1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

SẮC THÁI NAM BỘ TRONG THƠ VĂN NGUYỄN ĐÌNH CHIỂU

64 693 3

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 64
Dung lượng 1,44 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Thông qua việc tìm hiểu, nghiên cứu thơ văn Nguyễn Đình Chiểu, chúng ta sẽ thấy rõ đôi nét về tư tưởng, tính cách, những suy tư, trăn trở, những nỗi đau và trái tim nhân nghĩa mà tác giả

Trang 1



SẮC THÁI NAM BỘ TRONG THƠ VĂN NGUYỄN ĐÌNH CHIỂU

Thực hiện: NGUYỄN HỮU THIỆN MSSV: 43.01.601.079

Lớp: 43.01.VAN.B

HỌC PHẦN PHONG CÁCH NGHỆ THUẬT CỦA MỘT SỐ TÁC GIẢ

VĂN HỌC TRUNG ĐẠI VIỆT NAM

Trang 2



HỌC PHẦN PHONG CÁCH NGHỆ THUẬT CỦA MỘT SỐ TÁC GIẢ

VĂN HỌC TRUNG ĐẠI VIỆT NAM

SẮC THÁI NAM BỘ TRONG THƠ CA NGUYỄN ĐÌNH CHIỂU

Giảng viên hướng dẫn:

ThS Lê Văn Lực

Sinh viên thực hiện:

Nguyễn Hữu Thiện

MSSV: 43.01.601.079

Lớp: 43.01.VAN.B

Mã lớp HP: LITR148001

Trang 3

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 5

1.Lý do chọn đề tài 5

2.Lịch sử nghiên cứu vấn đề 6

3.Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 8

4.Mục đích nghiên cứu 8

5.Phương pháp nghiên cứu 9

6.Cấu trúc bài tiểu luận 9

CHƯƠNG 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG 10

1.1 Khái niệm sắc thái 10

1.2 Đặc điểm của sắc thái Nam Bộ 10

1.3 Cơ sở hình thành nên sắc thái Nam Bộ trong thơ văn Nguyễn Đình Chiểu 14

1.3.1.Thời đại sinh sống 14

1.3.2.Cuộc đời 16

CHƯƠNG 2 VẺ ĐẸP CON NGƯỜI NAM BỘ TRONG THƠ VĂN NGUYỄN ĐÌNH CHIỂU 18

2.1 Trọng nghĩa khinh tài 18

2.2 Cương trực, thẳng thắn, yêu ghét phân minh 22

2.3 Hào hiệp, phóng khoáng 26

2.4 Ứng xử có văn hóa, hợp tình, hợp nghĩa 27

2.5 Tinh thần yêu nước mang sắc thái riêng 31

CHƯƠNG 3 DẤU ẤN VĂN HÓA NAM BỘ TRONG THƠ VĂN NGUYỄN ĐÌNH CHIỂU THỂ HIỆN QUA CÁC HOẠT ĐỘNG VĂN HÓA DÂN GIAN 36

3.1 Dấu ấn các hoạt động tín ngưỡng dân gian Nam Bộ 37

Trang 4

3.1.1 Các hình thức nghi lễ truyền thống 37

3.1.2 Sự đan xen nhiều hình thức tín ngưỡng trong dân gian Nam Bộ 40

3.2 Dấu ấn của các hoạt động văn nghệ dân gian Nam Bộ 43

3.2.1 Hình thức diễn xướng của sân khấu tuồng 43

3.2.2 Hình thức diễn xướng qua những câu hò, điệu hát dân gian 46

CHƯƠNG 4 NGHỆ THUẬT THỂ HIỆN SẮC THÁI NAM BỘ TRONG THƠ VĂN NGUYỄN ĐÌNH CHIỂU 48

4.1 Ngôn ngữ 48

4.1.1 Từ ngữ địa phương mang đậm sắc thái Nam Bộ 48

4.1.2 Sự đa dạng của lớp từ Nam Bộ 53

4.2 Hình ảnh 56

4.3 Bút pháp miêu tả 59

TỔNG KẾT 63

TÀI LIỆU THAM KHẢO 64

Trang 5

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Nhắc đến văn học giai đoạn nửa cuối thế kỷ XIX thì không thể không đề cập đến kho tàng thơ văn của Nguyễn Đình Chiểu - một nhà thơ yêu nước lớn nhất của miền Nam Việt Nam được các bậc tài năng văn chương cùng thời và hiện đại tỏ lòng kính trọng, ngưỡng mộ sâu sắc

Thời đại Nguyễn Đình Chiểu sống là thời kỳ lịch sử với những biến động lớn lao Sự phát triển của chế độ phong kiến Việt Nam khựng lại với triều đình nhà Nguyễn, nhưng mầm mống cho sự kết thúc của nó bắt đầu bằng tiếng súng xâm lược của chính quyền thực dân Pháp Trên những hoang tàn trong sự sụp

đổ của hệ thống giá trị cũ, những giá trị tốt đẹp của văn hóa dân tộc vẫn tồn tại

và lấp lánh trong đời sống tinh thần nhiều thế hệ mà những trang văn, vần thơ của Nguyễn Đình Chiểu là một hiện tượng điển hình

Ông sinh ra tại quê mẹ Gia Định thành, kết duyên với vợ là người huyện Cần Giuộc, sau đó lại chạy giặc và mất ở Ba Tri (Bến Tre) Chính vì vậy, trong những tác phẩm của mình, Nguyễn Đình Chiểu sử dụng rất nhiều hình ảnh, từ ngữ mang đậm sắc thái của vùng đất Nam Bộ Là một nhà Nho phong kiến, chịu sự chi phối của khoa bảng, thi cử khó khăn nên những sáng tác của Nguyễn Đình Chiểu tuân thủ nghiêm ngặt hệ thống thi pháp trung đại thế nhưng các đặc điểm thi pháp ấy lại giao thoa và bị “nhúng” vào toàn bộ không gian văn hóa, chịu sử ảnh hưởng sâu đậm của những đặc sắc riêng vùng bản địa

Nam Bộ - ngày xưa nhiều sông rạch, đầm lầy nay trở thành vùng đất trù phú, cây cối xanh tươi, phong cảnh hữu tình…, và đặc biệt là con người Nam

Bộ rất thật thà, chất phác, thẳng thắn bộc trực,… Tất cả những điều này góp phần tạo nên một vẻ đẹp riêng về văn hóa Nơi đây, Nguyễn Đình Chiểu được sinh ra, lớn lên và sáng tác văn chương Những vẻ đẹp và phong vị quê hương

Trang 6

đã thấm sâu vào tâm hồn cụ Đồ qua những câu hò, điệu hát dân gian, và lẽ tất yếu, đã để lại dấu ấn khá sâu đậm cũng như làm nên nét đặc trưng riêng trong tác phẩm của Nguyễn Đình Chiểu Đọc tác phẩm của Nguyễn Đình Chiểu, điều

ấn tượng nhất là chất văn hóa của vùng đất Nam Bộ nổi bật qua thơ văn của cụ

Có thể nói, đây là những yếu tố góp phần làm nên giá trị đặc sắc cho thơ văn Nguyễn Đình Chiểu

Thông qua việc tìm hiểu, nghiên cứu thơ văn Nguyễn Đình Chiểu, chúng

ta sẽ thấy rõ đôi nét về tư tưởng, tính cách, những suy tư, trăn trở, những nỗi đau và trái tim nhân nghĩa mà tác giả gửi gắm, cũng như những vẻ đẹp của văn hóa, người dân Nam Bộ được tác giả khắc họa bằng ngồi bút của mình Bởi niềm húng thú, say mê với nhà thơ Nguyễn Đình Chiểu và những tác phẩm của ông để lại; bên cạnh đó, là một người con của vùng đất Nam Bộ - một vùng đất mới được khởi sinh, khai phá với bề dày lịch sử khoảng hơn 300 năm nhưng tồn tại nhiều loại hình văn hóa riêng đặc sắc - nên tôi quyết định chọn đề tài

Sắc thái Nam Bộ trong thơ văn Nguyễn Đình Chiểu để làm tiểu luận cuối phần

2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề

Trải qua bao thăng trầm lịch sử nhưng thơ văn Nguyễn Đình Chiểu vẫn giữ một vị trí quan trọng cho lòng độc giả Cố Thủ tướng Phạm Văn Đồng đã

từng nhận xét: “Nguyễn Đình Chiểu đã kế thừa truyền thống văn hóa chung

của dân tộc, trong cái vẻ riêng của miền Nam, vốn đã được xuất hiện trước đó trong văn học Đàng Trong.” Các tác phẩm của ông đã gây nên sự chú ý, đón

nhận rộng rãi và đạt được nhiều thành công trong việc sưu tầm, giới thiệu, nghiên cứu về cuộc đời và sự nghiệp văn chương

Cho đến nay, có rất nhiều công trình, bài viết nghiên cứu thơ văn Nguyễn Đình Chiểu trên nhiều phương diện, góc độ cũng như đưa ra nhiều quan niệm,

cách nhìn nhận và đánh giá khác nhau Nhưng có thể nói đề tài Sắc thái Nam

Trang 7

Bộ trong thơ văn Nguyễn Đình Chiểu chưa được nhiều người quan tâm và

nghiên cứu một cách trực tiếp

Trong bài Nguyễn Đình Chiểu, ngôi sao sáng trong văn nghệ dân tộc của

cố Thủ tướng Phạm Văn Đồng có viết: “Tóm lại, Nguyễn Đình Chiểu là một

chí sĩ yêu nước, một nhà thơ lớn của nước ta Đời sống và sự nghiệp của Nguyễn Đình Chiểu là một tấm gương sáng, nêu cao địa vị và tác dụng của văn học, nghệ thuật, nêu cao sứ mạng của người chiến sĩ trên mặt trận văn hóa tư tưởng.” Bài viết đã đánh giá cao tác phẩm Lục Vân Tiên không chỉ hay về nội

dung mà còn đẹp về hình thức vì nó được gắn liền với văn hóa tinh thần của người dân Nam Bộ

Quyển Lục Vân Tiên – tác phẩm và lời bình (Nhiều tác giả), trong bài nghiên cứu của Huỳnh Ngọc Trảng viết: “…không thể chối cãi là chính truyện

“Lục Vân Tiên” đã sản sinh ra một hình thức diễn xướng truyện thơ mang tên gọi của nó, mà sau này trở thành hình thức độc xướng truyện thơ chủ yếu của các truyện thơ Nam Bộ” Tác giã đã chứng minh ảnh hưởng của Lục Vân Tiên

lên đời sống tinh thần của nhân dân, điều này làm tăng thêm dấu ấn văn hóa Nam Bộ trong sáng tác của Nguyễn Đình Chiểu

Hoàng Tuệ, Phạm Văn Hảo và Lê Văn Trường trong bài viết Tiếng địa

phương miền Nam trong tác phẩm của Nguyễn Đình Chiểu đã chỉ ra giá trị hiện

thực của văn thơ cụ Đồ được tạo nên từ nhiều yếu tố nhưng phương ngữ miền Nam là yếu tố quan trọng, chính điều đó ghi lại những sắc thái Nam Bộ trong

các tác phẩm: “Phương ngữ miền Nam chính là một yếu tố trong giá trị hiện

thực của thơ văn Nguyễn Đình Chiểu”

Ngoài ra, trong bài viết Mấy nhận xét tổng quát về ngôn ngữ thơ văn

Nguyễn Đình Chiểu, Nguyễn Thạch Giang có viết: “…những từ ngữ và những thể cách hành văn địa phương đậm đà trong “Lục Vân Tiên, Dường Từ - Hà

Trang 8

Mậu, Ngư Tiều vấn đáp nho y diễn ca” đã tạo nên một không khí đặc biệt, nôm

na đến mức thật thà chân chất, phản ánh hiện thực những xứ sở của những con người bộc trực, cũng thắng thắn, thật thà” Chúng ta thấy, không quá khó khăn

để nhìn nhận ra những con người thật thà, đôn hậu và thẳng thắn tựa như tính cách của người dân Nam Bộ qua các nhân vật trong các tác phẩm của cụ Đồ Chiểu và trong những sáng tác ấy, tính cách của con người Nam Bộ được khắc họa sâu sắc và sinh động hơn nữa qua ngôn ngữ hành văn của tác giả

Nhìn chung, các công trình, bài viết được khảo sát trên đều có cái nhìn rộng rãi trong việc nghiên cứu, đánh giá về cuộc đời, con người cũng như các giá trị về nội dung, nghệ thuật thơ văn Nguyễn Đình Chiểu ở nhiều phương diện và khía cạnh khác nhau, đặc biêt còn chú ý đến những giá trị văn hóa dân tộc nói chung và cả văn hóa, sắc thái Nam Bộ nói riêng trong các sáng tác của nhà thơ

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Trong giới hạn của đề tài khảo sát, người viết chủ yếu tìm hiểu về tác giả Nguyễn Đình Chiểu qua cuộc đời, bối cảnh thời đại sinh sống, các sáng tác thơ văn và khảo sát, nghiên cứu sắc thái Nam Bộ ở các khía cạnh như: vẻ đẹp con người Nam Bộ, dấu ấn văn hóa Nam Bộ qua các hoạt động văn hóa dân gian

và nghệ thuật thể hiện những sắc thái ấy như từ ngữ địa phương, hình ảnh, bút pháp miêu tả thông qua các tác phẩm, bài viết, công trình nghiên cứu có liên quan đến đề tài bài tiểu luận

4 Mục đích nghiên cứu

Nhà thơ Nguyễn Đình Chiểu là một trong những tác gia lớn của nền văn học Việt Nam, một đại diện tiêu biểu và xuất sắc của nền văn học yêu nước, chống Pháp trong giai đoạn lúc bấy giờ Các tác phẩm của ông được đưa vào chương trình giáo dục trung học phổ thông, cao đẳng, đại học Chính vì vậy,

Trang 9

khi nghiên cứu, tìm hiểu về những sắc thái Nam Bộ trong các sáng tác của Nguyễn Đình Chiểu, người viết góp phần nêu lên được những ảnh hưởng của văn hóa Nam Bộ đối với quá trình sáng tác của tác giả thông qua từ ngữ và các hoạt động dân gian Đồng thời, làm nổi bật lên vẻ đẹp những nhân vật trong tác phẩm của Nguyễn Đình Chiểu nói riêng và những vẻ đẹp của người dân Nam

Bộ nói chung

5 Phương pháp nghiên cứu

Trong quá trình nghiên cứu đề tài, người viết đã sử dụng, phối hợp linh hoạt các phương pháp sau:

o Phương pháp phân tích;

o Phương pháp tổng hợp;

o Phương pháp đối chiếu, so sánh;

o Phương pháp liệt kê

6 Cấu trúc bài tiểu luận

Ngoài phần mở đầu và kết luận, nội dung bài tiểu luận còn được chia thành bốn chương:

Chương 1: Một số vấn đề chung

Chương 2: Vẻ đẹp con người Nam Bộ trong thơ văn Nguyễn Đình Chiểu Chương 3: Dấu ấn văn hóa Nam Bộ trong thơ văn Nguyễn Đình Chiểu thể hiện qua các hoạt động văn hóa dân gian

Chương 4: Nghệ thuật thể hiện sắc thái Nam Bộ trong thơ văn Nguyễn Đình Chiểu

Trang 10

CHƯƠNG 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG

1.1 Khái niệm sắc thái

Theo Từ điển Tiếng Việt do Giáo sư Hoàng Phê chủ biên thì “sắc thái là

nét tinh tế làm phân biệt những sự vật về cơ bản giống nhau”

Từ đây, có thể nói: Sắc thái Nam Bộ là những nét tinh tế, đặc sắc riêng

về văn hóa, lối sống, tính cách con người,… làm phân biệt Nam Bộ với những vùng miền khác trên đất nước Việt Nam

1.2 Đặc điểm của sắc thái Nam Bộ

Nam Bộ là vùng đất thiêng liêng, phía cực nam Tổ quốc Cũng giống như các vùng miền khác trên cả nước, Nam Bộ có những vẻ đẹp, sắc thái riêng, tạo nên những đặc điểm nổi bật góp phần làm phong phú thêm nền văn hóa dân tộc nước nhà

Về ảnh hưởng của điều kiện tự nhiên, Nam Bộ là một vùng đồng bằng

rộng lớn, mạng lưới sông ngòi chằng chịt nên địa hình tương đối bằng phẳng, thấp trũng và không có độ dốc Khí hậu quanh năm chỉ có hai mùa: mùa nắng

và mùa mưa Vì thế, vào những tháng mùa mưa, lượng nước từ thượng nguồn

đổ về nhiều gây lụt lội và ngập úng ở những khu vực ven sông, nhất là các tỉnh

đồng bằng sông Cửu Long, người dân nơi đây gọi đó là “mùa nước nổi” Chính

hiện tượng tự nhiên này, đã hình thành nên lối sống, cách sinh hoạt của người

dân vùng sông nước mang đặc điểm riêng, luôn thích nghi với lũ “sống chung

với lũ”, thích di chuyển, không cố định… Bên cạnh đó, do có khí hậu nhiệt đới

ẩm gió mùa, ít mưa bão, thiên tai nên cuộc sống nơi đây luôn được thoải mái

và dễ chịu, người dân ở đây làm chơi mà ăn thiệt, ăn ở tạm bợ, không lo xa hay tích trữ phòng cơ như người dân ở những vùng miền khác trên cả nước

Về lao động sản xuất, đến với vùng đất mới, người dân Nam Bộ làm rất

Trang 11

nhiều nghề khác nhau, nhưng chủ yếu là làm nghề nông và do sớm biết được

kĩ thuật canh tác kết hợp chặt chẽ giữa ruộng và vườn nên việc phát triển về đời sống kinh tế của họ mang lại đặc điểm riêng, khác biệt so với các vùng miền khác Điều này đã tạo nên một nét văn hóa hết sức độc đáo trong đời sống sinh hoạt, sản xuất của cư dân nơi đây mà người ta thường gọi đó là “văn hóa miệt vườn”, hay “văn hóa sông nước”,…

Về cách thức tổ chức xã hội, ban đầu những lưu dân đến vùng đất này đã

tự biết phân bố theo đơn vị cư trú như xã, ấp Xã, ấp của người Nam Bộ thường tập hợp những cư dân đến từ nhiều vùng miền và nhiều họ tộc khác nhau Họ xây dựng nhà ở không kiên cố như cư dân miền Bắc, miền Trung (thường tận dụng những nguyên liệu tự nhiên có sẵn như đước, tràm, tre, nứa,… để làm cột kèo; sử dụng lá dừa nước, cỏ tranh,… để lợp mái, đóng vách) và giúp đỡ nhau trong công việc Vì thế, họ gắn bó với nhau theo quan hệ láng giềng, hàng xóm chứ không còn theo mối quan hệ dòng tộc huyết thống như ở nơi cố hương

Về trang phục, do sống trong điều kiện môi trường thiên nhiên quanh

năm nóng ẩm và phải quần quật với những công việc nên người Nam Bộ cũng thiết kế và lựa chọn những trang phục sao cho vừa thích ứng với môi trường thiên nhiên lại vừa phù hợp, tiện lợi cho sinh hoạt, lao động của mình Trang phục truyền thống của người Nam Bộ thường mặc là áo bà ba sẫm màu và choàng thêm khăn rằn, được dùng cho cả nam lẫn nữ Những trang phục này vừa rất dung dị, tiện lợi, thoải mái trong sinh hoạt, cả trong lao động sản xuất

mà vừa kín đáo, duyên dáng Từ đó tạo nên văn hóa trang phục người dân Nam

Bộ mang nét đẹp riêng và họ rất đỗi tự hào khi khoác lên mình bộ trang phục này

Về văn hóa phi vật thể, có thể nói Nam Bộ là nơi hội đủ các tôn giáo của

nước ta: Phật giáo, Thiên Chúa giáo, Tin Lành giáo, Cao Đài giáo, Phật giáo

Trang 12

Hòa Hảo, Hồi giáo, Hiếu Nghĩa Tuy nhiên, dù khác nhau về nội dung giáo lý nhưng điểm chung giữa các tôn giáo này là khuyên dạy con người làm lành, lánh ác, biết hiếu thảo với ông bà, cha mẹ, biết yêu thương đùm bọc, đoàn kết với nhau từ những người thân thuộc trong gia đình cho đến mọi người trong xã hội Chính vì thế, từ xưa cho đến ngày nay, các tôn giáo ở Nam Bộ đã và đang cùng chung tay góp sức xây dựng xã hội phát triển lành mạnh, tiến bộ và tốt đẹp Bên cạnh đó, người dân Nam Bộ còn có những phong tục, tập quán, lễ hội riêng mang nếp sinh hoạt chung của cư dân nông nghiệp ở miền sông nước, như làm nhà ven sông, di chuyển bằng xuồng ghe, lễ hội đua ghe ngo, đua trâu

bò, nghinh ông, thể hiện được tinh thần lạc quan và ước mơ, khát vọng về cuộc sống bình an, tốt đẹp của người dân nơi đây Ngoài ra, Nam Bộ còn là nơi hình thành, lưu giữ và phát triển các loại hình nghệ thuật như tuồng, những câu

hò, điệu lý, đờn ca tài tử, cải lương, hát bội,… Tất cả đã góp phần làm cho văn hóa Nam Bộ thêm phong phú, đa dạng và có nhiều điểm khác biệt so với các vùng văn hóa khác trên đất nước

Do ảnh hưởng từ điều kiện môi trường tự nhiên, phương thức sản xuất

và có sự giao thoa văn hóa nên trong mưu sinh, người dân Nam Bộ luôn sống bình dị, chịu khó bươn chải, cần cù, nhạy bén với cái mới, dám nghĩ dám làm,… Còn trong đối nhân xử thế thì luôn phóng khoáng, cởi mở, không thích sự ràng buộc khuôn khổ; tính cách luôn hiền lành, chân chất, thẳng thắn, bộc trực, khảng khái, hiếu khách, hào hiệp, trọng nghĩa khinh tài, không màn danh lợi,…

Chính những phẩm chất nổi bật, riêng biệt ấy đã ảnh hưởng vào trong nền văn

học của vùng đất “mới” này về cả hình thức lẫn nội dung, tư tưởng

Vào cuối thế kỷ XVI, văn học dân gian được thể hiện bằng phương thức truyền miệng đã phổ biến và phát triển mạnh mẽ nhằm đáp ứng cho nhu cầu của nhân dân về đời sống tinh thần Nội dung của các tác phẩm văn học dân gian hầu như đều ca ngợi, đề cao cái thiện, cái tốt, căm ghét cái xấu, cái ác và

Trang 13

thể hiện ước mơ của con người về một xã hội tốt đẹp,… Chính vì thế, văn học dân gian ở Nam Bộ vừa thể hiện được ước mơ, khát vọng, vừa phù hợp với trình độ nhận thức cũng như tâm tư, tình cảm của người dân nơi đây Từ đó làm cho dòng văn học dân gian ở Nam Bộ được nở rộ ngay những buổi đầu đi mở đất với nhiều thể loại, như thần thoại, truyền thuyết, cổ tích, truyện cười, tục ngữ, ca dao,…

Văn chương bác học Nam Bộ trong buổi đầu được thể hiện qua các nhóm

tác giả, tiêu biểu là Bạch Mai thi xã được thành lập giữa thế kỷ XIX, do những

sĩ phu Nam Bộ từng xướng vịnh ở gò Cây Mai sáng lập và sớm chuyển đổi thành dòng văn học yêu nước, với những tên tuổi lớn như Nguyễn Đình Chiểu, Thủ khoa Nguyễn Hữu Huân, Thủ khoa Bùi Hữu Nghĩa, Phan Văn Trị, Nguyễn Thông, Huỳnh Mẫn Đạt,… Trong đó, Nguyễn Đình Chiểu được xem là ngôi sao sáng trên bầu trời văn học Nam Bộ nói riêng, của dân tộc nói chung ở giai đoạn nửa cuối thế kỉ XIX Nhìn chung, nội dung chủ yếu của văn chương bác học Nam Bộ lúc bấy giờ là tập trung ca ngợi cảnh đẹp quê hương, ca ngợi cuộc sống khẩn hoang và tinh thần yêu nước, tự cường, tự chủ của lưu dân trên vùng đất mới

Ngoài ra, đặc điểm ngôn ngữ cũng góp phần vào những sắc thái riêng

biệt của Nam Bộ so với các vùng miền khác trên cả nước Theo nhiều tài liệu nghiên cứu thì các yếu tố về môi trường tự nhiên và xã hội đã tác động, ảnh hưởng sâu sắc đến việc hình thành và phát triển của ngôn ngữ Nam Bộ Vì thế, giọng nói của lưu dân Nam Bộ luôn được thanh thoát, ngân dài, nhẹ nhàng và trong trẻo hơn so với giọng nói đục, trầm của người miền Trung, hay giọng mạnh, cao của người miền Bắc Hơn nữa, tính cách bộc trực, phóng khoáng, thoải mái của người dân nơi đây cũng làm cho ngôn ngữ giao tiếp của họ trở nên mộc mạc, ít trau chuốt, gọt giũa, nghĩ sao nói vậy, ngắn gọn, miễn là diễn đạt được ý mình muốn nói Tất cả những yếu tố trên đã hình thành nên ngôn

Trang 14

ngữ Nam Bộ mang những đặc điểm khác biệt so với tiếng Việt phổ thông -

phương ngữ Nam Bộ Từ đó góp phần làm phong phú và giàu có thêm ngôn

ngữ của dân tộc Việt Nam

Từ những điểm trên cho thấy, dù nằm chung trong không gian đất nước Việt Nam, nhưng Nam Bộ mang trong mình những sắc thái tách biệt với nhiều nét độc đáo Chính những nét độc đáo này đã ảnh hưởng đến thơ văn Nguyễn Đình Chiểu trong việc truyền tải nội dung cũng như xây dựng, khắc họa các hình tượng nhân vật mang đậm phong thái, tính cách con người miền Nam

1.3 Cơ sở hình thành nên sắc thái Nam Bộ trong thơ văn Nguyễn Đình Chiểu

1.3.1 Thời đại sinh sống

Thời đại Nguyễn Đình Chiểu sinh sống là giai đoạn lịch sử nước ta với nhiều biến động lớn lao khi sự phát triển của nhà nước phong kiến bị khựng lại dưới triều đình Nguyễn Nhưng dấu hiệu của sự chấm dứt chế độ phong kiến nước ta lại bắt đầu bằng sự xâm lược của bọn thực dân Pháp

Trước khi Pháp xâm lược, Việt Nam là một quốc gia độc lập, có chủ quyền, đạt được những tiến bộ nhất định về kinh tế, văn hóa Tuy nhiên, ở giai đoạn này, chế độ phong kiến nước ta đang có những biểu hiện khủng hoảng, suy yếu nghiêm trọng như nông nghiệp sa sút, công - thương nghiệp bị đình đốn, quân sự lạc hậu, chính sách đối ngoại mắc những sai lầm,… dẫn đến nhiều cuộc khởi nghĩa chống triều đình nổ ra

Năm 1858, liên quân Pháp - Tây Ban Nha nổ tiếng súng tấn công và đổ

bộ lên bán đảo Sơn Trà (Đà Nẵng), đây là tín hiệu bắt đầu cho những chính sách xâm lược và bình định Việt Nam Thế nhưng, do chính sách “vườn không nhà trống” của nhân dân đã gây cho Pháp nhiều khó khăn, liên quân hai nước

bị cầm chân suốt 5 tháng (8/1858 – 2/1859) trên bán đảo Về sau, Tây Ban Nha rút khỏi cuộc xâm lược

Trang 15

Khí thế kháng chiến sục sôi trong nhân dân cả nước Tại Đà Nẵng, nhân dân tổ chức thành đội ngũ, chủ động tìm địch mà đánh Thực dân Pháp đã phải thừa nhận “dân quân gồm tất cả những ai không đau ốm và không tàn tật” Từ Nam Định, Đốc học Phạm Văn Nghị tự chiêu mộ nhân dân, chủ yếu là học trò của ông, lập thành cơ ngũ, lên đường vào Nam xin vua được ra chiến trường

Thấy không chiếm được Đà Nẵng, Pháp quyết định đưa quân vào Gia Định Năm 1859, hạm đội Pháp tới Vũng Tàu rồi theo sông Cần Giờ lên Sài Gòn Từ năm 1860, cục diện chiến trường Nam Kì có sự thay đổi, Pháp phải rút toàn bộ số quân ở Đà Nẵng vào Gia Định Tháng 7/1860, hàng nghìn nghĩa dũng do Dương Bình Tâm chỉ huy đã xung phong đánh đồn Chợ Rẫy, vị trí quan trọng nhất trên phòng tuyến của địch Pháp bị sa lầy ở cả hai nơi (Đà Nẵng

và Gia Định), rơi vào tình thế tiến thoái lưỡng nan Lúc này, trong triều đình nhà Nguyễn có sự phân hóa, tư tưởng chủ hòa lan ra làm lòng người li tán

Năm 1861, Pháp chiếm được Đại đồn Chí Hòa, Định Tường, Biên Hòa đến năm 1862, Vĩnh Long cũng rơi vào tay giặc Trước tình cảnh đó, cuộc kháng chiến của nhân dân miền Nam càng phát triển mạnh hơn Ngày 10/12/1861, đội quân của Nguyễn Trung Trực đã đánh chìm tài chiến Ét-pê-răng (Hy Vọng) của địch trên sông Vàm Cỏ Đông, làm nức lòng quân dân ta

Giữa lúc phong trào kháng chiến của nhân dân ngày một dâng cao, khiến quân giặc vô cùng bối rối thì triều đình Nguyễn kí với Pháp Hiệp ước Nhâm Tuất (5/6/1862) Mặc dù vậy, phong trào chống Pháp của nhân dân ba tỉnh miền Đông Nam Kì vẫn tiếp diễn Các sĩ phu yêu nước vẫn bám đất, bám dân, cỗ vũ nghĩa binh đánh Pháp và chống phong kiến đầu hàng Nhưng cuối cùng thất bại, ba tỉnh miền Đông bị Pháp xâm chiếm

Đến tháng 6 năm 1867, thực dân Pháp chiếm gọn ba tỉnh miền Tây Nam

Kì (Vĩnh Long, An Giang, Hà Tiên) mà không tốn một viên đạn Chính vì điều

Trang 16

này, phong trào kháng chiến trong nhân dân lại tiếp tục dâng cao Một số văn thân, sĩ phu yêu nước bất hợp tác với giặc, tìm cách vượt biển ra vùng Bình Thuận nhằm mưu cuộc kháng chiến lâu dài Một số ở lại bám đất, bám dân, tiếp tục tiến hành cuộc vũ trang chống Pháp Đến năm 1867, sáu tỉnh Nam Kì rơi vào tay Pháp Từ đó, Nam Kì được hưởng quy chế thuộc địa, với chính quyền thực dân, đứng đầu là một thống đốc người Pháp

Ta có thể thấy, cuộc kháng chiến của nhân dân Nam Kì là những biểu hiện cụ thể, sinh động về lòng yêu nước nồng nàn, ý chí bất khuất chống ngoại xâm của nhân dân ta, cụ thể là tinh thần yêu nước của người dân Nam Kì Chính điều này, đã ảnh hưởng sâu sắc đến việc xây dựng và khắc họa các hình tượng nhân vật mang những phẩm chất, tài năng, tính cách của người địa phương trong các sáng tác của Nguyễn Đình Chiểu

1.3.2 Cuộc đời

Nhà thơ Nguyễn Đình Chiểu (阮廷炤) tự Mạnh Trạch, hiệu Trọng Phủ, sau khi mù đổi hiệu Hối Trai, mọi người quen gọi là Đồ Chiểu, sinh ngày 1 tháng 7 năm 1822 ở quê mẹ, làng Tân Thới, huyện Bình Dương, tỉnh Gia Định (nay là Thành phố Hồ Chí Minh)

Ông xuất thân trong một gia đình nhà Nho Cha là Nguyễn Đình Huy (1793 - ?) hiệu Dương Minh Phủ, quê ở xã Bồ Điền, tổng Phò Ninh, huyện Quảng Điền, phủ Triệu Long, xứ Thuận Hóa (nay là làng Bồ Điền, xã Phong

An, huyện Hương Điền, tỉnh Thừa Thiên - Huế) Tổ tiên gốc ngoài Kinh Bắc (Bắc Ninh ngày nay), tị nạn nội chiến Lê - Mạc, vào Bồ Điền lập nghiệp từ niên hiệu Hồng Ninh (1591 - 1592) đến ông Huy là 11 đời Lớn lên, ông Huy cưới

vợ ở đây và đã có hai con Mùa hạ, tháng 5 năm Canh Thìn (1820), Tả quân Lê Văn Duyệt được triều đình Huế phái vào làm Tổng trấn Gia Định Thành (lần thứ hai) Đến đầu mùa thu, Nguyễn Đình Huy đi theo Tả quân để tiếp tục làm

Trang 17

thư lại ở Văn hàn ty thuộc dinh Tổng trấn Ở Gia Định, ông Huy có thêm người

vợ là bà Trương Thị Thiệt (1800 - 1848), sinh được bảy người con và Nguyễn Đình Chiểu chính là đứa con đầu lòng

Thuở nhỏ, Nguyễn Đình Chiểu được má nuôi dạy Lên 6, 7 tuổi, ông theo học với một thầy đồ trong làng Đến năm 1833, vụ biến Vệ Khôi xảy ra ngay trong dinh của quan Tổng trấn Ông Huy trốn về Thừa Thiên, bị cách xuống làm thường dân, ông lén trở vào Gia Định, đưa Nguyễn Đình Chiểu ra Huế, gửi nhờ ăn học Năm 1840, Nguyễn Đình Chiểu về Gia Định để thi, đỗ

Tú tài khoa Quý Mão, năm 1843, ông được một nhà họ Võ hứa gã con gái

Năm 1847, Nguyễn Đình Chiểu trở lại Huế, học thêm chờ thi tiếp khoa sau (Kỷ Dậu 1849) Ngày rằm tháng 11 năm Mậu Thân (31 tháng

12 năm 1848), má Nguyễn Đình Chiểu mất ở Gia Định Được tin, ông bỏ thi, dẫn người em cùng đi thi theo đường bộ trở về Nam chịu tang mẹ Đường xa lại đau dớn trong lòng, ông ngã bệnh nằm lại dọc đường chạy chữa Kết cục bị

mù cả hai mắt Về đến nhà, người vợ chưa cưới đã từ hôn khi thấy ông bị mù

Nguyễn Đình Chiểu sau khi mãn tang mẹ (khoảng năm 1851), thì mở trường dạy học và làm thuốc ở Bình Vi, bên ngoài thành Gia Định Năm 1854, ông lấy vợ là bà Lê Thị Điền (1835 - 1886), người làng Thanh Ba, huyện Cần Giuộc, tỉnh Gia Định (nay thuộc Long An)

Ngày 10/2/1859, tàu chiến Tây vào cửa Cần Giờ Ngày 17/2/1859, thành Gia Định vỡ Đồ Chiểu đưa gia đình chạy giặc về làng Thanh Ba, tức quê vợ ông Cuối năm 1861, giặc úp đồn Cần Giuộc Hiệp ước Nhâm Tuất 1862 được

kí kết, triều đình cắt ba tỉnh Đông Nam Kì dâng cho Pháp Đồ Chiểu dắt vợ con chạy xuống An Bình Tây, Vĩnh Long (nay thuộc Ba Tri, Bến Tre) Tại đây, ông tiếp tục dạy học, làm thuốc và đem ngòi bút yêu nước của mình ra phục vụ cho cuộc đấu tranh anh dũng của đồng bào Nam Kì trong suốt 20 năm dù đã bị mù

Trang 18

lòa Năm 1867, miền Tây thuộc hết về tay giặc, nhiều người tị địa ra miền Trung nhưng ông ở lại Đến ngày 3 tháng 7 năm 1888, Nguyễn Đình Chiểu qua đời tại Ba Tri do buồn rầu vì thương vợ, vì cảnh nước mất nhà tan đã bấy lâu,

vì bệnh tật ngày thêm trầm trọng Ngày đưa tiễn nhà thơ Nguyễn Đình Chiểu

về cõi vĩnh hằng, cánh đồng An Đức rợp trắng khăn tang của những người mến

mộ ông

Nguyễn Đình Chiểu là tấm gương hiếu nghĩa nhân từ, một nho sĩ bình dân bản lĩnh và tiết tháo, khiến cả thực dân cũng không cưỡng nỗi sự tò mò và công nhiên kính phục

Chính hoàn cảnh cuộc đời như thế đã làm cho các tác phẩm của Nguyễn Đình Chiểu như nhuốm màu hiện thực cuộc sống của chính tác giả Bên cạnh

đó, Nguyễn Đình Chiểu sinh ra - lớn lên - sáng tác văn chương - mất đi đều trên mảnh đất Nam Bộ nên những sáng tác của ông, ta bắt gặp được rất nhiều sắc thái Nam Bộ từ hình ảnh, tính cách con người, vẻ đẹp văn hóa thông qua bút pháp miêu tả, khắc họa không gian, hình tượng nhân vật của nhà thơ

CHƯƠNG 2 VẺ ĐẸP CON NGƯỜI NAM BỘ TRONG THƠ VĂN NGUYỄN ĐÌNH CHIỂU

2.1 Trọng nghĩa khinh tài

Trọng nghĩa khinh tài là một trong những tính cách nổi bật của người dân Nam Bộ Họ vốn là những lưu dân rời bỏ cội nguồn quê hương, bỏ lại gia đình và dòng tộc để tìm đến xứ sở này mà khai hoang, lập ấp mở làng Chính cuộc sống như vậy, con người nơi đây đã gắn bó, đoàn kết với nhau và cùng nhau hợp tác trong lao động sản xuất cũng như giúp đỡ, hỗ trợ nhau khi gặp

khó khăn hoạn nạn - “Bán bà con xa, mua láng giềng gần” là thế Cho nên,

trong đối nhân xử thế, người dân Nam Bộ luôn cảm thông với những ai đồng cảnh ngộ và sẵn sàng cưu mang, che chở cho nhau mà không cần đền ơn nghĩa

Trang 19

Bằng các hình tượng nhân vật điển hình, nhà thơ Nguyễn Đình Chiểu đã làm nổi bật lên vẻ đẹp “hành hiệp trượng nghĩa” của nhân dân Nam Bộ Trong

tác phẩm Lục Vân Tiên, tác giả không những đề cao vấn đề “trung, hiếu, tiết,

hạnh”:

“Trai thời trung hiếu làm đầu Gái thời tiết hạnh làm câu trau mình.”

mà còn ca ngợi, đề cao chuyện đạo đức, nghĩa nhân trong mối quan hệ giữa

người với người Vì vậy, không phải ngẫu nhiên mà những chữ “nghĩa, nghì,

ngãi” được nhà thơ nhắc nhiều lần trong tác phẩm của mình Đồng thời, việc

nhắc đi nhắc lại nhiều lần chữ “nghĩa” làm cho người đọc thấy rằng, dường

như tác giả đã thấm nhuần sâu sắc tư tưởng nhân nghĩa của nhân dân Nam Bộ lúc bấy giờ:

“Nhớ câu kiến nghĩa bất vi Làm người thế ấy cũng phi anh hùng.”

Ta thấy, tất cả hành động của những nhân vật đều xuất phát từ tinh thần trọng nghĩa như việc Lục Vân Tiên một mình xông vào đánh bọn cướp Phong Lai để giải cứu cho Kiều Nguyệt Nga:

“Tôi xin ra sức anh hào Cứu người cho khỏi lao đao buổi nầy.”

“Vân Tiên ghé lại bên đàng

Bẻ cây làm gậy nhắm làng xông vô.”

“Vân Tiên tả đột hữu xung Khác nào Triệu Tử mở vòng Đương Dang Lâu la bốn phía vỡ tan

Đều quăng gươm giáo tìm đàng chạy ngay”

(Lục Vân Tiên)

Trang 20

Hay việc Kiều Nguyệt Nga đã tự vẽ lại hình ảnh của Lục Vân Tiên và nguyện thủy chung suốt đời với chàng cũng xuất phát từ lòng mến nghĩa anh tài:

“Nguyện cùng Nguyệt lão hỡi ông Trăm năm cho vẹn chữ tòng mới an

[…]

Trở vào bèn lấy bút nghiên Đặt bàn hương án chúc nguyền thần linh

Làu làu một tấm lòng thành, Họa ra một bức tượng hình Vân Tiên

Than rằng: “Ngàn dặm sơn xuyên, Chữ ân để dạ, chữ duyên nhuốm sầu.”

Ngay cả nhân vật đầy tớ Tiểu đồng, ngỡ Lục Vân Tiên đã chết nên chàng ta quyết một lòng trung thành với chủ bằng cách ở lại nơi đất khách quê người mà che chòi giữ mộ Vân Tiên cho đến những ba năm Không những vậy, khi đỗ Trạng, lập công lớn, Lục Vân Tiên đã nghĩ đến Tiểu đồng hơn bao giờ hết Nặng ơn người giúp việc tận tụy, trung thành, luôn luôn hết lòng vì mình trong cơn hoạn nạn, Lục Vân Tiên truyền quân sĩ bày lễ tế Tiểu đồng và đích thân

“Quốc Trạng” đọc bài văn tế:

“Đọc văn nhớ tới chau mày, Đôi hàng lụy ngọc tuôn ngay ròng ròng”

Không chỉ các hình tượng nhân vật trong Lục Vân Tiên mà ở Ngư Tiều y

thuật vấn đáp, hình tượng nhân vật Kì Nhân Sư cũng hành động vì nghĩa Bằng

tấm cả tấm lòng đức độ của một người thầy thuốc, Kì Nhân Sư đã hết lòng chữa

bệnh cho bất cứ ai, kể cả “đứa ăn mày” khốn khổ chứ không phân chia giai

cấp, không biệt giàu sang phú quý hay nghèo hèn thấp kém, và tuyệt nhiên không màn đến danh lợi cho riêng mình:

Trang 21

“Ăn mày cũng đứa trời sinh Bệnh còn cứu đặng, thuốc đành cho không”

Hoặc trong tác phầm Dương Từ - Hà Mậu, nhân vật Tần Khanh đã sẵn

lòng nhận nuôi hai con của Hà Mậu đang gặp hoạn cảnh bơ vơ, không nơi nương nựa mà không một chút đắn đo, tính toán:

“Tuyết, Băng là gái của Trời

Ta xin nuôi lấy, cải đời theo ta.”

Ngoài ra, trong Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc, Nguyễn Đình Chiểu cũng có

đề cập đến việc những người nông dân “Cui cút làm ăn – Toan lo nghèo khó”

vì mến nghĩa mà ra trận đánh giặc xâm lăng:

“Vốn chẳng phải quân cơ, quân vệ, theo dòng ở lính diễn binh Chẳng qua là dân ấp, dân lân, mến nghĩa làm quân chiêu mộ.”

Cũng vì trọng nghĩa nên họ khinh tài, xem tiền bạc, vật chất như áng phù

du – “Tiền tài như phấn thổ - Nghĩa trọng tợ thiên kim” Đối với nhân dân,

nhân nghĩa mới là cái đáng quý và cần phải dành cho nhau Từ đây nhận thấy, các nhân vật trong sáng tác của Nguyễn Đình Chiểu đều quên mình, xả thân để cứu giúp người khác mà không cần đối phương phải đền ơn đáp nghĩa lại mình Như nhân vật Lục Vân Tiên trong tác phẩm cùng tên, không cần được Kiều Nguyệt Nga báo đáp khi giúp nàng đánh đuổi gian tà:

“Gặp đây đương lúc giữa đàng, Của tiền chẳng có, bạc vàng cũng không

Gẫm câu báo đức thù công Lấy chi cho phỉ tấm lòng cùng ngươi Vân Tiên nghe nói liền cười:

Làm ơn há dễ trông người trả ơn.”

(Lục Vân Tiên)

Trang 22

Hay, nhân vật ông Ngư cùng gia đình cứu sống Vân Tiên khi bị Trịnh Hâm hãm hại, khi nghe nói đến chuyện đền ơn đáp nghĩa thì ông đã khẳng khái khước từ:

“Ngư rằng: Lòng lão chẳng mơ Dốc lòng nhân nghĩa há chờ trả ơn.”

(Lục Vân Tiên) Thông qua những phân tích trên, có thể nói, tính cách trọng nghĩa khinh tài của các hình tượng nhân vật trong thơ văn Nguyễn Đình Chiểu đã làm toát lên vẻ đẹp tính cách của người dân Nam Bộ Họ là những con người luôn coi trọng đạo đức nhân nghĩa, sống hết lòng với người, với đời và xem việc cứu giúp, cưu mang những người gặp khó khăn hoạn nạn là hiển nhiên, là trách nhiệm nên không hề đắn đo, tính toán, mưu cầu danh lợi cho cá nhân mình

2.2 Cương trực, thẳng thắn, yêu ghét phân minh

Trong nói năng, giao tiếp thường ngày, người dân Nam Bộ không cần phải dùng quá nhiều lời và khi nói ra cũng không cần trau chuốt từ ngữ cho thật bóng bẩy mà nói sao miễn người nghe hiểu ý mình là được Họ là những người

ăn ngay, nói thẳng nhưng trong lòng lại không hề có ác ý và khi đã nói xong thì coi như phủi bỏ hết chớ không hề ghi lòng, để dạ chờ có cơ hội thì hiềm khích nhau Trong ứng xử, họ bộc trực thẳng thắn, ít chữ nghĩa, văn chương rào đón, là những người ưa hành động Chính điều này đã hình thành nên tính cách riêng của người dân Nam Bộ là cương trực, thẳng thắn, yêu ghét phân minh và những sắc thái này, người đọc cũng sẽ bắt gặp trong sáng tác của Nguyễn Đình Chiểu

Ở truyện Lục Vân Tiên, sự cương trực, thẳng thắn được thể hiện qua lời

nói và hành động của các nhân vật Cụ thể như, nhân vật ông Quán dù chỉ là người bán thức ăn cho khách qua đường nhưng đã thẳng thừng, không chút

Trang 23

kiêng dè đối với hai tên Trịnh Hâm và Bùi Kiệm: “Quán rằng: Cười kẻ bất tài

đồ thơ” Hoặc trong chi tiết, khi biết được Tử Trực thi đỗ trở về tìm Lục Vân

Tiên, Võ Công đã mưu mô, dụ dỗ chàng yêu con gái hắn nhằm hám danh trục lợi cho bản thân thì liền bị chàng mắng tát vào mặt:

“Nói sao không biết hổ thàm Người ta há phải là cầm thú sao?”

Hay, sau bao năm đèn sách, luyện võ, Lục Vân Tiên xin thầy về thăm nhà để chuẩn bị lai kinh ứng thí Trong đường về quê, gặp cảnh bọn cướp đang

quấy nhiễu dân lành, không chút do dự, Lục Vân Tiên đã dũng cảm “bẻ cây

làm gậy xông vào” đánh tan bọn Phong Lai để giúp người hoạn nạn Hành động

của Lục Vân Tiên được xem như là giữa đường thấy chuyện bất bình liền ra tay cứu giúp

Trong Ngư Tiều y thuật vấn đáp, nhân vật Kì Nhân Sư mà Nguyễn Đình

Chiểu khắc họa là một lương y rất giỏi, suốt đời luôn có khát vọng chữa bệnh cho nhân dân, giúp đời Chắc vì lẽ đó, nên khi đất nước bị giặc Liêu xâm lược,

Kì Nhân Sư đã tỏ rõ thái độ căm thù, bất hợp tác bằng những hành động khảng khái, quyết liệt, điển hình như ông đã tự xông mù đôi mắt của mình để được giữ trọn đạo trung hiếu với nhân dân:

“Sự đời thà khuất đôi tròng thịt Lòng đạo xin tròn một tấm gương.”

Bên cạnh đó, tính cách cương trực, thẳng thắn còn thể hiện rõ ở thái độ yêu ghét phân minh Thông qua tình cảm đối với các nhân vật, tác giả luôn hướng tới những người dân đen gặp bao nhiêu là cảnh hoạn nạn, đau khổ Trong

Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc, Nguyễn Đình Chiểu đã miêu tả họ là những người

dân hiền lành, chất phát, quanh năm vun vén lo cho miếng cơm manh áo “Cui

Trang 24

cút làm ăn - Toan lo nghèo khó” luôn gặp cảnh khó khăn, ngoại bang xâm lược

nhưng bọn quan lại nào đoái hoài, quan tâm:

“Tiếng phong hạc phập phồng hơn mươi tháng,

trông tin quan như trời hạn trông mưa;

Mùi tinh chiên vấy vá đã ba năm,

ghét thói mọi như nhà nông ghét cỏ.”

Hay khi bị bọn giặc tra tấn nhẫn tâm, dã man, giết chóc cũng chẳng ai cứu giúp

như trong Văn tế nghĩa sĩ trận vong Lục tỉnh đã viết:

“Phạt cho đến người hèn kẻ khó, thâu của quay treo,

tội chẳng tha con nít đàn bà, đốt nhà bắt vật; Trải mười mấy năm trầy khốn khó, bị khảo, bị tù,

bị đày, bị giết, trẻ già nghe nào xiết đến tên.”

Chính những hành động mang rợ của bọn thực dân, thái độ căm ghét của tác

giả của như của đồng bào Nam Bộ càng lên đến đỉnh điểm khi “ghét thói mọi

như nhà nông ghét cỏ”, “muốn tới ăn gan”, “muốn ra cắn cổ”, “Kẻ đam ngang, người chém dọc, làm cho mã tà, má ní hồn kinh” Từ thái độ căm phẫn

này đã biến thành lòng căm thù giặc sâu sắc, bộc lộ thành tiếng chửi sâu cay,

mạnh mẽ nhất khi lôi cả tông ti, họ hàng “bát cơm manh áo ở đời, mắc mớ chi

ông cha nó” Hơn thế nữa, Nguyễn Đình Chiểu còn lớn tiếng chê trách những

kẻ đang tâm làm tay sai cho giặc:

“Sống làm chi theo quân tả đạo, quăng vùa hương,

xô bàn độc, thấy lại thêm buồn; Sống làm chi ở lính mã tà, chia rượu lạt,

gặm bánh mì, nghe càng thêm hổ.”

(Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc)

Trang 25

Không những vậy, thái độ căm ghét những cái ác, cái xấu trong xã hội đương thời cũng được nhìn thấy qua các nhân vật ở các tác phẩm Trước hết là thái độ căm ghét đối với những tên vua xấu xa, độc ác:

“Ghét đời Kiệt Trụ mê dâm;

Ghét đời U Lê đa đoan”

(Lục Vân Tiên)

Đây là những ông vua đại diện cho kẻ xấu làm ác trong xã hội phong kiến lúc bấy giờ Thứ đến là căm ghét bọn quan lại, bọn thầy bói, lang băm gian xảo, bịp bợm… đầy rẫy trong xã hội:

“Đời xưa tôi nịnh biết bao

Thái sư nay cũng khác nào đờ xưa”

(Lục Vân Tiên)

“Kêu là thầy pháp dối lừa thế gian”

(Dương Từ - Hà Mậu) Cuối là chửi bọn theo Tây rắp tâm bán nước cầu vinh:

“Dù đuôi mà khỏi danh nhơ Còn hơn có mắt ăn dơ tanh rình.”

(Ngư Tiều y thuật vấn đáp) Thế nhưng, đối với những ai lầm đường lạc lối, thông qua lời nói của nhân vật, Nguyễn Đình Chiểu đã tìm mọi lời lẽ để khuyên răn bản thân họ thấy được sự thiệt hơn mà tìm đường hối cải, sửa sai và quay về với con đường của chánh đạo:

“Trối ra ai sức muông săn Mai mai hết thỏ cọp ăn đến mình”

(Dương Từ - Hà Mậu)

Trang 26

Còn đối với bọn ngoan cố thì thẳng thắn đấu tranh mạnh mẽ chứ không chút khoan nhượng:

“Chở bao nhiêu đạo thuyền không khẳm Đâm mấy thằng gian bút chẳng tà.”

(Dương Từ - Hà Mậu) Tính cương trực, thẳng thắn, yêu ghét phân minh của các nhân vật trong thơ văn Nguyễn Đình Chiểu đã làm sáng rõ hơn nữa vẻ đẹp khí phách, rắn rỏi, trung trinh của người dân Nam Bộ Họ đều đứng trên lập trường của chính nghĩa, của cương trực từ lời nói đến hành động và sự phân minh trong thái độ yêu ghét Tất cả những tính cách ấy đều luôn thống nhất, hòa quyện vào nhau tạo nên một con người chính trực, ngay thẳng, dũng cảm, không bao giờ chịu

ép mình trước bất kì thế lực cường quyền nào

2.3 Hào hiệp, phóng khoáng

Khi nhắc đến người Nam Bộ, người ta không thể không nhắc đến tính cách hào hiệp, phóng khoáng Có thể nói, đây là tính cách mang rõ dấu ấn nhất của người dân vùng đất này Họ rất hiếu khách, đặc biệt là những ai đồng cảnh

ngộ: “Có khách đến nhà, đầu tiên gia chủ dâng trầu cau, sau đó dâng cơm

bánh, tiếp đãi trọng hậu không kể người thân sơ, quen lại, tông tích ở đâu ắt đều thâu nạp khoản đãi, cho nên người đi chơi không cần đem theo gạo, lại có người trốn xâu trốn thuế đến xứ này ẩn nấp, bởi vì có chỗ dung dưỡng vậy”[1]

Có thể khẳng định, vẻ đẹp tính cách hào hiệp, phóng khoáng ấy vừa thể hiện

sự hào phóng, cởi mở vừa thể hiện được tinh thần cao thượng của người Nam

Bộ luôn sẵn sàng quên mình để bênh vực, giúp đỡ và cưu mang những ai sơ cơ

lỡ vận mà không cần tính toán thiệt hơn

Trong thơ văn Nguyễn Đình Chiểu, người đọc sẽ dễ dàng nhận thấy sự hào hiệp, phóng khoáng của người Nam Bộ thông qua các nhân vật Ở truyện

Trang 27

thơ Lục Vân Tiên, hình tượng nhân vât Lục Vân Tiên đã ra tay nghĩa hiệp đánh

tan bọn cướp Phong Lai mà không đền ơn trả nghĩa:

“Phong Lai chẳng kịp trở tay

Bị Tiên một gậy thác rày mạng vong.”

Hay nhân vật Hớn Minh không một chút đắn đo, ngần ngại vét hết hai lạng bạc còn lại trong mình để xin báo đáp ông Tiều đã có công cứu bạn Vân Tiên thoát khỏi cơn nguy biến, hoạn nạn:

“Này hai lạng bạc trong mình Tôi xin báo đáp chút tình cho ông”

Ở tác phẩm Ngư Tiều y thuật vấn đáp, tính cách hào hiệp phóng khoáng

được thể hiện qua các nhân vật như Châu Đạo Dẫn, Đường Nhập Môn,… Họ

đã tận tình chỉ dạy nghề thuốc cho Ngư và Tiều để cứu giúp người đời mà không đòi hỏi lợi lộc gì cho bản thân, tất cả hành động đều xuất phát từ tấm lòng, từ bản chất, tính cách vốn có trong mình

Qua đó cho thấy, với tính cách hào hiệp, phóng khoáng của các hình tượng nhân vật, Nguyễn Đình Chiểu đã làm nổi bật lên vẻ đẹp riêng ở lòng mến khách, trọng tình cảm của người dân Nam Bộ Cũng chính vì tính cách này mà trong đối nhân xử thế, người Nam Bộ luôn đặt chữ tình lên trước chứ không nghĩ đến chuyện lợi ích cá nhân

2.4 Ứng xử có văn hóa, hợp tình, hợp nghĩa

Đến với vùng đất phương Nam để khai hoang, lập nghiệp những người dân vẫn giữ nề nếp truyền thống gia đình, sống nhân ái với mọi người, đặc biệt

là hàng xóm láng giếng với nhau Vì thế, trong giao tiếp hàng ngày, họ luôn ứng xử lịch thiệp, có văn hóa và rất hợp tình, hợp nghĩa với nhau

Sinh ra và lớn lên trên quê hương Nam Bộ, Nguyễn Đình Chiểu đã thấm

Trang 28

nhuần những cách cư xử mang đậm tình người nơi đây Điều đó đã được ông thể hiện vào trong thơ văn của mình một cách tự nhiên và đẹp đẽ Ngay tác

phẩm Lục Vân Tiên, tác giả đã làm nổi bật lên vẻ đẹp ứng xử có văn hóa, hợp

tình, hợp nghĩa của người dân Nam Bộ Cụ thể, sau khi đánh đuổi bọn cướp Phong Lai, Lục Vân Tiên đã đến ân cần hỏi han người gặp nạn:

“Dẹp rồi lũ kiến chòm ong, Hỏi: Ai than khóc ở trong xe này?”

Và khi biết Kiều Nguyệt Nga muốn ra khỏi xe để lạy tạ ơn mình thì chàng liền ngăn lại:

“Khoan khoan ngồi đó chớ ra, Nàng là phận gái ta là phận trai.”

Qua cách cử xử ấy, Lục Vân Tiên đã thể hiện tư cách của một con người chính trực, quân tử Chàng xem việc làm của mình là bổn phận, trách nhiệm cần phải làm của một đấng nam nhi và đây được xem như là cách ứng xử của bậc anh hùng hảo hán, chân thành, vị nghĩa

Bên cạnh đó, nhân vật Hớn Minh trong tác phẩm cũng được xây dựng mang sắc thái Nam Bộ trong lối ứng xử của mình Khi tình cờ gặp lại Lục Vân Tiên, trong tình cảnh bị tên Võ Công hãm hại ở núi Thương Tòng, chàng đã sẵn lòng cưu mang, chăm sóc thuốc thang và an ủi bạn như người thân ruột thịt trong nhà:

“Thôi thôi anh chớ vội về,

Ở đây nương nấu toan bề thuốc thang.”

Ngoài các hành động của các đấng mày râu thì không thể không nói đến những việc làm của các nhân vật nữ được tác giả lột tả rất thành công, điển hình

là nhân vật Kiều Nguyệt Nga Tuy chưa phải là dâu con nhưng nàng luôn tỏ ra

Trang 29

hiếu thảo với Lục ông Vì cứ ngỡ Lục Vân Tiên đã nguyên sinh, trước khi bị đem cống cho ngoại bang, nàng đã xin cha đến nhà ông Lục để làm chay đàng cho chàng và không quên để lại tiền bạc cho Lục ông dưỡng già:

“Một ngày một bước một xa Của này để lại cho cha dưỡng già”

Có thể nói, qua cách ứng xử hợp tình hợp nghĩa như thế, nàng đã trở thành biểu tượng cho vẻ đẹp phẩm hạnh của phụ nữ Nam Bộ nói riêng, phụ nữ Việt Nam nói chung

Đặc biệt, qua các tác phẩm của Nguyễn Đình Chiểu, người đọc sẽ thấy được vẻ đẹp trong ứng xử qua hành động “lạy tạ” - một hành động thể hiện sự quý trọng nhau của người dân Nam Bộ Trước khi lên đường đi thi, Lục Vân Tiên đã lễ phép quỳ lạy để từ biệt cha mẹ:

“Vân Tiên quỳ lạy thưa rằng Chẳng hơn người cổ cũng bằng người kim.”

Hay khi gặp lại Kiều Nguyệt Nga sau bao năm xa cách nhau, để bày tỏ tấm lòng biết ơn và cảm phục trước sự chung thủy, sắt son của nàng, chàng đã sụp lạy ngay mà quên cả bản thân mình hiện đang là một Trạng Nguyên:

“Thưa rằng: Nay gặp nàng đây Xin đền ba lạy sẽ bày nguồn cơn.”

Còn ở nhân vật Kiều Nguyệt Nga cũng thế, cảm kích trước nghĩa cử cao đẹp của người tráng sĩ hào hiệp, trượng phu, nàng đã thể hiện thái độ ứng xử lễ phép bằng việc lạy tạ ân nhân:

“Trước xa quân tử tạm ngồi Xin cho tiện thiếp lạy rồi sẽ thưa.”

Hoặc trước khi bị cống sang nước Ô Qua, nàng cũng đã đến nhà mà lạy tạ Lục

Trang 30

ông (cha của Lục Vân Tiên) để giã biệt:

“Lạy rồi nước mắt nhỏ sa, Ngùi ngùi lạy tạ bước ra trở về.”

Không những riêng tác phẩm Lục Vân Tiên mà lối ứng xử lạy tạ này còn xuất hiện ở những tác phẩm khác Trong Dương Từ - Hà Mậu, trước khi lên

đường vân du để tìm thực hư về đạo, Dương Từ đã lạy thầy để xin phép:

“Họ Dương sắm sửa hành trang

Lạy thầy Hòa thượng, lên đàng vân du.”

Hay ở Ngư Tiều y thuật vấn đáp, hai nhân vật Ngư và Tiều cũng thể hiện sự

cung kính của mình đối với Phán quan qua việc lạy chào:

“Ngư, Tiều vào lạy trước thưa Phán quan chợt thán, tình ưa vui chào.”

Có thể nói, hành động ứng xử “lạy tạ” nhau được thể hiện qua các hình tượng nhân vật trong văn chương của Nguyễn Đình Chiểu mang một cung cách ứng xử có văn hóa và đầy nghĩa tình của người Nam Bộ Điều đáng nói, cách

cư xử này không phải thể hiện sự rụt rè, hèn yếu như cách nói của Nguyễn

Đăng Mạnh: “Có những cái cuối đầu làm cho con người trở nên yếu hèn, có

những cái váy lạy làm cho con người đê tiện…” cũng không phải theo cung

cách của lễ nghĩa Nho giáo mà những cái “lạy tạ” ấy thể hiện sự gần gũi, thân thiết, trọng tình, trọng nghĩa đồng thời cũng thể hiện sự trân trọng tình cảm yêu thương, quý mến nhau của người dân Nam Bộ giống như Phan Ngọc đã từng

nhận xét: “Đây là lối cư xử chân thật của bình dân, sách “Lễ ký, Khúc lễ”

chẳng bao giờ làm thế cả”

Từ những điểm trên cho thấy, người dân ở vùng đất Nam Bộ đối đãi với nhau bằng những hành vi ứng xử có văn hóa, hợp tình thuận nghĩa từ đó đã tạo nên vẻ đẹp rất riêng ở tính cách người nơi đây

Trang 31

2.5 Tinh thần yêu nước mang sắc thái riêng

Tinh thần yêu nước nồng nàn của nhân dân Nam Bộ bắt nguồn từ truyền thống yêu nước ngàn đời của dân tộc Việt Nam ta, một dân tộc từ khi dựng nước đã phải đối đầu với bao thế lực hùng mạnh để chiến đấu, giữ vững từng tấc đất, thửa ruộng Tuy nhiên, trong môi trường sống mới, người dân Nam Bộ

đã hình thành nên tình yêu nước mang những sắc thái riêng do thực tiễn xã hội chi phối

Đến với vùng đất mới, người dân nơi đây đã phải đổ bao nhiêu mồ hôi, nước mắt kể cả sanh mạng để khai hoang, lập nghiệp, vì thế họ yêu quý từng thửa ruộng, mảnh vườn Nhưng bỗng chốc, giặc ngoại xâm từ đâu đổ vào xâm chiếm đất đai, vườn tược, nhà cửa, giày xéo quê hương, gây bao nhiêu cảnh đau thương, tang tóc Trước tình cảnh ấy, mang trong mình dòng máu yêu nước, yêu tự do ngàn đời của cha ông, người dân Nam Bộ đã dũng cảm, hiên ngang, kiên cường đứng lên đấu tranh để giành lại từng tấc đất của cha ông khai khẩn

mà thành

Dù sống trong tư tưởng Nho giáo, nhưng nhận thức của tác giả lại tiến

bộ hơn hẳn bởi ông thấm nhuần được tinh thần yêu nước của dân tộc nói chung, của người dân vùng Nam Bộ nói riêng Cụ thể, Nguyễn Đình Chiểu đã xây dựng nên các hình tượng nhân vật, họ chỉ yêu quý và trung thành với những vị vua đại diện cho lợi ích của dân tộc, ngược lại sẽ phản đối, không thực thi và nghe theo với những sắc lệnh của bọn vua chúa đi trái lại lợi ích của nhân dân

Ngay trong tác phẩm Lục Vân Tiên, tác giả đã xây dựng nhân vật vua

nước Sở, ông vua bất tài đã nghe lời nịnh bợ của tên Thái sư mà bắt Kiều Nguyệt Nga cống sang nước Ô Qua Nhưng ở trong chừng mực nào đó, ông vua này vẫn còn biết trọng dụng và tin vào người tài nên khi Lục Vân Tiên đỗ đạt Trạng Nguyên, chàng đã quyết xung trận đánh giặc lập chiến công để báo

Trang 32

đền ơn vua, nợ nước Mặc dù chưa phải là một vị minh quân nhưng mặt nào đó các ông vua như thế này vẫn được nhân dân tin tưởng

Thế nhưng, khi thực dân Pháp xâm lược, những ông vua nhà Nguyễn nhu nhược đầu hàng, quay lưng, đắp mặt làm ngơ trước tình cảnh lầm than của người dân thì tất cả đều căm ghét Cho nên, trong những sáng tác của Nguyễn Đình Chiểu đã phê phán mạnh mẽ những ông vua nhu nhược, bất tài ấy:

“Hỏi trang dẹp loạn rày đâu vắng,

Nỡ để dân đen mắc nạn này?”

(Chạy giặc)

Để từ đây, tác giả đã tôn lên vẻ đẹp kiên trung của những anh hùng khẳng khái

thà mang danh là “nghịch thần” để đứng về phía nhân dân chứ quyết không

nghe theo sắc lệnh bãi binh của triều đình mà quy hàng tà giặc:

“Mực sớ Lãnh binh lờ mắt giặc Son bằng ứng nghĩa thắm lòng dân

Ở đời dốc trọn bề nam tử, Ngay chúa nào lo tiếng nghịch thần.”

(Điếu Trương tướng quân II)

Gian truân kể xiết bấy nhiêu lần

Vì nước đành trao một tấm thân

(Điếu Trương tướng quân III) Bên cạnh ca ngợi thái độ yêu nước của người dân đối với bọn vua chúa, quan lại phong kiến lúc bấy giờ bằng một thái độ dứt khoát, phân mình, Nguyễn Đình Chiểu còn phản ánh nét độc đáo về lòng yêu nước của người nông dân Nam Bộ trong phong trào kháng chiến chống Pháp xâm lược

Trong Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc, những người nghĩa sĩ nông dân Cần

Giuộc đã trở thành biểu tượng trung tâm cho nhân dân Nam Bộ mang vẻ đẹp

Ngày đăng: 24/11/2019, 16:22

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Bộ Giáo dục và Đào tạo, Ngữ Văn 11 (tập một), NXB Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngữ Văn 11 (tập một)
Nhà XB: NXB Giáo dục
2. Bộ Giáo dục và Đào tạo, Lịch sử 11, NXB Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sử 11
Nhà XB: NXB Giáo dục
3. Trịnh Hoài Đức, Gia Định thành thông chí, NXB Tổng hợp Thành phố Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Gia Định thành thông chí
Nhà XB: NXB Tổng hợp Thành phố Hồ Chí Minh
8. Hoàng Phê (Chủ biên), Từ điển Tiếng Việt, NXB Hồng Đức Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển Tiếng Việt
Nhà XB: NXB Hồng Đức
9. Dương Phong (tuyển chọn), 2014, Thơ chọn lọc Nguyễn Đình Chiểu, NXB Văn học Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thơ chọn lọc Nguyễn Đình Chiểu
Nhà XB: NXB Văn học
10. Tủ sách văn học trong nhà trường, 2012, Lục Vân Tiên - Nguyễn Đình Chiểu, NXB Văn hóa thông tin Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lục Vân Tiên - Nguyễn Đình Chiểu
Nhà XB: NXB Văn hóa thông tin
4. Phạm Văn Đồng, Nguyễn Đình Chiểu - ngôi sao sáng trong văn nghệ dân tộc Khác
5. Nguyễn Thạch Giang, Mấy nhận xét tổng quát về ngôn ngữ thơ văn Nguyễn Đình Chiểu Khác
6. Phan Thị Mỹ Hằng, Đặc điểm từ ngữ thơ Nôm thuần Việt của Nguyễn Đình Chiểu Khác
7. Hoàng Thị Lan, Từ láy trong thơ văn Nguyễn Đình Chiểu Khác
11. Hoàng Tuệ - Phạm Văn Hảo - Lê Văn Trường, Tiếng địa phương miền Nam trong tác phẩm của Nguyễn Đình Chiểu Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w