1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Hoạt động giám sát của đoàn đại biểu quốc hội trong lĩnh vực giải quyết khiếu nại, tố cáo từ thực tiễn tỉnh đắk lắk

86 64 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 86
Dung lượng 902,78 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

các cơ quan, tổ chức có thẩm quyền trong việc giám sát đối với hoạt động giải quyết khiếu nại, tố cáo, trong đó có hoạt động giám sát của Đoàn đại biểu Quốc hội các địa phương; để góp ph

Trang 1

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM

HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

BÙI THANH VIỆT

HOẠT ĐỘNG GIÁM SÁT CỦA ĐOÀN ĐẠI BIỂU QUỐC HỘI TRONG LĨNH VỰC GIẢI QUYẾT KHIẾU NẠI, TỐ CÁO

TỪ THỰC TIỄN TỈNH ĐẮK LẮK

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC Chuyên ngành: Luật Hiến pháp và Luật Hành chính

Mã số: 8 38 01 02

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:

TS NGUYỄN VĂN THUẬN

ĐẮK LẮK - NĂM 2019

Trang 2

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan luận văn này là công trình nghiên cứu khoa học độc lập của cá nhân tôi

Nội dung cũng như các số liệu trình bày trong luận văn hoàn toàn trung thực Những kết luận khoa học của luận văn chưa từng được công bố trong bất kỳ các công trình nghiên cứu khoa học nào khác

Tác giả luận văn

Bùi Thanh Việt

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành đến Học viện khoa học xã hội, các quý Thầy Cô đã trang bị tri thức cho tôi, tạo môi trường thuận lợi, điều kiện tốt nhất trong suốt quá trình học tập và thực hiện luận văn này

Với lòng kính trọng và biết ơn, tôi xin được bày tỏ lời cảm ơn chân thành tới TS Nguyễn Văn Thuận đã khuyến khích, chỉ dẫn tận tình cho tôi trong suốt thời gian thực hiện nghiên cứu này

Tôi xin gửi lời cảm ơn sâu sắc đến gia đình và những người bạn đã động viên, hỗ trợ tôi rất nhiều trong suốt quá trình học tập, làm việc và hoàn thành luận văn

Tác giả luận văn

Bùi Thanh Việt

Trang 4

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

1 Tính cấp thiết của đề tài 1

2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài 2

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 4

3.1 Mục đích 4

3.2 Nhiệm vụ 5

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 5

4.1 Đối tượng nghiên cứu 5

4.2 Phạm vi nghiên cứu 5

5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu 6

5.1 Cơ sở lý luận 6

5.2 Phương pháp nghiên cứu 6

6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn 7

7 Kết cấu của luận văn 7

Chương 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ HOẠT ĐỘNG GIÁM SÁT CỦA ĐOÀN ĐẠI BIỂU QUỐC HỘI TRONG LĨNH VỰC GIẢI QUYẾT KHIẾU NẠI, TỐ CÁO 8

1.1 Một số khái niệm liên quan 8

1.1.1 Giám sát 8

1.1.2 Giám sát của Quốc hội 8

1.1.3 Giám sát của Đoàn đại biểu Quốc hội 9

1.1.4 Khiếu nại, đơn khiếu nại 10

1.1.5 Tố cáo, đơn tố cáo 11

1.1.6 Xử lý đơn 12

1.1.7 Giải quyết khiếu nại 12

Trang 5

1.1.8 Giải quyết tố cáo 13

1.2 Vai trò giám sát của Đoàn đại biểu Quốc hội trong lĩnh vực giải quyết khiếu nại, tố cáo 13

1.3 Hình thức, nội dung hoạt động giám sát của Đoàn đại biểu Quốc hội trong lĩnh vực giải quyết khiếu nại, tố cáo 15

1.3.1 Hình thức giám sát của Đoàn đại biểu Quốc hội trong lĩnh vực giải quyết khiếu nại, tố cáo 15

1.3.2 Nội dung giám sát của Đoàn đại biểu Quốc hội trong lĩnh vực giải quyết khiếu nại, tố cáo 17

1.4 Các yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động giám sát của Đoàn đại biểu Quốc hội trong lĩnh vực giải quyết khiếu nại, tố cáo 18

1.4.1 Sự lãnh đạo của các cấp ủy Đảng 19

1.4.2 Mức độ hoàn thiện của hệ thống pháp luật về hoạt động giám sát; giám sát việc giải quyết khiếu nại, tố cáo 19

1.4.3 Cơ chế bảo đảm thực hiện kết luận, kiến nghị giám sát trong lĩnh vực giải quyết khiếu nại, tố cáo 20

1.4.4 Nhận thức về hoạt động giám sát của Đoàn đại biểu Quốc hội trong lĩnh vực giải quyết khiếu nại, tố cáo 21

1.4.5 Bản lĩnh, năng lực và kỹ năng giám sát của đại biểu Quốc hội 23

1.4.6 Cơ quan (bộ phận) tham mưu, giúp việc và kinh phí 24

Tiểu kết Chương 1 25

CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG GIÁM SÁT CỦA ĐOÀN ĐẠI BIỂU QUỐC HỘI TỈNH ĐẮK LẮK TRONG LĨNH VỰC GIẢI QUYẾT KHIẾU NẠI, TỐ CÁO 26

2.1 Khái quát về cơ cấu, tổ chức của Đoàn đại biểu Quốc hội tỉnh Đắk Lắk 26

2.2 Kết quả giám sát của Đoàn đại biểu Quốc hội tỉnh Đắk Lắk trong lĩnh vực giải quyết khiếu nại, tố cáo từ năm 2015 đến tháng 8/2019 29

Trang 6

2.2.1 Giám sát thông qua tiếp công dân của đại biểu Quốc hội 29

2.2.2 Giám sát về giải quyết khiếu nại, tố cáo thông qua đơn khiếu nại, tố cáo gửi đến Đoàn đại biểu Quốc hội 31

2.2.3 Giám sát chuyên đề của Đoàn đại biểu Quốc hội trong lĩnh vực giải quyết khiếu nại, tố cáo 32

2.2.4 Tổ chức để đại biểu Quốc hội trong Đoàn đại biểu Quốc hội thực hiện giám sát 33

2.3 Đánh giá kết quả hoạt động giám sát của Đoàn đại biểu Quốc hội trong lĩnh vực giải quyết khiếu nại, tố cáo từ thực tiễn tỉnh Đắk Lắk 34

2.3.1 Kết quả đạt được 34

2.3.2 Hạn chế, bất cập 37

2.3.3 Nguyên nhân 41

Tiểu kết Chương 2 44

Chương 3: PHƯƠNG HƯỚNG, GIẢI PHÁP ĐẢM BẢO HOẠT ĐỘNG GIÁM SÁT CỦA ĐOÀN ĐẠI BIỂU QUỐC HỘI TRONG LĨNH VỰC GIẢI QUYẾT KHIẾU NẠI, TỐ CÁOTỪ THỰC TIỄN TỈNH ĐẮK LẮK 45

3.1 Phương hướng nâng cao hiệu quả hoạt động giám sát của Đoàn đại biểu Quốc hội trong lĩnh vực giải quyết khiếu nại, tố cáo 45

3.2 Giải pháp nâng cao chất lượng hoạt động giám sát của Đoàn đại biểu Quốc hội trong lĩnh vực giải quyết khiếu nại, tố cáo 49

3.2.1 Nhóm giải pháp chung 51

3.2.2 Nhóm giải pháp đối với Đoàn đại biểu Quốc hội tỉnh Đắk Lắk 62

Tiểu kết Chương 3 71

KẾT LUẬN 72

TÀI LIỆU THAM KHẢO 74

Trang 7

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

VBQPPL Văn bản quy phạm pháp luật

QHXH

QPPL

Quan hệ xã hội Quy phạm pháp luật

Trang 8

DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 2.1 Số lượng, thành phần ĐBQH thuộc Đoàn ĐBQH tỉnh Đắk Lắk khóa XIII và XIV 27Bảng 2.2 Cơ cấu, trình độ học vấn của ĐBQH thuộc Đoàn ĐBQH tỉnh Đắk Lắk khóa XIII và XIV 28Bảng 2.3 Kết quả tiếp công dân, tiếp nhận đơn khiếu nại, tố cáo tại buổi tiếp công dân của Đoàn ĐBQH tỉnh Đắk Lắk khóa XIII và XIV 30Bảng 2.4 Kết quả tiếp nhận đơn khiếu nại, tố cáo của Đoàn ĐBQH tỉnh Đắk Lắk khóa XIII và XIV 31

Trang 9

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Khiếu nại, tố cáo là quyền của công dân; giải quyết khiếu nại, tố cáo

là trách nhiệm của cá nhân, tổ chức, cơ quan nhà nước có thẩm quyền Thực

tế cho thấy, việc xem xét, giải quyết khiếu nại, tố cáo của cá nhân, cơ quan, tổ chức có thẩm quyền mặc dù đã có nhiều cố gắng, quan tâm thực hiện nhưng vẫn còn hạn chế, bất cập; nhiều vụ việc còn vi phạm về thời gian giải quyết, chưa tuân thủ về trình tự, thủ tục giải quyết khiếu nại, tố cáo; một số vụ việc giải quyết thiếu thuyết phục, gây bức xúc đối với người dân Mặt khác, khiếu nại, tố cáo diễn ra trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội, nên có trường hợp cơ chế chính sách lạc hậu, chế định pháp luật chưa kịp thời điều chỉnh các quan hệ phát sinh trong lĩnh vực khiếu nại, tố cáo; nhận thức của người dân về pháp luật khiếu nại, tố cáo có lúc cũng chưa thật sự đầy đủ, đúng đắn; năng lực chuyên môn, kỷ năng thực thi chức trách nhiệm vụ của một bộ phận công chức trực tiếp tham mưu trong lĩnh vực giải quyết khiếu nại, tố cáo cũng còn hạn chế; trách nhiệm của người đứng đầu chính quyền các cấp ở cơ sở trong việc tiếp dân, giải quyết khiếu nại, tố cáo có lúc, có nơi chưa được quan tâm đúng mức Bên cạnh đó, năng lực, kỹ năng giám sát của đại biểu Quốc hội trong lĩnh vực giải quyết khiếu nại, tố cáo chưa đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ; hoạt động giám sát của Đoàn đại biểu Quốc hội trong lĩnh vực này cũng chưa được quan tâm đúng mức, hiệu quả chưa cao Do đó, vẫn còn nhiều trường hợp khiếu nai, tố cáo kéo dài nhiều năm nhưng chưa được giải quyết dứt điểm, nhiều vụ việc khiếu nại đông người, vượt cấp tạo dư luận không tốt trong nhân dân, ảnh hưởng đến uy tín của cấp ủy Đảng, gây khó khăn cho chính quyền cơ sở trong quản lý xã hội, có trường hợp quyền và lợi ích của người dân bị xâm phạm

Để khắc phục những bất cập, hạn chế nêu trên, cần có sự tham gia của

Trang 10

các cơ quan, tổ chức có thẩm quyền trong việc giám sát đối với hoạt động giải quyết khiếu nại, tố cáo, trong đó có hoạt động giám sát của Đoàn đại biểu Quốc hội các địa phương; để góp phần tiếp tục hoàn thiện thể chế, nâng cao trách nhiệm của chính quyền các cấp, sớm giải quyết dứt điểm các vụ việc khiếu nại, tố cáo không để kéo dài, khiếu nại đông người, vượt cấp…bảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp của cá nhân, cơ quan, tổ chức, đồng thời nâng cao chất lượng giám sát của Đoàn đại biểu Quốc hội trong lĩnh vực này, học viên

chọn đề tài: “Hoạt động giám sát của Đoàn đại biểu Quốc hội trong lĩnh

vực giải quyết khiếu nại, tố cáo từ thực tiễn tỉnh Đắk Lắk” làm đề tài luận

văn thạc sĩ, ngành Luật Hiến pháp và Luật Hành chính

2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài

Liên quan đến đề tài luận văn, đã có nhiều công trình, đề án, tài liệu nghiên cứu khoa học cũng như các bài viết trên sách, tạp chí, kỷ yếu hội thảo khoa học được công bố ở những mức độ, nội dung nghiên cứu khác nhau Có thể kể đến như:

- Các công trình nghiên cứu Hoạt động giám sát của cơ quan dân cử ở

Việt Nam vấn đề và giải pháp, TS Nguyễn Sỹ Dũng và PGS.TS Vũ Công Giao, Văn phòng Quốc hội, Viện Chính sách công và Pháp luật; Hoàn thiện

cơ chế pháp lý đảm bảo chức năng giám sát của Quốc hội nước CHXHCN Việt Nam [7]; Trương Thị Hồng Hà, Luận án tiến sĩ luật học, Viện Nhà nước

và Pháp luật - Viện Hàn lâm khoa học xã hội Việt Nam [15]; Kỹ năng giám sát của ĐBQH, Trung tâm bồi dưỡng đại biểu dân cử - Ban Công tác đại biểu

thuộc Ủy ban Thường vụ Quốc hội; Tiếp tục đổi mới hoạt động giám sát của Quốc hội từ thực tiễn Quốc hội khóa XII, Đinh Xuân Thảo đã trình bày

những vấn đề lý luận và thực tiễn về kỹ năng giám sát của ĐBQH; phân tích, đánh giá thực trạng hoạt động giám sát của Quốc hội Việt Nam hiện nay trên một số lĩnh vực cụ thể Từ đó, đưa ra những kiến nghị nhằm nâng cao hoạt

Trang 11

động giám sát của Quốc hội [35]

- Nguyễn Đức Hiền, Cẩm nang về công tác tiếp công dân, xử lý đơn thư khiếu nại, tố cáo của công dân, Ủy ban Thường vụ Quốc hội, Trưởng Ban Dân nguyện [16]; Phạm Văn Kỳ, Về quyền giám sát tối cao của Quốc hội đã

tập trung làm sáng tỏ nội hàm của khái niệm quyền giám sát tối cao của Quốc hội, đối tượng của quyền giám sát tối cao, các phương thức giám sát cũng như

thực trạng của hoạt động giám sát [20, tr.12]

- Đoàn ĐBQH tỉnh Đắk Lắk, Kỷ yếu của Đoàn ĐBQH tỉnh Đắk Lắk

khóa XII đã khái quát được những hoạt động trọng tâm, nổi bật đã đạt được

của ĐBQH và Đoàn ĐBQH tỉnh Đắk Lắk khóa XII (giai đoạn 2007 - 2011), trong đó có hoạt động giám sát [10]

- Nguyễn Đình Sỹ, Luận văn thạc sĩ, Hoạt động giám sát của Đoàn

ĐBQH tỉnh Đắk Lắk đề tài nghiên cứu này đã làm rõ những vấn đề lý luận và

thực tiễn hoạt động giám sát của ĐBQH và Đoàn ĐBQH ở nước ta hiện nay; đánh giá thực trạng và đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động giám sát của các Đoàn ĐBQH ở nước ta trong những năm tới [34]

- Ủy ban Thường vụ Quốc hội, Quốc hội nước CHXHCN Việt Nam -

Kế thừa, đổi mới và phát triển [45]; Đặng Văn Chiến (Chủ biên), (2013) Quy trình, thủ tục hoạt động của Quốc hội đã khái quát về quyền giám sát tối cao

của Quốc hội, trình bày một số vấn đề cần tiếp tục kế thừa, đổi mới, phát triển trong hoạt động giám sát của Quốc hội khóa XIV và các khóa tiếp theo [5]

- Ủy ban Thường vụ Quốc hội, Quốc hội Việt Nam - 70 năm hình

thành và phát triển 1946 - 2016; Võ Khánh Vinh (2003), Giám sát và cơ chế giám sát việc thực hiện quyền lực nhà nước, NXB Công an nhân dân, Hà Nội

[49]

- Phan Văn Ngọc (2009), Hiệu quả hoạt động giám sát tối cao - cách tiếp cận và các tiêu chí đánh giá, Hội thảo khoa học “Thực trạng và Giải pháp

Trang 12

nâng cao chất lượng, hiệu lực, hiệu quả hoạt động của Quốc hội” do Văn phòng Quốc hội chủ trì thực hiện[24]

- Ủy ban Thường vụ Quốc hội (2015), Kỷ yếu Hội thảo “Quốc hội

Việt Nam - 70 năm hình thành và phát triển 1946 - 2016”, NXB Chính trị Quốc gia - Sự thật, Hà Nội, đã đề cập đến chức năng lập pháp và giám sát của Quốc hội; phân tích và đưa ra các giải pháp nhằm nâng cao vai trò, chất lượng hoạt động cũng như tăng cường hiệu lực, hiệu quả hoạt động giám sát của Quốc hội [41]

Bên cạnh đó, còn có rất nhiều các công trình nghiên cứu được đăng trên các tạp chí chuyên ngành và báo cáo tại các hội nghị, hội thảo đề cập đến vấn đề hoạt động giám sát của Đoàn ĐBQH nói chung, giám sát về giải quyết KNTC nói riêng Các quan điểm và kết quả nghiên cứu này là những gợi mở cần thiết để tác giả trình bày rõ hơn về vấn đề hoạt động giám sát của Đoàn ĐBQH trong lĩnh vực giải quyết KNTC Các công trình khoa học được đề cập trên đây, xét ở mức độ khác nhau đều liên quan đến nội dung nghiên cứu của luận văn Song cho đến nay, các công trình nghiên cứu chỉ tập trung về hoạt động giám sát tối cao của Quốc hội, UBTVQH, HĐDT, các Ủy ban của Quốc hội và Đoàn ĐBQH mà không đi sâu nghiên cứu một cách toàn diện và đầy

đủ hoạt động giám sát của Đoàn ĐBQH trong lĩnh vực giải quyết KNTC từ thực tiễn hoạt động giám sát về giải quyết KNTC của Đoàn ĐBQH tỉnh Đắk Lắk Mặc dù vậy, những kết quả nghiên cứu này là các tài liệu giá trị, bổ ích,

có nhiều gợi ý cho tác giả có thể tham khảo, vận dụng và so sánh trong quá trình nghiên cứu giải quyết mục đích, yêu cầu và nhiệm vụ của luận văn

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

3.1 Mục đích

Nghiên cứu về hoạt động giám sát của Đoàn ĐBQH trong lĩnh vực giải quyết KNTC theo quy định của pháp luật hiện hành; đánh giá tình hình

Trang 13

thực hiện hoạt động giám sát về giải quyết KNTC thông qua thực tiễn của Đoàn ĐBQH tỉnh Đắk Lắk Từ đó, đề xuất các giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động giám sát của Đoàn ĐBQH trong lĩnh vực giải quyết KNTC nói chung và của Đoàn ĐBQH tỉnh Đắk Lắk nói riêng

3.2 Nhiệm vụ

- Hệ thống hóa những vấn đề lý luận và quy định của pháp luật hiện

hành về Đoàn ĐBQH trong tổ chức bộ máy của Quốc hội và hoạt động giám sát về việc giải quyết KNTC của Đoàn ĐBQH trong hệ thống pháp luật Việt

Nam

- Phân tích, đánh giá thực tiễn hoạt động giám sát của Đoàn ĐBQH

tỉnh Đắk Lắk trong lĩnh vực giải quyết KNTC (giai đoạn từ năm 2015 đến tháng 8/2019) thông qua các nội dung giám sát được trình bày cụ thể; trên cơ

sở hệ thống các tiêu chí đặt ra, đánh giá kết quả đạt được, bất cập, hạn chế và nguyên nhân bất cập, hạn chế đối với hoạt động giám sát của Đoàn ĐBQH trong lĩnh vực giải quyết KNTC tại địa phương

- Đề xuất phương hướng, giải pháp nâng cao hoạt động giám sát của

Đoàn ĐBQH trong lĩnh vực giải quyết KNTC nói chung và Đoàn ĐBQH tỉnh Đắk Lắk nói riêng

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

4.1 Đối tượng nghiên cứu

Quy định của pháp luật hiện hành về tổ chức và hoạt động giám sát của Đoàn ĐBQH trong lĩnh vực giải quyết khiếu nại, tố cáo và việc thực hiện hoạt động giám sát về giải quyết khiếu nại, tố cáo trong thực tiễn tại Đoàn ĐBQH tỉnh Đắk Lắk (giai đoạn từ năm 2015 đến tháng 8/2019)

4.2 Phạm vi nghiên cứu

- Phạm vi không gian: Đoàn ĐBQH tỉnh Đắk Lắk

- Phạm vi thời gian: Giai đoạn từ năm 2015 đến tháng 8/2019

Trang 14

- Phạm vi nội dung: Hoạt động giám sát của Đoàn ĐBQH trong lĩnh

vực giải quyết khiếu nại, tố cáo

5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu

5.1 Cơ sở lý luận

Luận văn được thực hiện dựa trên cơ sở quan điểm của chủ nghĩa Mác

- Lênin; tư tưởng Hồ Chí Minh; các quan điểm, đường lối đổi mới của Đảng;

chính sách, pháp luật của Nhà nước ta về xây dựng, hoàn thiện và phát huy hiệu quả hoạt động giám sát trong lĩnh vực giải quyết KNTC của ĐBQH, Đoàn ĐBQH

5.2 Phương pháp nghiên cứu

- Phương pháp tổng hợp, phân tích: Tra cứu, tổng hợp nội dung các

báo cáo, nghiên cứu các tài liệu, bài viết của các chuyên gia, các công trình nghiên cứu khoa học liên quan đến hoạt động giám sát về giải quyết KNTC của UBTVQH, HĐDT, các Ủy ban của Quốc hội, Đoàn ĐBQH và ĐBQH Từ

đó, cung cấp cơ sở lý luận cho việc tiến hành phân tích, đề xuất giải pháp nhằm nâng cao chất lượng hoạt động giám sát của Đoàn ĐBQH trong lĩnh vực giải quyết KNTC

- Phương pháp nghiên cứu tài liệu: Nghiên cứu các văn bản pháp luật

hiện hành có liên quan đến hoạt động giám sát, giám sát về giải quyết KNTC của UBTVQH, HĐDT, các Ủy ban của Quốc hội, Đoàn ĐBQH và ĐBQH; các đề tài khoa học, chương trình, dự án, công trình nghiên cứu khoa học, bài báo đăng trên các tạp chí khoa học chuyên ngành

- Phương pháp thống kê: Chủ yếu sử dụng tại Chương 2 của luận văn

Các số liệu thu thập được tổng hợp, phân tích làm cơ sở đánh giá thực trạng của địa phương; qua đó, đánh giá kết quả đạt được, bất cập, hạn chế và nguyên nhân để đưa ra những phương hướng, giải pháp giải quyết vấn đề một cách cụ thể, khoa học

Trang 15

6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn

- Về mặt lý luận: Luận văn góp phần hoàn thiện cơ sở lý luận và pháp

luật về hoạt động giám sát của Đoàn ĐBQH trong lĩnh vực giải quyết KNTC; giúp Đoàn ĐBQH tỉnh Đắk Lắk xây dựng chương trình giám sát về giải quyết KNTC tại địa phương được thuận lợi, khoa học hơn; lựa chọn phương pháp,

tổ chức thực hiện đảm bảo chất lượng, hiệu quả hoạt động giám sát nói chung

và hoạt động giám sát trong lĩnh vực giải quyết KNTC nói riêng trên địa bàn tỉnh

- Về mặt thực tiễn: Luận văn có thể dùng làm tài liệu tham khảo cho

cán bộ, công chức đảm nhiệm công tác tham mưu, giúp việc cho ĐBQH và Đoàn ĐBQH; đi sâu tìm hiểu, nâng cao trình độ, năng lực và kỹ năng phục vụ hoạt động giám sát về giải quyết KNTC của mình Ngoài ra, kết quả của luận văn còn là tài liệu tham khảo hữu ích cho những ai quan tâm đến các vấn đề liên quan đến tổ chức, hoạt động giám sát về giải quyết KNTC của Đoàn ĐBQH

7 Kết cấu của luận văn

Luận văn gồm 03 phần: Phần mở đầu, phần nội dung và phần kết luận Trong đó, phần nội dung gồm 03 chương:

Chương 1: Những vấn đề lý luận về hoạt động giám sát của Đoàn đại biểu Quốc hội trong lĩnh vực giải quyết KNTC

Chương 2: Thực trạng hoạt động giám sát của Đoàn đại biểu Quốc hội tỉnh Đắk Lắk trong lĩnh vực giải quyết khiếu nại, tố cáo

Chương 3: Phương hướng, giải pháp bảo đảm hoạt động giám sát của Đoàn đại biểu Quốc hội trong lĩnh vực giải quyết KNTC từ thực tiễn tỉnh Đắk

Lắk

Trang 16

Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ HOẠT ĐỘNG

GIÁM SÁT CỦA ĐOÀN ĐẠI BIỂU QUỐC HỘI

TRONG LĨNH VỰC GIẢI QUYẾT KHIẾU NẠI, TỐ CÁO 1.1 Một số khái niệm liên quan

1.1.1 Giám sát

“Giám sát” nguyên gốc là từ Hán - Việt, có nghĩa là: “xem xét và bàn bạc”.Nhiều cách giải nghĩa đối với khái niệm về “giám sát” Theo Từ điển tiếng Việt, “giám sát là theo dõi, kiểm tra việc thực thi nhiệm vụ”[26, tr.9]

Từ điển bách khoa toàn thư tiếng Việt, thì:“Giám sát là một hình thức hoạt động của cơ quan nhà nước hoặc tổ chức xã hội nhằm bảo đảm pháp chế hoặc sự chấp hành những quy tắc chung nào đó”[51] Và theo Từ điển Luật học: “Giám sát là sự theo dõi, quan sát hoạt động mang tính chủ động thường xuyên, liên tục và sẵn sàng tác động bằng các biện pháp tích cực để buộc và hướng hoạt động của đối tượng chịu sự giám sát đi đúng quỹ đạo, quy chế, nhằm đạt được mục đích, hiệu quả đã định từ trước, đảm bảo cho pháp luật được tuân theo nghiêm chỉnh” Nếu nhìn từ góc độ thực thi quyền lực nhà nước, “giám sát” được hiểu là sự theo dõi, kiểm tra đối với việc thực

thi quyền lực nhà nước của cá nhân, cơ quan có thẩm quyền theo quy định của pháp luật và Khoản 1 Điều 2 Luật Hoạt động giám sát của Quốc hội và

HĐND (năm 2015) ghi nhận khái niệm giám sát là "việc chủ thể giám sát theo dõi, xem xét, đánh giá hoạt động của cơ quan, tổ chức, cá nhân chịu sự giám sát trong việc tuân theo Hiến pháp và pháp luật về việc thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của mình, xử lý theo thẩm quyền hoặc yêu cầu, kiến nghị cơ quan

có thẩm quyền xử lý" [29, tr.8]

1.1.2 Giám sát của Quốc hội

Theo quy định tại Khoản 5 Điều 2 Luật Hoạt động giám sát của Quốc

Trang 17

hội và Hội đồng nhân dân (năm 2015), giám sát của Quốc hội bao gồm: "giám sát tối cao của Quốc hội, giám sát của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, giám sát của Hội đồng dân tộc, các Ủy ban của Quốc hội, Đoàn đại biểu Quốc hội và Đại biểu Quốc hội" [29, tr.9] Theo đó, giám sát của Quốc hội được hiểu là

tổng hợp các hoạt động giám sát của các chủ thể: Ủy ban Thường vụ Quốc hội, Hội đồng dân tộc, các Ủy ban của Quốc hội, Đoàn đại biểu Quốc hội, ĐBQH và hoạt động giám sát tối cao của Quốc hội

1.1.3 Giám sát của Đoàn đại biểu Quốc hội

Giám sát của Đoàn đại biểu Quốc hội là một trong những chức năng, nhiệm vụ của Đoàn ĐBQH, được thể hiện thông qua giám sát chuyên đề việc thi hành pháp luật tại địa phương; giám sát việc giải quyết khiếu nại, tố cáo, kiến nghị của công dân mà đại biểu Quốc hội, Đoàn đại biểu Quốc hội đã chuyển đến cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền giải quyết; phân công đại biểu Quốc hội trong Đoàn tham gia Đoàn giám sát của Quốc hội, Ủy ban Thường vụ Quốc hội, Hội đồng dân tộc, Ủy ban của Quốc hội tại địa phương khi có yêu cầu Đặc biệt là việc tổ chức để đại biểu Quốc hội trong Đoàn đại biểu Quốc hội thực hiện giám sát tại địa phương Từ khái niệm chung và khái niệm theo pháp luật hiện hành về hoạt động giám sát, có thể khái quát hoạt

động giám sát của Đoàn đại biểu Quốc hội như sau: “Hoạt động giám sát của Đoàn đại biểu Quốc hội là việc Đoàn đại biểu Quốc hội tổ chức hoạt động giám sát của Đoàn và tổ chức để đại biểu Quốc hội trong Đoàn giám sát việc thi hành pháp luật tại địa phương; giám sát văn bản quy phạm pháp luật của Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương; giám sát việc giải quyết khiếu nại, tố cáo của công dân và tham gia Đoàn giám sát của Quốc hội, Ủy ban Thường vụ Quốc hội, Hội đồng dân tộc, Ủy ban của Quốc hội tại địa phương khi có yêu cầu; tổ chức để đại biểu Quốc hội trong Đoàn tiếp công dân, tiếp nhận, xử lý khiếu nại, tố cáo và theo dõi,

Trang 18

xem xét, đánh giá kết quả giải quyết của cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền theo quy định của pháp luật” [49, tr.33]

1.1.4 Khiếu nại, đơn khiếu nại

Theo quy định tại Khoản 1 Điều 2 Luật khiếu nại năm 2011, khiếu nại

"là việc công dân, cơ quan, tổ chức hoặc cán bộ, công chức theo thủ tục do Luật này quy định, đề nghị cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền xem xét lại quyết định hành chính, hành vi hành chính của cơ quan hành chính nhà nước, của người có thẩm quyền trong cơ quan hành chính nhà nước hoặc quyết định kỷ luật cán bộ, công chức khi có căn cứ cho rằng quyết định hoặc hành vi đó là trái pháp luật, xâm phạm quyền, lợi ích hợp pháp của mình"

[31, Tr.7]

Khiếu nại được gắn với quyền được bồi thường về vật chất, tinh thần nếu có thiệt hại về vật chất, tinh thần và phục hồi danh dự theo quy định của pháp luật; quyền được pháp luật bảo vệ trước các hành vi đe dọa, trả thù, trù dập người khiếu nại; trách nhiệm trước pháp luật của người khiếu nại trong trường hợp lợi dụng quyền khiếu nại để vu khống, vu cáo làm phương hại người khác

Việc khiếu nại được thực hiện bằng đơn khiếu nại hoặc trình bày nội dung khiếu nại trực tiếp Nếu khiếu nại được thực hiện thông qua đơn thì phải ghi rõ ngày, tháng, năm khiếu nại trong đơn khiếu nại; tên, địa chỉ của người khiếu nại; tên, địa chỉ của cá nhân, tổ chức, cơ quan bị khiếu nại; lý do, nội dung khiếu nại; tài liệu liên quan đến nội dung khiếu nại và nội dung người khiếu nại yêu cầu giải quyết Người khiếu nại phải trực tiếp ký tên vào đơn khiếu nại hoặc điểm chỉ Trường hợp người khiếu nại đến trình bày nội dung khiếu nại trực tiếp thì người tiếp nhận nội dung khiếu nại hướng dẫn người khiếu nại viết đơn khiếu nại hoặc người tiếp nhận ghi lại nội dung khiếu nại bằng văn bản và yêu cầu người khiếu nại ký tên hoặc điểm chỉ xác nhận vào

Trang 19

văn bản đó

- Đơn khiếu nại: Là văn bản có nội dung trình bày dưới một hình thức

nhất định hoặc theo quy định của pháp luật, gửi đến cơ quan nhà nước, tổ chức, đơn vị, người có thẩm quyền để khiếu nại một quyết định hành chính, hành vi hành chính hoặc quyết định kỷ luật cán bộ, công chức hoặc hành vi vi phạm pháp luật của cán bộ, công chức; xâm phạm trật tự quản lý nhà nước và phải được thụ lý, xem xét, giải quyết theo trình tự, thủ tục do pháp luật quy định

1.1.5 Tố cáo, đơn tố cáo

Theo quy định tại Khoản 2 Điều 2 Luật Tố cáo năm 2011, tố cáo “là việc công dân theo thủ tục do Luật này quy định báo cho cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền biết về hành vi vi phạm pháp luật của bất cứ cơ quan, tổ chức, cá nhân nào gây thiệt hại hoặc đe dọa gây thiệt hại lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của công dân, cơ quan, tổ chức” [32, tr.12]

Tố cáo gắn với quyền được pháp luật bảo vệ trước các hành vi đe dọa, trả thù, trù dập người tố cáo; trách nhiệm trước pháp luật của người khiếu nại

về hành vi cố ý tố cáo không đúng sự thật để vu khống, vu cáo làm phương hại đến người khác Việc tố cáo được thực hiện bằng đơn tố cáo hoặc tố cáo trực tiếp Trường hợp tố cáo được thực hiện bằng đơn thì trong đơn tố cáo phải ghi rõ ngày, tháng, năm tố cáo; họ, tên, địa chỉ của người tố cáo; nội dung tố cáo Đơn tố cáo phải do người tố cáo ký tên hoặc điểm chỉ Trường hợp nhiều người tố cáo thông qua đơn tố cáo thì trong đơn phải ghi rõ họ, tên, địa chỉ của từng người tố cáo, có chữ ký hoặc điểm chỉ của những người tố cáo; họ, tên người đại diện cho những người tố cáo để phối hợp khi có yêu cầu của người giải quyết tố cáo Trường hợp người tố cáo đến tố cáo trực tiếp thì người tiếp nhận tố cáo hướng dẫn người tố cáo viết đơn tố cáo hoặc người tiếp nhận ghi lại nội dung tố cáo bằng văn bản và yêu cầu người tố cáo ký tên

Trang 20

hoặc điểm chỉ xác nhận vào văn bản Trường hợp nhiều người đến tố cáo trực tiếp thì người tiếp nhận hướng dẫn những người tố cáo cử đại diện để trình bày nội dung tố cáo và văn bản ghi nội dung tố cáo phải do tất cả những người tố cáo ký tên hoặc điểm chỉ vào văn bản

- Đơn tố cáo: Là văn bản có nội dung trình bày dưới một hình thức

nhất định hoặc theo quy định của pháp luật, gửi đến cơ quan, tổ chức, đơn vị, người có thẩm quyền để báo cho những cơ quan tổ chức, các cá nhân có thẩm quyền theo quy định của pháp luật biết rõ về một hành vi vi phạm pháp luật của một tổ chức, cá nhân nào đó gây ra thiệt hại, hoặc mang tính đe dọa đến lợi ích của Nhà nước, đến quyền lợi cũng như lợi ích hợp pháp của cá nhân; xâm phạm trật tự quản lý nhà nước và phải được thụ lý, xem xét, giải quyết theo trình tự, thủ tục do pháp luật quy định

1.1.6 Xử lý đơn

Xử lý đơn là việc cơ quan nhà nước, đơn vị, tổ chức, người có thẩm quyền khi nhận được đơn của cá nhân, cơ quan, tổ chức phải căn cứ vào nội dung đơn, đối chiếu với quy định của pháp luật hiện hành để hướng dẫn cho công dân, người có đơn hoặc chuyển đơn đến cơ quan, tổ chức, đơn vị, người

có thẩm quyền giải quyết theo quy định của pháp luật hoặc thụ lý, xem xét giải quyết trong trường hợp thuộc thẩm quyền giải quyết của mình

1.1.7 Giải quyết khiếu nại

Giải quyết khiếu nại: “Là việc thụ lý, xác minh, kết luận và ra quyết định giải quyết khiếu nại” [31, tr.14] Căn cứ vào các quy định của Luật

Khiếu nại, quy định của pháp luật có liên quan và đặc trưng của hoạt động quản lý nhà nước, có thể hiểu khái quát về giải quyết khiếu nại của các cơ quan nhà nước là tập hợp các hoạt động như: Thụ lý, kiểm tra, xác minh, đối thoại, kết luận, ra quyết định hành chính về tính hợp pháp, tính hợp lý của quyết định hành chính, hành vi hành chính bị khiếu nại thuộc thẩm quyền giải

Trang 21

quyết của cơ quan nhà nước để có biện pháp giải quyết theo quy định của pháp luật nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân, cơ quan, tổ

chức và lợi ích chung của nhà nước và xã hội

1.1.8 Giải quyết tố cáo

Giải quyết tố cáo: “Là việc tiếp nhận, xác minh, kết luận về nội dung

tố cáo và việc xử lý tố cáo của người giải quyết tố cáo” [32, tr.14] Khác với

khiếu nại, các bước giải quyết tố cáo chỉ được Luật tố cáo quy định mang tính chất nguyên tắc Theo quan điểm của những người nghiên cứu, giải quyết tố cáo cũng bao gồm các bước cơ bản, như: Tiếp nhận, xử lý thông tin tố cáo; xác minh và ban hành báo cáo kết quả xác minh nội dung tố cáo; xử lý tố cáo của người có thẩm quyền giải quyết tố cáo; kiến nghị việc xử lý và hoàn chỉnh

hồ sơ; kết quả giải quyết tố cáo bằng hình thức ban hành kết luận giải quyết tố cáo

1.2 Vai trò giám sát của Đoàn đại biểu Quốc hội trong lĩnh vực giải quyết khiếu nại, tố cáo

Hoạt động giám sát của Đoàn ĐBQH nói chung, giám sát việc giải quyết KNTC nói riêng là một trong những nhiệm vụ quan trọng được pháp luật ghi nhận ngày càng đầy đủ và cụ thể hơn, trong đó Hiến pháp năm 2013, Luật Tổ chức Quốc hội, Luật Hoạt động giám sát của Quốc hội và HĐND năm 2015, Quy chế hoạt động của ĐBQH và Đoàn ĐBQH (ban hành kèm theo Nghị quyết số 08/2002/QH11 của Quốc hội khoá XI, kỳ họp thứ hai)…là những cơ sở pháp lý để Đoàn ĐBQH thực hiện hoạt động giám sát, giám sát

về giải quyết KNTC đạt chất lượng, ngày càng hiệu quả hơn Theo đó, Đoàn ĐBQH tổ chức giám sát trong lĩnh vực giải quyết KNTC thông qua 04

phương thức cơ bản sau đây:

- Giám sát chuyên đề việc thi hành pháp luật về KNTC tại địa phương: trên cơ sở chương trình giám sát hàng năm của Quốc hội, UBTVQH, HĐDT,

Trang 22

các Ủy ban của Quốc hội và tình hình thực tế tại địa phương, Đoàn ĐBQH xây dựng chương trình, nội dung giám sát của Đoàn, trong đó có kế hoạch giám sát việc tổ chức thi hành pháp luật về giải quyết KNTC tại địa phương

- Phân công ĐBQH trong Đoàn tham gia Đoàn giám sát của Quốc hội, UBTVQH, HĐDT, các Ủy ban của Quốc hội tổ chức giám sát việc thi hành pháp luật về giải quyết KNTC tại địa phương khi có yêu cầu Phương thức giám sát này thông qua cơ sở khi thành lập Đoàn giám sát, cơ quan tổ chức giám sát đưa tên cụ thể của ĐBQH trong Đoàn là thành viên Đoàn giám sát, trực tiếp tham gia giám sát tại địa phương hoặc một số địa phương trong đó

có địa phương mà ĐBQH trong Đoàn ĐBQH ứng cử Hoặc cơ quan tổ chức giám sát yêu cầu Đoàn ĐBQH cử đại diện Đoàn ĐBQH tham gia Đoàn giám sát trong lĩnh vực giải quyết KNTC khi tổ chức giám sát tại địa phương; tại các buổi làm việc, ĐBQH tham gia Đoàn giám sát có thể báo cáo, nêu chính kiến hoặc đề nghị cơ quan chịu sự giám sát giải trình, làm rõ thêm một số vụ việc KNTC tại địa phương mà Đoàn ĐBQH, ĐBQH quan tâm

- Giám sát việc giải quyết KNTC thông qua hoạt động tiếp dân của ĐBQH (Đoàn ĐBQH có trách nhiệm tổ chức để ĐBQH tiếp dân); giám sát thông qua hoạt động xử lý đơn KNTC của công dân mà ĐBQH, Đoàn ĐBQH

đã chuyển đến cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền giải quyết

- Giám sát việc tổ chức thực hiện các kết luận, kiến nghị giám sát trước đó của Đoàn giám sát của Đoàn ĐBQH trong việc thi hành pháp luật về giải quyết KNTC tại địa phương; hoạt động giám sát của Đoàn ĐBQH tỉnh còn thể hiện thông qua việc dự tiếp dân của HĐND, UBND cấp tỉnh định kỳ hàng tháng; tham gia các cuộc tiếp công dân, tiếp xúc, đối thoại giải quyết KNTC do UBND, các cơ quan chức năng mời dự hoặc tổ chức mời một số cơ quan, sở, ban, ngành tham dự và giải trình những nội dung các vấn đề có liên quan đến việc giải quyết KNTC đối với một số vụ việc KNTC cụ thể mà công

Trang 23

dân, cử tri, xã hội bức xúc, quan tâm hoặc yêu cầu Đoàn đại biểu Quốc hội giám sát

Vai trò của Đoàn ĐBQH trong quá trình giám sát việc giải quyết KNTC được thể hiện qua nhiều khía cạnh, và biểu hiện rõ nét nhất là: Trong quá trình giám sát phát hiện nội dung KNTC đúng, Đoàn ĐBQH kiến nghị, yêu cầu cá nhân, cơ quan, tổ chức phải có trách nhiệm xem xét, giải quyết nội dung KNTC đúng theo quy định của pháp luật, khách quan, trung thực, phù hợp thực tiễn đảm bảo quyền và lợi ích chính đáng của người KNTC, cơ quan, nhà nước Trong trường hợp phát hiện nội dung KNTC không đúng, Đoàn ĐBQH có trách nhiệm tuyên truyền, giới thiệu các quy định của pháp luật, cơ chế chính sách của nhà nước để người KNTC hiểu đúng, chấp hành nghiêm kết quả giải quyết KNTC của cá nhân, cơ quan, tổ chức có thẩm quyền Trong trường hợp nội dung KNTC không đúng quy định của pháp luật, cơ chế chính sách nhưng phù hợp với thực tiễn, người KNTC thiệt thòi

về quyền lợi do quy định của pháp luật hoặc cơ chế chính sách thì Đoàn ĐBQH có trách nhiệm kiến nghị với Quốc hội, Chính phủ, các cơ quan, tổ chức có thẩm quyền sửa đổi, bổ sung hoặc ban hành mới VBQPPL để kịp thời điều chỉnh QHXH phát sinh, ban hành cơ chế chính sách mới phù hợp hoặc sửa đổi bổ sung nhằm bảo vệ quyền, lợi ích của người KNTC bị thiệt hại; lợi ích của đa số người dân ở cơ sở bị thiệt thòi, xâm phạm

1.3 Hình thức, nội dung hoạt động giám sát của Đoàn đại biểu Quốc hội trong lĩnh vực giải quyết khiếu nại, tố cáo

1.3.1 Hình thức giám sát của Đoàn đại biểu Quốc hội trong lĩnh vực giải quyết khiếu nại, tố cáo

- Giám sát trực tiếp

Tổ chức Đoàn giám sát của Đoàn ĐBQH hoặc cử ĐBQH trong Đoàn hoặc đại diện lãnh đạo Đoàn ĐBQH tham gia Đoàn giám sát của Quốc hội,

Trang 24

UBTVQH, HĐDT, các Ủy ban của Quốc hội tổ chức tại địa phương khi có yêu cầu, hay nói cụ thể hơn hình thực giám sát này là thành lập Đoàn giám sát việc thi hành pháp luật về giải quyết KNTC tại địa phương của Đoàn ĐBQH hoặc tham gia Đoàn giám sát của Quốc hội, UBTVQH, HĐDT, các Ủy ban của Quốc hội tổ chức giám sát tại địa phương và yêu cầu Đoàn ĐBQH tham gia (có thể giám sát chuyên đề hoặc đột xuất)

Căn cứ nội dung đơn KNTC gửi đến Đoàn ĐBQH, ĐBQH trong Đoàn (thông qua nhiều hình thức: Đường bưu điện, hội nghị tiếp xúc cử tri, tiếp công dân…), đại diện Đoàn ĐBQH hoặc ĐBQH trong Đoàn trực tiếp làm việc với cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền, kiến nghị giải quyết KNTC theo đơn; trong trường hợp cần thiết, đại diện Đoàn ĐBQH, ĐBQH gặp gỡ trực tiếp và yêu cầu người đứng đầu cơ quan, tổ chức cấp trên trực tiếp của cơ quan, tổ chức đó giải quyết hoặc Đoàn ĐBQH tổ chức cuộc họp mời đại diện UBND cấp tỉnh, một số sở, ban, ngành, cơ quan có thẩm quyền đã giải quyết KNTC cùng dự để nghe các cơ quan có thẩm quyền giải trình những vấn đề

mà Đoàn ĐBQH, ĐBQH trong Đoàn quan tâm liên quan đến kết quả giải quyết KNTC của cơ quan, tổ chức có thẩm quyền theo quy định

- Giám sát gián tiếp

Căn cứ vào kế hoạch, nội dung giám sát hàng năm việc thi hành pháp luật về giải quyết KNTC của Đoàn ĐBQH hoặc của Quốc hội, UBTVQH, HĐDT, các Ủy ban của Quốc hội nhưng Đoàn giám sát của Quốc hội, UBTVQH, HĐDT, các Ủy ban của Quốc hội không trực tiếp giám sát tại địa phương mà yêu cầu Đoàn ĐBQH tổ chức giám sát và báo cáo kết quả giám sát về Đoàn giám sát Trong cả hai trường hợp này, Đoàn ĐBQH không thành lập Đoàn giám sát của Đoàn ĐBQH để thực hiện kế hoạch giám sát của mình

và của Quốc hội, các cơ quan của Quốc hội mà tổ chức giám sát thông qua hình thức đề nghị cơ quan, tổ chức, cá nhân chịu sự giám sát báo cáo bằng

Trang 25

văn bản, cung cấp thông tin, thống kê số liệu, tài liệu có liên quan đến nội dung giám sát cung cấp cho Đoàn ĐBQH Qua đó, Đoàn ĐBQH nghiên cứu, nhận định, đánh giá và báo cáo kết quả giám sát của Đoàn ĐBQH thông qua báo cáo, tài liệu của đối tượng chịu sự giám sát cung cấp Trong trường hợp cần thiết, Đoàn ĐBQH yêu cầu đối tượng chịu sự giám sát báo cáo bằng văn bản để giải trình những vấn đề mà Đoàn ĐBQH quan tâm

Giám sát việc giải quyết KNTC thông qua hình thức Đoàn ĐBQH, ĐBQH trong Đoàn tiếp dân, nghe công dân trình bày vụ việc KNTC, qua đó ĐBQH tuyên truyền, giải thích kết quả giải quyết KNTC để công dân rõ hơn, nghiêm túc chấp hành hoặc tiếp nhận đơn KNTC của công dân để Đoàn ĐBQH xử lý theo quy định Tiếp nhận đơn KNTC của cá nhân, cơ quan, tổ chức gửi qua đường bưu điện hoặc gửi trực tiếp cho ĐBQH tại Hội nghị tiếp xúc cử tri…Căn cứ nội dung đơn, tiến hành phân loại, nghiên cứu và chuyển đến các cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền để xem xét, giải quyết theo quy định của pháp luật Đây là hình thức giám sát của Đoàn ĐBQH trong lĩnh vực giải quyết KNTC thông qua hình thức tiếp dân; tiếp nhận và xử lý đơn KNTC gửi đến Đoàn ĐBQH, ĐBQH trong Đoàn và yêu cầu cơ quan, tổ chức,

cá nhân có thẩm quyền giải quyết và báo cáo bằng văn bản kết quả giải quyết cho Đoàn ĐBQH, ĐBQH theo quy định

1.3.2 Nội dung giám sát của Đoàn đại biểu Quốc hội trong lĩnh vực giải quyết khiếu nại, tố cáo

- Giám sát chuyên đề về việc giải quyết KNTC ở địa phương là một nội dung giám sát của ĐBQH và Đoàn ĐBQH do tính chất hoạt động của các chủ thể này gắn liền với địa phương nơi ĐBQH được bầu Hoạt động giám sát được giới hạn về địa giới hành chính theo tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương Đối tượng chịu sự giám sát là các cơ quan, tổ chức, cá nhân trong bộ máy nhà nước trên địa bàn trong việc thi hành pháp luật về giải quyết KNTC

Trang 26

- Giám sát việc giải quyết KNTC của công dân mà ĐBQH, Đoàn ĐBQH đã chuyển đến cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền giải quyết: Nội dung của hoạt động này là trên cơ sở quy định của pháp luật về giám sát,

về KNTC (cụ thể là Luật Hoạt động giám sát của Quốc hội năm 2003, Luật Hoạt động giám sát của Quốc hội và HĐND năm 2015, Luật Khiếu nại, Tố cáo sửa đổi, bổ sung năm 2005, Luật Khiếu nại năm 2011, Luật Tố cáo năm

2011, Luật cán bộ, công chức và các VBQPPL có liên quan), ĐBQH và Đoàn ĐBQH tiến hành giám sát các cơ quan, tổ chức, cá nhân trong bộ máy nhà nước về việc thực hiện trách nhiệm trong lĩnh vực giải quyết KNTC; áp dụng pháp luật KNTC tại địa phương và tính phù hợp với thực tiễn của hệ thống QPPL điều chỉnh lĩnh vực này

- Giám sát của Đoàn ĐBQH còn được thể hiện thông qua các nội dung chất vấn của ĐBQH đối với những người bị chất vấn quy định tại Điểm đ Khoản 1 Điều 4 của Luật Hoạt động giám sát của Quốc hội và HĐND (năm 2015) bao gồm: Chủ tịch nước, Chủ tịch Quốc hội, Thủ tướng Chính phủ, Bộ trưởng, thành viên khác của Chính phủ, Chánh án TAND tối cao, Viện trưởng VKSND tối cao và Tổng Kiểm toán nhà nước, khi ĐBQH trong Đoàn ĐBQH căn cứ vào nội dung các đơn KNTC gửi đến ĐBQH, Đoàn ĐBQH và ĐBQH yêu cầu Đoàn ĐBQH chuyển đơn đến cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền xem xét giải quyết

1.4 Các yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động giám sát của Đoàn đại biểu Quốc hội trong lĩnh vực giải quyết khiếu nại, tố cáo

Hoạt động giám sát của Đoàn ĐBQH việc thực thi pháp luật về giải quyết KNTC được đánh giá dựa trên tính hiệu quả và chịu sự tác động của nhiều yếu tố khác nhau từ yếu tố chính trị; cơ cấu tổ chức bộ máy nhà nước; địa vị pháp lý của Đoàn ĐBQH; hệ thống pháp luật; ý thức, nhận thức… các yếu tố này trực tiếp hoặc gián tiếp đều ảnh hưởng đến thực hiện chức năng

Trang 27

giám sát về việc giải quyết KNTC của Đoàn ĐBQH, luận văn này khái quát một số yếu tố cơ bản tác động đến hiệu quả hoạt động giám sát việc thực thi pháp luật về giải quyết KNTC của Đoàn ĐBQH như sau:

1.4.1 Sự lãnh đạo của các cấp ủy Đảng

Chủ trương, đường lối; sự quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo của các cấp ủy Đảng là cơ sở chính trị cho hoạt động giám sát của Đoàn ĐBQH nói chung và giám sát việc thực thi pháp luật về giải quyết KNTC của Đoàn ĐBQH nói riêng Thực trạng, ở địa phương nào mà các cấp ủy Đảng quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo sâu sát về hoạt động giám sát nói chung và giám sát việc thi hành pháp luật về giải quyết KNTC nói riêng thì ở địa phương đó hiệu quả giám sát

sẽ tốt hơn; các cấp chính quyền sớm phát hiện, chấn chỉnh những sai phạm trong việc áp dụng pháp luật về giải quyết KNTC kịp thời hơn Sự lãnh đạo của Đảng thông qua chủ trương, nghị quyết và cơ chế chính sách, bằng các phương pháp khác nhau tác động vào quá trình thực thi pháp luật về hoạt động giám sát nói riêng và thực hiện chức năng, nhiệm vụ của Đoàn ĐBQH tại địa phương

1.4.2 Mức độ hoàn thiện của hệ thống pháp luật về hoạt động giám sát; giám sát việc giải quyết khiếu nại, tố cáo

Hệ thống pháp luật về giám sát đã tạo ra một hành lang pháp lý thuận lợi để ĐBQH, Đoàn ĐBQH tiến hành hoạt động giám sát, thể hiện rõ thông qua các nội dung: Chủ thể có thẩm quyền giám sát; đối tượng chịu sự giám sát; nội dung giám sát; hình thức, trình tự, thủ tục thực hiện hoạt động giám sát; trách nhiệm và quyền hạn của các chủ thể trong quan hệ pháp luật về giám sát; hậu quả pháp lý của kết quả giám sát…Để tạo điều kiện cho hoạt động giám sát có hiệu quả, cần phải bảo đảm tính thống nhất, đồng bộ, đầy

đủ, chi tiết và phù hợp với thực tiễn của hệ thống các quy định của pháp luật

về giám sát nói chung và giám sát về giải quyết KNTC nói riêng Thực tế cho

Trang 28

thấy, nhiều quy định được ghi nhận trong Hiến pháp nhưng không được quy định chi tiết trong các văn bản luật và dưới luật thì các quy định này cũng không thể áp dụng khi thực thi các hoạt động giám sát Hệ thống pháp luật quy định về hoạt động giám sát nói chung và hoạt động giám sát về giải quyết KNTC nói riêng của Đoàn ĐBQH cần phải thường xuyên tập hợp hóa, pháp điển hóa, sớm loại bỏ những quy định chồng chéo, thiếu thực tế và đặc biệt những QHXH phát sinh nhưng chưa có QPPL điều chỉnh nhằm sớm kiểm soát quyền lực nhà nước đang thực thi, như vậy sẽ tác động tích cực đến hiệu quả hoạt động giám sát của ĐBQH, Đoàn ĐBQH

1.4.3 Cơ chế bảo đảm thực hiện kết luận, kiến nghị giám sát trong lĩnh vực giải quyết khiếu nại, tố cáo

Hoạt động giám sát chỉ sẽ phát huy hiệu lực, hiệu quả khi các kiến nghị, kết luận giám sát được các đối tượng chịu sự giám sát, các cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan chấp hành, nghiêm túc thực hiện Nếu vấn đề này chỉ phụ thuộc vào sự tự nguyện thì có những trường hợpcác đề xuất, kiến nghị không được thi hành dẫn đến hoạt động giám sát không thể phát huy được chất lượng, hiệu quả

Xác định trách nhiệm pháp lý cho tất cả các đối tượng chịu sự giám sát để hoạt động giám sát đạt được kết quả Theo tác giả, cần có cơ chế, chế tài để quy kết trách nhiệm chính trị - pháp lý đối với các cơ quan, tổ chức, cá nhân có hành vi không chấp hành kết luận, kiến nghị giám sát về giải quyết KNTC của Đoàn ĐBQH Cơ quan, tổ chức cấp trên của đối tượng chịu giám sát hoặc các đối tượng có liên quan đến kết luận, kiến nghị giám sát phải đình chỉ, hủy bỏ những văn bản sai trái, khắc phục hậu quả (nếu có); đưa nội dung yêu cầu chất vấn của Đoàn ĐBQH về việc thực hiện kết luận, kiến nghị giám sát trong lĩnh vực giải quyết KNTC của Đoàn ĐBQH ra chất vấn tại phiên họp của UBTVQH

Trang 29

Công tác phối hợp giữa Đoàn ĐBQH với HĐND, UBMTTQVN và các tổ chức đoàn thể cấp tỉnh trong quá trình thực hiện kết luận, kiến giám sát, phát huy vai trò định hướng thông tin của các phương tiện thông tin đại chúng; dư luận xã hội, ý kiến, kiến nghị, đánh giá của cử tri đối với việc chấp hành kiến nghị, kết luận giám sát của các chủ thể liên quan

1.4.4 Nhận thức về hoạt động giám sát của Đoàn đại biểu Quốc hội trong lĩnh vực giải quyết khiếu nại, tố cáo

Nhận thức thể hiện trong đường lối, chính sách, quan điểm của Đảng; lực lượng lãnh đạo Nhà nước và xã hội về cách thức tổ chức và thực hiện quyền lực nhà nước Đảng ta đã đưa ra các quan điểm về đổi mới tổ chức, tăng cường hoạt động của Quốc hội, nhấn mạnh tăng cường hiệu lực, hiệu quả hoạt động giám sát, trong đó có giám sát về giải quyết KNTC của Đoàn ĐBQH Khẳng định quyền lực Nhà nước là thống nhất, có sự phân công, phối hợp và kiểm soát giữa các cơ quan trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp [12, tr.27] Nhận thức của Đảng về hoạt động giám sát không chỉ ban hành các chủ trương, chính sách mà còn là quan điểm trong lãnh đạo, chỉ đạo của các cấp ủy Đảng đối với hoạt động giám sát về giải quyết KNTC

Vấn đề nhận thức còn được thể hiện ở vai trò, vị trí của Đoàn ĐBQH, mục đích, ý nghĩa và tầm quan trọng của hoạt động giám sát về giải quyết KNTCtrong tổ chức thực hiện chức năng, nhiệm vụ của Đoàn ĐBQH, vấn đề này phải được nhận thức đầy đủ, trách nhiệm từ cơ quan lập hiến, lập pháp và thể hiện thông qua các QPPL Nhiệm vụ, quyền hạn, thái độ, trách nhiệm của thành viên Đoàn giám sát, trong đó có ĐBQH trong Đoànvới tư cách là chủ thể thực hiện độc lập hoặc tham gia thực hiện chức năng, nhiệm vụ giám sát

về giải quyết KNTC của Đoàn ĐBQH

Bên cạnh đó, để kiểm soát được quyền lực nhà nước, trước tiên nhận

Trang 30

thức của nhà nước đối với hoạt động giám sát của các cơ quan dân cử nói chung và giám sát trong lĩnh vực giải quyết KNTC của Đoàn ĐBQH nói riêng

có ý nghĩa rất quan trọng, giúp cho các cơ quan chấp hành pháp luật, thực thi,

áp dụng pháp luật sớm phát hiện những sai sót, hạn chế trong quá trình thực hiện chức năng, nhiệm vụ của mình, có giải pháp khắc phục kịp thời, hạn chế thấp nhất những hậu quả xảy ra cho xã hội, cho cá nhân công dân thông qua kết luận, kiến nghị giám sát Việc nhận thức đúng của các cấp chính quyền đối với hoạt động giám sát về giải quyết KNTC là để sớm phát hiện những bất cập, tính không phù hợp của những VBQPPL, chủ trương, chính sáchhoặc có những QHXH mới phát sinh nhưng chưa có QPPL điều chỉnh, từ đó kiến nghị

cơ quan có thẩm quyền sửa đổi, bổ sung chủ trương, chính sách, VBQPPL giúp cho nhà nước, cơ quan chấp hành, chính quyền các cấp thực hiện tốt hơn chức năng, nhiệm vụ trong thực tiễn, bảo vệ quyền và lợi ích của xã hội, của

cá nhân, sớm hoàn thiện thể chế nhằm quản lý xã hội tốt hơn

Nhận thức của đối tượng chịu sự giám sát có tác động sâu sắc tới hiệu quả giám sát Vì đây là cơ sở để hình thành nên ý thức, trách nhiệm, thái độ, định hướng hành vi khi tiếp thu, thi hành các kết luận, kiến nghị, đề xuất từ Đoàn giám sát, biến những kết quả giám sát thành các tác động có hiệu quả, hiệu lực trong thực tiễn và là nền tảng quan trọng để củng cố và tăng cường ý thức pháp luật Nhận thức của xã hội thông qua dư luận xã hội, các cơ quan thông tấn báo chí, UBMTTQVN và các tổ chức thành viên Mặt trận, các hội, đoàn thể ý kiến của cử tri cũng đóng vai trò quan trọng, tác động tích cực đến hiệu lực, hiệu quả hoạt động giám sát trong lĩnh vực giải quyết KNTC, tạo sự đồng thuận của xã hội trong việc thực hiện kết luận giám sát, kết quả giải quyết KNTC của cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền Việc theo dõi, giám sát của cử tri, nhiệm vụ tuyên truyền của các cơ quan thông tấn báo chí

về kết quả giám sát; phản ánh, đánh giá kết quả thực hiện kết luận, kiến nghị

Trang 31

của Đoàn giám sát là cơ sở tác động đến kết quả hoạt động giám sát việc thực thi pháp luật về giải quyết KNTC

1.4.5 Bản lĩnh, năng lực và kỹ năng giám sát của đại biểu Quốc hội

Hoạt động giám sát về giải quyết KNTC của Đoàn ĐBQH được tiến hành thông qua hoạt động trực tiếp của từng ĐBQH trong Đoàn Thực tế cho thấy, những ĐBQH ít hoặc không còn ràng buộc về cơ chế hành chính, không chịu sự chi phối của kỷ luật Đảng có tiếng nói mạnh mẽ và quyết liệt hơn khi chất vấn hoặc trong các đề xuất, kiến nghị giám sát [34, tr.27]

Mặt khác, trong thực hiện chức năng giám sát, đòi hỏi ĐBQH phải thực sự có bản lĩnh, phân định vai trò của mình trong từng vị trí công tác, thực hiện đúng nhiệm vụ, quyền hạn của người đại biểu dân cử, đại diện cho nhân dân thực hiện quyền lực nhà nước tại Quốc hội, Đoàn ĐBQH và nhất là thực hiện quyền giám sát việc giải quyết KNTC tai địa phương Ngoài ra, năng lực phản biện, kiến thức, trình độ và kỹ năng giám sát của ĐBQH trong hoạt động giám sát về giải quyết KNTC cũng là nhân tố quyết định hiệu quả giám sát

Có thể khẳng định rằng, chất lượng đại biểu được xem là nhân tố then chốt trong việc thực hiện chức năng giám sát, quyết định trực tiếp đến chất lượng, hiệu quả của hoạt động giám sát về giải quyết KNTC Hoạt động giám sát về giải quyết KNTC mang tính đặc thù, đòi hỏi yếu tố về kiến thức chuyên môn,

am hiểu về trình tự, thủ tục, các QPPL trực tiếp điều chỉnh, tác động đến hoạt động giải quyết KNTC của cơ quan, tố chức, cá nhân có thẩm quyền Do đó, ĐBQH phải có những kỹ năng để phát hiện hoặc thấy trước các vấn đề bất cập trong hoạt động của các đối tượng chịu sự giám sát; khả năng phân tích, nhận định trách nhiệm của các cơ quan hữu quan theo luật định Điều này đòi hỏi ĐBQH phải thành thạo một số kỹ năng đặc thù như: Đề xuất ý kiến, phân tích, tổng hợp thông tin, điều tra, tranh luận, am hiểu pháp luật về KNTC, giải quyết KNTC… xác định rõ thủ tục, vận dụng thành thạo các bước cần tiến

Trang 32

hành của quy trình giám sát của ĐBQH, Đoàn ĐBQH nói chung và giám sát trong lĩnh vực giải quyết KNTC nói riêng

1.4.6 Cơ quan (bộ phận) tham mưu, giúp việc và kinh phí

Để cuộc giám sát về giải quyết KNTC đạt hiệu quả, việc đảm bảo các điều kiện về tổ chức, công tác tham mưu, giúp việc, điều kiện tài chính, cơ sở vật chất - kỹ thuật, phương tiện; cung cấp thông tin đầy đủ, kịp thời, chính xác liên quan đến nội dung giám sát là rất cần thiết; cơ chế để tranh thủ ý kiến của chuyên gia tư vấn, người có hiểu biết sâu, rộng đối với lĩnh vực giám sát sớm tư vấn cho ĐBQH, thành viên Đoàn giám sát; sự năng động, trách nhiệm của các thành viên mời tham gia đoàn giám sát…sẽ góp phần thuận lợi trong việc tổ chức thực hiện, phản biện, tranh luận các vấn đề còn có ý kiến khác nhau giữa thành viên Đoàn giám sát và cơ quan, tổ chức, cá nhân chịu sự giám sát góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động giám sát, nhất là giám sát việc

giải quyết KNTC của Đoàn ĐBQH

Trang 33

Tiểu kết Chương 1

Hoạt động giám sát của Đoàn đại biểu Quốc hội trong lĩnh vực giải quyết khiếu nại, tố cáo là một trong những hoạt động quan trọng góp phần hoàn thiện, nâng cao chất lượng giám sát của Đoàn đại biểu Quốc hội ở địa phương Vì vậy, đánh giá mức độ hiệu quả trong việc nâng cao chất lượng giám sát về giải quyết khiếu nại, tố cáo của Đoàn đại biểu Quốc hội có ảnh hưởng rất lớn đến hoạt động tiếp công dân, xử lý đơn khiếu nại, tố cáo và thực thi nhiệm vụ giám sát về giải quyết khiếu nại, tố cáo của cá nhân từng đại biểu Quốc hội trong Đoàn và của chính Đoàn đại biểu Quốc hội Đánh giá tốt mức độ hiệu quả đối với hoạt động giám sát của Đoàn đại biểu Quốc hội trong lĩnh vực giải quyết khiếu nại, tố cáo sẽ góp phần tích cực vào việc nâng cao năng lực hoạt động giám sát, tăng cường trách nhiệm của đại biểu Quốc hội, Đoàn đại biểu Quốc hội với cử tri, với nhân dân địa phương nơi đại biểu Quốc hội ứng cử; là động lực giúp cho chính quyền các cấp triển khai thực hiện tốt hơn chủ trương, chính sách, pháp luật ở cơ sở, đồng thời sớm phát hiện cơ chế, chính sách không còn phù hợp, quy phạm pháp luật chồng chéo, khó áp dụng ở cơ sở để kịp thời kiến nghị sửa đổi, bổ sung, ban hành mới giúp cho hoạt động quản lý nhà nước tốt hơn trên thực tế

Trong Chương này, luận văn tiến hành làm rõ cơ sở lý luận, quy định của pháp luật về hoạt động giám sát trong lĩnh vực giải quyết khiếu nại, tố cáo của Đoàn đại biểu Quốc hội, như: Khái niệm về giám sát, giám sát của Quốc hội, giám sát của Đoàn ĐBQH trong lĩnh vực giả quyết khiếu nại, tố cáo; khái niệm về khiếu nại, tố cáo, đơn khiếu nại, tố cáo; giải quyết đơn khiếu nại, tố cáo; đồng thời xác định rõ nội dung, hình thức giám sát của Đoàn đại biểu Quốc hội trong lĩnh vực giải quyết khiếu nại, tố cáo và các yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động giám sát của Đoàn đại biểu Quốc hội đối với việc giải quyết khiếu nại, tố cáo tại địa phương

Trang 34

CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG GIÁM SÁT CỦA ĐOÀN ĐẠI BIỂU QUỐC HỘI TỈNH ĐẮK LẮK

TRONG LĨNH VỰC GIẢI QUYẾT KHIẾU NẠI, TỐ CÁO 2.1 Khái quát về cơ cấu, tổ chức của Đoàn đại biểu Quốc hội tỉnh Đắk Lắk

Từ năm 2015 đến tháng 8/2019, Đoàn ĐBQH tỉnh Đắk Lắk trải qua

02 nhiệm kỳ: Nhiệm kỳ 2011- 2016 (khóa XIII) và nhiệm kỳ 2016 - 2021

(khóa XIV) Trên cơ sở các quy định chung nhất về ĐBQH tại Hiến pháp

1992 (sửa đổi 2001), Luật bầu cử ĐBQH năm 1997 (sửa đổi, bổ sung năm 2001) và sau đó là Hiến pháp năm 2013, Luật Bầu cử ĐBQH và đại biểu HĐND (năm 2015), Luật Tổ chức Quốc hội quy định các nguyên tắc làm căn

cứ phân bổ ĐBQH trong Đoàn ĐBQH tại địa phương

Bên cạnh đó, Đắk Lắk là tỉnh có diện tích rộng thứ 3 cả nước (sau tỉnh Nghệ An và tỉnh Gia Lai), dân số thuộc loại tỉnh trung bình của cả nước, trên 1,8 triệu người (năm 2019) Vì vậy, Đoàn ĐBQH tỉnh Đắk Lắk được phân bổ

số lượng ĐBQH trung bình so với Đoàn ĐBQH của các tỉnh, thành phố khác,

cụ thể như sau:

- Nhiệm kỳ khoá XIII, Đoàn ĐBQH có 09 ĐBQH được bầu tại 03 đơn

vị bầu cử trong tỉnh Trong đó, có 03 đại biểu công tác ở trung ương, 06 đại biểu công tác tại địa phương; có 03 đại biểu nữ, 03 đại biểu tái cử, 04 đại biểu là người đồng bào dân tộc thiểu số và 02 đại biểu hoạt động chuyên trách

+ Về chức vụ: Có 01 đại biểu là Ủy viên Bộ Chính trị, Phó Chủ tịch Quốc hội; 01 đại biểu là Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng, Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, thành viên của Chính phủ;

01 đại biểu là Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng, Bí thư Tỉnh ủy, Chủ tịch HĐND tỉnh, Trưởng Đoàn ĐBQH; 01 đại biểu là Ủy viên Ủy ban Trung ương MTTQVN Các ĐBQH còn lại công tác tại tỉnh nhưng đều là thành viên của Hội đồng Dân tộc hoặc các Ủy ban của Quốc hội

+ Về trình độ: Có 04 đại biểu có trình độ sau đại học, 05 đại biểu có

Trang 35

trình độ đại học

- Nhiệm kỳ khoá XIV, Đoàn ĐBQH có 09 ĐBQH được bầu tại 03 đơn

vị bầu cử trong tỉnh Trong đó, 04 đại biểu công tác ở cơ quan trung ương và 05 đại biểu công tác tại địa phương; 05 đại biểu là người đồng bào dân tộc thiểu số,

02 đại biểu tái cử, 02 đại biểu là nữ và 04 đại biểu hoạt động chuyên trách

+ Về chức vụ: 01 đại biểu là Phó Bí thư Tỉnh ủy, Chủ tịch HĐND tỉnh, Trưởng Đoàn ĐBQH; 01 đại biểu là Phó Trưởng Đoàn ĐBQH hoạt động chuyên trách; 01 đại biểu là Ủy viên Ủy ban Trung ương MTTQVN, Phó Hiệu trưởng trường Đại học Tây Nguyên; 02 đại biểu là Ủy viên Thường trực HĐDT và Ủy ban Pháp luật của Quốc hội; 01 đại biểu là Phó Viện trưởng Viện Nghiên cứu lập pháp thuộc UBTVQH (đến tháng 11/2018 chuyển sang

là Phó Trưởng Ban Công tác đại biểu thuộc Ủy ban Thường vụ Quốc hội) Các ĐBQH còn lại công tác tại tỉnh nhưng đều là ủy viên của Hội đồng Dân tộc hoặc các Ủy ban của Quốc hội

+ Về trình độ: 07 đại biểu có trình độ sau đại học, 02 đại biểu có trình độ đại học

Bảng 2.1 Số lượng, thành phần ĐBQH thuộc Đoàn ĐBQH tỉnh Đắk Lắk khóa XIII và XIV

Trang 36

tác năm 2016 triển khai phướng hướng, nhiệm vụ năm 2017; Báo cáo Tổng kết công tác năm 2017 triển khai phướng hướng, nhiệm vụ năm 2018; Báo cáo Tổng kết công tác năm 2018 triển khai phướng hướng, nhiệm vụ năm

địa phương

ĐBQH trung ương

ĐBQH tái cử

ĐBQH chuyên trách

Đại học

Sau đại học

Trang 37

2.2 Kết quả giám sát của Đoàn đại biểu Quốc hội tỉnh Đắk Lắk trong lĩnh vực giải quyết khiếu nại, tố cáo từ năm 2015 đến tháng 8/2019

2.2.1 Giám sát thông qua tiếp công dân của đại biểu Quốc hội

Trong Chương trình công tác hàng năm, Đoàn ĐBQH thường xuyên phối hợp với Thường trực HĐND tỉnh xây dựng kế hoạch tổ chức tiếp công dân định kỳ mỗi tháng một lần, phân công 01 đến 02 ĐBQH trong Đoàn trực tiếp tiếp công dân và tiếp thu những kiến nghị, KNTC của công dân, kịp thời phân loại tham mưu cho lãnh đạo Đoàn ĐBQH chuyển đơn đến cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền giải quyết Thông qua hoạt động tiếp dân, ngoài việc tiếp thu, chuyển đơn cho cơ quan có thẩm quyền giải quyết, Đoàn ĐBQH

đã tuyên truyền, giải thích và hướng dẫn công dân thực hiện KNTC theo đúng trình tự, thủ tục, thẩm quyền theo quy định của pháp luật Giai đoạn 2011 - tháng 8/2019, Đoàn ĐBQH tỉnh Đắk Lắk phối hợp với HĐND tỉnh đã tổ chức

82 ngày tiếp công dân định kỳ tại trụ sở tiếp công dân của tỉnh; tiếp 541 lượt công dân, nhận 218 đơn KNTC, phản ánh kiến nghị tại buổi tiếp công dân, chuyển 139 đơn (chiếm 63,76%) đến cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền giải quyết, trong đó: 51 đơn khiếu nại (chiếm 24,31%); 76 đơn tố cáo (chiếm 34,86%) và tiếp nhận 85 văn bản (chiếm 61,2% tổng số văn bản chuyển đi) thông báo trả lời của cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền giải quyết đã nhận đơn do Đoàn ĐBQH chuyển đến Nhìn chung, thông qua tiếp công dân Đoàn ĐBQH nắm bắt rõ hơn nội dung KNTC của công dân, quan điểm giải quyết của các cơ quan có thẩm quyền mời dự buổi tiếp công dân…trên cơ sở đó, Đoàn ĐBQH thu thập thêm thông tin, tài liệu để xác định nội dung KNTC có tính chất phức tạp, việc áp dụng pháp luật còn chồng chéo, chưa thống nhất; những nội dung KNTC còn quan điểm giải quyết khác nhau…Đoàn sẽ chỉ đạo bộ máy giúp việc xây dựng kế hoạch, tổ chức khảo sát việc giải quyết KNTC theo luật định; hầu hết nội dung kiến nghị của Đoàn

Trang 38

ĐBQH về giải quyết KNTC thông qua đơn KNTC gửi trực tiếp tại các buổi tiếp công dân đều thực hiện nghiêm, có hiệu quả thiết thực Số liệu cụ thể được thống kê tình hình tiếp công dân của Đoàn ĐBQH tỉnh Đắk Lắk tại

(Bảng 2.3., Chương II)

Bảng 2.3 Kết quả tiếp công dân, tiếp nhận đơn khiếu nại, tố cáo tại buổi tiếp công dân của Đoàn ĐBQH tỉnh Đắk Lắk khóa XIII và XIV

Tổng số đơn tiếp nhận tại ngày tiếp công dân

Chuyển đơn đến cơ quan có thẩm quyền

Số văn bản trả lời

Nguồn: Tổng hợp theo Báo cáo Tổng kết nhiệm kỳ Quốc hội khóa XIII (nhiệm

kỳ 2011 - 2016) - Đoàn ĐBQH tỉnh Đắk Lắk, Báo cáo Tổng kết công tác năm 2016 triển khai phướng hướng, nhiệm vụ năm 2017; Báo cáo Tổng kết công tác năm

2017 triển khai phướng hướng, nhiệm vụ năm 2018; Báo cáo Tổng kết công tác năm 2018 triển khai phướng hướng, nhiệm vụ năm 2019- Đoàn ĐBQH tỉnh Đắk Lắk

Trang 39

2.2.2 Giám sát về giải quyết khiếu nại, tố cáo thông qua đơn khiếu nại, tố cáo gửi đến Đoàn đại biểu Quốc hội

Thời gian qua, việc tiếp nhận, xử lý KNTC gửi đến Đoàn ĐBQH, hướng dẫn công dân gửi đơn đúng cơ quan có thẩm quyền; theo dõi, đôn đốc giải quyết đã được Đoàn ĐBQH tỉnh Đắk Lắk quan tâm thực hiện Từ năm

2011 - tháng 8/2019, Đoàn đã tiếp nhận 3.570 đơn, trong đó: 1.649 đơn khiếu nại; 620 đơn tố cáo; 1.301 đơn kiến nghị, phản ánh; trên cơ sở quy định của pháp luật và chức năng, nhiệm vụ, Đoàn ĐBQH đã chuyển 1.804 đơn đến cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền giải quyết theo luật định; xếp lưu (không

xử lý) 1.766 đơn không đủ điều kiện để xử lý (đơn photo, thiếu chữ ký, nội dung không rõ ràng…) Đến nay, trong tổng số đơn KNTC do Đoàn ĐBQH chuyển đến, các cơ quan chức năng đều quan tâm xem xét, giải quyết và thông báo bằng văn bản kết quả giải quyết cho Đoàn ĐBQH làm cơ sở trả lời công dân, cử tri Theo đó, Đoàn đã nhận được 653 văn bản trả lời về kết quả giải quyết của các cơ quan có thẩm quyền ở địa phương và Trung ương, chiếm tỷ lệ 36,20% so với số đơn đã chuyển đi, số liệu cụ thể tại Bảng 2.4., chương II

Bảng 2.4 Kết quả tiếp nhận đơn khiếu nại, tố cáo của Đoàn ĐBQH tỉnh Đắk Lắk khóa XIII và XIV

Số vụ việc chuyển

Số kết quả trả lời

Trang 40

Số vụ việc chuyển

Số kết quả trả lời

Nguồn: Tổng hợp theo Báo cáo Tổng kết nhiệm kỳ Quốc hội khóa XIII (nhiệm

kỳ 2011 - 2016) - Đoàn ĐBQH tỉnh Đắk Lắk, Báo cáo Tổng kết công tác năm 2016 triển khai phướng hướng, nhiệm vụ năm 2017; Báo cáo Tổng kết công tác năm

2017 triển khai phướng hướng, nhiệm vụ năm 2018; Báo cáo Tổng kết công tác năm 2018 triển khai phướng hướng, nhiệm vụ năm 2019- Đoàn ĐBQH tỉnh Đắk

(trung bình giai đoạn 2011 - 8/2019 đạt 36,20%), nhiều vụ việc KNTC tồn

đọng kéo dài, đông người vẫn chưa được giải quyết dứt điểm, việc tổ chức giám sát chuyên đề của Đoàn ĐBQH chưa tổ chức được nhiều, mà chủ yếu là đại diện lãnh đạo Đoàn ĐBQH tham gia Đoàn khảo sát của Thường trực

Ngày đăng: 25/11/2019, 14:23

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w