Trong nhiều thập kỉ nay, người ta đã nói nhiều về một xã hội không tiền mặt. Mặc dù sự sụp đổ của tiền mặt và séc chắc chắn không phải là sắp xảy ra, nhiều người có thể sống mà không cần séc hoặc tiền mặt. Ngày nay, gần như 100% các thanh toán B2C trực tuyến được thực hiện bằng điện tử. Trên khắp các nước phát triển, phần lớn người ta mua hàng trực tuyến bằng thẻ tín dụng, mặc dù có một số quốc gia thì các phương thức thanh toán khác lại thịnh hành hơn. Ví dụ, người tiêu dùng ở Đức thích trả tiền với thẻ ghi nợ trực tiếp hoặc thẻ ngân hàng, trong khi người tiêu dùng Trung Quốc dựa chủ yếu vào thẻ ghi nợ và tạo các kiểu thu xếp với PayPal. Việc thanh toán cho thương mại điện tử ở các nước đang phát triển đang được tiến hành bằng các phương thức mới như PayPal. Ví dụ, theo Zawya (2014), Ngân hàng Cairo Amman đã giới thiệu dịch vụ PayPal tại Jordan để quảng bá thương mại điện tử. Đối với các doanh nghiệp B2C trực tuyến, ý nghĩa của các xu hướng này rất đơn giản
Trang 1TỔNG LIÊN ĐOÀN LAO ĐỘNG VIỆT NAM TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÔN ĐỨC THẮNG KHOA QUẢN TRỊ KINH DOANH
BÁO CÁO NHÓM MÔN THƯƠNG MẠI ĐIỆN TƯ CHAPTER 8: ELECTRONIC COMMERCE
PAYMENT SYSTEMS
Giảng viên hướng dẫn: Ths Lâm Thị Hương Trà Lớp Thương mại điện tư ( Ca 3, Thứ 5 )
Nhóm : Chuyên cần Danh sách sinh viên thực hiện:
1. Võ Hoàng Kim Bôi 71606044
2. Hoàng Tuấn Hoa 71606111
Trang 2
Trang 3
DANH MỤC ĐÁNH GIÁ THÀNH VIÊN
Ký tên
1 Kim BôiVõ Hoàng 60447160
cách mạng thanh toán
- Tổng hợp bài
- Chỉnh sửa
- Làm slide
100
%
2 Tuấn HoaHoàng 61117160
- checking
E Làm slide
100
%
3 Chấn HạoChương 61057160
- Sử dụngthẻ thanh toán trựctuyến
- Thuyết trình
- Các loạithẻ thông minh
- Thuyết trình
100
%
6 Minh TúHoàng 63147160
- Hệ thống thanh toán thương mại điện tử và các vấn đề đặt ra
yments
- Tổng kết
%
Trang 49 Toàn KhuêTrịnh Đình 61397160
đề quản lí
- Tổng kết
thanh toán điện tử
quốc tế
- Thuyết trình
100
%
Trang 5MỤC LỤC
Trang 61. Cuộc cách mạng thanh toán
Năm 2003 là một bước ngoặt trong việc sử dụng tiền mặt, séc và thẻ tín dụng choviệc mua sắm trong cửa hàng Vào năm đó, việc kết hợp sử dụng thẻ tín dụng và thẻghi nợ đã lần đầu tiên vượt qua mức sử dụng kết hợp tiền mặt và séc Kể từ đó, thẻ ghinợ và thẻ tín dụng đã chiếm hơn 50% khoản thanh toán tại cửa hàng, còn lại là tiềnmặt và séc Xu hướng này tiếp tục diễn ra Sự tăng trưởng trong việc sử dụng của thẻtương quan với sự suy giảm trong việc sử dụng tiền mặt Ngoài ra, những năm gầnđây, việc sử dụng thẻ ghi nợ đã được thúc đẩy bởi sự thay đổi trong Đạo luật chuyểntiền điện tử Hoa Kỳ, trong đó loại bỏ yêu cầu bán phát hành hóa đơn cho việc muahàng ghi nợ $15 hoặc ít hơn Các trào lưu tương tự cũng đã diễn ra trong việc thanhtoán hóa đơn định kỳ Ví dụ, trong năm 2001, hơn 75% của tất cả các khoản thanh toánhóa đơn định kỳ được thực hiện bằng phương pháp dựa trên giấy(ví dụ,các tờ giấyséc), trong khi các khoản thanh toán này bằng điện tử thì chưa tới 25% Năm 2014, tỷ
lệ phần trăm của các hóa đơn định kỳ thanh toán điện tử là hơn 55% và đang tiếp tụctăng
Trong nhiều thập kỉ nay, người ta đã nói nhiều về một xã hội không tiền mặt Mặc
dù sự sụp đổ của tiền mặt và séc chắc chắn không phải là sắp xảy ra, nhiều người cóthể sống mà không cần séc hoặc tiền mặt Ngày nay, gần như 100% các thanh toánB2C trực tuyến được thực hiện bằng điện tử Trên khắp các nước phát triển, phần lớnngười ta mua hàng trực tuyến bằng thẻ tín dụng, mặc dù có một số quốc gia thì cácphương thức thanh toán khác lại thịnh hành hơn Ví dụ, người tiêu dùng ở Đức thíchtrả tiền với thẻ ghi nợ trực tiếp hoặc thẻ ngân hàng, trong khi người tiêu dùng TrungQuốc dựa chủ yếu vào thẻ ghi nợ và tạo các kiểu thu xếp với PayPal Việc thanh toáncho thương mại điện tử ở các nước đang phát triển đang được tiến hành bằng cácphương thức mới như PayPal Ví dụ, theo Zawya (2014), Ngân hàng Cairo Amman đãgiới thiệu dịch vụ PayPal tại Jordan để quảng bá thương mại điện tử
Đối với các doanh nghiệp B2C trực tuyến, ý nghĩa của các xu hướng này rất đơngiản Ở hầu hết các quốc gia, rất khó để điều hành một doanh nghiệp trực tuyến mà
Trang 7không hỗ trợ thanh toán bằng thẻ tín dụng và thẻ ghi nợ, không tính chi phí Đối vớicác doanh nghiệp quan tâm đến thị trường quốc tế, cần phải hỗ trợ nhiều cơ chế thanhtoán điện tử, bao gồm chuyển khoản ngân hàng, COD, séc điện tử, thẻ quà tặng, tíndụng tức thời và các hệ thống thanh toán không cần thẻ khác, chẳng hạn như PayPal.Các doanh nghiệp cung cấp nhiều loại thanh toán có tỷ lệ chuyển đổi nhấp chuột thànhmua hàng cao hơn dẫn đến doanh thu tăng.
Lịch sử thanh toán điện tử nằm rải rác với phần còn lại của các công ty đã cố gắnggiới thiệu các hệ thống thanh toán phi truyền thống Một trong những nỗ lực gần đây làBitcoin (bitcoin.org) Bitcoin là một loại tiền kỹ thuật số được mã hóa ngang hàng,được cung cấp bởi phần mềm đặc biệt của công ty Nó được sử dụng cho mục đích đơngiản và chỉ được dùng bởi chủ sở hữu của nó Đến nay, Bitcoin được sử dụng khá rộngrãi nhưng nó có một số vấn đề Bitcoin có thể được sử dụng cho các khoản thanh toánnhỏ trong tương lai Phải mất nhiều năm để bất kỳ hệ thống thanh toán để có được sựchấp nhận rộng rãi Ví dụ, thẻ tín dụng được giới thiệu vào những năm 1950 nhưngkhông được sử dụng rộng rãi cho đến những năm 1980 Một yếu tố quan trọng trong
sự thành công của bất kỳ phương thức thanh toán điện tử nào là vấn đề “gà và trứng”:Làm thế nào để người bán áp dụng phương thức thanh toán khi có ít người mua sửdụng? Hơn nữa, làm thế nào để bạn có được người mua áp dụng một phương pháp khi
có ít người bán sử dụng nó?
Sự cạnh tranh các hệ thống thanh toán điện tử rất khốc liệt Sự thành công của bất
kỳ hệ thống thanh toán điện tử nào đều phụ thuộc vào các yếu tố được liệt kê dưới đây(dựa trên Evans và Schmalensee (2005), Roth (2010) và kinh nghiệm của các tác giả
• Sự độc lập
Hầu hết các hình thức thanh toán điện tử đều yêu cầu người bán cài đặt phầnmềm và phần cứng chuyên dụng để ủy quyền và xử lý thanh toán Các phươngpháp chuyên dụng có thể cồng kềnh và tốn kém
• Khả năng tương tác và tính di động
Một phương thức thanh toán điện tử phải được tích hợp với các hệ thống thôngtin hiện có
Trang 8• Sự chia rẽ
Vì hầu hết các doanh nghiệp chỉ chấp nhận thẻ tín dụng nếu giá mua vượt quámột mức nhất định, nên một giao dịch thương mại điện tử thành công cần giảiquyết các vấn đề thanh toán nhỏ
Trang 91.1 Hình thức thanh toán thay thế-PayPal
Trong khi thẻ tín dụng và thẻ ghi nợ thống trị thanh toán thương mại điện tử thìmột hình thức thay thế khác đã thành công là PayPal (và bản sao của nó) PayPal hìnhthành vào cuối những năm 1990 từ sự hợp nhất của hai công ty khởi nghiệp nhỏ làConfinity và X.com Thành công ban đầu của họ đến từ việc cung cấp một hệ thốngthanh toán cho các giao dịch của eBay (PayPal hiện là một công ty eBay) Hệ thống đãhoạt động như thế nào? Về cơ bản, người bán và người mua eBay đã mở tài khoảnPayPal được bảo mật bằng tài khoản ngân hàng hoặc thẻ tín dụng Khi kết thúc phiênđấu giá, các giao dịch thanh toán được thực hiện thông qua tài khoản PayPal của ngườibán và người mua Theo cách này, các tài khoản ngân hàng hoặc thẻ tín dụng vẫn còntồn tại Trong những ngày đó, người mua thường cảnh giác khi tiết lộ số thẻ tín dụngcủa họ trực tuyến Đối với người bán, nó cũng loại bỏ phí giao dịch được thu bởi cáccông ty thẻ tín dụng, mặc dù PayPal cuối cùng đã bắt đầu tính phí tương tự nhưng thấphơn
Mặc dù eBay đã có hệ thống thanh toán là Billpoint nhưng vì PayPal đã trở nênrất thành công nên eBay cuối cùng đã quyết định đóng cửa Billpoint và mua lại PayPalvào tháng 10 năm 2002
Tại sao PayPal thành công hơn Billpoint? Đây là một câu hỏi khó mà có nhiềucâu trả lời PayPal có giao diện người dùng tốt hơn, tiếp thị tốt hơn, kết hợp dịch vụ tốthơn và thân thiện với cả người mua và người bán Bất kể, cả Billpoint và PayPal đềukhông phải tìm thị trường người mua và người bán tiềm năng, eBay đã làm điều này.Những gì Billpoint và PayPal phải làm là thuyết phục người tiêu dùng và người bántrên eBay sử dụng hệ thống của họ Và PayPal đã thành công hơn Billpoint
Tính đến tháng 12 năm 2014, PayPal hoạt động tại 203 thị trường toàn cầu và
có 157 triệu tài khoản đang hoạt động PayPal hỗ trợ thanh toán bằng 26 loại tiền tệ.Năm 2013, doanh thu của họ là khoảng 7 tỷ đô la, một nửa trong số đó đến từ giaodịch toàn cầu của họ và khoảng 65% trong số đó được tạo ra bởi đơn vị Dịch vụthương mại của họ Doanh thu PayPal tăng khoảng 26% trong một năm, chiếm gần40% tổng doanh thu của eBay Thành công của PayPal PayPal là kết quả của cách tiếpcận ba giai đoạn đối với thanh toán điện tử Đầu tiên, họ tập trung vào việc mở rộng
Trang 10các dịch vụ cung cấp cho người dùng eBay ở Hoa Kỳ Tiếp theo, họ đã tăng quy môthị trường của mình bằng cách mở hệ thống lên các trang web và người dùng quốc tếcủa eBay Cuối cùng, họ quyết định xây dựng các hoạt động PayPal cho các doanhnghiệp không thuộc eBay Một sáng kiến như vậy là một hệ thống được thiết kế để hỗtrợ thanh toán cá nhân (tương đương trực tuyến với dịch vụ chuyển khoản giữa các cánhân) Quan trọng hơn, vào năm 2003, họ đã tạo ra một đơn vị kinh doanh mới gọi làDịch vụ thương mại (phục vụ các doanh nghiệp thương mại điện tử) độc lập với cộngđồng eBay Phân tích doanh thu cho thấy sự tăng trưởng trong kinh doanh quốc tế củaPayPal cùng với sự phát triển của đơn vị Dịch vụ thương mại là lý do khiến PayPaltiếp tục thành công như vậy.
Trong những năm qua, PayPal đã có một số đối thủ cạnh tranh - không ai trong
số đó có thể là mối nguy hại cho PayPal Hôm nay, chúng ta còn có:
• Google Wallet (trước đây là Google Checkout; google.com/wallet)
Việc xử lý thanh toán được kết hợp trong tài khoản Google của người dùng.Lưu ý rằng Google Wallet không được eBay chấp nhận Google Wallet chophép bạn mua sắm và thanh toán bằng điện thoại di động
• Wirecard AG (wirecard.com)
Wirecard AG giúp bạn thanh toán không dùng tiền mặt và các dịch vụkhác trên cơ sở một cửa cũng như cung cấp một phạm vi lớn của các ngànhcông nghiệp thương mại điện tử trên toàn thế giới Hệ thống này cạnh tranh vớiPayPal và Western Union
• Skrill (trước đây là Moneybookers; skrill.com)
Skrill là một hệ thống thanh toán, lưu trữ và giao dịch tiền điện tử củaAnh thuộc sở hữu của Investcorp Technology Partners Về cách thức hoạt động,
nó cũng tương tự như PayPal Tuy nhiên, phí giao dịch Skrill thấp hơn DùSkrill không phổ biến như PayPal nhưng là một hệ thống thanh toán điện tửthuận tiện để sử dụng với các nhà môi giới Forex Nó cũng được chấp nhận trêneBay
• Popmoney (trước đây là ZashPay; popmoney.com)
Trang 11Popmoney (công ty con của Fiserv, Inc.) là dịch vụ thanh toán trực tiếpcho phép mọi người gửi và nhận tiền trực tiếp từ tài khoản ngân hàng của họbằng cách sử dụng tin nhắn văn bản hoặc e-mail.
Thanh toán cá nhân (P2P)
Một số lượng đáng kể các giao dịch thương mại điện tử được thực hiệngiữa các cá nhân Thanh toán từ những người mua ẩn danh rất quan trọng đốivới sự thành công của thương mại điện tử nơi giao dịch được thực hiện trựctuyến và người tham gia ở những nơi khác nhau và không biết nhau Ngoài ra,việc cho vay tiền giữa các cá nhân đang trở nên phổ biến hơn Sau đây là một sốphương thức được sử dụng trong thanh toán P2P:
• Sử dụng PayPal
• Sử dụng thẻ trả trước
• Sử dụng mạng ClearXchange (CXC) (clearxchange.com) Mạng lưới nàyphục vụ khách hàng của các ngân hàng đã tham gia (Wells Fargo và Bank ofAmerica vào năm 2014) Khách hàng có thể chuyển tiền trực tiếp từ các tàikhoản séc hiện có đến cho bất kỳ khách hàng nào khác trong bất kỳ ngân hàngnào đã tham gia
• Sử dụng Bitcoin và các loại tiền kỹ thuật số khác
1.2 Các đồng tiền kỹ thuật số
Một đô la Linden trị giá bao nhiêu đô la Mỹ? Farm Cash thì như thế nào? Một
đô la Mahalo thì sao? Những thứ này là gì? Đây là tất cả các ví dụ về tiền tệ kỹ thuật
số (ảo) Tiền tệ kỹ thuật số (ảo) là phương tiện thanh toán trung gian được tạo, lưu trữ
và sử dụng trong thương mại điện tử Nó có thể được sử dụng để thanh toán cho hànghóa vật lý hoặc ảo Một số ví dụ nổi tiếng về tiền ảo bao gồm:
• Đô la Linden
Second Life là một thế giới ảo Nó có nền kinh tế riêng và đồng tiền riêng của
nó được gọi là Đô la Linden (L$) L$ có thể được sử dụng để thanh toán cho bất
kỳ giao dịch nào được thực hiện trong Second Life như mua đất hoặc đồ nội
Trang 12thất Các dịch vụ bao gồm tiền lương lao động, giải trí, tạo nội dung tùy chỉnh
và những thứ tương tự L$ được mua trên trang web Second Life
• Tiền dùng trong trò chơi
Hầu hết các trò chơi trực tuyến gồm nhiều người chơi (MMOGs) đều có tiền ảoriêng Ví dụ: FarmVille có Farm Cash, Habbo (trước đây là Habbo Hotel) cóHabbo Coins, Whyville có Pearls và World of Warcraft có WOW Gold Trongmỗi trường hợp, tiền tệ có thể được sử dụng để mua bất kỳ loại hàng hóa vàdịch vụ nào phù hợp với từng trò chơi cụ thể Và tiền tệ trong trò chơi có giábằng tiền thật
là trong thế giới mạng xã hội và trò chơi
Thanh toán điện tử được phân loại tùy theo tính chất của chúng (trả trước, thờigian thực và trả sau), các giao thức (tín dụng, ghi nợ, séc và tiền mặt), dunglượng của thanh toán (thanh toán thường xuyên và thanh toán vi mô), thực thểthanh toán (cá nhân và doanh nghiệp) và nền tảng (thẻ thông minh và thanhtoán di động) Cuối cùng, ở ngoài kia là thế giới thực và tiền ảo Tiền ảo là mộtphần của cuộc cách mạng tiền tệ sắp tới và xã hội tiền ảo
2. Sử dụng thẻ thanh toán trực tuyến
Thẻ thanh toán là loại thẻ điện tử chứa dữ liệu thanh toán, gồm 3 dạng
● Thẻ tín dụng
Thẻ này cho phép người dùng mua đồ (và trả tiền sau đó) hoặc lấy tiền tùy vàogiới hạn cho phép của người dùng Với mỗi đơn hàng, người dùng thẻ tín dụngnhận một khoản vay từ phía phát hành thẻ Đa số thẻ tín dụng không thu phí
Trang 13hằng năm Tuy nhiên người dùng sẽ phải trả lãi nếu không trả nợ đúng hạn.Visa và Master là những thẻ đi đầu.
● Thẻ tính phí
Đây là loại thẻ tín dụng đặc biệt, số dư phải được thanh toán đầy đủ trước ngàyđáo hạn và thẻ này có thu phí hằng năm Nhà phát hành thẻ gồm AmericanExpress, Dinner’s Club (họ cũng phát hành thẻ thường)
● Thẻ ghi nợ
Các khoản thanh toán được thực hiện bằng thẻ ghi nợ được rút từ tài khoản haytài khoản tiết kiệm của người dùng Việc chuyển tiền thường diễn ra ngay lậptức từ tài khoản của người sở hữu Tuy nhiên, sự thanh toán tới tài khoản củadoanh nghiệp diễn ra sau 1 hoặc 2 ngày
2.1 Đọc thẻ tín dụng
Khi sử dụng thẻ tín dụng, doanh nghiệp cần phải đọc nội dung của thẻ rồi gửithông tin này đi để xác nhận và xử lý, việc này phải làm ngay lập tức Nhữngphương pháp đọc thẻ
● Máy đọc thẻ cố định
Máy phổ biến nhất là POS ở các cửa hàng Mày này được nối dây với hệ thống
ủy quyền và xử lý
Quá trình thanh toán thẻ tín dụng có 2 giai đoạn chính ủy quyền (authorization)
và thanh toán (settlement) Quá trình ủy quyền sẽ xác định xem liệu thẻ của người
dùng còn hiệu lực hay không, tín dụng hay tiền trong tài khoản còn đủ hay không
Trang 14Quá trình thanh toán là sự chuyển tiền từ tài khoản người mua đến người bán Quá
trình này gồm những bên liên quan như:
● Người mua: Người sở hữu thẻ.
● Người bán: Bên cung cấp hàng hóa hay dịch vụ.
● Ngân hàng phát hành: Bên phát hành thẻ tín dụng, thẻ ghi nợ tới khách
hàng, doanh nghiệp Có các dịch vụ như thanh toán, thu tiền hằng tháng
● Ngân hàng bên doanh nghiệp Đưa doanh nghiệp vào một chương trình
chấp nhận các loại thẻ và thay mặt người bán xử lý các khoản thanh toánbằng thẻ tín dụng, thẻ ghi nợ
● Mạng lưới thẻ tín dụng: Mạng lưới thẻ tín dụng xác định nơi thẻ tín
dụng có thể được sử dụng và tạo điều kiện thuận lợi cho quá trình thanhtoán giữa người dùng thẻ tín dụng, doanh nghiệp và bên phát hành thẻtín dụng
● Bên cung cấp dịch vụ thanh toán: Là công ty cung cấp kết nối điện tử
và dịch vụ giao dịch giữa tất cả các bên liên quan đến thanh toán điện tử(bao gồm luôn sự cấp phép)
Ủy quyền và thanh toán
Đối với bất kỳ thẻ và doanh nghiệp nào thì đều có thể có các biến thể trongnhững bên tham gia cụ thể và trong các chi tiết của quy trình Tuy nhiên, bất kểthanh toán đang được thực hiện ngoại tuyến hay trực tuyến, chúng thường baogồm:
● Vòng cấp phép
Khách hàng thực hiện giao dịch Thương nhận nhận được thông tin giaodịch Thông tin này được truyền đến bên cung cấp dịch vụ thanh toán rồi đượcgửi đến ngân hàng bên doanh nghiệp Sau đó thông tin được gửi đến bên ngânhàng phát hành bằng mạng lưới thẻ tín dụng Nếu bên ngân hàng phát hànhchấp thuận giao dịch, mã ủy quyền sẽ được gửi về doanh nghiệp Ngân hàngphát hành cũng giữ một ủy quyền liên quan đến doanh nghiệp và người tiêu
Trang 15dùng đó đối với số tiền được phê duyệt Cuối cùng, doanh nghiệp thông báocho khách hàng và hoàn thành đơn hàng.
● Thanh toán
Cuối ngày, doanh nghiệp sẽ gửi những ủy quyền đã được phê duyệt tớingân hàng của doanh nghiệp thông qua bên cung cấp dịch vụ thanh toán Mộtlần nữa, ngân hàng bên doanh nghiệp thực hiện yêu cầu thanh toán hàng loạtcho ngân hàng phát hành thông qua mạng lưới thẻ Công ty phát hành thẻ tíndụng thực hiện thanh toán thanh toán cho ngân hàng bên doanh nghiệp thôngqua mạng lưới thẻ Ngân hàng của doanh nghiệp sẽ gửi tiền vào tài khoản củadoanh nghiệp Cả quá trình này diễn ra trong khoảng 3 ngày
Quy trình ủy quyền liên quan đến nhiều bên nhưng chỉ diễn ra trong vài giây,bao gồm đa dạng các biện pháp bảo mật, mã hóa thông tin và kiểm tra gian lận.Ngược lại, quá trình giải quyết có thể bị chậm lại nếu giao dịch phụ thuộc vào việckhách hàng thực sự nhận được đơn đặt hàng
Trang 16Mặc dù thẻ đều thuận tiện cho người mua và bán Nhưng bên bán lại tốn tiền vìthẻ Vì vậy các công ty nhỏ ngại hỗ trợ nhiều loại thẻ vì quy mô và độ phức tạp củacác loại phí đi kèm Phí chính mà nhân phải trả khi cho thanh toán bằng thẻ tín
dụng là tỉ lệ chiết khấu Nó khoảng 2 hay 3% giá trị giao dịch hoặc nhiều hơn Vài
nhân tố ảnh hưởng khác là quy mô giao dịch, loại giao dịch (thẻ có thông dụng haykhông), hãng thẻ cụ thể,… Phần lớn của tỷ lệ chiết khấu là do ngân hàng phát hành– nó là phí cho việc giải quyết yêu cầu ủy quyền và thanh toán Phân khúc phí này
được gọi là tỷ lệ trao đổi Số tiền còn lại được phân chia giữa hiệp hội thẻ tín dụng
(khoảng một phần ba) và ngân hàng bên doanh nghiệp ( hai phần ba)
Một cách để loại bỏ hoặc giảm một số phức tạp và chi phí liên quan đến thanhtoán thẻ là loại bỏ hoặc hợp nhất một số bước trong quy trình, đặc biệt là các tùychọn xử lý liên kết doanh nghiệp với ngân hàng phát hành Sau đây là các tùy chọnxử lý chính
● Sở hữu phần mềm thanh toán Doanh nghiệp có thể mua một mô-đun
xử lý thanh toán và tích hợp nó với phần mềm của mình Mô-đun nàygiao tiếp với ngân hàng doanh nghiệp hoặc bên thứ ba khác
● Sử dụng hệ thống điểm bán hàng (POS) được vận hành bởi một Acquirer (Là tổ chức tài chính cung cấp dịch vụ thanh toán, xử lý các
giao dịch trực tuyến và đảm bảo về mặt tài chính cho giao dịch Acquirerđóng vai trò liên hệ với các ngân hàng phát hành để xin chuẩn chi chomột giao dịch xin cấp phép) Người bán có thể chuyển hướng các chủ thẻđến một điểm bán hàng được điều hành bởi một acquirer Điểm bán hàngxử lý toàn bộ quy trình thanh toán và hướng dẫn chủ thẻ quay lại trangweb của người bán sau khi thanh toán xong Trong trường hợp này, hệthống người bán buôn chỉ xử lý thông tin đặt hàng Trong mô hình này,điều quan trọng là tìm một acquirer có nhiều thẻ và công cụ thanh toán.Nếu không, thương gia sẽ cần kết nối với vô số người mua
● Sử dụng hệ thống điểm bán hàng được vận hành bởi bên cung cấp dịch vụ thanh toán Doanh nghiệp có thể dựa vào dịch vụ của bên thứ
ba này để có thể chấp thuận tất cả các hình thức thanh toán điện tử
Trang 172.3 Các giao dịch thẻ lừa đảo, gian lận
Mặc dù các quy trình ủy quyền và giải quyết thanh toán thẻ ngoại tuyến và trựctuyến rất giống nhau, vẫn có một sự khác biệt đáng kể giữa hai quy trình Trongthương mại điện tử, doanh nghiệp thường chịu trách nhiệm cho các gian lận giao dịch.Ngoài chi phí cho việc mất hàng và phí vận chuyển, doanh nghiệp còn có thể phải nộptiền phạt cho các công ty tín dụng
Ngoài ra còn có các chi phí để chống gian lận giao dịch bao gồm chi phí chocác công cụ và hệ thống để xem xét đơn đặt hàng, chi phí xem xét đơn đặt hàng thủcông, mất doanh thu vì lỗi hệ thống từ chối đơn hàng của khách Theo khảo sát hàngnăm lần thứ 16 của CyberSource về quản lý gian lận trực tuyến, các giao dịch thẻ trựctuyến gian lận vẫn dẫn đến thiệt hại đáng kể mặc dù tỷ lệ tổn thất doanh thu thươngmại điện tử vẫn ổn định (ở mức 9%) trong 5 năm qua Sự ổn định là một chức năngcủa các biện pháp mà doanh nghiệp đã áp dụng để quản lý gian lận Trong những nămqua, các cuộc khảo sát của CyberSource (CyberSource là công ty con của Visa) cũng
đã giám sát các bước được thực hiện bởi các doanh nghiệp để chống gian lận Ngàynay, hầu như mọi thương gia đã thiết lập các quy trình tự động được hỗ trợ bằng cáchxem xét thủ công để phát hiện các giao dịch gian lận Mỗi doanh nghiệp sử dụng cácquy trình tự động khác nhau Tuy nhiên có vài công cụ được dùng bởi đại đa số
❏ Các phương pháp chống gian lận
● Mã xác minh thẻ
Hơn 86% doanh nghiệp sử dụng phương pháp này, nó phát hiện gian lậnbằng cách so sánh 3 chữ số xác minh in trên dãy chữ kí ở mặt sau của thẻtín dụng với số được lưu trữ bởi ngân hàng của chủ thẻ Tuy nhiên việcxác minh sẽ khó khăn đối với thẻ bị lấy cắp, như thế phải chuyển sangkiểm tra lịch sử giao dịch của thẻ xem xem có những giao dịch bấtthưởng hay không Trong những trường hợp như vậy, chủ thẻ có thểnhận được một cuộc gọi điện thoại từ nhà phát hành thẻ hoặc công ty thẻtín dụng, yêu cầu xác minh danh tính Trong trường hợp như vậy, việcxác minh có thể được thực hiện bởi các phần mềm thông minh
Trang 18● Xác minh địa chỉ
Hơn 86% doanh nghiệp sử dụng phương pháp này phát hiện gian lậnbằng cách so sánh địa chỉ mà người mua cung cấp khi thanh toán với địachỉ thẻ trong hồ sơ Tuy nhiên phương pháp này vẫn có thể bị lỗi Chủthẻ có thể có một địa chỉ mới hoặc chỉ đơn giản là mắc lỗi khi nhập sốđịa chỉ hoặc mã zip Phương pháp này chỉ có sẵn ở Hoa Kỳ và Canada
● Lịch sử thanh toán
Khoảng 78% doanh nghiệp sử dụng phương pháp này Các giao dịchđược thực hiện bởi một thẻ hoặc một người thì thường có xu hướng cùngđịa điểm, số lượng, loại, tần suất giao dịch Dữ liệu mua hàng sẽ đượcdùng để tính toán và tìm ra điểm khác thường và đánh dấu giao dịch đó
là một gian lận tiềm năng
● Danh sách đen
Gần 70% doanh nghiệp sử dụng phương pháp này Danh sách đen là một
cơ sở dữ liệu những thẻ có tiềm năng là lừa đảo Dữ liệu này cũng dùng
để ngăn những người gian lận nhiều lần Doanh nghiệp có thể dò thẻ với
dữ liệu để bắt những những thẻ từng vi phạm
● Dịch vụ xác nhận địa chỉ bưu chính
Dưới 70% sử dụng phương pháp này Kiểm tra địa chỉ đã giao hàng cóphải là một địa chỉ bưu chính hợp lệ hay không
3. Các loại thẻ thông minh
Thẻ thông minh là thẻ thanh toán bằng nhựa có chứa dữ liệu trong một con chipnhỏ được gắn ở bên trong Con chip này có thể là bộ vi xử lý kết hợp với chip bộ nhớhoặc chỉ là chip bộ nhớ với logic không lập trình Thông tin trên card vi xử lý có thểđược thêm, xóa hoặc thao tác khác; một chip thẻ nhớ thường là một thẻ “chỉ đọc” củangười dùng, tương tự như tính chất của một thẻ sọc Các chương trình và dữ liệu củathẻ phải được tải xuống và kích hoạt bởi một số thiết bị khác (như ATM) Thẻ thôngminh được sử dụng cho nhiều mục đích khác nhau, bao gồm:
Trang 19● Viễn thông - Thẻ SIM
● Tài chính - các thẻ được phát hành bởi các ngân hàng, nhà bán lẻ và nhà cungcấp dịch vụ cho các dịch vụ thanh toán (ghi nợ, tín dụng, trả trước), sự trungthành, thân thiết đối với các tổ chức và thẻ xã hội với các ứng dụng thanh toán
● Chính phủ và chăm sóc sức khỏe - các thẻ này được phát hành bởi các chínhphủ để nhận dạng công dân và các dịch vụ, thẻ trực tuyến do các công ty bảohiểm y tế tư nhân cấp
● Sản xuất thiết bị - điện thoại di động, máy tính bảng, thiết bị điều hướng và cácthiết bị được kết nối khác bao gồm yếu tố bảo mật không có ứng dụng SIM
● Các loại thẻ khác do các nhà khai thác phát hành để vận chuyển, thu phí, dịch
vụ đỗ xe, chi trả tiền truyền hình, các hoạt động chi tiêu thường ngày và hợp lývào thẻ
Hơn 9,2 tỷ thẻ thông minh đã được sử dụng trong năm 2015, tăng 12% so với nămtrước Năm 2016, con số là dự kiến chỉ tăng khoảng 6% lên 9,8 tỷ Phần lớn thẻ thôngminh hiện được tìm thấy trong điện thoại (khoảng 5,4 tỷ), tiếp theo là số lượng thẻđược sử dụng để thanh toán (là 2,6 tỷ) Sự phát triển đã được trải nghiệm này đượcthúc đẩy chủ yếu bởi việc chuyển đổi thẻ thanh toán từ chip sang thẻ (EMV), sự giatăng trong điện thoại di động thiết bị (không bao gồm thẻ SIM) và tăng các dịch vụchính phủ điện tử
3.1 Các loại thẻ thông minh: tiếp xúc và không tiếp xúc
Có hai loại thẻ thông minh riêng biệt Loại đầu tiên là thẻ tiếp xúc , được kích hoạt khi được lắp vào đầu đọc thẻ thông minh Loại thẻ thứ hai là thẻ không tiếp xúc
(gần), nghĩa là thẻ chỉ phải ở trong một khoảng cách nhất định của đầu đọc thẻ thông
minh để xử lý giao dịch Ở mặt trước hoặc mặt sau của thẻ thông minh tiếp xúc, cómột tấm vàng nhỏ (hoặc bạc) có đường kính khoảng một nửa inch có chứa chip Khithẻ được lắp vào đầu đọc thẻ, tấm làm cho tiếp xúc điện tử và dữ liệu được truyền đến
từ chip có trên tấm Thẻ không tiếp xúc có ăng-ten nhúng tạo điều kiện truyền dữ liệusang ăng-ten khác (ví dụ: được gắn vào thiết bị khác) Thẻ không tiếp xúc đặc biệt hữuích khi dữ liệu phải được xử lý (ví dụ: trả phí đường bộ, giá vé xe buýt hoặc xe lửa)
Trang 20hoặc khi liên lạc có thể khó khăn Hầu hết các thẻ tiếp xúc gần đều hoạt động ở phạm
vi ngắn (chỉ một vài inch) Đối với một số ứng dụng, chẳng hạn như thanh toán tại cáctrạm thu phí đường cao tốc, thẻ khoảng cách xa hơn có sẵn
Trong năm 2015, hơn 50% số thẻ thông minh được vận chuyển đến Hoa Kỳ vàChâu Âu là thẻ không tiếp xúc Đối với Châu Á Thái Bình Dương, con số gần 75%
● Đầu đọc thẻ thông minh
Thẻ lai và thẻ kết hợp kết hợp các thuộc tính của thẻ tiếp xúc và thẻ gần nhauthành một thẻ Thẻ lai thông minh lại có hai chip riêng biệt được nhúng trong thẻ: tiếpxúc và không tiếp xúc Ngược lại, thẻ kết hợp thông minh (giao diện kép) có một chipduy nhất hỗ trợ cả hai loại giao diện Lợi ích của một trong hai loại thẻ này là loại bỏnhu cầu mang theo cả thẻ tiếp xúc và thẻ không tiếp xúc để sử dụng với các ứng dụngkhác nhau Ngoài ra, bạn chỉ cần một đầu đọc thẻ
Với cả hai loại thẻ, đầu đọc thẻ thông minh rất quan trọng đối với hoạt động của
hệ thống Về mặt kỹ thuật, đầu đọc thẻ thông minh thực sự là một thiết bị đọc/ghi.Mục đích chính của đầu đọc thẻ thông minh là hoạt động như một trung gian hòa giảigiữa thẻ và hệ thống máy chủ lưu trữ dữ liệu ứng dụng và xử lý các giao dịch Cũnggiống như có hai loại thẻ cơ bản, có hai loại đầu đọc thẻ thông minh liên hệ với nhau
và vùng lân cận phù hợp với loại thẻ cụ thể Đầu đọc thẻ thông minh có thể trong suốt,yêu cầu thiết bị chủ hoạt động hoặc hoạt động độc lập, không phụ thuộc chức năngthiết bị chủ Đầu đọc thẻ thông minh là yếu tố chính trong việc xác định chi phí chungcủa ứng dụng thẻ thông minh Mặc dù chi phí của một đầu đọc thường thấp, nhưng chiphí có thể khá cao khi chúng được sử dụng với số lượng người dùng lớn (ví dụ: hànhkhách đi trên một khối đô thị hệ thống giao thông)
3.2 Các thẻ lưu trữ giá trị
Thẻ giá trị được lưu trữ là một thẻ trong đó giá trị tiền tệ được trả trước và cóthể được nạp vào thẻ một hoặc nhiều lần Từ quan điểm vật lý và kỹ thuật, thẻ giá trịđược lưu trữ không thể phân biệt với thẻ tín dụng hoặc thẻ ghi nợ thông thường Trướcđây, giá trị tiền được lưu trữ trên dải từ, nhưng gần đây, hầu hết các thẻ có giá trị đượclưu trữ đều sử dụng công nghệ của thẻ thông minh Với thẻ giá trị được lưu trữ, chip
Trang 21lưu trữ giá trị trả trước Người tiêu dùng có thể sử dụng thẻ giá trị được lưu trữ để muahàng, Hệ thống thanh toán thương mại điện tử ngoại tuyến hoặc trực tuyến, giống nhưcách họ sử dụng thẻ tín dụng và thẻ ghi nợ mà dựa trên cùng một mạng, truyền thôngđược mã hóa và giao thức ngân hàng điện tử Điều khác biệt ở thẻ giá trị được lưu trữ
là không cần ủy quyền, nhưng có một giới hạn được đặt ra là số tiền được lưu trữ trênthẻ Các ứng dụng phổ biến nhất của thẻ giá trị được lưu trữ là thẻ giao thông rất phổbiến ở các thành phố lớn ở châu Á Việc người dân ở Seoul, Hồng Kông và Singaporecần có thẻ thông minh trả tiền cho tàu điện ngầm, xe buýt, taxi và các ứng dụng khác
là điều cần thiết Thẻ giao thông không yêu cầu bất kỳ khoản phí nào, nhưng ngânhàng khởi tạo thẻ trả trước có thể yêu cầu phí cố định hàng tháng hoặc phí đăng ký.Thẻ lưu trữ giá trị cũng phổ biến để trả tiền cho các cuộc gọi điện thoại và nhắn tin
Thẻ lưu trữ có hai loại: vòng kín (mục đích đơn) và vòng lặp mở (nhiều mục
đích) Thẻ vòng kín được phát hành bởi một thương gia hoặc nhóm thương gia cụ thể
(ví dụ: trung tâm mua sắm) và chỉ có thể được sử dụng để mua hàng từ nhà phát hànhthẻ Thẻ trung tâm mua sắm, thẻ hoàn tiền, một số thẻ trả phí, thẻ điện thoại trả trước
và thẻ sử dụng Internet là tất cả các ví dụ về thẻ vòng kín
Trong số các thẻ vòng kín, thẻ quà tặng có truyền thống đại diện cho một khuvực tăng trưởng mạnh mẽ, đặc biệt là tại Hoa Kỳ (CardCash 2015) Hơn 90% ngườitiêu dùng Mỹ mua hoặc nhận thẻ quà tặng hàng năm Tại Hoa Kỳ, hơn 100 tỷ đô lađược chi hàng năm cho thẻ quà tặng Con số này trung bình tăng khoảng 6% hàng nămtrong 5 năm qua
Thẻ vòng mở là thẻ đa năng có thể được sử dụng cho các giao dịch tại một sốnhà bán lẻ hoặc nhà cung cấp dịch vụ Thẻ vòng mở cũng có thể được sử dụng cho cácmục đích khác, chẳng hạn như thẻ ghi nợ trả trước hoặc để rút tiền mặt từ máy ATM.Các tổ chức tài chính có thương hiệu liên kết thẻ, chẳng hạn như Visa hoặcMasterCard®, phát hành một số thẻ vòng mở Chúng có thể được sử dụng bất cứ nơinào mà thẻ thương hiệu được chấp nhận Thẻ vòng mở đầy đủ (ví dụ: thẻ MasterCardMondex®) cho phép chuyển tiền giữa các thẻ mà không cần sự can thiệp của ngânhàng
Trang 22Thẻ lưu trữ giá trị có thể được mua theo nhiều cách khác nhau Chủ lao độnghoặc các cơ quan chính phủ có thể phát hành dưới dạng thẻ thanh toán hoặc thẻ lợi íchthay cho séc hoặc tiền gửi trực tiếp Các thương gia hoặc nhóm thương gia bán và nạpthẻ quà tặng Các tổ chức tài chính khác nhau và các cửa hàng phi tài chính bán thẻ trảtrước qua điện thoại, trực tuyến hoặc trực tiếp Tiền mặt, chuyển khoản ngân hàng,lệnh chuyển tiền, séc nhân viên thu ngân, thẻ tín dụng khác, hoặc bảng lương trực tiếphoặc tiền gửi của chính phủ vào thẻ trả trước.
3.3 Ứng dụng của thẻ thông minh
Ở nhiều nơi trên thế giới, thẻ thông minh có sọc từ tính được sử dụng làm thẻ tíndụng để mua lẻ và trả tiền vận chuyển Chúng cũng được sử dụng để hỗ trợ các ứngdụng phi tài chính và phi tài chính Một cuộc thảo luận chung về tất cả các loại ứngdụng thẻ thông minh có thể được tìm thấy tại globalplatform.org
● Mua lẻ
Các công ty thẻ tín dụng và tổ chức tài chính đang chuyển đổi thẻ tín dụng vàthẻ ghi nợ truyền thống sang thẻ thông minh đa ứng dụng Ở nhiều nơi trên thế giới,thẻ thông minh đã đạt tỷ lệ chấp nhận trên thị trường đại chúng Điều này đặc biệtđúng ở châu Âu, nơi mục tiêu là có tất cả các thẻ ngân hàng là thẻ thông minh với khảnăng xác thực và chữ ký số mạnh mẽ vào năm 2010
Năm 2000, Ủy ban Châu Âu đã thành lập một sáng kiến được gọi là Khu vựcthanh toán bằng đồng Euro (SEPA), bao gồm 33 quốc gia châu Âu Để đưa sáng kiến này thành hiện thực, tất cả các ngân hàng EU đã đồng ý sử dụng cùng một tiêu chuẩnthẻ ngân hàng cơ bản, cho phép sử dụng thẻ tín dụng và thẻ ghi nợ trên toàn EU Tiêuchuẩn (EMV) được đặt theo tên của ba hiệp hội thẻ lớn đã phát triển các thông số kỹthuật ban đầu (Europay, MasterCard và Visa) Nó dựa trên thẻ thông minh với chip vixử lý Con chip này có khả năng lưu trữ không chỉ thông tin tài chính, mà cả các ứngdụng khác, chẳng hạn như xác thực mạnh mẽ và chữ ký số Lịch sử của SEPA cùng vớicác nguyên tắc chính của nó được trình bày chi tiết trên Wikipedia
Ban đầu, 33 quốc gia đã đồng ý chuyển đổi tất cả các thẻ dải từ của họ sang thẻthông minh EMV vào tháng 12 năm 2010 Ngày nay, việc áp dụng ở châu Âu thay đổi
Trang 23theo khu vực Ở Tây Âu 97% tất cả các giao dịch thẻ là EMV Đối với Đông Âu, cókhoảng 65% Ngoài châu Âu, cũng có tỷ lệ chấp nhận cao ở Trung Đông, Châu Phi,Canada và Latin và Nam Mỹ Ở những khu vực này, chiếm 85% trở lên Tại Châu ÁThái Bình Dương, việc tiếp nhận rất khiêm tốn với khoảng 35% giao dịch thẻ liênquan đến EMV Tương tự như vậy ở Hoa Kỳ, việc áp dụng đã rất chậm.
Tại Hoa Kỳ, các hiệp hội thẻ lớn đã tự áp đặt vào ngày 1 tháng 10 năm 2015, làngày bắt buộc áp dụng thẻ EMV Kể từ ngày đó, những doanh nghiệp không chấp nhậnđịnh dạng này sẽ phải chịu trách nhiệm cho bất kỳ tổn thất nào họ phải chịu do gianlận thẻ tín dụng Sau ngày áp dụng điều này, vào cuối năm 2015, ước tính là ít hơn40% doanh nghiệp có thiết bị đầu cuối EMV và khoảng 40% chủ thẻ có thẻ với chipEMV Mặc dù Hoa Kỳ đã chậm di chuyển, nhưng tỷ lệ chấp nhận đã tăng đáng kểtrong năm 2016 Ngoại lệ là các trạm xăng, dự kiến sẽ không chấp nhận thẻ EMV chođến năm 2017
● Thẻ bảo mật
Động lực cho thẻ thông minh so với việc sử dụng thẻ tiêu chuẩn là chúng antoàn hơn Vì chúng thường được sử dụng để lưu trữ thông tin có giá trị hoặc nhạy cảmhơn (ví dụ: tiền mặt hoặc hồ sơ y tế), thẻ thông minh thường có hệ thống bảo mậtchống trộm, lừa đảo hoặc sử dụng sai Ngược lại, nếu ai đó đánh cắp thẻ thanh toánthông thường, họ có thể thấy số thẻ, chữ ký chủ sở hữu và mã bảo mật Trong nhiềutrường hợp chỉ cần số thẻ và mã bảo mật để mua hàng Tuy nhiên, bọn tội phạm có thểsử dụng các thẻ có giá trị được ủy quyền, đây là một khoản lỗ cho ngân hàng và Visahoặc MasterCard
Mặt khác, nếu ai đó đánh cắp thẻ thông minh, kẻ trộm thường không gặp may(ngoại trừ chính là sóng không tiếp xúc, hoặc sóng và đi, thẻ được sử dụng để mua lẻ).Trước khi có thể sử dụng thẻ thông minh, chủ sở hữu có thể được yêu cầu nhập mãPIN Lợi ích khác của thẻ thông minh so với thẻ thanh toán tiêu chuẩn là chúng có thểđược mở rộng để bao gồm các dịch vụ thanh toán khác Trong lĩnh vực bán lẻ, nhiềudịch vụ trong số này nhắm đến các cơ sở nơi thanh toán thường được thực hiện bằngtiền mặt, và tốc độ và sự thuận tiện là rất quan trọng Chúng bao gồm các cửa hàng
Trang 24tiện lợi, trạm xăng, thức ăn nhanh hoặc nhà hàng phục vụ nhanh và rạp chiếu phim.Thanh toán không tiếp xúc minh họa cho loại dịch vụ giá trị gia tăng này.
● Không tiếp xúc trong bán lẻ
Một vài năm trước, các công ty thẻ đã bắt đầu thí điểm các hệ thống thanh toánkhông tiếp xúc trong các hoạt động bán lẻ, nơi tốc độ và sự thuận tiện là rất quantrọng Tất cả các hệ thống này sử dụng cơ sở hạ tầng thanh toán POS và dải từ hiện cóđược sử dụng với thẻ tín dụng và thẻ ghi nợ truyền thống Sự khác biệt duy nhất là mộtđầu đọc thẻ thông minh không tiếp xúc đặc biệt được yêu cầu Để mua hàng, chủ thẻchỉ cần đưa thẻ của mình gần thiết bị đầu cuối, thiết bị này sẽ đọc thông tin tài chínhtrên thẻ Mặc dù tiện lợi và nhanh chóng, nhưng nhìn cách tổng quan về sự phát triểnthẻ thanh toán không tiếp xúc trong các cửa hàng bán lẻ là tương đối chậm cho đếngần đây Chẳng hạn, theo dữ liệu từ Hiệp hội thanh toán thông minh (2016), 40% trong
số 1,5 tỷ thẻ thanh toán thông minh được vận chuyển trong năm 2014 là không tiếpxúc Đó là một sự gia tăng 35% so với năm trước
● Giá vé quá cảnh
Tại Hoa Kỳ, một số quốc gia châu Âu và các thành phố lớn của Nhật Bản,người đi làm cần lái xe đến bãi đậu xe gần ga tàu, lên tàu, sau đó đổi sang một hoặcnhiều tàu điện ngầm hoặc xe buýt để đến nơi làm việc Toàn bộ chuyến đi có thể yêucầu một số khoản thanh toán Nhiều nhà khai thác vận chuyển lớn ở Hoa Kỳ và Châu
Á đã giới thiệu các hệ thống bán vé thông minh để giúp những người đi lại này Các hệthống giao thông tại Washington, D.C., Seoul, Hồng Kông, khu vực vịnh SanFrancisco, Singapore và hầu hết các thành phố lớn khác đều sử dụng hệ thống thanhtoán thẻ thông minh Ngoài việc xử lý giá vé quá cảnh, thẻ thông minh giao thôngcông cộng và các hệ thống thanh toán điện tử khác (ví dụ: điện thoại thông minh) đangđược sử dụng để thanh toán phí đỗ xe và thậm chí để mua một số hàng hóa Ví dụ,xem Cơ quan đỗ xe Philadelphia (philapark.org) Tương tự, nhiều con đường thu phílớn ở Hoa Kỳ và các nơi khác chấp nhận thanh toán điện tử được thực hiện bởi cácthiết bị gọi là bộ tiếp sóng hoạt động giống như thẻ thông minh không tiếp xúc nhưng
từ khoảng cách lớn hơn nhiều Hệ thống ERP (giá đường điện tử) của Singapore, đượchiển thị trong Hình 12.3, giám sát các con đường trong trung tâm thành phố Singapore
Trang 25để kiểm soát giao thông, đặc biệt là trong giờ cao điểm, bằng cách sử dụng bộ tiếpsóng từ xa trong xe.
Hình 12.3 Singapore hệ thống giá đường điện tử (Nguồn: Ảnh chụp bởi J K Lee,tháng 3 năm 2013)
Lưu ý: Mặc dù mức độ phổ biến của chúng, việc sử dụng thẻ thông minh sẽ giảm
trong tương lai, được thay thế bằng thanh toán từ điện thoại thông minh Một lĩnh vực
mà nó đã xảy ra là micropayments EC
4. Micropayments
Micropayments hoặc e-micropayments là những khoản thanh toán nhỏ được thựchiện trực tuyến, thường dưới $10 Theo quan điểm của nhiều nhà cung cấp, thẻ tíndụng quá đắt cho các khoản thanh toán nhỏ Thẻ ghi nợ cũng vậy, trong đó phí giaodịch cố định lớn hơn, mặc dù không có phí phần trăm Các khoản phí này tương đốinhỏ (tính theo tỷ lệ phần trăm) chỉ khi mua thẻ trên $10 Bất kể quan điểm của nhàcung cấp, có bằng chứng đáng kể, ít nhất là trong thế giới ngoại tuyến, người tiêu dùngsẵn sàng sử dụng thẻ tín dụng hoặc thẻ ghi nợ của họ để mua hàng giá trị nhỏ Trongthế giới trực tuyến, bằng chứng cho thấy người tiêu dùng quan tâm đến việc mua hànggiá trị nhỏ, nhưng không phải bằng thanh toán bằng thẻ tín dụng hoặc thẻ ghi nợ Một
Trang 26ví dụ điển hình là kho nhạc iTunes của Apple và App Store của họ Đã có hơn 35 tỷ bàihát được tải xuống từ iTunes (Lee 2014) và hơn 100 tỷ ứng dụng được tải xuống từApp Store của họ Một tỷ lệ đáng kể các bài hát được tải xuống có giá 1,29 đô mộtbản, trong khi nhiều ứng dụng có giá khoảng từ 0,99 đến 5 đô la Mặc dù hầu hếtkhách hàng của Apple đã trả cho các tải bằng thẻ tín dụng hoặc thẻ ghi nợ, các khoảnthanh toán không trên cơ sở pertransaction Thay vào đó, khách hàng của họ đã tạo tàikhoản với Apple và Apple sau đó tổng hợp nhiều giao dịch mua trước khi tính phí thẻtín dụng hoặc thẻ ghi nợ của người dùng.
Các lĩnh vực khác mà người tiêu dùng đã cho thấy họ có sự sẵn sàng mua các mặthàng dưới 5 đô bằng thẻ tín dụng là nhạc chuông điện thoại di động, nhạc chờ và tròchơi trực tuyến Thị trường hàng năm cho nhạc chuông và nhạc chờ là hàng tỷ đô la.Việc tải xuống cả hai loại nhạc chuông và nhạc chờ này được tính vào hóa đơn điệnthoại di động của họ Tương tự, thị trường hàng năm cho các trò chơi trực tuyến cũnglên đến hàng tỷ đô la Giống như các bài hát và âm báo, tải trò chơi thường được tínhvào tài khoản của người tiêu dùng, được thanh toán bằng thẻ tín dụng hoặc thẻ ghi nợ.Người tiêu dùng cũng phải trả phí đỗ xe, phí thuê xe trong sân bay và phí cho các dịch
vụ khác
4.1 Mô hình thanh toán vi mô
Hiện tại, có 5 mô hình thanh toán vi mô cơ bản không phụ thuộc hoàn toànhoặc trực tiếp vào thẻ tín dụng hoặc thẻ ghi nợ và đã đạt được một số thành công Một
số trong số này phù hợp hơn cho thanh toán ngoại tuyến so với thanh toán trực tuyến,mặc dù không có gì ngăn cản việc áp dụng bất kỳ mô hình nào vào thế giới trực tuyến.Các mô hình bao gồm:
• Tập hợp
Các khoản thanh toán từ một người tiêu dùng duy nhất được tích lũy và xử lýđịnh kỳ (ví dụ: mỗi tháng một lần) hoặc khi đạt đến một mức nhất định (ví dụ: $100) Mô hình này phù hợp với các nhà cung cấp với khối lượng kinh doanh lặplại cao Cả iTunes và App Store của Apple đều sử dụng model này Thẻ lưuthông đường bộ được sử dụng ở Seoul, Hàn Quốc và nhiều nơi khác có tínhchất tương đồng