việc tiếp tục đổi mới, đẩy mạnh phong trào thi đua yêu nước, phát hiện, bồi dưỡng, tổng kết và nhân điển hình tiên tiến Trong đó

khẳng định rõ: “Tiếp tục quán triệt nội dung đổi mới công tác TĐKT theo tư tưởng

Hồ Chí Minh về thi đua yêu nước và tinh thần chỉ thị số 35- CT/TW, ngày 3/6//1998 của Bộ chính trị khoá VIII, qua đó nâng cao hơn nữa nhận thức trách nhiệm về công tác TĐKT”[33]

Năm 2014, Bộ Chính trị ban hành Chỉ thị số 34-CT/TW về Tiếp tục đổi mới

công tác thi đua, khen thưởng “Xác định thi đua, khen thưởng là một chính sách lớn

của Đảng và Nhà nước, bản chất của phong trào thi đua là công tác dân vận của Đảng; Tổ chức phong trào thi đua chính là tổ chức phong trào hành động cách mạng dưới sự lãnh đạo của đảng, nhằm huy động sức mạnh tổng hợp của toàn dân tập trung thực hiện những mục tiêu, nhiệm vụ chính trị từng thời kỳ”[36]

Từ năm 2000 đến nay, hệ thống văn bản pháp luật về TĐKT từng bước được xây dựng hoàn chỉnh, gồm: Luật Thi đua, Khen thưởng được sửa đổi, bổ sung các năm 2003, 2005, 2013 và các Nghị định của Chính phủ hướng dẫn thi hành

Việc tổ chức thực hiện chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước và phong trào thi đua yêu nước là nhiệm vụ của cả hệ thống chính trị; các cấp ủy Đảng, người

Trang 26

đứng đầu cơ quan, tổ chức phải thường xuyên quan tâm lãnh đạo, tổ chức thực hiện công tác thi đua, khen thưởng và phong trào thi đua yêu nước gắn với việc thực hiện nhiệm vụ chính trị Tăng cường quản lý nhà nước về thi đua, khen thưởng là một nhiệm vụ quan trọng của các cấp có thẩm quyền, các cơ quan hành chính nhà nước

để Luật Thi đua, khen thưởng và các văn bản thi hành Luật Thi đua, khen thưởng được thực hiện chặt chẽ, đồng bộ, thống nhất, hiệu quả trong cả nước

Quản lý nhà nước đối với công tác thi đua, khen thưởng là một lĩnh vực rộng

và mang lại lợi ích tinh thần to lớn cho mỗi người khi đạt được thành tích đáng ghi nhận Vệc thực thi chính sách TĐKT nói chung và chính sách TĐKT dành cho người lao động trực tiếp cần thực hiện một cách nghiêm túc, có hiệu quả; khen thưởng phải gắn với phong trào thi đua, có phong trào thi đua sẽ có khen thưởng, hoặc khen thưởng phải gắn với các thành quả lao động mà người lao động trực tiếp đạt được Các đợt thi đua, phong trào thi đua cần phát động thường xuyên, gắn với theo đợt, chuyên đề, tiếp tục đổi mới các phong trào thi đua, tránh hình thức, nhàm chán, tẻ nhạt Tổ chức thực hiện phong trào thi đua, khen thưởng trực tiếp cho người lao động cần phát huy rộng rãi, song phải có mục đích và thi đua với ai, ai làm thi đua, đảm bảo lợi ích hài hòa của người lao động trực tiếp

Hai là, tổ chức bộ máy và năng lực của cán bộ làm công tác thi đua, khen thưởng

Tổ chức bộ máy làm công tác TĐKT là yếu tố quan trọng góp phần nâng cao chất lượng công tác khen thưởng, đặc biệt là khen thưởng cho người lao động trực tiếp Ngoài ra, yếu tố đội ngũ cán bộ, chuyên môn, nghiệp vụ, năng lực tham mưu cho cấp ủy Đảng, chính quyền đổi mới nội dung, phương thức xét khen thưởng là yếu tố quan trọng tác động tới chất lượng công tác khen thưởng Hội đồng Thi đua - Khen thưởng các cấp phát huy hết vai trò tham mưu, tư vấn cho cấp ủy Đảng và chính quyền trong chỉ đạo tổ chức các phong trào thi đua và thực hiện chính sách, pháp luật về khen thưởng; quan tâm kiểm tra, đôn đốc thường xuyên

Đối với người lao động trực tiếp là đối tượng đặc biệt, là những người không

có chức vụ, không thuộc diện “lãnh đạo” do vậy cơ quan quản lý về công tác này

Trang 27

cần nhìn nhận vấn đề một cách trực diện, đặt đối tượng được khen thưởng vào các trường hợp khác nhau để nhìn nhận tài năng, thành quả lao động của họ một cách khích lệ Bởi đối tượng lao động trực tiếp có thể là những người trực tiếp lao động sản xuất trong cơ quan, tổ chức, nhà máy, đơn vị, xí nghiệp Song người lao động trực tiếp cũng có thể là cá nhân thuần túy, không sinh hoạt, không lao động trong môi trường lao động nào cả, họ là những lao động tự do, song họ cũng có những sáng kiến, những cống hiến lớn cho đất nước, tổ quốc như việc phát minh ra các công cụ, dụng cụ giúp nhà nông thoát nghèo, chế tạo rác thải thành phân bón công nghiệp những đối tượng này cần được nhà nước quan tâm, khích lệ, động viên kịp thời để họ tiếp tục phấn đấu, cống hiến lâu dài

Ba là, sự hưởng ứng của người lao động trực tiếp đối với phong trào thi đua

Phong trào thi đua có lớn mạnh, đạt hiệu quả cần phải có sự tham gia tích cực của các cá nhân, tập thể trong phong trào thi đua, nhất là người lao động trực tiếp

Thực hiện nhân rộng điển hình tiên tiến đối với các trường hợp khen thưởng cho người lao động trực tiếp là yếu tố quan trọng có tính lan tỏa sâu sắc, có ảnh hưởng lớn đến cộng đồng, dân cư và toàn xã hội Đối với cá nhân là người lao động trực tiếp được khen, sẽ có sức lan tỏa đến các cá nhân khác, từ đó nâng cao hiệu quả trong hoạt động, sản xuất, học tập, chiến đấu

Việc nhân rộng điển hình khen thưởng là nhiệm vụ chung của cơ quan quản

lý nhà nước về khen thưởng, song với đối tượng là người lao động trực tiếp cần có hình thức nhân rộng phù hợp để người lao động trực tiếp nhận thấy được tầm quan trọng của công tác này, đồng thời có ý thức phấn đấu, thực hiện các nhiệm vụ để tạo

ra của cải, vật chất, say mê sáng tạo để có được thành quả khích lệ, từ đó nhận thêm các hình thức khen xứng đáng, phù hợp

Bốn là, vai trò của cơ quan truyền thông trong phát hiện các gương điển hình tiên tiến, người tốt việc tốt; công tác thông tin, tuyên truyền chính sách khen thưởng, quy định pháp luật về khen thưởng cho người lao động trực tiếp

Thông tin, tuyên truyền đóng vai trò quan trọng trong công tác khen thưởng nói chung và khen thưởng đối với người lao động trực tiếp nói riêng Đối với chủ

Trang 28

trương của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước đối với đối tượng khen là lao động trực tiếp cần được thông tin rộng rãi, chính xác đến tận người dân về nội dung này Ngoài ra, công tác thông tin, tuyên truyền có vai trò lớn trong việc nhân rộng các điển hình tiên tiến Thông qua công tác tuyên truyền, nhân rộng các điển hình tiên tiến mà các quan điểm, chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước đến với quần chúng nhân dân, thâm nhập vào quần chúng nhân dân, tạo nên phong trào rộng rãi trong quần chúng nhân dân; góp phần cổ vũ phong trào thi đua yêu nước của nhân dân

Trang 29

Tiểu kết Chương 1

Chính sách khen thưởng là một công cụ không thể thiếu để nhà nước quản lý hoạt động thi đua khen thưởng, cho đến nay đã có nhiều công trình nghiên cứu liên quan đến hoạt động thi đua, khen thưởng như: pháp luật về thi đua khen thưởng, Việc thực hiện quy định pháp luật về thi đua khen thưởng trên bình diện một số cơ quan, đơn vị bộ ngành trung ương, lý luận về công tác thi đua khen thưởng…

Các công trình này có ý nghĩa rất quan trọng trong việc đánh giá thực tiễn, đưa ra các giải pháp để bổ sung, sửa đổi hoàn thiện pháp luật về thi đua khen thưởng; tổng kết đánh giá thực trạng thực hiện phong trào thi đua, quy định khen thưởng một số cơ quan, tổ chức; đồng thời kiến giải để đổi mới công tác thi đua khen thưởng trong một số cơ quan, tổ chức cụ thể

Trên cơ sở tổng quan đề tài nghiên cứu liên quan đến đề tài tác giả luận văn

đã hệ thống hoá một số khái niệm về khen thưởng, chính sách, người lao động lao động trực tiếp từ đó khái quát và đưa ra khái niệm “người lao động trực tiếp”,

“chính sách khen thưởng cho người lao động trực tiếp” nhằm làm sáng tỏ thêm phần lý luận về khen thưởng cho người lao động trực tiếp Tác giả đồng thời làm rõ thêm các yếu tố ảnh hưởng đến thực hiện chính sách khen thưởng như: các chủ trương của Đảng; quyết sách và pháp luật của Nhà nước về khen thưởng và khen thưởng cho người lao động trực tiếp; tổ chức bộ máy và năng lực của cán bộ làm công tác thi đua khen thưởng; vai trò của cơ quan truyền thông; sự hưởng ứng tham gia của người lao động đối với phong trào thi đua và chính sách khen thưởng

Chương 1 chính là cơ sở lý luận quan trọng để phân tích, đánh giá thực trạng thực hiện chính sách khen thưởng người lao động trực tiếp ở tỉnh Gia Lai sẽ được

trình bày cụ thể ở chương 2

Trang 30

Chương 2 THỰC TRẠNG THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH KHEN THƯỞNG ĐỐI VỚI

NGƯỜI LAO ĐỘNG TRỰC TIẾP Ở TỈNH GIA LAI

2.1 Khái quát về tỉnh Gia Lai và các chính sách, pháp luật về công tác khen thưởng cho người lao động trực tiếp

2.1.1 Khái quát về Gia Lai và người lao động ở Gia Lai

Gia Lai là một tỉnh cao nguyên miền núi nằm ở phía Bắc Tây Nguyên độ cao trung bình 800 - 900m, có toạ độ địa lý từ 12058’28” đến 14036’30’ độ vĩ Bắc,

từ 107027’23” đến 108054’40” độ kinh Đông, có vị trí quan trọng trong khu vực tam giác phát triển Việt Nam - Lào - Camphuchia Với diện tích tự nhiên1.553.693,33

ha, phía bắc giáp tỉnh Kon Tum, phía Nam giáp tỉnh Đăk Lăk; phía Đông giáp tỉnh

Bình Định, Phú Yên; phía Tây giáp tỉnh Ratanakiri (Vương quốc Campuchia) với

90 km đường biên giới, trong đó có hơn 19 km đường biên giới trên sông Với địa hình chính là đồi núi, cao nguyên và thung lũng có sự chia cắt phức tạp, độ dốc lớn

đi lại khó khăn

Gia Lai hiện có dân số khoảng 1.437.400 người, với 34 dân tộc; có 17 đơn vị hành chính gồm: Thành phố Pleiku, thị xã An Khê, thị xã Ayun Pa và các huyện Chư Sê, Chư Pưh, Phú Thiện, Ia Pa, Krông Pa, Đăk Đoa, Mang Yang, Đăk Pơ, Chư Păh, Kông Chro, Kbang, Chư Prông, Đức Cơ và Ia Grai; trong đó có 222 đơn vị cấp

xã gồm: 24 phường, 14 thị trấn và 184 xã, 2.161 tổ dân phố, thôn làng,trong đó có

03 huyện, 07 xã biên giới Mật độ dân số bình quân là 99,67 người/km2, trong đó

dân số sinh sống ở thành thị là 425.367 người (chiếm 29,59%), ở nông thôn là 1.012.033 người (chiếm 70,41%) Có 34 dân tộc cùng sinh sống, trong đó dân tộc

kinh chiếm 55,5%, các dân tộc khác chiếm 44,5% Tốc độ tăng dân số tự nhiên: 1,38%

Gia Lai thuộc vùng khí hậu cao nguyên nhiệt đới gió mùa, Khí hậu vừa mang tính chất khí hậu nhiệt đới gió mùa vừa mang tính chất khí hậu cao nguyên, trong năm chia làm 2 mùa: Mùa mưa bắt đầu từ tháng 5 và kết thúc vào tháng 10; mùa

Trang 31

khô từ tháng 11 đến tháng 4 năm sau; nhiệt độ trung bình hàng năm từ 220C - 260C; lượng mưa trung bình hàng năm là 2.223 mm, độ ẩm trung bình 83%

Tình hình kinh tế - xã hội của tỉnh: Năm 2018, trong bối cảnh tình hình kinh

tế thế giới, kinh tế trong nước, cũng như địa phương vẫn còn nhiều khó khăn nhưng kinh tế - xã hội của tỉnh vẫn tiếp tục chuyển biến tích cực Tốc độ tăng trưởng kinh

tế năm 2018 đạt 8%, trong đó nông, lâm nghiệp, thuỷ sản tăng 5,73%, công nghiệp - xây dựng tăng 9,69%, dịch vụ tăng 8,64%; cơ cấu kinh tế chuyển dịch phù hợp Thu ngân sách nhà nước trên địa bàn năm 2018 đạt 4.505,6 tỷ đồng, vượt 13,1% dự toán trung ương giao, vượt 7,3% dự toán HĐND tỉnh giao Kim ngạch xuất khẩu đạt 470 triệu USD, đạt 100% kế hoạch Thu nhập bình quân đầu người đạt 45,36 triệu đồng Tình hình an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội trên địa bàn tỉnh được giữ vững Các lực lượng chức năng duy trì bám địa bàn, nắm dân và phối hợp chặt chẽ với chính quyền cơ sở thực hiện các biện pháp bảo vệ biên giới, phòng chống vượt biên, xâm nhập

Đến năm 2018 lao động trong độ tuổi là 864.534 người Trong đó, cán bộ, công chức, viên chức và người lao động trong các cơ quan nhà nước (không bao gồm lực lượng vũ trang) là 31.294 người; số lãnh đạo, quản lý là 4.892 người (chiếm tỷ lệ 0,57%); số lao động nông dân, công nhân và các ngành nghề giản đơn khác là 813.789 người (chiếm tỷ lệ 94,1%)[52]

2.1.2.Tổ chức bộ máy và cán bộ làm công tác khen thưởng ở tỉnh Gia Lai

Thực hiện Thông tư số 15/2014/TT-BNV ngày 31/10/2014 của Bộ Nội vụ về hướng dẫn chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Sở Nội vụ thuộc

Ủy bạn nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương; Phòng Nội vụ thuộc ủy ban nhân dân huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh Ngày 12/02/2015, UBND tỉnh Gia Lai đã ban hành Quyết định số 08/2015/QĐ-UBND Quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, cơ cấu tổ chức của Sở Nội vụ tỉnh Gia Lai Theo đó, hệ thống

tổ chức bộ máy làm công tác thi đua, khen thưởng từ tỉnh đến cơ sở được củng cố, kiện toàn theo hướng tiếp tục đổi mới công tác tổ chức và cán bộ thi đua, khen thưởng, khẩn trương kiện toàn bộ máy thi đua, khen thưởng; củng cố và nâng cao

Trang 32

chất lượng hoạt động của Hội đồng Thi đua, Khen thưởng các cấp; nâng cao năng lực tham mưu, nghiên cứu của các cơ quan chuyên trách về thi đua, khen thưởng; xây dựng đội ngũ cán bộ vừa có năng lực, vừa có phẩm chất đáp ứng được yêu cầu

về đổi mới công tác thi đua, khen thưởng trong giai đoạn mới

Ban Thi đua - Khen thưởng tỉnh đã được kiện toàn tổ chức theo hướng dẫn tại Thông tư số 15/2014/TT-BNV ngày 31/10/2014 của Bộ Nội vụ Về biên chế được giao là 15 người, biên chế hiện có là 11 người, gồm 3 phòng: Phòng Nghiệp

vụ 1, Phòng Nghiệp vụ 2 và Phòng Tổng hợp - Hành chính Năm 2018, Thực hiện Nghị quyết số 18-NQ/TW ngày 25/10/2017 của Hội nghị lần thứ Sáu, Ban chấp hành Trung ương Đảng khóa XII về Một sổ vấn đề về tiếp tục đổi mới, sắp xếp tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả; Kế hoạch hành động số 120-KH/TU ngày 19/3/2018 của Tỉnh ủy Gia Lai về thực hiện

Nghị quyết lần thứ Sáu, Ban Chấp hành Trung ương Đảng (Khóa XII) “Một số vấn

đề về tiếp tục đổi mới, sắp xếp tổ chức bộ mảy của hệ thống chính trị tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả”, ngày 28/12/2018, Ủy ban nhân dân tỉnh Gia Lai có Quyết

định số 658/QĐ-UBND về chuyển Ban Thi đua – Khen thưởng từ trực thuộc Sở Nội vụ về trực thuộc Văn phòng Ủy ban nhân dân tỉnh Đến nay, Ban Thi đua – Khen thưởng tiếp tục được Văn phòng UBND tỉnh sắp xếp, tinh gọn theo hướng sáp nhập Phòng Hành chính – Tổng hợp về Phòng Hành chính – Quản trị của Văn phòng UBND tỉnh; luân chuyển một số công chức và tổ chức lại Ban Thi đua – Khen thưởng (tương đương chi cục) không có tổ chức phòng bên trong, với số công chức hiện có mặt là 07 người/ 14 biên chế được giao

Về cán bộ, công chức làm công tác thi đua, khen thưởng tại các cấp, các ngành: Ở các sở, ban, ngành, đoàn thể (61 đơn vị) có công chức kiêm nhiệm làm công tác thi đua, khen thưởng; Ở cấp huyện, 17/17 huyện, thị xã, thành phố bố trí

01 lãnh đạo Phòng Nội vụ kiêm phụ trách công tác thi đua, khen thưởng và 01 chuyên viên trực tiếp làm công tác thi đua, khen thưởng; ở cấp xã (222 xã, phường, thị trấn) bố trí công chức Văn phòng - thống kê kiêm làm công tác thi đua, khen thưởng

Trang 33

Nhìn chung, đội ngũ cán bộ, công chức làm công tác thi đua, khen thưởng đa

số là trẻ, có trình độ chuyên môn đào tạo phù hợp với công việc đang đảm nhiệm, luôn nêu cao tinh thần trách nhiệm, ý thức tổ chức kỷ luật tốt, có phẩm chất đạo đức tốt, kỹ năng làm việc, có tính sáng tạo và chịu khó học hỏi trong công việc, thực hiện tốt nhiệm vụ được giao Ban Thi đua - Khen thưởng tỉnh hàng năm đều tổ chức tập huấn triến khai các chuyên đề và các quy định pháp luật mới về thi đua, khen thưởng cho công chức chuyên trách, kiêm nhiệm làm công tác thi đua, khen thưởng trên địa bàn tỉnh Tuy nhiên, công tác thi đua, khen thưởng hiện nay vẫn là một nhiệm vụ khó, phức tạp, đổi mới liên tục; song đội ngũ công chức làm công tác thi đua, khen thưởng thường xuyên thay đổi, kinh nghiệm tích luỹ chưa nhiều, cần được tập huấn, bồi dưỡng để không ngừng nâng cao về chuyên môn, nghiệp vụ, kinh nghiệm thực tiễn và khả năng dự báo xử lý các vấn đề nảy sinh có tính chất phức tạp trong công tác

Hoạt động của Hội đồng Thi đua - Khen thưởng các cấp đã được củng cố kiện toàn theo Nghị định số 91/2017/NĐ-CP ngày 31 tháng 7 năm 2017 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật thi đua, khen thưởng; có quy chế hoạt động; trong thực hiện nhiệm vụ có phân công, phân nhiệm cụ thể, rõ ràng

và thực hiện có kết quả việc kiểm tra, đôn đốc, hướng dẫn các đơn vị, địa phương, các cụm, khối thi đua trong tỉnh duy trì tốt hoạt động; trong hoạt động của Hội đồng

có nhiều đổi mới, từng bước nâng cao chất lượng; công tác phối hợp giữa các sở, ngành, địa phương trong chỉ đạo tổ chức phong trào thi đua trên tất cả các lĩnh vực kinh tế, văn hóa - xã hội, quốc phòng - an ninh ngày càng được tăng cường Hội đồng các cấp đã thực hiện tốt chức năng là tổ chức tư vấn, tham mưu cho cấp ủy, chính quyền và Thủ trưởng các cơ quan, đơn vị trong xét, đề nghị các danh hiệu thi đua và các hình thức khen thưởng của cơ quan, đơn vị, nhất là trong công tác tham mưu chỉ đạo phong trào thi đua; quan tâm xem xét, đề nghị khen thưởng những người lao động trực tiếp, người có nhiều cống hiến…

Các cụm, khối thi đua của tỉnh tiếp tục duy trì và hoạt động ổn định, có hiệu quả; việc tổ chức đăng ký, ký kết giao ước thi đua của từng cụm, khối được thực

Trang 34

hiện nghiêm túc Qua hoạt động cụm, khối thi đua đã tạo điều kiện cho các co quan, đon vị, địa phương, doanh nghiệp trao đổi, phổ biến, học tập các mô hình, hỗ trợ nhau cùng phát then; các nhân tố mới trong phong trào thi đua được tôn vinh, phát huy tác dụng nêu gương, học tập Việc đánh giá, tổng kết thi đua, khen thưởng, bình xét suy tôn đảm bảo được tính công khai, dân chủ, đúng thành tích, nhờ đó góp phần tích cực vào việc thực hiện thắng lợi các chỉ tiêu kế hoạch của ngành, đơn vị, địa phương

2.1.3 Chính sách, pháp luật hiện hành về khen thưởng cho người lao động trực tiếp

2.1.3.1 Về khen thưởng trong các văn bản của Đảng hiện nay

Từ năm 2014, Bộ Chính trị ban hành Chỉ thị số 34-CT/TW ngày 07/4/2014

về tiếp tục đổi mới công tác thi đua, khen thưởng, xác định mốt số nội dung về khen thưởng và khen thưởng cho người lao động trực tiếp Đó là:

Ðổi mới nội dung, hình thức, phương pháp tổ chức các phong trào thi đua yêu nước theo hướng: Tập trung về cơ sở, bám sát nhiệm vụ chính trị, nhiệm vụ trọng tâm, cấp bách để tổ chức phát động với các hình thức thi đua phong phú, hấp dẫn, có chủ đề, tên gọi dễ nhớ, có tiêu chí cụ thể, nội dung thiết thực, triển khai có hiệu quả, chống hình thức Thực hiện nghiêm túc việc đôn đốc, kiểm tra, sơ kết, tổng kết các phong trào thi đua, lựa chọn các tập thể, cá nhân có thành tích tiêu biểu

để biểu dương, tôn vinh, khen thưởng kịp thời Việc phát hiện, bồi dưỡng, tổng kết

và nhân điển hình tiên tiến phải được coi là nhiệm vụ trọng tâm trong đổi mới phương pháp tổ chức chỉ đạo các phong trào thi đua, bảo đảm thực hiện đồng bộ ở

cả bốn khâu: phát hiện, bồi dưỡng, tổng kết và nhân điển hình tiên tiến Quan tâm tạo điều kiện để các điển hình tiên tiến được tuyên truyền nêu gương, tạo sự lan tỏa trong cơ quan, đơn vị, bộ, ngành, địa phương

Thực hiện đổi mới công tác khen thưởng bảo đảm chính xác, kịp thời, công khai, minh bạch; coi trọng việc phát hiện, lựa chọn các tập thể và cá nhân có thành tích xuất sắc để khen thưởng Ðề cao vai trò, trách nhiệm của người đứng đầu trong việc phát hiện những điển hình tiên tiến để khen thưởng và đề nghị cấp có thẩm

Trang 35

quyền khen thưởng Chú trọng khen thưởng tập thể nhỏ, công nhân, nông dân, người lao động trực tiếp sản xuất, kinh doanh, cán bộ, chiến sĩ các lực lượng vũ trang, dân quân, tự vệ, công an xã, bảo vệ dân phố, dân phòng, bảo vệ cơ quan, doanh nghiệp Quan tâm khen thưởng cơ sở, vùng sâu, vùng xa, vùng biên giới, hải đảo và vùng dân tộc thiểu số Tập trung giải quyết dứt điểm việc khen thưởng thành tích trong các cuộc kháng chiến và thực hiện chế độ, chính sách đối với các đối tượng có công lao, thành tích, cống hiến trong các cuộc kháng chiến của dân tộc Chủ động xem xét, khen thưởng cho tập thể, cá nhân người nước ngoài có đóng góp lớn trong công cuộc xây dựng và phát triển kinh tế - xã hội, an ninh-quốc phòng của Việt Nam, có nhiều thành tích trong việc củng cố và phát triển mối quan hệ hữu nghị, hợp tác nhiều mặt giữa Việt Nam với các nước, các tổ chức quốc tế

2.1.3.2 Về khen thưởng, khen thưởng cho người lao động trực tiếp trong các văn bản quy phạm pháp luật hiện nay

Đến nay, Quốc hội đã ban hành Luật thi đua, khen thưởng năm 2003, Luật sửa đổi, bổ sung một số điều Luật thi đua, khen thưởng năm 2005 và năm 2013

Luật sửa đổi bổ sung một số điều của Luật Thi đua, khen thưởng năm 2013 tập trung sửa đổi, bổ sung về hệ thống tiêu chuẩn của danh hiệu thi đua, các hình thức khen thưởng và nâng cao tiêu chuẩn, đảm bảo chặt chẽ hơn trong thi đua và khen thưởng Luật quy định theo hướng không lấy danh hiệu thi đua làm căn cứ xét hình thức khen thưởng nhằm tránh việc tích lũy thành tích trong khen thưởng, đưa nguyên tắc bình đẳng vào trong việc xét khen thưởng Luật cũng bổ sung các tiêu chuẩn danh hiệu “Lao động tiên tiến”, “Huân chương Lao động” các hạng, Bằng khen, giấy khen đối với công nhân, nông dân, người lao động trực tiếp tại các điều

23, 42, 43, 44, 71, 72, 75, và quy định cụ thể trách nhiệm của người đứng đầu trong việc phát hiện và xây dựng điển hình tiên tiến là người lao động (được bổ sung vào khoản 4 Điều 83 Luật hiện hành)

Năm 2017, Chính phủ ban hành Nghị định số 91/2017/NĐ-CP ngày 31 tháng

7 năm 2017 quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật TĐKT Nghị định này

đã thay thế 03 Nghị định của Chính phủ: Nghị định số 42/2010/NĐ-CP ngày 15

Trang 36

tháng 4 năm 2010 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật thi đua, khen thưởng và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật thi đua, khen thưởng Bộ trưởng Bộ Nội vụ ban hành Thông tư số 08/2017/TT-BNV về hướng dẫn Nghị định 91/2017/NĐ-CP hướng dẫn Luật thi đua, khen thưởng

Luật sửa đổi, bổ sung Luật thi đua, khen thưởng năm 2013 và Nghị định

số 91/2017/NĐ-CP, đã có những điều khoản quy định cụ thể về tiêu chuẩn danh hiệu thi đua, hình thức khen thưởng cho công nhân, nông dân, người lao động

(2) Quy định riêng tiêu chuẩn tặng thưởng Huân chương Lao động các hạng, Bằng khen của Thủ tướng Chính phủ, Bằng khen cấp Bộ, ngành, tỉnh, đoàn thể Trung ương cho đối tượng là công nhân, nông dân người lao động, cụ thể :

a) Huân chương Lao động hạng nhất (khoản 2, điều 42 Luật thi đua, khen

thưởng): Công nhân, nông dân, người lao động có phát minh, sáng chế, sáng kiến được ứng dụng thực tiễn có hiệu quả được cấp bộ, ngành, tỉnh, đoàn thể trung ương công nhận

Khoản 2, điều 15, Nghị định số 91 quy định chi tiết thi hành luật quy định:

"Huân chương Lao động" hạng nhất để tặng cho công nhân, nông dân, người lao động gươngmẫu chấp hành tốt chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước… có phát minh, sáng chế, sáng kiến được ứng dụng trong thực tiễn mang lại hiệu quả và được cấp bộ, ngành, đoàn thể trung ương công nhận

- Đối với công nhân có 07 phát minh, sáng chế, sáng kiến mang lại lợi ích và

có đóng góp trong việc đào tạo, bồi dưỡng, giúp đỡ đồng nghiệp để nâng cao trình độ chuyên môn, tay nghề

Trang 37

- Đối với nông dân có phát minh, sáng chế, sáng kiến hoặc có mô hình sản xuất hiệu quả và ổn định từ 07 năm trở lên, giúp đỡ nhiều hộ nông dân thoát nghèo và tạo việc làm cho người lao động

b) Huân chương Lao động hạng nhì (khoản 1, điều 43 Luật thi đua, khen

thưởng): Công nhân, nông dân, người lao động có phát minh, sáng chế, sáng kiến được ứng dụng thực tiễn có hiệu quả được cấp tỉnh công nhận

Khoản 2, điều 16, Nghị định số 91 quy định chi tiết thi hành luật quy định:

"Huân chương Lao động" hạng nhì để tặng cho công nhân, nông dân, người lao động gươngmẫu chấp hành tốt chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước, có phát minh, sáng chế, sáng kiến đã được ứng dụng trong thực tiễn mang lại hiệu quả được cấp tỉnh công nhận

- Công nhân có 05 sáng kiến mang lại lợi ích và có đóng góp trong việc đào tạo, bồi dưỡng, giúp đỡ đồng nghiệp để nâng cao trình độ chuyên môn, tay nghề

- Nông dân có phát minh, sáng chế, sáng kiến hoặc có mô hình sản xuất hiệu quả và ổn định từ 05 năm trở lên và đã giúp đỡ các hộ nông dân khác xóa đói giảm nghèo và tạo việc làm cho người lao động

c) Huân chương Lao động hạng ba (Khoản 1, Điều 44 Luật thi đua, khen

thưởng): Công nhân, nông dân, người lao động có thành tích xuất sắc trong lao động sản xuất hoặc sáng kiến được ứng dụng hiệu quả được cấp huyện công nhận

Khoản 2, điều 17, Nghị định số 91 quy định chi tiết thi hành luật quy định:

"Huân chương Lao động" hạng ba để tặng cho công nhân, nông dân, người lao động gươngmẫu chấp hành tốt chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước, có sáng kiến đã được ứng dụng trong thực tiễn mang lại hiệu quả có phạm vi ảnh hưởng trong cấp huyện, được cấp huyện công nhận

- Đối với công nhân có 03 sáng kiến mang lại lợi ích và có đóng góp trong việc đào tạo, bồi dưỡng, giúp đỡ đồng nghiệp để nâng cao trình độ chuyên môn, tay nghề

- Đối với nông dân có sáng kiến hoặc có mô hình sản xuất hiệu quả và ổn định

từ 03 năm trở lên, giúp đỡ các hộ nông dân khác xóa đói giảm nghèo và tạo việc làm cho người lao động

Trang 38

d) Bằng khen của Thủ tướng Chính phủ (Khoản 1, Điều 71 Luật thi đua, khen

thưởng): Công nhân, nông dân, người lao động có nhiều thành tích ảnh hưởng trong

cấp huyện hoặc tương đương

Khoản 2, điều 23, Nghị định số 91 quy định chi tiết thi hành luật quy định:

“Bằng khen của Thủ tướng Chính phủ” tặng cho công nhân, nông dân, người lao động gương mẫu chấp hành tốt chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước, đạt một trong các tiêu chuẩn sau:

a) Lập được nhiều thành tích hoặc thành tích đột xuất trong trong lao động, sản xuất có phạm vi ảnh hưởng trong địa bàn cấp huyện

b) Đối với công nhân có từ 02 sáng kiến trở lên mang lại lợi ích và có đóng góp trong việc đào tạo, bồi dưỡng, giúp đỡ đồng nghiệp để nâng cao trình độ chuyên môn, tay nghề

c) Đối với nông dân có mô hình sản xuất hiệu quả và ổn định từ 02 năm trở lên, giúp đỡ hộ nông dân xóa đói giảm nghèo và tạo việc làm cho người lao động

e) Bằng khen cấp bộ, ngành, tỉnh, đoàn thể trung ương (Khoản 1 Điều 72):

Công nhân, nông dân, người lao động có nhiều thành tích ảnh hưởng trong cấp xã,

cơ quan đơn vị, tổ chức, doanh nghiệp, hợp tác xã

g) Giấy khen (Khoản 1, Điều 75): Hoàn thành tốt nghĩa vụ công dân, có

phẩm chất đạo đức tốt, đoàn kết, gương mẫu chấp hành tốt chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nươc

Ngoài các quy định riêng nêu trên, nếu công nhân, nông dân, người lao động đạt được thành tích theo quy định chung thì vẫn được khen thưởng như các đối tượng khác

+ Về nguyên tắc khen thưởng được quy định:

(1) Chính xác, công khai, công bằng, kịp thời; Một hình thức khen thưởng

có thể tặng nhiều lần cho một đối tượng; không tặng thưởng nhiều hình thức cho một thành tích đạt được; Bảo đảm thống nhất giữa tính chất, hình thức và đối tượng khen thưởng; Kết hợp chặt chẽ động viên tinh thần với khuyến khích bằng lợi ích vật chất

Trang 39

(2) Hình thức khen thưởng phải phù hợp với đối tượng, chức năng, nhiệm vụ được giao của tập thể, cá nhân và thành tích đạt được

(3) Khen thưởng phải căn cứ vào điều kiện, tiêu chuẩn và thành tích đạt được, không nhất thiết phải có hình thức khen thưởng mức thấp mới được khen thưởng mức cao hơn Chú trọng khen thưởng tập thể nhỏ và cá nhân là người trực tiếp lao động, sản xuất, học tập, công tác hoặc chiến đấu, phục vụ chiến đấu

Không xét tặng nhiều hình thức khen thưởng cho một thành tích đạt được Hình thức khen thưởng theo đợt, chuyên đề không tính làm điều kiện, tiêu chuẩn đề nghị khen thưởng cấp Nhà nước Khi có nhiều cá nhân, tập thể cùng đủ điều kiện, tiêu chuẩn thì lựa chọn cá nhân nữ hoặc tập thể có tỷ lệ nữ từ 70% trở lên để xét khen thưởng Đối với cán bộ lãnh đạo, quản lý là nữ thời gian giữ chức vụ để xét khen thưởng quá trình cống hiến được giảm 1/3 thời gian so với quy định chung; trường hợp quy định tuổi nghỉ hưu cao hơn thì thời gian giữ chức vụ để xét khen thưởng quá trình cống hiến được thực hiện theo quy định chung

+ Về Quy trình, thủ tục xét khen thưởng được quy định:

(1) Danh hiệu thi đua được bình xét và đề nghị từ đơn vị cơ sở thuộc cơ quan, đơn vị, tổ chức, doanh nghiệp, hợp tác xã Cấp quản lý về tổ chức, cán bộ, công chức, viên chức, người lao động hoặc người đứng đầu doanh nghiệp, hợp tác

xã, Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã có trách nhiệm xét tặng danh hiệu thi đua hoặc trình cấp trên xét tặng danh hiệu thi đua, khen thưởng hoặc trình cấp trên khen thưởng đối với các đối tượng thuộc phạm vi quản lý

(2) Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, Chánh án Tòa án nhân dân tối cao, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Chủ nhiệm Văn phòng Quốc hội, Chủ nhiệm Văn phòng Chủ tịch nước, Chánh Văn phòng Trung ương Đảng, Trưởng các Ban của Đảng và tương đương ở trung ương, Tổng Kiểm toán nhà nước, lãnh đạo cơ quan trung ương của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các đoàn thể, Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh xem xét, trình Thủ tướng Chính phủ để đề nghị Chủ tịch nước quyết định tặng thưởng huân chương, huy

Trang 40

chương, “Giải thưởng Hồ Chí Minh”, “Giải thưởng nhà nước”, danh hiệu vinh dự nhà nước

Chủ nhiệm Văn phòng Quốc hội trình khen thưởng huân chương, huy chương, danh hiệu vinh dự nhà nước cho đại biểu Quốc hội chuyên trách ở trung ương

(3) Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, Chánh

án Tòa án nhân dân tối cao, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Chủ nhiệm Văn phòng Quốc hội, Chủ nhiệm Văn phòng Chủ tịch nước, Chánh Văn phòng Trung ương Đảng, Trưởng các Ban của Đảng và tương đương ở trung ương, Tổng Kiểm toán nhà nước, lãnh đạo cơ quan trung ương của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các đoàn thể, Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh đề nghị Chính phủ quyết định tặng “Cờ thi đua của Chính phủ”; đề nghị Thủ tướng Chính phủ quyết định tặng “Bằng khen của Thủ tướng Chính phủ”, danh hiệu “Chiến sĩ thi đua toàn quốc”

(4) Người đứng đầu cấp có thẩm quyền chịu trách nhiệm về quyết định khen thưởng của cấp mình và việc trình cấp trên khen thưởng; có trách nhiệm phát hiện, xây dựng điển hình tiên tiến là công nhân, nông dân, người lao động ở các thành phần kinh tế để khen thưởng hoặc trình cấp trên khen thưởng

(5) Cơ quan chức năng về thi đua, khen thưởng tiếp nhận, xem xét, thẩm định hồ sơ và trình cấp có thẩm quyền quyết định việc khen thưởng

(6) Hồ sơ đề nghị xét khen thưởng gồm: a) Văn bản đề nghị khen thưởng; b) Báo cáo thành tích của cá nhân hoặc tập thể được đề nghị khen thưởng; c) Biên bản xét khen thưởng; d) Chứng nhận của cơ quan quản lý có thẩm quyền đối với phát minh, sáng chế, sáng kiến, ứng dụng tiến bộ khoa học, công nghệ hoặc sáng tác, sáng tạo Trường hợp đề nghị tặng huân chương, huy chương, danh hiệu vinh dự nhà nước, “Cờ thi đua của Chính phủ”, “Bằng khen của Thủ tướng Chính phủ” phải

có ý kiến của cơ quan, tổ chức ở trung ương có liên quan hoặc Ủy ban nhân dân cấp tỉnh

+ Về Thẩm quyền quyết định khen thưởng được quy định:

(1) Chủ tịch nước quyết định tặng huân chương, huy chương, “Giải thưởng

Hồ Chí Minh”, “Giải thưởng nhà nước”, danh hiệu vinh dự nhà nước

Ngày đăng: 25/11/2019, 15:31

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
2. Phạm Thu Thuỷ (2017), “Nâng cao chất lượng công tác khen thưởng cho người lao động trực tiếp ở nước ta hiện nay”, Đề tài cấp khoa học cấp Bộ, Ban Thi đua Khen thưởng Trung ương Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nâng cao chất lượng công tác khen thưởng cho người lao động trực tiếp ở nước ta hiện nay
Tác giả: Phạm Thu Thuỷ
Năm: 2017
3. Nguyễn Duy Gia (1998), “Chính sách công”, Đề tài khoa học, Học viện Hành chính quốc gia Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chính sách công
Tác giả: Nguyễn Duy Gia
Năm: 1998
4. Trần Thị Hà (2013), Cơ sở lý luận và thực tiễn đổi mới công tác thi đua, khen thưởng trong giai đoạn hiện nay, Đề tài khoa học độc lập cấp Nhà ước, Ban Thi đua Khen thưởng Trung ương Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cơ sở lý luận và thực tiễn đổi mới công tác thi đua, khen thưởng trong giai đoạn hiện nay
Tác giả: Trần Thị Hà
Năm: 2013
5. Trần Thị Hà (2013), “Diễn văn kỷ niệm ngày Chủ tịch Hồ Chí Minh ra lời kêu gọi thi đua ái quốc - Ngày truyền thống thi đua yêu nước (11/6/1948 - 11/6/2013)”, Tạp chí Thi đua-Khen thưởng Sách, tạp chí
Tiêu đề: Diễn văn kỷ niệm ngày Chủ tịch Hồ Chí Minh ra lời kêu gọi thi đua ái quốc - Ngày truyền thống thi đua yêu nước (11/6/1948 - 11/6/2013)"”
Tác giả: Trần Thị Hà
Năm: 2013
6. Nguyễn Hữu Hải (2014), Chính sách công - Những vấn đề cơ bản, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chính sách công - Những vấn đề cơ bản
Tác giả: Nguyễn Hữu Hải
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2014
7. Đỗ Phú Hải (2014), "Quá trình xây dựng chính sách công tại các nước đang phát triển", Tạp chí Tổ chức nhà nước, số 4, tr.37-42 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quá trình xây dựng chính sách công tại các nước đang phát triển
Tác giả: Đỗ Phú Hải
Năm: 2014
8. Đỗ Phú Hải (2012), “Quy trình chính sách công tại Việt Nam những vấn đề lý luận và thực tiễn”, Đề tài cấp cơ sở Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quy trình chính sách công tại Việt Nam những vấn đề lý luận và thực tiễn
Tác giả: Đỗ Phú Hải
Năm: 2012
9. Đỗ Phú Hải (2012), Giáo trình những vấn đề cơ bản của Chính sách công, Học viện Khoa học xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình những vấn đề cơ bản của Chính sách công
Tác giả: Đỗ Phú Hải
Năm: 2012
10. Đỗ Phú Hải (2013), Tập bài giảng Tổng quan về chính sách công, Học viện Khoa học xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tập bài giảng Tổng quan về chính sách công
Tác giả: Đỗ Phú Hải
Năm: 2013
11. Đỗ Phú Hải (2014), Khái niệm Chính sách công, Tạp chí Lý luận chính trị (số 02) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Khái niệm Chính sách công
Tác giả: Đỗ Phú Hải
Năm: 2014
12. Nguyễn Quốc Bảo (2014), “Đổi mới nâng cao chất lượng phong trào thi đua theo lời dạy của Hồ Chí Minh”, Tạp chí Lý luận Chính trị và Truyền thông, số tháng 2 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đổi mới nâng cao chất lượng phong trào thi đua theo lời dạy của Hồ Chí Minh”, "Tạp chí Lý luận Chính trị và Truyền thông
Tác giả: Nguyễn Quốc Bảo
Năm: 2014
13. Trương Quốc Bảo (2009), Vận dụng tư tưởng Hồ Chi Minh về thi đua yêu nước trong xây dựng và hoàn thiện pháp luật về thi đua-khen thưởng ở Việt Nam, Luận văn Thạc sĩ chuyên ngành Lý luận và lịch sử Nhà nước và pháp luật Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vận dụng tư tưởng Hồ Chi Minh về thi đua yêu nước trong xây dựng và hoàn thiện pháp luật về thi đua-khen thưởng ở Việt Nam
Tác giả: Trương Quốc Bảo
Năm: 2009
14. Nguyễn Thị Doan (2013), “Diễn văn kỷ niệm 65 năm ngày Chủ tịch Hồ Chí Minh ra lời kêu gọi thi đua ái quốc - Ngày truyền thống thi đua yêu nước (11/6/1948 - 11/6/2013)”, Tạp chí TĐKT, (12) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Diễn văn kỷ niệm 65 năm ngày Chủ tịch Hồ Chí Minh ra lời kêu gọi thi đua ái quốc - Ngày truyền thống thi đua yêu nước (11/6/1948 - 11/6/2013)”, Tạp chí TĐKT
Tác giả: Nguyễn Thị Doan
Năm: 2013
15. Nguyễn Khắc Hà (2013), “Tư tưởng Hồ Chí Minh về thi đua yêu nước”, Tạp chí Thông tin Khoa học Chính trị - Hành chính, Trung tâm Thông tin Khoa học, Học viện Chính trị - Hành chính Quốc gia Hồ Chí Minh, số 5 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tư tưởng Hồ Chí Minh về thi đua yêu nước”, "Tạp chí Thông tin Khoa học
Tác giả: Nguyễn Khắc Hà
Năm: 2013
16. Nguyễn Khắc Hà (2013), “Xây dựng đội ngũ cán bộ chuyên trách công tác TĐKT”, Tạp chí Xây dựng Đảng, (6) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Xây dựng đội ngũ cán bộ chuyên trách công tác TĐKT”, "Tạp chí Xây dựng Đảng
Tác giả: Nguyễn Khắc Hà
Năm: 2013
17. Nguyễn Khắc Hà (2013), “Một số giải pháp xây dựng đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý chuyên trách công tác TĐKT”, Tạp chí Lý luận Chính trị, (12) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số giải pháp xây dựng đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý chuyên trách công tác TĐKT"”, "Tạp chí Lý luận Chính trị
Tác giả: Nguyễn Khắc Hà
Năm: 2013
18. Nguyễn Xuân Hà (2009), “Pháp chế xã hội chủ nghĩa trong lĩnh vực thi đua - khen thưởng ở tỉnh Thanh Hoá hiện nay”, Luận văn thạc sĩ Lý luận và lịch sử nhà nước và pháp luật Sách, tạp chí
Tiêu đề: Pháp chế xã hội chủ nghĩa trong lĩnh vực thi đua - khen thưởng ở tỉnh Thanh Hoá hiện nay
Tác giả: Nguyễn Xuân Hà
Năm: 2009
19. Nguyễn Đức Hiếu (2016), Hoàn thiện công tác thi đua khen thưởng tại Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt nam, Luận văn thạc sỹ quản trị kinh doanh, Học viện Khoa học xã hội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hoàn thiện công tác thi đua khen thưởng tại Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt nam
Tác giả: Nguyễn Đức Hiếu
Năm: 2016
20. Hội đồng Thi đua, Khen thưởng Trung ương (2015), Kỷ yếu đại hội thi đua yêu nước toàn quốc lầ thứ IX, NXB Hà Nội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kỷ yếu đại hội thi đua yêu nước toàn quốc lầ thứ IX
Tác giả: Hội đồng Thi đua, Khen thưởng Trung ương
Nhà XB: NXB Hà Nội
Năm: 2015
22. Nguyễn Minh Mẫn (2010), Quy định của pháp luật về thi đua, khen thưởng và tổ chức làm công tác thi đua, khen thưởng, đề tài khoa học cấp Nhà nước, Bộ Nội vụ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quy định của pháp luật về thi đua, khen thưởng và tổ chức làm công tác thi đua, khen thưởng
Tác giả: Nguyễn Minh Mẫn
Năm: 2010

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm