1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Nghiên cứu tác động của công bằng thuế đến sự tuân thủ của người nộp thuế thu nhập cá nhân ở việt nam

74 93 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 74
Dung lượng 0,97 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tuy nhiên phải thấy rằng, sự tuân thủ của người nộp thuế trong việc thực hiện nghĩa vụ thuế phụ thuộc vào nhiều yếu tố khác nhau như: hệ thống chính sách, pháp luật thuế; các biện pháp q

Trang 1

PHẠM HUỲNH THỤY GIAO

NGHIÊN CỨU TÁC ĐỘNG CỦA CÔNG BẰNG THUẾ ĐẾN SỰ TUÂN THỦ CỦA NGƯỜI NỘP THUẾ ĐẾN SỰ TUÂN THỦ CỦA NGƯỜI NỘP THUẾ THU NHẬP CÁ NHÂN Ở VIỆT NAM

Chuyên ngành : Tài chính – Ngân hàng

LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:

TP HỒ CHÍ MINH – NĂM 2013

Trang 2

MỤC LỤC

Danh sách bảng biểu 4

TÓM TẮT 5

Chương 1 MỞ ĐẦU 6

1.1 Giới thiệu 6

1.2 Sự cần thiết của đề tài 6

1.3 Mục tiêu nghiên cứu 6

1.4 Câu hỏi nghiên cứu 7

1.5 Ý nghĩa nghiên cứu 7

1.6 Phạm vi nghiên cứu 7

1.7 Kết cấu của luận văn 8

Chương 2 LÝ THUYẾT TỔNG QUAN VỀ TÁC ĐỘNG CỦA CÔNG BẰNG THUẾ ĐẾN SỰ TUÂN THỦ CỦA NGƯỜI NỘP THUẾ 9

2.1 Giới thiệu 9

2.2 Lý thuyết công bằng thuế 9

2.3 Thước đo công bằng thuế 10

2.3.1 Lý thuyết công bằng 11

2.3.2 Lý thuyết công bằng phân phối 12

2.3.3 Lý thuyết công bằng thủ tục 13

2.4 Lý thuyết tuân thủ thuế 14

2.4.1 Lý thuyết răn đe 16

2.4.2 Lý thuyết tâm lý tài chính 18

2.5 Tác động của công bằng thuế đến sự tuân thủ thuế 20

Trang 3

2.6 Các nhân tố công bằng thuế 20

2.6.1 Công bằng chung và phân phối gánh nặng thuế 21

2.6.2 Trao đổi với chính phủ 23

2.6.3 Các điều khoản đặc biệt 25

2.6.4 Cấu trúc thuế suất 26

2.6.5 Lợi ích cá nhân 27

2.7 Tổng quan về Luật thuế thu nhập cá nhân ở Việt Nam 28

2.8 Tổng quan về các nghiên cứu của thế giới và Việt Nam 31

2.8.1 Tổng quan về các nghiên cứu của thế giới 31

2.8.2 Tổng quan về các nghiên cứu ở Việt Nam 33

2.9 Tóm tắt 34

Chương 3 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 35

3.1 Giới thiệu 35

3.2 Quy trình nghiên cứu 35

3.3 Thang đo 36

3.3.1 Thang đo công bằng thuế 37

3.3.2 Thang đo sự tuân thủ thuế 39

3.4 Mô hình lý thuyết 41

3.5 Mẫu nghiên cứu định lượng chính thức 41

3.6 Tóm tắt 44

Chương 4 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU TÁC ĐỘNG CỦA CÔNG BẰNG THUẾ ĐẾN SỰ TUÂN THỦ THUẾ CỦA NGƯỜI NỘP THUẾ THU NHẬP CÁ NHÂN Ở VIỆT NAM 45

Trang 4

4.1 Giới thiệu 45

4.2 Thống kê mô tả 45

4.3 Kiểm định thang đo 49

4.3.1 Hệ số tin cậy Cronbach alpha 50

4.3.2 Phân tích nhân tố khám phá EFA 53

4.4 Ma trận tương quan giữa công bằng thuế và tuân thủ thuế 55

4.5 Kiểm định mô hình giả thiết bằng mô hình hồi quy bội 56

4.6 Tóm tắt 58

Chương 5 KẾT LUẬN VÀ GỢI Ý CHÍNH SÁCH 59

5.1 Giới thiệu 59

5.2 Kết luận của nghiên cứu 59

5.2.1 Kết quả đo lường 59

5.2.2 Kết quả về mô hình lý thuyết 60

5.3 Một số gợi ý để tăng cường sự tuân thủ 61

5.3.1 Về chính sách thuế 61

5.2.2 Về cơ quan quản lý thuế 63

5.4 Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp theo 65

5.5 Kết luận của luận văn 66 TÀI LIỆU ĐÃ DẪN

Phụ lục: BẢNG CÂU HỎI

Trang 5

DANH SÁCH BẢNG BIỂU

Bảng 1.1 Tóm tắt các phát hiện chính của công bằng thuế và

tuân thủ thuế trên thế giới 71

Bảng 2.1 Thuế suất thuế thu nhập cá nhân đối với thu nhập từ kinh doanh, từ tiền lương, tiền công của cá nhân cư trú 72

Bảng 2.2 Thuế suất thuế thu nhập cá nhân đối với các nguồn thu nhập khác 73

Bảng 3.1 Quy trình nghiên cứu 36

Bảng 3.2 Thang đo công bằng thuế 37

Bảng 3.3 Thang đo sự tuân thủ thuế 39

Bảng 3.4 Đặc điểm mẫu 42

Bảng 4.1 Giá trị trung bình và độ lệch chuẩn của các biến công bằng thuế 45

Bảng 4.2 Giá trị trung bình và độ lệch chuẩn của các biến tuân thủ thuế 47

Bảng 4.3 Giá trị trung bình của từng nhân tố công bằng thuế và tuân thủ thuế 48

Bảng 4.4 Kết quả Cronbach alpha các thang đo 50

Bảng 4.5 Kết quả Cronbach alpha lần 2 của thang đo công bằng chung sau khi loại 2 biến 6 và 7 52

Bảng 4.6 Trọng số nhân tố, kiểm định KMO Barlett của các biến công bằng thuế 54

Bảng 4.7 Trọng số nhân tố, kiểm định KMO Barlett của các biến tuân thủ thuế 54

Bảng 4.8 Hệ số tương quan Person (r) giữa công bằng thuế và tuân thủ thuế 56

Bảng 4.9 Kết quả phân tích hồi quy 57

Trang 6

TÓM TẮT

Thuế là nguồn thu chính cho ngân sách của các quốc gia Việc xây dựng

“chiến lược tuân thủ tự nguyện” đang được đặt ra như một tất yếu trong cơ chế vận hành của mô hình quản lí thuế hiện đại – mô hình quản lí tuân thủ Đây là vấn đề đang thu hút sự quan tâm của các cơ quan thừa hành trong lĩnh vực thuế cũng như cộng đồng doanh nghiệp và người dân trên toàn thế giới

Tuy nhiên phải thấy rằng, sự tuân thủ của người nộp thuế trong việc thực hiện nghĩa vụ thuế phụ thuộc vào nhiều yếu tố khác nhau như: hệ thống chính sách, pháp luật thuế; các biện pháp quản lý thuế; ý thức tự giác tuân thủ thuế của người nộp thuế; trình độ quản lý, điều hành của cán bộ công chức thuế… và một nhân tố quan trọng tác động tới ý thức tuân thủ của người nộp thuế là cảm nhận công bằng thuế của người nộp thuế

Mục đích của nghiên cứu này là nghiên cứu tác động của công bằng thuế đến sự tuân thủ thuế ở Việt Nam Có năm nhân tố công bằng thuế được đo lường trong nghiên cứu này, đó là: công bằng tổng quát (general fairness), sự trao đổi với chính phủ (exchange with government), cấu trúc thuế (tax structure), những điều khoản đặc biệt (special provisions) và lợi ích cá nhân (self interest) Một cuộc phỏng vấn điều tra được tiến hành ở các chi cục thuế ở thành phố Hồ Chí Minh Kết quả phân tích hệ số tin cậy Cronbach alpha cho thấy chỉ có nhân tố công bằng tổng quát và những điều khoản đặc biệt là có ý nghĩa và có tương quan với sự tuân thủ thuế Kết quả nghiên cứu cung cấp một số thông tin hữu ích cho cơ quan thuế trong việc nâng cao nguồn thu ở Việt Nam

Trang 7

ở Việt Nam

1.2 Sự cần thiết của đề tài nghiên cứu

Chức năng chính của thuế là tăng nguồn thu cho ngân sách nhà nước Một biện pháp để tăng nguồn thu này là hệ thống thuế phải được đối đãi công bằng với tất cả người dân (Huxham & Haupt, 1998) Thật quan trọng khi người nộp thuế cảm nhận được hệ thống thuế công bằng Đây là điều quan trọng nhất, vì công bằng được xem như là động cơ cho sự tuân thủ thuế và là yếu tố quyết định

sự hài lòng của người nộp thuế với sự hoàn trả từ chính phủ, từ đó dẫn đến sự tuân thủ của người nộp thuế (Cowel, 1990)

Vì vậy, chuyên đề nghiên cứu “Tác động công bằng thuế đến sự tuân thủ

của người nộp thuế thu nhập cá nhân ở Việt Nam” thực sự thiết thực và có ý

nghĩa trong giai đoạn hiện nay ở Việt Nam

1.3 Mục tiêu nghiên cứu

Mục tiêu của nghiên cứu này là nghiên cứu tác động của công bằng thuế đối với sự tuân thủ thuế ở Việt Nam, cụ thể là phân tích mối quan hệ giữa từng nhân tố công bằng thuế và sự tuân thủ thuế ở Việt Nam Từ đó, xây dựng các quan điểm, định hướng trong chính sách, các giải pháp hoàn thiện công bằng thuế và sự tuân thủ của người nộp thuế ở Việt Nam

Trang 8

1.4 Câu hỏi nghiên cứu

Giải quyết câu hỏi nghiên cứu:

 Công bằng thuế ở Việt Nam có thể được đo lường bởi 5 nhân tố: công bằng tổng quát (general fairness), sự trao đổi với chính phủ (exchange with government), cấu trúc thuế (tax structure), những điều khoản đặc biệt dành cho người giàu có (special provisions for the wealthy) và lợi ích cá nhân (self interest)?

 Tác động của từng nhân tố công bằng thuế đến sự tuân thủ thuế ở Việt Nam?

1.5 Ý nghĩa của nghiên cứu

Ý nghĩa của nghiên cứu là nghiên cứu xem tác động của công bằng thuế đến sự tuân thủ của người nộp thuế ở các nước đã phát triển (như Mỹ, Canada…)

có tương tự với các nước đang phát triển (như Việt Nam) hay không? Nghiên cứu đo lường mức độ tác động công bằng thuế trong vai trò là một yếu tố quyết định đến hành vi tuân thủ thuế ở Việt Nam Năm nhân tố công bằng thuế của Gerbing (1988) được khảo sát để tìm ra nhân tố nào tác động đến hành vi tuân thủ thuế Ngoài ra, sự khác biệt địa lý được xem như một đóng góp mới cho kiến thức về công bằng thuế và tuân thủ thuế của nghiên cứu này khi xem xét ở Việt Nam Biết được người nộp thuế cảm thấy tác động của hệ thống thuế như thế nào

là công bằng, sẽ giúp cho cơ quan thuế trong việc lập kế hoạch cho một chiến lược nhằm đạt được sự tuân thủ tốt hơn của người nộp thuế ở Việt Nam

1.6 Phạm vi nghiên cứu

Nghiên cứu này chỉ giới hạn xem xét hành vi tuân thủ của người nộp thuế

là cá nhân người nộp thuế cá nhân bao gồm những người làm công ăn lương làm việc trong cơ quan nhà nước, khu vực tư nhân hoặc tự kinh doanh Như đã đề

Trang 9

cập trước đây có rất nhiều yếu tố quyết định đến không tuân thủ thuế được ghi trong lý thuyết tuân thủ thuế Tuy nhiên, đối tượng của nghiên cứu này là kiểm tra mức độ ảnh hưởng công bằng thuế đến hành vi tuân thủ thuế Mức độ này được đo lường bằng cảm nhận của người nộp thuế trên các nhân tố tuân thủ thuế

và hành vi tuân thủ của họ Đánh giá của người nộp thuế có thể có ích cho cơ chế hoạt động của cơ quan thuế và cơ quan lập pháp

1.7 Kết cấu của luận văn

Chương 1 Mở đầu Chương này sẽ thảo luận lý do tại sao cơ quan thuế nhấn mạnh sự tuân thủ thuế và tầm quan trọng của thuế trong phát triển đất nước

Chương 2 Lý thuyết tổng quan về tác động của công bằng thuế đến sự tuân thủ của người nộp thuế Chương này sẽ xem xét lý thuyết công bằng thuế và

lý thuyết tuân thủ thuế, nhấn mạnh đến tác động của cảm nhận công bằng thuế như là một đóng góp cho sự tuân thủ thuế

Chương 3 Phương pháp nghiên cứu Chương này sẽ chấp nhận phương pháp được sử dụng bởi các nhà nghiên cứu trước đây và áp dụng nó vào bối cảnh Việt Nam để xem xét sự khác biệt trong kết quả nghiên cứu

Chương 4 Kết quả nghiên cứu Chương này sẽ thảo luận những phát hiện đối với những câu hỏi nghiên cứu và giả thiết

Chương 5 Thảo luận và kiến nghị Chương này sẽ thảo luận kết luận rút ra

từ kết quả của nghiên cứu Cuối cùng là hàm ý của nghiên cứu và hướng nghiên cứu sắp tới và một số kiến nghị để cơ quan thuế đạt được sự tuân thủ cao và đạt được mức độ quản lý thuế hiệu quả hơn

Trang 10

2.2 Lý thuyết công bằng thuế

Định nghĩa công bằng là rất khó khăn và một số người cho rằng không thể xác định được Phán quyết một quy định hay một hành động có công bằng hay không là khá chủ quan

Công bằng là một yêu cầu rất quan trọng trong việc xây dựng luật thuế Tính công bằng của luật thuế thể hiện ở hai mặt pháp lý và kinh tế

Theo các nhà kinh tế, tính công bằng của thuế được xem xét ở hai khía cạnh, công bằng theo chiều ngang và công bằng theo chiều dọc Công bằng theo chiều ngang là các đối tượng có tình trạng và khả năng nộp thuế ngang nhau thì phải được đối xử về thuế như nhau Công bằng theo chiều dọc là sự đối xử về thuế khác nhau đối với các đối tượng có tình trạng và khả năng đóng thuế khác nhau Tính công bằng thuế còn được các nhà kinh tế xem xét ở khía cạnh khả năng đóng thuế, lợi ích của người nộp thuế Theo quan niệm này, công dân chỉ đóng thuế theo tỉ lệ tương ứng với những lợi ích mà họ nhận được từ Nhà nước

và họ chỉ đóng thuế theo khả năng của họ Xét ở khía cạnh lý luận, những quan điểm này rất hợp lý và thể hiện quan điểm nhân văn cũng như dân chủ của chính sách thuế, tránh được tình trạng tận thu thuế, cũng như đòi hỏi Nhà nước phải

Trang 11

chú ý đến việc cung cấp các lợi ích công cộng tương ứng với sự đóng góp của nhân dân Tuy nhiên trên thực tế, có một số khó khăn khi vận dụng các quan điểm này Xuất phát từ sự hoàn trả không trực tiếp của thuế, rất khó để cân đong

đo đếm xem một người có nhận được những lợi ích công cộng tương đương với

sự đóng góp của họ hay không Ở những trường hợp mà mục tiêu của thuế là nhằm điều tiết thu nhập, rút ngắn khoảng cách giữa người giàu và người nghèo thì việc xác định mức độ tương thích giữa sự đóng góp và lợi ích nhận được này còn phải được phân tích kỹ lưỡng hơn vì một số lợi ích công cộng mà người giàu nhận được từ Nhà nước sẽ khác so với một số lợi ích mà người nghèo được hưởng Hoặc có một số lợi ích giống nhau nhưng người giàu sẽ có điều kiện để hưởng nhiều hơn và ngược lại Áp dụng việc đánh thuế dựa trên khả năng đóng thuế của người dân sẽ gặp rất nhiều khó khăn đối với các quốc gia mà ở đó Nhà nước không thể quản lý được tất cả các nguồn thu nhập (chính thức, không chính thức) của người dân

Về mặt pháp lý, pháp luật Việt Nam luôn luôn hướng đến sự công bằng, bình đẳng Nguyên tắc này cũng được công nhận trong Hiến pháp Việt Nam Theo đó mọi cá nhân đều bình đẳng trước pháp luật, không bị phân biệt đối xử Nguyên tắc công bằng này được đảm bảo bằng việc gắn chặt chính sách thuế với chế độ dân chủ và Nhà nước pháp quyền

2.3 Thước đo công bằng thuế

Người ta thường đo lường công bằng thuế thông qua mức độ công bằng theo chiều dọc và công bằng theo chiều ngang Công bằng theo chiều dọc là sự đối xử về thuế khác nhau đối với các đối tượng có tình trạng và khả năng đóng thuế khác nhau (Erich và cộng sự, 2006) Điều này sẽ dẫn đến người có thu nhập cao nộp thuế ở mức thuế cao hơn so với người thu nhập thấp Công bằng theo

Trang 12

chiều dọc được đánh giá dựa trên khả năng chi trả và sự ưa thích cấu trúc thuế (thuế tỷ lệ hay thuế lũy tiến) Công bằng theo chiều ngang là các đối tượng có tình trạng và khả năng nộp thuế ngang nhau thì phải được đối xử về thuế như nhau Hai nhân tố công bằng này bắt nguồn từ lý thuyết công bằng phân phối Lý thuyết này khẳng định một hệ thống được xem là công bằng thì nó cần phải đối

xử với những người trong hoàn cảnh tương tự theo một cách tương đương, không bỏ qua những nhu cầu cá nhân Nói cách khác, lý thuyết cho thấy có sự tương quan giữa các nhân tố công bằng với cảm nhận công bằng trong hệ thống thuế

Các nhân tố công bằng khác bao gồm công bằng chung, lợi ích cá nhân, công bằng cấu trúc thuế, các điều khoản đặc biệt, công bằng trao đổi (Gilligan và Richardson, 2005; Richardson, 2005a; Christensen và Weichrich, 1996; Christensen và cộng sự, 1994; Gerbing, 1988)

2.3.1 Lý thuyết công bằng

Lý thuyết công bằng cho rằng cá nhân quyết định công bằng hay không dựa trên kết quả, và họ tin rằng những ưu đãi và hình phạt sẽ được phân phối phù hợp tương ứng với sự đóng góp (Bobek, 1997) Ngoài ra, lý thuyết công bằng thừa nhận cá nhân sẽ tuân thủ quy định hơn nếu họ cảm nhận họ đang được đối

xử công bằng Trong thuật ngữ đơn giản, lý thuyết công bằng liên quan đến công bằng trao đổi

Trong lĩnh vực thuế, công bằng trao đổi đề cập đến sự trao đổi giữa người nộp thuế và chính phủ Về mặt lý thuyết, người nộp thuế sẽ cảm nhận hệ thống thuế công bằng nếu những lợi ích nhận được từ chính phủ so với số tiền thuế đã nộp là một tỷ lệ công bằng Nếu tỷ lệ này không công bằng (bất lợi cho người nộp thuế) thì trao đổi với chính phủ được xem như không công bằng và người

Trang 13

nộp thuế sẽ tìm cách để lập lại sự công bằng thông qua việc không tuân thủ Tuy nhiên, trong thực tế, công bằng trong trao đổi trong lĩnh vực thuế có thể không đạt được do nhu cầu của người nộp thuế khác nhau

2.3.2 Lý thuyết công bằng phân phối

Bản chất của lý thuyết công bằng phân phối là cá nhân đánh giá công bằng phân phối bằng cách so sánh những lợi ích nhận được với tỷ lệ đóng góp của họ với những người khác trong nhóm Họ sẽ cảm thấy công bằng nếu kết quả phân phối là bình đẳng giữa những người đóng góp tương tự (Walster và cộng sự, 1978); Đó chính là công bằng theo chiều ngang

Trong lĩnh vực thuế, công bằng theo chiều ngang cho rằng người nộp thuế ngang bằng nhau trước thuế thì cũng ngang bằng sau thuế Nói cách khác, công bằng theo chiều ngang yêu cầu các cá nhân ở vị trí kinh tế tương tự nhau bị đánh thuế ở mức tương đương bất kể phúc lợi của họ Điều này dựa trên nguyên tắc bình đẳng được đề xuất bởi Leventhal (1976) Tuy nhiên, với cùng một mức thu nhập tương tự nhau, hai người có thể có những hoàn cảnh khác nhau như số người phụ thuộc Do đó, nhân tố công bằng thuế cần phải được bổ sung các nhân

tố khác để đảm bảo công bằng tổng thể

Leventhal (1976) đề nghị rằng công bằng phân phối nên thực hiện sau khi tinh đến nhu cầu của cá nhân Ý tưởng của nguyên tắc này là tỷ lệ đầu vào và đầu ra không nhất thiết phải tương đương để đạt được sự công bằng, mà phụ thuộc vào nhu cầu cá nhân Đó chính là công bằng theo chiều dọc Trong lĩnh vực thuế, công bằng theo chiều dọc thường có liên quan đến khả năng chi trả (Kirchler và cộng sự, 2006) Nói cách khác, công bằng theo chiều dọc cho thấy rằng người có thu nhập cao phải nộp thuế nhiều hơn (ở một thuế suất cao hơn) so với những người có thu nhập thấp hơn Một cách khác, công bằng theo chiều dọc

Trang 14

cũng được liên kết với lợi ích nhận được của người có thu nhập thấp Trong mối quan hệ này, người có thu nhập thấp không chỉ nộp thuế ít hơn mà họ còn có quyền nhận được nhiều lợi ích hơn từ chính phủ Do đó, không giống với công bằng theo chiều ngang, công bằng theo chiều dọc xem xét phúc lợi của cá nhân trước khi xác định sự đóng góp thuế và quyền nhận trợ cấp của chính phủ

Lý thuyết công bằng phân phối cũng liên quan đến việc phân bổ công bằng các hình phạt, được biết đến như công bằng trừng phạt (Cook và Hegtvedt, 1983) Một hình phạt được xem như công bằng nếu mức phạt tương xứng với hành vi vi phạm Trong lĩnh vực thuế, có nhiều mức phạt dành cho hành vi không tuân thủ Để đạt được sự công bằng, hệ thống thuế phải áp dụng hình phạt phù hợp với hành vi không tuân thủ

2.3.3 Lý thuyết công bằng thủ tục

Lý thuyết công bằng thủ tục cho thấy rằng việc sử dụng các thủ tục công bằng có thể làm cá nhân cảm nhận công bằng hơn khi sử dụng các thủ tục không công bằng Ngoài ra, Leventhal (1980) khẳng định rằng có 6 tiêu chuẩn xác định

sự công bằng thủ tục: tính nhất quán, không thiên vị, chính xác, khả năng hiệu chỉnh, tính đại diện, và đạo đức

Trong lĩnh vực thuế, công bằng thủ tục được sử dụng trong hệ thống thuế

có thể ảnh hưởng đến cảm nhận công bằng của người nộp thuế Nếu người nộp thuế nhận thức rằng các thủ tục áp dụng trong việc tính thuế của họ là không công bằng, xu hướng người nộp thuế không tuân thủ là cao và ngược lại Khi xem xét công bằng thuế, người nộp thuế thường đánh giá tính nhất quán của các thủ tục được áp dụng trong hệ thống thuế Thủ tục áp dụng trong hệ thống thuế nên nhất quán trong một khoảng thời gian và đối với tất cả người nộp thuế Thêm vào đó, không thiên vị cũng là một nhân tố quan trọng của thủ tục công

Trang 15

bằng Các thủ tục trong hệ thống thuế không nên khuyến khích đối xử ưu tiên hoặc lợi ích cá nhân Nói cách khác, tất cả người nộp thuế phải được đối đãi như nhau Liên quan đến tính chính xác, hệ thống thuế nên xử lý vấn đề về thuế với

sự thận trọng nhất Ra quyết định dựa trên thông tin sai sẽ dẫn đến cảm nhận không công bằng của người nộp thuế Tiêu chí khả năng hiệu chỉnh nói đến cơ hội được sửa đổi của các thông tin không chính xác của người nộp thuế Để đạt được sự đồng thuận, các thủ tục sử dụng trong hệ thống thuế phải đại diện cho tất cả người nhận Cuối cùng, các thủ tục sử dụng phải dựa trên chuẩn mực đạo đức

Sự hiện diện của các tiêu chuẩn trên trong hệ thống thuế là rất quan trọng

vì đó là cơ sở đánh giá công bằng thủ tục Nếu người nộp thuế nhận thấy công bằng thủ tục bị vi phạm, cảm nhận công bằng của họ sẽ giảm và ảnh hưởng đến hành vi tuân thủ thuế của họ (Ajzen, 1982; Douglas và cộng sự, 2007)

2.4 Lý thuyết tuân thủ thuế

Tuân thủ thuế có nghĩa là tuân theo luật thuế Theo Singh (2003), định nghĩa tuân thủ thuế là một hành động của một người kê khai đầy đủ tờ khai thuế thu nhập, khai chính xác tất cả các khoản thu nhập chịu thuế và đóng số thuế phải nộp trong thời hạn qui định mà không bị cơ quan thuế nhắc nhở hay sử dụng các biện pháp đối phó với người nộp thuế không tuân thủ Roth và các cộng

sự (1989) phát biểu rằng tuân thủ với quy định về báo cáo thuế có nghĩa là người nộp thuế nộp tất cả tờ khai thuế yêu cầu đúng hạn và tờ khai đó báo cáo chính xác nghĩa vụ thuế theo quy định của Luật thuế, các hướng dẫn thi hành và các quyết định của tòa án áp dụng tại thời điểm nộp tờ khai thuế

Không tuân thủ đề cập đến không tuân thủ pháp luật thuế Các loại không tuân thủ: Thứ nhất, không tuân thủ trong nộp hồ sơ thuế, đề cập đến việc không

Trang 16

nộp tờ khai thuế cho cơ quan thuế, điều này sẽ dẫn đến lỗ hổng thuế, nghĩa là số thuế chưa thanh toán bị bỏ qua Thứ hai, không tuân thủ trong nộp thuế, đề cập đến việc nộp thuế không kịp thời, có nghĩa là nộp thuế không đúng hạn với cơ quan thuế Nộp thuế đúng hạn rất quan trọng với cơ quan thuế Thuế thu được bây giờ sẽ được sử dụng cho chi tiêu của chính phủ, nếu ngân sách không đủ thì phải vay và phải chịu chi phí tăng thêm Thứ ba, không tuân thủ trong khai báo thuế chính xác (báo cáo thấp thuế) Đây được xem như là hành vi phạm tội mà phải chịu hình phạt nặng Người nộp thuế âm mưu không báo cáo thuế bằng cách tránh thuế hay trốn thuế đều là bất hợp pháp Người nộp thuế không tuân thủ gây

ra một vấn đề nghiêm trọng với cơ quan thuế bởi vì người nộp thuế trốn được thuế và gánh nặng thuế của họ được đẩy sang cho người nộp thuế tuân thủ khác

Andreoni và cộng sự (1998) gọi độ lớn của trốn thuế là lổ hổng thuế, đó là chênh lệch giữa thuế thu nhập mà người nộp thuế thực sự phải nộp và những gì

họ tự nguyện báo cáo và nộp đúng hạn Brown và Mazur (2003) cho rằng định nghĩa lý thuyết tuân thủ của người nộp thuế bao gồm “ba thước đo toàn diện và loại trừ nhau” tuân thủ thanh toán, tuân thủ nộp hồ sơ thuế và tuân thủ kê khai thuế Có rất nhiều biến độc lập trong dự báo về tuân thủ thuế từ các yếu tố kinh

tế đến phi kinh tế Các yếu tố kinh tế là phát hiện và trừng phạt, sự cưỡng bức, gánh nặng thuế trong khi các yếu tố phi kinh tế như đề cập của Alm, Sanchez và Ana (1995) là hành vi trong tự nhiên Yếu tố tâm lý tài chính là một yếu tố quan trọng trong nghiên cứu tuân thủ thuế và nhiều nghiên cứu tuân thủ thuế trên sự công bằng thuế cho thấy kết quả có ý nghĩa Nói chung quyết định tuân thủ hay không là thái độ tìm kiếm lợi nhuận hợp lý của một cá nhân (Allingham và Sandmo, 1972) Một khó khăn chính trong phân tích không tuân thủ là phương pháp đo lường

Trang 17

Braithwaite (2003) lập luận rằng thái độ của người nộp thuế đối với hệ thống thuế và hành vi nộp thuế của người nộp thuế sẽ ảnh hưởng đến mức độ không tuân thủ thuế Vì vậy cả hai phải được đo lường để hiểu được mức độ tổng thể của hành vi không tuân thủ Một cách tự nhiên, cá nhân có động cơ để che giấu sự gian lận của họ Nghiên cứu này nhằm xem xét các mối quan hệ giữa công bằng thuế và tuân thủ thuế sử dụng 14 yếu tố không tuân thủ được phát triển bởi Yankelovich và cộng sự (1984) và đã được sử dụng bởi Galligan và Richardson (2005) và Richardson (2006) Trong việc giải thích hành vi tuân thủ của người nộp thuế, có nghĩa là lý do tại sao người nộp thuế tuân thủ và không tuân thủ, có hai lý thuyết phổ biến là lý thuyết dựa trên các yếu tố kinh tế, nhấn mạnh đến sự khuyến khích và lý thuyết dựa trên tâm lý, nhấn mạnh đến thái độ (Trivedi và Shehata, 2005) Phần tiếp theo sẽ xem xét lý thuyết răn đe và lý thuyết tâm lý học có liên quan đến tuân thủ thuế

2.4.1 Lý thuyết răn đe

Lý do của việc không tuân thủ nghĩa vụ thuế của người nộp thuế là mối quan tâm đặc biệt đối với cơ quan thuế trên toàn thế giới Theo một số nghiên cứu trước đây khi xem xét hành vi tuân thủ thuế và xu hướng trốn thuế, sử dụng

mô hình lý thuyết răn đe được ủng hộ nhiều (Jackson và Milliron, 1986; Roth, Scholz và Witte, 1989)

Lý thuyết răn đe nhấn mạnh đến việc sử dụng sự đe dọa, ép buộc Do đó, công cụ mà cơ quan thuế có thể sử dụng để điều chỉnh hành vi của người nộp thuế là thuế suất, khả năng phát hiện trốn thuế, hậu quả pháp lý và mức độ nghiêm trọng của các hậu quả pháp lý Tuy nhiên, một hệ thống mà chủ yếu dựa trên giám sát và xử phạt sẽ rất tốn kém Lý thuyết răn đe làm được gì? Điều quan trọng là chúng cần thiết để ngăn chặn hành vi không tuân thủ của người nộp thuế

Trang 18

như không nộp đủ thuế cho chính phủ từ nguồn thu nhập hợp pháp của mình Người nộp thuế tìm kiếm lợi nhuận từ trò chơi may rủi giữa lợi nhuận từ trốn thuế và rủi ro bị phát hiện và trừng phạt

Lý thuyết răn đe hàm ý các yếu tố thuộc về chính sách thuế và sự quản lý của cơ quan thuế

Chính sách thuế được xây dựng đồng bộ, rõ ràng, đơn giản, minh bạch và càng ít ngoại lệ sẽ tạo môi trường thuận lợi cho sản xuất kinh doanh phát triển, giảm chi phí tuân thủ, giảm rủi ro do tham nhũng và phiền hà cho người nộp thuế qua đó cũng giúp cho việc thực hiện tuân thủ thuế tốt hơn Ngược lại, nếu hệ thống pháp luật thuế phức tạp, không đồng bộ, thiếu tính chặt chẽ và chồng chéo

sẽ làm tăng cơ hội cho người nộp thuế có những hành vi lợi dụng kẽ hở của luật

để trục lợi, làm giảm tác dụng quản lý và răn đe của luật pháp

Một cơ quan thuế có tổ chức hợp lý, có trình độ, khả năng quản lý tốt sẽ đảm bảo duy trì tính thực thi của luật pháp, đảm bảo tính công bằng trong giải quyết các vấn đề tranh chấp về thuế, qua đó góp phần nâng cao tính tuân thủ thuế Bên cạnh đó tính cưỡng chế hợp lý của cơ quan thuế cũng là một yếu tố quyết định sự tuân thủ thuế, thể hiện ở các biến số như: tần suất thanh tra thuế, khả năng phát hiện trốn thuế và rủi ro về thuế, các biện pháp cưỡng chế thuế, mức độ nghiêm khắc của hình phạt do trốn thuế Việc kiểm soát và cưỡng chế hợp lý của cơ quan thuế sẽ đảm bảo tính răn đe đối với các trường hợp cố tình vi phạm pháp luật Ngoài yếu tố thanh tra, kiểm tra của cơ quan thuế thì việc giám sát tuân thủ thuế nói chung cũng rất quan trọng, giám sát của xã hội, giám sát của các cơ quan dân cử đối với các hành vi không tuân thủ, qua đó phát hiện các trường hợp không tuân thủ và có các biện pháp xử lý phù hợp Ngoài ra, cơ quan

Trang 19

thuế phải có sự phối hợp với các đơn vị có liên quan trong việc quản lý thuế để

có thể nắm bắt chính xác về tình trạng tuân thủ của người nộp thuế

Những lý thuyết xuất hiện sau này vào cuối những năm 80, những biến dựa trên tâm lý được thử nghiệm để hiểu được hành vi tuân thủ thuế như là vai trò của nghĩa vụ đạo đức, cảm nhận công bằng, lợi ích cá nhân… Như tuyên bố của Torgler (2001), tăng sự răn đe đối với người nộp thuế trung thực sẽ phá vỡ

sự cân bằng Những người nộp thuế mà đã nộp đúng thuế nhưng bị kiểm toán và sau đó bị phạt, và thậm chí còn bị quấy rầy nhiều hơn những người nộp thuế mà

vi phạm pháp luật nhưng không bị trừng phạt Vì vậy, người nộp thuế không thể

bị đối đãi một cách khắc nghiệt, bởi vì theo Murphy (2005) thì không trừng phạt nhưng khắc phục hậu quả và bảo đảm tuân thủ trong tương lai Nhiều nhà nghiên cứu thuế đã đặt câu hỏi về sự phù hợp của mô hình lý thuyết răn đe mà được sử dụng để giải thích hành vi tuân thủ bởi vì răn đe cũng có thể phản tác dụng Do

đó, nghiên cứu đề nghị thái độ đối với hệ thống thuế trong việc giải thích hành vi không tuân thủ của người nộp thuế

2.4.2 Lý thuyết tâm lý tài chính

Với thực tế là các nghiên cứu sự tuân thủ thuế sử dụng lý thuyết răn đe đã báo cáo kết quả không phù hợp liên tục, nhiều nhà nghiên cứu đã đặt câu hỏi mô hình lý thuyết răn đe có phải là mô hình thích hợp để giải thích hành vi tuân thủ của người nộp thuế Thay vào đó, các nhà nghiên cứu đề nghị thái độ của người nộp thuế đối với hệ thống thuế cần đưa vào khi xem xét lý thuyết không tuân thủ Những phát hiện của nghiên cứu được thực hiện về thái độ, niềm tin đối với hệ thống thuế và trốn thuế đã cho thấy thái độ của người nộp thuế đối với hệ thống thuế và cách đối xử của cơ quan thuế đối với người nộp thuế là rất quan trọng trong việc giải thích sự không tuân thủ của người nộp thuế

Trang 20

Lý thuyết tâm lý cho rằng yếu tố tâm lý, bao gồm cả mối quan tâm đạo đức cũng rất quan trọng đối với người nộp thuế, và vì vậy người nộp thuế có thể tuân thủ ngay cả khi rủi ro bị kiểm toán là thấp Lý thuyết tâm lý ít nhấn mạnh đến kiểm toán và các hình phạt, mà tập trung vào sự thay đổi thái độ của người nộp thuế đối với hệ thống thuế

Lý thuyết tâm lý tài chính đề cập đến các nhân tố hành vi của người nộp thuế Các yếu tố hành vi bao gồm cảm nhận về sự công bằng trong tuân thủ thuế,

sự sợ hãi, lo sợ về khả năng vi phạm pháp luật thuế, thái độ của người nộp thuế đối với rủi ro khi trốn thuế Cụ thể:

Sự khác biệt của từng cá nhân: giới tính, tuổi tác, trình độ học vấn, đạo đức, ngành nghề, tính cách, hoàn cảnh luôn chứa đựng những rủi ro nhất định trong việc tuân thủ pháp luật thuế vì nó tác động đến hành vi của người nộp thuế Nếu người nộp thuế hiểu rõ pháp luật thuế, họ có thể tự giác chấp hành pháp luật thuế tốt hơn và ngược lại sẽ dẫn đến tình trạng tránh thuế, trốn thuế

Cảm nhận về rủi ro tối thiểu cũng có tác động nhất định đến tuân thủ thuế Nếu người nộp thuế có cơ hội không tuân thủ và họ có ý nghĩ rằng rủi ro không đáng kể nếu không tuân thủ thì người nộp thuế đó dễ dàng chấp nhận rủi ro này

để đổi lấy sự không tuân thủ, và do vậy có thể xuất hiện tình trạng không kê khai hoặc kê khai số liệu tính thuế thấp hơn số liệu thực tế

Cảm nhận về sự không công bằng là nhân tố có ảnh hưởng đến mức độ tuân thủ thuế Nếu người nộp thuế cho rằng hệ thống pháp luật thuế không đảm bảo sự công bằng hoặc người nộp thuế bị đối xử không công bằng thì họ có thể ít tuân thủ hơn Một khi người nộp thuế cảm thấy bị đối xử không công bằng, thiếu

sự tin tưởng thì nguy cơ hoạt động của nền kinh tế ngầm có thể gia tăng, người nộp thuế cố tình trốn tránh thực hiện nghĩa vụ thuế Bên cạnh đó, nhận thức về

Trang 21

tính không công bằng trong tiếp cận thông tin và thủ tục hành chính thuế có tác động không nhỏ đến tâm lý tuân thủ thuế, đặc biệt khi hệ thống thủ tục tuân thủ thuế phức tạp, rườm rà

2.5 Tác động của công bằng đến sự tuân thủ thuế

Cảm nhận của người nộp thuế về hệ thống thuế là rất quan trọng bởi vì sự công bằng trong hệ thống thuế sẽ ảnh hưởng rất lớn đến ý định tuân thủ của người nộp thuế (Alabede, Ariffin và Idris, 2011) Một hệ thống thuế được xem như thất bại khi người nộp thuế cảm thấy hệ thống thuế không công bằng và điều này có thể là một trong những lý do dẫn đến việc không tuân thủ của người nộp thuế

Theo Ahmad và Razak (2007), người nộp thuế cảm nhận hệ thống thuế không công bằng có thể khuyến khích người nộp thuế hành động không tuân thủ thuế Trong nghiên cứu của mình, ông đã tìm thấy một mối tương quan dương giữa nhận thức công bằng và ý định tuân thủ thuế

Tóm lại, các nhà nghiên cứu tuân thủ thuế đã chứng minh rằng nhận thức công bằng của hệ thống thuế là rất quan trọng trong hành vi tuân thủ của người nộp thuế Phần tiếp theo sẽ trình bày từng tác động của từng nhân tố công bằng thuế đến sự tuân thủ thuế

2.6 Các nhân tố công bằng thuế

Richardson (2006) cho rằng công bằng thuế là một khái niệm đa hướng Bên cạnh đó, Gerbing (1988) đã xác định 5 nhân tố công bằng trong cuộc khảo sát của mình: (1) sự công bằng chung, (2) sự trao đổi với chính phủ, (3) những điều khoản đặc biệt, (4) cấu trúc thuế suất, và (5) lợi ích bản thân

Trang 22

2.6.1 Công bằng chung hay sự phân phối gánh nặng thuế

Công bằng chung đề cập đến công bằng trong phân phối gánh nặng thuế Gánh nặng thuế có được phân phối công bằng giữa người nộp thuế trong cùng một nhóm hay giữa các nhóm hay không Phân phối gánh nặng thuế trong cùng nhóm đề cập đến công bằng ngang, nghĩa là người trong cùng một nhóm chia sẻ nghĩa vụ thuế như nhau và phân phối gánh nặng thuế giữa các nhóm đề cập đến công bằng dọc, đó là chia sẻ gánh nặng giữa những người khác nhóm

Công bằng theo chiều ngang là nhân tố thường được nhắc đến trong công bằng thuế Công bằng theo chiều ngang nghĩa là người nộp thuế có cùng thu nhập (hoặc tài sản) nên nộp thuế như nhau Công bằng theo chiều ngang cũng cho thấy rằng người nộp thuế có hoàn cảnh tương tự nhau nên trả một khoảng thuế giống nhau

Để giải thích đầy đủ hơn công bằng theo chiều ngang, thật cần thiết để trở lại ý tưởng rằng công bằng thì liên quan đến việc thỏa mãn nhu cầu Hai người kiếm được cùng một khoản thu nhập, nhưng không thể có hoàn cảnh tương tự nhau, và vì vậy khả năng nộp thuế khác nhau Một số tiền nhất định trong thu nhập kiếm được của mỗi người thì cần phải cung cấp cho nhu cầu cơ bản của con người-nhu cầu này thay đổi khi xã hội thay đổi Số tiền đó không phải chịu thuế Số tiền trong thu nhập mà không chịu thuế phụ thuộc vào nhiều yếu tố, bao gồm chi phí sinh hoạt, số người phụ thuộc…,

Công bằng theo chiều ngang là sự biện minh cho sự giảm trừ trong thuế thu nhập cá nhân Giảm trừ trong thuế thu nhập cá nhân cố gắng đạt được công bằng theo chiều ngang với mức độ thành công khác nhau Thật không may, hầu hết các quy định này làm tăng sự phức tạp và giảm sự cảm nhận công bằng theo chiều ngang của người nộp thuế không đủ điều kiện giảm trừ

Trang 23

Công bằng chiều dọc yêu cầu người nộp thuế với điều kiện kinh tế khác nhau thì nộp thuế ở tỉ lệ khác nhau (Erich et al., 2006) Như vậy, người có thu nhập cao sẽ nộp thuế ở mức cao hơn người có thu nhập thấp

Công bằng theo chiều dọc nghĩa là gánh nặng thuế phải dựa trên khả năng nộp thuế Rõ ràng những cá nhân có mức thu nhập đủ sống thì không nên là mục tiêu của các loại thuế bởi vì họ cần tất cả nguồn lực của họ để cung cấp cho bản thân và gia đình họ Ngoài mức thu nhập đủ sống hoặc bần cùng, công bằng dọc

đề nghị rằng tất cả công dân đều phải nộp thuế, dù nhỏ

Công bằng theo chiều dọc thường biện minh cho cấu trúc thuế suất lũy tiến trong thuế thu nhập cá nhân Khi thu nhập tăng lên, thuế suất tăng lên Như vậy, mức hữu dụng biên của thu nhập tăng thêm sẽ giảm Nếu thuế suất tăng không giới hạn, có nguy cơ người nộp thuế sẽ đạt đến đỉnh cao mà tại đó họ sẽ ngừng làm việc

Ngoài công bằng trong phân phối gánh nặng thuế, công bằng chung còn đề cập đến công bằng thủ tục Công bằng thủ tục là thủ tục pháp lý sử dụng trong hệ thống thuế phải nhất quán trong một khoảng thời gian và như nhau đối với tất cả người nộp thuế

Một điều nguy hiểm trong bất kỳ hệ thống thuế nào là những người có trách nhiệm thực thi luật thuế và thu thuế sẽ lạm dụng quyền hạn Những biện pháp ngăn ngừa để ngăn cản lạm dụng quyền hạn là điều cần thiết để đạt được công bằng thủ tục trong bất kỳ hệ thống luật pháp nào, bao gồm cả hệ thống thuế Thông tin từ cơ quan thuế nên mô tả rõ ràng nghĩa vụ của người nộp thuế

và cơ sở pháp lý đối với các quyết định phạt và ấn định thuế Cũng nên có các thủ tục để khiếu nại về số thuế phải nộp và cũng nên có giới hạn thích hợp đối với các biện pháp thu nợ thuế của cơ quan thuế Bất kỳ thủ tục khiếu nại hay

Trang 24

quyền lợi của người nộp thuế nên dành cho tất cả người nộp thuế chứ không chỉ dành cho những người có kiến thức thuế

Cuối cùng, người nộp thuế nên được đối xử tôn trọng và hỗ trợ (không ép buộc) khi khai thuế và nộp thuế Luật thuế cũng đã quy định rõ quyền lợi của người nộp thuế Tuy nhiên, tôn trọng là thái độ hay quan điểm và không thể đạt được chỉ bằng luật Trong cơ quan thuế, thực hiện văn hóa công sở là cần thiết

để đạt khía cạnh này của công bằng thủ tục

Một số nghiên cứu cho rằng công bằng thủ tục ảnh hưởng đến việc chấp nhận các quyết định của cơ quan thuế và xây dựng lòng tin giữa cơ quan thuế và người nộp thuế (Braithwaite, 2003; Murphy, 2004) Công bằng thủ tục quan trọng với cơ quan thuế bởi vì bằng cách ban hành các thủ tục công bằng, cơ quan thuế hỗ trợ tính hợp pháp của họ (Tyler, 1997, 2006) Mặc dù, công bằng thủ tục

ít được sự quan tâm hơn công bằng phân phối, có một số bằng chứng cho thấy công bằng thủ tục thì liên quan đến việc tuân thủ hay không tuân thủ thuế và tinh thần thuế Kircher, Niemirowski, và Wearing (2006) phát hiện ra cảm nhận sự hỗ trợ tư vấn từ cán bộ thuế liên quan đến sự tuân thủ trong báo cáo thuế và nghiên cứu của Pommerehne và Frey (1992)

2.6.2 Trao đổi với chính phủ

Công bằng trong trao đổi với chính phủ đề cập đến số dịch vụ công nhận được từ chính phủ cho mỗi đồng tiền thuế mà người nộp thuế đã nộp Thuế là cái giá mà người nộp thuế phải trả cho cơ sở hạ tầng và những dịch vụ thiết yếu được cung cấp bởi chính phủ Công bằng trong trao đổi với chính phủ có nghĩa là về lâu dài cơ quan chính phủ cung cấp những dịch vụ và hàng hóa công tương xứng đáp ứng nhu cầu của người nộp thuế và gia đình của họ Công bằng trong trao đổi với chính phủ không có nghĩa là trong một thời điểm xác định, số tiền nộp thuế

Trang 25

của người nộp thuế sẽ tương ứng chính xác với giá trị nhận được từ những lợi ích trực tiếp hoặc gián tiếp của thuế

Tiền thuế phải góp quỹ để tài trợ cho những dịch vụ chung thiết yếu như giáo dục, bảo vệ, chăm sóc sức khỏe, an toàn công cộng, dịch vụ xã hội và ngay

cả cơ quan quản lý thuế Một số lớn tiền thuế thu được phải được đầu tư vào tài sản lâu dài như sân bay, cầu, đường cao tốc, trường học và những tòa nhà công cộng Những đầu tư cơ sở hạ tầng này không chỉ là lợi ích hiện tại mà còn là lợi ích trong tương lai của người nộp thuế Mặc dù người nộp thuế có thể không có nhu cầu sử dụng những phương tiện hay dịch vụ mà chính phủ cung cấp, nhưng thiếu những phương tiện hay dịch vụ này sẽ tác động tiêu cực đến chất lượng cuộc sống của họ Ví dụ như sự hiện diện của sở cảnh sát hoặc sở cứu hỏa mang lại sự yên tâm ngay cả khi bạn không bao giờ cần phải gọi cho họ

Công bằng trong trao đổi với chính phủ cũng cho phép chia sẻ các quỹ đóng góp với những người khác cho sự hứa hẹn các lợi ích tương lai khi cần thiết

Hệ thống an sinh xã hội phần lớn dựa vào số tiền nộp thuế của những người lao động hiện tại để tài trợ cho lợi ích của những người lao động đã nghỉ lưu Điều này như một lời hứa hẹn tiềm ẩn là khi những người lao động nghỉ hưu, những người khác sẽ tài trợ cho những lợi ích của họ Kinh phí cứu trợ thiên tai cũng có thể xem là công bằng trao đổi tiềm ẩn người nộp thuế sẵn sàng hỗ trợ các nạn nhân của thảm họa tự nhiên hay nhân tạo, không chỉ vì đó là điều phải làm, mà còn bởi vì họ điều kỳ vọng rằng viện trợ tương tự sẽ đến với họ nếu họ là nạn nhân của những thảm họa như vậy

Đối với một hệ thống thuế dựa trên khái niệm sự tuân thủ tự nguyện để hoạt động hiệu quả, người nộp thuế phải có một cảm nhận tích cực trong công

Trang 26

bằng trao đổi Họ phải cảm thấy rằng trong thời gian dài, họ sẽ nhận được giá trị của số tiền nộp thuế của họ

Những nghiên cứu trước đây hoàn toàn dùng để định nghĩa công bằng thuế dưới dạng được gọi là thước đo trao đổi với chính phủ, đề cập đến phúc lợi

từ chính phủ trong sự trao đổi với một đô la tiền thuế (Christenson và cộng sự, 1994) Theo Gerbing (1988), sự trao đổi với chính phủ được xem xét gắn trực tiếp với lý thuyết công bằng, bởi vì người nộp thuế so sánh phúc lợi chiếu theo mối quan hệ với tiền thuế của họ Lý thuyết công bằng dự báo rằng cá nhân có nhiều khả năng tuân thủ các quy định khi họ cảm nhận hệ thống xác định các quy định đó công bằng trong quan điểm tuân thủ (Thibaut và cộng sự, 1974)

2.6.3 Các điều khoản đặc biệt

Nghiên cứu của Gerbing (1988) về cảm nhận của người nộp thuế ở Mỹ đã xác định một nhân tố đề cập đến việc đánh thuế người giàu có Ở Mỹ có một số đặc quyền rõ ràng chỉ dành cho người giàu có Tuy nhiên, ở Việt Nam không có quy định nào trong hệ thống thuế cung cấp đặc quyền cho người giàu có Chỉ có các khoản giảm trừ chung và các điều khoản có nghĩa cho tất cả những ai thực sự

đủ điều kiện Tuy nhiên, người nộp thuế giàu có có sự đòi hỏi cao về y tế, ngay

cả chính sách bảo hiểm trẻ em và hơn nữa là quyền lợi được hưởng tương xứng với phong cách sống và địa vị xã hội của họ Một giảm trừ có thể liên quan đến đặc quyền của người nộp thuế giàu có là sự đóng góp cho các tổ chức từ thiện thì được giảm trừ vào tổng thu nhập Tuy nhiên, điều này không gần gũi lắm với những gì đã được giải thích bởi Gerbing (1988) là có những điều khoản cụ thể trong chính sách thuế của Mỹ dành riêng cho tầng lớp người nộp thuế giàu có Ở Việt Nam, các điều khoản áp dụng cho tất cả người nộp thuế một cách công bằng

và bình đẳng

Trang 27

2.6.4 Cấu trúc thuế suất (thuế tỷ lệ hay thuế lũy tiến)

Nhân tố này đề cập đến cấu trúc thuế suất được ưa thích hơn (thuế lũy tiến hay thuế tỷ lệ) Thuế suất tỷ lệ là một mức thuế suất áp dụng cho tất cả mọi người, bất kể thu nhập Thuế suất lũy tiến cũng là loại thuế suất tỷ lệ, nhưng có đặc điểm là thuế suất tăng dần lên khi thu nhập tăng lên Thuế suất lũy tiến được chia thành lũy tiến từng phần và lũy tiến toàn phần Thuế suất lũy tiến từng phần bao gồm một hệ thống thuế suất tăng dần lên theo từng phần tăng lên của cơ sở đánh thuế, trong khi thuế suất lũy tiến toàn phần là thuế suất tăng theo toàn bộ khi thu nhập tăng lên

Trong các yếu tố cấu thành luật thuế, thuế suất có vị trí quan trọng nhất

Nó thể hiện chính sách động viên thu nhập của Nhà nước đối với các chủ thể trong xã hội, thể hiện các lợi ích kinh tế cũng như quan điểm, đường lối phát triển kinh tế của Nhà nước Do đó, việc thiết kế thuế suất cần phải mang tính khoa học, sát với tình hình thu nhập và khả năng đóng góp của các tổ chức, cá nhân trên cơ sở đó vừa đảm bảo cho Nhà nước có được nguồn thu hợp lý, vừa phát huy được vai trò của thuế suất trong việc khuyến khích sản xuất, tiêu dùng,

và đảm bảo công bằng trong phân phối

Sự công bằng của thuế suất lũy tiến được xem xét từ ít nhất ba quan điểm Thứ nhất, đó là niềm tin rằng người nộp thuế có thu nhập cao hơn nên có nghĩa

vụ thuế cao hơn người nộp thuế có thu nhập thấp hơn, các yếu tố khác không thay đổi Thứ hai, có sự ảnh hưởng của thuế suất đến nghĩa vụ thuế của một người nào đó khi thu nhập của họ tăng hay giảm Thứ ba, đó là quan điểm của cá nhân so với người khác

Hite và Roberts (1991) và Roberts và Hite (1994) thảo luận về thuế suất

ưa thích cho rằng sự gia tăng trong tỷ lệ này sẽ làm tăng sự tuân thủ Kết quả của

Trang 28

Kinsey và Grasmick (1993) thì khác, nghĩa là thuế suất lũy tiến bị chỉ trích là không công bằng và là nguy cơ cho các trường hợp của gian lận thuế tương lai Các nhân tố như là cấu trúc thuế lũy tiến so với thuế tỷ lệ là các biến quan trọng cho hành vi tuân thủ Điều này ám chỉ rằng có sự khác biệt trong thuế suất Theo Reckers và cộng sự (1994) tuyên bố rằng cấu trúc thuế lũy tiến từ từ sẽ thúc đẩy

Hite và Robert (1992) sử dụng 10 thay đổi cải cách thuế đặc trưng để giải thích sự tương quan giữa lợi ích cá nhân và công bằng Kết quả cho thấy có mối tương quan giữa công bằng và lợi ích cá nhân trong trường hợp cải cách thuế và thay đổi thuế McGowan (2000) đề cập đến nhiều nghiên cứu tìm thấy lợi ích cá nhân (định nghĩa như là lợi ích cá nhân trực tiếp) có tác động đáng kể đến thái độ của người nộp thuế Lợi ích cá nhân không công bằng nhưng nó tác động đến thái độ của người nộp thuế Christensen và cộng sự (1994) tìm thấy mối tương quan giữa lợi ích cá nhân và gian lận thuế, nghĩa là không tuân thủ Nếu một cá nhân tin rằng hệ thống thuế không công bằng, thì họ nghĩ đến việc không tuân thủ hoặc làm mọi cách để tránh thuế

Lý thuyết lợi ích cá nhân về kinh tế của Allingham và Sandmo (1972) chỉ xem xét thu nhập cá nhân nghĩa là người nộp thuế thỏa hiệp nộp một số tiền thuế nào đó và hi vọng hành động phát hiện sẽ bù đắp lợi nhuận mà người nộp thuế

Trang 29

có được qua việc trốn thuế Điểm quan trọng nhất để suy nghĩ là người nộp thuế đánh giá hệ thống thuế về nhân tố lợi ích cá nhân có lợi đối với họ bao nhiêu Nếu họ thấy hệ thống thuế có lợi cho họ, họ sẽ tuân thủ, nghĩa là họ tìm kiếm sự công bằng trong hệ thống thuế

2.7 Tổng quan về Luật thuế thu nhập cá nhân ở Việt Nam

Những năm qua, nền kinh tế của Việt Nam đã từng bước hội nhập và phát triển cùng các nước trong khu vực và trên thế giới Cùng với sự hội nhập và phát triển về kinh tế, hệ thống chính sách thuế cũng đã từng bước được sửa đổi, bổ sung hoàn thiện, phù hợp với thông lệ quốc tế, thể hiện tốt vai trò là công cụ quản lý và điều tiết vĩ mô có hiệu quả của Nhà nước đối với nền kinh tế, trong đó việc ban hành và áp dụng Luật thuế thu nhập cá nhân số 04/2007/QH12 (có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2009) là một bước tiến khá quan trọng trong cải cách chính sách thuế thu nhập nói riêng và chính sách thuế nói chung của Việt Nam

Luật thuế thu nhập cá nhân nhằm kiểm soát nền kinh tế và thu nhập cá nhân thông qua đánh thuế Nếu áp dụng hiệu quả, thuế thu nhập cá nhân chắc chắn góp phần rất lớn cho ngân sách quốc gia Nhờ đó mà thâm hụt ngân sách quốc gia và những vấn đề liên quan đến cơ sở hạ tầng, phúc lợi xã hội, dịch vụ chăm sóc sức khỏe… sẽ được giải quyết Điều chắc chắn là khoảng cách giữa người giàu và người nghèo sẽ được thu hẹp đáng kể nếu của cải xã hội được phân bố đúng hơn

Ở Việt Nam, đối tượng nộp thuế thu nhập cá nhân là cá nhân cư trú và cá nhân không cư trú có thu nhập chịu thuế theo quy định của Luật thuế thu nhập cá nhân Đây là nguyên tắc đánh thuế theo cư trú Theo nguyên tắc này, một cá nhân được coi là đối tượng cư trú tại một nước sẽ phải chịu thuế thu nhập cá nhân đối với toàn bộ thu nhập nhận được, không phân biệt nguồn thu nhập phát sinh là ở trong nước hay nước ngoài Còn một cá nhân được coi là đối tượng

Trang 30

không cư trú chỉ phải chịu nghĩa vụ thuế đối với phần thu nhập có nguồn gốc tại nước đó

Luật thuế thu nhập cá nhân ở nước ta xác định thu nhập chịu thuế và phân loại chúng dựa theo nguồn hình thành, bao gồm các loại sau: thu nhập từ kinh doanh, thu nhập từ tiền lương, tiền công, thu nhập từ đầu tư vốn, thu nhập từ chuyển nhượng vốn, chuyển nhượng bất động sản, thu nhập từ trúng thưởng, nhận thừa kế, quà tặng, thu nhập từ bản quyền và nhượng quyền thương mại

Luật thuế thu nhập cá nhân còn quy định các khoản giảm trừ gia cảnh cho người nộp thuế Giảm trừ gia cảnh là số tiền được trừ vào thu nhập chịu thuế trước khi tính thuế đối với thu nhập từ kinh doanh, tiền lương, tiền công của người nộp thuế là cá nhân cư trú Đây chính là biểu hiện rõ nét nhất của tính công bằng theo chiều ngang trong điều tiết thu nhập Tuy có cùng một mức thu nhập như nhau nhưng người có hoàn cảnh khó khăn hơn (ví dụ có nhiều người phải nuôi dưỡng, bị tàn tật ) sẽ gặp khó khăn nhiều hơn khi phải nộp cùng một mức thuế với những người có điều kiện thuận lợi Giảm trừ gia cảnh bao gồm giảm trừ đối với người nộp thuế (4 triệu đồng/tháng) và giảm trừ đối với người phụ thuộc (1,6 triệu đồng/tháng) Người phụ thuộc là người mà người nộp thuế có trách nhiệm nuôi dưỡng, bao gồm con chưa thành niên; con bị tàn tật, không có khả năng lao động và các cá nhân không có thu nhập hoặc thu nhập không vượt quá mức quy định như con thành niên đang học đại học, vợ hoặc chồng không có khả năng lao động, bố mẹ đã hết tuổi lao động hoặc không có khả năng lao động và những người khác không nơi nương tựa Ngoài ra, người nộp thuế còn được giảm trừ đối với các khoản đóng góp từ thiện, nhân đạo

Theo Luật thuế thu nhập cá nhân có hai loại thuế suất: thuế suất toàn phần

và thuế suất lũy tiến từng phần Trong đó, thuế suất lũy tiến từng phần áp dụng cho

Trang 31

thu nhập từ kinh doanh, tiền lương, tiền công của cá nhân cư trú, có mức thuế suất

từ 5% đến 35% (Bảng 2.1) Cá nhân không cư trú bị đánh thuế tỷ lệ cố định 20% đối với thu nhập từ tiền lương, tiền công và đánh thuế tỷ lệ đối với thu nhập từ hoạt động kinh doanh: 1% (kinh doanh hàng hóa), 2% (kinh doanh dịch vụ), 5% (sản suất, xây dựng, vận tải và hoạt động kinh doanh khác) Thuế suất toàn phần áp dụng cho các loại thu nhập khác như thu nhập từ đầu tư vốn, chuyển nhượng vốn, tài sản, thu nhập từ trúng thưởng, nhận thừa kế, quà tặng, thu nhập từ bản quyền, nhượng quyền thương mại (Bảng 2.2)

Về kê khai và nộp thuế, thuế thu nhập cá nhân từ tiền lương, tiền công được cơ quan chi trả thu nhập giữ lại và nộp cho cơ quan thuế Cá nhân có trách nhiệm quyết toán thuế (hoặc ủy quyền cho cơ quan chi trả thu nhập quyết toán thuế) và nộp thuế vào 30 tháng 3 năm sau người nộp thuế sẽ bị phạt chậm nộp tiền thuế 0,05%/ngày trên số tiền thuế chưa thanh toán và phạt 10% trên số tiền thuế trốn

Hơn 4 năm thực hiện, Luật thuế thu nhập cá nhân đã đạt được những mục tiêu đề ra khi ban hành Luật, như đã bao quát và mở rộng được đối tượng nộp thuế, đối tượng chịu thuế; Đảm bảo động viên hợp lý thu nhập của dân cư, góp phần đảm bảo công bằng xã hội; Góp phần đảm bảo nguồn thu ngân sách nhà nước và từng bước góp phần thực hiện kiểm soát thu nhập của dân cư Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đạt được, do sự biến động nhanh của nền kinh tế nên một số quy định trong Luật thuế thu nhập cá nhân đã bộc lộ những tồn tại, hạn chế, chưa phù hợp với thực tiễn, một số quy định còn phức tạp, phát sinh thủ tục hành chính, chưa tạo thuận lợi cho người nộp thuế và khó khăn cho công tác quản lý thuế Trước tình hình này, Quốc Hội đã ban hành Luật số 26/2012/QH13 sửa đổi 6 điều trong tổng số 35 điều của Luật thuế thu nhập cá nhân số 04/2007/QH12 Luật đã điều chỉnh nâng mức giảm trừ gia cảnh đối với người nộp

Trang 32

thuế từ 4 triệu đồng/tháng lên 9 triệu đồng/tháng, với mỗi người phụ thuộc cũng được điều chỉnh từ 1,6 triệu đồng/tháng lên 3,6 triệu đồng/tháng Như vậy trong bối cảnh đất nước còn nhiều khó khăn thì việc nâng mức khởi điểm chịu thuế sẽ giúp khoản 2 triệu người đang nộp thuế thu nhập từ tiền lương tiền công, từ kinh doanh ở bậc 1, bậc 2 sẽ không thuộc đối tượng chịu thuế, người nộp thuế bậc 3, bậc 4 cũng được giảm đáng kể số thuế nộp Việc giảm mức khởi điểm chịu thuế, kết hợp với đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính sẽ góp phần nâng cao ý thức tuân thủ pháp luật của người nộp thuế

2.8 Tổng quan về các nghiên cứu của thế giới và Việt Nam

2.8.1 Tổng quan về các nghiên cứu của thế giới

Lý thuyết tuân thủ thuế bao gồm những công trình nghiên cứu có liên quan, từ Cowell (1990) với “lý thuyết định hướng”, Roth và cộng sự (1989) với

“một quan điểm học thuật”, Andreoni, Erard và Fiestain (1998) trong “thảo luận của những kết quả thực nghiệm”, Slemord và Yitzhaki (2002) với “trốn tránh và quản lý”, Cowell (2004) với “nhấn mạnh đặc biệt lên sự lựa chọn của người dân”, và Slemrod (2007) với “tập trung vào thuế thu nhập cá nhân ở Mỹ” Là một vấn đề phức tạp, sự tuân thủ thuế cần phải được nghiên cứu từ nhiều quan điểm khác nhau

Allingham và Sandmo (1972) nghiên cứu thuế suất cao có làm tăng hay giảm sự tuân thủ hay không? Hành vi người nộp thuế bị ảnh hưởng bởi nhiều nhân tố, bao gồm sự khai báo của họ với cơ quan nhà nước, công bằng thuế, chuẩn mực xã hội hiện hành và những cơ hội của việc bị phát hiện và trừng phạt Spicer (1980) và Yarbrough (1978) phát hiện ra sự tương quan dương giữa hệ thống không công bằng và sự khai báo thiếu thuế Porcano (1984) điều tra công

Trang 33

chúng cảm nhận về sự công bằng giữa cấu trúc thuế và sự phân phối lại của cải ở

Mỹ như thế nào

Trong kết quả nghiên cứu được tiến hành bởi Porcano và Price (1992) thì những người chuẩn bị kê khai thuế cảm nhận hệ thống thuế công bằng hơn người nộp thuế Vài nghiên cứu thực nghiệm cho thấy giáo dục người nộp thuế về hệ thống thuế dẫn đến kết quả làm tăng sự tuân thủ thuế Ngoài sự công bằng, Deutsch (1985) kết hợp chặt chẽ giữa công bằng và nhu cầu như là một tiêu chuẩn bổ sung vào công bằng phân phối Brown và Mazur (2003) tuyên bố rằng định nghĩa lý thuyết tuân thủ thuế bao gồm “ba thước đo toàn diện và loại trừ lẫn nhau”, tuân thủ nộp thuế, tuân thủ nộp hồ sơ thuế, tuân thủ khai báo thuế Có nhiều biến độc lập dự báo cho tuân thủ thuế từ nhân tố kinh tế đến phi kinh tế

Những nhân tố kinh tế là sự phát hiện và trừng phạt, sự cưỡng chế khắc nghiệt, gánh nặng thuế trong khi những nhân tố phi kinh tế là hành vi trong tự nhiên (Alm, Sanchez và Juan, 1995) Tuân thủ với yêu cầu báo cáo là người nộp thuế nộp tất cả các tờ khai thuế theo yêu cầu đúng thời gian và xác định đúng nghĩa vụ thuế theo quy định của luật thuế

Jackson và Milliron (1986) đã chứng minh điều này trong quá trình xem xét trên diện rộng của hơn 40 nghiên cứu về sự tuân thủ thuế tiến hành giữa những năm 1970 đến những năm 1980 Richardson và Sawyer (2001) trong một phép so sánh, thực hiện một đánh giá toàn diện thêm vào sự tổng hợp của hơn

130 nghiên cứu tuân thủ từ năm 1985 đến 1997 đã xác định 14 biến quan sát mà Jackson và Milliron đề nghị có liên quan đến đo lường sự tuân thủ thuế, bên cạnh các biến như nhân khẩu học, thái độ, cấu trúc Có nhiều loại thuế, nghiên cứu tuân thủ trong thời gian gần đây thì tập trung vào thuế thu nhập cá nhân

Trang 34

Christensen và cộng sự (1994) điều tra ảnh hưởng của giáo dục thuế đến công bằng thuế Nghiên cứu cho thấy có nhiều nhân tố của công bằng thuế liên quan đến lý thuyết phân phối trong khi Christensen và Weihrich (1996) nghiên cứu công bằng thuế trên lý thuyế công bằng xã hội và lý thuyết vai trò Theo Gerbing (1988) phát triển một mô hình đa hướng về cảm nhận của người nộp thuế đối với công bằng thuế, dư luận về công bằng của hành động cải cách thuế năm 1986 Những nhân tố và biến quan sát được nhận dạng là công bằng chung

và nhân tố gánh nặng thuế, trao đổi với chính phủ, thái độ thuế của người giàu,

và cấu trúc thuế suất được ưa thích sẽ được sử dụng trong nghiên cứu Cảm nhận của người nộp thuế về công bằng thuế, trước và sau khi thực hiện một hệ thống

là rất quan trọng để đảm bảo sự tuân thủ cao

Theo nghiên cứu của Devos (2005) điều tra mối quan hệ tồn tại giữa nhân khẩu học và những biến tuân thủ thuế chính khác và thái độ của sinh viên về trốn thuế và xử phạt Và xem xét thận trọng các biến sử dụng trong mô hình ngăn chặn kinh tế cơ bản của sự tuân thủ thuế đối với thang đo ngăn chặn và so sánh chúng với một cuộc điều tra nhân khẩu và các biến khác sử dụng trong mô hình tâm lý và xã hội Ông tiết lộ rằng các biến nhân khẩu học như giới tính, tuổi tác, quốc tịch, trình độ học vấn, nghề nghiệp, và thu nhập che chắn mối quan hệ của trốn thuế và xử phạt Kết quả cung cấp thông tin hữu ích cho cơ quan thuế và hàm ý cho chính sách thuế

2.8.2 Tổng quan về các nghiên cứu ở Việt Nam

Ở Việt Nam cũng đã có khá nhiều công trình nghiên cứu về tuân thủ thuế như: Giám sát tính tuân thủ thuế ở Việt Nam (Nguyễn Thị Thanh Hoài và các đồng sự 2011); Nghiên cứu giải pháp nâng cao tính tuân thủ pháp luật của người

Trang 35

nộp thuế theo Luật quản lý thuế hiện nay ở Tỉnh Hòa Bình (Phạm Văn Phong 2009)…

Các công trình nghiên cứu ở Việt Nam phần lớn đã chỉ ra hạn chế lớn trong quản lý thuế, đó là sự phối kết hợp chưa đồng bộ giữa cơ quan thuế và các

cơ quan khác có liên quan, do vậy hiệu quả quản lý thuế chưa cao Tuy nhiên, các công trình nghiên cứu chưa đi sâu xem xét tác động của từng yếu tố công bằng đến sự tuân thủ của người nộp thuế

2.9 Tóm tắt

Các tài liệu nghiên cứu về tuân thủ thuế cho thấy tuân thủ thuế được giải thích bởi các biến kinh tế và phi kinh tế Nghiên cứu tác động của công bằng thuế đến tuân thủ thuế tập trung ba lý thuyết: lý thuyết phân phối, lý thuyết thủ tục và vai trò của tính hợp pháp, và lý thuyết công bằng Tuy nhiên, lý thuyết ngăn chặn vẫn quan trọng để đạt được sự tuân thủ Một số nghiên cứu của Spicer (1974), Song và Yarbrough (1978), Roberts (1994), Chan và cộng sự (2000) và Richardson (2006) tìm thấy mối liên hệ giữa công bằng thuế và tuân thủ thuế Tuy nhiên, không phải tất cả các yếu tố đều có ý nghĩa Nghiên cứu này sử dụng nghiên cứu của Richardson (2006) để kiểm tra các mối tương quan có ý nghĩa và tác động của từng yếu tố công bằng thuế đến hành vi tuân thủ của người nộp thuế ở Việt Nam

Trang 36

3.2 Quy trình nghiên cứu

Nghiên cứu này gồm hai bước chính: (1) nghiên cứu sơ bộ và (2) nghiên cứu chính thức Đơn vị phân tích là người nộp thuế Đối tượng nghiên cứu là người nộp thuế ở các chi cục thuế tại thành phố Hồ Chí Minh, cụ thể là chi cục thuế quận 2, 4, 7, 8, 9, Tân Phú, Bình Tân, Gò Vấp

Nghiên cứu sơ bộ được thực hiện trong tháng 1 năm 2013 thông qua phương pháp phỏng vấn trực tiếp với mẫu 20 người nộp thuế Nghiên cứu sơ bộ nhằm đánh giá cách sử dụng thuật ngữ trong bảng câu hỏi khảo sát để điều chỉnh một số thuật ngữ trước khi tiến hành nghiên cứu chính thức

Nghiên cứu chính thức được thực hiện bằng phương pháp định lượng thông qua kỹ thuật phỏng vấn trực tiếp người nộp thuế Nghiên cứu chính thức này được thực hiện từ tháng 2 đến tháng 6 năm 2013 Mục đích của nghiên cứu này dùng để kiểm định lại mô hình lý thuyết cũng như các giả thiết trong mô hình Thang đo được kiểm định bằng hệ số tin cậy Cronbach alpha và phân tích nhân tố khám phá EFA

Trang 37

Bảng 3.1 Quy trình nghiên cứu

3.3 Thang đo

Có hai khái niệm nghiên cứu được sử dụng trong nghiên cứu này, trong đó

có một khái niệm đơn hướng và một khái niệm đa hướng Khái niệm đơn hướng

là sự tuân thủ thuế Khái niệm đa hướng là công bằng thuế, bao gồm năm thành phần: (1) công bằng chung/phân phối gánh nặng thuế, (2) trao đổi với chính phủ, (3) thái độ thuế của người giàu có, (4) cấu trúc thuế suất và (5) lợi ích cá nhân

Các thang đo trong nghiên cứu này dựa vào lý thuyết và các thang đo đã

có trên thế giới Các thang đo này đã được kiểm định nhiều lần trên nhiều nước khác nhau Các thang đo này nguyên thủy bằng tiếng Anh Vì vậy, phương pháp dịch ngược và phỏng vấn thăm dò được sử dụng để đảm bảo ý nghĩa của biến quan sát Tất cả các thang đo được đo lường dạng Likert 5 điểm, trong đó 1: hoàn toàn phản đối, 2: phản đối, 3: trung lập, 4: đồng ý và 5: hoàn toàn đồng ý

EFA Kiểm tra trọng số EFA,

nhân tố và phương sai trích Thang đo chính thức

Hồi quy

bội

Kiểm tra mức độ phù hợp

của mô hình

Ngày đăng: 24/11/2019, 23:27

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w